Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Nhân ngãi

 

                                         Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

Thái Phiên

.

Tháng cô hồn, ai cũng e ngại, ai cũng kiêng cữ. Dậu nghe mẹ dạy hồi còn bé xí rằng tháng 7 âm lịch “ai còn mẹ thì đừng làm mẹ khóc/ đừng làm buồn lên mắt mẹ nghe không?”. Dậu nghe thế, hiểu sơ sơ nghĩa là phải thương mẹ nhiều, không được làm mẹ buồn, mẹ khóc thế mới là con cái hiếu thảo. Dậu nghe người già kể rằng hàng năm cứ tháng 7 âm lịch Diêm Vương mở cửa địa ngục cho các linh hồn ma quỷ về trần gian hưởng lộc bố thí, cúng dường của người trần từ ngày 2 đến 14. Ai có người thân đã mất, tháng này sắm sanh cúng lễ chu đáo để báo đáp tình nghĩa. Hương linh lang thang không ai thờ cúng thì các gia chủ đều sắm cho mâm lễ ngoài sân mời đến hâm hưởng mà thỏa mãn, không quấy phá gia chủ… Rồi mẹ dặn Dậu phải kiêng tắm khuya, kiêng phơi quần áo ngoài trời đêm, kiêng đi chơi khuya, kiêng nói to gọi nhau í ới trong đêm vắng, kiêng khua chén khua đũa chập tối, mờ sáng… thôi thì bao nhiêu là kiêng cữ trong tháng cô hồn để tránh ma tà xâm phạm đến nhà cửa, bản thân. Ở đời Dậu chả sợ ma, cũng chả biết ma dạng hình gì, phim ảnh chiếu tùm lum mỗi nước mỗi kiểu ma quỷ, dữ hiền, ghê rợn có hết nhưng đấy chỉ là tưởng tưởng của mấy vị nhà văn, nhà đạo diễn, quay phim còn ma thật Dậu chả gặp bao giờ, dầu cũng từng mong. Dậu chả sợ ma. Dậu sợ người, họ là ma đầu đen. Những kẻ trước mặt Dậu vừa miệng mồm ngọt nhạt như kem như kẹo đấy, Dậu vừa đi khuất lưng, vừa vắng họp là cong môi tâu hớt, phê bình văng vãi. Nên Dậu thích vắng họp, để tìm ra kẻ đối đầu với mình. Miều sẽ nói lại không sót dấu phẩy nào những lời vài kẻ phê bình vùi dập Dậu nơi những cuộc họp dài lê thê chán như con gián với những mặt người quanh quẩn, buồn tẻ. Ma đầu đen đáng sợ gấp tỉ lần ma tưởng tượng. (more…)

Advertisements

Read Full Post »

Trần Bảo Định
 
1.
Hai Lượng tỉ mỉ chỉ cho Bảy Đặng cách bầu đất trộn tro trấu, bột xơ dừa để ươm hột măng cụt. 
Trước khi xuống ghe về Tân Thiềng, Hai Lượng căn dặn: 
“Bảy! Em nhớ tưới nước thường xuyên, nếu không, hột nẩy mầm chậm hoặc sẽ không nẩy mầm”. 
“Phải đợi tới bao lâu thì hột măng cụt mới nẩy mầm vậy, anh Hai?”, 
Bảy Đặng thiệt thà hỏi. 
“Độ mươi ngày, có khi tròn một con trăng!”, 
Hai Lượng vuốt mồ hôi lấm tấm mặt, rồi vừa nói vừa đi ra bến nước mở dây cột ghe. 
Từ lâu, Bảy Đặng để ý và hiểu rõ Hai Lượng thầm thương trộm nhớ mình; nhưng nghiệt nỗi, trong con mắt họ hàng và gia đình ba má Bảy Đặng thì Hai Lượng không thuộc hạng “môn đăng hộ đối”. Sự trắc trở đó khó có thể vượt qua, dù rằng đã nhiều lần Bảy Đặng thố lộ tâm tư với má. 
“Con đừng quên, gia đình mình vốn mấy đời thuộc gia đình “môn đăng hộ đối” ở cái làng Vĩnh Thành nầy!!”, bao giờ bà Tư cũng nhắc chừng con gái như vậy! 
Mùa trăng, rồi những mùa trăng nối tiếp… Cây măng cụt lớn được chuyển cây sang bầu lớn, Bảy Đặng nhẹ tay tránh không để tổn thương rễ, vì lẽ rễ măng cụt rất yếu và không có lông hút; nào khác chi mối tình của mình đang trong thời kỳ phôi thai, mong manh.
Bảy Đặng không quên lời Hai Lượng: “Cây măng cụt lớn chậm, rất chậm. Phải đợi hai con nước mùng mười nó mới đâm ra một cặp lá, và buổi đầu đời chỉ một tàng lá chịu gió sương”. Bảy Đặng nhớ đã nói ẩn ý một cách bâng quơ: “Chậm thì đợi, chớ người ta đây nào có thúc bách gì cho cam!”. Thâm tâm Bảy Đặng muốn nói thêm: “Chậm mà chắc vẫn hơn”, nhưng nghĩ sao đó, Bảy Đặng mần thinh. 
Vườn măng cụt ngày một xanh, xanh màu hy vọng; bông măng cụt phảng phất mùi đặc trưng các loài bông trái và cỏ dại ruộng vườn đất cù lao; hương thoang thoảng bông lài lẫn bông huệ, một chút lâng lâng mùi xoài trộn hương bưởi, và ngây ngây mùi lá ướt, cỏ úa… Những ai đã từng hít thở hương quê nơi nầy, sẽ khôn nguôi mùi nhớ! 
Bánh tráng Mỹ Lồng 
Bánh phồng Sơn Đốc 
Măng cụt Hàm Luông
Vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn 
Anh đây nói thiệt, sao em còn so đo… 
Mỗi lần nghe ai đó hò câu hò như xác tín món ngon, trái ngọt quê nhà, Bảy Đặng vừa vui vừa hãnh diện mình là đứa con được sinh ra và lớn lên từ một trong ba cù lao (1) đó, vốn do phù sa sông Cửu Long tạo thành. Tuy vậy, có đôi lúc, Bảy Đặng hờn dỗi, giận lẫy người thương sao trách oan mình. Bởi bụng dạ Bảy Đặng nào có “so đo” hơn thiệt, dù đang phải chịu nghịch cảnh với mối tình không câm nhưng chẳng nói thành tiếng trước đấng sinh thành.
Đêm tình yêu! 
Sau cái đêm tình yêu nơi vườn măng cụt tràn ngập ánh trăng, Bảy Đặng chịu trận đòn nên thân. Ông Tư, ba của Bảy Đặng, vừa đánh con vừa chảy nước mắt. 
Bà Tư tuy không đồng tình việc hư thân của con gái, nhưng bà cũng không nỡ đứng nhìn con gái bị đòn roi. Bà năn nỉ xin ông tha cho con vì trót lỡ dại. 
Rồi bà ôm con vào lòng, cả hai mẹ con cùng khóc! 
Trời trở trăng lưỡi liềm cuối tháng lúc gần sáng. Bà Tư buồn, cái buồn lo ngày mai Bảy Đặng sẽ ra sao? Bà gối tay cho con kê đầu ngủ, hệt thời con còn là con gái. Bà liên tưởng đời người với đời cây, đời con Bảy với đời măng cụt. Từ cây măng cụt té ra tình yêu, một thứ tình yêu mà đời bà không có. Bà lấy chồng theo “môn đăng hộ đối”, con gái bà thì không. Nó có mảnh đời riêng của nó, và nó tự quyết định lấy. 
Biết tánh chồng cứng và chắc ruột, nhứt quyết không là không thừa nhận chuyện “trăng hoa” của con. Thỉnh thoảng, bà cố nài, và cố nói hết tình lý với ông: “Cây măng cụt phải mất gần mười năm hoặc hơn mười năm mới trổ bông ra trái, rồi sau đó có thể sống hằng hà sa số năm với một chiều cao trên hai mươi mét, vậy mà người ta vẫn gọi nó là cây tiểu mộc chớ chẳng ai gọi nó là cây trung mộc hay đại mộc bao giờ. Con Bảy dù đã bằng đó tuổi, lớn tồng ngồng, nhưng nó vẫn còn là đứa “non người non dạ”… Vả dẫu sao thì nó vẫn là con của mình. Mình bao nỡ…”. 
Ông Tư ngồi thừ người ra, mặt buồn xo, tay vấn thuốc, miệng hút liên tục. Thấy vậy, bà lựa lời “rào trước đón sau”: “Lá măng cụt còn có hai mặt: dưới xám xịt, trên lục vàng hơi bóng. Người thì chắc cũng vậy thôi!”. 
Thấy chồng im lặng, bà mừng húm trong bụng vì ngỡ “cá đã cắn câu”, bà giả lả mượn bông măng cụt nói tếu táo: “Những bông đầu tiên mọc thành chùm trên đỉnh nhánh. Bông rộng, dày, và có thể bông đực hay bông lưỡng phái cùng một cây, cuống bông có đốt, lá bắc. Bông lưỡng tính thường mọc đơn lẻ, đôi khi thành cặp trên ngọn nhánh cành non. Cánh bông màu xanh, bên ngoài đốm đỏ, vàng đỏ bên trong… Không cần ai thương, nó vẫn ra trái cho đời… Nhưng, con Bảy nhà mình thì khác, nó trổ mã con gái, thì phải có người thương mới nên vợ nên chồng chớ”
Bà đương nói thao thao, ông đột ngột đứng dậy: 
“Tui không muốn ngó thấy mặt nó!”.
2.
Bà Tư chịu điều tiếng chì chiết, mắng mỏ của chồng, bởi “con hư tại mẹ”. Người dưng, yêu nhau không lấy được nhau, bà còn thương xót huống chi đó lại là con gái của bà. Đêm đêm bà thao thức nghĩ chuyện người, chuyện cây cỏ đất quê. Bà không hiểu vì sao lá măng cụt không rụng dù gặp bão tố, và trái được bao bọc do những đài hoa cánh hình tam giác, màu tím sậm tới tím đỏ, phẳng và láng; thoạt nhìn, chẳng khác bông hồng ngày cô dâu bước xuống thuyền hoa. Có điều bà hiểu rằng, người tự ràng buộc nhau có khi làm khổ cho nhau cả đời, tỉ như việc “môn đăng hộ đối”. Nhưng đối với thiên nhiên thì không, bởi thiên nhiên tự nó đã là sự tự do vượt lên trên cái “tôi tầm thường”, gìn giữ quyền sống hài hòa môi trường, cân bằng sinh thái mà trời đất đặt để. 
Lá măng cụt không bỏ cành, thì sao bà phải bỏ con!? Đời bà trải qua và đau khổ vì “môn đăng hộ đối”, bây giờ bà không muốn con gái của bà đi lại con đường bà đã đi và mang những gì bà đã mang. Rồi bà nghĩ chắc cứng điều thực tế, ruột măng cụt được bảo vệ bằng lớp vỏ dày, mà nếu cắt mặt ngang ai cũng nhận ra màu đỏ, màu tím trắng cùng vị đắng với nhiều mủ vàng ngà, kèm theo dung dịch nước. Chẳng lẽ bà không bì kịp vỏ măng cụt, không bảo vệ được con? 
Nghĩ sao làm vậy! Bà lén chồng nhận Hai Lượng làm con rể. Bà giấu đút đưa con rể đôi bông tai để tặng vợ, như là quà cưới và như là một lời thề của hai đứa nguyện “ăn đời ở kiếp” với nhau. 
Thực ra mọi việc làm của bà, ông Tư đều biết rất rõ. Nhưng ông nín khe, im lặng! Vợ chồng Hai Lượng ở đậu xẻo đất cặp rạch Cái Mơn. 
“Mình ở nhà, nếu chị Chín tới hỏi mua cây giống măng cụt thì mình hẹn chị chờ mươi bữa, nửa tháng”. 
“Sao anh không giao cho chị mớ cây giống ghép còn để ở bên liếp chòi?”, 
Bảy Đặng thắc mắc hỏi chồng. 
Hai Được cắt nghĩa: 
“Cây giống ươm bằng hột măng cụt phát triển từ phôi cái nó sống mạnh, trái to và đặc tính hệt như cây mẹ. Cây giống ghép sống yếu dễ chết, ít trái và trái nhỏ. Mình không nên giao cây giống măng cụt ghép cho chị Chín và cả khách hàng”. 
Hai Lượng bước nhẹ qua lối mòn, sương mai chấp chới trên đầu cỏ. Bảy Đặng xách mo cơm (2) lẽo đẽo đi sau chồng xuống bến ghe. Hai Lượng ngoái cổ, nói với vợ: 
“Mùa sau, vợ chồng mình thôi ghép giống cây măng cụt”. 
Trải qua sóng gió thị phi, hai người thành chồng vợ sau cái đêm thành thân vượt “môn đăng hộ đối”. Vợ chồng sống cảnh nghèo, nhưng thừa tiếng cười hạnh phúc. Vợ ở nhà ươm cây con, chồng chèo ghe bán cây giống khắp sông rạch đồng bằng hạ lưu sông Cửu Long. Ghe chồng theo con nước, không theo thời gian vợ chờ. Thương vợ sáng tối thui thủi một mình nơi vườn ươm măng cụt hiu quạnh, Hai Lượng buông lời: 
Sông Cửu Long chín cửa hai dòng 
Người thương anh vô số 
Nhưng anh chỉ một lòng với em. (Câu hò Cái Mơn).
Những lúc như vậy, Bảy Đặng chỉ biết âu yếm nhìn chồng, rồi bẽn lẽn cười, nụ cười chơn chất đặc sệt phù sa. 
“Trăm tay không bằng tay quen”, việc ươm cây con măng cụt bây giớ Bảy Đặng thành thạo; thành thạo đến cỡ Hai Lượng cũng chẳng thể chê trách chỗ nào. Mỗi lần rảnh tay, nằm nghỉ, Bảy Đặng thường ngó ra bến rạch ngóng mũi ghe của chồng ló dạng rồi nghĩ đâu đâu: “Nếu rạch là con sông nhỏ chảy ra con sông lớn, thì mình tự nguyện làm con rạch chảy ra con sông lớn của chồng”. 
Sau lần bị sẩy thai, Bảy Đặng lo sốt vó vì sợ mình trở thành “đàn bà bị nâng” chẳng còn khả năng “sanh con đẻ cái”. Vợ chồng ước mong sau mùa bán cây giống sẽ có được một mớ tiền kha khá, đủ đi đường lên chùa cầu tự. Mấy lần, Hai Lượng tới đình cầu thần giúp “mua may bán đắt”, khổ nỗi chẳng đâu vào đâu, ế vẫn hoàn ế. Thấy vợ buồn dàu dàu, Hai Lượng vỗ về an ủi: “Mình có con chậm chút thì có sao đâu?”. 
Thương là thương ông ngoại, tuy trước kia lạnh lùng: “Tui không muốn ngó thấy mặt nó!”; nhưng nay ông buồn rầu khi hay tin con gái hư thai. Rõ ràng, với ông: “Giận thì giận, mà thương thì thương”, và giận con thời “nói vậy mà không phải vậy!”. 
Tám năm sau, dù chưa phải đi chùa cầu tự, vợ chồng mừng rỡ vì sau chín tháng mang thai, Bảy Đặng sinh được một thằng bé kháu khỉnh. Có con muộn, muộn như cây măng cụt sinh trái vậy. 
Làm nghề ươm cây, trồng cây, nhứt là cây măng cụt cho ra trái. Hai Lượng bắt đúng mạch trái măng cụt: “Vậy là vậy, ít khi vậy không phải vậy!”. Hễ đầu nhụy trái măng cụt có bao nhiêu cánh, thì ruột trái có bấy nhiêu múi; hiếm khi sai lệch giữa cánh và múi. Măng cụt bên ngoài vỏ dày cứng, bên trong dày xốp; hột trái được bao lớp thịt trắng phau ngọt thơm đến lạ kỳ! Măng cụt thuộc loại trái “nắng ưa, mưa ghét”, thu hoạch măng cụt giữa tháng tư tới cuối tháng sáu, hoặc sang tháng bảy; nghĩa là trước mùa mưa dội trắng vườn. 
Bảy Đặng nhớ hoài câu nói của chồng:
“Trái ngon, nết khó!”.
3.
Mua cây măng cụt giống, khách mua hay hỏi Hai Lượng: 
“Măng cụt từ đâu tới, và vì sao gọi là măng cụt?”. 
Mỗi khi như vậy, Hai Lượng thường trả lời với khách mua bằng bài thuộc lòng học lóm xứ vợ, rằng: 
“Người Hoa, người Thái Lan gọi măng cụt bằng cái tên ‘mạng khud’, Huình Tịnh Của gọi ‘Bứa Xiêm’, và vua chúa ban tặng tên mĩ miều ‘Giáng Châu’. Từ lâu, người ta đinh ninh măng cụt do các nhà truyền giáo đạo Gia-tô di thực vào miền Nam Việt Nam với tên gọi ‘mangouste’!”. 
Rồi Hai Lượng tiếp: 
Nhưng, lời truyền trong dân gian thì lại khác: ‘’Măng cụt và lúa ma (lúa trời) là những cây còn sót lại sau khi Vương quốc Phù Nam bị xâm lược và bị sáp nhập vào Chân Lạp(?!)”. 
Khách hàng tin hay không thì còn tùy! Chuyện biển dâu biết đâu mà mà lần, và nếu có lần thì biết lần đâu cho đúng? Ngay tên Cái Mơn, vùng đất cưu mang măng cụt còn lắm điều tranh cãi về xuất xứ cái tên: “Kha Mân (nghĩa là tổ ong) đọc trại Cái Mơng, hay Cả Mân đọc trại Cái Mơn, hoặc Caiman (Sấu mõm dài) đọc trại thành Cái Mơn…”(?). Đố ai biết? Chỉ biết chắc là ở Cái Mơn tên rạch, tên kinh, tên cầu… tất thảy, đều mang tên người và đối xứng giữa đàn ông, đàn bà: “Kinh Ông Kèo – rạch Bà Bốn, rạch Ông Bái – cầu Bà Ươm, cầu Bà Trùm – kinh Cả Chánh”. Và có lẽ, họ Nguyễn ở rạch Giàn Sấy (sấy cá), họ Lê ở rạch Bà Dung, họ Phan ở rạch Ông Mầu là ba tổ họ tới vùng đất Cái Mơn sớm nhứt (3).
Hai Lượng ngẫm suy, những việc làm lương thiện, hữu ích cho tha nhân; đất và người không quên, lưu lại đời sau tỏ tường. 
Rạch Cái Mơn, thủy trình độc nhứt cho tàu ghe từ sông Hàm Luông sang sông Cổ Chiên hay ngược lại. Dòng nước rạch Cái Mơn không chảy một hướng như bao sông rạch khác, mà trái lại, nó chảy ngược, đối xứng nhau. Khi đôi dòng nước chạm nhau, nó liền chảy trở lại nơi xuất phát. Chỗ gặp nhau, người Cái Mơn gọi đó là “giáp nước”, hoặc “rún Rồng”. 
“Rún Rồng” xoáy nước khiến lòng rạch nới phình ra và rộng phía hai bờ rạch, dân bốn phương tụ về sống quần cư trên bến dưới thuyền; hợp thành chợ mặt đất, chợ nổi mặt nước. 
Sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên đi vào Cái Mơn bằng hai ngõ gọi là Vàm Mơn, Vàm Sả. Ghe Hai Lượng neo đậu Vàm Sả chờ con nước trở về nhà. Chuyến đi nầy dài ngày, ghe qua tới tận miệt Trà Ôn; bù lại, Hai Lượng bán sạch ráo cây con măng cụt, chưa kể nhà vườn họ còn đặt thêm hàng cho chuyến đi sau. 
Ngồi hút thuốc ở mui ghe, Hai Lượng bồi hồi nhớ hôm chống sào lui ghe rời bến, Bảy Đặng đứng chấp chới trên bến cố nói vói theo: “Măng cụt sắp chín rồi. Chuyến nầy, về sớm nha mình!”. 
Anh định nói: 
Bước xuống ghe lòng buồn khắc khoải 
Thương em ở nhà dầu dãi nắng mưa. (Ca dao). 
Chưa kịp nói, gió đã thốc mui chao mũi, ghe dạt ra giữa rạch đương lúc nước ròng, nước chảy xiết. 
Mười năm chồng vợ bên nhau, mười năm vườn măng cụt của vợ chồng mới có trái chiếng đầu mùa. Tình yêu đất cho cây đâm chồi nẩy lộc, trổ bông kết trái. Nếu không có tình yêu đất thì cây lấy gì mọc và sống? Ngược lại, nếu không có tình yêu cây thì đất sẽ khô cằn và đất chết! Ngày nào đó, nếu trần gian không có tình yêu, thì… Bất giác, Hai Được rùng mình… Hai Được không rõ cái rùng mình vì cơn gió lạnh, hay vì nghĩ tới điều chẳng dám nghĩ!? 
Cây măng cụt chịu đèn đất Cái Mơn, và đất Cái Mơn nức tiếng từ cây măng cụt. Việc đó chẳng tự nhiên, mà có lẽ giữa đất và cây đã trao cho nhau một thứ tình yêu thiêng liêng của Thượng đế. Người Cái Mơn dễ gì quên những cái tên như: Vườn Mồ Côi, cồn Cát Tiên (Vũng Tàu 2), xóm Chùa Đốt, xóm 16 mẫu, giồng Nứa, gò Mua, … Và, tên người, như: Đục Bà Hem, giồng Thầy Tám, giồng Ông Kế… Đôi khi mang tên nghề: Cầu Giàn Sấy… Những cái tên thiệt ngộ ngộ, nghe qua tuy lạ tai nhưng chứa chan tình người, hồn đất! Hai Lượng rờ rờ mớ tiền bán cây giống khá bộn đang đựng trong ruột tượng quấn quanh lưng quần. Anh cười hồn nhiên, cái hồn nhiên của người sắp đạt điều ước mong. Anh tin vợ anh sẽ mừng húm khi nghĩ rằng có thêm tiền để nuôi thằng Cu. 
Mỗi lúc trời một tối, và tối đen… Giơ bàn tay chẳng thấy! 
Hai Lượng mồi thêm điếu thuốc, đốm lửa lóe đêm! Tự dưng, Hai Lượng nghe lòng nôn nao, thương vợ khôn cùng. Anh đếm lóng tay tính thời gian xa nhà, và ngày măng cụt chín. 
‘’Bớ người ta! Bơớ…ớ… ng… ư…ơờ…i… cưư…ú… v… ợ… co…on… tu…ii… vơ…ới…’’! 
Tiếng kêu xé lòng. Hai Lượng định thần, tức tốc quay mũi ghe, và chèo cật lực về hướng có tiếng đang la chói lói…
Bình minh! 
Mặt nước bình yên như chưa xảy ra điều gì đêm mù tăm, chết chóc. 
Cứu sống vợ chồng, con cái người bán hàng xén trên sông. Hai Lượng đuối sức, vĩnh viễn nằm lại đáy Vàm Sả. 
Cảm kích tấm lòng thương người, và hành động trượng nghĩa của Hai Lượng, dân thương hồ qua lại Vàm Sả đã cùng dân sở tại lập miễu thờ Hai Lượng như vị thần cứu nạn!
4.
Hàng cây măng cụt say nắng, rũ lá, và hình như đang thiêm thiếp đợi gió. 
Không gian im lìm, im lìm đến đỗi tiếng lá rơi ngoài vườn vẫn nghe rõ nồm nộp. Tám Mọn tỉ mẩn vạch từng chưn sợi tóc dì Bảy Đặng để tìm bắt bọn chí mén đang bám da đầu hút máu. Dì Bảy lim dim đôi mắt, thỉnh thoảng dì hít hà, chẳng hiểu vì đau, hay vì quá đã… ngứa! 
“Tám! Bóng nắng tới đâu rồi, con?”. 
“Dạ! Có lẽ nắng xỏ lỗ tai rồi đó, dì!”.
“Í chết! Chiều muộn…”. 
Bảy Đặng lật đật đứng dậy, quên cả búi lại tóc.
Mỗi ngày, Bảy Đặng canh con nước ra vô, để dì theo con nước đi gặp linh hồn chồng tại nơi chồng đã lâm nạn và chết. Trễ con nước, cũng đồng nghĩa là dì trễ hẹn với người từng”ba sinh hương lửa”! 
Nắng ngả vàng lưng sóng. 
Xuồng xuôi dòng. Bảy Đặng hối hả chèo ra Vàm Sả để còn kịp con nước quay về. 
Nắng hoàng hôn rán vàng mặt nước. 
Nhang khói chờn vờn bay, và những cánh chim trời hối hả qua sông chiều. 
Bảy Đặng ngồi trên thềm miễu, cắt măng cụt mời chồng với tâm thức: Trái Tình Yêu, vĩnh cửu! 
TBĐ.
………………………………………….. 
Chú thích: 
1. Cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. 
2. Mo cau đựng cơm. 


(more…)

Read Full Post »

Buông

 

Chế Diễm Trâm

Minh vật xuống mê man chừng ba, bốn tiếng.

Khi Minh mở mắt, nền trời đã sang màu tro sậm. Chiếc xe honda ngoài sân dựng lên một khối đen thẫm chơ vơ. May quá, nó vẫn còn đó, không thì khốn khổ, không biết lấy gì bôn ba chuỗi ngày tiếp theo. Nằm nấn ná, đúng hơn là không ngồi dậy nổi để bật ngọn đèn, Minh lắng nghe bên hàng xóm người mẹ trẻ mắng mỏ đứa con nhỏ ngậm miệng với miếng cơm bã ra mà không chịu nuốt. Không biết rồi có cơn quát tháo, đánh đập, khóc lóc như mọi bữa không. May mà Minh chưa thấy đói, không thì không biết làm sao ra tới quán cơm nổi đây.

Minh nằm nghĩ đến Nhàn, không biết giờ này Nhàn ra sao khi bạn bè đã ra về hết. Chắc Nhàn vẫn ngồi trước bàn thờ con bé và tự huyễn hoặc rằng con bé vẫn còn đâu đó trên đất Đức, rằng chiều nay Nhàn chỉ buông thi thể một đứa trẻ nào đó mà người ta đã đưa về cho Nhàn cùng với giấy chứng tử và một lá thư chia buồn. (more…)

Read Full Post »

Ngoại của con

Đinh Lan

Năm 1962.
Tôi mới sinh.
Ngoại là người rớt nước mắt ôm con vào lòng và chăm chút yêu thương mặc cho mọi người lắc đầu ngao ngán. Con sinh ra mới có bảy tháng hơn, do mẹ bước hụt chân cầu thang và sổ ra một đống bùng nhùng… Đứa bé sơ sinh là tui hồi ấy chỉ nhích hơn một ký mốt, da bụng mỏng tang- nhìn thiếu điều phơi hết ruột gan- không có lồng ấp không có bất kỳ biện pháp y tế tiến bộ nào hổ trợ, không một ai tin tôi có thể sống sót. Ngoại dùng hai chai sữa loại mà con nít dùng để bú bình , pha nước ấm kẹp hai bên nách để giử ấm.và quấn tôi trong khăn ròng rả mấy tháng trời…Cái miệng nhỏ xíu không đủ sức ngậm vú mẹ và không thể nút được núm vú bình -ngoại đã kiên trì bơm từng giọt sữa , giọt nước đầu đời , nuôi tôi lớn khôn .Qua cái ”đốt” ấy tôi lớn lên bình thường và có phần lanh lẹ hơn hẳn những đứa bé cùng tuổi cùng năm.
Mậu thân 1968.
Tui 6 tuổi được Ngoại dắt tay chạy giặc .
Gần Tết ”Việt Cộng” pháo kích ầm đùng, ngoại kéo con hòa theo dòng người giữa đêm đi tránh đạn bằng cách chạy ào vô nhà thương tỉnh.( ai đó phao tin -nhà thương và trường học thì sẽ an toàn , ”mấy ổng” chừa ra ).
Leo nheo nằm ngồi la liệt giữa trời và lóc nhóc người là người đầy hành lang bệnh viện , ngồi thấy những vệt sáng lóe lên và tiếng pháo tiếng đạn hú rền giữa trời đêm tui sợ quá ôm Ngoại khóc thét lên : ” Đi dìa ngoại ơi ! dìa nhà mình, ngọai không được chết, ngoại phải ở hoài với con !”… (more…)

Read Full Post »

 
Cao Thị Hoàng
 
1.
Quê tôi, xóm vạn chài nằm bên con sông Đồng Nai nhiều huyền tích và cũng lắm kỳ bí. Chiều tà rơi trên sông hay đêm trăng trải sáng cánh rừng, trời đất mang mang những câu hò đối đáp của người hạ bạc hoặc kẻ thương hồ đi ngược về xuôi. Những đứa trẻ lớn lên từ xóm vạn chài, không có đứa nào không tắm sông, không đã từng hát bài đồng dao:
Con cá lóc nằm trên bụi sặt
Con cò mắc giò mà chết
Con quạ mua nếp làm chay
Con cu đánh trống ba ngày,
Con ngỗng thức dậy dọn bày mâm ra
Cồng cộc ăn cá nghi nga (1)
Con chim cà cưỡng phải ra ăn mày.
Bài đồng dao vẽ bức tranh quê đầy sinh động. Tâm hồn tôi, chìm đắm trong bức tranh quê!
Nhà ngoại sát mé sông, phía bên kia sông là cánh đồng nhỏ chạy tới mí rừng. Ngoại nuôi ngỗng giữ nhà, giữ bến sông.
Tôi hỏi:
”Sao ngoại không nuôi chó?”.
Ngoại nói:
”Chó không bì được ngỗng, vì ngỗng trung thành và tinh tường hơn chó”.
Rồi ngoại nhấn mạnh:
”Chó theo cái bỏ chủ, ngỗng thì không!”.
Tiếng ngỗng kêu đêm có khi gởi thông điệp đến từ vô thức tạo giấc mơ. Một giấc mơ đẹp về tình yêu, bởi màu lông trắng phau của loài ngỗng tượng trưng sự thuần khiết. Khi nằm mơ thấy loài ngỗng dù một con hay cả bầy, thì người nằm mơ đó đang sống trong tình yêu thơ mộng và mãnh liệt.
Những buổi chiều, mỗi lần đám trẻ xóm vạn chài tắm sông, nghêu ngao hát khúc đồng dao; cặp ngỗng nhà ngoại cùng hưởng ứng nghển cổ cất cao giọng kêu tiếng kêu chẳng khác tiếng đàn… Cũng có đôi khi, tôi nhìn thấy con ngỗng đực nhà ngoại vỗ cánh bay, rồi thì con ngỗng cái vội vã bay theo và hình như, động tác vỗ cánh của ngỗng đực đã truyền lực đẩy giúp cho ngỗng cái bay phía sau giảm hao sức lực. Tôi chỉ ngoại hình ảnh đó, ngoại cười.
– Ít khi, nếu không muốn nói là không có loài ngỗng nào bay riêng lẻ, hoặc sống đơn độc.
Ngoại nói tiếp:
– Đó là ngỗng nhà đã thuần chủng, còn ngỗng trời ngoài thiên nhiên thì chúng sống hợp đàn và bay thành bầy hình mũi tên giữa bầu trời bao la. Con dẫn bầy mỏi cánh thì nhường vị trí cho con khác trong bầy thay thế. Tiếp tục như vậy cho tới khi cả bầy đến nơi cần đến.
Có lần tôi nghe lóm ai đó trong xóm vạn chài, nói:
– Con ngỗng đương bay cùng bầy nếu rủi ro bị thương hay bị bịnh rơi rớt đất thì ngay lập tức, một hai con ngỗng khỏe mạnh cùng đáp xuống cứu giúp, nó không làm ngơ hay bỏ đồng loại bao giờ!…
Và, người nói đã khẳng định:
– Con ngỗng sống có đôi, nếu chẳng may một con chết thì con còn lại trước sau gì rồi cũng chết!
Chuyện nghe lóm, tôi đem học lại ngoại. Ngoại nói:
– Chó sủa ma, ngỗng đuổi tà!
Thấy tôi đứng xớ rớ, chưa hiểu lời ngoại. Ngoại hứa:
– Để lúc rảnh rỗi, ngoại kể chuyện đời xưa cho cháu nghe!
2.
Thuyền về bến!
Cơm nước xong, ngoại ngồi nhắc chuyện xưa tích cũ về ngôi miếu thờ đôi ngỗng, nằm giữa vàm Cây Qui và cầu Đồng Tròn. Tôi chợt nhớ ra, cũng có đôi lần ngồi thuyền theo ngoại tới ngôi miếu thắp nhang cúng vái. Đầu cù lao Đôi, làng Long Sơn đột ngột phình rộng do dòng chảy sông Đồng Nai từ chợ Biên Hòa đổ xuống Gành, qua Tân Vạn tạo nên.
Ngoại kể, rằng:
Trong những cánh buồm xuôi Nam, có cánh buồm của đôi vợ chồng son Khanh, Mai rời đất Thuận Hóa vô xứ Đồng Nai khẩn hoang, lập điền. Đến nơi, còn chưn ướt chưn ráo chưa ổn định cuộc sống, thì họ gặp ngay lão trại chủ người đồng hương ăn ở thất đức. Lão tên Mùi, thứ năm; lưu dân gọi lão là Năm Dê. Năm Dê không phải lưu dân thứ thiệt bởi lão giàu có từ ngoài quê, mang tiền của đầu tư vùng đất mới để mở rộng và gầy dựng thêm sản nghiệp. Lão mướn đám lưu dân bạch đinh khẩn đất lập trại ruộng và vợ chồng Khanh là một trong những tá điền trại ruộng của lão. Một hôm, lão sai gia nhân gọi Khanh lên gặp lão.
– Từ lâu, ta để ý thấy vợ chồng chú em làm lụng cật lực, hết lòng với ta. Vợ chồng chú em đúng là hạng người mà bấy lâu ta cố tìm nhưng không gặp, nay gặp rồi, ta ưng cái bụng lắm!
Khanh đứng dựa cột nghe lão nói, không biết lão muốn cái gì?
Lão khệnh khạng, vận lại mối quần sắp tuột.
– Vợ chồng chú em, đúng là ”Ăn cây nào rào cây nấy”!
Ngưng giây lát, lão nói tiếp:
– Thương tình cảnh vợ chồng chú em, vợ chú em khỏi phải ra rẫy cuốc đất trồng khoai…
Khanh ngơ ngác, lỏ mắt nhìn lão. Lão chẳng thèm để ý tới Khanh.
– Từ đây về sau, vợ chú em ở lại doanh trại giúp ta việc bếp núc!
Nghĩ tới vợ tránh được cảnh dầm mưa dãi nắng, Khanh mừng khấp khởi.
Mai im lặng nghe chồng học lại những gì lão Năm Dê đã nói. Với Khanh, đó là ”tâm ý tốt’‘ mà trại chủ ban cho; nhưng với Mai, đó là cái ”bẫy tăm tối” của kẻ háo sắc. Đôi lần, lão sai Khanh đi cùng gia đinh ra bìa rừng canh gác đêm giữ rẫy và đôi lần đó, lão lò mò dưới ánh trăng méo tới chòi vợ chồng Khanh. Bởi, lão cứ tưởng Mai là cây so đũa… sẵn sàng cho lá để ăn. Lão đã lầm, Mai buộc chặt cửa lòng bằng sợi dây tình chung thủy. Nhiều lần, Mai định kể chuyện lão ”thả dê” cho chồng nghe, nhưng sợ nghe rồi chồng buồn nên do dự lại thôi. Giờ, nếu thuận theo sự sắp đặt của lão, Mai cứ sợ chẳng sớm thì muộn cũng bị lão làm nhục; chi bằng ”cao chạy xa bay”!
Mai bàn bạc với chồng, bỏ nghề tá điền chuyển sang nghề hạ bạc trên sông Đồng Nai. Thương vợ, Khanh buông cuốc cày không luyến tiếc!
*
Hoàng Tấn, phó tướng của Dương Ngạn Địch đã tạo phản, và sát hại Dương Ngạn Địch ở cửa Tiểu sông Mỹ Tho vào tháng 6 năm Mậu Thìn (1688), sau chín năm sống lưu vong trên đất Việt. Tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1689), Thống suất Mai Vạn Long kéo quân tới đóng ở Rạch Gầm (2) chiêu dụ Hoàng Tấn và sau đó, Hoàng Tấn  chạy thoát ra cửa biển Lôi Lạp (3). Vợ con Hoàng Tấn bị giết.
Thời cuộc rối ren trên vùng đất ổn định kỷ cương phép nước. Nhơn dịp, tàn quân Hoàng Tấn chạy trốn tới Trấn Biên, lão Năm Dê sực nhớ mối hận tình đã để vuột mất con mồi mượt hơn ánh trăng, thơm hơn mùi mít rừng Đồng Nai. Lão âm thầm bỏ tiền lo lót bọn sai nha thực hiện mưu bẩn, kế hiểm đối với vợ chồng Khanh đang sống trong cảnh túng thiếu, nghèo khó; nhưng thừa hạnh phúc, ngày đêm làm bạn sông nước, gió trăng!
Bụm tay vốc nước Đồng Nai vị ngọt thấm lòng, Mai nhớ khôn nguôi nước sông Bồ nơi quê nhà ngày cũ. Mai nhớ buổi chiều cuối cùng trên quê hương, lúc thuyền giương buồm no gió xuôi Nam; Khanh ôm vợ vào lòng, thì thầm: ”Đôi ta như đôi ngỗng” dù có phải chết cũng không thể rời nhau, dù có phải xa con sông Bồ, rời Quán Cửa…Rồi sẽ có một ngày mình quay về cố quận!”.
Trời xa chớp bể mưa nguồn, mắt vợ chồng Khanh ngân ngấn.
3.
Bình minh trên sông Đồng Nai.
Thình lình quan quân Trấn Biên ập đến bắt Khanh khi chóp chài đầu tiên trong ngày chưa kịp buông. Theo lịnh bắt, thì Khanh thuộc đồng đảng  Hoàng Tấn do có thơ tố cáo nặc danh của kẻ giấu mặt trong làng.
 Khánh bị bắt vài ngày, lão Năm Dê lân la tới gặp Mai.
– Nàng có muốn ta cứu chồng nàng không?
Lão Năm Dê xề đít lên phản, nhích dần tới… Mai.
Không thèm đếm xỉa gì tới sự bất ngờ có mặt của lão, Mai chỉ nói bâng quơ: ”Trời cao có mắt!”.
Lão Năm Dê cười ”Hè hè…!”, Mai nghe âm giọng như là ”Be he…!”. Tự dưng, Mai mắc cười. Lão tưởng ”Nai đã chịu đèn”! Không để lỡ cơ hội  ngàn vàng, lão chồm người nhào tới.
– Chuyện thằng Khanh, qua sẽ lo. Miễn là… Miễn là…
Vùng đứng dậy, Mai xô lão té bật ngửa, la lớn:
– Bộ trại chủ muốn ăn luôn cái ”quần què” (4), sao?
Không biết bầy ngỗng trời từ phương nào bay đến đáp nước, nước bắn tung tóe mặt sông. Chúng kêu rân trời dậy sóng ngoài bến.
Hoảng quá! Lão nắm mối vận lưng quần, lồm cồm bò qua khỏi ngạch cửa chòi, rồi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng trong sương chiều.
*
 Hai mùa trăng, thân Mai ”phòng không chiếc bóng” đợi chờ chồng! Hai mùa trăng, Khanh chịu cảnh ”Cá chậu chim lồng”!
Đêm nhà lao. ”Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại”, Khanh không còn hy vọng ngày về, và đã không còn hy vọng ngày về thì tại sao mình buộc người vợ trẻ chờ mong? Khanh nếm trải những trận đòn ”kinh thiên động địa”, những cực hình ”quỷ khốc thần kinh”; nếu không có tấm lòng nhơn hậu của cai tù Lê Sáu, thì có lẽ Khanh đã hóa ra người thiên cổ. Thương vợ, Khanh không nỡ nhìn tuổi xuân thì của vợ tàn phai theo năm tháng chốn lao tù của kẻ tòng nghịch triều đình. Cảm kích hành động trượng phu của cai tù Lê Sáu, Khanh muốn trả nghĩa và xin vợ thay mình trả nghĩa cho người.
Đồng Nai mùa Đông.
Gió bấc thổi rừng se sắt lạnh đất trời, lạnh cả lòng người!
Mai đọc xong bức thơ chồng gởi, đôi vai gầy thiếu phụ rung động. Bỗng dưng, nàng bật khóc và kêu: ”Chàng ơi!…
”Đạo nào bằng đạo phu thê
Tay ấp, má kề, sanh tử có nhau” (Ca dao).
Thiếp không thể ”phu thê với Lê Sáu” để thay chàng trả nghĩa, vì năm xưa mình lấy nhau đã thề nguyền trước lúc ly hương:
”Thương nhau gặp khúc sông vơi
Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung” (Ca dao).
Đêm mù, ánh đèn leo lét không đủ sáng soi những dòng chữ tuyệt mạng gởi lại người chồng yêu dấu đang chịu hàm oan nơi chốn lao tù. Cuối thơ, Mai nhắc lại những ngày yêu thương đẹp nhứt, ngày chàng thì thầm:  ”Đôi ta như đôi ngỗng” dù có phải chết cũng không thể rời nhau, dù có phải xa con sông Bồ, rời Quán Cửa…Rồi sẽ có một ngày mình quay về cố quận”! Hỡi chàng! Ngày đó… , bao giờ!?
”Ai kêu, ai hú bên sông
Tôi đang sắm sửa cho chồng xuồng ghe
Chồng xuống ghe, quạt che tay ngoắt
Cất mái chèo, ruột thắt từng cơn…” (Ca dao).
Vậy mà, giờ đây… Vĩnh biệt chàng! Thiếp xin được đi trước để giữ lời thề!
Mai quyên sinh, cai tù Lê Sáu rúng động tâm can!
Lê Sáu giấu Khanh chuyện nhà đã xảy ra thương tâm và kể từ đó, người cai tù âm thầm điều tra manh mối để minh oan Khanh. Trăng thu năm sau, Khanh được Lê Sáu giải oan và quan Trấn Biên minh xét, chuẩn thuận tha Khanh về sum hợp gia đình.
Lê Sáu dìu Khanh trở về mái chòi xưa.
– Hiền thê! Hiền thê ơi… Hiền thê đâu rồi? Ta đã về…
Tiếng gọi của chàng mất hút vào không gian chiều rừng thê lương lá rụng.
Căn chòi đầm ấm khi xưa, giờ đây trống hoác, lạnh ngắt. Bấy giờ, người cai tù run rẩy trao lại lá thơ tuyệt mạng của Mai cho Khanh.
Khanh cắm đầu chạy ra bến sông cù lao Đôi, ngay vàm Tham Mạng, rồi nhảy xuống dòng nước xoáy nơi mà ngày trước Mai đã trầm hà quyên sinh. Bầy ngỗng ở đâu đó, cất tiếng kêu buồn!
4.
Trên khúc sông oan nghiệt, mỗi khi có sóng to gió cả thường xuất hiện đôi ngỗng trắng, xòe cánh chặn sóng ngăn gió, giữ bình yên cho thuyền, ghe đi qua. Và, không biết tự nhiên hay có điều gì linh thiêng, hằng năm vào cuối thu đầu đông, hàng trăm con ngỗng trời từ phương trời xa bay về… Người làng cùng thuyền, ghe thương hồ qua lại khúc sông đã chung tay dựng ngôi miếu thờ đôi ngỗng ân tình.
Ngoại nhắc nhở con cháu: ”Có thể câu chuyện ngoại kể là ngoa truyền, do người xưa từ đời nầy sang đời khác truyền lại”. Rồi ngoại nói: ”Cho dù ngoa truyền hay thực truyền đều không quan trọng, điều quan trọng là con người cần ngẫm suy về sự trung thành và thủy chung của loài ngỗng”.
Đêm dần khuya, xóm vạn chài im lìm. Nhưng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng ngỗng nhà ngoại kêu inh ỏi ngoài bến sông.
CTH.
…………………………………………
(1) Nghi nga: Thả sức, tha hồ (có bản chép: ”Cồng cộc ăn cá thả ga”)
(2) Rạch Gầm thuộc thôn Kim Sơn, huyện Kiến Đăng, trấn Định Tường (nay xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
(3) Nhà văn Sơn Nam cho biết quân chúa Nguyễn đã truy đuổi và giết chết viên phó tướng nầy ( Gia Định xưa, Nxb TP.HCM, 1984, tr.30).
(4) Quần què: Nghĩa đen, quần lưng chừng đùi. Nghĩa bóng, quần hoa hòe và nó cũng ám chỉ gián tiếp tên một loài hoa có tác dụng cầm máu, trị băng huyết, rong kinh của phụ nữ.

(more…)

Read Full Post »

Lê Minh Hà

Gửi N. C

 

Bác như là bố tôi.

Hôm nay tôi làm giỗ bác. Ở Mỹ. Ở cái thành phố đại học bé nhỏ từng sôi sục với phong trào phản chiến từ giữa thập niên 60 đến tận 1973.

 

Bill giúp tôi làm cơm cúng. Bill dân sử. Mối quan tâm lớn nhất của Bill là Đông dương, là Việt Nam thời tôi và Bill sinh ra, lớn lên, nơi đặc sản lịch sử là chiến tranh – thứ ngẫu nhiên một cách đắng đót và may mắn đã đưa chúng tôi tới với nhau. Bill tường tận nguyên ủy làm nảy nòi cuộc chiến và hậu hoạn sau đó, tường tận về các phe phái, những tiếp xúc bí mật chỉ các phe biết với nhau và các cuộc hội đàm công khai khiến thế giới nín thở theo dõi. Có lần tôi đùa Bill là thiếu đất nước chúng ta và vài ba xứ nhỏ bé nghèo khó khác chưa chắc đất nước của Bill oai quyền đến vậy trong thế giới này. Đêm đêm chúng tôi nằm bên nhau và tôi đã biết, đã quen nhìn lịch sử của dân tộc mình bằng con mắt Bill. Nhưng đôi khi tôi vẫn tự hỏi Bill thật sự hiểu gì về dân tộc mình, về chúng ta, ví dụ như Bill có biết vì sao năm từng năm tôi làm giỗ bác ở đây, nước Mỹ?
Bill giúp tôi dọn bếp. Còn tôi bày đồ ăn lên bàn, sửa lại cành hoa hạnh nhân cắm trong bình, thắp một nén hương, khấn. Bao giờ tôi cũng khấn „bố với bác cùng về với con“.
Hoa hạnh nhân đẹp như đào phai xứ bắc chúng ta.

(more…)

Read Full Post »

Chạp yêu

Chế Diễm Trâm

Tranh ĐINH TRƯỜNG CHINH 

Bước qua ngày đầu năm, trời bỗng hửng, mặt trời rạng ra và nắng êm, nhẹ và thơm như một sân rơm mới. Quả là mùa xuân đã chạp vào đâu đó, mơ hồ như khẽ đã khẽ chưa. Nguyên như chưa thoát ra khỏi không khí huyền hoặc của một đêm trăng mười ba ấy.

Buổi chiều hôm ấy gió lạnh thênh thang, mây xám mù trời, thỉnh thoảng mưa giắt màn lưa thưa. Trời cuối đông, Nguyên thấy lòng nặng trĩu. Chợt nhớ đến tin nhắn ba hôm trước của Nguyễn khi Nguyên đang đi công tác: “Em đang ở đâu?”. Chàng Nguyễn thường hài hước, thường dắt người nghe từ tràng cười này đến chuỗi cười khác. Nhẹ nhàng, yêu đời. Giá mà toàn những người bạn như thế cũng chả nhọc nhằn tìm kiếm an vui, Nguyên nghĩ thế.

Một tin nhắn gửi đi: “Anh đang ở đâu?” – dù đoán Nguyễn đang ở trong thành phố nhỏ teo này. (more…)

Read Full Post »

Older Posts »