Feeds:
Bài viết
Bình luận

Hồn ma

âu thị phục an

.

Khuya.

Không gian ẩm lạnh rơi trên tóc, trên vai tôi.

Ánh trăng yếu ớt soi những cành lá rung rinh trong bóng tối im lìm.

Cánh tay Phùng vẫn quàng nặng qua vai tôi, vẫn im lìm từ khi tôi rấm rức khóc.

Nước mắt có nói lên được gì, có xóa được gì của ngần ấy tháng năm chồng chất lên đời người, có giúp tôi tuôn trào được mọi u uất trong tim?

Khó quá. Khó quá. Tôi bất lực lúc lắc đầu. Tôi chà qua chà lại khuôn mặt mình trên hai cánh tay đang ôm lấy đầu gối. Bàn tay Phùng vỗ về nhè nhẹ.

Bóng tối như đồng lõa với hai con người đang đau đớn.

Cơn mưa buổi chiều còn để lại cái ươn ướt trên những ngọn cỏ mà chúng tôi đang giẫm lên. Mây đen chờn vờn che khuất mặt trăng đêm rằm, những tia sáng lờ mờ soi không rỏ tấm ảnh trên bia của ngôi mộ mà chúng tôi đang ngồi cạnh.

Hơi thở nóng của người đàn ông phủ ấm vùng gáy làm tôi rờn rợn. Tôi lại cọ quậy và Phùng lại vỗ vỗ trên vai tôi, “Nín đi em.” Nghe vậy tôi lại khóc hung. Phùng nói “ Khi nào em có thể thì kể anh nghe nha.”

Đến đây thì tôi không còn chịu nổi nữa, tôi vùng ngẩng đầu lên và quay sang nhìn Phùng, tia mắt chúng tôi chạm nhau, và tia mắt Phùng vội né. Cơn tức trào lên ngực tôi, khao- khát- cũng- trào- lên- ngực-tôi, răng nanh tôi mọc dài ra, và tôi cắn ngập lên cổ Phùng. Máu người đàn ông ngọt lịm.

Ánh trăng bị mây che khiến cho đêm khuya chợt tối sầm khi tôi nằm đè lên Phùng, tôi cười khoái chí khi Phùng cố ngồi lên và đẩy tôi ra. Tôi thở hào hển vì phấn khích. Khi quá yêu một người nào đó thì chỉ còn một cách là giết chết người đó đi thôi. Tôi quơ tay cầm lấy con dao nhọn và đâm phập lên tim Phùng.

Mà không, tôi vẫn còn thút thít khóc một cách hiền lành trong tay Phùng khi ánh trăng ló ra.

Tôi yêu anh từ năm mười lăm tuổi, khi hàng đêm, trong mùng, chị Hai  tôi thì thào kể về anh cho tôi nghe. Chị kể tới đâu tôi mơ màng tới đó, nhất là lúc Phùng hôn chị lần đầu dưới gốc dừa sau nhà. Chị kể lúc Phùng ôm siết chị vào lòng và môi tìm môi ra sao, và bàn tay anh xoa nắn vú chị như thế nào, khi đó tôi cũng rùng mình ngất ngây theo chị. Và cũng từ đó, mỗi khi Phùng ghé nhà xách theo cây đàn cùng chị Hai dợt văn nghệ cho trường thì tôi hay núp trong buồng lặng lẽ ngồi nghe say đắm tiếng đàn và tiếng hát của Phùng. Tim tôi thường run lên khi có lúc nào đó, Phùng vô tình nhìn lướt qua tôi, hoặc có khi anh mỉm cười chào tôi, tôi muốn ngất.

“Kể cho anh nghe đi, vì sao chị Hai của em chết?” Phùng thì thào qua tóc tôi.

Chuyện đó quá lâu rồi, gần bốn mươi năm có lẽ, một người chết non và một người thì biền biệt không biết đi về đâu. Tôi thì lặn ngụp trong dâu bể cuộc đời. Nghe Phùng hỏi, tôi lại thấy cay đắng, cùng lúc, nỗi hờn giận dâng tràn trong tôi.

Nhiều năm tháng tôi và chị Hai như hòa nhập vào nhau khi cùng yêu một người đàn ông. Chị vui là tôi vui. Chị khóc là tôi khóc. Ngày hay tin Phùng cưới vợ chị run lẩy bẩy và khóc suốt, tôi thì nghe lạnh buốt toàn thân trong nỗi mất mát vì không còn được nhìn thấy anh nữa. Sau đó, chị tôi thường hay nôn ọe. Phát hiện chị có thai, ba tôi đánh đập chị tàn nhẫn, những lúc đó, đôi mắt chị nhìn tôi lạc đi như một đôi mắt chết. Mỗi khi ba tôi quất roi lên cơ thể chị, tôi cũng oằn oại như chị, tôi khóc, nhưng chị thì không khóc. Chị bặm môi nhăn mặt chịu đau, chỉ có đôi mắt to là cứ nhìn xoáy vào tôi chừng như ứa đầy nước mắt.

Cái đêm Phùng và chị quấn lấy nhau sau vườn, tôi ngồi canh ở bụi chuối gần đó. Tôi nín thở khi nghe tiếng chị Hai rên rỉ kêu đau rồi khóc rưng rức. Tôi nghe tiếng Phùng vỗ về nho nhỏ. Rồi lại nghe chị rên rỉ. Những tiếng động lạ lùng. Những tiếng thở. Tôi cứng người khi nghĩ đến đôi môi của Phùng và những ngón tay dài ngoằng của anh đang lướt trên thân thể chị. Tôi nhắm mắt. Tay Phùng cũng lướt trên tôi.Tôi lịm người trong bóng tối. 

Chị Hai không đi đâu xa. Đúng vào ngày cúng bốn mươi chín, chị nhập vào tôi nói cười khúc khích rồi hờn dỗi khóc lóc làm cho cả nhà sững sốt và sợ hãi. Nhưng riết rồi cũng quen, tính chị hiền lành nên chị cũng là con ma hiền, không ai sợ mỗi khi chị về nữa. Chỉ có điều tôi không còn được trò chuyện với chị, tôi chỉ gặp chị trong những giấc mơ buồn thảm. Có lần chị dắt một bé gái và khóc với tôi nói ráng tìm ba của nó.

Phùng vén tóc tôi. Những ngón tay lạnh ngắt chạm vào má tôi. Tôi biết mình khao khát như thế nào khi muốn ngậm những ngón tay ấy. Mắt anh long lanh dưới ánh trăng mờ nhạt. Tôi nói: “Sau khi anh lấy vợ thì chị Hai phát hiện có thai. Ba đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Em đã tiễn chị tới bờ sông, em đòi đi theo nhưng chị không cho, sau đó vài ngày xác chị nổi lên ở đầu cầu chợ.”

Phùng há hốc nhìn tôi. Cơ thể anh run lên. Cùng lúc đó một cơn gió lạnh thổi qua khiến tôi rùng mình ôm chặt lấy anh. Chưa bao giờ tôi thấy hạnh phúc như lúc nầy, bên Phùng, sau quá nhiều năm tháng nhớ mong.

Phùng khóc. Anh gục đầu lên tấm bia mộ chị Hai.

Trong tấm ảnh, mái tóc đen huyền của chị chợt dài ra vươn về phía người tình cũ, như một quấn quít không rời.

 Phút bâng khuâng tròn khuyết

Dung Thị Vân

1-

Cảm ơn em đã gợi cho ta

Ngôn từ

Làm nên tuyệt phẩm

2-

Em đến hay đi

Là chuyện của thế nhân

Là chuyện của tình trần muôn thuở

3-

Em đến hay đi

Có ý nghĩa gì

Của phút bâng khuâng tròn khuyết

4-

Ta quen rồi

Nên chẳng hướng nào vội vã 

Em chưa quen nên có thể bàng hoàng

5-

Ta và em

Là biển trời tách biệt

Em về đi kẻo gió lạnh đông về

6-

Em về đi 

Bóng tà dương hai nẻo

Ta quay về mặc áo rét nàng Bân

7-

Em về đi 

Làm gì có trăm năm 

Làm gì có tình nhân mà hò hẹn

8-

Em về đi 

Dẫu biết rằng hai nẻo

Ta quay về nhắm mắt hỏi càn khôn

9-

Em về đi 

Làm gì có hoàng hôn

Mà trở lại phút ban đầu hạnh ngộ

Đập Đá

Nguyễn Thái Dương

Nơi đôi chân trần

Nhột bờ cỏ dại

Nơi con sông làng

Ngọt đôi tay sải

Đập Đá

Nơi anh vỡ lòng ba mẫu tự ngược u. ê. y…

Nơi nuôi anh lớn rồi xui anh đi

Nơi ấy

Chút tình nào thơ dại

o

Nơi bọc gói hồn anh

Gian nhà vách đất

Sớm chiều rướn cổ lên bờ đắp

Thiếu nữ đi về mỏi mắt anh

Đập Đá

Nơi anh vỡ giọng đàn ông… mười hai tuổi

Nơi xui anh đi rồi khiến anh quay lại

Nơi ấy

Chút tình nào thức dậy

o

Nơi mưa nắng thất thường

Bao ước ao đánh võng

Nắng giành anh những giấc ban trưa

Mưa tranh anh phút trời tròn bóng

Đập Đá

Nơi anh vỡ lẽ đầu đời niềm rung động

Nơi ngoắc anh về rồi vẫy vẫy tay

Nơi ấy

Chút tình nào vọng lại

o

Nơi anh xuôi ngược đời trai

Con thoi còn ngưỡng mộ

Nơi anh lên xuống miệt mài

Con sông còn ngờ ngợ

Cạn kiệt đó mà tràn dâng đó

Đập Đá

Nơi anh vỡ nghĩa người đàn ông muôn thuở… NTD

đập Thạch Đề, sông Thạch Yển (quê nhà Đập Đá – Bình Định)

Trần Hà Yên

.

Trời Sài Gòn sáng nay sao rét mướt

Gió bấc về nghe lạnh ngắt bờ vai

Và con nghĩ ở quê xa cũng vậy

Sớm mai này mẹ có lạnh lắm không?!

.

Cha đã về với ông bà bên núi

Bếp chiều nay chỉ còn bóng mẹ ngồi

Mái tóc bạc nghiêng theo làn khói mỏng

Cả căn nhà im vắng những cô đơn

.

Con chỉ biết gửi lòng về sưởi ấm

Như bếp hồng bên mẹ những chiều đông

Áo len cũ còn thơm hương tình mẹ

Vẫn theo con mỗi khi bấc tràn về

.

Mưa ngoài hiên nỉ non trên mái rạ

Gọi gió về tìm lại tháng năm qua

Kí ức xưa mẹ khâu bằng nỗi nhớ

Vá cho con cả manh áo cuộc đời

.

Giờ tay mẹ đã run theo năm tháng

Vẫn dìu con qua những phút chông chênh

Ủ ấm con bằng niềm tin mơ ước

Như đất ủ mầm không đợi nắng sang

.

Con lớn lên rét lui về phía mẹ

Mỗi mùa đông vẫn nặng nỗi thương con

Xin gió bấc hãy chậm qua thềm cũ

Để nơi xa… lòng con bớt héo hon

.

Nếu có thể con xin làm ngọn lửa

Vẫn bập bùng trong căn bếp nhà ta

Ôm ấp mẹ mỗi khi chiều buông xuống

Con vẫn đấy thôi… như chưa thể rời xa!

11/1/2026 –

P/s: – SG mấy hôm nay trở lạnh, lòng bỗng nhớ mẹ nơi xa

Từ Hoài Tấn

.

Thời gian không ngừng lại vì trái đất vẫn quay

Dòng đời vẫn trôi qua năm tháng

12 tháng thấy có lâu nhưng rồi cũng đến tháng chạp

sẽ hết một năm

Năm sẽ lại bắt đầu

Vì đã có quá khứ rồi hiện tại và tương lai

Mỗi người sẽ viết nên lịch sử đời mình với đầy đủ cung bậc của cảm xúc

.

Không ai buộc phải làm như thế cà

Nhưng sự thật đó là công việc trôi qua từng ngày

Dù muốn hay không bạn phải cam chịu

.

Ngày sẽ hết bạn có đi đâu

Đi đâu trong một nửa vòng tròn

Qua nửa vòng ta chờ nửa vòng khác

Nơi ta ở mặt trời không sáng hết một vòng quay

.

Ta có cuộc đời ta yêu cuộc đời

Ta có người yêu ta yêu người yêu

Trâm năm không biết có đủ đời

Nhưng trăm năm thì tình yêu dư vượt (vì ta đã hẹn hò người yêu nhiều kiếp nữa)

.

Tháng chạp rất nhiều điều muốn nói

Nói cho hết để không mang qua sang năm

Cho dầu sẽ mang tiếng là kẻ lắm lời

Nhưng còn hơn là người vô tâm

.

Có một điều không thể không mang qua năm mới

Thậm chí còn sẽ rất nhiều vô số năm nữa

Là điều ta muốn (luôn luôn)

Được yêu Em

Trạng thái

Lê Khánh Mai

.
bộ rễ dưới chân tôi đột ngột đứt lìa
tôi không thể đứng trên mặt đất
tôi treo lơ lửng giữa không trung
nhẹ bẫng như thoát xác
trôi… trôi… trôi…

tôi đang sống một đời sống khác
hay chỉ là giấc mơ?
xung quanh tôi vô vàn hạt bụi 
bay tuyệt vời tự do
muôn điệu ca của gió 
cất lên trong im lặng bầu trời

trôi…trôi…trôi
tôi nhỏ dần đi, mỏng dần đi, không còn tôi nữa
tôi quên tôi
vũ trụ bao la như tấm gương thấu thị
tôi soi xuống đáy sâu kia
chỗ bộ rễ của tôi bị đứt lìa
chỉ như cái ao tù nhỏ xíu

Mưa

Nguyễn Ngọc Hưng

.

Từ hạt mưa tẻo tẹo

Ngẫu nhiên rơi núi đồi

Nhập vào con suối nhỏ

Ra sông cuồn cuộn trôi.

.

Những cánh rừng khép lại

Lòng biển khơi mở ra

Sông đến nơi cần đến

Hóa thân vào bao la.

.

Đi khắp bến gần xa

Rồi nương hơi nắng gió

Lên tận dải Ngân Hà

Nước hóa mây từ đó.

.

Bay trăm phương ngàn ngõ

Chợt nhớ núi đồi xưa

Mây vỡ bầu tâm sự

Rơi xuống thành cơn mưa…

.

Ơi quê hương xứ sở

Một ở nhớ muôn đời

Đi cùng trời cuối đất

Lại mơ về hít hơi!

Một phút tự do

Elena Pucillo Truong

 

       ( Nguyên tác : Un istante di liberta’)

          Bản dịch của Trương Văn Dân

.

 “ Kính chào bà tiến sĩ De Rossi”

          Tôi vừa bước ra thang máy thì một trong các cô thư ký đã mang đến tách cà phê đầu tiên trong ngày. Tôi nói đầu tiên vì sau đó hãy còn nhiều tách nữa, không biết là bao.

          Một cô thư ký khác vội chạy đến giúp tôi cởi chiếc áo choàng, còn tôi, bó mình trong chiếc tailleur cực kỳ sang trọng, đi vòng qua phía sau vị trí điều hành, đặt chiếc cặp da có đựng notebook lên bàn làm việc.

 Biết bao kẻ muốn được mó tay vào chiếc máy tính cá nhân này! Chỉ cần nhấn vài nút bấm là tất cả những áp phe quan trọng của các công ty lớn, những chuyển dịch hằng triệu đô la  trên sàn chứng khoán sẽ tuần tự hiện lên bằng các mã số, để đảm bảo an toàn.

Một cú nhắp chuột… thế là tất cả những kế hoạch chi tiết và toàn bộ hồ sơ tuyệt mật của công ty Intracodex sẽ nằm gọn trong tay tôi. Định bật máy và liếc mắt vào công việc …nhưng mùi cà phê thơm phức đang kích động khứu giác làm tôi dừng lại.

Cầm tách cà phê nóng, tôi bước đến cạnh bức tường và nhìn xuống dòng đời từ tầng thứ 23! Ở trên đây không bao giờ nghe thấy tiếng ồn đô thị và dường như trong không gian luôn có một lớp sương mù nên quang cảnh trông có vẻ lãng đãng, giống như nhìn từ một giấc mơ.

 Rồi trong lúc áp môi lên tách cà phê lên tôi bất chợt nhìn thấy bóng mình phản chiếu lên tấm kính.

Tôi đang đứng đối diện với tòa nhà bằng kính. Mái tóc đen và dài, chiếc tailleur  trang nhã bó sát người, như thể người thợ may khéo léo ướm xấp vải vào thân mình trước khi đo cắt. Đôi chân khỏe và dài, còn được kéo dài thêm với đôi giày son cao gót. Chuyên nghiệp, quyền hành và nữ tính. Tất cả những vũ khí tối cần cho thế giới này. Thế giới của tôi.

Nhưng nét xanh xao tái nhợt trên khuôn mặt dường như tương phản với đường viền bằng son đỏ trên môi. Hai bờ môi thẳng nếp, mỏng manh mà sắc bén như một lưỡi lam, lạnh lùng như cái nhìn khinh mạn khi tôi quắc mắt. Bỗng dưng tôi không thể nhấm tiếp mùi vị cà phê. Hình như lúc này nó có vị chát của acit.

Phản chiếu trên tấm kính tôi nhìn thấy sau lưng mình cô ba cô thư ký tay cầm xấp hồ sơ đang chờ tôi ký. Cả ba căng thẳng đi qua đi lại sau lưng, hồi hộp chờ tôi quay mặt để trình bày công việc, báo cáo những cú điện thoại, nhắc nhở các cuộc hẹn và chờ tôi ra lệnh…nhưng tôi không thể tách đôi mắt đang nhìn bóng mình trên kính. Tôi không còn nhận ra mình nữa… sao mà tôi có thể biến thành một con người khô cứng và lạnh lùng đến thế?

Mười năm trôi qua như một ánh chớp… và bất thình lình tôi cảm thấy chúng đè nặng lên vai, một con mụ già cáu gắt. A! đúng rồi, đây chính là cái tôi đang nhìn thấy trên kính, một mụ đàn bà khô khốc, khó tính và cáu kỉnh. 

Tất cả bắt đầu như một phản ứng.

“ Con sẽ không bao giờ giống mẹ! ” tôi nghe vọng lại tiếng mình hét vào mặt mẹ. Bà yếu đuối, vâng lời, cam chịu, thụ động và chấp nhận mọi thứ… không bao giờ dám phản ứng, ngay cả những lúc ba tôi đối xử với bà bằng bạo lực, trước khi ruồng bỏ. Thế mà bà vẫn nhẫn nhục và chịu đựng. Rồi, không thèm nói một lời, ông lặng lẽ bỏ đi. Bỏ lại bà một thân một mình với nhiều món nợ. Gồm cả giấy cầm cố căn nhà.

Và chỉ vài ngày sau đó mẹ con tôi phải dọn đi.

Và thế là tôi không thể sống giống mẹ mình. Tôi không cần trái tim. Tôi không còn tình cảm. Chỉ lao đầu vào việc học, làm mọi thứ để tích lũy kinh nghiệm, dẫm đạp lên mọi thứ và mọi người. Tôi là mẫu người đàn bà của sự nghiệp, hay đúng hơn là một gã đàn ông trong thân xác một con đàn bà. Bởi vì tôi không còn giới tính, không có tình yêu; dĩ nhiên tôi vẫn có đàn ông, nhưng họ chỉ là những công cụ để tôi sử dụng rồi quên ngay, vì họ không cho tôi được gì mà tôi cũng chẳng để lại cho họ chút gì.

Cho đến lúc ấy tôi chưa bao giờ dừng lại để nhìn thấy mình đã trở thành người như thế nào. Chắc rồi…tôi đang đứng trên đỉnh cao của danh vọng, vị trí cao ngất mà mọi người thèm muốn… nhưng đó thực ra là thứ danh vọng gì? Bao nhiêu người đang cho rằng tôi đang thành đạt.

Đúng rồi, mà “đạt” được gì? Đã bốn mươi tuổi mà tôi không có một mái gia đình, không có một đứa con, chẳng có một ai đó thỉnh thoảng hỏi tôi có khỏe không và quan tâm đến việc tôi có vui vì những công việc của mình không. Không ai cả. Gia đình, thậm chí một người bạn.

Chậm rãi, tôi xoay lưng lại, thật khó nhọc rời hình ảnh của mình trên kiếng. Bàn tay tôi run rẩy khi đặt tách cà phê lên bàn. Bỗng dưng tôi cảm thấy như có một cơn nôn mửa đang trồi lên từ phía dưới.

Tôi đã không muốn sống như mẹ mình, nhẫn nhục, cam chịu…nhưng vì thế mà tôi đã trở thành một bản sao của ba tôi. Tôi hận ông! Thế nhưng bây giờ tôi thấy mình giống ổng, tôi đã cư xử với mọi người giống ổng, có khi còn tệ hơn.

Đối với tôi không còn ai cả, không một người nào, chẳng chút tình cảm…và tiền bạc thực ra chỉ là một phương tiện để tiếp tục dẫm đạp lên người khác.

Lạnh lùng và minh mẫn, tôi mạnh mẽ bước đến chiếc ghế bành bọc da và chễm chệ thả người lên đó trong lúc ba đôi mắt đang hồi hộp nhìn tôi từ phía bên kia bàn giấy.

“Mấy cô nhìn cái gì? Đặt mọi thứ lên bàn đi. Một lát nữa tôi sẽ gọi!”

Tôi nói to, làm cả bọn giật mình.

Ngay lúc đó tôi cũng chẳng nhớ tên của bọn họ là gì. Tôi chỉ muốn ngồi lại, một mình. Tôi mệt mỏi lắm rồi! Trong lúc ấp đầu vào giữa hai tay, bàn tay áp chặt vào mắt để khỏi phải nhìn thấy sự thật đang phản chiếu từ khung kính. Hằng ngàn khuôn mặt, tất cả đều là những góc cạnh của chính mình. Tất cả để cuối cùng chỉ còn lại một mình. Cô độc. Cô độc trong công việc. Cô độc giữa đám đông. Hoàn toàn cô độc. Cố tình cô độc. Rồi, như bất thình lình, cơn nôn mửa vụt biến thành cơn giận dữ, và bằng tất cả  sức mạnh, tôi cầm lấy chiếc tách cà phê, ném thẳng vào mặt kính.

Vô ích!

Mặt kính chỉ hơi rạn một chút chứ chẳng hề hấn gì. Đó chỉ là hành động vô ích nhằm giải thoát cơn giận. Thôi, đủ rồi! Tôi thấy mình ngạt thở. Tôi không thể nào tiếp tục ngồi đây.

  Phủ vội chiếc áo khoác lên người, tôi cầm chiếc túi xách rồi chạy ào ra thang máy.

Bàn tay run rẩy, tôi nhấn nút đi xuống, im lặng chờ xuống mặt đất, luồn lách giữa dòng người vô danh mà chưa bao giờ tôi muốn thân quen. Ra ngoài thôi, hít chút không khí giữa đất trời mở rộng.

Ánh nắng ngoài đường làm tôi lóa mắt. Một tay che mắt, còn tay kia  nắm chặt bâu áo khoác để che cơn gió lạnh vừa ập đến lúc bước ra khỏi cửa. Cho đến lúc đó, đối với tôi chưa bao giờ có nắng, có mưa, có ánh đỏ hoàng hôn hay tiếng cười, giọng khóc.

Máy bay, điện thoại di động, bàn giấy, máy tính…tất cả khô khan, vô cảm…tôi luôn luôn chạy đua với thời gian mà chẳng biết mình đi đâu, ngược lại, hình như chỉ để rời xa thêm cái cuộc đời mà tôi muốn có mà chỉ lúc này tôi mới biết là mình đã đánh mất. Tôi đã sinh ra mà chưa từng sống và lúc này mới đau đớn nhận ra là cả cuộc đời mình trống rỗng và vô ích.

Thiếu chút nữa là tôi bị một chiếc xe hơi đụng phải. Tôi ngơ ngác không biết mình đang làm gì và cứ băng qua đường mà không nhận biết. Nhưng không phải phản xạ đã giúp tôi tránh được tai nạn… mà có một  bàn tay vừa nắm cánh tay tôi, giật mạnh. Tôi xoay người theo bản năng để nhìn xem đó là ai.

Một đôi mắt màu hạt dẻ là cái đầu tiên mà tôi nhìn thấy. Nhưng nó không xa lạ với tôi. Đó là  đôi mắt của một trong ba cô thư ký…

Sao lại có thể như vậy được?

“ Tôi đây, Lidia đây mà, thưa bà tiến sĩ. Bà theo tôi… chúng ta đến chỗ kia ngồi một lát nhé!”

Như đứa bé, tôi để cô gái kéo mình đến một chiếc băng dài, tâm trạng gần như vui thích vì có một ai đó để ý và quan tâm đến mình.

“ Đây rồi, bà đã đỡ chưa? Có chút nắng nữa. Sau mấy ngày mưa mặt trời sẽ sưởi ấm chúng ta.”   Có lẽ tôi chẳng nghe cô ấy nói gì nhưng tôi bắt đầu thấy mình bình tĩnh lại, giọng nói của cô gái làm tôi an tâm.

Cô ta tiếp tục mà dường như tôi không hiểu hết những gì cô ta nói. Điều bất ngờ là những giọt nước mắt bỗng dưng lăn dài xuống má, chảy xuống cằm và tôi phải dùng bàn tay để lau. Lidia vội lấy khăn giấy và nhẹ nhàng chặm mắt cho tôi. “ Bà cứ để tôi lau cho, còn mấy vết đen nằm dưới mắt nữa kìa!”. Lâu lắm rồi chẳng còn ai  để ý và chăm sóc tôi. “ Bây giờ đỡ rồi đấy. Đi! Chúng ta phải về lại văn phòng …”  

Tôi vùng vẫy, cố gỡ bàn tay của cô gái đang nắm chặt lấy cánh tay mình.

Cô ta giữ lại trong khi tôi cố vùng ra để trốn chạy, thật xa cái tòa tháp mạ vàng lâu nay cứ làm mình ngộp thở.

“ Mình đi lên nhé… còn bao nhiêu việc phải làm. Bao nhiêu hồ sơ đang chờ bà ký….Bà chưa thể  bỏ đi được đâu…”

Bàn tay thép của cô gái như đang siết chặt hơn. Lidia kéo tôi, và từng bước chúng tôi bước vào cửa tháp, bên trong những bức tường bằng kính và tôi như không còn sinh lực, cứ để mặc cho cô ta kéo mình vào bên trong nhà ngục.

Bi kịch vàng

                                                                    

    Truyện ngắn của Nguyễn Trí

.

     Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

       –  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

        Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

       Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

     Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

       Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

     Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

     Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:

  • May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

     Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:

  • May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

   Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

     Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.   

                                                                                    ***

    Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

     Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.  

     Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

       –  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

    Sau bữa tiệc cha tôi nói:

  • Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

    Nhưng Văn nói với tôi:

       –  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lảnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cái tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

       –  Nó nói gì?

        –  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?

  • Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
  • Ừ…

     Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật giáo. Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:

  • Lên chùa để tâm được tỉnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

         Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

     Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:

  • Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
  • Anh em cả mà. Có gì mà giận?
  • Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
  • Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.  

    Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:

  • Để chú động viên nó vào.

   Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:

  • Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.

   Và đời không đơn giản.

                                                                               ***

        Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:

  • Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.

     Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:

  • Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

       Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn. Mơ cái gì nhỉ? Tôi chắc trăm phần trăm rằng do miếng ăn mà ra cả. Người ta mơ về một thừa mứa vật chất ở xứ sở mà người thất nghiệp có nhà nước cung cấp cho cái ăn cái mặc. Và khẳng định rằng xứ ấy là thiên đường.  

     Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

     Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

     Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

      –  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

       –  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

     Văn cũng mày mi tau tớ:

       –   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

    Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

     Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.  

      Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:

  • Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

   Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

       Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

       May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

                                                                            ***  

      Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:

  • Ra sao rồi?
  • Nói chung là ổn.
  • Vợ con sao?
  • Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
  • Giờ muốn gì nữa không?
  • Muốn khi chết được chôn trên đất này.
  • Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
  • Tha phương nhớ nhà lắm.

   Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

  • Sao mà như nước với lửa vậy?

      –   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

    Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

      Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

      Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

    Nhưng.

    Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

                                                                       ***

     Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

     Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

    Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

    Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

                                                                                                    Nguyễn Trí

1 – thơ Nguyên Sa

Khi em đội nón

 Nguyễn Thị Ánh Huỳnh 

.

Em muốn nói với anh về chiếc nón vải

Chiếc nón mà lúc xa anh…em bỗng nhớ giữa chừng

Em đội nón

Đội những phút giây lặng lẽ

Đứng chờ trông khi anh vắng trên đường

.

Gương mặt em lúc đội nón giống tượng đất suông

Tối nửa bên y như nhật thực

Nhưng có chi tiết làm em rất thích

Biết cách trừ cho ít lại tháng năm

Ấy là tóc giấu đi vài sợi trắng

.

Phía xa ngoài nón

Là đường đi của thời gian

Là cánh cửa sổ trời mưa quên đóng

Những tối oi nồng những sáng mù sương

Là gian bếp thơm mùi hành tỏi

Ướp cả đời em gia vị linh hồn

.

Anh nhớ gì …chiếc nón hình vành khăn

Chắc cũng quên mất rồi …Sài Gòn mây vỗ sóng

Thì thôi, nếu đã phải không cùng nơi đứng

Xin anh hãy nhìn lên cao lúc rỗi rảnh

Có trời chung in dấu một vầng tròn…

NTAH