Feeds:
Bài viết
Bình luận

Elena Pucillo Truong

                                    (Nguyên tác tiếng Ý: La realta’ come un incubo)

                                                 Bản dịch của Trương Văn Dân

Đường phố vắng tanh. Yên lặng.Thỉnh thoảng có những tiếng hụ còi của xe cứu thương.

Khi tình hình này bắt đầu thì những hình ảnh ngày xưa liền xuất hiện trong trí tôi.

Đó là một buổi tối, vàonhững năm cuối của thập niên 1970,cả gia đình quây quần trò chuyện sau bữa cơm và trên TV đang chiếu một bộ phim dài nhiều tập.

Tựa phim “Những kẻ sống sót” có cốt truyện khá đơn giản: Trong một phòng thí nghiệm, vì bất cẩn người ta đã vô tình làm vỡ một ống nghiệm mà trong đó có chứa một chủng virus rất độc hại. Một nhà khoa học không biết là mình bị lây nhiễm, ông ta từ Mỹ đến London bằng máy bay và sau khi máy bay hạ cánh ông thấy trong người không được khỏe. Thế là từ lúc ấy sự lây nhiễm lan ra khắp nước Anh và gây ra rất nhiều người chết.

Vì tình tiết lôi cuốn nên chúng tôi hồi họp chờ đợi các tập kế tiếp để xem chuyện một bà mẹ đi tìm đứa con mất tích và số phận của các nhân vật khác trong một làng nhỏ ở nước Anh.

Đường vắng, im lìm, nhưng đây không phải là phim trắng đen như nhiều năm trước.

Đây là cái hiện thực mà tôi đang sống, từng ngày. Trước đây nhờ thói quen tổ chức, dự phòng và nhanh chóng giải quyết những vấn đề thường nhật nên tôi cảm thấy rất tự tin. Nhưng chỉ trong vài ngày, có khi chỉ vài giờ, cảm giác an toàn và chắc chắn của tôi đều sụp đổ và cuộc sốngcùng những thói quen độc lập của tôi bỗng lệ thuộc hoàn toàn vào tình thế mà cơn đại dịch gây ra.

Đúng là một trò chơi của định mệnh! Chỉ như mới hôm qua, chúng tôi còn gặp gỡ bạn bè để bàn về việc tổ chức Tết, nói về chương trình và hy vọng là những điều tốt lành sẽ đến trong năm mới. Rồi chỉ vài tuần sau khi năm Canh Tý khởi đầu là chúng tôi đã phải nhận một món quà bất ngờ, không mong đợi: bệnh dịch coronavirus.

Vào đầu tháng ba, trên T.V có đưa tin và cho thấy những gì đang xảy ra ở Vũ Hán, một thành phố có 11 triệu dân bên Trung Quốc. Với các bạn tôi, ở nước Ý thì dịch bệnh đang ở quá xa nên chắc sẽ không làm thay đổi cuộc sống của mình. Thế nhưng trong tôi vẫn cảm thấy có một điều gì đó không an lòng, như có một nỗi lo tiềm ẩn đang chực chờ, nhất là lúc phụ giúp chồng chuẩn bị hành lý để anh về Việt Nam trước.Theo chương trình thì anh ấy sẽ khởi hành vào ngày 13 tháng 2, còn tôi, sau khi giải quyết một vài công việc rồi sẽ về sau.

Vừa hoàn tất các thủ tụcđổi bằng lái xe, trả thuế… tôi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến bay của mình. Nhưng không ngờ là có nhiều biến cố liên tục xảy ra, ập đến với một vận tốc khủng khiếp. Ngày 21 tháng 2  ở Ý bắt đầu có một người chết và vài ca lây nhiễm. Rồi sau ngày ấy tình hình lây nhiễm càng lúc càng tăng, giống như một tảng đá từ trên đồi cao lăn xuống, vận tốc càng lúc càng nhanh. Mỗi ngày đều có thêm nhiều ca lây nhiễm và có nhiều người chết. Tình hình càng ngày càng quan ngại nên tôi thường hỏi chuyện vài người quen.

  • Tôi sợ là sắp tới sẽ có vấn đề về các chuyến bay, có lẽ tôi nên đổi ngày để bay về Việt Nam sớm hơn dự tính.

– Chắc không sao đâu!… Tất cả các vùng bị nhiễm đều được cách ly, mà thực ra đây chỉ là một bệnh cúm thông thường, không việc gì chính phủ phải phong tỏa đường bay!

Nhưng tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ và lo lắng. Đã có lúc tôi tưởng mình là một Cassandra thời hiện đại, một nhà tiên tri mà Omero đã kể trong sử thi Iliade: Cassandra, là con gái của vua thành Troia, rất được thần Apollo yêu và để chinh phục nàng, ông tặng cho nàngmột khả năng siêu việt là thấy đượctương lai. Thế nhưngCassandratừ chốitình yêu của ông, Apollo tức giận vàđể trừng phạt,ông nguyềnlà khinàng nói sẽ chẳng có ai tintheo. Chính vì thế mà khi Cassandra tìm cách thuyết phục dân thành Troia không nên mang các con ngựa to lớn, do Ulisse thiết kế, vào bên trong thành, vìđó là một âm mưu xâm chiếm. Mà chẳng ai tin. Rồi đến khi nàng tiết lộ là bên trong các con ngựa có quân lính của kẻ thù đang ẩn núp, lời nói của nàng như rơi vào khoảng trống.

Tôi có cảm giác mình chính là nàng Cassandra đó, chẳng ai chịu lắng nghe mình, ngay cả khi nói với cô bạn làm ở công ty du lịch:

  • Bộ chị muốn thay đổi ngay bay à…sao vậy… cho đến nay đâu có tin gì về việc cấm bay… mà thôi được, để em xem khi nào thì có chuyến bay… Ah, đây rồi, chị bay mười hôm trước ngày đã định nhé.

Ngày hôm sau là đã có thay đổi: Hãng Kuwait ngưng các chuyến bay về Ý, những ngày sau đó hãng hàng không của các nước khác cũng quyết định tương tự và mỗi lúc mỗi gần đến ngày bay nên tôi càng lo lắng, cho đến buổi sáng ngàykhởi hành.

Rồi điều mà tôi lo lắng nhất đã xảy ra:“Tốt nhất là em đừng khởi hành”từ Việt Nam chồng tôi gọi điện thông báo ngay lúc tôi chuẩn bị gọi taxi để buổi chiều đưa tôi đến phi trường. “Không an toàn vì Việt Nam vừa thông báo là sẽ không cho công dân Ý nhập cảnh. Thái Lan cũng vậy, ngày mai Thai Airwayscũng sẽ ngừng các chuyến bay về Ý.”“Khả năng bị mắc kẹt rất cao!”

Nhưng những thất vọng mà tôi đang sống cũng chỉ là một nỗi phiền muộn nhỏ đối với những gì mà nước Ý trải qua trong những ngày sau đó.

Tôi hồi họp theo dõi tin tức, hàng ngàn người bị lây nhiễm, hàng trăm người chết, càng ngày càng tăng. Chính phủ bắt đầu phân loại các vùng đỏ, vùng cam để cách ly và ngăn chặn mọi việc xuất nhập… rồi sau đó là lệnh cách ly và phong tỏa được nới rộng trên toàn miền Bắc nước Ý.

Trên quê hương tôi, đang xảy ra tình cảnh giống hệt như trong phim được trình chiếu từ nhiều năm trước.

Nhưng đây không phải là phim giả tưởng mà là một hiện thực đã vượt ra ngoài mọi sự tiên liệu.

Để hạn chế lây nhiễm cần phải cô lập, hạn chế di chuyển và mọi người chỉ được phép ra ngoài để mua thực phẩm, thuốc men hay những thứ cần thiết. Công an và cảnh sát túc trực trên đường phố đểkiểm tra những người vi phạm quy định.

Những ngày sau đó còn có cả quân đội và lúc này những người trẻ tuổi mới tin rằng đây không phải là trò chơi video trực tuyến mà là hiện thực được tạo ra bởi một loài virus vô cùng tinh quái và hiểm độc.

Nhưng cũng có số người ngu dốt hay hời hợt cứ cho rằng con virus không hiện hữu, một bằng chứng của những bộ óc u tối như thời của Louis Pasteur(1822-1895): thứ gì không thấy nghĩa là không có!

Đấy là cách suy luận của một số người, nhất là lớp trẻ, vì họ luôn tưởng mình vô địch, là anh hùng mạnh mẽ và có thể chiến thắng con quái vật tàn bạo mà bé tí kia. Và chính cái cách suy nghĩ u mê,tưởng mình có thể chống lại số phận này mà Thượng đế đã làm tăng số người bị lây nhiễm đến chóng mặt. Có một nhóm thanh niênkiêu ngạo đã bị quật ngã và thảm bại: Ngay đêm trước ngày cách ly toàn quốc, họtập họp để ăn nhậu mà không nghĩ rằng đây là cơ hội để bị lây nhiễm và sau đó tiếp tục lây cho những người thân. Thế là trước đó chỉ có người già, giờ thì sự lây nhiễm đã lan ra giới trẻ.

Sau nhiều ngày bị bắt buộc cách ly chúng tôi càng nhận ra những giới hạn của mình. Không còn nhà lãnh đạo, nhà kinh doanh, nhà kỹ nghệ hay công nhân, người phục vụ… tất cả đều có thể bị lây nhiễm vì không có sự phân biệt tuổi tác, giàu nghèo hay đẳng cấp xã hội.

Cái con virus này đã tấn công vào mọi thứ mà nhiều người xưa nay xem đó là lẽ sống, là mục đích như tích lũy vật chất hay tìm kiếm giàu sang, muốn có bề ngoài luôn tươi trẻ, thích hưởng thụ những thú vui xa xỉ mà không bao giờ quan tâm đến người khác, sẵn sàng chà đạp lên mọi thứ miễn là niềm vui ích kỷ của mình được thỏa mãn.

Hy vọng chúng tasẽ sớm bước qua cái hiện thực đau buồn, thức giấc sau cơn ác mộng vớiý thứcvề mộtđời sống đơn giản, nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn xưa.

Milano, 22/03/2020

Tình cờ. Một giấc mơ

Trần Minh Nguyệt

thật tình cờ em nhặt được giấc mơ

trước cửa vườn đã khép

nhập nhòa bóng anh

bên con dốc ven hồ

bất chợt gió của rừng cây

hay tiếng nước róc rách

mang lời hẹn

bên em một giấc mơ xanh

trong chiếc hộp đựng giấc mơ

chỉ một mình em

bên biển

cát đã hong tím trời chiều

cúi nhìn dấu chân mình

nhìn ngọn sóng

cùng trùng khơi xa xăm

em mơ một chuyện tình

cuối cùng

chính tay em đã nhặt lên

chiếc hộp đựng giấc mơ

một ngày bên anh

chỉ một ngày

để những cánh hoa vàng

nhảy múa

cùng trái tim nầy loạn nhịp

thời gian …

Mùa xuân

Vũ Đình Huy

buồn làm gì lá răm ơi

mùa xuân tự ở đất trời phải đâu

em duyên em bước qua cầu

ta say ta ngụp nông sâu bể đời

thắp dùm ta chút son môi

nắng xuân lững thững bên đồi trần gian

em trách chi kẻ tiêu hoang

luân hồi ta – gã từ quan đi tìm..

. em nhìn kìa những cánh chim

xé toang trời đất đi tìm mùa xuân

Một Bài Thơ Cho Ngày Valentine

Trần Vấn Lệ

Em mặc áo xanh, anh nhớ Má
xách một buồng cau đi trong vườn
xách cả buổi chiều đi rất vội
về khoe với Ngoại kịp… hoàng hôn!

Dành cho đôi má em chừng đó
trọn tấm lòng anh ở cuối trời
Muôn năm có một Ngày Nhung Nhớ
mãi mãi muôn năm Chỉ Một Người!

Em mặc áo xanh ngày rất mộng
rất là mơ mà cũng rất thơ
Nụ hôn trên má hồng chưa đủ
hôn cổ em nha ba ngấn chờ…

Chiều ở núi cao sương xuống thấp
Valentine nhìn ngôi sao xa
trăng non cũng mọc chào Năm Mới
anh nói chào em Trăng Nở Hoa!

Thầm thỉ mình anh Ngày Lễ Tình
Tưởng người yêu mặc áo mơ xanh
Mở chồng thơ cũ Còn Nguyên Vẹn
Em với Anh tình Em Với Anh!

Tóc mây

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Mái tóc nàng mọc từ nhiều loài cỏ dại. Dài quá lưng. Nhiều người trầm trồ, nhiều người dè bĩu:
– Như ma ấy, cắt đi
Nàng chạy thật nhanh, về, mẹ nàng đang đợi nàng ở nhà.
– Gội đầu đi con, mẹ đã nấu cho con nồi bồ kết và nước xả tắm rồi đấy
Nàng chạy ào ra phía sau ảng nước, ngồi chum hum xuống và dội, vuốt vuốt mái tóc dài của mình. Hình như nó ngắn hơn hôm qua. Nàng buồn, lo, sợ mẹ biết.
Hôm ấy, nàng đi tìm cây gai để bện tóc. Nàng thấy từng hạt bạch cầu xóc nhọn chảy qua mang tai.
Năm ấy, nàng tạm biệt mẹ để lên thành phố học đại học. Hành lí có vài bộ áo quần, và mái tóc rất nặng. Nàng quấn quanh nó bằng những mớ gai bọc kín.

Thành phố, thật mới, đối với nàng. Chấn động đầu tiên là những đôi mắt ngó nhìn nàng. Nàng thấy như nó chấn động cả mặt đất dưới nàng đang đứng. Nó đang nứt. Nàng thấy sự vị tha và cao thượng nàng mang lên từ quê bị tuột xuống những đường lằn hun hút.
Đêm mưa, nàng gào thật to, tiếng rơi theo mái tôn ào ạt trút. Những sợi tóc bất chợt rơi xuống sau mớ gai. Nàng hoảng hốt níu lại. Đôi tay xước trầy đỏ máu. Theo mưa mà trôi. Nàng thấy mưa im lặng. Nàng mỉm cười với mưa. Một bông hoa hàm tiếu nở, nó vẫn còn ươn ướt, run rẩy, lắc mình những cánh cho chóng khô.
Đêm ấy nàng mơ những cánh tay đầy những ngón nhọn của lũ quỉ đang giật mái tóc của nàng.
***
Một ngày nàng thấy ánh nắng mới hơn hôm qua. Hoàng hôn xanh lè những ánh chớp phía tây vòm trời. Nàng cất tiếng hát nho nhỏ trong vòm vọng. Những khúc cầu nguyện cũ, nàng tụng ca cho một ngày đã qua, an bình với nàng. Nàng tháy mái tóc nàng đang múa với cơn xoáy bắt đầu vào hướng từ thành phố. Nơi nàng ở trọ là ngoại ô. Nàng gọi:
– Mẹ ơi mẹ ơi, mẹ nấu nước bồ kết và hương xả cho con đi, con muốn gội nó.
Mẹ nàng không nghe tiếng nàng. Ngoài cửa rít lên từng hồi gió.

Hôm sau, nàng thấy mái tóc mình bị ngắn lên nửa gang tay.
***
Ngày an phận trên những trang sách. Nàng muốn làm nghề dạy học. Mẹ nàng bảo thế. Đó là công việc phù hợp với tính cách nhu mì của con gái mẹ. Mẹ bảo, nàng giống mẹ nhiều hơn, nếu giống ba, có lẽ nàng đã gào thét mà vỡ ra rồi trôi về nhanh với mẹ. Nàng tự phá nỗi sợ hãi để làm trò chơi lắp ghép. Nàng ít cười. Ai cũng bảo như vậy, như mẹ nàng. Có một ngày, nàng ghép được cả một ngôi nhà bằng thứ đất nâu nhão sệt mà nàng cướp của lũ tò vò. Có hôm nàng ngồi chăm chú nhìn chúng xây tổ. Nàng ngồi bất động nhìn hai cái vòi của chúng, thật chăm chỉ và khéo léo. Hôm ấy bàn tay của nàng sưng vù lên. Vài hôm nữa thôi, chúng sẽ tha về vài con nhện thả vào trong ấy. Nàng cảm thấy hài lòng và một khoái cảm từ sự nhứt nhối trên đầu mười ngón tay. Nàng sờ lên đầu. Những chiếc gai đâm phọt. Những dòng máu ứ tuôn xuống ào ào. Nàng thấy thật an toàn về mái tóc. Nó vấn quanh màu đất sét như cái tổ của tò vò.
***
Nàng nhớ mẹ, mẹ đang ốm. Nàng hết tiền mua vé. Hôm ấy trời lại mưa, mưa dột ướt cả giá sách, tổ tò vò hôm qua đã ướt mềm. Có lẽ chúng sắp vỡ, nàng nghĩ vậy. Chúng nó đâu rồi nhỉ. Nàng nhìn quanh, những mảng tường vôi nứt nẻ. Có lẽ chúng đang đi tìm lũ nhện. Nàng đói, nàng xé gói mì tôm, ăn sạch chúng, không cần nước sôi. Mấy cái bình ga nhỏ kia đã hết sạch.
Nàng cất tiếng ngâm khe khẽ trong họng: “tò vò mà nuôi con nhện / đến khi nó lớn, nó quyện nhau đi / tò vò ngồi khóc tỉ ti / nhện ơi! nhện hỡi! mày đi đằng nào?
***
– Này em, chúng tôi muốn mua tóc, em ghé thăm chỗ chúng tôi đi.
Nàng rảo bước, không thèm ngoảnh lại nhìn. Nàng thấy mùi hương bồ kết cứ thoang thoảng. Chúng có gai.
***
Lũ tò vò đã trở lại. Chúng xây thêm những ngôi nhà hình chum mới bên cạnh cái tổ bị vỡ. Chúng lần lượt thả vào đấy những xác nhện non tơ.
Nàng đã mở những mớ gai trên tóc. Bây giờ nó uốn bồng bềnh như mây, và lõa xõa ngang vai. Nàng thật quyến rũ.
***
Nàng ngồi đấy. Nàng nhìn lũ tò vò chui ra chui vô bên những chiếc tổ mọc trên cái giá sách. Nàng chuốt lại móng tay. Chúng thật sắc, tựa như cái vòi của tò vò. Nàng đang đợi lũ ấu trùng nở. Chúng sẽ xơi sạch những xác nhện đang hấp hối kia cho đến khi chúng không còn lại những sợi lông măng.
***
Đêm. Nàng nghe tiếng gió gọi:
– Dậy đi con, dậy gội đầu đi, mẹ đã nấu sẵn bồ kết và lá xả đấy.
Nàng mở mắt. Nàng nghe tiếng nhai ngấu nghiến. Lũ ấu trùng đã nở. Nàng mơ màng như đang nghe hợp âm của những thứ cỏ ngày xưa trên mái tóc dài phủ mượt. Chúng vi vu màu xanh, màu xanh nhạt, màu vàng úa, màu nâu hổ phách như cánh tò vò. Chúng đã nằm trong cái tổ đất. Đã lâu, chúng không có ánh sáng.
***
Nàng nhìn chúng, lũ ấu trùng, chúng li ti và có khuôn mặt như những đứa bé bầu bĩnh. Nàng khóc và đưa tay vuốt lại mái tóc.
Nàng thức dậy thấy mình nằm trong ngôi nhà có hình chum.

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Về nhà ăn tết

Đinh Lê Vũ

Lâu lắm rồi, năm nay tôi mới được về nhà ăn Tết sớm. Được về dưới mái nhà bình yên của tuổi thơ với những giấc ngủ vùi không mộng mị. Được nghe văng vẳng xa xa những âm thanh Tết rất quen thuộc của ngày xưa cũ. Tiếng xe máy chạy vút qua con hẻm nhỏ trước nhà. Tiếng người xao xác. Tiếng tập hát Xuân đã về xuân đã về vọng từ quán cà phê Cung Trầm Phố gần nhà. Tiếng gà gáy ong ỏng xa xa. Tiếng chim hót. Cả tiếng thạch sùng tậc lưỡi trên vách… Trong muôn ngàn thứ tiếng rất quen ấy, có một thứ tiếng mà chỉ về đây mới nghe được- tiếng con tim mình đập nhịp an lành.Về nhà, tôi được ngồi bên cửa sổ nhìn qua khu vườn nhà cô Bảy, ngắm nắng dát vàng trên những đọt mãng cầu non. Tôi gọi đó là màu nắng Tết. Những lúc đi xa, những lúc ngày hết Tết đến mà chưa về nhà được, tôi hay nhớ đến quay quắt màu nắng Tết ấy. Nắng màu vàng, ồ không, nắng màu trắng, cũng không hẳn là màu trắng, là một màu gì đấy mà chỉ cần nhìn thấy ở đâu đó, hay đôi khi chỉ cần mường tượng thấy là lòng tôi đã nôn nao, chỉ muốn vất bỏ hết tất cả để chạy về ngay. Màu nắng ấy làm tôi nhớ tới mẹ tôi, nhớ ngoại tôi, nhớ hương vị Tết nồng nàn của tuổi thơ tôi, nhớ những cảm giác run rẩy non tơ khi xúng xính khoác lên người chiếc áo mới vào một ngày đầu năm- đã xa lắm rồi.Tôi nhớ đến chiếc áo mới của ngày mồng một Tết rất xa. Hồi đó là khoảng năm 1977, thời gian khó khăn nhất của thời bao cấp. Dì của tôi vừa vào Đại học, đi học xa nhà. Giữa những tháng ngày thiếu gạo, ăn cơm độn sắn, ngô, khoai…, mỗi lần dì tôi ở Huế về thăm nhà là những ngày hội đối với tôi. Dì dẫn tôi đi ăn chè đậu ván bà Nguyệt, cho tôi gặm bánh mì ở tủ bánh mì trên đường Lê Lợi, lại mua cả bánh ông Sườn cho tôi ăn (thời đó, những món ăn vừa kể là những món đầu bảng của ẩm thực Hội An). Dì còn lại mua truyện cho tôi đọc, tôi còn nhớ đó là truyện Thạch Sanh- Lý Thông, truyện Thánh Gióng của NXB Kim Đồng in màu sắc rực rỡ… Tết đầu tiên dì đi học ở Huế về, dì mang quà cho tôi là chiếc áo sơ mi trắng dài tay lai bầu có những hoa văn chìm rất đẹp và sang trọng. Tết năm đó, hình như tôi là đứa nhỏ duy nhất trong xóm xênh xang với tấm áo mới trước cặp mắt thèm thuồng của những đứa nhỏ khác trong xóm (tôi nghĩ thế!)… Sau này lớn lên, đi học xa nhà, tôi mới hiểu những ổ bánh mì thơm dòn, béo ngậy, ly chè đậu ván bà Nguyệt ngọt lừng hay chiếc áo mới cho tôi trong ngày đầu năm hồi đó là hy sinh không nhỏ của dì. Tôi còn được biết chiếc áo sơ mi trắng tôi mặc Tết ngày đó là chiếc áo dì thuê người ta cắt sửa từ chiếc áo dài trắng dì cẩn thận gìn giữ suốt thời trung học. Sau này, tôi có nhiều áo mới, nhiều cái Tết đi qua, tôi vẫn nhớ mãi chiếc áo sơ mi trắng của dì. Trong gia đình, tôi yêu dì bằng một tình yêu thật thuần khiết, tinh khôi cũng từ những chuyện vụn vụn nho nhỏ như vậy…Tết ở nhà luôn có những niềm vui bất chợt, nho nhỏ ở mọi nơi, mọi lúc mà không thể tìm thấy ở một nơi nào khác. Tình cờ đứng trước hiên nhà, một người quen cũ từ hồi lâu lắc lâu lơ đi ngang qua, hỏi thăm mình rất vồn vã, thân tình mà đôi lúc, mình cũng không hẳn nhớ người đó là ai… Trong quán cà phê ngày cuối năm đông đúc náo nhiệt, nghe ai đó gọi tên mình, là một đứa bạn cũ cả chục năm chưa hề gặp lại… Giữa chợ Tết đông người, tự nhiên có một cái níu tay, là cô bạn cùng khối lớp ngày xưa giờ là chủ sạp trái cây… Mua một ít trái cây của cô bạn về cúng ông bà, được cô bạn xăng xái chọn giúp trái cây ngon, lại được bạn tự nhiên giảm giá… Về nhà ngày Tết, luôn phải mỏi miệng cười và gật đầu chào, nhưng lại được sống trong bầu không khí ấm áp, cảm giác rất dễ chịu là mình đang rất được quan tâm, mình đang được người khác quan tâm thật lòng… Suy cho cùng, đó là một thứ hạnh phúc, tuy cỏn con, đơn giản, nhưng rất nhiều người cần đến nó. Nên dù xa xôi, ngày Tết, người ta cũng cố mà tìm về…Ngày Tết cũng là thời khắc ngồi chiêm nghiệm lại những chuyện buồn vui của một năm qua. Thôi thì, chuyện gì qua cứ để qua đi luôn… Những nỗi buồn năm cũ sẽ trôi qua. Tết sẽ an lành! Năm mới sẽ an lành, lòng mình cũng sẽ an lành!Tiễn biệt một năm cũ đi qua và chào năm mới!ĐINH LÊ VŨ(Đừng hôn ở Hội An)

Những mạch gạch tháp xuân

Chế Diễm Trâm

Xin dành trọn chín mươi buổi chiều xuân
Lặng yên chiêm ngưỡng sắc xuân tháp cổ
Tháp không là sinh thể cô đơn
Bởi đời là cộng sinh của những gì tưởng chừng là trái ngược

Đã đi hết mùa mưa ẩm lạnh
Những mảng rêu mờ xanh bong tróc lần hồi
Đang độ hoa của những cành cỏ chỉ
Bên nhành bồ đề ngơ ngác mấy lá non tơ 

Đó là lúc những hạt cỏ đang cất lên tiếng hát khẽ khàng 
Bên đôi ba lá bồ đề tựa lời kinh vẳng vọng từ Phật viện Đồng Dương
Những hạt cỏ, hạt cây con sẻ nâu kiếm ăn tình cờ để rơi trên bờ gạch
Con sên tình cờ bò qua ôm vào khe gạch ẩn dưới vòm tháp 
Mạch gạch cổ im sâu bao dung tất cả
Một ít đất mủn từ thân gạch 
Cho hạt bám vào 
Những mạch gạch trống 
Thổi gió qua những khe gạch cho hạt cựa mình 
Vượt qua mùa đông lạnh ẩm
Để bất chợt chiều xuân 

Nhành bồ đề vươn vài ba chiếc lá
Như những sinh thể hình giọt nước buông lơi nhẹ êm và thánh thiện 
Những cọng cỏ chỉ thẹn thùa bung hoa lấm tấm
Những bông hoa bé xíu nhưng thì thầm mãnh liệt 
Làm xanh êm thân tháp 
Làm từ bi những mạch gạch Chăm  

Xin dành trọn chín mươi chiều xuân như thế 
Cảm nghe những mạch gạch Chăm tĩnh mặc
Đang say mê bản tụng ca vô ngôn 
Về mạch sống – mạch xuân dịu dàng và tự nhiên nhất…


.

Lưu Nhi Dũ

Bùi Giáng có một mùa xuân vĩnh cửu, bởi đơn giản chính ông tự xưng mình là “trung niên thi sĩ”. Trung niên là cái tuổi quá chín chắn để biết cắn vào mùa xuân tươi rói của cuộc đời.

Đời ông buồn, theo cách nhìn của một bác sĩ tâm thần, nhưng cái buồn của ông rất thi sĩ. Nếu không làm sao ông viết nổi bài thơ cực hay như Chào nguyên xuân?

Chào nguyên xuân là một trong số rất ít bài thơ viết có âm hưởng mùa xuân của Bùi Giáng. Đó là bài thơ trẻ trung đến kỳ lạ, ở đó có bàn tay, có cỏ cây, có bụi bặm trần gian, có làn môi…nhưng cũng có nỗi sầu muôn kiếp: Xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước miên trường phía sau… để rồi hội ngộ giữa màu Nguyên Xuân, chứ không phải biệt ly.

Câu hỏi mà nhiều người yêu mến Bùi Giáng thường đặt ra: Bùi Giáng có điên không? Bây giờ khó ai có thể trả lời nổi, kể cả những người sống gần gũi với ông, hiểu ông. Nên có một công trình nghiên cứu về đề tài này, cả về tâm thần học, qua thi ca của chính ông, mà người nghiên cứu phải là một bác sĩ giỏi chuyên môn, giỏi ngôn ngữ và phải yêu văn chương.

 Quả là khó. Nhưng thôi, chính cái “điên” của Bùi Giáng đã làm tên tuổi ông trở thành thi sĩ hàng đầu của chúng ta ở hậu bán thế kỷ 20. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn đánh giá Bùi Giáng là thi sĩ số 1, chứ không chỉ vậy. Ông đã để cho đời nhiều bài thơ vào hàng kiệt tác kiểu như Phụng hiến, Chào nguyên xuân…

Thi sĩ Hàn Mặc Tử có tập thơ “Đau thương”, hay còn gọi là “thơ điên”. Đó tập thơ có nhiều bài hay nhứt của Hàn nhưng Hàn không điên, chỉ quá đau về thể xác đến điên loạn, đau cùng cực. Trong “Vài lời nói đầu về tập Đau thương”, Hàn Mặc Tử viết: “Tôi làm thơ?… Cũng nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú… Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?”.

Để rồi từ đó ông bật lên những câu thơ sáng chói:

“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,

Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng:

– “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”

Khác Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng “điên” ở tâm hồn và làm nên một hiện tượng thơ độc đáo, trước và sau khó có thể có. Ông “điên”, chính vì vậy thơ ông cũng “điên” theo. Có những câu rất thơ, cực hay, tuyệt đỉnh và cũng có những câu… không phải thơ! Trường hợp này, thi sĩ thiên tài Hàn Mặc Tử cũng gặp phải.

Hình như thiên tài khác hẳn chúng ta. Họ không phải là người bình thường. Hãy đọc bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ, mới hiểu được cái thần, cốt cách của thi sĩ họ Bùi.

Bùi Giáng bắt con chuồn chuồn, con dê, con hươu, con chó vàng phải làm ra thơ. Thậm chí cái ly uống rượu đế cũng “đẻ” ra thơ:

           Rồi đây tôi sẽ nhớ nhung

           Cái ly rượu đế vô cùng trần gian…

Ông đã sống một cuộc đời tự do nhất trần gian mà con người có thể hưởng. Đó là hạnh phúc nhất ở thế gian này, chỉ có ông mới có được. Tôi nhớ hôm cơ quan Báo Người Lao Động liên hoan tất niên (năm 1994 thì phải), thấy ông đi lang thang, anh em mời ông vào uống ly bia nhưng ông chỉ uống vài ly rồi ra vỉa hè ngồi chơi rượu đế. Uống đã, hình như “giọng đã về”, ông đọc thơ sang sảng. Một đồng nghiệp đề nghị ông đọc bài Phụng Hiến và ông đọc giọng như một thi bá, đặc biệt đoạn: Hoàng hôn xuống bình minh lên nhịp nhịp/ Ngàn sao xanh lùi bước trước vừng hồng… Lúc đó ông đúng là thi sĩ lớn, dù ông vẫn lang thang hè phố.

Đã nhiều năm rồi Bùi Giáng lìa khỏi trần gian nhưng như ông viết: Ngày đã hết tôi sẽ không ở lại/ Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu

Và ông chẳng đi đâu cả, vẫn “còn trang thơ thắm lại với trời hồng” và bởi: “Thưa rằng ly biệt mai sau/ Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân”…

——————————–

Chào nguyên xuân


Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

Tóc xanh dù có phai màu

Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng

Xin chào nhau giữa lúc nàyj

Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

Có trời mây xuống lân la

Bên bờ nước có bóng ta bên người

Xin chào nhau giữa bàn tay

Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con

Thưa rằng những ngón thon thon

Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

Xin chào nhau giữa làn môi

Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam

Thưa rằng bạc mệnh xin kham

Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

Xin chào nhau giữa bụi đầy

Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu

Hỏi rằng: người ở quê đâu

Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng: từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng: nói nữa là sai

Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng: đất trích chiêm bao

Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

Thưa rằng: ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

Nguồn: Bùi Giáng, Mưa nguồn, NXB Hội Nhà văn, 1993)

Có lẽ là như thế

Cao Văn Tam

Tranh Picasso Những cô nàng ở Avignon

CÓ LẼ LÀ NHƯ THẾ.

Em đã quên một điều có lẽ. Chưa hằn sâu trong tiềm thức hẹn hò. Những ký ức đã tưởng chừng không thể. Đã phai mờ trong đáy mắt  tròn xoe…

Cũng có thể tình này chưa đủ lớn, Dẫu rằng em : “yêu đến lúc lúc tàn hơi”.Lời nói thế, nhưng tình yêu nhợt nhạt. Điều tất nhiên em cần phải buông trôi.

Anh lẽ nào hờn giận trái tim côi. Chỉ tiếc nuối một thời ta hò hẹn. (những hẹn hò tình đã rất lên ngôi…

Và anh đã trao chân tình vô đối.)

Khung trời của em bây giờ đầy hoa nắng. Trời quê anh đang gieo lạnh sông dài. Anh nói thế không có nghĩa  là nài nỉ. (bỡi tình yêu không níu kéo bao giờ…)

.

KÝ  ỨC

Tuổi thơ tôi không xanh như màu mạ. Không có nến lung linh…và chưa bao giờ biết mừng sanh nhựt…

Chỉ có đôi chân trần bước quanh khu vườn hẹp. Mong nước lụt tràn về chảy ngập đồng sâu, Nhìn chú dế trôi đùa theo số phận. Rồi đắm hồn trong chìm nổi xa khơi…

Tuổi thơ tôi, 

có quá nhiều lát cắt. Chiến cuộc chuyển trường nên ít bạn tâm giao…

Kỷ niệm bây giờ là ánh trăng quê, có đêm tối trời đuổi theo đèn con đom đóm nhỏ. Và những ngày ngồi mơ màng bên bờ mương lúa trỗ. Nhìn cánh diều lững lờ trong gió cuốn chiều hôm…

Tôi chạy ngược gió nồm, cho chong chóng dứa quay quay…Đến bây giờ còn chóng mặt nối cơn quay…

Lý thuyết của nỗi buồn

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Tranh Van Gogh

Chỉ là mớ lý thuyết của nỗi buồn

mô phỏng
từng đợt sóng dài
kéo những chiếc diều từ đáy đại dương
trong veo. lềnh bềnh. dập dềnh.
thân sứa
những chùm chân của chữ
nghĩa dính nhau
trong tiếng lật nhào của gió

Những người đàn ông đang kéo
sự hỗn loạn dối trá
những người đàn bà đang đếm
những hạt mưa
của một thế giới buồn
thời gian không nằm trong máy tính
để lập trình những gương mặt
và bản năng đôi mắt

Những chiếc diều vẫn bay lên
từ đại dương
mớ lý thuyết của nỗi buồn
ngộp nước