Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Từ Nguyên Thạch

.

Giấc ngủ trưa chập chờn bị đánh thức bởi tiếng gõ cửa khe khẽ. Nhìn qua cửa kính. Lộp độp, lộp độp… Ồ, mưa ! Mưa đầu mùa!

Vùng ngồi dậy mở cửa sổ. Gió hất tung mái tóc, mang theo mùi đất ẩm vào phòng, ngai ngái và thân quen. Chợt nghe lòng rưng rưng vì một điều gì rất khó nói. Như thể gặp lại người thân.

Mưa rơi tí tách trên mái nhà. Những chồi cây lấm láp bụi giờ như mới được lau sáng màu xanh làm lây niềm vui sang con người. Tôi ngắm nhìn. Tôi lắng nghe. Mưa gõ cửa ký ức đánh thức những kỷ niệm ngủ quên bao tháng ngày trong tôi. Mở cửa, rón rén bước ra hiên. Chợt thấy trong tôi có thằng bé chạy ào ra sân tắm mưa, uống vào lòng những giọt nước mát, mẹ kêu mãi không về. Mưa của ngày hôm qua đây mà! Ôi, mưa không có tuổi! Vâng, mưa vẫn là đứa trẻ của ngày xửa ngày xưa. Còn thằng bé ngày xưa bây giờ trở thành người đàn ông tuổi lục tuần, tóc đã bạc, trán đã hằn những nếp gấp của thời gian, giấc ngủ khi chập chờn khi mê mệt. Nhưng hình ảnh thằng bé ngày xưa cười toe toét dưới mưa thì còn mãi trong lòng.

Mưa có gì bên trong mà lưu giữ bóng người không phai?

Mà đâu chỉ một hình bóng cũ, mưa còn lưu giữ cả một phận người. Lớn lên đi học xa nhà, có những chiều mưa bay qua cầu Bình Triệu gió rít nghe lòng lạnh cóng nỗi nhớ nhà da diết. Nhớ nồi sắn luộc nóng hổi mạ nấu chiều đông. Ra trường đi dạy. Những cơn mưa rừng miền Đông Nam Bộ làm tối cả một góc trời. Nhớ bạn bè trùm mền đánh tú lơ khơ cho qua cơn đói. Nhớ những hôm thầy trò ngồi trong lớp nhìn mưa giăng ngang trời, phòng học không cửa nẻo, gió thốc vào lạnh thêm nỗi nhà.

Và với thành phố này, ta có biết bao kỷ niệm với những con người ta yêu. Để thêm yêu từng mái hiên, góc phố, hàng me những lần trú mưa hò hẹn…

Bây giờ bạn bè đã xa, người còn người mất. Chỉ còn mưa vẫn về mỗi cuối mùa năm học. Mới hay mưa là tri kỷ. Trong mưa chiều nay xui ai đầy tâm sự. Trải hết lòng ra cho nhẹ cõi lòng. Vì vẫn có người lắng nghe, chia sẻ, võ về, an ủi. Đời đi qua với bao niềm vui nhưng sao cũng lắm nỗi buồn. Đời một lần đến rồi đi như làn gió nhưng sao tình đời cứ nặng lòng ta? Vì mưa dạy ta hãy sống hết lòng với thời khắc hiện tại. Mới thấy cuộc đời có quá nhiều điều tốt đẹp mưa muốn kể cho ta. Mưa dạy ta sống chân tình, chung thuỷ. Vì trước mưa ta không giấu được điều gì. Mưa dạy ta sống hết lòng cho nhau vì không có cuộc đời thứ hai để đến.

Chiều nay, lấy ra cái áo mưa cũ xếp lại phẳng phiu đón một mùa mưa nữa lại về. Tôi lại xuống phố, song hành với mùa mưa đang đến.

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.( Nhân ngày lễ MẸ …Tôi gởi lên đây một bài viết với tất cả nỗi lòng của MỘT NGƯỜI MẸ VIỆT NAM …Xin tặng tất cả những ai còn có MẸ)

.

MẸ….. .MOMMY………MAMA……MÁ……MOTHER……MAMAN

Tất cà những chữ viết thân thương, những từ ngữ phát ra từ môi mỗi người bắt đầu bằng chữ M.

Nhưng chữ ” Mẹ ” phát ra từ môi của nhũng người Việt Nam vẫn nghe ấm nồng và thân thương nhất vì tôi là người Việt Nam

, Tôi được người Mẹ Việt Nam sinh ra tôi và tôi thừa hưởng di sản quí báu ấy của người và tôi cũng đã làm công việc thiêng liêng ấy giống như người…

Tôi cũng đang làm mẹ với bốn đứa con…

Chúng ta là những người Mẹ Việt Nam.

Tôi không phải là một nhà văn lỗi lạc , một nhà thơ giỏi giang …Không thể dùng hết những từ ngữ, chữ viết hay nhất để diễn tả hết những tinh hoa, những con chữ sâu lắng hay hùng hồn nhất để trang trọng nói lên những niềm vui, nỗi lòng ngưỡng mộ viết hết tâm tư mình khi nhắc đến hai chữ “NGƯỜI MẸ” và nhất là người Mẹ Việt Nam trên trang viết này nhân ngày lễ mà tôi sắp trình bày.

Ngày lễ “MOTHER!S DAY”

Chỉ còn hơn 10 ngày nữa …Năm nay ngày lễ Mother!s day rơi vào chủ nhật ngày 10 của tháng Năm …

Ở Việt Nam chúng ta thường vinh danh người Mẹ vào ngày lễ ” Vu lan. hay còn gọi là mùa báo hiếu” , vào ngày này ….

Tại các chùa chiền hay tổ chức những buổi thuyết trình hay ca hát, ngâm thơ, tất cả những bài hát về Mẹ…

Trong ngày này các hội đoàn sẽ tổ chức những buổi vinh danh các bà Mẹ.

Họ gắn lên ve áo các bà Mẹ những bông hoa hồng cho những người đã làm Mẹ:

Hoa màu đỏ cho những ai còn có Mẹ.

Hoa màu trắng cho những ai không còn Mẹ

Những bông hoa từ tay ai gắn lên ve áo của các bà Mẹ thật bình thường như một việc làm tự nhiên và không chút xúc cảm về màu sắc..

.Nhưng đến một ngày nào đó….Cũng trên ve áo mình nhận bông hoa màu trắng ấy…

.Nỗi hụt hẩng của đứa con mất Mẹ, nỗi trống vắng tâm hồn về một tình thương bao la đã vụt bay xa, tâm tư của người con mất Mẹ sẽ cho ta nỗi thống khổ ngút trời…

Một cuộc tình đã ra đi…chúng ta sẽ tìm thấy một cuộc tình kế tiếp, cuộc sống và tiền bạc có ra đi khỏi tay ta …

Chúng ta sẽ tìm lại được bằng chính đôi tay mình…

Nhưng khi đã mất đi Cha Mẹ…

Ngàn đời ta vẫn là kẻ mồ côi.

Trong văn chương Việt nam của chúng ta có câu:

Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp ngọt như đường mía lau

Những người Mẹ Việt Nam của ngày xưa qua bao thời đại vẫn là tấm gương sáng ngời, chịu thương chịu khó, thắt lưng buộc bụng lo toan cho đàn con không quản ngại nắng mưa, những người Mẹ quê không biết dành cho mình miếng ăn ngon, không bao giờ nghĩ cho thân mình

Tác phẩm Bông hồng cài áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh luôn nhắc nhở chúng sinh phải biết phận sự của con cái với cha mẹ đã luôn đi vào lòng người như một bài học cho mỗi đứa con.

Hay những bài Trường ca Mẹ cũng là những ngôn ngữ của văn chương nhắc ta nhớ về những công khó và tấm lòng của Mẹ cho con, những người mẹ Việt Nam chân chính

Mẹ Việt Nam không son không phấn

Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn.

Những người Mẹ quê của ngày xưa và cả ngày nay cũng được nhạc sĩ y vân viết lên bài ca Lòng Mẹ, bài ca này đã đi vào lòng tất cả những người Việt nam, cho dù ở bất kỳ nơi nào trên trái đất, những người dân Việt khi nghe bài hát này đều thấy lòng rưng rưng và nỗi xúc cảm dâng trào …

Lòng Mẹ bao la như biển Thái bình dạt dào..

.

.Lòng Mẹ tha thiết như làn gió lùa rì rào…

+++

Những người Mẹ trên biển Đông cũng đã đi vào truyền thuyết, những người Mẹ đã từng cắt tay mình chảy máu cho con thơ được no lòng qua cơn đói khát, những người Mẹ xả thân bảo vệ con mình trước nanh vuốt của bọn khát máu hung tàn trên biển Đông không quản ngại thân mình qua những lời kể lại của các thuyền nhân hay nhũng gương hy sinh trên khắp cùng trái đất…

Những gương sáng và những tấm lòng hy sinh cho con trẻ của các bà Mẹ Việt nam, cũng được nhắc nhở qua bao giấy mực, nhưng thực tế những đứa con của Mẹ, những con người bằng xương bằng thịt do Mẹ tạo ra cũng chưa mấy ai làm nổi cho Mẹ một nụ cười trọn vẹn…

Câu nói nào vẫn còn vẳng bên tai ta :”Nước mắt không bao giờ chảy ngược”.

Cũng để nhắc nhở mọi người nhìn lại mình trong cuộc sống xử thế cho phải đạo chứ không phải là sự bất biến của cuộc đời, trong những kinh nghiệm và triết lý sống của bản thân con người …

Trong cuộc đời thường của người dân Việt, theo nếp sống của những con người Á Đông, cha Mẹ và con cái có thể chung nhau một mái nhà, những ngôi nhà cổ hay những gia đình Việt nam vẫn sống chung ba bốn thế hệ hay thậm chí năm hay sáu thế hệ chung một mái nhà…

Thường gọi theo từ Hán Việt là tam , tứ, ngũ…

Tứ đại đồng đường hay Ngũ đại đồng đường..

.Là một phúc đức cho họ tộc đó, vì ông bà cha mẹ , con cháu, chắt…Sống chung với nhau trong một mái nhà.

+++

Những chuyện ở bên ta không mấy khi xảy ra ở các nước Âu Tây, khi đời sống văn minh và thích cuộc sống riêng tư và những điều kiện vật chất dư thừa, mỗi con người muốn hưởng trọn những lạc thú riêng mình, mặc dù cha mẹ cũng dưỡng nuôi con cái cho tới ngày thành đạt hay cũng có những cha mẹ chỉ lo cho con trẻ đến tuổi 18 là cho chúng ra góp mặt với đời, tự do bương chải, tự do quyết định cuộc sống của mỗi người.

Những con người chúng ta, nhũng ai bất hiếu với đấng sinh thành thì cũng chỉ là những con người không làm nên công trạng gì cho bản thân và xã hội,

Những con người đáng phỉ báng và không đáng làm người

.Đó là chuyện của ngày xưa…

Vì thế chuyện nói về cha mẹ và tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ là chuyện hiếm thấy trong xã hội tự do bình đẳng của các nước phương Tây.

Khi con cái đã trưởng thành, mỗi người tự tìm một chỗ ở của riêng cá nhân đó, tự quyết định lấy cuộc đời của mỗi người, tự do tìm bạn và tự do kết hôn và tự do ly hôn khi không còn thấy thích hợp với người bạn tình mà họ cảm thấy không thích hợp nữa.

Chuyện của kẻ phương Tây khi tìm đến nhau cũng một mục đích cuối cùng là tìm nhau với cảm giác lạ và điểm cuối ” vẫn là cái giường ” là mục đích cuối .

Khi những cha mẹ Việt Nam phân tích sự việc này cho con trẻ thì bị con cái cho là ” những người già tụt hậu và cho là đấng sinh thành phạm một lỗi la762m to lớn đối với xã hội phương tây ngày nay???

+++

Riêng phần cha mẹ dù già hay trẻ cũng tự giải quyết lấy cuộc sống của họ, nếu chẳng may một người đã sớm ra đi hay không sống được với nhau đến phút cuối cuộc đời thì cũng tự đảm đang lấy những sinh hoạt của mình ..

Vì thế cái cảnh một người sống trong một căn nhà và chỉ mỗi một người trong căn nhà của mình, ra vào cũng chỉ một mình, ốm đau thì cũng chỉ một mình vào bệnh viện hay tự động tìm cho mình một chốn yên thân, gởi mình vào các viện dưỡng lão để xung quanh có những người cùng cảnh ngộ với nhau cho khỏi tủi lòng ….Và từng ngày:

Hái sao đang chớp trên trời

Trăng soi bóng nước, cỏ mời dấu chân

Bước đi những bước âm thầm

Gió lay bóng lá, cõi người… cõi ta….

+++

Trong một năm cũng có hai ngày lễ để tưởng nhớ đến Cha Mẹ, đó là ngày lễ :

“Mother!s day” và ngày lễ ” Father!s day “

Ngày lễ dành cho Mẹ rơi vào ngày 10 tháng năm năm nay , khi đến ngày này các con cái thường mua một tấm thiệp chúc mừng Mẹ :”HAPPY MOTHER!S DAY” và một món quà gởi về cho Mẹ,:”’

Có thể là một túm hương thơm, một bó hoa , một túi xách hay một bộ quần áo hoặc một cái gilft card , có thể mua bất cứ lúc nào mẹ thích và vật gì mẹ thích….

Và với người cha cũng vậy…

Sự biểu lộ tình cảm của con cái nơi chốn văn minh này cũng thể hiện qua từng ấy sự việc…sau ngày lễ những bậc làm cha mẹ cũng chỉ ngậm ngùi mân mê những gì mà con cái ban tặng cho mình..

.Đôi khi bận rộn với công việc chúng quên mất cái ngày “Báo hiếu ” này thì những bậc làm cha mẹ cũng chỉ ngậm ngùi “thông cảm” cho đám con mình.và vui lòng dấu tiếng thở dài vì không thấy bóng con về .

Tấm lòng của những bậc làm cha mẹ thì muôn đời vẫn rộng mở và lúc nào cũng ki cóp vun quén cho các con, dành hết mọi sự tốt đẹp cho con trẻ, nhất là những bậc làm cha mẹ là người Việt Nam, suốt đời cặm cụi, hy sinh tất cả cho đàn con, mong cho các con thành đạt và có cuộc sống và chỗ ngồi vững vàng trong xã hội văn minh..

.Sau khi chúng đủ lông đủ cánh thì xin trả chúng về cho nước Mỹ và những đứa con mang dòng máu da vàng mũi tẹt, nhưng bây giờ chúng đã dùng phương pháp giải phẩu tiến bộ nâng mũi lên thật cao ..Sửa sang tất cả những chỗ cần vun đắp cho giống người phương Tây nên cũng sinh hoạt giống kẻ phương Tây chăng???

+++

Những bậc cha Mẹ Việt Nam vẫn biết trước những oái oăm của cuộc đời nên đa phần cũng muốn lui vào bóng tối, nhường ánh sáng văn minh cho con trẻ trong sự cam chịu và hảnh diện vì đã có những đứa con giỏi giang do mình sinh ra, vẫn vui vẻ trong cam chịu và không tiếng thở than, và vẫn hòa niềm vui khi mỗi lần nhắc đến những đứa con…

Mà một đời Mẹ đã dưỡng nuôi cho đến ngày thành đạt.

Mẹ vẫn biết :

Con sông nhỏ không trở về nguồn

Nước vẫn chảy về lòng biển lớn

Mỗi đứa con …Dòng sông của Mẹ

Hòa biển đời… Lòng Mẹ bao la.

Những tấm lòng của các bậc làm cha mẹ không bao giờ muốn lụy phiền cho con cái, chính là những đức tính mà chúng ta đã học tập từ cha mẹ chúng ta của ngày xưa, những cha Mẹ Việt Nam của những ngày xưa xa lắc xa lơ..

.Những cha mẹ quê của chúng ta ngày cũ mang bản chất chân quê, suốt đời bên bờ tranh ngõ cụt , một nắng hai sương, chạy bữa ăn cho chúng ta mỗi ngày, kiếm miếng cơm bằng mồ hôi nước mắt..

Vì thế … những người làm cha mẹ thế hệ chúng ta vẫn hằng tưởng nhớ cha mẹ mình và trong tâm luôn nhớ về công ơn khó khổ ấy :

Mẹ tôi đó :

Chẳng ngại nắng mưa luôn ngửa mặt

Nhọc nhằn trĩu nặng cả đôi vai

Ví như con đổi thời gian ngược:

Đổi cả nhân gian : Tiếng Mẹ cười

Ngày xưa con không biết có ngày lễ Mother!s day để dâng lên Mẹ những bông hoa Sen tinh khiết, những đóa Hồng ngát hương.

Bây giờ con chỉ biết gởi lên bàn thờ Mẹ, những bó hoa mà các con của con gởi về biếu Mẹ chúng :

LÀ CON CỦA MẸ

Bây giờ con xin mượn ngày này dâng lên Mẹ những hương hoa thế tục gởi Mẹ :

NỖI LÒNG CỦA NGƯỜI MẸ VIỆT

NAM

Bây giờ cuộc sống của những người mẹ già ” lưu vong”:

Là sự đợi chờ mỏi mắt khi các con ban cho mẹ già một ân huệ: ” Là cho các cháu về thăm mẹ mỗi tuần hay mỗi tháng trong năm???

Đôi lúc các con muốn mượn một lỗi lầm nhỏ nhặt của mẹ để được làm ngơ …không chút quan tâm khi cha mẹ già yếu, trái nết đôi lần…

Được làm ngơ hay ” Lơ đẹp” cho khỏi phiền hà khi nghe ai nhắc đến…rằng ta cũng còn có ” đấng sinh thành”…

Thật tội nghiệp cho những bậc làm cha mẹ lưu lạc xứ người( Tôi không dám lạm bàn về những đứa con còn trong quê hương Việt Nam )

Những bà cụ già nơi xứ xa …Luôn mỏi mắt chờ mong con cháu ghé thăm..

.Một ân huệ mà trời còn ban cho họ…

Thân phận của người già còn có chỗ để chờ mong???

Nhân ngày lễ MẸ …Tôi chỉ muốn nói lên nỗi hoài mong của một người mẹ Xứ xa.

.Những ai còn có mẹ hãy nhớ rằng : ” Mai này ta cũng sẽ già…Và ta cũng sẽ giống người mẹ già hôm nay là Tôi…”

Atlanta April 29th 2026

Nguyên hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

 Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Cuộc sống hiện tại hối hả và bận rộn, nhiều khi chúng ta lướt qua quá nhanh chẳng kịp lưu lại điều gì, ví dụ những ngày này hàng cây hai bên đường đã xanh hơn, những mầm non đã lớn thành cành nho nhỏ sau mùa bão lũ.

Chưa kịp ngoảnh nhìn lại thì ký ức đã chất chồng lẫn lộn. Nhớ na ná đâu đó điều này điều kia chắp vá như đã từng xảy ra, từng đi qua, thỉnh thoảng lại nôn nao khi bất chợt chạm những gì yêu thương cũ. Tất cả đó, đã là thuộc về.

Trong khu vườn trường sáng nay, nắng đã tràn lên mọi nẻo hành lang, những lối đi về phủ tràn đầy nắng, bất chợt làm cho con người ta nhớ về những ngày mưa dài rong rêu. Dọc theo khuôn viên, từng ô cỏ hình chữ nhật là những gốc cây đại thụ. Nào phượng, điệp vàng, xà cừ, những thân đước cao vút ngút ngàn dấu vết cuống lá đã từng xanh trên thân cây. Những thân cây sần sùi thời gian, trên một thân cây lại ký gửi, nương nhờ nhiều đời sống khác. Lan rừng, tầm gửi, bồ đề, rễ lơ lửng trong không khí, treo mình giữa gió, uống nắng dầm sương.

Sinh tồn đôi khi là chuyện bám được vào đâu đó giữa chênh vênh. Là học cách chịu đựng bóng râm khi chưa tới lượt mình đón nắng. Là biết chờ mùa mưa, dù tháng ngày đang khô khốc. Ngước nhìn lên tán cây, bầu trời bị chia thành nhiều mảnh bởi những đường gân chằng chịt nhưng luôn tạo ranh giới, nhường nhịn. Sự sống, vì thế, không phải lúc nào cũng tròn trịa và ngay ngắn. Nó có thể méo mó, ký sinh, chen lấn, thậm chí làm tổn thương lẫn nhau. Con người cũng vậy, có người sống vì có niềm tin, về một điều gì đó để vui, hạnh phúc. Có người bị những nỗi buồn quấn quanh như tầm gửi. Mọi thứ đang lặng lẽ sinh tồn. Như khi đứng dưới một thân cây đầy vết tích, chúng ta nhận ra rằng điều lặng lẽ mới là sự kiêu hãnh của đời sống.

Những thân cây già luôn mang dáng vẻ rất giống con người khi đã đi qua nhiều năm tháng. Mùa này, những thân cây khô khốc đứng lặng giữa trời không một chút gió. Ngước nhìn lên thật kỹ mới thấy trên sự khô khốc ấy đang có biết bao đời sống khác nương tựa vào. Sự sống đôi khi thật lạ, có thể nảy mầm ngay trên một thân cây cháy sém, một cành cây đã trụi lá, hay giữa khoảng không chẳng có gì để bấu víu.

Có lẽ con người cũng vậy.

Có những người nhìn bên ngoài rất mạnh mẽ vững vàng như thân cây lớn đứng giữa trời, sâu bên trong họ cũng đầy những vết thương. Họ vẫn đi qua cuộc đời với vẻ bình thản, vẫn che mát cho người khác dù chính mình đã có lúc chực gãy đổ. Và cũng có những người sống như dây leo. Họ không đủ mạnh mẽ để đứng một mình nên phải bám vào một điều gì đó, một niềm tin mong manh rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt hơn. Người ta thường nghĩ dựa dẫm là yếu đuối nhưng thật ra đôi khi đó chỉ là cách để tồn tại. Giống như những rễ cây treo lơ lửng giữa trời kia, có lẽ chúng chẳng thích chênh vênh nhưng đó là cách duy nhất để chúng tiếp tục tồn tại.

Ngước nhìn lên một lần nữa, những tán cây đan vào nhau giữa nền trời xanh. Bên cạnh những nhánh cây chết khô vẫn bám víu vào đó một chùm lá của loài khác, xanh non và mềm mại. Sự sống luôn là như vậy, luôn tồn tại đồng thời với tàn úa, với mất mát, chia lìa. Hình như mọi thứ mùa này đều lặng lẽ như đang ngủ yên đâu đó đợi mùa mưa đến để hồi sinh. Tất cả vẫn còn đủ lòng tin để sống tử tế với cuộc đời.

Niềm vui sáng nay là tôi đã nhìn thấy một thế giới ấy. Thế giới nhiều tầng của các loài cây trong khuôn viên trường. Tôi là người thấp nhất bởi tôi phải ngước lên nhìn chúng. Tôi vẫn bình thản ngẩng đầu nhìn trời. Vẫn đủ dịu dàng để nâng niu một bông hoa, để nhớ đến bao con người đã sống và đi qua, nhớ từng câu thơ của tiền nhân để lại.

Ở Huế, buổi sáng bên con đường ven sông, những hàng cây đổ bóng dài xuống mặt đất. Người đi xe đạp lướt qua, mặt trời mắc lại giữa những tán lá, ánh sáng len qua từng khoảng trống nhỏ, lặng lẽ và kiên nhẫn. Xưa Cao Bá Quát đi trên sông Hương mà viết: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Sông Hương không còn mềm mại lững lờ, là một lưỡi kiếm dài dựng thẳng giữa nền trời xanh. Người ta thường nghĩ đến sông luôn là những gì yên ả như bến vắng, con đò, tiếng mái chèo khua nhè nhẹ. Nhưng với Cao Bá Quát, dòng sông lại mang khí chất mạnh mẽ và cô độc, một thứ gì đó vừa đẹp vừa sắc, tĩnh lặng và thiêng liêng. Có lẽ chỉ những người từng đi qua nhiều bão tố mới nhìn ra con sông như vậy. Họ không chỉ thấy nước là nước, cây là cây. Họ nhìn thấy trong đó số phận của chính mình. Một thân cây già đứng lặng giữa trời cũng giống như một lưỡi kiếm đã bị thời gian làm cùn đi nhưng vẫn còn nguyên khí phách. Chính trên thân cây ấy, lá non vẫn mọc, rễ vẫn buông, chim vẫn tìm về làm tổ. Cũng như dòng sông kia, bề ngoài những tưởng là tĩnh lặng nhưng bên trong đang sôi trào sức sống nên vẫn chảy mãi sông ơi.

Con người đôi khi không thể lúc nào cũng mềm mại xuôi theo mọi dòng chảy. Có những lúc phải biết giữ lấy phần cứng cỏi của mình giữ lấy một đường thẳng giữa rất nhiều cong vênh của cuộc đời. Sự dịu dàng là một vẻ đẹp, kiên cường mới là thứ giúp người ta đi qua giông gió. Sóng xô vào đá mới thấy mình trắng xóa, vạn vật trên đời luôn neo vào nhau, có thể như sóng và đá kia nhưng mắt người không nhìn thấy đó thôi. Nếu không có ghềnh đá đứng đó, có lẽ sóng chỉ lặng lẽ đi qua như một dải nước xanh vô danh không biết mình có thể tung bọt vỡ vụn rồi sáng lên dưới mặt trời đẹp đến thế.

Vạn vật gắn bó vào nhau, lặng lẽ sinh tồn như sóng và đá kia. Con người thường nghĩ mình tự do, tự đứng một mình giữa cuộc đời. Nhưng thật ra ai cũng đang được giữ lại bởi một điều gì đó. Đôi khi chúng ta chẳng để ý gì tiếng chim hót líu lo mỗi sáng, hay hàng cây trên một con đường quen thuộc đi qua, một góc quán xưa gợi nhớ thềm nhà cũ. Tự đứng một mình giữa cuộc đời chỉ là mắt người thường quen nhìn những thứ lớn lao mà quên mất những sợi dây nhỏ bé ấy. Cho đến một ngày nó đứt đi ta mới biết mình từng neo vào đó nhiều biết dường nào.

Read Full Post »

Hạt mưa quen

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Tí tách…tí tách…tí …tách

Âm thanh đều đều …thánh thót nhẹ tâng như tiếng đập nhẹ của con tim, âm thanh ấy rơi vào tai tôi biết bao buổi sáng khi giật mình tỉnh giấc, thân quen rơi vào không gian tĩnh lặng như một điệp khúc du dương mờ nhạt .

Gần hai tuần qua,,,trở lại nhà cùng những thân quen trong căn nhà mới đến, những cỏ cây trong vườn khô cứng tự bao ngày…

Sáng hôm nay vừa tỉnh thức, chùng chình trên chiếc giường cô quạnh …mở bàn phím định tìm ý viết một chút cho các học trò cũ tôi vào đọc mỗi ngày…

Nhìn qua khung cửa…sân sau ướt sũng vì những hạt mưa trút xuống vào tối hôm qua…

+++

Là những hạt mưa từ mái nhà chảy vào ống máng và thánh thót chảy xuôi vào cái thùng phuy lớn để giữ nước tưới vườn rau sau nhà, vườn rau đủ loại mà hàng ngày tôi chăm chút, di dời từ nơi này sang nơi khác, vun xới , tỉa tót từng cây non, lá úa ; và cũng chính là niềm vui duy nhất của tôi trong thời gian này.

Ôi những lá rau lang non mướt mới gieo trồng … những lá húng thơm, lá rau chua mượt mà và những tía tô tím thẫm, rau răm, rau quế, ngò gai, hành hẹ, ớt xanh, ớt vàng, ớt tím…

Những chậu và nhiều thứ khác khi trở về tôi đã bắt đầu mua về

chăm chút .

Hàng năm cứ vào cuối tháng ba khi tiết trời vẫn còn se se lạnh tôi đã mặc áo ấm , đeo bao tay, giang mình đào xới trên mảnh đất vẫn còn chút hơi lạnh của những ngày tháng đông giá chưa qua.

Không giống những cơn mưa ào ạt rơi , ồn ào trên mái tôn, lao xao chảy tứ tung vào những kẽ hở, những lỗ đinh hở hang của mái tôn xiêu trong những căn nhà mái tôn tạm bợ, bỡi chỉ là những vách mượn của nhà kế bên..

.Khi mưa xuống , nước chảy vào nhà không mời gọi, sau một trận mưa cả nhà thu dọn tàn cuộc mất hết cả nửa ngày, những mái tôn ngày ấy đã từng che mưa nắng cho cuộc đời đã qua của tôi trong những ngày xa xưa ấy…

Cũng là những cơn mưa …nhưng hạt mưa bây giờ làm mát mẻ những cây lá khu vườn nhà tôi bây giờ, giọt mưa rơi bây giờ chỉ làm cho người nghe cái cảm giác gợi nhớ, chỉ làm người nghe trở mình lười biếng muốn nằm thêm , không muốn di dời thân xác bên trong chiếc mền còn ấm hơi người qua một chặng dài được ấp ủ…

lơ mơ nhìn lại quãng thời gian qua…

Rồi chợt buồn, chợt mãn nguyện hay chợt vui sao với chỗ của mình, tôi đã bằng lòng với chỗ của mình khi những hạt mưa bây giờ gợi nhớ chuyện năm xưa.

Cũng chỉ là những hạt mưa …những giọt nước từ trên trời đổ xuống nhưng những âm hưởng và lợi ích khác nhau qua bao nhiêu chặng đường dài của một kiếp làm người, những mơ ước không thành, những mơ ước lãng quên…

Những kiếp đời khổ ải cũng chỉ vì những hạt mưa cuồng nộ,

.

Sự trông đợi, sự cam chịu hay sự hờ hững không mong đợi ngóng chờ cũng chỉ là do tâm trạng và cuộc đời của mỗi con người cảm nhận và qua bao chặng thời gian và không gian trong cuộc đời mà ta không nhìn thấy .

Mưa luôn đi với nỗi buồn…mưa đến rồi đi, rơi rơi rồi tạnh…

Còn nỗi buồn thì luôn quắt quay ở lại bên mình, gậm nhấm nỗi riêng tư, tái tê, ủ ê và phiền não.

Nỗi buồn luôn dấy lên trong những lúc một mình nghe mưa rơi tí tách, đó là tâm trạng của rất nhiều người.

Mưa còn làm muôn sinh vật trở mình xanh tốt, đem lại cho khung cảnh quanh ta một màu xanh tươi sáng lạn…

Nhưng đôi lúc cũng làm ngập úng mọi nơi đem nước tràn bờ và nỗi đau mất mác, những trận mưa dai dẳng từ ngày này sang ngày khác mang bao khổ lụy cho những người dân nghèo không chỗ nương thân, những mái nhà xiêu đổ và những tàn phá vì mưa rủ theo bão táp phong ba.

Ôi những trận mưa dai dẳng nơi mảnh đất miền Trung khốn cực nơi chốn sinh ra tôi.

Ngày còn ở quê nhà mỗi lần nhìn mưa rơi nặng hạt trên mái tôn xiêu, hay những lần chạy mưa thôi làm ướt chiếu giường trong căn nhà ẩm thấp, dùng chậu thau hứng những giọt nước vô tình chảy xuống căn phòng, lúc ấy những hạt mưa không mời gọi đã làm khổ một quãng đời tôi.

Hay những lần đợi mưa trở lại để chực chờ hứng lấy những giọt nước trời ban , đủ dùng cho mọi sinh hoạt trong gia đình thay cho những thùng nước cáu bẩn múc từ mé sông tạp nhạp những vật thãi bẩn thỉu ..

.Thời gian gia đình tôi còn sinh sống tại miền Tây thuộc tỉnh Hậu Giang vào thập niên tám mươi nơi vùng đất xa mờ thuộc Kênh D vùng Cái Sắn ..

(.Gia đình tôi bị trục xuất khỏi thành phố, về đây tìm chốn nương thân,)

Mưa đem lại hy vọng và sức mạnh cho mẹ con tôi ngày ấy

Thời gian này mỗi lần nằm nghe cơn mưa đổ …lòng eo sèo “mơ ước chuyện tương lai”…

Mơ sao có được căn nhà đúc hai ba mê, khi cơn mưa đến không thon thót lo ướt giường thấm chiếu…

Mơ nhà mình có nước máy chảy phủ phê, chỉ cần đưa tay vặn là ngập tràn nước mát, không dùng thau , chum, can ,cóng chực chờ hứng giọt nước trời ban…

Mơ sao những đứa con tôi không “bụng ỏng đít beo” vì uống vào cơ thể những bợn nhơ bẩn thỉu…chỉ giọt nước của trời mới tinh khiết cho muôn người,

Mơ sao … cho đám con tôi được sởn sơ như cây xanh chóng lớn.

Và còn biết bao điều mơ ước khi con người ta gặp cảnh khốn cùng chỉ biết than thở cùng trời cao, tỉ tê cùng mưa bão.

Đôi lúc hận mình, hận nỗi gian truân, giọt nước mắt hòa vào giọt nước mưa rơi xuống, tinh khiết và chen phần não nuột, những giọt nước mắt buồn thương cho thân phận cũng đã bao lần hòa chung giọt mưa bao bận, mà mưa vẫn là nhân chứng cho tiếng nói tận con tim.

+++

Bây giờ mỗi sáng giật mình tỉnh thức nghe giọt mưa tí tách bên tai mà không sợ ướt chỗ nằm, không sợ thiếu nước dùng khi thức dậy,

Bây giờ những ước mơ đã thành tựu, giọt nước mưa đã làm chứng nhân bầu bạn, chính những giọt mưa cho tôi nhận biết sự bằng lòng với những gì mình có được…

( bỡi lòng tham của con người là vô hạn, được mấy người nhận biết mình đã hoàn thành những ước mơ…)

Uớc mơ bé nhỏ của những ngày mới lớn với ông xanh: Tôi chỉ cầu xin trời thôi mưa…

Chóng nắng cho mẹ tôi được buôn may bán đắt sau buổi chợ về không bị ướt cơn mưa…

Ước mơ sao cho chỗ nằm của mấy mẹ con tôi không bị sũng nước vì những lỗ đinh trên mái tôn tuôn đổ lấm ướt cả chiếu giường cho giấc ngủ được bình yên..

Mơ sao…ngày hôm sau tôi khỏi phải thu dọn tàn cuộc bỡi cơn mưa trong nỗi buồn lấm ướt…

Ước mơ cơn mưa xuống giữa ban ngày cho mẹ con tôi hứng được nhiều nước mưa đủ dùng cho những ngày kế tiếp, cho nguồn nước tinh khiết không đem bệnh tật đến cho đám con thơ.

Những ước mơ bé mọn theo tháng năm lớn dần theo bánh xe quay đều nhịp, tôi lăn xả vào cõi người với muôn vạn đắng cay khổ ải, quên mất những ước mơ bé mọn ngày nào, quên đi bao nỗi lo toan và những điều hằng mơ ước.

Những ước mơ lớn dần và trở thành vô tận, những tham vọng trở mình,..

Nếu không nhờ những hạt mưa thánh thót rơi tí tách bên tai khi giật mình trở giấc vào chặng đời của ngoài ” Bảy bó ,”

Những ước mơ trở lại trong buổi hoàng hôn… gợi nhớ trong tôi những mơ ước đã thành hình, khi tóc xanh đã đổi màu thì mới chập choạng nhận ra.

Bây giờ dẫu cơn mưa kéo dài bất tận, rả rích từ ngày này sang đêm nọ…tôi cũng chỉ đứng sau rèm nhìn ngắm hạt mưa rơi..

.Mỉm cười không chút buồn lo.

_ Hôm nay mình sẽ bình an … ngồi viết chuyện năm xưa..

_ Hôm nay mình sẽ gọi các con về ăn món bánh xèo chiên…vì là ngày mưa …

_phải vậy.

_ Hôm nay mình sẽ cám ơn những hạt mưa đã làm chứng nhân cho những mơ ước mình đã vuông tròn.

_ Cám ơn những giọt mưa bây giờ trút xuống làm tươi rói những cánh hồng mới nhú trong vườn nhà tôi bên kia khung cửa kính,

Làm đẹp khu vườn nhà tôi và tươi tắn nụ cười tôi.

_ Cám ơn những giọt mưa ngày mai sẽ trút xuống làm tươi rói những bông hoa trên mộ chí mà người thân và bạn bè trao tặng tôi buổi giã từ.

_ Cám ơn những hạt mưa tắm mát tuổi thơ tôi

Làm chứng nhân cuộc đời tôi

Ngày mai tắm mát xác thân tôi

khi tôi giã từ mưa nằm xuống …

Vẳng bên tai …tiếng mưa rơi tí tách

Ước mơ thành và hiện tại bình an.

Cám ơn những hạt mưa đã theo tôi

Tí tách, tí tách…hay tràn sân mưa đổ

Vẫn bình yên …gọi thầm những hạt mưa đêm

Mưa tí tách…

những đêm đông lạnh giá

Thấy bình yên

trong chỗ chỉ mình ta

Ta quay về

những ước mơ ngày cũ

Lòng ngậm ngùi

ngóng đợi hạt mưa quen.

Xin cám ơn những hạt mưa quen.

Lawrenceville April 17th 2026

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Read Full Post »

Lê Trọng Nghĩa 

.

Tôi cũng đã đi qua một phần đời đắm sâu với thơ và chữ nghĩa. Nhưng ở đây, tôi chỉ có thể nói từ chỗ của mình, chỗ của một người làm nghệ thuật thị giác. Tôi không muốn định nghĩa thay nhà văn. Càng không muốn đứng ngoài mà phán quyết văn chương phải là gì, nên là gì, hay được phép dùng công cụ nào. Tôi chỉ muốn nhìn câu chuyện hôm nay bằng kinh nghiệm của thân thể, của xưởng, của vật liệu, và của những biến động mà nghệ thuật tạo hình từng đi qua.

Tôi từng tin phẩm giá của điêu khắc nằm ở mồ hôi đổ xuống vật liệu. Nằm ở những ngày đứng lì trước đá, trước gỗ, trước sắt thép. Nằm ở việc học nghe tiếng thớ gỗ, độ câm lặng của đá, mùi khét của mối hàn như một phần kéo dài của cơ thể mình. Tôi từng nghĩ chính sự vật lộn trực tiếp ấy mới làm nên tư cách của người làm điêu khắc. Rằng phải có tay, có sức, có va đập, có bụi, có lửa, có những sai lệch rất nhỏ của cơ thể in lên bề mặt vật chất, thì hình khối mới thật sự mang linh hồn của người làm ra nó.

Bởi vậy, khi công nghệ số và in 3D bắt đầu đi vào xưởng, tôi không thể nói mình không bị chạm tự ái. Tôi biết có những nhà điêu khắc ngày nay không còn trực tiếp chạm vào vật liệu theo cách cũ. Họ phác thảo, dựng hình trên máy, thử nhiều phiên bản, chọn một phương án, rồi giao phần thi công cho bàn tay khác. Đứng trước điều ấy, tôi buộc phải tự hỏi, nếu máy có thể gánh bớt phần thi công, nếu bàn tay không còn là nơi duy nhất quyết định hình khối, vậy thì phần phẩm giá mà tôi từng ký thác vào mồ hôi, vào sức tay, vào sự chịu đựng vật liệu ấy nằm ở đâu.

Phải mất một thời gian tôi mới nghĩ khác đi. Tôi nhớ lại khoảng ba mươi năm trước, khi nghệ thuật sắp đặt và nghệ thuật ý niệm vừa ló vào đời sống mỹ thuật Việt Nam. Khi ấy, không ít họa sĩ gạo cội đã mỉa mai khá nặng lời. Đó mà cũng là nghệ thuật sao, chẳng qua là trò bày biện của những người không biết vẽ. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy mỗi lần nghệ thuật bị chạm bởi một hình thức mới, một công cụ mới, hay một quan niệm mới, phản ứng đầu tiên thường vẫn là thế. Người ta nghi ngờ, chế giễu, phủ nhận. Không hẳn chỉ vì cái mới dở, mà còn vì cái cũ trong mình đang bị lung lay.

Đi qua một quãng như thế, tôi mới hiểu rằng mồ hôi của điêu khắc không chỉ nằm trên bề mặt vật liệu. Nó còn nằm trong những đêm thức trắng với bản vẽ, trong những lần xóa đi làm lại, trong sự do dự kéo dài trước một quyết định cuối cùng. Có những thứ người ngoài không thấy. Nhưng người làm nghề biết. Công cụ có thể hỗ trợ bàn tay, nhưng không thể quyết định thay cái nhìn.

Vì thế, không thể chỉ vài câu lệnh rồi đem ra in 3D, hoặc thuê người khác đúc hợp kim, đục đẽo, triển khai, mà thành một tác phẩm điêu khắc. Cái hiện ra trước mắt có thể là một vật thể tạm ổn, một hình thức đủ chỉn chu để đứng đó. Nhưng tác phẩm nghệ thuật không chỉ là một hình thức đẹp được làm ra. Nó còn phải mang dấu vết của một tiến trình, gần như một câu chuyện dài của người nghệ sĩ với vật liệu và hình khối ấy. Nó phải là thứ đã đi qua thời gian, lao động, những lần sai, những lần bỏ, những lần quay lại, những lần tự bác bỏ chính mình để đi tới một quyết định sau cùng.

Bởi vậy, tôi không còn nghĩ giá trị chỉ nằm ở chỗ thủ công hay máy móc. Thủ công tự nó không bảo đảm chiều sâu. Máy móc tự nó cũng không triệt tiêu giá trị. Bởi rất có thể người nghệ sĩ đã đổ xuống đó một quãng mồ hôi rất dài từ trước khi chạm vào máy móc. Điều đáng nói là một hình khối có thực sự đi qua thời gian của suy nghĩ, của lựa chọn, của mồ hôi hay không. Dù là thủ công hay qua công cụ, thứ gì đã thật sự đi qua thời gian và lao động của một ý thức sống, thứ đó vẫn có thể có giá trị.

Trong lịch sử nghệ thuật tạo hình, trước khi máy ảnh ra đời, hội họa hiện thực từng gắn chặt phẩm giá của mình với khả năng tái hiện thế giới. Danh giá của người họa sĩ được chứng thực qua bàn tay mô tả giống thực. Khi máy ảnh xuất hiện, cú sốc không chỉ là kỹ thuật. Với một phần giới họa sĩ, đó còn là một sự xúc phạm tinh thần đau đớn. Điều họ mất hàng chục năm khổ luyện, từ hình họa, giải phẫu đến viễn cận, một chiếc máy lại có thể làm trong một cú bấm. Và đi cùng cú sốc ấy, không ít phản ứng mang màu sắc đạo lý cũng xuất hiện. Tranh mới là nghệ thuật. Ảnh chỉ là cơ khí. Hội họa mới có linh hồn. Máy ảnh chỉ sao chép.

Nhưng lịch sử không đi theo cách đơn giản như thế. Máy ảnh không giết chết hội họa. Nó chỉ lấy khỏi hội họa một đặc quyền cũ, và cũng vì vậy buộc hội họa phải đi tìm một phẩm giá sâu hơn. Monet không còn chỉ vẽ sự vật, ông vẽ ánh sáng đang đổi trên sự vật. Van Gogh không giữ hình thể trong trạng thái cân bằng, ông để phong cảnh và đồ vật rung lên theo cường độ nội tâm. Cézanne bắt đầu dựng lại thế giới bằng tương quan hình khối và mặt phẳng màu, như thể hội họa không còn sao chép cái thấy mà đang nghĩ lại chính cách nhìn. Điều máy ảnh gây ra không phải cái chết của hội họa, mà là một cuộc đau buộc nó phải rời khỏi chỗ trú cũ.

Từ kinh nghiệm ấy, tôi nhìn sang văn chương hôm nay với một cảm giác vừa dè dặt vừa chia sẻ. Dè dặt vì tôi không đau theo cách của những người đã định danh đời mình bằng con chữ, bằng nghề viết. Tôi không sống trọn số phận mình trong ngôn ngữ như họ. Nhưng tôi vẫn chia sẻ, vì tôi nhận ra ở đó những tương đồng sâu sắc với cú chấn động mà nghệ thuật tạo hình đã từng đi qua, khi một công cụ mới chạm tới phần mà người làm nghề từng tin là đặc quyền sâu nhất của mình.

Quanh câu chuyện AI, giới văn chương đang có nhiều phản ứng rất mạnh. Có người khước từ ngay từ đầu. Có người đón nhận một cách dè chừng. Có người rất nhanh đã dùng nó để sản xuất tác phẩm, đem đi dự thi, thậm chí giành giải thưởng. Có người xem việc dùng AI như một sự phản bội. Có người cho rằng một khi máy đã can dự, con chữ không còn thuần khiết nữa. Và rồi người ta mải miết soi xem trong một sáng tác có AI hay không, từ đó mà tranh cãi, mà kết án nhau.

Tôi không đứng về phía cực đoan nào, cũng không thần thánh hóa công nghệ. Tôi chỉ thấy rằng khi một năng lực từng rất hiếm bỗng bị san phẳng, điều bị lung lay không chỉ là kỹ năng, mà là niềm tin rằng mình có chỗ đứng vì mình đã đi qua một con đường khó. Nếu đặt mình vào chỗ của một người đã sống hàng chục năm bằng chữ, đã đổ vào câu văn toàn bộ tự trọng nghề nghiệp, cô độc, kiên nhẫn, và cả phần đời riêng khó nói, thì cú chạm này hẳn không hề nhẹ. Có khi nó còn rất cay đắng và bẽ bàng. Tôi nghĩ điều đó dễ hiểu. Bị chạm vào chỗ từng xem là thiêng thì khó ai bình tĩnh được. Đằng sau nhiều lời phủ nhận gay gắt, đôi khi không chỉ là một lập trường thẩm mỹ, mà còn là nỗi đau của một căn cước, thậm chí một bản thể, đang bị chạm tới.

Nhìn từ nghệ thuật tạo hình, tôi nghĩ biến cố này đối với nhà văn có khi còn đau đớn hơn. Bởi cái bị chạm tới ở đây không chỉ là một kỹ thuật hay một thao tác, mà là chính vùng người ta từng xem như nơi trú ngụ sâu nhất của mình. Nhưng cũng như máy ảnh đã không biến mất vì họa sĩ phẫn nộ, in 3D đã không biến mất vì người làm điêu khắc thấy mình bị xúc phạm, AI có lẽ rồi cũng vậy. Công nghệ không lùi lại chỉ vì lòng tự trọng của người làm nghề bị tổn thương.

Thừa nhận thực tại ấy, tuy nhiên, không có nghĩa là dễ dãi thừa nhận giá trị nghệ thuật của mọi thứ công nghệ làm ra. Tôi không tin có thứ văn chương nào chỉ sinh ra từ vài câu lệnh. Nhưng cũng sẽ có thứ văn chương mà người viết đã dằn vặt rất lâu, đã tiêu tốn thời gian, đã đổ mồ hôi ngay trong những thao tác tưởng như lạnh của máy. Bởi vậy, nếu chỉ neo toàn bộ phẩm giá của mình vào một hình thức lao động cũ, nghệ sĩ rất dễ bị đẩy vào một phẫn nộ kéo dài. Điều ấy có thể hiểu được, nhưng có lẽ không đủ để cứu nghệ thuật. Phẫn nộ kéo dài hiếm khi sinh ra giá trị mới. Phần nhiều, nó chỉ sinh ra cay đắng.

Chữ nghĩa rồi đây có thể sẽ đi vào một tình thế giống hình ảnh sau nhiếp ảnh, nghĩa là trở nên tràn ngập. Chính sự tràn ngập ấy sẽ khiến việc nhận ra giá trị thật trở nên khó hơn, và vì thế cái thực sự có giá trị càng hiếm hơn. Khi việc tạo ra văn bản ngày càng dễ dàng, phương tiện tự nó sẽ không còn bảo chứng cho bất cứ phẩm giá nào nữa. Phẩm giá không nằm sẵn trong chữ. Nó chỉ xuất hiện khi chữ nghĩa ấy đi qua một ý thức sống, một nhãn quan, một lựa chọn có trách nhiệm.

Trong một thế giới ngôn ngữ tràn ngập như thế, có lẽ sự đọc và sự chọn sẽ dần trở nên quan trọng không kém sự viết. Người viết khi ấy có lẽ không chỉ còn là người tạo ra câu chữ, mà còn là người biết giữ lại gì, lược bỏ gì, đặt nó vào đâu, và dừng ở đâu để một hình thức thật sự có trọng lượng. Nhưng sự chọn ấy chỉ có ý nghĩa khi nó đi ra từ một kinh nghiệm sống, một ý thức thẩm mỹ và một trách nhiệm tinh thần thật, chứ không phải chỉ từ sự tiện lợi của việc có sẵn chữ nghĩa sau vài câu lệnh. Theo nghĩa đó, một phần công việc của người viết có khi sẽ gần với công việc của nghệ sĩ nhiếp ảnh hay nghệ sĩ sắp đặt hơn. Không chỉ làm ra, mà còn phải chọn, đặt, cắt, giữ, và chịu trách nhiệm đến cùng với hình thức sau cùng mình đưa vào thế giới.

Từ tư cách một người làm nghệ thuật thị giác, tôi chỉ có thể nghiêng về một suy nghĩ như thế khi nhìn sang văn chương. Bảo vệ sự thuần khiết trong sáng tạo là một phẩm chất đẹp. Nhưng tự nó, phẩm chất ấy vẫn chưa đủ để làm nên giá trị của tác phẩm. Rồi cũng sẽ đến lúc người ta phải đặt tác phẩm của mình bên cạnh những tác phẩm có sự can dự của công nghệ mà tự hỏi, điều gì ở đây mới thật sự đáng kể. Điều đáng bảo vệ nhất có lẽ không phải là sự thuần khiết mang tính nghi lễ của thao tác, mà là sự hiện diện không thể thay thế của chủ thể. Cái giả, nếu có, có lẽ không nằm đơn giản ở việc dùng hay không dùng công cụ, mà ở sự vắng mặt của một ý thức sống, ở chỗ chủ thể rút lui và để cho công cụ chiếm lĩnh phần nhìn, phần nghĩ và phần lựa chọn vốn làm nên chiều sâu của hành vi sáng tạo.

Người ta hay nói chữ là máu thịt. Tôi nghĩ mỗi người viết sẽ tự biết máu thịt ấy nằm ở đâu. Nhưng từ phía mình, tôi hiểu một điều tương tự trong điêu khắc. Mồ hôi không chỉ nằm trên vật liệu, mà còn nằm trong những đêm trắng với bản vẽ, trong những do dự kéo dài, trong cảm giác phải đi tới hình thức ấy mà không thể khác. Nếu văn chương cũng có một thứ mồ hôi như vậy, thì tôi nghĩ nó hẳn không chỉ nằm ở thao tác gõ từng chữ, mà còn nằm trong quãng đường nội tâm dẫn người ta đến chỗ phải viết.

Có lẽ AI đang gây ra một cuộc đau không nhỏ trong văn chương, buộc văn chương phải tự định nghĩa lại mình và đi vào phần sâu hơn của chính nó, đồng thời khiến con người bớt đi những ảo tưởng về các giá trị mà trước đó họ từng nghĩ là bất biến.

Nói tới đây, tôi lại nghĩ đến Duchamp. Cái quyết liệt ở ông không nằm ở chuyện mang một cái bồn tiểu đặt vào không gian nghệ thuật, mà ở chỗ ông dám đặt lại tận gốc những câu hỏi. Nghệ thuật là gì, tác phẩm là gì, và ai có quyền quyết định giá trị của nó. Ông không chỉ gạt bỏ một vài tiêu chuẩn thẩm mỹ cũ, mà còn làm lung lay cả nền tảng từng chống đỡ cho chúng.

Tôi nghĩ văn chương rồi cũng sẽ phải đi qua một thử thách như thế. Và biết đâu trong những năm tới, văn chương cũng sẽ cần một “Duchamp” của riêng mình, không phải để phủ nhận ngôn ngữ, mà để buộc văn chương quay lại hỏi điều gì trong nó mới thật sự là cốt lõi cuối cùng. Khi kỹ thuật câu chữ không còn là nơi trú ẩn an toàn, cái gì sẽ còn lại? Giọng nói, lựa chọn, ý thức, trách nhiệm, hay một cách hiện diện khác của con người trong văn bản.

Rồi có thể sẽ đến lúc người ta bớt dừng lại ở chuyện tác phẩm có AI hay không, để quay về câu hỏi cốt lõi hơn là tác phẩm ấy có bao nhiêu độ sống, độ nhìn và sức nặng tinh thần. Ít nhất, lịch sử nghệ thuật cho thấy rằng sau những cú sốc ban đầu, câu hỏi quyết định thường không dừng ở công cụ, mà quay về tác phẩm, xem nó thực sự mang vào thế giới được điều gì.

Mồ hôi đáng quý, bàn tay đáng quý, thao tác đáng quý. Nhưng cái làm nên phẩm giá sâu nhất của nghệ thuật có lẽ không chỉ là dấu vết của lao động trên bề mặt tác phẩm. Nó còn là cái giá tinh thần mà một con người đã trả để đi tới quyết định cuối cùng. Công cụ có thể giúp ta làm nhanh hơn. Nhưng không công cụ nào có thể sống thay phần ấy.

Và có lẽ, trong mọi nghệ thuật, đó vẫn là nơi khó bị thay thế nhất.

Read Full Post »

Quên

Trần Kỳ Trung

.

.Ông ở vị trí lãnh đạo này, quá vất vả. Công việc nhiều, bề bộn, toàn việc lớn, tưởng như vậy ông sẽ quên những chuyện nhỏ, Nhưng không, ông rất nhớ. Ví như …

Hôm ấy trong phòng kín của một khách sạn sang trọng, cuộc họp kín chỉ có ông với ba tổng giám đốc bàn vốn một dự án lớn đang liên doanh với một nước ngoài, dự án đó đang bị trì trệ, kéo dài mấy năm nay. Nguyên nhân cũng do bên đối tác đang “ doa” nếu không cấp thêm vốn, không những dự án trì trệ mà việc ăn chia “hoa hồng” phải tính toán lại, phận thiệt vẫn bên ông. Nguy hơn nữa, dự án này báo chí , dư luận đang chú ý, nếu không giải quyết hâu quả xấu sẽ đến, không biết sẽ nguy biết chừng nào! Cuộc họp căng thẳng, mọi người gần như quên hết mọi chuyện xung quanh… Ấy vậy mà ông vẫn nhớ, hôm nay đúng ngày giỗ tộc, đang họp khẩn như vậy, ông xin phép ra khỏi phòng họp vài phút điện cho một “đệ “ thân tín, yêu cầu “đệ “ thay ông về quê , thắp hộ vài nén hương lên bàn thờ tộc và cũng thay ông , xin lỗi mọi người. trong dòng tộc.

Qua chuyện này, mọi người trong dòng tộc, từ già đến trẻ, ai cũng bảo ông là người có hiếu.

Rồi một chuyện khác.

Hồi còn làm chủ tịch tỉnh, cứ đến sinh nhật vợ, bận mấy thì bận, ông cũng xin nghỉ nửa buổi, nói lái xe đưa vợ và các con đến một nơi thật đẹp, vắng người, cả nhà quây quần trong một bữa tiệc nhỏ ngoài trời, có bánh sinh nhật, có hoa và nhất là có… nụ cười. Thế mà nay, chuyển ra ngoài này, ông không còn khái niệm tuần, thứ, ngày, đêm… tưởng sinh nhật vợ, ông sẽ không để ý vì công việc ngồn ngộn nhiều như thế kia cơ mà! Nhưng không, ông vẫn nhớ, thậm chí nhớ cả sở thích của vợ. Trứơc khi dự một buổi đại tiệc mừng khánh thành một nhà máy mới của một doanh nghiệp nước ngoài, ông cũng còn kịp gọi điện chúc mừng sinh nhật và mua một bó hoa hồng thật to, thật đẹp để thư ký mang đến tặng vợ. Vợ của ông nhận bó hoa hồng đúng sinh nhật, cười sung sướng, nói với viên thư ký:

-Anh ấy thật chu đáo, chẳng quên một điều gì đối với gia đình, đối với chị !

…Nói chung, ông là một người lãnh đạo lớn có uy tín với công việc nhưng cũng là một người chồng, người cha, người con toàn mỹ với vợ, gia đình và dòng họ. Những việc chi tiết, nhỏ nhất để cho mọi người vui, ông không bao giờ quên.

Ấy vậy, có một việc…

Thư ký báo với ông một tin :

– Thưa anh! Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị B. của tỉnh Q. mất rồi. Bà mẹ vừa được anh trao bằng chứng nhận của Chủ tịch nước bữa trước đó.

Ông sững sờ:

– Hôm ấy tôi thấy má mạnh khỏe lắm cơ mà? Sao má lại mất đột ngột thế?

– Má mất vì bị cảm lạnh, vì hôm má nhận bằng, trời mưa bất chợt, rất to.

– Thế hôm ấy, không có dù (ô) che cho Má à?

– Dạ, hôm ấy ban tổ chức chỉ có một chiếc dù…

– Có dù sao không che cho Má? – Ông tức giận.

– Dạ! Cái dù đó ban tổ chức không che cho má mà … để che cho anh. Chắc anh … quên. – Người thư ký nhìn ông nói ngập ngừng.

Ông giật mình.

Read Full Post »

Trương Văn Dân

           Lời ngỏ về tập thơ

             BÀI CA THẾ KỶ 21

                                ( Về thảm họa và các cuộc Chiến tranh )

                                      Canzoniere del xxi° secolo. Nxb Pace  

                                                    (Bản tiếng Ý  – 10.2025)

                                              Bài ca thế kỷ 21 nxb Thuận Hóa 1.2026

          Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”,  tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.

         Cũng trong năm đó, sự kiện Tết Mậu Thân (1968) thì thơ có thêm chủ đề thân phận và nỗi đau của con người trước cuộc chiến. Chừng vài chục bài thơ lẫn lộn được chép cẩn thận trong một tập giấy pelure nhiều màu.. cho đến cuối năm 1971 nó cũng theo tôi qua Ý du học và hơn 40 sau, năm 2008 lại cùng tôi quay về Việt Nam.

           Tất nhiên đó là những bài thơ xoàng, chỉ dành cho một vài bạn thân đọc chứ chưa bao giờ công bố.

           Năm 1973, bài thơ “Vết thương hồng trên cánh chim câu” được hội sinh viên sáng tác ở Paris đưa vào tuyển tập, tiếc là sau đó bị thất lạc. Rồi  khi làm trưởng ban báo chí của Hội sinh viên Việt Nam tại Milano, tôi viết văn xuôi, chỉ thỉnh thoảng mới lạc vào vườn thơ. Có lẽ đến năm 1987 tôi có viết bài thơ cuối cùng rồi vì công việc mưu sinh nên hoàn toàn bỏ bút.

Mãi đến 1994 được đọc truyện ngắn “Những ngày đánh mất” của Dino Buzzati tôi hiểu được ý nghĩa sâu sắc về thời gian, xưa nay cũng là nỗi ám ảnh thường trực của tôi. Xúc động, tôi  liền dịch ra tiếng việt rồi gửi  cho tạp chí Thế Giới Văn ở Mỹ. Bài được đăng và còn được chủ bút khích lệ nên từ đó tôi mới dịch rồi viết, và bắt đầu cầm bút trở lại. Nhưng chỉ viết văn xuôi.

           Tiếng thơ như đã ngủ im  từ những ngày thơ ấu bỗng một hôm thức dậy.

 Thức dậy vì cuộc chiến  Nga – Ukraine!

          Tôi viết về cuộc chiến này nhưng cũng là viết cho quê hương tôi, cho tất cả những cuộc chiến tranh từ trước đến nay ở bất cứ nơi đâu mà tôi đều cảm thấy vô nghĩa.

Tâm hồn tôi đau đớn khi nhận thấy bao nhiêu người đã chết trong cuộc chiến tranh này, với biết bao kẻ bị tàn tật và bao nhiêu gia đình mất nhà cửa. Tự dưng, như đất bằng dậy sóng, hàng vạn con người bị ném vào lò lửa chiến tranh, nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ trở về nhà vì đã biến thành tro bụi. Nhiều người bị tàn tật và hóa điên vì những gì đã chứng kiến.

Hình ảnh hằng ngày trên TV… cùng những bài nhận định về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ ba có thể nổ ra… đã bật trong lòng tôi những câu chữ. Nó giống như con sò đã nuốt nhầm hạt cát làm mình đau phải tự vệ bằng cách đem máu thịt của mình phủ lên và hóa thành các vần điệu “có thể gọi là thơ”. Nó cần thiết như một trị liệu pháp.

 Thơ  hay không thơ, mới hay cũ, cách tân hay không… tôi chẳng quan tâm..  và kết quả là bài thơ  “Thế chiến 12 đoản khúc” ra đời.

 Bạn Trần Ngọc Châu gọi đó là “Tiếng lòng không thể không viết. ”

Sau đó thì những bài “thơ” khác được tiếp tục viết. Nó mở đầu cho những suy tưởng về thân phận con người  trong cõi sống vào đầu thế kỷ 21.

                                              &

 Tôi không viết cho Ukraine hay Nga mà viết cho quê hương tôi, cho các các dân tộc khác đã bị  bằm nát trong thế kỷ này, từ Trung Đông cho đến Châu Á và lan sang cả Đông Âu. Như Iraq, Libya, Afghanistan, Syria, Crimea,…   Màu máu đỏ của nhân loại có khác gì máu đã  mấy ngàn năm từng nhuộm đỏ đất nước tôi?

Nhìn những đoàn người tị nạn với hành trang ít ỏi, áo quần không đủ ấm dưới nắng cháy da hay mưa tuyết…,  tôi không thể không nghĩ đến những thảm kịch tương tự mà người dân nước tôi đã từng gánh chịu.

Nạn nhân đó cũng chính là tôi và  tất cả những người từng bất lực chứng kiến những khổ đau, mất mát… Ukraine chỉ là chất xúc tác để những cảm xúc buồn đau trong tôi lan rộng, nên viết về họ cũng là viết cho tất cả những cuộc chiến đã và đang xảy ra. 

Bởi những hình ảnh chết chóc ở bất cứ nơi nào cũng giống nhau.

Những cái xác bị thiêu cháy thì da đen da vàng da trắng cũng chỉ là một khối thịt hóa thành than. Một sự bình đẳng đến nghẹn ngào và đau đớn!

                                                *

          Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh những đoàn người gồng gánh, địu con chạy nháo nhào khỏi các vùng chiến sự ở quê tôi. Có cụ già héo quắt, đôi mắt hoảng loạn, ôm cái xác trên tay. Có đứa bé thơ day vú mẹ cạn sữa dần, khóc đến khản giọng mà không hề hay biết người mẹ đã chết thảm bên đường di tản.

Trên Tivi sáng nay tôi thấy một người cha đang vuốt ve khuôn mặt  đứa bé gái và nức nở bảo mọi người hãy nhìn xem cháu xinh đẹp biết bao. Cháu như đang ngủ nếu không có tấm vải liệm màu trắng. Trên một góc phố khác có cậu bé đang vật lộn trong mưa dầm mình trên con đường ngập lụt, cõng trên vai thi thể cứng đờ của một đứa em đã chết mà cậu chưa sẵn sàng xa nên không chịu bỏ lại phía sau.

Bỗng dưng tôi thấy trên khuôn mặt đờ đẫn của những đứa trẻ này khuôn mặt của chính tôi, của cả loài người đang quằn quại trong tuyệt vọng

Với lương tâm con người, những gì đang xảy ra ở Ukraine là không thể chịu đựng.  Để duy trì quyền lực, bán buôn vũ khí… người ta sẵn sàng chà đạp lên hàng ngàn xác chết của người già, phụ nữ và trẻ em vì tội lỗi của họ “là người Ukraine”. Cái hố sâu thù hận giữa Nga và họ đột nhiên biến thành một vực thẳm không thấy đáy và có thể sẽ tồn tại trong nhiều thập kỷ, nhiều thế hệ.

Tôi đã khóc. Dù biết tiếng khóc ấy không làm ai no, không xoa dịu được những vết thương. Không an ủi được người đau khổ.  

 Bỗng dưng tôi nhớ đến những cái tên lạ lùng của những đứa trẻ ở quê tôi.  Cha mẹ đặt tên con là gạo, là cơm, là nhà, là xóm, là làng…  với mong ước  lớn lên chúng sẽ có miếng ăn, có nhà để ở, có quê hương nguồn cội.  Các sư cô hay các “ma soeur” còn đặt tên các bé ở các trại mồ côi  là mẹ, là cha, anh, chị … để nó quên đi thân phận mồ côi, bị bỏ rơi hay được nhặt trước cổng chùa. Rồi đến tên các thôn xóm là An Lạc, Phú Hòa, Thạnh Mỹ.. với ước vọng bình an, giàu có, hiền hòa, … bởi chiến tranh đã tàn phá mọi thứ, chỉ còn lại một đống tro tàn.   

           Hơn 50 năm qua, từ khi còn là một thiếu niên mới lớn, đến giờ đã trở thành một người qua tuổi 70 nhưng nỗi đau xưa trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ như một căn bệnh không thể chữa lành.

          Khi một người bị giết người ta luôn tìm hiểu nguyên nhân và truy lùng thủ phạm. Thế nhưng khi có hàng triệu người bị giết thì mọi người lại dửng dưng! Chẳng lẽ không ai là  kẻ sát nhân? Hay tất cả chúng ta đều là đồng phạm vì đã câm miệng, thờ ơ?            

                                                   *

Các bài thơ của tôi viết trong tập thơ Bài ca thế kỷ 21 -Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh với ước mong là thế giới không còn chiến tranh, khẩn thiết kêu gọi mọi người cùng tưới mầm hòa bình, hóa giải mầm mống bạo lực, tham lam và sợ hãi. Vì chỉ do sợ hãi và nóng giận chúng ta mới chế ra bom hạt nhân, vì tham lam và mê muội nên chúng ta sản xuất vũ khí để kích động xung đột. Chiến tranh chỉ đến từ tâm trí chúng ta, nó đến từ sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ rồi tự làm khổ mình và gây đau thương cho người khác.

Chúng ta đang sống trong một thế giới chia cắt và hận thù. Đã có nhiều người đánh mất niềm tin nên trong mùa Giáng Sinh đã đem đặt Chúa Hài Đồng giữa đống đổ nát của một trận bom.

Nhưng xin đừng bi quan mà  hãy lan tỏa tình yêu vì  đau thương và thống khổ đã có quá nhiều trên trái đất này.

Có thể câu chữ vụng về của tôi giống như tiếng gào trên sa mạc, nhưng tôi thiết tha kêu gọi những người có quyền lực và lợi ích hãy chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh.

Tôi ước mơ được làm người, để sống với nhau, sống cùng nhau và sống cho nhau.

 Bởi chiến tranh nào giải quyết được gì?  Hơn 2500 năm trước đức Phật đã  dạy:

                      “Chiến thắng gây hận thù,

Thất bại chuốc khổ đau,

Ai từ bỏ thắng bại,

An tịnh liền theo sau”. (Tương Ưng Bộ kinh, Samyutta Nikàya I-102)

 Và những ai muốn sống an lạc tránh sợ hãi và khổ đau, hãy từ bỏ sát sanh:

“Hận thù tiêu diệt hận thù

Ðời này không thể có,

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật nghìn thu”. (Pháp Cú, Dhammapada, 5)

                                        *

Có lẽ khi đến một tuổi nào đó, chừng 70/ 80 lòng ta đã lạnh, tim ta đã khô, chuyện gia đình xã hội, cơm áo gạo tiền sau bao năm tháng đã  không còn đè nặng trên vai, thơ như lối thoát, như cái phao giúp ta khỏi chết chìm trong biển đời trước khi bay về miền mây trắng?

          Cuối cùng, tôi muốn gửi đôi lời tới những người đã đọc tập thơ này… Xin các bạn đừng quên, dù sao trái đất này cũng là thế giới tươi đẹp của chúng ta, nó xứng đáng được chúng ta đấu tranh để bảo vệ. Thờ ơ trước cái ác và đóng cửa lương tri liệu có phải là một điều không kém phần tàn ác?     

Đời sống là một thiên đường khi chúng ta biết sống với nhau. Được sống trong một thế giới văn minh, trong một nền văn hóa có tình người rực rỡ. Bất kỳ  nguồn gốc chúng ta ở nơi đâu trên trái đất, không phân biệt màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, thói quen hay truyền thống… Chúng ta hãy nắm tay để đi cùng nhau chống lại chiến tranh để không còn ai bị hành hạ hay bắn giết chỉ vì tham vọng của một nhóm người  và tôi tin chắc không có điều gì không làm được khi mọi người đều chung tay hành động 

Cần phải chứng minh là chúng ta đang có phương tiện tinh thần để chống lại sự tiêu diệt nền văn minh.

Chiến tranh chỉ là sự hủy diệt! Xưa nay chưa ai thấy có cuộc chiến nào nhằm khôi phục lại nhân quyền, tự do hay công bằng xã hội mà chỉ là sự tranh giành quyền lực, kẻ chiến thắng là ông chủ mới, chưa chắc tốt hơn ông chủ cũ mà nó vừa đạp đổ.

Cho dù bạn ủng hộ bên nào, bạn vẫn có thể yêu cầu ngừng bắn, thả con tin và ngừng giết chóc cũng như tiếp cận viện trợ không hạn chế.

Trong mọi quan hệ luôn có điều đúng điều sai nhưng tôi nghĩ không có lý do nào có thể biện minh cho bạo lực và chém giết. Sự hung hãn chỉ để phô bày tính yếu đuối của con người, nó chỉ đập phá chứ  không bao giờ  xây dựng được điều gì tốt đẹp. 

Tôi luôn mơ xây một bức tường in các tranh vẽ, bài thơ hay và có chủ đề chống chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới. Đặt bên những bức tượng  ở nơi trang trọng nhất thành phố: Nó nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên những tội ác và đau khổ,  để chúng ta không trở thành nạn nhân trong tương lai.

Chúng ta không thể quên vì sự lãng quên ấy tạo điều kiện cho cái mầm ác trỗi dậy rồi tiếp tục chiến tranh nhân danh những điều tốt đẹp.

Tôi mong các bạn không lùi bước trước cái ác và cùng đứng lên, bên nhau và vì nhau cho đến chừng nào chúng ta còn sống. Nếu bạn còn chần chừ thì xin hãy tưởng tượng  là bạn đang sống bình yên ở một nơi nào đó rồi bỗng nhiên có một quả phi tiễn từ xa bay tới làm căn nhà đổ sập và người thân của bạn đang nằm dưới gạch đá hoang tàn . Bạn không thể chờ được nữa! Hãy cùng chúng tôi góp phần phản đối để ngăn chận chiến tranh trước khi quá muộn

Bạn ơi, nên nhớ rằng chúng ta luôn thuộc về số đông, chúng ta là một sức mạnh to lớn có thể làm thay đổi mọi thứ. “Chúng ta có thể loại bỏ chiến tranh. Chúng ta có thể nấu thép xe tăng, tàu chiến thành tàu du lịch hay gom hết vũ khí trên trái đất đúc thành những chiếc chuông nhỏ và phân phát cho tất cả mọi người, mời tham gia vào một cuộc đại diễu hành vòng quanh thế giới để kêu gọi hòa bình.

 Đồng loạt, đồng loạt những tiếng thơ trong Bài ca thế kỷ 21 – Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh cũng là những tiếng chuông cùng lúc gióng lên, ngân vang trong không gian, truyền đến mọi quốc gia trên quả địa cầu để tỉnh thức tâm thiện của loài người.

               Milano  12.2022                     

Read Full Post »

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

_ Kệ cứ nằm thêm mười phút nữa, kim đồng hồ chỉ 8 giờ mà trời đã hưng hửng sáng hơn tuần qua, báo hiệu cho những ngày sắp đổi sang những ngày lạnh giá nhất trong năm…

Những buổi sáng thức dậy giữa thinh không mông lung ngàn nỗi nhớ, lồng ngực như khó thở, cố ngăn vài tiếng ho khan khô khốc, trăn trở mình qua lại , tới lui rồi nhủ lòng :

Những ngày đông giá trước mùa Giáng Sinh năm nay… trời ấm lên hơn mọi năm , , mưa đan xen của đất trời tươi xanh vạn vật….

Mùa Giáng sinh mà mọi người có thể khoác lên mình những trang phục mát mẻ hơn mọi năm.

Một ngày như mọi ngày, trở dậy, chặng đường dài đơn côi chùng chình quen thuộc, không vội vàng, không nhìn đồng hồ tay lần nào nữa, thời khóa biểu như đang sẵn có trong tiềm thức…

Tuần tự theo một trình tự nhất định, bất biến và nhuần nhuyễn như người ca sĩ già hát lại bài hát quen thuộc trong suốt chặng đường dài nhai đi nhai lại, như lảo bò già nằm nhai lại mấy miếng rơm khô khốc trong buổi hòang hôn khi xong việc đồng áng mỗi ngày.thức dậy, chuẩn bị cho mình bữa sáng, bữa trưa, pha cho mình ly càphê sáng…

Lại ra vườn sau sân trước, thủ thỉ, thù thì cũng cây cỏ chim muông, hai con mèo nhỏ vẫn theo sát bước chân chủ nhân khắp lối đua chen câu thăm hỏi, nũng nịu và thân mến…

Trước khi rời khỏi nhà bao giờ tôi cũng xách bình tưới nhỏ rưới nhẹ lên chậu cây hoa Quỳnh trước cửa, đặt sự chăm lo, thương mến lên những cánh lá xanh giòn cứng và những kẽ lá như một lời nhắn nhủ:’

“Hãy giữ lại giùm ta những lo toan , hãy cất cho ta mọi ưu phiền của những ngày qua, mong hôm nay là một ngày tốt đẹp”…

Thời gian qua. gần ba thập kỷ …hầu như lòng không muốn giao tiếp với bất kỳ ai trong cuộc sống, những bạn bè xa gần hầu như cắt hết mọi giao tiếp, ngán ngẩm cho tình người, sự tha hóa gian trá của tha nhân…

Ngòai giờ làm việc tôi cũng chỉ vui cùng cây cỏ, chó mèo, chim cá…những vật thể không biết dùng “xảo ngôn” đối đãi cùng nhau, mỗi ngày đi về, đám mèo hoang ngồi trước cửa nhà đọi chủ nhân, hai con chó nhỏ hanh hao tranh giành sự vuốt ve trìu mến…

Sự ấm áp không thốt ra bằng ngôn từ nhưng bằng cái vẫy đuôi, bằng âm thanh xuất phát từ tình thương mến thật ấm áp và vô hình.

***

Thời gian ba thập kỷ sau lưng tôi ngày cũ…

Suốt tám giờ đồng hồ giao tiếp với những người khách hàng thân quen đôi khi cũng lắm nỗi nhiêu khê vì công việc phục vụ cho những khách hàng khó tính, nỗi chán chường vẫn thường len lén tìm về trong tâm trí..

Nhưng chưa bao giờ tôi thấy nhàm chán công việc mình đã chọn, công việc bé mọn giữa xứ người ta mà có thể đem lại cơm no áo ấm cho mình, có thể làm chủ lấy mình không lệ thuộc vào cấp trên hay giờ giấc, công việc cũng nhẹ nhàng không cần nhiều sức lực và bằng cấp.

Nhưng mỗi lần chìm sâu vào tâm tưởng sự buồn chán vì công việc do tha nhân mang lại., những trở ngại vì ngôn ngữ hay những lo lắng vì công việc, đôi khi lòng cũng vương vấn chút ưu phiền.

..Một sáng nào… lại chợt nhớ lại bài viết về người thợ mộc trong câu chuyện mà tình cờ đã được đọc qua trang mạng:

+++ Mỗi ngày sau khi xong việc, với bao nỗi chán chường, mệt mỏi sau một ngày làm việc, người thợ mộc đã dùng đôi bàn tay vuốt nhẹ lên một cây nhỏ trước cửa phòng làm việc, với ý tưởng gởi gấm những phiền muộn lại cho cây xanh, khi trở về nhà với vợ con, người thợ mộc thấy nhẹ nhàng hơn với những ưu phiền gởi lại cho cây xanh nơi chỗ làm.Và từng ngày ông ta gởi mãi những phiền muộn của mình cho cây xanh giữ hộ, nỗi muộn phiền cứ vơi dần theo ngày tháng và người thợ ấy đã mất hẳn đi những ưu phiền mà thấy ngập tràn hạnh phúc và bình an trong việc làm và đời sống.+++

Và từng ngày như thế, trước khi ra về tôi cũng bắt chước cử chỉ của người ấy, cây xanh được tôi mua về để gần lối ra vào của ngôi nhà …

Mỗi chiều trước khi ra vào nhà, tôi cũng đưa đôi bàn tay vuốt nhẹ lên cây xanh với tâm tình gởi gắm lại cho cây những phiền muộn của một ngày làm việc.

Rồi từng ngày như thế…

Từ ngày biết gởi gắm những phiền muộn vào cho cây xanh, tôi bỗng thích trồng nhiều cây xanh trong vườn, những cây trái được mua về, được ươm cấy trong vườn nhà nhiều hơn, mỗi sáng thức dậy tôi bước ra vườn sau sân trước, đưa tay vuốt ve những cành lá xanh tươi, những quả xanh ươm roi hay chín mọng trên cành, gởi gắm nỗi lòng cùng cây xanh bóng mát, những ưu phiền như vợi bớt nhiều hơn là tỏ bày cùng bạn bè hay những kẻ thân quen..

Ở những bạn bè chỉ nhận từ họ những ganh tị, đãi bôi, khoe khoang , phỉ báng nhau và cuối cùng là mệt mỏi và chán nãn vì tình người, tình đời.

Vì rằng trong cuộc sống chẳng ai luôn biết sẻ chia cho ai mãi hòai..mà đôi khi còn tị hiềm, ganh ghét nhau .mà thôi, thực chất chỉ có tự bản thân ta tự giải tỏa những nỗi buồn của chính ta, không ai có thể giúp ta được- ngòai chính ta.không ai có thể giúp ta đứng dậy khi ta vấp ngã mà chỉ tự ta gượng đứng dậy với đôi chân của mình mà thôi

.kẻ khác cũng chỉ chóp lưỡi đầu môi, sau lưng là nỗi mừng vui vì biết ta không hạnh phúc, không may mắn như họ.

Qua mau những tháng ngày chìm sâu trong những nỗi đau mất mát, sai lầm, gặp gỡ những người trong cảnh khốn cùng của cuộc đời..

Khi đã hoàn toàn rời xa công việc…dọn về ngôi nhà nhỏ giữa trung tâm thành phố Atlanta để được gần gũi các con…những đứa con còn biết quan tâm đến bậc sinh thành.

Tôi đã quen biết một người bạn mới, chị rủ tôi đến tham dự một buổi sinh hoạt của một hội cao niên tại đây…

Tôi đã gặp lại một số bạn đồng hương mà tôi đã gặp tại thành phố này gần ba thập kỷ trước…Bây giờ họ không còn nhận ra tôi…Thời gian và bệnh tật đã biến họ thành những kẻ khuyết tật…

Tôi vẫn còn nhận biết ra các chị…Những ngày sau tháng tư đen…chúng tôi đã từng hẹn nhau trên những chuyến tàu chiều về Tuy Hòa , ngủ trọ nơi bến xe hay những nhà dân lân cận khu trại giam của những người ” tù cải tạo” là chồng và cha của những đứa con chúng tôi…

Ngày đó chúng tôi đều là những người mẹ trẻ, xinh đẹp và giỏi giang , đảm đang , đương đầu cùng gian khó, hy sinh cho chồng con trước thời cuộc…

Bốn thập kỷ trôi nhanh trên mái tóc chúng tôi….

Bây giờ gặp lại nhau. các chị không hề nhận ra tôi, cô giáo trẻ của các con chị ngày xưa vần từng lần theo chân các chị giữa núi rừng Củng Sơn ngày xa xưa ấy…

Đêm về… nhìn lại thân mình… mới biết rằng mình còn hạnh phúc hơn người. những bạn bè xưa cũ khi mỗi lần gặp lại cũng chẳng mấy ai được hạnh phúc bình yên hơn ai..

Rồi cũng qua mau một kiếp làm người.

Qua rồi những tháng ngày lận bận vì công việc…những cuộc tình ” không nỡ buông”, thóat ra những mất mát sai lầm của cuộc sống, phải chăng con người đã trở nên khôn ngoan hơn, luôn nhìn đời bằng cặp mắt cay đắng, ngờ vực với rất nhiều người xung quanh khi giao tiếp…

Qua rồi những đau đớn, mất mát, mới thấy thương thân mình và nổ lực đứng lên tự thân mình và những phiền muộn chỉ biết gởi gắm cho cây phiền muộn giữ dùm mỗi ngày cho vợi bớt sầu muộn đơn côi.

Những cây cối mà hàng ngày tôi chăm sóc chính là những người bạn chí thiết cất giữ ưu phiền của chủ nhân mỗi sáng mỗi chiều…

***

Qua chuyến về thăm quê nhà, những lần về nuôi mẹ già tại những bệnh viện tại Sai gòn

Rồi những lần về nuôi chị tôi tại quê nhà …

Hình ảnh của chị tôi… mới ngày nào vẫn mạnh mẽ tốt tươi, nay bỗng chốc biến thành kẻ vô dụng từ thân xác đến tinh thần, chị ngày nào đảm đang , nhanh nhẹn trong giao tiếp xử thế với mọi người…

Một cơn bạo bệnh cướp mất đi mọi linh họat hơn người trong cuộc đời chị…tình thương không biết gởi sao cho vừa với những bất hạnh mà chị gánh nhận hôm nay.

Bây giờ chị ngồi đó, một người già yếu không còn làm gì hơn là sự giúp đỡ của người khác từ bước đi cho đến việc mưu sinh.. Trong mấy chị em, chỉ có chị là nhận nhiều cực khổ nhất trong cuộc đời đã qua, chị chưa có lấy một cuộc tình đôi lứa, chưa một lần sẻ chia đắng ngọt với một người khác phái, chưa một lần có một mái gia đình riêng tư , cả cuộc đời chị cứ quẩn quanh trong căn nhà quen thuộc, mãi mê cùng công việc mưu sinh, cả thời thanh xuân chưa có lấy một lầ hò hẹn, chưa cùng ai sẻ chia đắng ngọt cuộc đời…

Mỗi khi nghĩ về chị và quãng đời đã qua của chị..

Tiếng thở dài xót xa , thương chị vô vàn, tuổi già của chị với vô vàn nỗi đau thân xác, cuộc sóng không công bình với những người chơn chất, hiền lành như chị lại nhận chịu bao thống khổ trần gian…

Những lời thầm thì cùng cây cỏ mỗi ngày tôi vẫn gởi gấm cho đám cây cất giữ mỗi ngày.

Cuộc sống của mỗi con người thật ngắn ngủi và không sao biết trước được ngày mai sẽ ra sao???

Mỗi chúng ta đã qua rồi những ngày sống đủ, nhìn lại bản thân mình và hãy thốt lời cảm tạ, những ngày tháng chông chênh trong cuộc sống đã qua đã cho ta bao niềm thống hận, bao hận tủi cuộc đời, những đua chen giành giật..

Những mơ ước đầu đời cho đến ngày gần kề miệng lỗ..

.Bây giờ đã qua rồi tuổi thất tuần, mỗi chúng ta khi bước vào thời gian của buổi hòang hôn…tất cả đã được định vị bỡi đơn vị thời gian mà tuổi thất tuần là thời gian mức đến..

.Qua rồi những bon chen thế tục, qua rồi những tình ái giối gian…tất cả đã chìm sâu trong dĩ vãng, tất cả đã qua mau và không bao giờ nên quay đầu nhìn lại, giã biệt mọi thứ thuộc thế tục cuộc đời.

Bây giờ mỗi ngày trước khi bước chân ra khỏi nhà , thả mình bên tay lái, những ưu phiền sầu muộn gởi lại những cây xanh sân sau, ngõ trước, nhìn ngắm lại ngôi nhà mới thân yêu do bàn tay mình tạo dựng, mơ ước đầu đời của một thời thanh xuân bỏ lại..

Là tôi đã hòan thành ý nguyện , mơ ước chút bình yên cho cuộc đời mình có được.

Cuộc đời đã qua …xấu tốt, nghèo khổ, khó nghèo, gian truân, khổ hận….tất cả đều đã qua…tất cả chỉ còn là dĩ vãng, còn lại bây giờ là những thực chất mỗi ngày mà tâm tư còn giữ được, cuộc sống bình yên đơn độc đan xen tiếng thở dài….

Buổi chiều từ nơi hồ bơi trở về nhà , gởi gắm sầu muộn lại cho cây phiền muộn cất giữ dùm cho buổi tối về đặng bình yên, cho giấc ngủ không còn chút ưu phiền…

mơ sao trong giấc ngủ bình yên có lần trở về ngôi nhà cũ gặp lại chị em, bà con, bạn bè., các học trò cũ thân thương trong mừng vui bất tận.

Một lần này được trở về nơi đã từng ngày nhìn mình lớn lên, ôn lại những ngày cơ cực tuổi ấu thơ trãi dài theo tuổi thanh xuân bỏ lại và những tháng ngày bôn ba trong cuộc đời khổ lụy…

Biết có lần nào nữa… chân bước ngược về nơi chốn cũ sống lại những kỷ niệm ngày nào…hay bình yên trong nỗi phiền muộn bâng quơ nơi xứ người cô quạnh, từng sáng từng chiều gởi nỗi phiền muộn chín vàng trên cành cây ngọn cỏ…

Trong nỗi muộn phiền và tiếng thở dài luôn là sự tự mãn của một kiếp con người nhỏ bé giữa đất người xa lạ, biết tự vươn lên bằng bàn tay và khối óc của mình, niềm tự hào vì đã làm được điều bé mọn mà tuổi thơ tôi đã hằng mơ ước từ ngày bỏ nước ra đi…

Ưu tư phiền muộn… cũng chỉ là những dấu chấm than cho một bài viết về cuộc đời của một người.

Tất cả xin gởi gấm nỗi bi ai , chút ưu phiền cho ‘cây phiền muộn’ từ đây.

Cám ơn hoa lá Giữ giùm buồn khổ

Cám ơn đời : ta cũng được bình yên

Cám ơn Thượng đế: cho con sức mạnh

Vững tay chèo vượt sóng giữa phong ba

Xin cám ơn

Atlanta Những ngày cuối năm 2025

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Kẻ phản trắc

Ngô Đình Hải

.

Nguy hiểm đi sự kiện. Nguy hiểm hỏi:

– Ai?

Đáp án:

– Kiện bóng tôi!

-Cái gì?

– Phản trắc!

Năm lại hỏi:

– Có nhân chứng không? 

Đợi vú:

– Có! Ở đây! 

nói:

– Ai muốn xử lý theo cách nào?

Đâm gầm xuống:

– Treo cổ! Kẻ phản xạ phải được treo cổ!..

– Được, ta sẽ chọn cái bóng đối với bạn. Ta sẽ treo cổ kẻ phản xạ! Bất kể đó là ai.

– Công cụ, phải như vậy bằng công cụ mới.

Đèn sáng lên, cái bóng được đưa tới trước móng ngựa. Nó thảnh thơi đứng nghe, không chút gì lo sợ.

Cuộc đối thoại bắt đầu. 

Không nói với cái bóng:

– Ta sinh ra hạng. Thuộc tính của ta!…

Cái bóng xò ngang:

– Không đúng! Là ông tự nghĩ, tự cho như vậy. Ông không hề sinh ra thứ gì hết. Thượng đế sinh ra tôi để bạn đồng hành với cuộc sống của ông thôi! 

Đấu tiếp:

-Ta ở đâu phải ở đó. 

– Đúng vậy! 

– Ta làm gì thì phải làm theo.

– Đúng vậy!

– Ta vui ta buồn, phiền cũng phải buồn vui theo…

– Đúng! Tôi là cái bóng của ông. Trước sau vẫn vậy. Vĩnh Viễn không thay đổi. 

Đấu tiếp:

– Gần đây thì khác! Bạn không nghe lời ta nữa…

– Không đúng!

– Người không theo ta, không tham dự vào bất kỳ công việc gì của ta…

– Không đúng! 

– Tới trong giấc ngủ, cũng không nên chui vào như ngày xưa…

– Không đúng! Tôi vẫn trung thành với ông như ngày nào. Tuyệt đối trung thành. Ông không thấy, không biết, ý qua là ông thay đổi. Ông đã mượn áo của người khác. Cuộc sống của người khác. Ông tình nguyện làm cái bóng của người khác, để hưởng chút vinh quang thừa thuận lợi, chút lộc lộc mứa mứa của họ. Ông tự đánh lừa mình, phải không tôi!

– Còn nữa không? Tình huống cố gắng cho ta thấy, anh ta đang theo một hình hình khác sao? Đồ họa phản xạ!

– Không đúng! Cái hình tôi theo chính là ông ngày cũ. Chỉ có ông, chính ông đã phản bội con người mình. Chính ông mới là kẻ phản bội!

Giành lấy mình, đưa tay lên mặt, gõ vào cái khối thịt nhăn nhúm:

  • Người nói láo, ta vẫn là ta…

Cái bóng 1:

  •  Ông làm điều ác hằng ngày, bất chấp mọi thứ. Ông gieo rắc nỗi đau cho người khác!…

Đâm gầm xuống:

  • Can’t like! Ta đã ẩn kỹ. Không ai biết, không ai hay…

Cái bóng đầu:

  • Anh ấy đã sử dụng nó! Cái ác đâu yên yên. Nó bò lên mặt, nó dừng ra từ cử động, từ lời nói. Chính nó làm các biến thể…

Nhìn xuống bên dưới. Bộ quần áo đang mặc định. Cái mặt nạ đang đeo. Luôn cử chỉ và lời nói của ánh sáng, đều tia ra sự gian trá, bịp bợm. 

Đặc chỉ tay vào:

– Ta đã thấy rồi! Không cần thiết phải kể đến những cái bóng thứ yếu. Chỉ riêng chuyện chiến tâm gạt bỏ, kẻ đi theo mình suốt đời, đủ thấy là bội bạc, kẻ vô lương. Chính mình! Là kẻ phản bội! Mới là đáng sợ đáng sợ…

Mặt trời lên, trường pháp luật được thiết lập. Đứng trước sợi dây cung cấp thanh lọc. Tiếng trống dồn dập, cảnh báo giờ hành động quyết định. Sợ hãi, đánh giá bất động! hiện nguyên hình hài cũ. Từ sau thằn lằn, cái bóng nhẹ nhàng bước lên, cho đầu vào sợi dây…

NĐH

3- CÁI QUẦN 

Cô gái trẻ vùng mãng cầu, cố gắng thoát ra khỏi cái khoảng tối đang ôm chặt. Tối quá! Cô không nhìn thấy gì. Đã đi. Thực tế đã đi. Đã rời bỏ nơi này, rút ​​gọn nhanh chóng như khi xóa tới. Đã rời xa người cô, và mang cả cuộc đời còn lại của cô đi theo, trong cơn ngẫu tình bất ngờ! Tăng cường nhiên liệu cày nát thân cô trên bờ ruộng, không cần thắc mắc chuyện sau đó. Cái đánh bạn muốn và đã có. Cô ấy chỉ biết và khóc. Người cô bê bết đất. Cô đang yên lành, đang mơ mộng như bao nhiêu thiếu nữ khác, thì ngọc đến. Đến, mang theo sấm sét bất ngờ lùa qua cánh đồng, cây lúa đang xanh mởn, đổ nát, rung rung xuống mặt ruộng sì săm sắp nước. Trước đó, cô đã cố gắng đánh lừa bằng hết sức lực của mình, nhưng thân thiện quá. Từng đấm cát xuống đầu, xuống mặt cô như trời giáng. Cho tới khi không được nhận nữa. Cô nằm xuôi tay, mắt cảm giác đi và hơi mặn chát vì máu của mình. Cô mặc định muốn làm gì thì làm. Ngực cô đau vì những cái hơi hấp háy và bạo bạo của dũng mãnh. Cái đau chui vào bên trong, chạy dài xuống giữa hai đùi, giảm đau, giảm đau chèn hơi thở, giảm đau lên cái đầu tôi vì sợ hãi. Cô những tưởng mình chết, sẽ chết và đã chết! Nhưng rồi cô vẫn còn đây. của mình. Cô ấy không chết. Cô vẫn phải trở về với cái sống. Cô chống tay ngồi dậy. Cô quơ tay tìm cái quần, không biết đã vứt nó ra chỗ nào. Người cô quạnh, ê ẩm. Không thể tìm thấy! Chắc chắn nó chui xuống dưới đám tĩnh rồi. Coi như xong. Bầu trời lắng xuống! Cô không hiểu sao cô ấy lại có thể chọn lại? Cô nghèo, cô quê mùa, cô đen đúa. Cô không có gì nổi trội hơn những đứa con gái khác cùng làng. Cô thua xa mấy cô “trắng da dài tóc” ở thành thị. Cuối cùng cũng đến nổi tiền tệ. Mềm có tiếng con nhà quan quyền, giàu có trong vùng. cũng làm tới các chức năng khác. Sao đánh lại đi làm chuyện này? Sao chọn cô? Sao lại là cô?…

Cô kiệt sức lực. Đầu cô như muốn nổ tung. Chuyện xảy ra đã xảy ra rồi. Cô không nghĩ được điều gì hơn. This phút cô ấy chỉ muốn một thứ. Tìm cái quần. Cô muốn mặc định lại nó. Cô ấy không thể thiếu nó. Dù cô ấy phải ở đây. Nằm chết trên bờ biển này, cô cũng phải có nó. Cô quờ quạng, cô mò mẫm tìm. Cô nhướng mắt chất húp, bê bết mủ để nhìn. Một vùng tối nhớ nhớ. Cô ấy là một điểm viết. Tiếng ồn ào trong tiếng gió và tiếng côn trùng trong đêm. Cô muốn lên tiếng kêu cũng không kêu được thành tiếng. Miệng cô rằn toạc. Mà kêu làm gì, có ai nghe đâu. 

Cô ấy cũng không thể tồn tại ở đây. Cô ấy không thể chết ở đây. Nếu phải chết, cô sẽ chết ở một nơi khác, sạch sẽ hơn và mặc quần áo hoàng gia. Cô đơnm com bò dậy. Cô lết trên đám lúa tiếp tục tìm cái quần. Luôn không có. Cô hận thù, rồi cô luôn giận dữ. Biết vậy, cô mặc định đánh lửa ngay từ đầu, cố gắng lấy cái quần, có khi còn ủng hộ tiền tệ hơn. Cái đau mang theo cái đau càng đau hơn. Output tê tái. 

Cô lại ở dưới. Rồi cô bồi dậy tìm. Cái quần như biết cô cần, trốn thoát. Ngày nào cô ấy phải mặc quần! Không ngờ lúc đó lại quan trọng và lớn lao với cô như lúc này. Cô ấy đã mất hết. Không thể để mất thêm quần. Không thể đánh dấu biến cô thành một con chó cái. Default Quần vô. Gia nào cũng phải mặc cho được cái quần để trở lại làm người. Cô cứ thầm kêu trời kêu đất. Cô lam bẩm sinh thổ thần, cô cầu xin người khuất mặt tối, cho cô tìm được cái quần. Không có ai trả lời. Cái quần vẫn còn sót lại. 

Cô ấy hết sức hiển thị. Từ bên dưới của cực cực, cô chợt thấy mình vô lý. Không có quần thì sao? Khởi động xong thì sao? Ai ra đây mà thấy. Giỏi sao lúc tỉnh không ra? 

Cô bò, cô lết. Cô ấy chọn bước bước. Chân cô như Gmail chặt xuống đất. Người chú về phía trước, hai tay cô nắm chặt lấy cái rách bươm, cô đi về phía bên mà cô biết sẽ có đèn đèn. Nơi đó là nhà của cô, là nơi duy nhất có những người thương yêu cô. Là nơi vĩnh viễn bình yên. Là nơi thân quen gắn liền với việc thiếu nữ. Chung quanh cô bóng tối bụa vây. Cô nghe hỗn loạn trong tiếng lê lết của con thú bị thương cùng đường, tiếng thở hơi ngạt của mình là tiếng cười cười hê của mèo, ui theo phía sau lưng. Cô ấy không quay lại. Mỗi lần vấp ngã, mỗi lần cô chạm tay vào bên dưới người mình, cái trống rỗng của phần dưới không có quần. Cô lại giật người. Không! Cô ấy không thể tải về loại tang thương này. Cô không thể để cho cha mẹ cô, những người nông dân cả đời bán mặt cho đất. Không thể để chọn những đứa trẻ còn ngây thơ mang theo hình ảnh khốn khổ này. Cô cần phải tới một nơi trước đó. Đổi hướng. Cô ấy không đi nữa. Cô chống tay, cô quỳ gối, cô bò thật sống về phía con sông. Ở đó có nước, ở đó sẽ giúp cô đi nhẹ nhàng điều này…

Cô săn đám đông hoang dã bên bờ sông dần dần xuống. Khi nửa người đã ngập nước. Cô hồi mắt lại, tận hưởng từng cái va đập nhẹ nhàng, từng cái vuốt ve mơn của nước. Như một vật phẩm quý giá của trời ban. Cô đi trong cái kiến ​​về, cái an ủi nhỏ nhoi còn lại. Một số bãi biển trôi ngang, thả lại bên cô. Tiếng Lào của ai đó:

  • Lại thêm người nữa…Tội nghiệp!…
  • Lại là ò à?…
  • Còn ai vô đây?…Không ai làm gì được Kiểm sao? Ông trời không có mắt sao?…
  • Khó lắm! Có tiền. Có quyền. Có thế lực. Có gia đình, người thân che đậy, dung túng. Rồi mọi thứ cũng trôi đi, như chuyện chị em mình lúc trước!
  • Không thể như vậy hoài nghi? Còn nơi nào đã thực sự bao che cho lựa chọn nữa không?
  • Còn nữa! Nơi này! Nơi chúng ta tự chôn vùi tội lỗi, tự sục cuộc sống đời mình bằng cam chịu và im lặng…

Những tiếng nói dài nối tiếp nhau. Cô gái hét lên:

  • Không có tôi. Không bao giờ tôi có thể chọn thứ tự!
  • Vô ích, đánh giá ở cao lắm. Loại như chúng tôi không vào đâu!…

Cô ôm tỉnh, chỉ cần đáp ứng mờ mịt mấy cái bóng đạp chìm chìm. Nửa thân dưới trần trụi, những cái bóng ở móng, không có cái quần nào, in như cô vậy. 

Mặt trời vừa mọc. Ngày vừa lên. Ánh sáng bắt đầu chiếu sáng, chạy qua những cánh đồng về phía con sông. Đêm đã tàn. Mọi thứ rồi sẽ được hiển thị dưới ánh sáng. Không có gì có thể che đậy mãi được. Người cô gái dần dần xuống. Nước bắt đầu lên, nước leo qua bụng, nước bò lên thủ, lên cổ. Bằng nổ lực cuối cùng, cô gái ngước mặt lên nhìn bầu trời. Hai tay cô gồng lên, trong một hoạt động hết sức khỏe kỳ lân, như muốn gửi vào đó một lời khấn nguyện, một lời nói, trước khi người cô chìm hẵn vào trong nước. Dòng sông đón thêm một mảnh người, chịu đựng và tĩnh lặng…

Bác sĩ nói sức khoẻ lành mạnh. Thời gian bình thường. Cái đau đau bên dưới bụng chỉ là tưởng tượng. Tưởng thế nào cũng được! Lu bác sĩ vô ích. Bao nhiêu máy móc, bao nhiêu tiền, vẫn không tìm ra nhân nhân. Bao nhiêu thuốc nam vẫn không giảm!

Chính Robot cũng làm những điều lạ với căn hộ của mình. Bình thường không sao. Chỉ cần cởi quần quần ra khỏi người, dù để đi bảo vệ sinh, hay đơn giản là chỉ để thay một cái quần khác, thì bên dưới quần lót lại đau nhói, như có một vật sắc bén nào đó đập vào. Nhất là khi đánh chuẩn bị leo lên bụng một nguời đàn bà, để làm chuyện “đệ tam khoái” thì cơn đau lại nhập tới nhanh hơn. Lister hơn. Kết quả lễ hội. Đầu như có ai bắn thẳng một mũi tên bằng thép cứng xuyên qua. Mặc dù đã được xếp hạng, leng keng. Cơn đau chỉ dừng lại khi đánh cái quần lên! 

Đi đến chiến binh của con cá ngày càng nặng nề, chỉ cần lửa hay bất kỳ ai, ôm tay vào quần của chim lửa, là bụng dưới đau rát. Hãy đến mỗi lúc một cơn giật và kéo dài như vô tận. Bác sĩ bó tay. Cơ thể kiệt sức và chết chóc với cái quần hôi hám mặc rằn không thể thay thế. Và vì là người có quyền thế nên phải kiểm tra. Bác sĩ không tìm thấy điều gì đặc biệt. Ngoài một trái tim đen thui. Xác định chết thì có gì đặc biệt. Bất kỳ giá trị lợi ích của nó còn hay hết…

Người đi làm đồng sớm, sáng hôm nay kể lại. Cô gái với thân thể bình, không mặc quần, chết cá bên bờ sông trong một tư thế rất lạ. Một tay cô nắm chặt một bên áo. Cái vạt áo cong lại hình cánh cung, mặc cho dòng nước súc Đẩy, một tay như thả xong mũi tên. Mũi tên đã đi, chắc chắn nó sẽ đến đúng nơi cần đến. Chắc chắn! Hãy tin vào điều này như tin vào ngày và đêm của Đất Trời vậy.

NĐH

Read Full Post »

Đêm của biển

Trần Kỳ Trung

.

Đêm nay tôi và Hằng đi trên bãi biển, gió từ xa thổi lại làm mơn man những con sóng nhỏ, mát lạnh, cát dưới chân mềm mại… Thường những buổi dạo đêm như thế này thấy thư thái nhưng sao đêm nay tâm trạng tôi trong khung cảnh ấy, thấy buồn đến lạ. Ngày mai tôi phải chia tay với Hằng. Em đi bên hình như không để ý đến tâm trạng tôi lúc đó, vẫn bước, những bước chân thoải đều trên bãi biển rồi Hằng dừng lại, nhìn ra xa, nói với tôi:

– Tối nay là tối ba mươi, không có trăng nên mặt biển đen, thầy ạ. Giá như có trăng, buổi chia tay em với thầy có thêm một kỷ niệm nữa, để nhớ !

Không cần thế đâu em, thế này cũng đã nhớ lắm rồi, tiếng sóng dưới chân vỗ nhẹ, những ngôi sao nhấp nháy tít trên cao không thể làm cho mặt biển sáng thêm và hình như, mặt biển đen cùng tiếng sóng vỗ là một sự níu kéo trong bất lực. Tôi hỏi em :

– Với quyết định này của tổ chức nhà trường, em có buồn không ?

– Không, thầy ạ! Em thấy bình thường, có việc gì đâu mà phải buồn!

Lạ nhỉ, chuyện như thế, mà em nói có vẻ “bình thường”, không giống như tôi nghĩ. Hay là …

Trước ngày thống nhất đất nước, ở miền Nam, Hằng là giáo viên dạy môn văn, ở một trường trung học đệ nhất cấp (Tương đương cấp II). Đất nước thống nhất, em thôi dạy học, để thi đại học. Hằng đỗ điểm vào đại học khá cao. Trong lớp tôi chủ nhiệm, Hằng là người gần như lớn tuổi nhất, tôi chú ý đến em không phải vì em nét mặt đẹp nhưng trông hơi buồn, cũng không phải dáng người thanh mảnh cùng mái tóc đen dày phủ bờ vai thon gọn, mà chú ý vì cách nói chuyện của Hằng. Em nói chuyện từ tốn, nhẹ nhàng, dễ cuốn hút. Em thuộc nhiều thơ, không riêng những bài thơ tiền chiến, mà cả những bài thơ “hừng hực khí thế” của mấy nhà thơ bên cách mạng, em cũng thuộc. Hằng đọc những bài thơ ấy cho tôi nghe bằng giọng rất truyền cảm. Tôi rất tin, với kiến thức sẵn có, lại chăm học, ham học hỏi, Hằng ra trường, nhất định em sẽ trở thành một cô giáo dạy văn giỏi. Tôi với Hằng, mới có gần năm tháng của học kỳ một, trong năm đầu tiên đại học, biết nhau. Không phải, nếu tính thật chi tiết, những giờ, ngày… gặp nhau, lúc lên lớp giảng bài, lúc họp lớp, rồi những buổi trò, thầy tới thăm nhau hoặc như lúc tôi nhìn thấy Hằng, “đánh” vội ánh mắt để “gặp” trong tích tắc, thời gian đó có bao nhiêu đâu, không giấu, tôi có cảm tình với em, dù ở cương vị này đòi hỏi có sự nghiêm túc, nhất là đối với sinh viên nữ. Còn Hằng, hình như em có tình cảm với tôi, đó là theo cảm nhận, khi tôi nghe em nói:

– Hôm qua lên lớp, em thấy thầy có vẻ mệt, thầy giảng, không nên nói to, giữ sức, chúng em nghe được mà !

Quả thật trước hôm đó, tôi bị sốt nhẹ, nhưng bên ngoài cố biểu hiện không có vấn đề gì, giấu thế mà Hằng cũng biết. Rồi nữa, chiếc sơ mi tôi thường mặc, rách một đường sau lưng, phơi bên cửa sổ trong khu giáo viên. Cùng mấy bạn sang chơi, để ý thấy, Hằng xin phép tôi mang chiếc áo đó về, khâu lại. Đường chỉ Hằng khâu, rất kín, đẹp như người ta đạp máy. Tôi nhìn đường chỉ đó thầm phục, em rất khéo tay. Mấy bạn sinh viên nữ ở cùng phòng với Hằng trong khu ký túc xá thường đùa, nhưng có lẽ như để cho tôi ngầm hiểu rằng Hằng cũng mến tôi:

– Thầy ơi! Trong giờ giảng ngày mai, thầy gọi chị Hằng lên trả bài nhé. Chị Hằng mong lắm đấy!

– Chúng em đố thầy, chị Hằng thích thầy nào giảng bài nhất? – Không đợi tôi trả lời, tất cả đồng thanh – Thầy !

– Chị Hằng nói, thầy chỉ hơn chị có bốn, năm tuổi chứ mấy…

Sau những lời nói đó là tiếng cười khúc khích, những cái đấm lưng thùm thụp…

Nghe vậy, nét mặt Hằng lạnh, tuy không tỏ ra bực mình, nhưng lại khẽ lắc đầu, em nói, giọng nghiêm túc:

– Không phải như thế đâu, thầy đừng tin các bạn ấy nói.

Những lần nói chuyện với Hằng, tôi biết hoàn cảnh gia đình em. Cha của Hằng là một công chức trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa làm việc rất mẫn cán, đầy trách nhiệm, ai cũng mến. Trong gia đình, ông là người chồng thương vợ, người cha thương con, ai cũng cảm phục, tự hào. Sau năm một chin bảy lăm, ông thất nghiệp, tạm làm xe ôm đón khách, bữa có khách, bữa không, gia đình rơi vào cảnh khốn khó về kinh tế, nhưng không phải vì thế mà ông bi quan. Ông luôn động viên Hằng, phải giữ nghề giáo, có điều kiện nên đi học thêm. Chính lẽ đó, đang dạy môn văn ở một trường cấp II, em tạm rời bục giảng, thi vào đại học, nơi tôi công tác. Hằng nói về người cha với sự kính trọng và có hiếu :“ Em không muốn ba em buồn, lúc nào em cũng muốn cho ba vui”.

Nghe Hằng kể chuyện gia đình tôi càng thương em hơn, muốn nói với em điều đó, nhưng sao khó quá.

Suy nghĩ nhiều, rồi tôi quyết định.

Tối ấy!

… Hai chúng tôi cùng đi dạo trên bãi biển vắng, cả hai đi được một đoạn đường dài, có lúc như chạm vào nhau, rồi giật mình, tách vội ra xa, có chút lúng túng, ngượng ngập mà gần như cả hai, tôi và em, không nói với nhau được một lời nào. Nhưng khoảng khắc im lặng đó, tôi tin, có khi nói được bao điều… Đi một đoạn xa, phá vỡ sự im lặng, Hằng giục tôi:

– Sao thầy không nói với em điều gì đi!

– Hằng à…tôi muốn nói với em…- Tôi ấp úng, dù tưởng chuẩn bị đầy đủ, ấy vậy quả thật tôi không biết nên diễn đạt thế nào cho Hằng hiểu, nhất là lúc này.

Chúng tôi dừng lại, Hằng nhìn tôi, trong bóng đêm vẫn cảm thấy cái nhìn thấm đẫm thương yêu nhưng giọng của Hằng rất bình tĩnh:

– Thầy muốn nói với em điều gì ?

– Hằng…!

– Em hiểu! – Hằng nói như có sự chuẩn bị trước – Em hiểu tình cảm của thầy dành cho em… nhưng lúc này không thể… không thể, thầy ạ!

– Vì sao ? – Tôi hỏi.

– Em sẽ giải thích, nhưng lúc này … không thể – Im lặng một lúc rồi em nói tiếp – Nhưng… thầy phải cho phép em giữ tình cảm này và thầy… không được giận em!

Tôi có cảm giác không gian lúc này thật nặng nề, thời khắc cũng dường như dừng lại. Vẫn giọng của Hằng, Hằng như muốn kéo tôi đứng dậy, phải tỉnh táo, em cho tôi biết một chuyện:

– Hôm qua, thầy cho chúng em xem những tấm ảnh chụp thời thầy còn là sinh viên ngoài Bắc, em lấy một bức ảnh mà thầy không biết. Em xin lỗi thầy và thầy tặng cho em bức ảnh đó nghe !

Thở ra nhè nhẹ, có phần nản, nếu bây giờ tôi cầm một tập ảnh, Hằng muốn lấy, tôi cũng cho, giữ những tấm ảnh đen trắng ấy làm gì. Một thời mình ngây thơ, một thời bồng bột, ngộ nhận… để luôn nhận thất bại trong tình yêu. Bây giờ không phải thế, đây là lúc chín chắn hơn thời ấy, tôi nhìn thấy Hằng, một người con gái đẹp đủ những điều tôi cần…

Nhưng, Hằng gần đấy nhưng có vẻ xa xôi qúa, không lẽ giữa tôi với Hằng chỉ dừng lại tình thầy trò, không lẽ tôi sẽ mất em!!!

Cái điều tôi tưởng tượng lại hóa ra sự thật. Hằng buộc phải thôi học, trả về địa phương vì trong lý lịch em không ghi “có người chú tham gia quân đội của “ngụy” đang đi học tập cải tạo”!!! Một điều thấy quá vô lý, tôi liền hỏi ông Trưởng phòng tổ chức nhà trường:

– “ Chú ruột” của em Hằng đâu có dính dáng đến nhận thức, đạo đức, tư cách của em ấy mà chúng ta lại buộc em ấy thôi học!

Ông trưởng phòng tổ chức giương mục kỉnh lên nhìn tôi, ánh mắt có phần lạ lẫm, hoang mang:

-Ơ! Anh là một cán bộ giảng dạy của một trường đại học, dạy một bộ môn rất quan trọng mà nhận thức lệch lạc đến thế cơ à. Tôi hơi ngạc nhiên đấy! – Không đợi phản ứng của tôi, ông nói tiếp – Buộc em Hằng thôi học, trả về địa phương, ngoài việc em Hằng “dính” vào một trong mười ba trường hợp (1) để xét tuyển vào đại học, có người thân trong gia đình, họ hàng tham gia chế độ ngụy quân, ngụy quyền. Đã vậy em giấu không ghi lý lịch, biểu hiện sự không trung thực, minh bạch. Đây còn là yêu cầu địa phương, anh có muốn xem công văn của địa phương, nơi gia đình Hằng ở, gửi cho nhà trường không? Họ nói, chính ba của Hằng cũng từng là một công chức trung thành làm việc trong chế độ cũ. Vì sơ sót, kiểm tra chưa kỹ, nên họ đồng ý cho Hằng thi đại học. Chứ không, Hằng phải ở nhà không được nhập học ngay từ đầu học kỳ rồi…

– Thế anh không biết, em Hằng từng là cô giáo, dạy cho rất nhiều học sinh, hiện em là sinh viên học giỏi, có uy tín, không riêng tôi mà các đồng nghiệp của tôi trong khoa đều mến. Có chú ruột “tham gia quân đội chế độ cũ” không ảnh hưởng đến đạo đức, tư cách, kết quả học tập của em ấy, mà chúng ta buộc em ấy thôi học. Làm việc này đâu có thể hiện tính nhân bản, văn minh của chế độ ta. Các em sinh viên từng học với em Hằng sẽ nghĩ thế nào về việc này! – Tôi nói với sự phản ứng gay gắt.

Ông trưởng phòng tổ chức nhà trường lắc đầu, nói mà không có biểu hiện một chút nhân từ:

– Không, anh quá chủ quan! Sự căm thù cách mạng, căm thù chế độ mới của các thế lực chống phá nhà nước ta ghê gớm lắm, chúng không cam chịu thất bại. Biết đâu cô Hằng này, bề ngoài là như thế nhưng bên trong đang ấp ủ những mưu tính thâm độc ví như … – Ông trưởng phòng tổ chức nhà trường lấy tay vỗ vỗ lên trán – Cô ta giảng dạy rồi truyền đạt cho học sinh những bài văn, bài thơ ngầm xuyên tạc đường lối của đảng, nhà nước, kích động lòng hận thù, xây dựng trong tương lai một đội quân bí mật phá hoại chế độ. Chúng ta phải cảnh giác với những loại người này, không thừa!

– Tôi thấy việc làm này quá tàn ác, tại sao chưa thấy việc người ta làm mà anh đã suy luận như vậy?

– Anh dạy lịch sử mà chẳng hiểu lịch sử, đảng ta lãnh đạo dân tộc ta chiến thắng là do đâu, anh biết không ? Đó là sự cảnh giác, là luôn luôn đề phòng những trường hợp xấu nhất để có phương sách đối phó thích hợp. Còn anh nói tôi làm việc này “tàn ác”? Xin lỗi anh, chắc anh chưa quên những máy bay B-52 của Mỹ rải thảm bom khắp nước ta, chưa quên vụ Mỹ Lai, chưa quên hình ảnh những người dân lành bị chết trong những vụ càn quét của Mỹ – ngụy. Anh so sánh đi, ai “tàn ác” hơn ai! – Ông ta nhìn tôi cười mai mỉa.

Nói với những con người mà sự cố chấp, cực đoan, suy nghĩ một chiều trong đầu óc còn “cô đặc cứng hơn đá” như thế này bằng thừa, vạn lời phản biện của tôi cũng vô ích, không cần thiết. Lúc này, tôi nghĩ, cần động viên Hằng, giúp em vượt qua cú sốc quá lớn này.

Tôi lại “lầm” một lần nữa, người cần động viên là tôi, chứ không phải là Hằng…

… Đi bên tôi, dọc bãi biển vắng, Hẵng vẫn bình thản bước những bước nhẹ nhàng, không chút vội vã, em nói, giọng không chút tư lự, đắn đo mà bình thản như không có việc gì xảy ra:

– Thầy đừng buồn nhiều về chuyện của em. Em thôi học, về lại gia đình, cũng là điều mừng, em sẽ có điều kiện giúp ba, là chỗ dựa cho mấy đứa em học tiếp, chúng nó học giỏi lắm…

– Em không tiếc à! – Vừa nói tôi vừa nắm tay em, muốn kéo em vào sát người tôi.

Em vội rút tay ra và khẽ đứng xa tôi, nói như lẫn với hơi thở, lẫn với cả sự xúc động :

– Em tiếc chứ ! tiếc nhất là xa thầy và các bạn, mới có mấy tháng mà không biết bao nhiêu kỷ niệm, những kỷ niệm này sẽ đi theo em suốt cuộc đời. Không biết trong tương lai, em sẽ được gặp lại thầy và các bạn không? – Lúc này em lại nắm tay tôi, nói gần như gấp gáp – Thầy phải hứa với em một điều, thầy có dám hứa không ?

Tôi trả lời ngay, không chút đắn đo:

– Tôi hứa!

– Bao giờ thầy có tin vui, nhất định thầy phải cho em biết! Thầy hứa đi.- Hằng giục.

– Em nói gì tôi không hiểu, tôi tưởng em yêu cầu tôi nói… nhưng hôm nay với em, tôi sẽ nói… – Tôi định nói hết nỗi lòng của mình cho Hằng biết, tôi không muốn mất em, em mãi mãi thuộc về tôi, nhưng Hằng đã ngăn lại:

– Em hiểu thầy định nói điều gì rồi nhưng thầy không được nói điều đó… Không được… không được… thầy ạ! Lúc này… Không được…

Giọng em dứt khoát, tôi chưa từng nghe, rồi em buông tay tôi, quay người, chạy rất nhanh mất hút trong bóng đêm.

Sóng biển của đêm đen vẫn vỗ dưới chân…

… Tiễn Hằng về lại gia đình, cả tháng liền tôi không làm được bất cứ việc gì, hình ảnh của em cứ lẩn khuất trong đầu. Sang khu ký túc xá sinh viên, tôi vẫn thấy hiển hiện hình ảnh của em đứng lẫn đang nói chuyện với các bạn cùng lứa ở hành lang… Nhớ nhất đêm chia tay trên bãi biển, tiếng của Hằng vẫn như văng vẳng đâu đây…

Sau đợt dẫn sinh viên đi viết lịch sử địa phương, về lại trường, tôi nhận được thư em. Lá thư Hằng gửi cho tôi, nằm văn phòng Khoa cũng được hơn hai tuần.

Trong thư Hằng viết:

“… Cho phép em gọi được một tiếng “ Anh ”

Anh thân yêu!

Đoc những lá thư anh gửi, em biết tình cảm của anh dành cho em. Thương lắm, nhưng em có linh tính, nếu yêu anh, em sẽ làm khổ anh. Tương lai của anh rất đẹp, em không thể làm xấu tương lai đó, dù rất yêu anh, em vẫn phải khước từ tình cảm của anh dành cho em. Và sự thật đúng như em linh tính, thậm chí còn lớn hơn cả những điều em linh tính, nó bắt em phải xa anh. Em muốn hỏi biển rộng, trời cao, non xanh, tại sao người ta không muốn cho em đi chung đường với anh? Em có gây nên tội tình này đâu! Em yêu anh thật lòng mà, muốn bên anh mãi mãi, vậy mà lúc này, là không thể. Anh có tin không, anh là người yêu duy nhất, mãi mãi. Anh hãy tha lỗi cho em những lúc em cư xử không đúng với anh. Em làm vậy vì em muốn anh quên em, để một mình em nhớ anh thôi. Lúc em viết lá thư này là tấm ảnh của anh để trước mặt. Dù xa anh, nhưng anh luôn bên cạnh em. Thương anh nhiều lắm! ”.

Thư của Hằng gửi, do điều kiện khách quan mà nhận chậm trễ (2), không thể trách ai, vậy mà điều này làm tôi tức giận. Giá như lá thư này nhận sớm hơn, tôi đã gặp Hằng rồi.

Không thể chậm hơn nữa, từ mờ sáng hôm sau, tôi ra bến xe, cố chen, mua bằng được chiếc vé về quê của Hằng. Xe khách dùng nhiên liệu bằng than, (3 ) chạy chậm kinh khủng. Đã vậy, tôi ngồi hàng ghế sau, sát lò than, cái nóng như thiêu, như đốt, hầm hập, mồ hôi đổ ra dầm dề, cả người ám bụi, quá khổ, nhưng sẽ khổ hơn nếu như tôi không gặp được Hằng.

Tôi mong gặp em, tính đến từng giây trên đường xe chạy…

Gần chiều, tôi mới đến được ngôi nhà của gia đình Hằng ở, nhưng sao ngôi nhà lại trống vắng thế này, cửa khóa, có giấy dán niêm phong. Tôi ngơ ngác, hay là mình nhìn lầm. Không, đúng mà! Đúng như ghi trong địa chỉ Hằng cho tôi, sao nhà không có ai…

Tôi toan quay ra, thì có người đi đến, hỏi:

– Chú tìm ai?

– Dạ, xin phép cho cháu hỏi, đây có phải là nhà của cô giáo Hằng con ông Tín không ạ!

– Đúng rồi, vậy chú muốn gặp ai?

Tôi hơi lúng túng, rồi cũng nói:

– Cháu muốn tìm cô giáo Hằng…cháu…

– Thế chú chưa biết tin gì à!

-Tin gì ạ! -Tôi giật mình, như có luồng điện chạy dọc sống lưng.

– Cách đây hơn mười ngày, cả nhà cô ấy vượt biên, nhưng không thành. Thuyền nhỏ, người đông vừa ra thoát cửa sông thì bị chìm, chết tất cả, may người ta vớt được xác cô ấy cùng hai người em, chôn ở nghĩa địa xã, chú muốn đến viếng, tôi chỉ. Còn ngôi nhà này chính quyền niêm phong rồi. Gia đình này chết, tội lắm!

Trời đất như quay cuồng trước mặt, tôi gào lên trong tiếng nấc:

– Hằng ơi! Chuyện này có thật không em?

Tôi gọi tên em, rồi tiếng gọi đứt lịm trong ánh hoàng hôn đang buông và…

… bóng tối nhập nhòa cũng đang chuẩn bị tràn đến.

HẾT

————-

Chú thích:

(1) Thi đỗ vào đại học, hồi ấy, những năm đầu mới thống nhất đất nước, xét tuyển lý lịch rất ghê gớm. Nhiều thí sinh giỏi, thi đỗ điểm cao, nhưng bị trượt vì nguyên nhân có “lý lịch không trong sạch”!!!

(2) Những năm bảy mươi, thế kỷ trước, chưa có điện thoại di động. nếu có, chưa chắc có truyện ngắn này.

(3) Thời bao cấp, không có xăng, xe ô tô phải chạy bằng than, chạy rất chậm, ai ngồi gần, nóng hơn “lò bánh mỳ”, ấy vậy mua vé được đi xe này không dễ. Hồi ấy ai ở Quy Nhơn đi Đà Nẵng, một lần chứng kiến, sợ đến già.

Read Full Post »

Older Posts »