Chế Diễm Trâm

.
BAY VỚI HƯỚNG DƯƠNG
.
Ấm áp mưa chiều
Giọt dài trên lá thung sâu
Sương khói dâng dâng
Thần Apollo mê mải Đọc tiếp »
Chế Diễm Trâm

.
BAY VỚI HƯỚNG DƯƠNG
.
Ấm áp mưa chiều
Giọt dài trên lá thung sâu
Sương khói dâng dâng
Thần Apollo mê mải Đọc tiếp »
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Chế Diễm Trâm | 38 Comments »
Giới thiệu cuốn “Lịch sử tính hiện đại” của Jacques Attali
Hiếu Tân dịch (*)

Nghĩ về Tính hiện đại và lịch sử của nó là chuyện cấp thiết. Bởi vì, ở mọi thời, tính hiện đại ngụ ý cái quan niệm mà mọi xã hội hình dung về tương lai của nó, về cái mà nó tưởng tượng, về cái mà nó mong mỏi, về cái mà nó chối từ; như vậy nghĩ về tương lai của tính hiện đại là nghĩ về cái ý tưởng mà người ta sẽ thực hiện, trong tương lai. Nhiệm vụ này đặc biệt thú vị vì ngày nay thật ra nó rất cụ thể, chẳng hạn khi nghĩ vể cái cách mà vào năm 2030 người ta sẽ suy nghĩ, mơ mộng, tưởng tượng, xây dựng, đấu tranh thế giới năm 2060.
Đăng trong Nghiên cứu và phê bình văn học | Thẻ HIẾU TÂN | 11 Comments »
.Trần Vấn Lệ

.
Phải Chi Có Một Hành Lang Gió Tôi Thả Hồn Bay Áo Học Trò
.
Hôm nay u ám. Ngày không nắng. Chắc chẳng mưa đâu! Trời chỉ buồn. Mình nhớ người ta thương đứt ruột. Ruột nào không đứt hỡi Quê Hương?
Ai nói nắng mưa là cái bệnh? Ai nói tương tư người nhớ người? Ai vẽ Tương Giang dài một dãi, đầu sông cuối bãi bóng mây trôi…
Trời không có nắng, ngày không sáng. Trời chẳng mưa nên gió dịu dàng…Ai thoáng qua kìa nơi cuối ngõ. Ai xinh như thể áo mơ vàng…
Tôi nhớ làm sao những đóa quỳ…quỳ bên bờ suối tiễn tôi đi…Các em trường Nữ xưa đâu mất? Đời đổi tìm ai cũng biệt ly!
Đời đổi từ khi em lấy chồng…Rồi thêm lần đổi, nát non sông. Chừ không mưa nắng mà u ám. Tôi nhớ em, thương lắm…má hồng…
Em ạ bài thơ này lạ nhé…Nhớ em tôi thả tứ lang thang. Thả thêm cái ý vào con mắt. Thả mực vào nghiên viết chữ Nàng!
Nàng dễ thương hay nàng dễ ghét? Đời có khi vui cũng có buồn…Đã lạc vận rồi, trăng có biết? Tôi buồn nghe buốt buổi mai sương…
Thơ lạc vận vì em đó nhé! Một ngày không nắng cũng không mưa. Phải chi có một hành lang gió tôi thả hồn bay áo học trò…
Trần Vấn Lệ
.
CÁO TỊNH THỊ CHÚNG
Rất biết ơn ai đó, gửi tôi email này
Tôi chép lại, chuyền tay, gửi đi cho bằng hữu
Chúng tôi, thành phần cựu còn tỉnh táo, bình yên
Xin coi như cái Duyên, chúng ta còn ràng buộc…
Những cái gì không thuộc tuổi chúng ta, thì, quên!
Những cái gì là Duyên, cầu mong Duyên nồng thắm!
Trần Vấn Lệ
*
Lúc Về Già…
1-Lúc về già mình sẽ tuyệt đối không được chủ quan nghĩ rằng còn khoẻ, còn sung sức để nghĩ và làm những việc như hồi thanh niên.
Lúc về già mình sẽ không tham gia hội đoàn hay bất cứ công việc gì liên quan đến chính quyền. Không phải mình thiếu trách nhiệm, chỉ đơn giản vì thời điểm đó sức khỏe, trí tuệ xuống dốc rồi, tụi trẻ nó làm giỏi hơn. Đầu hai thứ tóc đi tranh việc với một đứa nó làm tốt hơn mình là sao?
2-Lúc về già mình sẽ không bao giờ đến cơ quan cũ nếu như chưa nhận được một lời mời trân trọng, vào những dịp đặc biệt…
Nếu đến mình cũng chỉ cúi đầu lễ phép chào lớp trẻ rồi chuyện phiếm với đồng niên, đồng nghiệp. Mình phải tự dặn mình rằng có nói gì chúng cũng chẳng nghe, vì mọi điều mình nói đã lỗi thời, cho dù bên dưới chúng chăm chú nhìn, đầu gật gật, rồi vỗ tay rất dài. Và dĩ nhiên chúng nó có báo cáo báo cò mình cũng chẳng nên quan tâm, tò mò tìm hiểu, vì đã lâu mình không cập nhật hay update, đâu còn hiểu được thời thế.
3-Lúc về già mình sẽ không sống chung với bất cứ đứa nào, chỉ sống với…người-bạn-đời. Nếu cứ thương con cái, sống với chúng nó thể nào cũng đến lúc mình ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Con không có tiền mua nhà thì thuê, không đủ tiền thuê mình hỗ trợ, quyết không ở chung, trai gái dâu rể gì cũng vậy hết, một tuần đến thăm nhau một lần vào ngày cuối tuần là đủ.
4-Lúc về già… rất già, mình sẽ phải đặt chỗ ở một trung tâm dưỡng lão nào đó. Tiền ít ở chỗ xoàng, tiền nhiều ở chỗ tươm. Chọn trung tâm có chăm sóc y tế tốt để không bắt con cháu phục dịch lúc yếu đau. Chúng nó còn phải đi làm. Lúc đi về phía bên kia mặt trời cũng tại trung tâm luôn. Con cháu chỉ cần đến nhà tang lễ làm thủ tục theo nghi thức, không khóc cũng không sao, vui càng tốt. Chẳng có lý do gì để khóc. Đó là quy luật của tạo hoá. Bất cứ cái gì tồn tại nguyên vẹn lâu quá chỉ tổ làm cho xã hội trì trệ.
5-Lúc về già mình sẽ chỉ nói hai chữ “ngày xưa” (đúng hơn là những câu chuyện hoài niệm) với bạn đồng niên, tuyệt đối không nói với lũ trẻ, vì chúng sẽ cho mình bị dở hơi. Với tụi trẻ chỉ nói “ngày mai” và chỉ trả lời khi chúng hỏi. Kinh nghiệm và vốn sống (mà nhiều người cho là báu vật) đối với mình khi đó chỉ để chiêm nghiệm. Cùng lắm là biến nó thành những câu chuyện trào phúng để tự cười cợt mình, cũng chẳng làm ai bực mình.
.
Thơ Vô Tự
Bạn khuyên tôi thôi đừng làm thơ cho quá khứ, chúng ta đâu mắc nợ trong những ngày sống còn!
Khi liền lạc nước non, người ta hứa nhiều lắm, chúng ta nghe đã thấm, chúng ta chờ ngày mai…
Chúng ta đặt lên vai cái cây cuốc buổi sáng. Chúng ta thật lãng mạn tin người và yêu người…
Chúng ta nghĩ đổi đời thì vết thương khép miệng. Chúng ta lấy thương mến để bỏ qua hận thù.
Chúng ta xếp lá cờ cất vào ngăn kỷ niệm…Chúng ta quên chiều tím bà mẹ già mong con…
Chắc chắn Tương Lai còn. Chúng ta vui vẻ đợi…Người thắng không nói dối! Một tháng sẽ trôi qua…
…và, chúng ta…bỗng già! Già đầu như con nít, nghe thơ như lũ vịt nghe sấm giữa cánh đồng!
Quả thật tôi đau lòng mà làm thơ-quá-khứ! Thơ tôi: Thơ Vô Tự! Lịch Sử đó, Vô Tình!
Bạn ơi, lũ chúng mình…lạc loài đi tứ xứ, bị Quê Hương ruồng bỏ, bị giống nòi khinh khi! (*)
Bạn ơi, tôi nói gì? Vũ Hoàng Chương nói chứ! Trần Bình Trọng từ bỏ Vương đất Bắc, vì sao?
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Trần Vấn Lệ | 20 Comments »
.
Chế Diễm Trâm

Lê về cái xóm nhỏ này đã hơn năm, may hay rủi, duyên hay phận cũng không hiểu nổi. Có lúc Lê thấy mình như chết đi sống lại, lắm lúc thấy buồn tủi ê chề. Cái xóm gồm tám nhà nằm nép vào một con đường có tên hẳn hoi nhưng không khác chi một khúc đường quành đi tắt cho nhanh. Con đường xe cộ khá nhộn nhịp nhưng cái xóm này ngày thì toàn đàn bà con nít, đàn ông lo đi làm thuê làm mướn, chiều tối mới lao xao chiếu nhậu, ì xèo karaoke tới khoảng chín, mười giờ là tắt đèn đi ngủ, lấy sức mai chiến đấu tiếp.
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Chế Diễm Trâm | 35 Comments »
..
Nguyễn Huỳnh

Những năm sau sự kiện 75, cả đất nước dường như lên cơn bệnh … ốm nghén, thèm ngọt.
Quê tôi có dãi đất thổ ven chân núi, ưu tiên trồng cây sắn mì. Chỉ có một vài gia đình khấm khá mới dám trồng mía. Ba tôi bảo : Đói chết chứ thèm chỉ chảy nước miếng chơi chơi chứ không chết được!
Ông Hay là người trồng mía nhiều nhất làng. Lòng thơm thảo của ông tùy vào từng vụ mía. Năm nào nghe ông chửi : Mẹ, mía kiểu này nhổ làm tăm xỉa răng cho rồi ! Là bọn trẻ chúng tôi buồn xanh xương.
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Nguyễn Huỳnh | 16 Comments »
Bạch Xuân Phẻ

Quê Ngoại tôi thơm hoa đồng cỏ nội,
Biển và trăng lấp lánh ngàn sao
Ruộng vườn xưa nay vắng bóng người
Ai bỏ xứ ra đi tìm lẽ sống Đọc tiếp »
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Bạch Xuân Phẻ | 4 Comments »
Huỳnh Ngọc Nga

Ảnh Dương Minnh Long
Như vòng tròn thiên định của bánh xe vận hành vũ trụ, tháng tư thêm lần nữa lại đáo hồi. Tháng Tư, tháng định mệnh của quê hương Việt Nam, tháng có ngày đầu để nhớ một người đi và tháng có ngày cuối để khép ghi một trang sử. Người đi là Trịnh công Sơn, chàng nhạc sĩ tài hoa, đa hệ lụy và trang sử là chuyện kể hơn phần tư thế kỷ chiến tranh huynh đệ của một dân tộc mà sự rẻ phân, chia cách hình như đã là mệnh số phải vương mang khi Tổ tiên họ từ thuở hồng hoang đã bày chuyện phân chia, kẻ ở lại non cao, người tìm về biển rộng. Đọc tiếp »
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Huỳnh Ngọc Nga | 35 Comments »
(Đọc trường thiên tiểu thuyết lịch sử “Tây sơn tam kiệt- Nhất thống sơn hà” của Vũ Thanh, Nxb. HNV 2017)
Lê Hoài Lương

1.
Đây là phần 2 trong tổng thể bộ 3 “Tây Sơn tam kiệt”, gồm: “Én liệng Truông Mây”, “Nhất thống sơn hà” và “Gia Định tam hùng” của nhà văn Vũ Thanh. Khởi đầu là cuộc khởi nghĩa Truông Mây của Chàng Lía- một nhân vật không được nhắc tới trong chính sử nhưng sống động trong bài chòi, ca dao, hò vè suốt Nam Trung bộ những năm cuối thập kỷ 60, thế kỷ XVIII. Và kết thúc với việc nhà Nguyễn Gia Miêu diệt Tây Sơn, đầu thế kỷ XIX, 1802, khi vua Gia Long lên ngôi. Chuyện ai thống nhất sơn hà sau hơn 200 năm đất nước chia cắt cuộc Trịnh- Nguyễn phân tranh với 7 trận chiến “nồi da nấu thịt”, huynh đệ tương tàn, còn nhiều ý kiến tranh biện, ở đây không bàn. “Nhất thống sơn hà” gồm 4 tập, gần 1700 trang sách, bắt đầu từ “Áo vải cờ đào” Tây Sơn tam kiệt khởi nghĩa đến kết “Mùa xuân hùng võ” sau chiến thắng hơn 20 vạn quân Thanh và vua Quang Trung đột ngột băng hà khi mọi dự án lớn lao đành dang dở. Đọc tiếp »
Đăng trong Nghiên cứu và phê bình văn học | Thẻ Lê Hoài Lương | 21 Comments »
Hồi ức
Nguyễn Lệ Uyên

CM và ca khúc Ngọc Lan của DTT
Sau biến cố Mậu Thân, tôi tự hiểu, rằng không thể nhởn nhơ mãi ở Văn Khoa như những anh chàng lãng du giữa mộng và thực; bởi rất có thể đến một ngày nào đó quân trường sẽ điểm tên như một số bạn bè tôi trước đó. Điều mà má tôi sẽ buồn không ít, bởi bà mẹ nào cũng sợ súng đạn, chết chóc. Và vì vậy tôi quyết định nộp đơn thi vào ĐHSP như một cách “trốn chạy” tốt nhất. Trước khi ra bến xe Pétrus Ký, tôi ghé 38 Phạm Ngũ Lão gửi cho Văn bản thảo truyện ngắn Đong Đưa Kỷ Niệm (sau đăng trên Văn số 114 ngày 15.9.1968). Ông Trần Phong Giao nói tình hình hiện nay bất ổn lắm, cậu liệu mà chọn đường đi. Tôi nói ý định của mình. Ông nói, vậy thì tốt, nếu đậu có thể hoãn dịch. Tôi chào ông, ra bến xe. Đọc tiếp »
Đăng trong Nghiên cứu và phê bình văn học, Văn xuôi | Thẻ Nguyễn Lệ Uyên | 8 Comments »
Du ký của Quế Sơn
GENÈVE, THỤY SĨ
Một ngày cuối tháng bảy vừa qua, chúng tôi đặt chân xuống Genève[i]. Vào giữa buổi sáng. T. đến đón gia đình nhỏ của tôi ở phi trường Cointrin như đã hứa và hẹn trong cuộc điện thoại liên lục địa trước đó gần hai tháng, khi tôi đang ở Sài Gòn. T. là một trong những người bạn thân nhất của tôi thời hai đứa còn mài đũng quần trong giảng đường đại học rồi sau khi ra trường, vì mưu sinh mà mỗi đứa trôi dạt một nơi, hiếm khi có dịp gặp nhau. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ là mình ở xa đã đến Genève, thành phố quê hương của T., để dự đám cưới của bạn, buổi sáng làm lễ trong một ngôi nhà thờ nhỏ ở vùng quê ngoại thành nhưng có đến hai tu sĩ chung nhau cử hành các nghi thức, một linh mục (vì T. theo đạo Thiên chúa) và một mục sư (vì cô dâu theo đạo Tin lành), rồi buổi tối thì tiệc tùng và khiêu vũ ở một nhà hàng nằm bên hồ Genève[ii], nó có bãi cỏ xanh, rộng ở mặt tiền chạy ra tận lối đi bộ dọc theo bờ hồ. Và tôi còn nhớ mãi lời ông mục sư đó, dù bây giờ không tài nào nhớ nổi mặt mũi ông: “Tôi mới là người có thẩm quyền để có thể đưa ra vài lời khuyên về cuộc sống hôn nhân cho cô dâu, chủ rể vì tôi có vợ và hai con…” đã làm cả cử tọa trong nhà thờ bật lên cười ồ, và hướng ánh mắt về ông linh mục vẫn còn đang đứng trên bục. Ông này lại không lộ vẻ bực dọc gì cả, cứ nhoẻn miệng cười cùng với mọi người, làm như quá quen với những lời chọc ghẹo kiểu đó.
Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau, dễ chừng hơn hai mươi năm rồi, khi T. đến London (Luân Đôn) thăm và ở chơi với tôi một cuối tuần; tôi còn nhớ là đến tối chủ nhật đó, sau hai ngày rong chơi ở kinh đô nước Anh, hai đứa ngồi uống vài ly bia bitter có màu nâu sậm trong một quán pub gần nhà ga Victoria Station, nói dăm ba chuyện trên trời dưới đất cho vui miệng rồi T. nhìn đồng hồ, đứng dậy, đưa tay xách chiếc va-li nhỏ, và tôi đứng lên theo, đi cùng T. vào nhà ga. Chúng tôi bắt tay, vỗ vai nhau nói lời từ giã để T. lấy xe lửa xuống phi trường Gatwich cách đấy chừng bốn chục cây số leo lên máy bay về lại Genève còn tôi thì chui xuống trạm xe điện ngầm quay lại khách sạn. Rồi sau đó không hiểu vì lý do gì mà thư từ giữa chúng tôi lại thưa thớt dần và cuối cùng bặt tin nhau… trong khi dòng đời cứ mãi trôi, cho đến cách đây vài tháng, một người bạn khác tìm ra được địa chỉ e-mail và số điện thoại của T. để gởi cho tôi.
Tôi giới thiệu vợ con mình với T. rồi cùng nhau đẩy xe hành lý đi theo bạn ra bãi đậu xe hơi.
“Chuyện gì đã xảy ra cho mày vậy?”, T. nhìn cái đầu trọc của tôi, vừa cười vừa hỏi. Chúng tôi vẫn giữ thói quen mày tao chi tớ (tutoyer) với nhau như những ngày còn đi học. Tôi nhìn đầu T., tóc vẫn còn đầy tuy đã bạc nhiều, rồi nhún vai như muốn nói, biết làm sao được. T. quay sang vợ tôi, cũng vừa cười, vừa nói, “Ngày xưa hắn nhiều tóc lắm, dài tận vai.” Tôi dịch sang tiếng Việt cho vợ. Vợ tôi cười khi hiểu ra rồi lên tiếng, “Nhờ đó mà không tốn tiền mua lược, cả chục năm nay rồi đấy.” Tôi lại chép miệng chuyển sang tiếng Pháp cho bạn hiểu. Rõ khổ!
Trời bỗng hửng sáng khi chúng tôi ra khỏi khu vực phi trường. “Thế là mày hên lắm đó, trời còn u ám khi tao lái xe đến đây,” T. buột miệng. Genève ở độ cao gần 400 mét so với mặt biển nên không khí khá mát mẻ, dễ chịu, tuy đang giữa mùa hè. Nắng lấp lánh trên các mui xe trên đường và trải dài trên các bãi cỏ xanh ven đường. Ở một ngã tư chờ đèn xanh, T. ngoái đầu ra sau nhìn vợ con tôi, nói, “Các bạn có mệt lắm không? Có muốn tôi đưa đi một vòng thành phố trước khi về nhà không? — “Dạ, đi chứ, thằng con 13 tuổi của tôi trả lời, chúng tôi không mệt.” T. cười rồi cho xe chạy lại. — “Mày hỏi vợ con muốn xem cái gì hôm nay, Tia nước phụt[iii] hay Trụ sở Liên Hiệp Quốc?[iv]” — “Tùy mày, cái nào tiện đường thì đi, tôi trả lời, nhưng sao lại Trụ sở Liên Hiệp Quốc?” — “Tại sao à? Vì trong đó có cái Phòng Đông Dương[v], nơi hội họp và ký kết Hiệp định Genève năm 1954 đó, mà nhiều người Việt Nam đến Genève thường muốn đi xem.” — “Thật à?” — “Ừ, tao nghe đứa cháu gái làm hướng dẫn viên ở trong đó nói thế.” T. liếc nhìn đồng hồ, “Nhưng nếu mình đi tham quan nó giờ này thì tao nghĩ mình phải chịu khó xếp hàng cả tiếng đấy, mùa hè thì đông du khách lắm!” — “Vậy thì đi xem cái Tia nước phụt đi,” tôi nói. Trước đó vài tiếng đồng hồ gia đình nhỏ của tôi đã đứng chờ đợi cả giờ ở phi trường quốc tế Barcelona đông đúc để làm thủ tục check-in và qua cổng an ninh soi hành lý xách tay để lên máy bay nên bây giờ chẳng còn hứng thú gì mà chui vào đám đông để đứng sắp hàng lần nữa!
Ghi thêm ngoài lề:
Chúng tôi không có thì giờ đi xem Phòng Đông Dương trong những ngày ở Genève nhưng đây là hình ảnh của nó:

Phòng Đông Dương (nằm trong Palais des Nations) Ảnh trên internet
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ QUẾ SƠN | 62 Comments »