Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Con chim tu hú đẻ nhờ

Quyên Di

Mồng bốn Tết…

Bầu trời trong xanh mà vẫn có những hạt mưa bụi lấm tấm. Mẹ tôi bảo đó là mưa xuân. Ông Hồng Châu, bố chị Bích Khuê khẽ đọc mấy câu thơ Nguyễn Bính:

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già.

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,

Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay. (1)

Người lớn ngồi nói chuyện với nhau và chơi tam cúc. Bà Hồng Châu khoe có đôi “tịnh vường.” (2) Ông Hồng Châu bảo vợ: “Mợ khéo là hay! Chơi tam cúc mà có gì lại bày ra cả! Thế là làm sao!” Hình như bà Hồng Châu hiểu theo nghĩa khác, hai má đỏ ửng, sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn, nghiêm chỉnh hơn. Bố tôi liếc nhìn mẹ tôi thật nhanh. Hai ông bà cười kín đáo.

Các anh chị em tôi mải mê với mấy xu và hào được mừng tuổi. Chị Bích Khuê xin phép bố mẹ chị và bố mẹ tôi đưa tôi ra cánh đồng xem hoa cỏ mùa xuân. Bố mẹ chị Bích Khuê bằng lòng. Mẹ tôi thì dặn với: “Đi chơi cho vui. Mà cô Bích Khuê nhớ đưa em nó về sơm sớm nhé, ngộ nhỡ mưa ướt đầu, cả hai chị em bị cảm.”

Cả gia đình ông bà Hồng Châu và gia đình bố mẹ tôi đều là người Hà Nội. Chiến tranh khiến hai nhà phải tản cư, trôi giạt nhiều nơi, cuối cùng đến làng Thượng Vĩ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Cha xứ và người dân xóm đạo ở đấy thương chúng tôi, cho vào ở chung một nếp nhà gỗ rộng rãi mà chủ nhà đã đi đâu xa mãi không thấy về. Ông bà Hồng Châu giữ đạo thờ Tổ Tiên. Gia đình tôi theo đạo Công giáo. Thế mà hai gia đình sống chung với nhau rất hoà hợp.

Năm ấy tôi mới lên sáu. Chị Bích Khuê hơn tôi chín, mười tuổi chi đó. Hai chị em hợp tính nhau, cùng thích thiên nhiên cây cỏ, không ưa nơi tụ họp đông đảo, ồn ào. Vì thế mà hai chị em gần gũi nhau. Chị Bích Khuê thương tôi như em ruột của chị. Chị là con một, không có em trai, em gái nào cả.

Bao giờ đi đâu với nhau tôi cũng đòi chị Bích Khuê cầm tay dắt đi. Bàn tay chị mềm, mát mà lại ấm. Tôi không biết diễn tả thế nào cho rõ. Thật thế, bàn tay chị mát và ấm.

Hôm nay chị Bích Khuê mặc áo cánh màu xanh nõn chuối, trông chị như một cây chuối non, tươi tắn và đầy sức sống. Thật ra chị có cái áo dài màu hồng đẹp tuyệt. Chị mặc cái áo ấy suốt trong ba ngày Tết. Nhưng hôm nay đã là mồng bốn, không còn phải chào khách đến nhà nữa, chị không phải diện áo dài mà mặc áo cánh. Với lại, đi ra cánh đồng, ai lại mặc áo dài tha thướt!

Tôi ngước mắt nhìn chị, hỏi: “Chị Bích Khuê này, lúc nãy chị có nghe bố chị đọc mấy câu thơ gì không?” Chị trả lời: “Có. Mà chị không nhớ hết.” Tôi cười: “Thế mà em nhớ hết đấy! Chị Bứt Huê phục em không?” Chị cũng cười: “Chị phục em chứ…” Rồi trêu tôi: “Phục nhất là cách Chúc gọi tên chị.” Tôi đỏ mặt, vùng vằng: “Chị lại trêu em! Em không chơi với chị nữa!”

Chả là tôi có tật nói ngọng. Mà tên chị, cả hai tiếng tôi đều nói ngọng. “Bích” thì tôi nói thành “Bứt,” vì không phát âm được những tiếng có vần “ich.” Còn “Khuê” thì tôi nói thành “Huê,” vì không phát được âm “khờ” mà chỉ phát được âm “hờ” thôi.

Chị Bích Khuê vẫn cười, còn doạ: “Nếu Chúc không chơi với chị thì chị bỏ tay Chúc ra, không dắt nữa nhé!” Rồi chị làm như muốn buông tay ra thật. Tôi cuống quýt: “Ấy, chị đừng buông tay em! Em chơi với chị… suốt đời…”

Chị Bích Khuê cười thật tươi. Tôi không biết ví nụ cười của chị tươi như gì, đành ví nụ cười ấy như hoa chuối nở đỏ, lấp ló sau tàu lá xanh mướt. Thấy chị cười, tôi yên tâm.

Một lát sau, tôi tiếp tục câu chuyện bỏ dở: “Em nhớ hết mấy câu thơ bố chị đọc đấy. Mà em còn biết đổi thành câu thơ khác nữa cơ!”

Đôi mắt chị Bích Khuê đen láy như hạt nhãn, đã tròn, bây giờ lại tròn hơn. Chị nói: “Chúc nói thật đấy à? Mà Chúc đổi thành câu thơ khác như thế nào?”

Tôi nhẩn nha đọc:

“Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”

Đây là câu thơ bố chị đọc. Bây giờ em đổi lại thành:

“Lòng chị còn như cây lụa trắng,

Mẹ hiền chưa gả chị làng xa.”

Cho đến bây giờ tôi vẫn lấy làm lạ lùng cho trí nhớ của đứa bé 6 tuổi là tôi thuở ấy. Chả biết sao, cái gì có tí thơ phú là tôi nhớ ngay, mà đã nhớ thì không quên nữa.

Chị Bích Khuê, hai má đỏ hây hây. Chị nắm tay tôi chặt hơn một tí, rồi hỏi, giọng không được tự nhiên: “Chúc còn bé! Biết gì là gả với cưới! Chỉ nói xằng thôi!” Tôi cãi ngay: “Em biết chứ! Gả là bố mẹ chị cho chị đi lấy chồng, đúng không?” Chị Bích Khuê bảo: “Thì đúng. Nhưng mà đến lúc ấy thì chị không dắt Chúc đi chơi nữa đâu.” Tôi trả lời ngay: “Em biết! Thế nên em mới nói ‘Mẹ hiền chưa gả chị làng xa’ đấy.” Rồi tôi xui chị: “Hay là chị đừng lấy chồng. Chị dắt tay em đi suốt đời nhé, nhé!” Chị Bích Khuê bảo: “Em tôi nói nhảm rồi. Thôi, không nói chuyện ấy nữa!”

Có tiếng con chim gì nó hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Sau đó là hàng loạt các tiếng chim khác hót loạn cả lên. Tôi hỏi chị Bích Khuê: “Chị có nghe cái con chim gì nó hót buồn cười quá đấy không? Nó hót cái gì mà tu hú, tu hú… À, mà chị này, anh Tuấn nhà em muốn đi tu đấy!”

Chị Bích Khuê bật cười: “Anh Tuấn nhà em định đi tu à? Anh ấy tu… hú đấy!” Tôi hỏi: “Thế là làm sao hở chị?” Chị trả lời: “Nghĩa là anh ấy không tu được đâu. Anh ấy đẹp giai quá mà cũng nghịch quá, hay nói bông lơn… trêu chị!”

Anh Tuấn và chị Bích Khuê sàn sàn tuổi nhau. Anh Tuấn đẹp giai, vui tính. Chị Bích Khuê không khó chịu anh Tuấn khi anh ấy trêu chị, nhưng hai người hình như chẳng có tình ý gì với nhau. Chị xem anh Tuấn như ông anh… đồng tuổi.

Con chim lúc nãy lại hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Cả một đám chim khác lại tranh nhau hót lên loạn xạ. Tôi giật giật tay chị Bích Khuê, hỏi: “Đâu? Đâu? Con chim ấy đâu, em không thấy! Chị chỉ cho em thấy đi!” Chị Bích Khuê trả lời: “Nó đậu trên tận ngọn cây cao, chị cũng không thấy. Nhưng mà chị biết nó.” “Biết là biết thế nào hở chị?” “Biết là biết nó bạc lắm!” Tôi nói: “Nó bạc lắm à? Thế ra lông nó trắng như bạc à? Vậy chắc nó đẹp lắm, phải không chị?” Chị Bích Khuê đáp: “Không, lông nó đen đủi. Nó xấu lắm. Xấu cả hình dạng lẫn tính nết.”

Con chim xấu xí ấy lại hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Sau đó bầy chim đủ loại lại hót loạn xạ. Chị Bích Khuê bảo: “Đấy! Chim tu hú xấu lắm, ác lắm nên những con chim khác cùng nhau hót to đuổi nó đi đấy!”

Thế rồi chị cắt nghĩa cho tôi hiểu. Chị bảo người ta dựa vào tiếng nó hót mà đặt tên cho nó là chim tu hú. Mỗi khi một con tu hú kêu là nó thông báo cho các con chim khác biết nó đã chiếm cái lãnh thổ này rồi, những con tu hú khác lo mà tránh xa. Mà ngay cả các loài chim khác cũng liệu thần hồn. Tiếng chim tu hú kêu cũng là tín hiệu của con chim trống rủ rê con chim mái đến gặp nó. Chúng ở với nhau rồi con chim mái đẻ trứng. Tu hú mái không chịu làm tổ để đẻ mà nó đẻ nhờ vào tổ một loài chim khác. Thường thì nó chọn tổ chim chích hay cà cưỡng vì trứng những loại chim này với trứng của nó có độ to giống nhau. Nó đánh lừa cho chim chích mẹ hay cà cưỡng mẹ tưởng trứng của nó cũng là trứng của con chim ấy. Mà nó ác lắm! Khi đẻ một quả trứng vào tổ con chim kia rồi, nó lấy chân, lấy mỏ hất một quả trứng của con chim kia cho rơi xuống đất. Chim chích mẹ hay cà cưỡng mẹ ngây thơ lắm, “đếm” thấy số trứng vẫn nguyên như thế thì cho đó đều là trứng của mình nên ấp tất cả. Trứng tu hú nở ra con sớm nhất. Còn bé mà đã gian ngoan, nó hất tất cả những quả trứng trong tổ xuống đất, để một mình nó hưởng thức ăn của chim mẹ đem về và vì thế nó lớn như thổi. Đến khi nó đủ lông đủ cánh thì vụt bay đi không hề lưu luyến.

Cắt nghĩa xong chị bảo: “Đấy chị bảo nó bạc là vì nó vừa độc ác vừa vô ơn, chứ không phải là lông nó trắng như bạc đâu. Phải nói là nó bạc ác mới đúng. Vì thế mà khi nó cất tiếng hót thì tất cả các loài chim khác đều cất lớn tiếng mà xua đuổi nó. Kẻ bạc ác thì chẳng được ai thích cả.”

Tôi nghe chị nói xong thì lòng buồn rười rượi. Lần đầu tiên thằng bé 6 tuổi biết được trên đời có những kẻ bạc ác. Hoá ra không phải tất cả mọi sinh vật đều tốt. Nó chợt hiểu người ta cũng vậy, không phải ai cũng tốt.

Ra đến cánh đồng, hai chị em hầu như quên con chim tu hú bạc ác để say sưa với cảnh đẹp thiên nhiên. Cỏ non xanh mát trên cánh đồng mênh mông. Mưa xuân trang điểm những ngọn cỏ bằng những viên ngọc bé tí sáng long lanh. Có những cây mơ mọc dại nở hoa trắng toát, nhẹ lay động trong gió xuân. Chị Bích Khuê nắm tay tôi mà chạy chân trần trên cánh đồng. Khuôn mặt chị ngước lên. Đôi chân chị như bay bổng lên khỏi mặt đất. Chị đẹp và thanh thoát như một cô tiên.

Sau này lớn lên, tôi mê thơ cổ, đọc những câu thơ của Thôi Hiệu

Xuân du phương thảo địa,

Hạ thưởng lục hà trì,

Thu ẩm hoàng hoa tửu,

Đông ngâm bạch tuyết thi (3)

tôi lại nhớ đến buổi đi chơi xuân hôm ấy. “Phương thảo địa” của người xưa chắc cũng chỉ đẹp như cánh đồng làng Thượng Vĩ ngày đầu xuân là cùng.

Thế rồi tôi lại đọc bài thơ “Xuân Tứ” của Lý Bạch:

Yên thảo như bích ty,

Tần tang đê lục chi.

Đương quân hoài quy nhật,

Thị thiếp đoạn trường thì.

Xuân phong bất tương thức,

Hà sự nhập la vi? (4)

tôi cũng lại nhớ đến cánh đồng làng Thượng Vĩ. Cỏ nước Yên có biếc như tơ thì cũng chỉ biếc như cỏ cánh đồng Thượng Vĩ là cùng.

Rồi tôi đọc lục bát trong truyện Kiều:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (5)

thì thấy chẳng khác gì cảnh cánh đồng Thượng Vĩ, cũng “cỏ non xanh tận chân trời.” Còn hoa lê trong truyện Kiều biến thành hoa mơ trong cánh đồng Thượng Vĩ.

Nhớ lời mẹ tôi dặn, chị Bích Khuê đưa tôi về. Hai chị em hầu như quên mất con tu hú bạc ác, nếu trên đường về không gặp nó nữa. Ngờ đâu lúc đi ngang qua chỗ cũ, hai chị em lại nghe tiếng tu hú kêu. Chị Bích Khuê khe chau mày, nói nho nhỏ: “Ơ hay cái con tu hú này, sao mày về đây sớm thế? Người lớn bảo đến tháng Ba tu hú mới về đẻ trứng cơ mà!” Lần đầu tiên tôi thấy miệng chị Bích Khuê thốt ra tiếng “mày.” Chắc là chị giận con tu hú lắm!

Nhưng rồi chị lấy lại bình tĩnh, ân cần dạy tôi: “Mình đã nương nhờ đâu thì phải biết ơn những người ở đấy. Như nhà hai chị em mình đang nương nhờ người xóm đạo làng Thượng Vĩ thì phải biết ơn cha xứ và giáo dân ở đây. Được nương nhờ mà về sau không biết ơn thì không sống phải đạo làm người.”

Chị nói năng, dạy bảo tôi như một người lớn.

Những ngày mùa xuân qua đi và rồi những ngày tản cư của chúng tôi cũng qua đi. Khi thấy có những dấu hiệu bất an, ông bà Hồng Châu và bố mẹ tôi bàn bạc với nhau rồi cuối cùng cả hai gia đình đều hồi cư Hà Nội. Ông bà Hồng Châu và bố mẹ tôi khôn ngoan hơn chim chích hay cà cưỡng mẹ nhiều. Khi thấy không an toàn, bố mẹ chị Bích Khuê và bố mẹ tôi đều “dọn tổ” mà đi để cả gia đình, nhất là con cái không lâm vào tình trạng bất an, nguy hiểm.

Một ngày nọ có người từ Thượng Vĩ trốn được về Hà Nội, đến nhà tìm bố mẹ tôi. Người này kể rằng cha già Nến, cha xứ xóm đạo, bị người ta xông vào nhà xứ bắt đi. Họ trói hai tay cha lại, buộc vào đuôi một con trâu. Con trâu kéo cha chạy rong khắp làng với đôi chân khẳng khiu không giày dép. Theo sau là những kẻ cầm roi dâu đánh đập cha túi bụi. Họ kết tội cha là quân gian ác, bóc lột dân nghèo! Trong số những người đánh đập cha có cả những người tản cư, được cha và giáo dân ở đây giúp đỡ nơi ăn chốn ở. Khốn thương! Cả đời cha chỉ biết cưu mang người cùng khổ mà bây giờ bị kết tội là quân gian ác bóc lột dân nghèo. Chắc những người này có họ hàng ruột thịt với chim tu hú!

*

Gia đình chúng tôi di cư vào Nam, được chính phủ cho tạm cư ở bệnh viện Bình Dân đôi ba tháng. Sau đó bố mẹ tôi gom góp, vay mượn, mua được một căn nhà gỗ ở cuối chợ Vườn Chuối. Hàng xóm của chúng tôi toàn là bà con miền Nam hiền lành, bộc trực và chất phác. Họ giúp đỡ chúng tôi, những người chân ướt chân ráo đến cư ngụ trong khu xóm này, một cách thật thà, không chút tư lợi. Tôi lớn lên ở đó cho đến ngày vượt biên tìm đất sống khác. Tôi nương nhờ xã hội Mỹ mà xây dựng cuộc sống mới, mang ơn đất nước, xứ sở này.

Rất nhiều lần, gã đàn ông không còn tuổi trẻ là tôi nhớ về xóm đạo làng Thượng Vĩ, nhớ cha già Nến. Nhớ xóm chợ Vườn Chuối. Nhớ những ngày đầu trên đất Mỹ. Tôi nhớ và nhớ ơn. Tôi không muốn làm con chim tu hú.

Và tôi nhớ chị Bích Khuê. Nhớ bàn tay mềm mại, mát mà ấm của chị. Nhớ hôm mồng bốn tết chị mặc áo cánh màu xanh nõn chuối. Nhớ chị tươi mát như một thân chuối non. Nhớ nụ cười thắm của chị như hoa chuối đỏ tươi lấp ló sau tàu lá chuối xanh.

Chị Bích Khuê ơi, suốt đời em nhớ chị mặc dù em không được “chơi với chị suốt đời,” cũng không được chị nắm tay dẫn đi suốt đoạn đường trần. Em nhớ lời chị dặn: nương nhờ ai thì phải biết ơn, đừng bạc ác như con chim tu hú.

Em không muốn làm chim tu hú. Em nhất định không làm chim tu hú. Suốt đời!

______________________________

(1) Mưa Xuân, Nguyễn Bính

(2) “Tịnh vường”: tượng vàng. Thật ra là đôi “tượng đỏ” (tịnh hồng) trong bộ bài tam cúc

(3) Mùa xuân dạo chơi trên miền đất có cỏ thơm. Mùa hạ thưởng ngoan ao sen xanh. Mùa thu uống rượu hoa cúc. Mùa đông ngâm bài thơ tuyết trắng.

(4) Cỏ nước Yên xanh biếc như tơ. Cây dâu nước Tần lả cành xanh xuống. Đang lúc chàng nhớ đến ngày trở về; thì cũng chính là thiếp đau lòng đứt ruột. Gió xuân và thiếp không hề biết nhau. Hà cớ gì mà lọt vào màn của thiếp?

(5) Đoạn Trường Tân Thanh (câu 41, 42,) Nguyễn Du

Read Full Post »

Nhạt Phai

Hoàng Thanh Hương

.

Nhạt phai

                                                          Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

1. Góc phố ẩm thấp, tăm tối như một nghĩa địa, cô ngồi dưới gốc cây to, ngước lên đám lá đang lắc lư ngỡ có cả ngàn hương linh đậu trên từng ấy lá thô lố mắt  nhìn xuống, lép bép miệng bình luận kẻ phờ phạc dưới đất. Cô gai gai toàn thân, chân nhừ nhức vì đôi dép dây bó thít, cái khăn quàng cổ như xiết ngược khiến cổ họng ngộp ngộp. Cô tưởng mình sắp chết ở nơi đây, chết đường chết chợ nơi góc phố ẩm thấp, tăm tối như nghĩa địa này. Cuối con phố là nhà anh. Khi người dân trong xóm phát hiện ra xác cô, họ sẽ hốt hoảng tri hô, sẽ dạt chạy tán loạn. Người sống luôn sợ hãi người chết, họ sợ các linh hồn và lý giải sự tồn tại của chúng một cách huyền bí, bất an. Kẻ ác thường không muốn tới những nơi linh thiêng. Họ sợ. Có những điều người sống giấu che được người sống nhưng người chết có thể biết rõ. Anh thể nào cũng đến, thể nào cũng nhận ra cô, xám ngắt, nhàu nhĩ dưới gốc cây quen thuộc đầu phố này. Cô chịu không thể đoán tiếp anh sẽ cư xử ra sao trước tình huống này, nhiều khả năng anh sẽ bỏ chạy về nhà, thất thần, ôm ngực sợ hãi, cô vợ anh sẽ chẳng hiểu gì cả, sẽ cũng thất thần sợ hãi. Kẻ sống thường sợ hãi những xác chết dù chúng vô hại ngay thời điểm ấy. Linh hồn cô sẽ bay đuổi theo bám riết lấy anh, đậu trên vai anh, chui tọt vào ngực anh tạo thành một quầng u ám giá lạnh, ngăn cản anh và cô vợ trên chiếc giường tân hôn mỗi ngày mỗi đêm. Nghĩ thế cô mỉm cười hả hê. Nghĩ thế cô chiu mày xấu hổ. Cô đấy ư. Người đàn bà thất tình thường đầu óc quay cuồng ám muội đen tối với trăm ngàn ý nghĩ trả thù kẻ bội bạc. Cô là đàn bà. Cô đang thất tình. Cô đang muốn chôn sống anh cùng cô ả đang bên anh hân hoan hạnh phúc tân hôn. Chiều sẩm sẩm, gió lạnh. Chiều tháng 10, trời tối nhanh hơn, cô ngồi đây đủ lâu. Người ta nói con phố này trước kia là nghĩa địa, nhà nào làm trên đất này cũng mời đủ thầy cúng, thầy phong thủy về van vái xin cầu, sắp đặt cổng cửa, bếp giường, tủ kệ để yên an cư trú. Cô nghe nhiều chuyện ma, xem nhiều phim ma, lúc sợ lúc không nhưng tạm hiểu ma cũng như người, có thứ ma lành hiền dễ thương, có thứ ma độc ác, quỷ quyệt chuyên hãm hại người sống. Ma cũng giống người, chiến đấu với nhau để giành những thứ chúng muốn. Nếu cô chết, cô sẽ là ma quỷ quyệt, cô sẽ khuấy đảo cuộc sống hiện tại của anh, bắt anh phải trả giá cho những gì anh và gia đình anh gây ra cho cô và đứa con đã chết. Cô ngước nhìn đám lá lắc lư trên cao, chiu mày tìm kiếm, hoài nghi trong đám lá kia có một chiếc là nơi linh hồn đứa con tội nghiệp của cô trú ngụ. Nó đang nhìn cô oán thán, nó đang trừng mắt giận dữ và nguyền rủa người mẹ độc ác nỡ dứt nó khỏi vòm bụng ấm áp, cắt đứt mạng sống của nó trong tích tắc bốc đồng ngu xuẩn. Cô rùng mình ngồi cô nép vào gốc cây, rên rỉ sợ hãi. Những xe máy rồ qua. Những ô tô vù qua. Chẳng ai để ý một ả đàn bà nhàu nhĩ đang ngồi đợi chết.

2. Căn nhà cuối phố, phòng bếp chộn rộn bước chân lui tới của người phụ nữ trẻ, cô nàng vừa rửa rau vừa hát, anh chồng đang băm thịt bò bầm bập để làm bò viên lá lốt. Chút nữa họ sẽ đón bố mẹ cô nàng sang ăn tối cùng. Họ sẽ tặng vợ chồng trẻ một chiếc xe hơi. Họ là một gia đình giàu có chuyên buôn bán hàng nội thất. Họ hào phóng và háo danh. Ông bố thích làm thơ, ông ta viết mỗi ngày một bài, nắn nót và nâng niu trong một cuốn sổ dày bìa đỏ chói, ông ta luôn tự hào khoe với mọi người rằng thơ cứu rỗi cuộc đời ông, thơ làm tâm hồn ông trong sáng tựa pha lê, thơ ca làm nên tên tuổi ông sau khi ông qua đời. Ông bỏ tiền thuê người biên tập, mua giấy phép xuất bản và in thùng thùng, đi đâu ông cũng mang theo một thùng kí tặng mọi người với dòng chữ nhà thơ, doanh nhân Trần Tí thân thương tặng… và một chữ kí bay bổng với gạch đuôi vuốt cong như mũi hài của các công nương Trung Hoa. Ông chỉ viết thơ tình. Tình yêu trong thơ ông xanh đỏ tím vàng và cả đen như đất nghĩa địa, cô từng đọc vài bài đăng trên vài trang báo tỉnh, bản tin ngành, đoàn thể nịnh nọt để xin tài trợ, hỗ trợ mỗi dịp 21/6, tết, lễ. Ông bao trọn gói mấy gã chủ bút trong tỉnh và mấy tỉnh lân cận, cứ thơ lão gửi là phải đăng, thơ anh Hai Tí lan tràn mặt báo, tạp chí tỉnh, doanh nhân Tí khoái ngây ngất khi trong những cuộc nhậu nhẹt họ tâng bốc một hai thưa dạ anh hai Tí nhà thơ của tỉnh, của khu vực, của quốc gia. Cô cười khằng khặc. Thơ gì mà như vè: Hôm nay em mặc áo xanh/ làm anh ngơ ngẩn tan tành tim non. Em ơi em nhớ anh không/ Em đi sao lại lặng không một nhời… Thế mà thiên hạ bâu quanh tung hô hay, hay, hay… rượu vang khui bụp bụp, dốc ừng ực xuống những cổ họng thắt nút cà vạt sang trọng, lóng lánh những vòng chuỗi vàng, đá, sa phia, lời tán tụng không ngớt trên những môi dày môi mỏng trong những tiệc tùng hội ngộ văn chương thơ nhạc do ông chủ trì tổ chức tại gia hay tại các nhà hàng VIP. Ông tuyển mộ một loạt các em giáo viên có chút năng khiếu văn chương, họ viết làng nhàng, phấn son đậm hơn câu chữ, ăn nhậu lúng liếng hơn cô đơn sáng tạo, một hội một thuyền đi đâu cũng ồn ào phe phẩy. Lão có 7 trai 1 gái, cô nàng là con gái út của ông. Cô nàng vừa xinh đẹp vừa hiền lành, cô nàng ít nói đến độ nhiều người trong khu phố tưởng nàng bị câm. Ông thương nàng nhất, học hết 12, nàng chẳng đậu nổi trường cao đẳng, đại học nào suốt 3 năm quăng quật ôn với gần hết thầy cô giỏi của thành phố, ông cho nàng học nghề làm bánh kem, nàng thích nấu nướng và làm các loại bánh. Ông mở cho nàng tiệm bánh sát công ty để tiện coi ngó nàng – đứa con gái bé bỏng yếu đuối, vừa để người công ty ra vô ủng hộ nàng bán buôn. Dưới nách cha, nàng thong thả, yên ổn với công việc thuận lợi, thu nhập ổn định. Nàng xinh đẹp, hiền lành, kiệm lời. Cha con nàng ngồi với nhau cả buổi tối nàng cũng chỉ gật, lắc, chớp mắt, cười, cau mày. Lâu lâu nàng nói dạ, không, kệ con. Ông gọi gần hết bác sĩ giỏi thành phố, gần hết bác sĩ tâm lý tốt của thành phố, ai cũng bảo nàng bình thường, họ đoán nàng không thích nói, vậy thôi. Anh làm nhân viên phòng kinh doanh công ty, khi mới yêu nhau anh vừa được nhận vào. Chỗ làm khang trang, môi trường làm việc chuyên nghiệp, lương cao. Anh hào hứng, nàng đầy hy vọng về một mái ấm hạnh phúc no đủ không phải tất tả ngược xuôi như mẹ cha anh và cha mẹ nàng ở quê. Năm thứ hai yêu nhau, anh lên chức phó phòng, anh hay cắp cặp cho ông chủ đi gặp đối tác, anh hay ôm thùng thơ của ông chủ đi các cuộc giao lưu thơ nhạc, anh lính cưng tận tụy, trung thành, biết khi nào im khi nào nói, ông chủ hay bảo anh xuống quán bánh con gái út ăn nhẹ uống cà phê cùng ông khi rảnh rỗi, ông hay gọi con gái đến ngồi cùng. Cả buổi ông nhìn qua nhìn lại họ và nói bâng quơ. Anh lúc đầu không để ý, sau hiểu ngầm ý ông chủ. Nhiều đêm nằm trong vòng tay anh, nghe anh kể chuyện cô hàng bánh – con gái ông chủ, cô chỉ cười không để tâm, vì giọng anh lúc ấy đầy chế giễu ông chủ háo danh và cô nàng câm lù khù. Những môi hôn của anh vẫn cuồng nhiệt và cô đắm chìm trong tình yêu anh mà chẳng mảy may nghi ngờ, buông lỏng cảm xúc, thể xác để làm hài lòng anh tận cùng.

3. Chiếc xe đỗ xịch, bố mẹ vợ anh dắt tay nhau, tài xế bê xách lỉnh kỉnh, mặt họ hân hoan, đèn điện sáng rực, mùi đồ ăn thơm lừng. Anh xăng xái chạy ra, cô nàng xăng xái chạy ra. Họ ào vào bàn ăn. Căn nhà tưng bừng vui vẻ. Anh cười to. Cô nghe rõ tiếng cười anh, tiếng cụng ly, tiếng ti vi phát chương trình bóng đá quốc tế, giọng bình luận viên nhanh nhảu hò hét. Bụng cô cồn cào như có gai. Cô cố lắng nghe tiếng vợ anh nhưng chẳng thể nghe. Thiên hạ bảo nàng đó không bị câm, nàng đó chỉ là không muốn nói. Đôi mắt nàng đó là một mặt hồ phẳng lặng, ai nhìn vào cũng thấy bình an. Cô muốn nhìn vào đôi mắt ấy một lần. Biết đâu cô sẽ thôi oán hận anh và nàng. Trong cuộc bỏ rơi cô chỉ anh mới là người tội lỗi. Anh tham lam, anh vụ lợi, anh thực dụng, anh đểu cáng tính toan mưu mô… Ông chủ cho anh vật chất, vị trí quyền lực để anh là chỗ dựa vững chãi cho đứa con gái bé bỏng yếu đuối. Ông chủ tinh khôn. Anh khôn ranh. Anh tàn nhẫn bỏ rơi nàng và bào thai 3 tháng để dìu cô nàng xinh đẹp kiệm lời, con gái út chủ tịch tập đoàn bất động sản Trần Tí vào hôn trường ngàn khách, quên cô vật vã trong uất hận. Tiếng anh cười to, theo gió tạt vào tai cô buốt nhức, máu cô sôi sục. Bước chân cô nhanh gấp tiến về chiếc cổng đen. Ngón tay cô trút lên nút chuông sự tức tối. Mắt cô đầy bóng tối. Tiếng chân dép anh. Cô biết chắc thế. Giọng anh ấm áp: Ai đấy ạ?. Mắt cô đầy bóng tối. Anh đứng trân trối, lắp bắp: Em đến đây làm gì? Để giết anh. Em… Anh mở cửa ra đây nói chuyện nếu không anh chẳng còn gì đâu khi tôi hét lên. Đừng em, anh ra đây. Tay anh run lập cập vặn chốt cổng. Anh nắm tay cô lôi bước sải cách xa chiếc cổng đen. Khu phố ắng lặng như bãi tha ma, gió hút hút trên các mái nhà nhấp nhô và tán cây um tùm. Mắt cô đầy bóng tối. Anh quỳ xuống năn nỉ xin cô về đi, mai anh sẽ đến phòng cô nói chuyện. Cô dứt khỏi hai tay anh đang nắm cổ tay cô trì níu, chiếc quần đùi trắng ánh lên trong đêm tối như màu khăn tang. Cô dứt tay anh lùi lại. Cô nghe anh hự hự, cô thấy rõ anh bật ngửa về phía sau ngay khi cô lao lên và lùi lại. Cô đứng nhìn anh quằn quại. Cô nhặt chiếc dép của anh đi ngang cổng, ném vào cửa. Tiếng động đủ lớn làm mọi người ngừng ăn chạy xồ ra. Bóng cô khuất dạng.

.

4. Bệnh viện đêm mùa thu, lạnh se se, lá vàng rơi ngoài cửa sổ, bụng cô trống rỗng, 30 cuộc gọi của cô, anh không nhận máy, không gọi lại. Cô chỉ muốn thông báo con anh đã chết. Mẹ anh đã nhận cuộc gọi của cô, bà gào lên: Mày là đồ sát nhân!. Mẹ cô nhận cuộc gọi của cô, bà kêu lên: Con ơi là con ơi! Cô nằm 3 ngày, một mình, mỗi bữa ăn một nửa cốc cháo từ thiện được mẹ chồng của cô gái trẻ nằm bên cạnh lấy hộ. Cô ta sinh con đầu lòng, chồng, và cả gia đình chồng chăm chút cưng nựng như vàng ngọc. Cô ứa nước mắt, úp mắt vào khăn quàng len. Cô ra viện, xám như xác chết. Cô đến công ty, anh đi công tác nước ngoài. Cô xuống quán bánh ngồi chờ. Hôm ấy cô chủ quán bánh đi nước ngoài. Cô bỏ vào Sài Gòn 3 tháng, vật vã quên anh, vật vã nhớ anh. Anh thay số. Văn phòng anh làm việc cô gọi đến ai cũng trả lời anh đi nước ngoài. Phòng anh trọ đã trả ngay sau hôm anh nói chia tay cô. Anh như biến mất khỏi thành phố, cô điên cuồng lồng lộn tìm anh. Facebook, zalo, line của anh ngắt chặn cô, cô đứng cả ngày nơi công ty anh theo dõi cũng không thấy bóng dáng. Sau này cô mới biết, ông chủ đã cho anh sang Thái học 6 tháng theo nguyện vọng của anh. Cái cách anh cắt đứt với cô thật độc ác. Chỉ đến tận ngày anh cưới cô mới biết bố cô dâu đã giành anh khỏi cô cho con gái ông ta. Ông ta đã lên kế hoạch để anh cắt đứt với cô, chạy trốn khỏi cô và trở về lặng lẽ tổ chức đám cưới với con gái ông ta. Họ nghĩ cô không hay biết, họ nghĩ đàn bà là giống hời hợt. Ngày cô tìm ra căn nhà của anh, cô đã khóc ngất. Bạn thân khuyên cô quên hết đi, anh không đáng hao tổn tâm sức như vậy, đàn ông thế gian thiếu chi. Nhưng cô không quên được. Nhắm mắt mở mắt cô đều thấy anh. Nhắm mắt mở mắt cô đều thấy giọt máu đỏ hỏn chao liệng như muốn lao bổ vào mặt cô.

.

5. Cô run rẩy quỵ xuống bậc thềm, nằm vật ra thở, nước mắt tự chảy, ngực như có đá tảng đè. Nhát dao này trả hết anh những đớn đau anh gây ra cho cô, lẽ ra phải là vài nhát để anh không bao giờ tỉnh lại để hưởng hạnh phúc có được từ những gạt lừa toan tính dựa vào đàn bà nhưng cô muốn anh sống, nhát dao này sẽ để lại sẹo mãi mãi để mỗi lần anh nhìn thấy, đụng vào sẽ phải rùng mình. Mai cô sẽ tới phường tự thú, tội danh cố ý gây thương tích sẽ phải bồi thường và đi tù. Mai, cô sẽ đi tự thú, lòng cô như một chiếc rổ rỗng. Chẳng nỗi sợ hãi, chẳng âu lo nay, mai hay mai nữa. Nhát dao của côgăm vào da thịt anh đêm nay, cô đã trả xong nợ ái tình với anh. Cô nằm im trên bậc thềm lạnh, lòng như chiếc rổ rỗng, cô ước được mẹ ôm vào lòng như khi còn bé, lúc bị sốt, lúc bị bọn trẻ con trong xóm bắt nạt khóc nhè chạy về nức nở mách mẹ, cô thèm một đứa bạn thân ngồi bên, uống rượu cùng, ngồi làm thùng rác để cô trút hết ấm ức, u uẩn trong dạ. Cô bấm máy, chuông kêu dài, cô kiên nhẫn đợi, bây giờ đã gần khuya, tiếng bạn khàn khàn: Chưa ngủ mày? Chưa! Đến nhà tao nghen, gấp! Ừa! Cô thở sượt, nhổm dậy, cô bật tất cả những bóng đèn. Căn phòng sáng hết những bóng đèn, ánh sáng xua đi những hơi hám lạnh lẽo trong các ngóc ngách của ngôi nhà lâu rồi cô chẳng vun vén trang hoàng. Tối nay, cô thấy nó thật cảm tình, ấm áp. Tột cùng nỗi căm ghét anh, giờ đây anh như số 0 trong cô. Cô móc 4 con dao Thái giơ lên ngắm nghía, cười ha hả. Mắt cô đầy ánh điện. Ánh dao lóa nhóa dưới ánh điện. Cô vứt chúng vào hộc bàn, sập mạnh. Điện thoại reng, số lạ, cô lưỡng lự, hoài nghi, cô nhìn đồng hồ, gần 0 giờ rồi. Cô bấm nút nghe. Anh đáng bị như vậy. Xin lỗi em. Xin lỗi em. Em đang ở đâu? Tiếng anh nức nở. Cô buông rơi máy. Chuông cổng reng reng. Bạn thân bước vào kín mít như ninja, nó ngó cô và thở sượt. Cô bảo: Tao đâm hắn 1 nhát. Mai xin đi tù. Bạn thân thản nhiên: Nó không dám kiện mày đâu, nó sợ mất đủ thứ, ở đó chống mắt lên coi. Nó sẽ ém re vụ này. Và kiểu đâm của mày thì nó chết sao được. Tao lại chả đi dép trong bụng mày. Dạy nó bài học vậy là xong, rũ hết, buông bỏ hết đi. Đàn ông thiên hạ thiếu gì. Có lấy lại được gì sau bao mất mát đâu chứ. Nó ngồi dựa ghế, nhìn cô đăm đăm. Nó là đứa con gái kì cục, ăn trường trường, không tình yêu, tình dục, suốt ngày công tác xã hội, suốt đêm đọc sách, học anh văn. Nó bảo: Phụ nữ có thể không có chồng nhưng phải có việc làm và bạn thân. Nó như cái cột chắc cô dựa vào những khi sắp ngã gục. Có bạn bè thân bíu vào khi chới với thì ngày mai hay ngày mai nữa có bất trắc gì lòng cũng thấy yên an. Đôi lúc bạn thân còn hơn cả chị em ruột. Cuộc sống, lòng người có nhiều đổi thay không lý giả nổi. Nhưng rồi ai cũng vẫn phải chấp nhận, cân bằng và sống tiếp. Chắc gì mình tàn tạ, đổ gục, thậm chí chết đi sẽ làm kẻ làm ta đau áy náy. Thời gian có thể làm nhạt đi mọi thứ. Tình yêu càng là thứ nhanh nhạt phai. Nếu anh làm côgục ngã thì nó lại cân bằng cô bằng những chia sẻ, nâng đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần, cô tin nó hơn tin Chúa trời, dù cô vẫn cầu nguyện chúa hàng đêm, vẫn kính chúa. Nếu không có nó, có thể cô đã hóa ma rồi. Cái tát của nó hôm nào khiến cô tỉnh ra, chẳng việc gì phải chết vì một kẻ cạn nghĩa bạc tình.

.

6. Cô chạy xe bon bon trên những con phố chang chang nắng trưa, nhiệt độ mặt đường lúc này là 36 độ C, sau ba lần vải bịt bọc vhe chắn da thịt vẫn cảm giác nóng ran ran. Khí hậu biến đổi. Con người phải gánh chịu tất cả những hậu quả tồi tệ về môi trường do sự tàn phá vô trách nhiệm của mình với thiên nhiên. Cô nhớ bờ đê đầy gió, hai bãi bờ xanh thăm thẳm hoa màu, cô nhớ cây gạo già đứng chơ trọi giữa cánh đồng, cây gạo đầy ma theo đồn thổi bao đời của già trẻ lớn lên chết đi nơi cái làng quê nghèo bình yên ven sông Hồng, cô nhớ những vườn chuối phất phơ lá, mát rượi mùa hè, hương chuối chín thơm phưng phức len lỏi vào khứu giác, len cả vào những giấc mơ khát khao thoát ly đổi đời của bao đứa con gái xinh đẹp quê cô, bằng đủ mọi cách. Học giỏi cũng không giàu nhanh được, ra trường xin việc làm lụi cụi cũng chỉ đủ ăn thôi. Lấy chồng giàu. Thiên hạ có bao người tranh giành để kiếm chồng giàu. Cô nhớ Kiên. Anh nói đợi anh về. Nước Mỹ xa xôi, tình yêu thời internet, nụ hôn thời zalo, facebook. Cô quay cuồng với những chuyến công tác xã hội cùng bạn thân, những dự án thiết kế trang phục cho Tony shop. Ông chủ của cô muốn vắt kiệt sức cô với những đơn đặt hàng. Chiều nay, cô xin nghỉ làm. Tony bảo: Anh đưa em đi ngắm sông? Cô lắc đầu. Tony bảo: Hãy dựa vào vai anh! Cô cười lắc đầu. Cô chất một bao bánh kẹo sữa, dép mới về chùa Bửu Châu. Cô hứa với lũ trẻ hôm nay về với chúng. Trong túi đựng tiền lì xì cho lũ trẻ năm nay có thêm của Tony và Kiên. Lũ trẻ ào ra như bày ong, cô choàng ôm ôn, xoa đầu, bồng những đứa bé xíu lên ấp iu hôn nưng. Mắt sư cô rưng rưng. Mấy đứa lớn chia bánh cho bầy em. Chúng  đứng nép vào nhau đợi thử dép mới, chúng đứng quanh cô, sờ vào tóc cô, sờ vào áo cô, sờ vào da cô, áp người vào lưng, tay, đùi, lườn, ngực cô. Chúng gọi tíu tít mẹ Châu ơi. Tim cô tan chảy. Mắt cô đầy nước. Mắt sư cô rưng rưng. Cô ngồi giữa bầy trẻ, ôm đứa bé nhất vỗ nựng. Cô lặng lẽ ngước nhìn  cây vú sữa già trước sân chùa. Ánh nắng cuối ngày rơi xuống những cành lá xum xuê. Cô linh cảm trên những tán lá kia những hương linh đang nhìn cô, cười rúc rích, có thể con cô đang trên một chiếc lá, nó nhìn cô không còn oán hận, nó cũng cười rúc rích. Có thể nó đã thứ tha cho người mẹ đã bao tháng ngày qua sám hối niệm cầu. Đã bao mùa Tết, đã bao mùa xuân, hạ, thu, đông, dưới mái chùa, dưới cây vú sữa già, giữa những đứa trẻ thèm hơi ấm mẹ, cô thấy mình thanh thản, cô thấy mình không vô nghĩa. Bạn thân lúc nào cũng nói một câu: “Hãy cho đi để nhận lại”. Thời gian có thể làm nhạt đi mọi thứ. Tình yêu càng là thứ nhanh nhạt phai. Cô lại ngước nhìn những tán lá vú sữa xum xuê gió thổi xạc xào trong nắng quái. Chiều trôi êm êm./.

             .                                           

                                                                             H.T.H

Read Full Post »

Cây mai quý

Sơn Trần

.

CÂY MAI QUÝ

1.Tết này, lão Ân sẽ “xuống núi”!

Cái tin ấy được cô Ba xóm Bàu truyền đi. Ai hỏi, cô bảo sư trụ trì chùa Quang Minh trên núi Tranh nói vậy khi cô lên chùa lễ Phật hôm rằm.

Lão Ân lên núi cũng gần năm năm rồi. Chuyện lão bỏ nhà đi, cả làng đều biết. Thương lão một ,trách thằng con lão mười. Cứ mỗi khiTết đến là có người nhắc lại. Cũng may vài năm trở lại đây thằng Thuần,con lão Ân tu chí làm ăn. Vườn mai trước nhà phát triển tốt, khách chơi mai đánh tiếng đã tìm đến coi rồi.

Lão Ân là người đam mê mai cảnh. Lão thường vào núi hay đi khắp nơi sưu tầm mai về uốn, chăm bón và bán vào dịp Tết. Nghe kháo nhau ở đâu có giống mai quý là lão tìm đến ngay. Có khi lão đi hàng tháng mới về. Mấy cây mai con mang về được lão ươm trồng, chăm sóc rất kỹ lưỡng. Lão coi chúng còn hơn cả mạng sống của mình. Dù mưa hay nắng, trời lạnh cóng hay nóng như rang, người ta cũng thấy lão lúi húi ngoài vườn. Lão có thể ngồi hàng giờ bên gốc mai già, tỉ mẩn, xem xét, phát hiện và kịp thời tìm cách “cứu” nó khi bị sâu đục thân hay vàng lá vì bệnh. Lão nói say mê về hoàng mai, nhất chi mai hay mai trắng… Lão quên ăn mất ngủ vì thời tiết thất thường, vườn mai mới uốn dáng, bấm cành thì đột ngột sương muối hay ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới. Lão vui nhất là những ngày đầu tháng chạp. Khách quen đổ về vườn mai, coi cây, đoán nụ. Lão ngồi trên chiếc ghế vuông, phả từng ngụm khói, nghe khách trầm trồ, bình phẩm. Nhìn những cành mai vươn ra đón gió, những chiếc là non mơn mởn phất phơ, trong nách lá có những nụ xanh bé xíu nhu nhú, lão cảm thấy lòng hân hoan, phơi phới.

Lão Ân kiếm tiền vì bán mai cảnh. Nhưng phàm không vì tiền mà mưu lợi bằng mọi cách. Trong xóm nhiều người trồng mai, nhiều vườn mai cũng đẹp lắm nhưng khách lại ít ghé thăm. Họ ngần ngại vì chủ vườn hét giá, đặc biệt mấy khách lạ, lại chưa biết nhiều về mai. Lão Ân thì chừng mực, bán được mai cũng như tìm được người cùng sở thích. Nhìn dáng mai, chủ khách bàn luận không ngớt về ý nghĩa của nó. Nhìn số lượng nụ mai mà đoán định được sự an thái, cát tường. Thằng Thuần thì lại không giống lão, cứ gặp khách sộp là khều cha đội giá lên cao. Lão trừng mắt, nạt nộ khiến nó tiu nghỉu, lúc quay đi còn lẩm bẩm khó chịu. Nó còn bảo với mấy người rằng cha nó hâm, chê tiền nữa.

Một hôm, có người khách lạ từ phương xa tới, trông cách ăn mặc và đi đứng, lão Ân đoán chắc là giàu có và chức quyền. Khách dạo một vòng rồi mới đứng trước mặt lão, trịnh trọng rằng muốn mua một cây mai dáng quân tử và tán vượng khí, nụ lộc phát. Lão Ân biết đây là kẻ sành chơi mai nên cũng rất nhẹ nhàng:

– Ông cứ coi cho kỹ, vườn mai nhà tôi đều đáp ứng được sở nguyện của khách.

Nói rồi lão Ân dẫn khách dạo vườn lần nữa. Khách chợt đứng lại, sững người trước gốc mai to, tàn rộng, nhiều bông hàm tiếu, thế cây rất đẹp. Khách săm soi từng chiếc lá và nhìn lão Ân như muốn biết một vài thông tin.

Lão Ân lúc này cũng quay lại, nhẹ nhàng:

– Xin lỗi, khách không thể mua cây này được!

– Tại sao? Khách ngạc nhiên, hỏi dồn.

– Khách chỉ biết vậy thôi. Mong khách thông cảm!

– Thật lạ, ông hãy cho biết lý do, nếu tôi mua cây khác thì cũng thấy nhẹ lòng!

Lão Ân không nói gì nữa, chỉ ngước mắt nhìn khách. Khách thì đang đợi chủ vườn nói một câu thỏa đáng. Ánh mắt lão Ân vừa như van nài,xin đừng hỏi nữa vừa như đau đáu nỗi niềm xót xa. Thấy vậy, khách gật đầu rồi tìm cây khác. Nhưng khách không ưng ý cây nào cả nên xin phép lão Ân ra về. Thằng Thuần tiễn khách, đứng nói chuyện với khách ngoài ngõ hồi lâu.

2. Lên núi, lão Ân tá túc ở chùa Quang Minh. Sư trụ trì rất quý lão và cho lão sử dụng vạt đất mé trái chùa trồng cây kiểng cho đỡ nhớ nghề. Cứ nghĩ lão giân con chỉ vài ba hôm hay chừng tháng rồi về lại nhà. Ai ngờ qua một năm, hai năm rồi đến năm thứ tư, lão vẫn cặm cụi chăm sóc vườn cây kiểng của nhà chùa. Nhiều lần sư thầy khuyên lão về khi biết thằng Thuần đã ăn năn, lên tận chùa cầm tay cha, rớt từng giọt nước mắt. Lão cứng rắn, gỡ tay con và bước lẹ vô phòng nằm. Thằng Thuần chưng hửng, nhìn theo dáng cha rồi quay về như kẻ mất hồn.

Lúc thằng Thuần vừa khuất sau cồng tam quan, lão Ân có chạy theo. Khi thấy bóng con trai lũn cũn dưới dốc thì lão giơ tay, định gọi nhưng rồi lại thôi. Lão vào chính điện, ngước nhìn lên tòa sen, mắt ngân ngấn nước.

Rồi cũng quen dần. Thuần biết tính cha khó thuyết phục nên dốc lòng làm lụng, bỏ hẳn rượu chè, cờ bạc. Vợ Thuần ôm con quay về. Đứa con gái của Thuần cũng sắp vào mẫu giáo. Thuần ngồi trước nhà nhìn vườn mai cỗi cằn, thiếu sinh khí mà không khỏi chạnh lòng. Nó thở dài thườn thượt.

Phải làm gì thôi, không thể để vườn mai chết rụi. Vườn mai không còn thì cha cũng khó lòng tha lỗi . Nghĩ vậy, Thuần bàn với vợ nhờ người chăm sóc, uốn dáng, tỉa cành. Dần dà, hai vợ chồng cũng quen việc. Vườn mai hồi phục nhanh chóng.

3. Lão Ân về nhà hôm trước hôm sau khách đã ùn ùn kéo tới. Ai cũng bảo lão có duyên với cây mai. Có người còn nói lão có bùa có ngải . Lão chỉ cười buồn. Lão đi dạo khắp lượt, xem từng gốc mai. Chưa đẹp lắm nhưng cũng không đến nỗi tệ. Nhưng khách sành chơi thì khó chọn được cây vừa ý. Thằng Thuần theo sau gật đầu tiếp thu lời cha . Đi đến góc vườn, chỗ đất lõm xuống, cỏ dại ken dày, lão Ân bất ngờ nhìn con. Thằng Thuần nghe một dòng điện chạy dọc sống lưng, mồ hôi lấm tấm trên trán. Nó lắp bắp, nhìn cha hối lỗi. Lão Ân xúc động thấy rõ. Bước chân lập cập.

Không đau khổ, buồn bã sao được khi gốc mai cổ thụ đã bị bứng đi. Cây mai gắn liền với những kỉ niệm. Đẹp và buồn. Lão tâm nguyện sẽ giữ cây mai ấy đến lúc tàn hơi chứ không bán dù tiền tỉ. Trong vườn có nhiều cây đẹp lắm. Mỗi cây đều mang một kỉ niệm, một ý nghĩa và khoác lên đó bao nỗi niềm, bao hồi ức. Nhất là gốc mai nơi góc vườn. Gốc mai được vun đắp thêm đất đen và xơ dừa, bao bọc xung quanh nó là những viên đá cuội giữ ẩm cho gốc. Cây mai này được lão mang về từ núi sâu sau ròng rã nửa tháng lạc trong rừng phải quanh đi quẩn lại giữa bạt ngàn gai gốc và cây lá. Lần ấy, đi tìm mai có năm người, đều trai tráng trong làng. Họ đốt lửa sưởi ấm, xua thú dữ về đêm. Họ trèo núi, bám dây leo vượt qua ghềnh thác. Có người chẳng may hụt chân, trượt ngã, bêu đầu, vỡ trán. Lão thì đói quá tụt lại đằng sau và bị bỏ lại. Thức ăn mang theo đã hết, lão phải ăn trái rừng và lá rừng cầm hơi. Kiệt sức, lão gục xuống bên gốc cổ thụ xum xuê cành lá, thiếp đi. Khi tỉnh dậy, lão thấy một nhà sư trẻ đứng bên cạnh. Nhà sư ấy đi tìm cây thuốc chữa bệnh. Lão quýnh quáng cảm ơn khi biết nhà sư đã cứu mình bằng những giọt sâm mang theo. Khi biết niềm đam mê mai quý của lão, nhà sư chỉ xuống đất, cạnh gốc cổ thụ. Một cây mai con với năm chiếc lá non mơn mởn, đều đặn. Nhà sư triết lý về ngũ thường, về kim mộc thủy hỏa thổ cho lão biết. Lão vui mừng khôn xiết, rẽ rừng về nhà,.

Trải qua bao thăng trầm, bao gió mưa, giông bão, gốc mai như được tiếp sức thêm từ hơi ấm và khí lạnh của lòng đất nên càng to gốc lớn cành. Mỗi độ xuân về, cành mai bung nở những cánh hoa màu vàng óng ánh, hương thơm dìu dịu thanh khiết. Lão yêu quý cây mai vô cùng. Nhìn nó, lão tưởng đến nét mặt phúc hậu, ánh mắt ngời sáng của nhà sư trẻ. Rồi lão đã đi tìm vị ân nhân của đời mình. Đó chính là sư trụ trị chùa Quang Minh.

Vậy mà nông nổi, hám tiền vì cờ bạc, lô đề mà con trai lão đành đoạn bán gốc mai quý đi. Lão hực lên như con heo chọc tiết rồi nằm bất động. Lão sống như kẻ vô hồn mấy ngày sau đó. Lão giận con trai. Cái thằng con trời đánh. Nó lâm vào tệ nạn,vợ ôm con bỏ đi, bây giờ thì bán đi gốc mai mà suốt đời lão tôn thờ, yêu quý. Lão đau khổ và sẽ không bao giờ tha thứ .

Lão lên núi nhằm ngày hai mươi ba tháng chạp, khi vườn mai sau kì mưa lạnh, tích nhựa căng tràn, báo hiệu một mùa xuân đầy hương sắc.

4.Lão Ân thức dậy khi mặt trời lên quá con sào. Từng tia nắng mới, vàng ươm rải khắp không gian. Lão bước ra sân, ngắm nhìn. Một màu xanh ngời sáng trước mắt. Dường như mùa đông cùng những cơn gió lạnh đã lặng lẽ đi qua. Trên trời,từng đàn én chao liệng khiến cho lòng lão cảm giác khoan khoái, dễ chịu.Thằng Thuần, thấy cha rạng rỡ nhìn trời, ngắm cây, nó cũng ngừng tay. Lão Ân đến gần con trai, đưa tay sờ mấy lộc non mơn mởn nhảy nhót trên từng nhánh cây tưởng đã già cỗi và nói với nó điều gì đó. Thằng Thuần mỉm cười rồi nâng niu nụ hoa mai nhỏ xíu, xanh xanh. Lòng nó ngập tràn niềm vui khi nghĩ về cuộc hành trình đang diễn ra của nụ mai và của chính cha nó và nó nữa. Những điều phiền lụy, không hay rồi sẽ đi qua, đọng lắng, sâu đằm là tình cha con, là sự hướng thiện. Bất ngờ, thằng Thuận nắm tay cha. Ánh nhìn của lão Ân nhân từ, ám áp như ánh nắng mùa xuân tỏa xuống vườn mai đang khoe sắc.

Read Full Post »

Về đúng mùa xuân

Vũ Thị Huyền Trang

Ngày cuối năm, Diệu đi giữa phố, nhìn đôi lứa bên nhau có chạnh lòng buồn. Nhiều người đổ dồn ra bến xe để về quê ngày cuối tuần gây tình trạng tắc đường. Gió rét kèm mưa lạnh ngấm sâu vào da thịt dù ai cũng đùm núm đủ thứ áo quần. Diệu cảm tưởng mình có thể đóng băng bất cứ lúc nào. Mỗi hơi thở là một làn khói bốc lên. Dòng người phía trước chưa có dấu hiệu tan ra. Thế mới biết, không phải cứ xích lại gần nhau là có thể ấm áp hơn. Chỉ thấy những khuôn mặt tái đi vì rét đang cam chịu trước dòng người đông nghẹt. Diệu có tin nhắn, chắc là của Sang. “Em nhớ giữ ấm. Anh nghe nói hôm nay miền Bắc lạnh nhất năm”. Giá mà ở gần nhau, chỉ cần một cái nắm tay thôi là đủ. Nơi Sang sống tuyết đang rơi. Hai bàn chân lún sâu dưới tuyết hẳn là rét lắm. Nên cái lạnh mà Diệu đang hứng chịu đã là gì so với nỗi cực khổ của Sang. Ai đó gọi, giọng vẫn rất chân thành:

– Mưa lạnh, để anh qua đưa em về nhé.

– Em đang kẹt xe giữa đường rồi.

– Vậy sáng mai anh đón em cà phê nhé.

– Sáng mai em có hẹn rồi.

Những cuộc gọi như thế sẽ thưa thớt dần đi. Người muốn đưa, kẻ muốn đón rồi sẽ không còn tha thiết nữa. Năm tháng trôi đi, người ta chuộng những cuộc tình chóng vánh. Làm gì còn ai đeo đuổi mãi một người dửng dưng trước mọi sự quan tâm. Thỉnh thoảng Diệu nhận được thiệp hồng của những người đàn ông từng si mê mình. Đến dự đám cưới người ta, rảnh quá Diệu thử mường tượng ra nếu mình là cô dâu ấy, thử nắm tay người đàn ông kia thì liệu có đi hết cuộc đời này? Trong ánh nhìn lướt qua của chú rể dành cho Diệu có chút gì kiêu hãnh. Rằng anh đã có hạnh phúc trong tay, tưởng em thế nào, hóa ra vẫn chỉ một mình. Diệu nhắn cho Sang: “Em đi ăn cưới người yêu cũ”. Nhắn vui thế tầm chục lần thì không nhắn nữa. Những người đàn ông từng đắm đuối vì Diệu giờ đều đã làm chồng người khác, làm cha của những đứa trẻ đáng yêu. Diệu có lần gặp họ địu con trước ngực trong siêu thị. Có lần gặp họ khệ nệ xách đồ cho vợ ngoài chợ đầu mối. Có lần thấy họ đi chọn váy bầu cho vợ, lưỡng lự giữa váy hoa hồng với váy hoa sim. Thấy Diệu vừa bước vào shop cùng bạn, họ mừng quá, kéo tay nhờ chọn hộ. Diệu bỗng thấy mình mất một suất chồng chu đáo, để tuột vào tay của người khác mất rồi. Sang nghe người yêu kể chỉ cười. “Chừng nào về một nhà, anh sẽ chăm sóc cho em”. Sáu năm yêu nhau, Diệu chỉ nhận được những lời hứa hẹn: Anh sẽ về gỡ xương cá em ăn. Anh sẽ về đưa em qua những con đường em muốn. Anh sẽ về làm mứt gừng để em ngậm cho ấm cổ. Đợi anh về sẽ tự tay sửa lại gót giày cho em. Đợi anh về rồi chúng mình ngồi bên bếp than hồng nướng những củ khoai sánh mật. Mười ngón tay của anh nhức lắm, đợi ngày về để được em ủ ấm… Mấy ngôn từ ấy hiện trên màn hình smartphone. Vậy mà Diệu thấy như than ấm, âm ỉ sưởi một mối tình xa cách. Nhi-đứa em gái vẫn thường mắng Diệu khùng. Thời buổi nào còn tin nhau qua mạng.

Về đúng mùa xuân…
Minh họa truyện ngắn: Mai Minh.

Thỉnh thoảng Nhi gọi giật Diệu dậy khỏi giấc ngủ nướng những sáng cuối tuần, dúi ngay chiếc màn hình điện thoại vào mặt Diệu, bảo “đọc đi”. Một người đàn bà vì quen trai Tây mà bị lừa 2,8 tỷ đồng. Yêu qua mạng, một thiếu nữ bị lừa cả tình lẫn tiền. Nhiều năm yêu qua mạng, chàng trai bất ngờ mình bị một thằng con trai “fake nick” gái để lừa. Diệu chỉ cười, làm sao giải nghĩa được những rung động của con tim. Làm sao để nói cho Nhi hiểu về cảm giác tin cậy một người đàn ông đã giúp Diệu mạnh mẽ đến nhường nào. Những ngày lễ, tết, Diệu thường ngồi ngoài hiên nhà nhìn ra ngoài đường ngắm người dưng đang trôi qua cửa, trên môi nở nụ cười hạnh phúc. Người ta ôm eo, thủ thỉ, tựa vào lưng nhau trôi qua ngày mưa dầm, nắng gắt. Diệu chỉ có một mình với tách cà phê nhưng vẫn thấy ấm lòng. Sống phải tin vào một thứ gì đó mới vui. Đối với Diệu, tình yêu không hẳn là một thứ tôn giáo. Nhưng Diệu tin vào tình yêu như là tin vào sự lựa chọn của chính mình.

                                                                                             ***

Diệu quen Sang qua mạng. Đúng hơn là vì vô tình nhìn thấy một bức ảnh Sang đưa lên facebook. Bức ảnh chụp một người đàn ông đang cố gắng bới một bụi hoa đỏ tươi bị vùi trong tuyết trắng. Chân người đàn ông lún sâu trong tuyết, hai bàn tay đỏ ửng vì lạnh. Cả bức ảnh bị choáng ngợp bởi màu tuyết trắng, nhưng người xem không hề thấy lạnh. Sang chú thích, đó là bức ảnh mà người bạn cùng phòng chụp trộm mình trên đường đi làm về. Diệu nhìn bông hoa đỏ trong tuyết hồi lâu thấy thương đôi bàn tay của một người đàn ông xa lạ. Vài lời comment qua lại, thế là thành bạn bè của nhau. Lúc ấy, Diệu hai tư tuổi, thanh xuân rờ rỡ trong tay. Bao nhiêu người đeo đuổi mỗi ngày, hào hoa phong nhã, đón đưa kề cận vậy mà Diệu không màng, lại đem lòng yêu một người ở cách xa vài nghìn cây số. Nhi từng hỏi: “Sang có gì để chị yêu?”.

Sang không có gì ngoài một trái tim chân thành và tràn ngập yêu thương. Sang không học hành cao. Gia đình khó khăn, phải vay vốn đi xuất khẩu lao động bên Nhật với thời hạn ba năm. Vì không có nhiều tiền để thi đi thi lại nên lúc đỗ đơn hàng nông nghiệp, Sang vội vàng chấp nhận. Sang được nhận vào làm trong một nhà máy tư nhân cùng với mấy người Trung Quốc. Công việc hằng ngày là ra đồng làm ruộng, trồng củ cải, thu hoạch khoai tây, phân loại rau củ trước khi mang vào siêu thị. Ruộng xa nhà nên hôm nào Sang cũng phải dậy từ bốn giờ sáng để nấu cơm ủ ấm mang theo rồi leo lên xe chủ ra đồng. Buổi trưa Sang được nghỉ một tiếng ăn cơm. Ăn nhanh thì còn kịp ngả lưng ngay tại bờ ruộng cho đỡ mỏi. Buổi chiều đi làm về, Sang lúi húi nấu cơm, ăn uống một mình. Nếu không có chiếc điện thoại, Sang chẳng biết trò chuyện với ai khi nhìn xung quanh toàn đồng không mông quạnh. Mấy người Trung Quốc cũng có vẻ cởi mở nhưng bất đồng ngôn ngữ. Nhà chủ thì thỉnh thoảng gõ cửa cho mấy bắp ngô, ít khoai tây, cũng có khi cho nửa con gà loại nhỏ để trả công cho một tiếng Sang dọn vườn cho họ.

Người Sang đau nhừ, tay chân nhức mỏi. Công việc làm nông ở Nhật cũng cực khổ chẳng khác gì bố mẹ ở quê. Ở nhà mưa rét còn được nghỉ. Đi làm kiếm cơm xứ người có hôm mưa lạnh vẫn phải dầm mình ngoài ruộng, để thu hoạch củ cải cho kịp, nếu không mưa nhiều sẽ thối hết. Trong một vài bức ảnh, Sang vô tình để lộ bàn tay đỏ ửng vì mưa tuyết. Diệu chỉ ước gì có thể thò tay qua màn hình máy tính để nắm lấy đôi bàn tay ấy, ủ cho ấm lại. Xuyên suốt quãng thời gian sáu năm dài chính là hình ảnh đôi tay ấy đã buộc Diệu vào một cuộc tình. Mẹ không nói gì, có lẽ vì mẹ tin vào tình yêu. Thỉnh thoảng mẹ chỉ hỏi: Khi nào thì Sang về? Bên ấy có lạnh không? Sang về nước tính sẽ làm gì để sống? Nhắn với Sang là mẹ thèm có cháu để bế bồng. Có hôm mẹ đi chợ mang về một mảnh vải hoa ướm lên người Diệu. Mẹ nói: “Vải này may áo dài đẹp tuyệt. Con sẽ mặc vào ngày dạm ngõ”. Sang từng hứa hai đứa sẽ cưới nhau vào mùa xuân. Nhưng mùa xuân năm nào thì còn chưa biết.

Ba năm trước, Sang về nước đổi visa, ký hợp đồng mới. Diệu chỉ có đúng mười ngày được gần người yêu. Sang không nói gì nhiều, chỉ thích im lặng đi bên Diệu. Ngồi trong quán cà phê phố cổ, Sang kể cho Diệu nghe về cuộc đời mình. Sinh ra trong một gia đình nghèo, Sang chưa kịp lớn lên đã phải làm trụ cột gia đình khi bố đột ngột mất sớm. Gánh nặng mấy trăm triệu tiền nợ ngân hàng bố mẹ vay để chăn nuôi lợn nhưng thất bại, giờ đổ lên vai Sang. Cộng với khoản tiền lãi hằng tháng khiến Sang không còn sự lựa chọn nào khác, đành phải đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Ba năm làm việc không ngừng nghỉ ở Nhật đủ để Sang trả nợ và nuôi hai đứa em ăn học. Chẳng còn dư dả nhiều, Sang muốn quay lại Nhật tìm cho mình một cơ hội khác. Diệu khẽ gật đầu. Hôm tiễn Sang ở sân bay, anh chỉ nói: “Tay em ấm thế này mà phải xa nhau”. Mới đó mà đã sắp đến ngày Sang quay trở về. Diệu vẫn chờ dưới hiên nhà qua xuân, hạ, thu, đông. Ngoài đường, đôi lứa vẫn bên nhau và lòng Diệu vẫn còn như than hồng âm ỉ.

Có thể Sang không về. Nhi nói thế. Sang giờ đã có công ăn việc làm ổn định ở bên Nhật. Cũng có thể bảo lãnh người thân sang cùng. Biết đâu Sang tham vọng thì sao? Diệu ngồi tự may áo dài cho mình, không ngẩng lên nhìn Nhi. Sáu năm tuổi trẻ trôi qua như một dòng sông. Ta cứ tưởng nó hiện hữu trước mắt nhưng thật ra thời gian lặng lẽ trôi. Buổi sáng hôm nay khác buổi sáng hôm qua. Ở ngoài kia biết bao người sống vội vàng, yêu thương vồ vập rồi gấp gáp xa nhau. Vậy mà Diệu dành sáu năm thanh xuân để lặng lẽ đợi chờ, kể cũng xa xỉ thật. Rất nhiều người hỏi Diệu, dựa vào gì mà tin một mối tình xa lắc? Dựa vào đâu ấy à? Dựa vào bản thân mình. Diệu tin rằng mình là người phụ nữ xứng đáng được hạnh phúc. Thế thôi.

Không báo trước, Sang về vào đúng mùa xuân. Mưa lất phất bay trên tán bàng non. Hàng quán ngoài đường co ro trong cơn rét cuối. Diệu may nốt những đường chỉ cuối cùng trên chiếc áo dài mà mẹ chọn vải năm xưa, đơm thêm vài hàng cúc. Sang về, quà cho Diệu vẫn là đôi tay lạnh. Hai đứa nhìn nhau qua gương, thấy thanh xuân đang dần khép lại trên đuôi mắt. Sang chải tóc cho người con gái mình yêu, thủ thỉ kể cho nhau nghe về những hình dung ấm áp. Sẽ nấu cho nhau ăn những bữa cơm dẫu có khi đạm bạc. Sẽ đi cùng nhau những đoạn đường dẫu có khi trắc trở. Sẽ nương tựa vào nhau dài lâu dẫu bể dâu không chừa bất cứ cánh cửa của ngôi nhà nào. Sang sẽ về làm phiên dịch cho một công ty nước ngoài. Sáng đèo Diệu đến cơ quan, chiều đón nhau chụm đầu bao câu chuyện. Bao vất vả qua rồi, đời Sang thiếu thốn đủ đường nhưng nhờ có Diệu mà ngập tràn hạnh phúc. Diệu nắm lấy tay người đàn ông mình yêu. Mười ngón gầy đang ấm dần lên trong tay Diệu…

Read Full Post »

Ngày không online

                                                          Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

Bây giờ con người cô đơn. Cô đơn ngay giữa đám đông. Ngồi sát bên nhau mỗi người một cái điện thoại lướt zalo, viber, facebook, xem những hình ảnh lạ, xem những video hot, đọc tin tức giật gân, tìm mua hàng hóa… trên cái màn hình nhỏ xíu đó cái gỉ cái gi cái gì cũng có, ảo/thật hiển hiện. Đôi khi muốn quay sang khều khều, nói một câu gì đó để kết nối nhưng thấy ai cũng chăm chắm vào cái màn hình xanh lét, thế là lặng im, thế là lại chúi mặt vào cái màn hình xanh lét lướt và lướt như một kẻ tự kỉ.

Ở nhà, 7 phòng. Phòng khách rộng thênh, bàn ghế bày biện sang trọng, ti vi màn hình phẳng 32inch nhưng chẳng mấy khi cả gia đình ngồi đủ 4 người. Có ngồi thì chồng xem tivi, vợ cắm mặt vào ipad, con trai lớn cắm mặt vào ipad, con trai nhỏ chơi với mèo trên thảm. Chẳng ai nói với ai. Mùi nhang thơm thầm lặng lan tỏa khắp không gian, Phật ngồi trên ban thờ cao cao hiền từ nhìn 4 con người. Ông bà tổ tiên ngồi trên ban thờ cao cao hiền từ ngó lũ con cháu im lặng với những thú vui riêng của mình. Căn phòng yên tĩnh quá, chỉ có tiếng grừ grừ của con mèo Anh lông ngắn trắng muốt. Mấy chục phút ngồi thế rồi ai tản về phòng người đấy. Chồng hoặc nàng lại bật tivi phòng ngủ xem film trên các kênh Movies, HBO, HTV, VTV, GTV. Phim nước ngoài Á, Âu đủ loại, đủ trò hấp dẫn. Xem chán rồi ngủ, ti vi cứ nói oang oang. Ngày trước nàng hay bày các trò để nối kết các thành viên gia đình, bây giờ nàng cũng bận rối. Nàng đi làm về, phóng xe vào phòng tập yoga, giờ tập kết thúc muộn, nàng ăn kiêng giữ dáng nên chồng và các con cứ tự ăn tối trước. Cả ngày chỉ còn mỗi bữa tối là đủ mặt, giờ thiếu nàng. Rồi những tiệc tùng gặp gỡ làm ăn, đối ngoại, bạn bè sinh nhật, họp lớp các cấp của chồng, của nàng…  Nàng thấy cô đơn giữa bao điều ồn ã náo nhiệt, hân hoan. Nàng thấy cô đơn giữa đông đúc bao người thân/sơ. Nỗi cô đơn làm lạnh mọi giác quan, làm tê liệt cảm xúc. Nỗi cô đơn khiến nàng thờ ơ với mọi vui buồn, đua tranh thế gian.

Hôm nay, anh đi công trình ngoài tỉnh. Hôm nay, nàng đọc một cuốn sách. Đề từ có câu “Chim thú có rừng, cá tôm có biển còn em có anh”. Nàng chợt xúc động. Câu nói chạm vào tim nàng, đúng tâm tư nàng. Chỉ có những xa vắng như bây giờ nàng mới thấm thía nàng cần anh… Xa rồi gần. Gần rồi xa. Cảm giác của những thời điểm đó nàng hiểu rõ nhưng vẫn chới với khi đối diện. Khoảng cách có giá trị đo lòng người. Nàng chưa bao giờ quen được cảm giác phải xa cách. Khi người ta trẻ người ta dễ quên hơn những nỗi buồn, sự thất vọng, thất bại và khó tha thứ cho những lỗi lầm người khác gây ra cho mình. Ngược lại khi người ta già, người ta luôn ghim chặt nỗi buồn vào tim, day dứt về sự thất bại nhưng lại dễ thứ tha hơn trước những điều người khác làm mình thất vọng, đau đớn. Nàng hay bị gặp khó khăn trong cuộc sống, từ bé đến giờ chẳng mấy khi sung sướng. Nàng chưa bao giờ trúng số dù vẫn mua vé số cầu may suốt 10 năm qua. Nàng đọc nhiều danh ngôn, kiểu như: Khó khăn là một phần của cuộc sống và nếu như không chia sẻ khó khăn bạn sẽ không mang lại cho người yêu mến bạn cơ hội để yêu bạn nhiều hơn”… đọc thuộc làu, ngấm vào ruột gan đấy nhưng khi đụng vào khó khăn thì lại tự giải quyết. Nàng thích chia sẻ những niềm vui của mình cho mọi người hơn là những phiền phức. Nàng đang già đi. Già và sẽ rụng như lá vàng mùa thu. Mà mùa thì về nhanh lắm còn nàng thì chẳng biết có kịp tái sinh mình sau những va đập, bon chen, thờ ơ, vô cảm, bệnh hoạn của nhân gian hay không?

Một lần, nàng rủ chồng cà phê đầu khu phố, quán cà phê của cô Vi, 30 tuổi, ly hôn, nuôi con gái 5 tuổi. Cô Vi xinh xinh, hay mặc quần đùi sát bẹn, áo hở nửa ngực, khi nói chuyện mắt nhìn trô trố, môi mọng căng. Chồng gọi trà gừng, nàng gọi cà phê đen nóng đường kiêng. Thời buổi thức ăn, đồ uống dư chất hóa học, ai cũng sợ bệnh tật. Nàng nhìn ánh chiều vàng vọt rơi xuống mặt đường, con đường quen thuộc mỗi ngày đi/về mấy bận nhưng ngồi nhìn nó lúc này, trong một góc quán buồn tẻ, nhạc mì ăn liền kiểu: “mai anh ra đi em phải làm sao, vì sao anh nói chia tay em thế anh?”… nàng bỗng buồn lụi xụi. Nàng ngó mặt chồng, nhìn bộ râu quai nón sợi bạc, sợi đen chen chúc rậm rạp. Chồng nàng ngó ngực cô Vi lấp ló tưng tưng sau mỗi lần đi ra, đi vô, cúi xuống, đứng lên lấy hàng, trả tiền, dọn bàn, tiễn khách. Nàng hơi hơi buồn. Cả xóm đàn ông ai cũng thích cô Vi. Cả xóm đàn bà ai cũng ghét cô Vi. Vài gã trong khu phố đang bị nghi lén lút hẹn hò với cô Vi, cho tiền cô sắm xe máy, mua điện thoại, nuôi con… Các bà vợ cấm các ông chồng qua quán cô Vi. Các ông chồng không qua quán theo ý các bà vợ, để yên nhà yên cửa. Họ có số điện thoại cô Vi, họ mời cô đi nhậu, đi hát karaoke. Ở khu phố này chẳng mấy bà vợ theo chồng đi nhậu, đi hát hò. Cô Vi tửu lượng rất khá, uống ăn duyên dáng, nói cười duyên dáng. Chồng nàng từng nhờ cô Vi tiếp khách đối tác Hà Nội hai lần, anh về khen: “Con bé trình độ phết, học hết đại học luật đấy em”. Nàng thì không thích, không ghét cô Vi. Cô ta chẳng làm gì khiến nàng ghét. Nàng có cả đám bạn bè ly hôn, phụ nữ đâu phải sống đơn thân là đều xấu xa hết. Các bạn nàng chẳng cần đàn ông bên cạnh, họ làm việc và làm việc, kiếm tiền nuôi con, chăm chút nhan sắc. Tụi nàng có nhóm bạn nữ thân thiết chia ngọt, xẻ đắng bên nhau tháng ngày. Có đứa 7 năm sau ly hôn vẫn ở vậy, bao nhiêu người tới tán tỉnh nó đều từ chối. Lý do “không thấy hợp”. Chúng nó chỉ muốn bình thản sống một mình, là chính mình. Nàng ghét những đứa đàn bà, đàn ông nhìn ngó, bình phẩm, dèm pha, buông lời thiếu tôn trọng về những phụ nữ ly hôn. Mỗi người mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh trớ trêu, mỗi cay đắng… Họ nuốt hết vào lòng, tự ti và tự tin sống tiếp quãng đời tiếp theo bằng cách vượt qua mọi thị phi. Mồm thiên hạ độc hơn rắn độc. Những phụ nữ ly hôn như cô Vi, như những bạn nàng họ chẳng làm gì tổn hại đến thiên hạ. Thực ra họ chẳng quan tâm đến bao bàn tán lao xao của thiên hạ. Nhiều trong số phụ nữ li hôn, đơn thân nuôi con, đơn thân lao động kiếm sống bằng chính sức lực của mình còn hơn khối đứa phụ nữ có chồng mà bồ bịch lằng nhằng mì tôm. Trong mắt nàng cô Vi, bọn bạn đơn thân họ là những phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ, dũng cảm thời 4.0, họ chả cần danh hiệu giỏi việc nước, đảm việc nhà. Thực tế họ giỏi hơn nàng và những đàn bà có chồng khác nhiều thứ.

Cô Vi gặp nàng lúc nào cũng khiêm nhường một chị, hai chị không đáo để, đanh đót đốp chát như với mấy bà, mấy chị trong khu phố. Cô Vi bảo đàn bà ai cũng như chị thì tổ dân phố này văn hóa nhất phường này từ lâu rồi. Cô Vi bảo em thích chị, chị phúc hậu và mạnh mẽ. Cô Vi kéo ghế ngồi sát nàng bảo chị không giống số đông đàn bà ở khu phố này, rồi cô thao thao kể cô M giáo viên trường T, nhà cuối đường đi mồi chài ông sếp doanh nghiệp này, ông đại tá đơn vị nọ, ông giám đốc cơ quan kia, ả nhậu nhẹt, đú đởn, hẹn hò Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng cùng lúc với 3 gã già mà gã chồng lái xe taixi có biết gì đâu. Cô lại kể, mụ N công chức, đảng viên nhà giữa tổ dân phố, được cái chân dài, mông to chứ cái mặt gãy gập, môi mỏng lét. Chồng làm cán bộ ở huyện, đầu tuần đi, cuối tuần về, mụ làm việc thì kém nhưng giỏi nịnh sếp, nịnh cả họ hàng nhà sếp nên sếp tạo mọi điều kiện cho đi học hết lớp bồi dưỡng này đến lớp nâng cao kia, sếp hứa thăng chức nay mai, thỉnh thoảng sếp đi Sài Gòn, Hà Nội, chả biết là vô tình hay ngẫu nhiên trùng khớp mà thời gian đó ả có đơn xin nghỉ phép đi khám bệnh, xin về quê giỗ chạp, cưới gả, thăm ốm người thân… hóa ra thiên  hạ nhiều mắt, nhiều tai và cả nhiều chuyện thiệt. Nàng nghe cô Vi kể há hốc mồm hỏi thiệt hả? thiệt không?… Cô Vi bảo: Em nói sai em chết như con rết liền. Em biết đầy chuyện của người trong khu phố mình, em không đụng ai thì đừng ai đụng vô em, không thì lành làm gáo, vỡ làm muôi ngay chị nà. Em bán cà phê chứ không bán trôn nuôi miệng. Em chúa ghét cái bọn đạo đức giả chị nà. Lũ ấy quen thói suy bụng ta ra bụng người chị nà. Nàng ngó cô Vi lom lom, nàng ở khu phố này 8 năm rồi mà cái cô giáo T và cái mụ công chức N kia nàng không nhớ mặt ngang, mũi dọc thế nào. Còn cô Vi về đây thuê nhà chưa đầy năm mà sao biết nhiều chuyện thế. Nàng nhấp nhấp ngụm cà phê, ngắm cô Vi. Nhìn sát gần, cô Vi rất xinh, da trắng hồng, múp míp, mắt long lanh, khuôn miệng đầy đặn, hồng căng. Phật dạy, tướng tại tâm sanh. Nhìn tướng này không phải tướng kẻ bất nhân, vô đạo, tầm thường.

Hôm rồi, chị H bảo nàng: Em coi chừng chồng đấy, nó hay qua nhà con Vi. Nàng cười cười: Kệ anh ấy chị ạ, trai ham sắc, thân ai nấy chị ơi. Chồng nàng háo sắc thì sao chứ, bản năng giống đực, trai mê sắc, gái ham tài, đàn ông gã nào chả thế, trước mặt vợ, gã nào tử tế, có ăn có học, văn hóa ổn ổn thì nể vợ, tình huống đi chung với vợ mà thấy gái ngon thì mắt lơ lơ chỗ khác lừa cho vợ vui bụng, gã nào cục súc văn hóa lùn thì vợ ngồi đó cũng kệ, vợ là đinh gỉ, vợ là vợ, ông là ông, gái ngon ông ngắm tí lãi lỗ gì mà ngại, lãi lỗ gì mà nhăn nhó cau có. Thế nên làm đàn bà kết hôn với người ta rồi trong nhờ đục chịu. Chứ chả lẽ vì chồng cứ thích nhìn gái đẹp mà giận, mà bỏ được à. Ghen thế làm gì cho hại não. Còn đàn ông, thấy thằng nào ngắm vợ, tán tỉnh vợ vài câu qua điện thoại là như bò bị chọc đít, nhảy dựng lên mạt sát, hù dọa, thậm chí đánh đập vợ vì ghen. Cái mà người ta gọi là bình đẳng giới ấy, cái mà biểu quyết cao phấn đấu để bình đẳng giới ấy ở đâu thì đạt chứ ở khu dân phố nàng ở thì còn lâu lẩu lầu lâu mới chạm chỉ tiêu. Nàng là đàn bà còn thích ngắm cô Vi, huống chi các ông già, ông trẻ trong khu phố. Nó đẹp ngọt ngào. Đàn bà là giống hay ghen ghét đố kị, thấy ai hơn mình là cay cú, tìm mọi cách dèm pha, hãm hại. Mồm nhiều đàn bà độc như rắn rết, làm khốn khổ biết bao người trong thiên hạ nhưng thời gian sẽ làm sáng tỏ trắng/đen. Ông bà dạy: Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Đàn bà đẹp như Vi khổ vì thị phi là chuyện thường. Nó bảo: Cả khu phố này có mỗi chị thương em. Nàng cười khùng khục khen cà phê nó chế ngon. Nàng là cái thứ đàn bà đa cảm, dễ thứ tha, cả tin. Chồng đã chối trăng, chối trời là đâu có nhìn ngực cô Vi. Nàng bảo không sao, không sao chỉ là nhìn thôi mà, nói thế nhưng nàng vẫn hơi hơi buồn. Nàng là thứ đàn bà cả nghĩ. Có hôm ngồi nghe vài bản nhạc buồn ở cái quán buồn tẻ của cô Vi, nghe cô Vi kể chuyện đời cô khốn khổ, khốn nạn với thằng chồng cũ ham đề, cờ bạc, rượu bia, lấy hết tài sản theo gái, chuyện người này người kia ăn ở hiền hậu toàn bị lừa tiền lừa tình, chuyện những kẻ dối gian, tham lam vẫn sống nhơn nhơn, ăn trắng mặc trơn, lòe bịp thiên hạ với những vị thế xã hội a,b,c. Nhiều hôm ngồi với cô Vi về nàng chẳng thiết nói năng, ăn uống. Cái hôm, anh nhìn trộm ngực cô Vi, nàng hơi hơi giận về nằm ôm sách đọc. Chồng nàng chẳng để tâm, ôm máy smart phone lướt lướt rồi ôm gối ngủ ngáy ò ò. Cuộc sống nếu cứ cố chấp và bắt bẻ nhau hoài thì chán như con gián, chồng nàng bảo thế. Rồi chồng lại bảo em phải hiện đại lên, cởi mở ra, anh chỉ yêu em thôi, chỉ luôn muốn làm em hạnh phúc, xinh đẹp, tươi vui… Đàn bà là giống phổi bò, gan thỏ. Nói ngọt là lọt đến xương, nghe đàn ông nói cái miệng thôi cũng sướng chả cần biết chồng có thực bụng thế, có thực làm thế để biến mọi thứ thành hiện hực không, nhưng mà tin đắm say, tin như tin vào Phật, Thánh, Chúa… Nhưng nếu chẳng có những thứ trách móc, bắt bẻ, hờn giận ấy liệu nàng có biết mình đang còn yêu hay đã ít yêu, hết yêu chồng. Mẹ nàng bảo con cần có cái nhìn thiện cảm hơn với đàn ông. Đàn ông, đàn bà gì cũng có dăm bảy loại. Thế giới là của muôn loài. Thích nghi thì sống. Nàng cũng là loại đàn bà thích nghi cao. Chồng ngáy ò ò, ti vi nói suốt từ 19h. Nàng đọc sách. Sách là bầu bạn thủy chung với nàng mỗi khi nàng không thú vị với những va đập cuộc sống ngoài cánh cổng sắt. Sách dẫn nàng đến một thế giới không xa lạ với thế giới thực nhưng dầu gì cũng yên ả hơn, vì ở đó đều là những câu chuyện đã qua, những phận người đã khép lại, có thứ đã biến mất như tro bụi trong gió. Nàng chợt nhận ra cả tuần rồi nàng ngủ không ngon. Chồng nàng vẫn đang ngáy ò ò…

Ở nơi nàng làm việc, đàn bà gần chục ả, vài ả ghét cay ghét đắng nàng, vì nàng đi làm bằng xe hơi, nàng có nhiều giầy và túi sách đẹp, vì nàng sáng mặc 1 bộ váy, chiều mặc 1 bộ váy, vì nàng làm việc vì đam mê. Ở nơi nàng làm việc có những đàn bà lượn lờ loanh quanh, ngồi nhóp nhép quà vặt buôn chuyện thiên hạ rồi về, nói xấu sau lưng kẻ khác, lương chẳng mất một một cắc, cuối năm bình bầu thi đua danh hiệu vẫn kêu leng keng. Ở nơi nàng làm việc có những đàn bà làm việc quần quật, đến 20h tối phòng họ vẫn sáng đèn, họ yêu công việc của họ, họ cứ làm và làm. Họ nói với nàng có nhiều cách để thấy cuộc đời ý nghĩa, trong đó có cách làm được gì thì làm hết mình, có ích cho mọi người, cho đơn vị. Ở nơi nàng làm việc có đàn bà ra khỏi phòng không tắt điện, hoang phí hết thảy mọi thứ từ giấy, bút, mực in… nhắc nhở nó cẳn nhằn bảo đồ của nhà nước chứ có phải của nhà mình đâu mà tiếc, kệ đi… Cuộc sống có nhiều loại người, nhưng nàng luôn tránh né những đàn bà vô duyên, nhạt nhẽo, thụ động và lươn lẹo. Nàng thích những đàn bà xinh đẹp, tích cực. Bên họ nàng như được truyền thêm năng lượng tươi mới. Nhìn ngắm họ, nghe họ nói, thấy họ làm việc máu trong nàng lại nóng lên và nàng lại hăng hái muốn làm những điều có ích cho cuộc đời, chẳng cần đợi cuối năm hay năm sau, hay năm sau nữa được ghi nhận, khen ngợi.

Cô Vi chuyển nhà sang khu phố mới, cách khu phố nàng hai con hẻm. Chồng mới của cô giàu, là đại gia ngành xây dựng, quen biết toàn quan to cấp huyện, cấp tỉnh nên công trình lớn/nhỏ gã đều có phần. Cô Vi đẹp ngồn ngộn, duyên dáng, ngọt ngào, tươi tắn chiều chuộng chồng. Cô được gã cưng lắm. Đàn ông khu phố buồn buồn. Đàn bà khu phố mừng mừng. Nàng đi chợ thi thoảng gặp cô Vi lái xe hơi đi mua đồ ăn. Cô Vi rủ rê nàng cà phê. Cô Vi bảo cả khu phố ấy em quý mỗi chị. Cả phố thấy nàng và cô Vi đi cà phê với nhau túm tụm, xì xào. Đàn bà chết không bỏ được tật đố kị và nhiều chuyện. Cô Vi một bước lên bà chủ, ăn sung mặc sướng, sẵn tiền bạc của chồng tiêu xài, cô Vi đã xinh giờ càng xinh nõn nà. Đời đàn bà đâu cần ước mơ nhiều, khát vọng nhiều, chỉ cần có một bờ vai vững chãi cho mình dựa khi tủi buồn, thiếu thốn là phước đức tu tích bảy đời, bảy kiếp rồi. Cô Vi chắc tiền kiếp tu tập chỉn chu, phúc phần cha mẹ đầy đặn. Trời chẳng khi nào lấy hết của ai cái chi, càng chẳng tuyệt đường ai bao giờ nên người người trần thế ai ai cũng ơn trời, cầu trời thương cứu khi khó khăn, khốn cùng. Nàng xin trời cho sức khỏe dẻo dai để làm nốt những việc nàng thích. Nàng có kế hoạch khi già nàng sẽ đi Sa Pa ngắm tuyết, hai vợ chồng nàng sẽ uống trà nóng bên hiên một khách sạn cổ kính.

Chồng nàng đi công trình về. Nàng rủ anh đi biển vài ngày. Anh bảo những ngày đi biển sẽ không online. Điện thoại tắt. Vợ chồng nàng đi chơi đảo, đi lễ chùa, đi công viên, đi cà phê, đi tắm biển bình minh, hoàng hôn… hai vợ chồng nàng nhâm nhi trà nóng bên hiên một khách sạn cổ kính, nghe sóng biển xô bờ dào dạt, ngửi mùi biển nồng mát, nghe hơi thở nhau đều đều, ngắm biển đêm lộng lẫy.

Bây giờ con người cô đơn giữa những máy móc, giữa những vô số điều ảo/thực.

                                                                   Gia Lai, tháng 3/20201

                                                                             H.T.H

Read Full Post »

Nguyễn Hoàn

.

Chiều nhập nhoạng. Hoàng hôn chiếu những tia nắng cuối cùng giát vàng lên ngọn núi Kim Sơn lấp lánh cả một vùng núi cao như bừng lên sức sống cuối cùng của ngày tàn.  Người xưa đã đặt tên cho ngọn núi thật thực tế.  Núi vàng trong buổi chiều tà. Mây trắng lởn vởn bay bên núi.  Mây với núi,  vẫn giống như ngàn năm, như đang tâm sự điều gì. Dưới núi là con sông Kim Sơn êm đềm trôi về phía Đông. Chỉ lát nữa thôi là cả núi, cả sông, cả mây trời và cảnh vật xung quanh đều sẽ đi vào tĩnh  mịch.  Sự vận chuyển này của cảnh vật cũng giống như ở quê ông Hoà,  nhưng ông vẫn cứ trầm ngâm tư lự. Đây là buổi chiều hoàng hôn đầu tiên ông ở nơi xa lạ. Ở đây, buổi tàn đông trời có chút ít se lạnh hơn sơn cũng là vùng  núi,  nhưng núi An Tượng quê ông, dù cao chất ngất khí hậu vẫn ít lạnh hơn nơi này. Từ những ngày còn học trung học ông Hòa đã được cha gửi đến nơi này học võ tuần hai buổi với thầy dạy võ vốn là bạn nối khố của cha ông từ hồi còn nhỏ. Thầy dạy võ ông Hòa là một người có tính khí điềm đạm. Ông học hết Trung học rồi trốn lính trôi dạt đến vùng đất này. Ông rất giỏi võ đặc biệt là là ngọn roi Thuận Truyền gia  truyền của ông đã tiếp tục nổi tiếng các vùng đất võ rộng lớn. Dù là bạn của cha nhưng ông Hòa để được thầy võ nhận dạy thật là khó khăn ông đã tiếp xúc với ông Hòa nhiều lần để nhìn tướng mạo, để chuyện trò cho hỏi han xem người học trò này có đặc điểm sát khí không rồi sau đó mới nhận dạy.  Mỗi thứ bảy chủ nhật cha ông Hòa chở con vượt hơn hai mươi cây số đường xa, thả con xuống với thầy, đi đâu đó loanh quanh chờ con học xong chở về. Ròng rã ba năm như vậy. Ông Hòa thời trai trẻ đã học được những thế võ rất chắc. Từ những ngày đầu tiên học học đứng tấn đến những bộ thảo, miêu tả diện, ngọc trản thần Công… ông Hòa đều tiến bộ rất nhanh có lẽ ngay từ thời tiểu học ở thành phố biển ông Hòa đã từng học qua Vovinam nên đã tiếp thu nhanh hơn các đồng môn khác. Việc học tập văn hóa cũng vậy, nhờ cha nghiêm khắc kèm cặp động viên, ông Hòa cũng đã học hành đầu xuôi đuôi lọt. Đậu Tú Tài bán, đậu Tú Tài Toàn,  rồi đậu luôn Đại học Sư phạm. Những năm tháng ấy sống trong lòng chế độ Sài Gòn cũ, nếu chỉ cần rớt 1 năm là lập tức có giấy gọi nhập ngũ, với các mảnh bằng tú tài thì hoặc sĩ quan Thủ Đức hoặc sĩ quan Đà Lạt, ra khỏi quân trường là lao ngay vào các mặt trận, trên ve áo là quai chảo, hoặc bông mai. Cha ông Hòa khuyên con tuyệt đối không nên chọn kiểu sống một là xanh cỏ hai là đỏ ngực như vậy được. Ông Hòa học sắp xong đại học sư phạm thì miền Nam được giải phóng,  đất nước thống nhất. Lúc bấy giờ ngành giáo dục mới sắp xếp lại các trường học các cấp học trên khắp miền Nam. Thầy cô quá thiếu ông Hòa được điều ngay ra giảng dạy ở quê nhà. Ông chọn dạy một trường trung học phổ thông bên vùng núi An Tượng, phía hữu ngạn sông Côn là nơi công tác và sinh sống suốt cuộc đời mình.  Khi công việc dạy học ổn định, bằng cấp Đại học Sư phạm mới cũng ổn định, ông Hòa theo yêu cầu của nhiều người dân địa phương, ông đã mở thêm lò dạy võ vào các buổi tối. Ông chỉ nhận năm đến bảy học trò và cũng giống như thầy mình ông chọn mặt và nhận học rất kỹ chủ yếu học trò học phải lấy đạo đức làm đầu. Ông không chủ trương học trò học võ thành tài là để đi thi đấu đài này, đài nọ dù lúc này nhằm khôi phục tinh hoa võ thuật cổ truyền,  tỉnh có cho phép các cuộc thi đấu võ đài ở các địa phương trong tỉnh.  Quan điểm của ông được nhiều phụ huynh võ sinh nhất trí. Công việc dạy học văn hóa và dạy võ chiếm thời gian của ông khá nhiều, nhưng lúc nào ông cũng thấy mình nhanh nhẹn khỏe khoắn. Nhiều người khen ông làm thầy nào cũng tốt. Ở công việc dạy học từ giáo viên ông đã lên dần đến phó hiệu trưởng, rồi hiệu trưởng.  Ông Hòa là một giáo viên dạy giỏi, mẫn cán trong giảng dạy và trong quản lý. Cứ như vậy cho đến khi tròn sáu mươi tuổi, ông Hòa về hưu với biết bao thế hệ học trò trọng vọng. Thế mà chỉ trong một tích tắc ngắn ngủi của một buổi chớm sáng, ông đã làm người phạm tội và ông đã rơi vào vòng lao lý.

Buổi sớm sáng hôm ấy cách nay chưa xa, như thường lệ khi chuông chiếc đồng đồng hồ ông đổ đến bốn tiếng là lúc ông Hòa thức dậy đánh răng súc miệng rồi xỏ giày đi tập thể dục. Ông đi bộ vòng quanh mấy con đường bê tông của địa phương độ nom một tiếng thì về. Sáng ấy khi về đến cổng nhà thì thấy có một thanh niên lạ đội mũ bảo hiểm đeo khẩu trang đang với hai tay đỡ lấy một cái bao gì đó từ người bên trong cổng nhà ông đưa ra trên những cọc sắc nhọn tròn lởm chởm của cánh cổng vẫn đang khóa kín im ỉm. Hai chiếc Honda dựa trên bệ cỏ sát hai bên trụ cổng. Lúc bấy giờ là 5 giờ, nhưng trời mùa đông nên vẫn chưa sáng hẳn. Hình như cái bao gì đó từ trong sân nhà ông chuyển ra nặng quá người thanh niên bên ngoài cổng đỡ không nổi nên rơi xuống thềm bê tông và trong bao là tiếng chó sủa vùng vẫy. Ông Hòa đã kịp nhận ra là chuyện gì. Té ra đây là thủ phạm trộm chó. Con vện là một con chó ông Hòa nhặt được từ đống rác cuối xã từ khi nó mới vài tuần tuổi. Nó gầy nhom đói khát bới rác tìm thức ăn. Động lòng thương, ông Hòa đã đem nó về nuôi đã hơn hai năm nay rồi. Ông Hòa có hai con học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, ra trường xong chúng có chồng, có vợ, có nhà, có cửa, rồi ở tịt trong đó với cháu của ông. Nhiều lần các con ông năn nỉ ông vào sống với con cháu ở nơi đất phương nam ấy, nhưng ông chỉ vào thăm chơi một tuần, nửa tháng thì về. Từ khi nghỉ dạy học, ông cũng thôi dạy võ và hàng ngày chăm sóc mảnh vườn nhỏ trồng rau, trồng cây cảnh và một ít cây thuốc. Con Vện đối với ông là một niềm vui, niềm an ủi khi tuổi già cô đơn. Vợ ông, cũng là một một giáo viên đã chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn giao thông do hai thanh niên say xỉn lái xe Honda tông trên đường đi dạy học về cách hơn mười năm. Hình như con Vện biết ông là người đã cứu nó, đã cưu mang nó, nên nó rất quyến luyến với ông và làm tròn bổn phận canh giữ nhà mà ông giao cho nó. Ông chích ngừa dại cho nó theo yêu cầu của thú y và không thả nó ra ngoài đường. Ông đi đâu xa về nhà, nó vẫy đuôi mừng ăng ẳng trong nhà, sân trước vườn sau nó cắn chết nhiều con chuột. Vậy là nhà ông sạch chuột. Con Vện cũng như loài chó nói chung là những con vật có nghĩa rất trung thành với chủ. Nhưng sáng nay thì, nó đang vùng vẫy ăng ẳng trong cái bao kia. Ông Hòa vừa lên tiếng hỏi người thanh niên tại sao lại bắt chó trộm, thì lập tức kẻ trộm tấn công ông ngay. Cây dùi cui điện, một vật dụng chỉ công an mới được dùng, không ngờ nó cũng có cái dùi cui quất sát rạt vào ông Hòa,  ông đã lạn người để tránh được. Thằng thanh niên trong sân nhà ông nghe động cũng trèo ra cổng. Tình thế cấp bách đã khiến ông Hòa lách ra sát cột trụ cổng phía trái vừa né đòn vừa vọt lại giật cây roi cài hờ sát mép cổng sắt và trụ cổng. Đó là một cây roi tre đặc tròn bằng cổ tay,  dài tầm một mét hai. Khi có cây roi trong tay ông yên chí phần nào. Ông đảo một vòng bộ pháp thông thường thủ thế. Lúc này thằng thanh niên thứ hai đã trèo được ra khỏi cổng và lấy ra từ trong cái bao treo ở xe Honda một con dao nhọn. Cả hai cùng tấn công ông…  Lúc đầu khi có một đứa ông Hòa còn lạn đánh cầm chừng, chủ yếu là tránh né đòn.  Nhưng khi cả hai cùng tấn công ông thì ông thấy hơi nguy hiểm. Hai tên trộm đều to lớn đang ra sức áp đặt đối thủ để kịp tẩu thoát cùng với con mồi nên chúng đánh rất sát, toàn những đòn sát khí. Ông Hòa vừa né tránh được lưỡi dao vụt sát mặt ông thì bả vai ông bị một dùi cui phang đau điếng. Không nhẹ được nữa, đòn roi chiến hiểm ông đã tung ra. Các đốc roi giựt thốc vào ngực một địch thủ, tên trộm cầm dao đã ngã bịch xuống nền bê tông, miệng ộc đầy máu. Tên trộm còn lại chưa hoàn hồn cũng bị một đốc roi của ông thụt vào bụng ngã vật ra, miệng la ới ới xin tha tội. Biết chủ có mặt gần bên, nên con chó trong bao càng vùng vẫy ăng ẳng hơn. Ông Hòa nhìn hai tên trộm nằm im trên đất mà hối hận về việc mình đã ra đòn độc. Ông Hòa thả cây roi bên cổng rồi đi lại phía người thanh niên miệng đầy máu, đưa tay sờ mũi, không thở được nữa rồi. Mình đã giết người rồi!  Ông Hoà ngồi bệt xuống vệ cỏ đưa tay vào túi sau mở nút lấy điện thoại gọi công an. “ Vâng tôi Hòa… nhà ở… tôi đã đánh chết người trước cổng nhà tôi: Tôi đã gây tội ác, mời các anh tới bắt tôi”. Chỉ vài phút sau là công an xã và sau đó là công an huyện có mặt ngay. Người đi đường cũng tập trung đến khá đông. Công an phong tỏa giữ nguyên hiện trường, chụp hình lập biên bản. Lúc bấy giờ hai người thanh niên tỉnh lại, lăn lộn kêu la. Té ra chưa có người nào chết cả, Ông Hòa nói với công an cho mình được gọi người quen gần đây đưa xe đến chở hai nạn nhân đi bệnh viện cấp cứu. Hai nạn nhân được đưa lên xe. Ông Hòa và một công an cùng theo đi xe về phía thành phố. Hai công an được bố trí ở lại giữ hiện trường. Hai chiếc xe của kẻ gian với những vật dụng bắt trộm chó, cái dùi cui, con dao công an thu giữ. Con chó được mở bao thả ra, cổng nhà ông Hòa cũng được mở. Qua khoảng sân nhỏ là cửa nhà ông Hòa vẫn còn khóa im ỉm. Công an quan sát kỹ cửa trước, cửa sau vẫn khóa kín như vậy đây chỉ là là vụ việc trộm chó chứ không trộm thứ gì khác… mãi cho đến lúc nắng sáng hẳn lên công an làm xong mọi thủ tục hiện trường xong, cổng nhà ông Hòa được khóa lại thì công an và mọi người xem mới lục tục ra về. Tang vật trộm được đưa về đồn .Ở bệnh viện tỉnh một tên trộm bị gãy hai sườn trái, tên còn lại phải nẹp và băng bột khoảng mười ngày nửa tháng thì có thể xuất viện. Tên trộm còn lại bị nhẹ hơn nhưng cũng phải cắt một phần lá lách chỉ mười ngày là có thể xuất viện. Ông Hòa ứng hết toàn bộ tiền viện phí cho hai người bị hại. Thì ra hai bị hại cũng đều là người của thành phố biển này. Do lêu lổng, ăn chơi, cờ bạc không nghề ngỗng gì nên hai thanh niên này đã chọn nghề bắt chó trộm mỗi đêm. Giống như nhiều đạo chích khác cùng  nghề,  đêm đêm chúng thường đi nhóm hai người lùng sục các hang cùng ngõ hẻm và bắt chó rất thiện nghệ.  Khi phát hiện chúng dùng cái kẹp dài kẹp vào cổ chó và cho vào bao ngay. Mỗi đêm hai đứa bắt vài con chó là chuyện thường, bán cũng hơn bạc triệu; các quán Cờ Tây,  Nai Đồng Quê  mua ngay trong đêm,  nhốt lại giết thịt  dần. Trường hợp mua được nhiều thì chuyển cho đại lý đưa lên xe tải chuyển ra miền Bắc tiêu thụ. Chó là vật nuôi có nghĩa trung thành với chủ nên được chủ thương yêu. Vì vậy nên một khi chó bị trộm các chủ vật nuôi rất căm tức đã có nhiều vụ án kẻ trộm chó bị nhiều người dân đánh chết và tất nhiên theo luật pháp người sát nhân phải bị tù. Những tên trộm chó nếu chỉ bị bắt thôi không bị hành hung thì chỉ bị phạt tiền cảnh cáo rồi thả, vì vật trộm thường chỉ dưới 2 triệu. Ông Hòa biết rất rõ điều ấy. Nhưng việc ông không tự kiềm chế được mình, ông đã đánh người suýt nữa không còn toàn mạng. Ông rất xứng đáng phải đi tù. Học trò ông, con ông có thể bảo lãnh cho ông được tại ngoại. Nhưng cái tính chất trượng phu của của con nhà võ buộc ông tự nguyện xin được ở tù để răn mình,  để làm gương cho người khác. Việc đánh hai tên trộm chó là việc tự vệ chính đáng, ông có thể tự bào chữa cho mình như vậy. Nhưng lương tâm ông Hòa vẫn cứ bị cắn rứt bởi trên hết mình là một người hành võ trên miền đất võ nổi tiếng khắp cả nước này.

Ở tù một thời gian không ngắn, cũng không dài, đủ để ông Hòa nhận ra cuộc sống bên cạnh những thuận lợi phát triển, vẫn luôn tiềm ẩn những khó khăn phức tạp. Sống chân chính với tất cả mọi người. Có như vậy tâm mình mới yên: Ông Hòa được giảm án nhờ biết cách sống tốt trong phận tù nhân.

 Về với vùng quê yên ả của mình bên cạnh sông Côn, lúc này ông Hòa đã tròn tuổi bảy mươi tuổi thất thập cổ lai hy nhưng ông Hòa vẫn thể dục đều đặn, vẫn làm vườn, vẫn  luyện võ và thăm hỏi bà con mỗi ngày.  Học trò ông  xa gần ghé thăm ông. Một buổi sáng, vừa xong một giờ thể dục bên bờ sông Côn, ông đang trầm ngâm nhìn dòng sông hiền hòa chảy như từ bao đời,  thì hai thanh niên to khỏe đến trước mặt  cung tay “ Kính thầy, thầy có nhớ chúng con không?” trong ngoài nhìn kỹ vẫn không nhận ra hai môn sinh này mình dạy từ lúc nào. Cái kiểu cúi mình cung tay đó đúng là con nhà võ nhưng ông Hòa đành chịu, cố nhớ vẫn không nhớ ra được. Ông Hòa lắc đầu xác thực điều đó.  Hai thanh niên khúm núm nhỏ nhẹ với ông  Hòa “ Thưa thầy. Hai đứa con là hai tên trộm chó nhà thầy ngày nào, mới mà thầy đã quên. Xin cảm ơn thầy đã cho chúng con một bài học. Chúng con ăn năn hối hận giờ trở thành người tốt rồi thưa thầy…”!

Read Full Post »

Trương Văn Dân

Đoàn Đình Thạch,

            Người đi, tiếng hát còn vọng lại.

Sáng 28.9.21 thấy trên FB của nhà thơ Đoàn Văn Khánh có bài Kinh Nguyện An Lành và Chú Đại Bi lòng tôi bỗng bất an.Gọi anh Khánh không được, thấy Nguyên Cẩn online nhưng gọi mãi đến lần thứ 4 mới liên lạc được. Anh cho biết là đang nhờ các chùa cầu an cho anh Thạch vượt qua nguy hiểm.

             Báo tin cho Elena rồi tôi gọi điện cho chị Náo. Chị cho biết hai vợ chồng bị nhiễm covid, đã xuất viện về nhà nhưng anh Thạch còn yếu lắm và gần đây phải thở oxy. Hôm nay anh đã hấp hối 2 lần.

             Rồi chị quay màn hình và nói với anh: anh chị Dân Elena từ Ý gọi về thăm. Đang nằm thở oxy anh Thạch nghiêng qua, bàn tay phải vẫy 2,3 lần để chào. Lúc chị cúp máy tôi có nghe 1 tiếng nấc nhẹ bên kia đường dây.

–  Không, anh sẽ vượt qua thôi!

Đang ngồi, Elena vội đứnglên đi thắp nhang trước bàn thờ Phật. Lời lẽ cứng cỏi nhưng chắc em cũng  biết cái vẫy tay  yếu ớt qua màn hình đó là lời chào cuối cùng.“Vượt qua” chỉ là mong ước, mong manh,nhưng trong lòng chúng tôi vẫn còn chút hy vọng..

Nhưng chiếc lâu đài mà hai đứa bé cẩn thận đổ cát xây lên đã bị sóng thuỷ triều lướt qua, đổập.Chúng hụt hẫng nhìnđống cát ướt nằm chỏng chơ trên bờ biển.

Anh đã đi, sau cuộc gọi củachúng tôi chỉ mấy giờ!

Khuya hôm ấy chắc cũng có nhiều bạn thao thức chờ đợi một phép màu!

*

            Là giảng viên văn học nhưng khi đến với Quán Văn anh mang theocây đàn và tiếng hát, góp một phần rất lớn để tạo nên không khí sinh động cho những buổi ra mắt. Đến từ số 20, nay 83, hơn 60 số báo anh là một phần không thể thiếu. Có lẽ linh tính là mình sẽ không  còn  tham dự được với bạn bè nên những ngày cuối anh gọi điện cho Hoàng Kim Oanh để nhờ chị chuyểnlời nhắn “mọi người mạnh khỏe nghe, tôi mệt”!

Có thể là hình ảnh về 2 người, trong đó có Đoàn Đình Thạch

            Những năm qua vợ chồng anh Thạch chị Náo thường tham gia sinh hoạt cùng tập san Quán Văn, họ như như 1 cặp đôi hoàn hảo về sự thân thiện và nhân cách và chiếc đàn theo anh chị và bạn bè đi đây đó khơi dậy tình tự dân tộc qua những tình khúc, trường ca hoặc những bài hát do anh sáng tác.

Còn nhớtrong chuyến đi Phú Quốc, vừa lên xe ở Kiên Giang thì mưa gió bão bùng… Ngồi trên xe mọi người nhìn nhau ngao ngán. Tiếng mưa đập vào thùng xe bôm bốp nhưng bỗng nhiên từ cuối xe vọng lên “Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến…” mọi người nhìn xuống thấy anh đang cầm đàn và tất cả đều hát theo anh. Tiếng hát át tiếng mưa, khí thế hừng hực. Lòng ái quốc như sống dậy trong hồn mọi người.

Điều tình cờ kỳ lạ là khi xe vừa đếnkhách sạn hay quán ăn thì mưa tạnh. Mấy lần như thế nên Mỹ Lệ “hùng hồn tuyên bố” là mình đã nhắn tin cho ông Trời, được mưa chừng ấy thôi để anh chị em QV khỏi ướt.

Những kỷ niệm với anh có nhiều nên từ naytrong lòng mọi người sẽ cảm thấy trống vắng.

Anh Thạch còn là đồng hương nênkhi gặp nhau chúngtôi cũng thường nhắc lại một vài kỷ niệm ở quê nhà. Thời gian đầu anh cũng hỏi tôi về các truyện ngắn hay về sự hình thành tiểu thuyết“Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Được trải lòng với anh tôi thấy vui như đứa em chia sẻ vơi anh mình.Còn chị Náo chân thành nói mỗi khi mua QV về là “tìm bài của Elena đọc trước.Sao mà cô dâu Ý này viết văn với một tâm hồn Việt Nam?”

Anh Thạch ra đi trong mùa Covid nên tất cả các bạn chỉ có thể viếng tang online. Một buổi chiều buồn cuốitháng chínđêm trước ngày di quan chị Náo đã gọi video cho  tất cả bạn bè.. Nguyên Tâm, Nguyên Cẩn, Ban Mai, Tịnh Thy, Trúc Hạ .v.v…  để mọi người được anh từ biệt…Ai cũng nghẹn ngào không nói nên lời. Đứt ruột. Thương anh chị quá!

Mọi lời phân ưu đều cần thiết nhưng, đối với những mất mát quá lớn ấy chỉ có thời gian mới đủ sức xoa dịu. Tôi và Elena chỉ lặng nhìn chịvà nói bằng ánh mắt ngấn lệ.

Trước lúc ra đi anh còn hỏi chị Náo sinh nhật 10 năm Quán Văn ngày nào?

&

Mười năm!Từ một nhóm nhỏ chỉ vài người, cóngười chắc chắn là chỉ vài số báo rồi chết yểu như các nổ lực của các nhóm yêu văn trước đó, không ai ngờ là Quán Văn đến giờ có tuổi thọ 10 năm! Đã 83 số báo! Lời hứa sẽ cố gắng đến số 100 đã đi hơn 4/5 chặng đường. Nhưng niềm vui là tập san ngày càng mở rộng. Bạn văn, bạn đọc khắp nơi từ Nam ra Bắc, miền Trung miền Tây và vượt qua biên giới để đến Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Nhiều thế hệ yêu văn chương khắp mọi miền đã tìm đến nhau…Có những người đến, xẹt qua bầu trời văn học rồi đi nhưng cũng có nhiều người ở lại. Cùng các bạn trẻ, nhiều “cụ” tuổi trên 80 mà vẫn góp mặt, xem văn chương như niềm đam mê bất tận nhưng cũng có người không còn viết nữa, ghé vườn văn khoe dáng 1 chút rồi đi theo con đường khác, tuy thỉnh thoảng có đến, ghé mắt,bàng quan như cỡi ngựa xem hoa.

Nhưng những ai còn lại, tâm huyết, vô tư, hồn nhiên hết mình cho 1 tờ tạp chí khiêm tốn nhưng mang nặng tình người, chung tay vun đắp cho ngôi nhà văn chương mà không so đo toan tính cá nhân.

Mười năm, hơn 80 số báo. Thông điệp của QV vẫn đơn giản và không hề thay đổi, là cuộc đời ngắn lắm trong cáichu kỹ vũ trụ mênh mông,phận người chỉ là một bóng phù du, như con thiêu thân chưa chờ đến ngày mai thì đã hoá thành tro bụi. Tham làm gì. Ác làm gì. Cuộc đời sống mà biết yêu thương nhau không phải tốtđẹp hơn sao?

Trong những ngày này, nhìn những đoàn người tứ tán bỏ chạy trên những con đường từ Nam ra Bắc tôi chợt nhớ đến bài Con đường cái quan mà anh Thạch thường hát.Được nhạc sĩ Phạm Duy khởi soạn vào năm 1954 lúc đất nước vừa bị chia đôi bằng hiệp định Geneve. Tuy là người chối từ chính trị nhưng nhạc sĩ vẫn thường dùng văn nghệ để bày tỏ thái độ.Trường ca này được Phạm Duy hoàn tất phần đầu,như một sự phản kháng, khi đang du học tại Paris.

Nhưng nếu Con đường cái quan nói về một lữ khách đi trên con đường từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mau, đi trong lịch sử và lòng dân từ ngày lập quốc cho tới khi hoàn thành xứ sở, tới đâu cũng có tiếng dân chúng ca hát chúc tụng nối được lòng người,chiến thắng thiên nhiên… thì những ngày đại dịch từng đoàn người đã  rời bỏ Sài Gòn bất chấp mọi nguy cơ về giao thông, về những bất trắc gặp trên đường như bệnh hoạn, đẻ rớt, đột tử…Đường xa vạn dặm…và cuộc trở về căng thẳng trong bão bùng mưa gió vẫn không ngăn nổi sức mạnh của lòng tuyệt vọng, khi người dân không còn khả năng trụ lại.

Giấc mộngđổi đời đã làm bao người phải rời quê chen vào Sài Gòn kiếm sống, giờ đây Covid đã biến thành ác mộng.Trải chiếc khăn trên lề đường, vắt 2 tay sau gáy họ sẽ ngẫm nghĩ gì về cái nghèo, cái đói cái khổ sở trong cuộc đời cơ cực của mình? Về, sẽ làm gì và bao giờ quay lại?  Trong số hàng chục ngàn người về quê bằng xe máy có rất nhiều trẻ em. Và đây sẽ là những ký ức kinh hoàng khó quên trong đời chúng.

Tôi bỗng nhớ đến bức tranh“sự vô hình của nghèo đói!” của hoạ sĩ Kevin Lee:

Trong đại dịch Covid nhiều người đã ra đi. Nhưng nếu không có dịch thì xưa nay từ đế vương đến thảo dân, ngay cả chúng ta đang tay bắt mặt mừng hôm nay ai rồi cũng đến lúc phải rời cõi tạm. để lại trong lòng những ai còn sống những vết thương không bao giờ lành và nỗi tiếc thương không thể nàonguôi.

Vì thế khi ngồi chờ đại dịch đi qua…để có được  sự “bình thường mới” tâm trạng tôi rất giống nhà thơChu Trầm Nguyên Minh khi chờ “Năm mới” [1]:

Hãy đốt giùm anh nén hương

Gọi hồn những người đã khuất

Những người đã bỏ anh lại một mình

Với đời mồ côi lệ đắng

Với nỗi chua cay nát lòng…

Tiếng đàn thiết tha hay hùng tráng của Đoàn Đình Thạchgiờ đây tuy đã tắt nhưng  dáng dấp hiền hoà, giọng nói nhẹ nhàng và nụ cười ấm áp trong những lần họp mặt, trong những chuyến đi lên rừng, xuống biển  với QV vẫn còn đó trong tim mọi người.

Xin ghi lại những tiếng vọng từ các bạn Quán Văn, nói như Hoàng Kim Oanh,thắp một nén hương bái vọng gửi theo anh…như gửi chút yêu thương ấm áp của tình thân và niềm tưởng nhớ của bao người. Nó là tiếng vọng của yêu thương của tình bạn của đồng cảm và chia sẻ, của “Gia đình Quán Văn”.

-Đặng Châu Long: “Những bài ca anh hát là những bài hát tôi vẫn nghêu ngao từ Trường ca Con đường Cái Quan, Trường ca Mẹ Việt Nam đến những bài ca rời tình ca, du ca hào hùng một thuở…Chúng tôi sẽ luôn nhớ  về anh như luôn nhớ những bài ca anh hát. Lời hát đó không chìm mất trong vũ trụ bao la mà sẽ ngân vang mãi trong lòng những người bạn quý mến anh.

-Nguyên Cẩn “ Câu thơ này thay tiếng khóc tiễn đưa anh .

Anh đã đi mang tiếng hát lên trời

Cả tài hoa với một đời âm nhạc

Đêm qua mau anh chẳng nói nên lời

Chào từ biệt thân tình trong cuộc sống

Trong gió khuya nghe lá rụng sau vườn

Anh uống cạn chén tình vui trần thế

Mai vắng anh trong những cuộc sum vầy

Cung cầm gẫy tiếng đàn đêm vẫn vọng

Những chuyến đi bao thương nhớ vơi đầy

– Lưu Hồng Diễm, chủ nhân chiếc du thuyền King Yacht, nơi cuối cùng nhóm Quán Văn gặp mặt cùng anh chị: “Chú Thạch ơi!!! Con còn chưa được hát nữa mà!!!! Con đang khóc đây! Thế là từ nay vĩnh viễn con không còn được chú đàn cho hát nữa rồi! Vĩnh biệt chú.”

-Hoài Huyền Thanh:Tiếng đàn tiếng hát đâu đó vẫn nhặt khoan

“đồi núi cao nghe gió vi vu” trên đường ta đi tới

trên dặm đường trường mai sau còn ai lĩnh xướng

Đường Cái Quan nhớ quá giọng hò khoan.    

-Nguyên Tâm:…          Tiếng đàn

giờ đã tắt rồi

Buồn vui gửi lại,

luân hồi… biệt ly

Ôm đàn, về cõi xa xôi

Anh đi thanh thản. Phai phôi kiếp người!

Tiễn anh về cõi nghìn trùng.

-Nguyễn Thị Tịnh Thy, từ thành phố Huế :  “Tôi đã từng chảy nước mắt khi nhạc sĩ Đoàn Đình Thạch ôm cây đàn ghi ta và cất lời lĩnh xướng những bài Tình ca, Con đường cái quan của Phạm Duy. Mấy chục anh chị em của tạp chí Quán Văn già có trẻ có hoà cùng giọng anh. Chúng tôi không phải nhả từng chữ, mà đang nuốt từng lời, đang uống từng hơi hồn thiêng sông núi, để tim mình đầy lên, căng trào và bật ra không chỉ là tiếng hát mà còn là tiếng khóc yêu thương, tiếng nghẹn ngào có giai điệu của hạnh phúc”.

– Và Hoàng Kim Oanh nghẹn ngào chuyển cho các bạn lời cuối: “ChịNáo đưa máy. Bảo bật camera. Anh cừời nhẹ: “Chào cô Oanh” và “Chúc cô cùng gia đình bình an mạnh khỏe! Mọi người mạnh khỏe nghe. Tôi mệt!”

Có lẽ còn nhiều, nhiều nữa…

Và chắc chắn rồi đây, mỗi khinghe tiếng hát.. của những lần sinh hoạt QV thì hồi ức về anh không thể phai mờ,  vì tiếng ngân của nó còn đọng lai trong lòng những ai yêu thương anh sẽ vọng lại không nguôi.

Milano 15.10.2021

Năm Covid thứ hai


[1]NĂM MỚI- Phan Ni Tấn phổ nhạc. http://www.art2all.net/tho/chutramnguyenminh/nammoi_phannitan.html

Read Full Post »

Truyện ngắn của Nguyễn Trí

       Như hơi lé một xíu, cô bác nói, con nhỏ đó có con mắt lé kim trông duyên hết biết luôn. Như lại hơi móm móm, vụ này cũng duyên luôn. Thêm cái dáng ơi là mi nhon nên cả chục anh theo xin xách dép. Như chọn anh Dũng. Anh bô trai, tóc tai bồng bềnh và tướng tá rất là nghệ sĩ. Người vậy theo mình, mình không gật là ngu bà cố. Như nhẹ dạ non lòng nghe anh hứa cưới xong sẽ đi trăng mật ở Đà-nẵng cho Như biết cáp treo Bà-nà như thế nào. Vậy là Như cho. Được rồi Dũng đưa Thi, bạn thân của Như lên Sài gòn vi vũ vi vu. Bà nội cha thằng họ sở – Như chửi – sẽ có một ngày tao cho mày biết thế nào là lễ độ.

         Nói xong cô lên xe giường nằm cao cấp đi một hơi lên Miền Đông. Cái miền mà một bạn – cũng thân – của Như đang làm ăn. Nhỏ bạn tên Thanh. Sau một ngày ăn ngủ trong một phòng trọ hết sức là sang cả và lịch sự. Trọ mà triệu rưởi một tháng là quá xá sang. Thanh nói:

      – Ở với tao chia đôi nhà trọ điện nước. Một mình tao oải quá.

      – Ô kê.

        Sau đó Thanh dẫn Như đến Mat-xa thư giãn ra mắt bà chủ Hoàng Trinh. Ông tên Hoàng bà tên Trinh. Sau một lần nhìn lén bạn Thanh phục vụ khách mát xa qua tấm kính gắn ở cửa, Như rành nghề không cần học. Công việc cực kỳ đơn giản nên không có lương. Phục vụ viên hưởng tiền “bo” từ khách tùy vào cái gọi là “biết”thư giãn. Biết nhiều bo nhiều biết ít bo ít. Khách hầu hết là vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa, muốn được bo nhiều thì, tiếp viên nếu, không bảy không ba thì, ít nhất cũng một rưởi cái vụ vành ngoài vành trong.

       Trên đời này chả có cái chi, dù khó đến đâu mà thiên hạ làm được ta lại không. Như cũng vậy. Thanh làm được Như làm được. Với lại yêu đương với Dũng, gì chứ, vụ xoa bóp tay chân lưng cổ Như rành. Đấp bóp hả? Dễ ẹc. Với lại khách đến để thư giãn là chính chứ chân yếu tay mềm tẩm quất ra cái ôn chi. Thư giãn là chi? Xin thưa là vào tai anh – sao cho – đêm qua rủ rỉ rù rì, tiếng nặng bằng bấc tiếng chì bằng bông. Phải êm như mơ và ngọt như mía lùi. Cho anh ôm một phát lâu lâu được không cưng? Anh sáu mươi ôm em mười tám tên Như lót chữ Quỳnh sướng chết mẹ thì vài trăm bạc nghĩa lý chi. Như đã mới keng xà beng ở mat-xa thư giãn Hoàng Trinh lại dịu dàng nên ai cũng “con Như nghe… Nó bận hả? Tui chờ”. Khách nói vậy với chủ Hoàng Trinh. Nên chi Như kiếm ngày vài triệu là nùi nụi cái sự chắc.

          Có một khách trẻ trung như cành hoa hồng và hồn nhiên ánh lửa tuần nào cũng đến Hoàng Trinh hai lần và yêu cầu Như phục vụ. Đấm lưng và vỗ đầu cho anh khỏe lắm bởi anh cạo trọc. Anh có vẻ mê Như. Anh ôm Như tha thiết lắm. Vụ ôm mà tha thiết Như rành bởi Dũng từng ôm cô rất chi thiết tha:

      – Anh ở đâu? – Như hỏi.

      – Ở xứ nầy luôn cưng.

       Đó rồi anh hỏi quê quán gia đình chồng con Như ra sao. Có sao Như nói vậy. Chuyện bị tình đá bổng đá bỏ Như kể luôn. Rồi Như thút thít thiệt ơi là thiệt. Ba cái vụ nước mắt này là Thanh dạy cho Như. Dạy rằng:

       – Nước mắt đóng đinh vào tâm bọn háu gái tơ lắm mày ơi. Nhứt là bọn có tuổi. Ở nhà chúng chán con vợ già đã dơ còn hôi nên mày chớ có ngu mà nói tục với bọn nó nghe.

         Anh đầu trọc trẻ nhưng cũng bị nước mắt Như đóng đinh. Có lần anh cho Như cả triệu. Ngon ơi là ngon.

        Làm ăn được nên rằm nào, mồng một nào Thanh và Như cũng đi chùa để cầu xin ơn trên phù hộ. Phải vậy chớ. Chả phải trên trần gian ô trọc lóc nầy cái gì cũng được tối cao thiêng liêng xếp đặt cả đấy sao – và – dân gian có câu có khấn có thiêng có kiêng có lành. Lại rằng “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng…” vậy nên ngoại trừ bỏ tiền vào mấy cái thùng công đức trong chùa, Thanh và Như còn mua chim mua cá phóng sanh. Cho ăn mày là đương nhiên thì quý vị sư ông, sư cô trong áo vàng đi khất thực lại càng đương nhiên gấp bốn lần.

        Một hôm nọ:

      – Tao nhớ ông sư này quen quen. – Nhìn một khất thực Như nói.

      – Có cha trọc đầu nào yêu cầu mày phục vụ thư giãn hem mà nhớ? Vụ thư giãn nầy thập loại chúng sanh có hết à nha.

        Sỡ dĩ Như nói quen quen là bởi khi thư giãn, đèn trong phòngrất là mờ mờ. Phục vụ và khách một lần đến xem như khỏi biết. Nhưng ba bốn dăm bảy lần thì không nhớ mà được sao. Đi qua được mấy bước Như gọi:

        – Anh Hùng… – Hùng là tên của anh đầu trọc.

        Như chăm chú quan sát và cô biết. Trăm phần trăm khất thực áo vàng là Hùng bởi y thoáng giật mình. Thiệt là tình. Thanh nói thập loại có đủ trong matxa thư giãn sao mà đúng quá. Và ngay lúc ấy Như mong gặp khách chơi đầu trọc tên Hùng xiết bao. Gặp để làm chi chả cần biết nhưng cứ gặp cái đã.

            Chủ nhật ấy anh trọc đến.

                                                                   ***

Nhưng Hùng Trọc phải chờ Như những tiếng đồng hồ mới gặp được nường. Ai từng matxa thư giãn chắc biết quy luật cho một lần xông hơi, sau đó là đá hay chân cho cái gọi là mát miết nầy. Một tiếng một phi vụ và quá giờ là phải chi thêm tiền. Giả dụ tiếng đầu một trăm bốp thì tiếng sau thêm năm chục.Với dân chơi thì ngoài trăm bạc cho một lần cũng chả là nghĩa địa gì. Nhưng chờ đợi tình nương thì chả ông nội nào không“Gớm sao mà nhớ thế…” và, đừng hòng được bập phà thuốc lá như trong thơ Hồ Dzếnh đâu mà ham. Máy lạnh mà hút thuốc cho chết vì ô nhiễm à? Được một anh giai chờ cả tiếng thì người đẹp hành “nghiệp” nầy ngón nghề phải dữ lắm. Nhưng, dân chơi bảo rằng thư giãn thì chỉ là thư giãn mà thôi, còn muốn cạn tàu hay cạn tình – a lê hấp – anh chị đi nơi khác sau khi ngã giá. Ta bà mới hỏi rằng thư giãn chỉ là thư giãn mà thôi là cái nghĩa lý gì? Nghĩa là – dân chơi trả lời – phục vụ viên chỉ được đứng xoa bóp cho khách chứ không được nằm.

        Cảm cái tình chàng trọc đầu đã chờ mình cả tiếng đồng hồ, Quỳnh Như bèn xoa cái đầu trọc của anh mà rằng:

  • Cám ơn con lừa trọc của em.

    Hùng rất khoái ba từ con lừa trọc. Chàng hỏi nàng:

  • Em moi đâu ra ba từ nầy vậy?
  • Hì hì hì…  trongphim Thủy Hử đó anh? Ba từ nầy là trại chủ Đặng Long gọi Lỗ Trí Thâm đó.
  • Vậy ha… anh đâu biết…
  • Em hỏi thiệt anh nghe.
  • Hỏi đi?
  • Bộ anh tu hả?
  • Trước có nay hết rồi.
  • Hết sao vẫn còn bình bát áo vàng đi ăn xin.
  • Anh hành nghề khất thực chứ không phải ăn xin.
  • Là sao? Có gì khác nhau đâu?
  • Khác chứ. Khất thực không xin. Ai cho thì bỏ vào bình bát chứ không xin.

         Quỳnh Như gật gật đầu… à ra thế, ra là thế… rồi cô cười khắc khắc khắc:

  • Trước anh tu ở đâu mà sao phải tu?
  • Nhà anh nghèo em út đông nên, năm tám tuổi lại là con riêng, ở không được vơi ông dượng nên má gửi anh vô tịnh xá gọi là tu tập nhưng thực ra để bớt miệng ăn thôi cưng.
  • Nhưng sao không tu nữa?

Trầm ngâm một lát con lừa trọc thú thiệt:

  • Ở tịnh xá lúc mới vào, ban ngày anh theo mấy sư ông đi khất thực. Đêm về thì tụng niệm, bốn giờ sáng là công phu khuya… mệt mỏi lắm em.
  • Tôi nghiệp con lừa trọc của em. Rồi sao nữa?
  • Để kể cho nghe… đêm đó mệt quá anh ngủ luôn trên chánh điện. Chừng hai giờ sáng giật mình tỉnh giấc thì thấy một sư ông đang chôm tiền.
  • Chôm? Tiền đâu mà chôm?
  • Trong thùng công đức chớ đâu.
  • Sao chôm được?
  • Sư ông dùng một thanh tre thiệt mõng, mõng như lá lúa vậy đó. Một đầu que  sư ông dán băng keo hai mặt rồi thọc vào thùng. Vậy là giấy bạc cứ thế vô túi. Em hiểu rồi chớ?
  • Ghê thiệt há anh? Rồi anh bắt chước và bị bắt đúng không?
  • Ừ… sau đó anh rời tịnh xá tiếp tục nghề khất thực. Nghề này ngó vậy mà nhiều tiền lắm nghe cưng. Có ngày kiếm trên triệu luôn đó.
  • Nhưng mà mưa gió thì làm sao hả cưng?
  • Anh là thợ tụng chính cho trại hàng X.
  • Thợ tụng là sao?
  • Người chết Công Giáo thì thôi chứPhật Giáo hay thờ cúng ông bà ai cũng mong linh hồn hồn ngươi chết siêu thoát nên cần thợ tụng lắm cưng. Làm nghề tụng phải sành kinh kệ là một, biết tụng là hai. Anh ở tịnh xá cả chục năm nên sành hơn cả điệu.
  • Con lừa trọc của em giỏi ghê. Tụng vậy một ngày được bao nhiêu hả anh?
  • Không tụng ngày mà tụng họ. Mỗi họ ba ngày hai đêm. Sáng trưa chiều tối mỗi buổi tụng một thời kinh Địa Tạng. Giá mỗi họ vào thời điểm nầy là một triệu rưởi. Anh một triệu còn trại hàng năm trăm.
  • Vậy suy ra mỗi ngày chỉ ba trăm?
  • Có ngày anh tụng hai đám, cá biệt ba đám luôn đó cưng. Nhứt là mùa mưa mấy ông già bà cả tha hồ cưỡi hạc về trời. Thợ tụng có giá lắm.
  • Vậy không khi nào anh hết việc?
  • Cũng có… nhưng mà chủ trại hàng có chiêu thức của họ.
  • Là sao hả con lừa trọc?

   Ba từ con lừa trọc tuôn ra từ miệng hoa nghe ngọt như mía Thanh Diệu đem lùi nên anh trai lại khai:

  • Em biết nghề ngủ thuê không?
  • Không. Là sao?
  • Ngủ thuê là khi trại hàng ế ẩm họ thuê người đến ngủ trong hòm.
  • Bà mẹ ơi… nghề chi nghe ớn vậy cưng?
  • Vậy chứ ngon tiền hơn anh luôn có đó cưng. Một đêm triệu bạc luôn đó. Nhưng mà cũng có điều kiện đi kèm.
  • Điều kiện gì?
  • Phải là con gái chưa chồng.
  • Là còn zin đó hả? Thời này kiếm đâu cho ra hả con lừa trọc?
  • Zin hay không chả biết miễn chưa chồng và trang điểm cho thiệt đẹp. Ngủ một giấc sáng ra là ẳm một triệu ngon ơ.
  • Ớn thiệt há? Đàn bà con gái ngủ trong hòm là gan cùng mình.
  • Cái gì rồi cũng quen hết cưng.

   Chuyện cứ thế mà tới nên hết giờ âu cũng phải. Khi con lừa trọc nằm yên cho Quỳnh Như tẩm quất đã qua giờ kế tiếp. Tiền đối với lừa trọc chả là cái đinh gì nhưng, ôm gái matxa và tâm sự lâu vậy là hơn cả thích đúng không thưa cô bác? Lúc cao điểm anh trọc ôm Như chặt khừ mà rằng:

  • Anh yêu em lắm Như ơi.
  • Thiệt hem?
  • Thiệt. Anh yêu em thiệt mờ…
  • Vậy ha? Vậy lấy em làm vợ đi.
  • Em nói thiệt nghe. Làm vợ anh nghe.
  • Thiệt mà… làm cái nghề như em chán lắm. Khách xem ngữ em như món hàng phá phách cho vui chứ chả ra ôn gì. Dẫn em về nhà đi anh. Em làm vợ hiền nấu cơm giặt đồ cho anh.
  • Anh chưa có nhà. Em ở phòng trọ được không?

     Nơi Như ở hiện tại tuy trọ nhưng không hề là trọ. Đó là phòng mà chủ matxa  dành chokẻ làm ra tiền cho họ. Một thiếu gia muốn đáp tại trận thì giá cả phải cao ngất trời xanh lơ, nên phòng phải sang cả như khách sạn ba sao. Có máy lạnh, giường đệm Kimdan, bàn trang điểm cao cấp… ngon vậy mới giữ được phục vụ bởi, chỉ cần làm rau xanh là quý vị đại gia bụng bự thuê nhà có sân có vườn cho Như liền. Như đi nhà trọ ư? Ngu chắc.

       Nhưng con lừa trọc tha thiết rằng anh yêu em anh yêu em lắm lắm… hôm nay ta chui rúc trong chật hẹp và hổ lốn tả pí lù của trọ nhưng mai sẽ khác đi nêu ta quyết. Em nghĩ đúng không? Như nghĩ đi nghĩ lại thấy vậy mà đúng. Nghề của cô lấy thần Bạch My làm tiên sư khách nó xem như đồ chơi nay có ngươi yêu mình vì mình chả thích lăm ru? Như mới báo với ông bà chủ về quê một tuần. Ông bà chủ rằng một tuan thôi nha gái. Lâu quá là không được à? Như theo con lừa trọc về chỗ trọ của anh và đúng một tuần cô quay về vơi matxa thư giãn Hoàng Trinh như đã hẹn.

       Mẹ cha ơi… đâu có muốn là được như ai đó dạy. Trọ của trọc đầu khất thực không bèo bọt hai mươi mét vuông với cái gác lửng mươi vuông mà diện tích cả nền cả sàn là năm chục, bếp và toi-let riêng. Làm có tiền ngu sao ở chật. Hai ngươi một phong Như chịu liền – kẹt cái – phong của cô và con lừa trọc kề bên phòng của những bốn anh trai. Bốn anh nhìn Như ngờ ngợ. Như cũng ngờ ngợ… à… Như đã nói ở trên là ở matxa thư gián Hoàng Trinh ngày như kiếm hai triệu là như bỡn, trong khi đó một xuất khách bo cho Như ba trăm. Vậy một ngày Như đấm lưng và để cho khách ôm mà ngấu véo ít từ dăm đến bảy anh. Các anh đều tha phương làm đủ thức ngành nghề kiêm sống. Độc đinh độc bộ các anh ghe thư giãn tẩy trần là tất yếu. Nhìn Như các anh ngờ ngợ cũng là tất yêu luôn.

      Và… than ôi mới thiệt là than ôi… khi Như đem chứng minh thư đến để khai báo thì cô không ngờ hay ngợ nữa mà dại gia nhà trọ nầy đã từng ngủ vơi cô trongw phòng đặc biệt ở Hoàng Trinh. Vậy nên cô lui về nơi cư ngụ cũ âu cũng là phải quá. Như biêt rằng minh không thể sinh con đẻ cháu làm mẹ làm bà như con lừa trọc của cô mơ ước. Và, một giả sư khất thực thì tương lai chỉ có ma chứ làm chi có Phật trong cái bình bát. Mà Phật là gì để làm chi Như nào có biết.

       Cô bỏ sim điện thoại đang xài. Con lừa trọcgọi mãi mà cứ ò í e thuê bao quý khách…. nên thân chinhđến Hoàng Trinh thư giãn và yêu cầu Như phục vụ. Quản lý bảo cô ấy không còn làm ở đây. Hùng buồn. Buồn lắm. Như – may quá –chả yêu thương chi con lừa trọc nên chả chi phiền não. Cô quên Hùng cái vù như quên bao gã trai khác từ thư giãn đến tình một đêm. Một ngày rất lâu sau cái ngày Như rời phòng trọ mà Hùng trú ngụ -nghĩa là đủ để – con lừa trọc quên cô luôn rồi, Như và bạn Thanh- người đưa cô vào nghề mát-xa- ngoạn du đến một ngoi chùa. Chùa có tên rất lạ là Linh Quy Xà. Chùa thờ ông Chơn Võ đâị tiên. Tích rằng ông Chơn Võ thu phục hai con yêu một rùa một một rắn. Chàu mà thờ rắn ràu ăt là lạ hơn thờ tien phạt thánh thần nên hai cô xin váo gặp trụ trì.

      Một đạo sĩ tay cầm phất trần xú quẻ bằng mu rùa rồi phán:

  • Mỗi người một nghiệp khác nhau…
  • Nghiệp là sao hả thầy?
  • Là cái duyên từ tiền kiếp. Cai nhân tốt hay xấu ta đã tạo ra từ trước trả không hết nên lấn sang kiếp này.
  • Có nghề là sao hả thầy?
  • Nghề là vinh là nhục là giàu là nghèo. Thành công thì vinh thất bại là nhục. Vậy đấy. Con làm nghề gì?
  • Thầy biết matxa thư giãn không? Matxa là nghiệp hay nghề hả thầy?

  Thầy có vẻ rành:

  • Nghìn vàng khôn đổi được mình. Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?Đưa người cửa trước rước người cửa sau là nghiệp chứ không phải nghề. Muốn hóa giải phải buông bỏ và tu mới đặng.

   Nhớ tới còn lừa trọc Như lại hỏi:

  • Còn ôm bình bát khất thực là nghề hay nghiệp hả thầy?
  • Khất sĩ là những người tu hành con ạ.
  • Con không nó giới tăng lữ mà là những người đứng ở ngã ba ngã tư đèn đỏ hay trong chợ mặc áo vàng áo nâu tay ôm bình bát kiếm tiền…

   Đạo sĩ vung phất trần mà rằng:

  • Thiên cơ bất khả lộ.

                                                    Nguyễn Trí

Read Full Post »

TRẦN DZẠ LỮ

Hồi ức DỌC ĐƯỜNG VĂN NGHỆ ( Phần 60)NGÔ ĐÌNH HẢI,NHÀ VĂN RẤT SÀI GÒN

Ngô Đình Hải tốt nghiệp bằng kỹ sư Nông Nghiệp nhưng quên hỏi kỷ là anh đã thực hiện bao nhiêu công trình trên thực địa.? Mà thôi, là chuyện… nhỏ của những kỹ sư nông nghiệp .Nhưng tôi thấy Hải đã làm “thuỷ lợi” trên cánh đồng văn chương một cách cần mẫn với cả trí tuệ, trái tim… khi viết lên tâm tư mình rất người, rất đời và rất Sài Gòn bằng văn phong “tỉnh rụi” của riêng mình, có sức lôi cuốn người đọc đến lạ lùng.Giọng điệu ấy, buộc người đọc phải đọc đi đọc lại nhiều lần không chỉ truyện ngắn, truyện dài, tản văn mà kể cả thơ nữa.Anh chàng này đã từng đọc,sống và đi nhiều nên lối viết rất hiện thực, hiện sinh song không thiếu chất trữ tình, lãng mạn…của một mẫu người có tính cách như Jean-Pall Sartre, Guillaume Apollinaire và Gabri Garcia Marquez cộng lại.

Được biết trước đây, chàng từng là một thanh niên ham học và cũng “quậy” tới bến lúc biết làm thơ tặng nữ sinh.Đã từng là một Hippy Sài Gòn qua cách ăn mặc theo phong trào của thập niên 60.Có lắm nàng “mê tơi “nhưng chàng cũng có nhiều lúc thất thế trong tình trường để chìm trong men rượu…Năm 1968 Hải và Bùi Chí Vinh thành lập nhóm Hồn Trẻ -nơi quy tụ những cây viết đam mê văn nghệ của SG và lục tỉnh Nam Kỳ.Sau năm 75, chàng kỹ sư nông nghiệp trở thành giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn về mua bán xe hơi.Hoạt động thường thường nên Hải không phải là tay giàu có gì.Vả lại,trong người chàng luôn có máu của họ Lục( Lục Vân Tiên )” Giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha” nên chưa sạt nghiệp là may…

Tôi ưa tính bộc trực,thẳng thắn của Hải nên hay ghé 81 hay 64 Trần Quốc Thảo làm vài cốc bia hơi( thập niên 90, thời gian này 81 là nơi tụ hội anh hùng hảo hán văn nghệ thật và cũng đầy văn nghệ dỏm)Ngô Đình Hải thường giao du với các anh em: Vũ Ngọc Giao,Nguyễn Liên Châu,Châu Đăng Khoa,TuấnPolo, Thuỷ , tôi và một số anh chị em khác khi có dịp về SG.Hơn một năm qua không còn dịp gặp Hải và anh em nơi quán cà phê SàiGòn Phố nhưng trong lòng tôi luôn náo nức những buồi sum vầy như thế để ngồi nhắc nhớ ai còn ai mất sau đại dịch quái ác.Tuy vậy, tôi cũng hay liên lạc với Hải qua điện thoại và biết chàng đang viết truyện dài.Mừng thay!Chắc bạn đọc đang chờ đọc tác phẩm của Ngô Đình Hải-người rất Sài-Gòn? Xin giới thiệu truyện ngắn NGỬA dưới đây mà tôi ưa lắm.

NGỬA

Truyện ngắn Ngô Đình Hải

Đoạn đường ban đêm tối và vắng. Tối tới mức gần như đe dọa, bởi những thứ tồi tệ, nghi ngờ, được che đậy bên trong. Bóng tối khoan nhượng và không phân định tốt xấu!

Không ai thấy gì ở bóng tối. Người ta lo lắng, sợ hãi những thứ không thấy đó! Thường là vậy. Nỗi lo sợ với cái thấy được và cái không thấy, hoàn toàn khác nhau. Ở cái không thấy, sự sợ hãi mơ hồ, nhưng lan rộng, bao trùm lên mọi thứ! Nó làm người ta quên, hoặc cố tình quên, là chỉ cần một đốm lửa nhỏ, một chút sáng, soi vào đó, là bóng tối tan biến. Kẻ nhát gan không dám làm. Kẻ gian manh lợi dụng. Bóng tối, tối thêm. Con đường càng lúc càng vắng. Gian trá mãi, lợi dụng cũng cạn kiệt, bóng tối hao mòn. Người ta mới sực nhớ ra, đem trồng một ở đó một cây đèn đường. Có đèn, con đường tự nhiên bớt âm u. Xe cộ bắt đầu qua lại.

Cột đèn non trẻ tự hào vì điều này. Hắn thấy mình như đang thay mặt thượng đế, ban phát ánh sáng cho nhân loại. Như một thứ cứu tinh cho cái sự sống ban đêm của con đường. Ban ngày, khi mặt trời lên, hắn tự cho phép mình nghỉ ngơi, ngủ một giấc dài, mặc kệ thiên hạ. Thế giới của hắn là về đêm. Hắn thích thú, cố đứng thẳng và rọi thật xa. Chỗ nào có sự chiếu cố, ban phát của hắn, chỗ đó mang một hình ảnh khác. Ánh sáng của hắn có sức mạnh của một đạo quân, quét sạch đám âm binh lẩn quẩn. Hắn ngạo nghễ nhìn dòng người, hắn muốn đọc sự biết ơn trên mặt họ. Nhưng ngày qua ngày, điều này không xảy ra. Người ta theo cái vùng sáng của hắn, chui vào và thoát ra thật nhanh. Ai cũng hối hả, không ai để ý, không ai nhớ lại trước đây, khi chưa có hắn. Không ai dừng lại để ngắm, hay hỏi thăm hắn một câu. Có người còn chẳng quan tâm cái ánh sáng từ đâu ra, nói gì tới hắn.

Hắn bắt đầu thấy buồn và cô đơn. Hắn tự nhủ, không cần cái loại qua đường này, chúng thường là những kẻ vong ơn. Hắn dành thời gian để mắt tới những người ở gần hắn nhiều hơn. Những người mà hằng đêm, đi và về, luôn phải nhờ đến sự tận tâm của hắn. Hắn gồng mình chiếu sáng về phía những căn nhà. Như để gửi lời chào, tới những cánh cổng khép mở mỗi ngày và từng con người bên trong đó.

Mãi mê với những thứ này. Cây cột đèn quên mất, cái phía ngay dưới chân mình. Quên rằng hắn có thể thắp sáng cho nhiều thứ trừ… chính hắn. Chỗ chung quanh thân hắn nhập nhoạng. Vẫn còn hiện diện của bóng tối ở đây. Hắn hy vọng họ sẽ nhìn thấy sự hy sinh của hắn, thấy cái thiệt thòi và chịu đựng của hắn. Và khi những thứ hắn tưởng đó, chưa đi tới đâu, thì từ trong cái tối mập mờ chung quanh hắn. Một cặp trai gái còn rất trẻ dừng xe lại. Họ ngồi yên trên đó, thì thầm to nhỏ. Rồi họ hôn nhau, những cái hôn chặt và lâu. Hắn thích thú với vai trò che chắn của mình. Một lát sau, họ rời nhau. Người con gái đi bộ về phía trước. Chắc nhà cô ở gần đâu đây, và cô không muốn người nhà biết chuyện hẹn hò của mình. Chàng trai nhìn theo ngơ ngẩn, đến khi cô đi khuất mới đi. Được vài tối như vậy, rồi thôi. Hắn không gặp lại họ nữa.

Đêm khác, đúng lúc cây cột đèn không ngờ, không chờ đợi. Một gã say lò mò tới, tay vịn vào người hắn, tay kia tuột dây kéo quần, mùi xú uế lẫn mùi rượu bốc lên nồng nặc. Hắn rùng mình, một bên người ướt sũng. Hắn ngạc nhiên, hắn tức tối. Hắn không tin gã say có thể làm điều này với mình. Chưa hết, gã thuận tay ném luôn tờ báo đang cầm, xuống vũng nước vừa xả ra, rồi mới chịu bỏ đi. Thứ nước khai rình ngấm vào trang báo mở sẵn, làm mực nhòe đi và chữ theo đó tan dần…, tan dần. Nhiều người biết gã này. Có người chào gã là nhà thơ. Thì ra vậy. Tối nào gã cũng từ cái quán nhậu bình dân ở đầu đường, về qua đây. Cây cột đèn cũng có cảm tình với cái tướng đi chệnh choạng, bất cần đời của gã. Nhưng làm quen với nhau kiểu này thì tệ quá!

Gã nhà thơ đi khỏi được một lát. Từ bên trong những căn nhà gần đó. Một, rồi hai, ba người đàn bà thò ra, thay phiên nhau. Rất nhẹ nhàng, đặt dưới chân hắn mấy…bịch rác. Một thứ mùi hỗn hợp mau chóng lan ra trong không khí. Người đi đường tránh xa hắn thêm. Vài con chó hoang, ghé qua kiếm miếng ăn, tiện thể cũng xoạc chân, xả thẳng vào hắn không thương tiếc.

Người hắn bong tróc, ngứa ngáy và hôi hám tới mức hắn chỉ dám nhìn ra xa, chứ không dám nhìn lại mình.

Rồi nắng, rồi mưa, rồi năm tháng chất chồng. Cây cột đèn ngày càng tàn tạ. Hắn mơ hồ nhận ra một phần giá trị thực của mình.

Một tối, chàng trai trẻ ghé lại. Một mình. Chàng tần ngần ngó hắn, rồi ngóng về phía con đường lúc trước. Không có cái lưng áo phất phơ. Không còn tiếng bước chân hối hả. Chàng trai nhặt một miếng gạch bể gần đó, rồi bằng tất cả những chất chứa trong lòng, chàng mài lên hắn chữ HẬN. Cơn đau trong người chàng trai trút lên hắn. Cái chữ ám lên thân hắn. Cái chữ đầu tiên hắn mang trong đời. Cái chữ gây ngộ nhận và làm thành một cái tên, lại chẳng mảy may liên can gì đến hắn. Từ đó, người ta nói chuyện về hắn rất thản nhiên: qua khỏi cột đèn HẬN là tới…Kế bên cột đèn HẬN..

.Cái tên vận vào hắn. Giấc mơ về một sự thay đổi lớn dần. Hắn mệt mỏi và chán chường với công việc. Hắn luôn tự hỏi không biết mình còn đứng được bao lâu nữa!

Hắn chỉ còn trông chờ vào một phép lạ. Và rồi cô gái xuất hiện, với cái nhan sắc cũng bầm dập như hắn. Cô như một nhánh cây khô đã lâu không được tưới nước. Cô trôi dạt từ đâu lại không biết. Hắn chỉ nhớ cái buổi chạng vạng sau cơn mưa chiều, những vũng nước còn đọng lại dưới đường. Hắn vừa lên đèn, thì cô đã đứng tựa người vào hắn, lục tìm thỏi son trong chiếc túi nhỏ bên người, bôi lên đôi môi nhợt nhạt. Cô chải lại mái tóc, kéo chiếc áo cho hở thêm bộ ngực nhão nhoét, rồi ngóng ra đường. Cứ chiếc xe nào đi rề rề ngang, cô lại nhoài người ra đón, mời chào như gặp người thân. Không ai dừng hỏi han, cô lại lủi thủi quay vào nép sau lưng hắn. Thì ra cô làm điếm. Hắn đoán già, đoán non, chắc cô làm nghề này cũng khá lâu, trước không biết sao, chứ giờ chắc cùng đường mạt lộ, mới tới kiếm ăn chỗ này…

Vậy mà từ ngày có cô bầu bạn hắn vui. Hắn thấy mình gần với loài người hơn. Hắn chú ý đến sinh hoạt của cô nhiều hơn. Đêm nào cô ra trể, hay bắt được khách, dắt nhau vào cái nhà trọ rẻ tiền nào đó. Hắn bồn chồn, hắn trông ngóng cô trở lại. Hắn thèm được nhìn thấy nụ cười méo xệch và hiếm hoi của cô khi đếm mấy đồng tiền nhàu nát, hay khi cô cúi gằm đầu ăn tô mì gõ, rồi hắt phần nước lèo còn sót vào chân hắn. Từ ngày có cô, những túi rác tự động dời đi nơi khác. Cũng không còn ai ghé xả lên người hắn. Hắn trở lại vững chãi và tự tin hơn. Hắn thầm cảm ơn cô, vì tất cả những thứ cô mang lại, và cầu mong mọi thứ cứ mãi như thế…

Mùa mưa năm đó, có cơn bão lớn vào thành phố, mưa dầm dề từ sáng. Mặt trời lấp ló, mặt trời âm u và mặt trời tắt sớm. Gió ào ào thổi, hàng dây điện chằng chịt trên đầu hắn chao đảo, chạm vào nhau kêu í ới, lửa nhoáng lên từng chập. Hàng dây níu vào hắn, lôi hắn theo. Đất dưới chân hắn rung lên, nứt rạn. Hắn cố hết sức đứng cho khỏi ngã. Nhưng khó quá, lần đầu tiên hắn cảm thấy rõ rệt nhất, sự già nua của mình.

Cơn gió chợt dừng lại, mưa nhẹ hơn rồi dứt. Người hắn nghiêng hẵn về một bên. Chung quanh hắn tối lại, hắn cũng không còn chút ánh sáng nào để phát ra. Hắn như tê liệt. Cứ thế hắn đỗ xuống từ từ. Không biết ngày mai người ta có dựng hắn dậy, hay sẽ mang hắn đi vứt bỏ ở một nơi nào khác. Mặc kệ, đằng nào thì hắn cũng sắp chết. Hắn ngửa mặt lên nhìn bầu trời, mây đen đã tan, mặt trăng sớm còn ở xa, chiếu chút sáng vàng vọt xuống. Hắn thấy trăng đẹp vô cùng. Hắn bắt đầu cầu nguyện. Lòng thành của hắn được chứng. Nàng đang đi về phía hắn. Không ai ra ngoài vào giờ này. Chỉ có cái đói lôi kéo. Nàng nhìn hắn ái ngại, rồi nhìn ra đoạn đường vắng hoe. Hắn nghe tiếng thở dài của nàng. Ông trời chắc cũng nghe. Gã thi sĩ say rượu ngày thường đi ngang là đi một nước. Bữa nay gã chợt dừng lại, ngó nàng đăm đăm. Cô gái lên tiếng trước: “đi không?” Gã gật gật: “…mà bao nhiêu?” “Bao nhiêu cũng được”. Nàng vừa nói vừa kéo gã lại gần. Gã thọc tay vào túi quần, lôi hết mấy đồng tiền trong đó đặt vào tay nàng: “ở đây hả?”. Cả hai sát vào nhau, nhấp nhô. Nàng tựa lưng vào cây cột đèn, nửa đứng nửa ngồi. Gã say trút hết sức lực, hì hục thở. Cây cột đèn trân mình chịu đựng. Mặt trăng trốn mất dạng. Hai cái bóng dính chặt. Rồi cũng xong. Một tay kéo quần, một tay vẫn nắm chặt tiền, nàng nói: “đi…tui mời anh tô mì…” Gã say xua xua tay, rồi gập người ói thốc, ói tháo lên người hắn. Cô gái điếm vỗ vỗ lên cây cột đèn, không biết để cảm ơn hay chào từ biệt, rồi đi thẳng. Gã say ráng đứng dậy, loạng choạng đi theo sau.

Trong đống thức ăn nhầy nhụa gã vừa ói, những thứ thực sự của chính gã vừa trào ra không kiểm soát, cứ nhấp nháy những dòng chữ, thứ chữ không giống chút nào, với cái chữ trên tờ báo, trong vũng nước đái hôm nọ.May mà gã còn ói được..

NĐH

……

thơ chàng:THƠ NGÔ ĐÌNH HẢI

,

DỤ DỖ

hay là mình cứ yêu nhau đi em

để có khóc thì khóc chung một lúc

có giông bão còn nắm tay nhau được

chứ cuốn trôi rồi ai nói ai nghe

hay là mình cứ ở chung đi em

cho năm tháng cạn có nơi nương tựa

cho những đoạn đời cháy trong bếp lửa

biết đâu còn hơi ấm một nồi cơm

hay là mình cứ ngủ chung đi em

nhà còn mái che đâu mà e ngại

hong cây lá ướt cho nhau cùng sưởi

mơ thấy bên ngoài bóng một quê hương

hay là mình cứ đi chung thôi em

xa thật khuất chỗ ta đang mắc cạn

về sông cũ làm lục bình trôi dạt

hoa nở tím buồn cũng bớt cô đơn…

NHANG KHÓI

cuối năm nhớ quá , lên chùa cũ

tìm bóng em ngồi tụng Pháp Hoa

sư hỏi : ” sao không vào mà lễ ?

“thưa : ” thiếu tiếng ai kia niệm Di Đà ! “

chỗ ấy còn thơm hương Bồ Tát

mà , giang hồ bụi cứ theo chân

sợ vô tình chạm tan đi mất

lỡ một hồi kinh với mõ chuông

nam mô , tình dẫu coi như nghiệp

cũng có cho mình được chút duyên

xin gửi khói nhang trong chánh điện

người ở bên ngoài đỡ nhớ thêm .

.BỮA NHẬU GÓP

Đám bạn cũ gặp nhau rủ nhậu

Đứa nào có gì góp nấy

Một tên chìa ra chai rượu gạo

– Tao góp “nước mắt quê hương” cho nó mau say

Cho quên đi cái trống rỗng của tháng ngày

Ly rượu nhỏ lọt thỏm trong lòng bàn tay

– Tao góp mấy tiếng cười

Cho những giấc mơ thấy đường về trong đêm tối

Tên khác dốc cạn ly không nói

Lặng thinh đếm coi còn thiếu mấy chỗ ngồi

– Tao góp thời tuổi trẻ xa xô

iChiến tranh đã qua lâu mà mất mát còn hoài

– Tao góp bằng Tú Tài đôi

Công ăn học đem ra đứng chợ trời

– Tao góp những cuộc tình ngây dại

Yêu mà sợ chiếc khăn sô trên đầu người con gái

Tên khác cúi mặt không nhìn ai

Lẩm bẩm góp câu

– Lũ chúng mình sinh nhầm thời!

Tên nữa móc túi đặt lên bàn mấy tờ tiền giấy

– Tụi mày đừng ngại, trong đó toàn nước mắt và mồ hôi

Tên còn lại cho tao góp với

Cái thứ thèm uống cho trôi

Thứ không thuộc về mình lâu rồi

Thứ người ta định nghĩa là…Cuộc đời!

Có mỗi chai rượu mà chừng đó mồi Phải say thôi!..

.*TIỂU SỬ NGÔ ĐÌNH HẢIKỹ sư Canh Nông, Bắc di cư, sinh Hải Phòng, sống và lớn lên ở Sài Gòn. Nhóm thơ Hồn Trẻ với BCVinh (1968). Viết tự do. Đã xuất bản: Nhỏ ơi(thơ), Đời ơi (thơ), Ngửa (tập truyện ngắn), Còn&Mất (truyện dài).Đang in: Tôi ơi (thơ), Nghiệt (tập truyện), Phù Hư (tập truyện), Giang hồ khô nước mắt (tiểu thuyết).Tôi nghĩ và hy vọng Ngô Đình Hải còn mãi tư duy để đi,sống và viết như câu nói nổi tiếng của nhà hiền triết Descartes: Tôi tư duy nên tôi tồn tại( I think,therefore I am).Trần Dzạ Lữ( Xuyên Mộc 16.10.2021)Hình : Nhà văn NĐH

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

           (Nguyên tác tiếng Ý: Donare un momento di serenita’)

                               Bản dịch của Trương Văn Dân

            Trong xe khá yên lặng nhưng bên ngoài mưa đang rơi rất mạnh.

Những đám mây đen rủ ren nhau từ buổi chiều bây giờ đang phóng thích hơi nước tích tụ thành một cơn mưa xối xả, mọi vật xung quanh mờ mịt vì màn đêm cũng vừa buông xuống, ánh sáng chỉ lóe lên từng chặp nhờ đèn pha từ những chiếc xe hơi chạy ngược chiều.

Tôi muốn chợp mắt một chút để nghỉ ngơi nhưng xe cứ nhảy dựng vì ổ gà, luồng sáng chiếu lên mặt kính làm chói mắt và tiếng còi xe inh ỏi liên tục nhấn lên nên giấc ngủ không thể nào đến được.

            Thoạt đầu tôi còn nghe tiếng nói chuyện của Nga, Kim Đức và cô bạn Hồng Hoa ngồi ở băng sau, còn bên cạnh là chồng tôi đang trao đổi với Châu và Tự, chú em rể đang ngồi  bên cạnh tài xế. Nhưng về sau, có lẽ vì quá mệt nên mọi người im lặng, ngủ gà ngủ gật hay buông trôi theo ý nghĩ của mình.

Vì đã trễ nên trước khi về thành phố Qui Nhơn chúng tôi cho xe dừng lại ở một quán cháo vịt.    

Hơi nóng và mùi thơm bốc lên từ tô cháo làm chúng tôi tỉnh ngủ. Cảm giác như vừa nhận được một sự trợ gíup, không chỉ hâm nóng cơ thể mà còn cả tinh thần.

Hôm ấy không phải là một ngày dễ dàng… nhưng sự mệt mỏi của tôi còn do những buồn phiền từ những ngày trước đó.

Chuyến công tác từ thiện lần này được chúng tôi chia làm nhiều đợt: Buổi sáng di chuyển bằng xe máy đến trung tâm trợ giúp các em bé ở thị trấn Bình Định và buổi chiều đi phát gạo và tiền cho những bệnh nhân nghèo đang chạy thận ở bệnh viện Qui Nhơn. Ngày cuối chúng tôi phải đi xa, đến thị trấn Phú Phong để phối hợp chương trình cùng các bạn trong gia đình Phật tử.

Chúng tôi đã đi trên những con đường nhỏ hẹp và đầy bụi dưới cái nóng kinh hồn, bầu trời chỉ thỉnh thoảng mới có một cụm mây, để mang đến chút niềm vui cho những người bất hạnh. Nhưng cũng may là về chiều trời mới đổ mưa, điều này giúp chúng tôi tránh phải lội bùn hay gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng về đến nhà. Điều đầu tiên mà tôi ao ước là được tắm rửa để xóa đi những mệt nhọc và cơn buồn ngủ. Dòng nước ấm làm trôi đi những bụi bặm trong ngày nhưng những ý nghĩ thì vẫn còn đọng lại.  

Từ đôi mắt tôi chảy xuống ngoài những giọt nước còn có thêm vị mặn của nước mắt. Tôi  không thể nào xóa đi trong tâm trí những khuôn mặt co quắp vì đau khổ hay nỗi xót xa khi thấy những thân thể teo tóp, biến dạng vì bệnh tật trong những cuộc đời bất động, những con người im lìm, không thể tự túc nhưng ánh mắt vẫn còn ánh sáng. 

 Đó đây vang lên những những nụ cười của các trẻ em câm điếc cùng những đôi mắt để bày tỏ lòng tri ân, bởi vì để cảm ơn không cần phải dùng lời; Đôi mắt đầy lệ của bà mẹ 90 tuổi bị con cái bỏ rơi, của người đàn ông còn trẻ nhưng thân mang trọng bệnh mà không tiền chạy chữa, ông đâu còn có tương lai. Rồi còn đôi mắt đẫm ướt của một cô gái trẻ đang mang thai, một thân một mình nên không biết định mệnh sẽ đưa về đâu.

 Ôi bao nhiêu đau khổ toát lên từ bàn tay sần sùi, chai sạn của người đàn ông mà tôi đã nắm lấy để an ủi, mấy tháng trước ông còn làm việc ở một công trường hay bàn tay đen đúa của một bà nông dân suốt đời cúi gập mình trên ruộng gieo mạ để nuôi sống gia đình và cũng để nuôi sống cả chúng ta.

Tôi đã siết chặt những bàn tay biến dạng vì viêm khớp, có nhiều nút sưng to như trên những cành cây cổ thụ hay những bàn tay trắng xanh và mỏng manh như cánh hoa hồng của những em bé, có lẽ do sống nhiều thời gian giữa bốn bức tường, vì sợ ánh sáng hay không còn muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài.

Tôi đã ôm chầm lấy em bé mồ côi mẹ ngay từ ngày sinh đẻ hay lau khô những giọt nước mắt của những người không còn cử động.

Những cuộc đời bị cầm tù trong thân thể vì thiếu chân để trốn chạy, thiếu tay để tự vệ hoặc yêu thương. Họ không thể ôm lấy một ai để bày tỏ lòng yêu mến hay cảm nhận được hơi ấm của tình người!

Nhưng tôi nghĩ là mọi thứ còn kinh khủng hơn vì thiếu những cử chỉ thân thiện. Thường thì không ai có thời gian để ban tặng một vòng ôm. Đối với nhiều bác sĩ hay y tá thì chỉ có sự chẩn bệnh, trị liệu là quan trọng. Tất cả đều được khái quát hóa và người bệnh chỉ là một kẻ chiếm một giường nằm, nếu may mắn có được một chiếc giường để ngả lưng. Và điều này hiện nay phổ biến trên toàn thế giới, bệnh nhân đang trở thành một con số và mất đi bản sắc của mình vì chẳng ai còn quan tâm đến họ như một con người, không ai cần nhớ đến quá khứ, cuộc đời hay nỗi cô đơn của họ. Người ta dễ dàng quên đi là những cụ già này, những bệnh nhân kia cũng là người và từng có một đời sống đầy phẩm giá. Trong tình huống đó, cuối cùng thì giàu, nghèo chẳng có khác gì nhau, khi người ta không còn cảm nhận là mình đã từng hiện hữu. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Mới hôm qua thôi[1] của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và hiểu là sự đau khổ làm đã làm những  diễn ngôn trở thành vô ích.

Đầu óc tôi bỗng hiện lên hình ảnh một bà cụ, lúc bà vừa nấu xong một nồi cơm, đang đặt lên bàn thờ vài quả trứng chiên, một điã rau xào cùng bát canh rau vì hôm ấy là ngày giỗ chồng. Khi thấy chúng tôi, bà liền mời ăn cơm với bà. Tôi biết đó là cách mà bà muốn cảm ơn về món quà của chúng tôi mang lại nên ai nấy cũng đều vô cùng xúc động.

Ôi, bao nhiêu đau khổ trong những cuộc tồn sinh của bà! Mỗi ngày lặng lẽ trôi qua, bà không nhìn thấy một ai và chỉ trao đổi vài lời với một chú mèo con, chân bị cột vào thanh giường vì nếu nó chạy mất thì bà sẽ không còn biết vì ai để sống. Đợi chờ. Bà luôn đợi chờ một ai đến,  có thể đó là một bà hàng xóm ghé qua thăm và có mang cho bà tô cháo. Thỉnh thoảng lắm mới có những khuôn mặt lạ và họ đã để lại cho bà một vòng ôm, truyền cho bà chút hơi ấm đặc biệt qua hai bờ vai mảnh khảnh, rung theo tiếng nấc và đến từ trái tim khao khát tình người.

Tôi lau mặt và nhìn thấy trong gương đôi mắt đỏ của mình. Tôi giặt vội quần áo để loại bỏ mồ hôi và bụi đường và sau khi phơi ở hành lang, tôi bước lên giường để ngả lưng.

Nhưng những ý nghĩ vẫn còn nằm đó! Tôi không thể nào chặn nổi những ý nghĩ cứ  trỗi dậy trong đầu.

Trong trí tôi vẫn còn đọng lại hình ảnh một bà cụ già, trên người mặc chiếc áo màu tím, cầm cây gậy trúc cao hơn đầu mình chống ra cổng vẫy tay chào khi chúng tôi từ giã và sắp bước lên xe đậu ở phía bên kia lề đường. Đứng tựa người vào gậy, lưng dựa vào hàng rào, bà vẫy tay chào lần nữa để tỏ lòng biết ơn vì năm nay chúng tôi vẫn còn nhớ đến bà.

Mấy năm trước chúng tôi cũng đã gặp bà, luôn gầy ốm nhưng trong ánh mắt không thiếu tia sáng của nghị lực và lòng can đảm. Tôi còn nhớ bà và một bà cụ khác cũng ở gần nhưng năm nay đã không còn nữa. Chiếc phong bì dành cho bà cụ này chúng tôi đã dành cho một gia đình khác cũng đang cần giúp đỡ.

Khi tham dự vào một công tác thiện nguyện thì tôi không thích chụp hình, thế nhưng lần này thì chú Tự đã ghi hình và có lúc còn quay phim, mục đích lưu lại để chuyển cho những bạn ở xa đã đóng góp tiền bạc nhưng không tham dự được. Có bạn biết một vài trường hợp và nhờ chúng tôi thay mặt giúp đỡ. Nhưng có lẽ hiện thực mà chúng tôi chứng kiến còn nằm ngoài những trí tưởng tượng của họ. Bằng những đồng tiền nhiều nguồn, có thể góp được từ những buổi làm thêm, của một bà cụ già hay của một đôi vợ chồng trẻ gửi về để làm công đức cho đứa con gái vừa mới ra đời, tiền hoa hồng của một cô sinh viên làm thêm trong những giờ rảnh rổi, tất cả góp lại và gửi về để chúng tôi có thể đại diện họ mang lại một chút niềm vui cho những người khốn khổ. Mỗi người đều muốn đóng góp phần của mình, ít hay nhiều không quan trọng vì phát xuất từ những tấm lòng.

Tất nhiên tôi không thể nào đo lường được những bận rộn và lo âu của Nga, Xuân, Nguyệt, Kim Đức, Hoa, Hảo… để tổ chức về chuyến thiện nguyện này, dù đã nghe rất nhiều cuộc điện thoại, thấy nhiều lần trao đổi qua email, FB, tham khảo ý kiến của các bạn trong gia đình Phật tử Tây Sơn như anh Lộc, Như Trang… để xem xét các trường hợp, và bổ sung vào danh sách những người cần giúp.

Những đóng góp cá nhân tuy nhỏ nhưng mọi người đều cùng làm nên cũng đã giúp được nhiều người.

Tối đó tôi không thể nào dỗ được giấc ngủ. Đầu óc tôi cứ miên man nghĩ về những phận người, những cụ già hay em bé bị bỏ rơi, cô độc và bệnh tật. Tất nhiên không chỉ là những người mà tôi vừa thấy, vì trong thế giới này, chỉ cần mở một trang báo là thấy những hoàn cảnh như thế càng ngày càng tăng. Nguyên nhân có thể rất nhiều, nhưng với những người khốn khổ thì nào có quan trọng gì, cuối cùng cũng chỉ là đau khổ, đói khát, chết chóc và cô độc.

Khi chúng tôi đến trung tâm người khuyết tật thể chất và tâm thần thì có một người đàn ông đã gây cho tôi một ấn tượng mạnh lúc tôi đến trao cho ông chiếc phong bì. Vẫn nằm yên, mặt quay vào vách, ông cầm phong bì rồi ném ra xa. Sau vài lần như vậy thì cô y tá bảo tôi đừng quan tâm vì ông ta rất bất thường.

Có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được cái bờ vai của ông ấy, và cái cách mà ông từ chối người lạ mặt. Thái độ của ông chính là sự khước từ cái thế giới này và chỉ chấp nhận nhìn vào mắt của những người đồng cảnh ngộ. Sự chọn lựa của ông là không thèm nhìn vào sự thật của bệnh tình.

Có thể là chỉ khi nhìn vào bức vách trắng thì ông ta mới tin rằng mình là một người bình thường, là có thể sống một cuộc đời khác, tưởng tượng vẽ lên bức vách đó những ý tưởng, những nhân vật hay sự kiện mà chỉ mình ông biết để tạo ra một thế giới riêng biệt và vẹn toàn.

Có lẽ ông không điên, không hề, và đã tự tìm ra cách để giảm bớt đau khổ, đã tìm thấy một cách giải quyết những vấn đề hiện sinh của mình để có thể tiếp tục sống.

Nếu ông ta quay lại, giả sử ông đã nhìn vào mặt tôi, có lẽ ông sẽ nhìn thấy trong mắt tôi bao niềm thương cảm và sẽ hiểu ra tình trạng của mình, như thế thì có khác gì ông ta đã  hủy diệt cái thế giới siêu thực mà ông đã khó nhọc tạo ra?

Tất nhiên tôi phải tôn trọng sự chọn lựa của ông và cần tìm hiểu lý do của thái độ khác thường đó, vì thật ra biên giới của sự bình thường và điên loạn rất đỗi mong manh.

Vì chính tôi cũng đã nhiều lần dập mạnh cánh cửa vào mặt cái thế giới tàn nhẫn này! Nhưng dù thế nào thì qua những an ủi và trợ giúp trong những ngày qua, có lẽ chúng tôi cũng đã gửi được một thông điệp hy vọng và an lành.

Có thể đây chỉ là một niềm an ủi nhỏ nhoi, nhưng chỉ sau những suy tư ấy mà tôi đã chìm vào giấc ngủ.

Sài Gòn, Ottobre 2019


[1] https://www.dohongngoc.com/web/huom-huom/nhung-nguoi-tre-la-lung-canh-mai-san-truoc/moi-hom-qua-thoi/

Read Full Post »

Older Posts »