Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Huỳnh Ngọc Nga

Từ lâu tôi tự tập cho mình cái tính điềm tỉnh hơn trước một chút, bớt dao động bởi những buồn vui trong cuộc sống vì với tuổi đời theo năm tháng đi qua tôi hiểu ra rằng mọi thứ đều là vô thưòng, hư ảo. Vậy mà sáng hôm qua tôi nghe mình hoảng loạn với một tin mới đến bất ngờ trên trang facebook tôi thường sử dụng hàng ngày như một thói quen, tin Nguyễn Ngọc Thơ không còn nữa, người bạn thơ văn, ngườì em chữ nghĩa của tôi và bạn bè Xứ Nẫu đã từ bỏ tất cả để ra đi không cần cho tôi có cơ hội gặp lại lần thứ hai.

Tôi quen Thơ qua trang văn thơ Xứ Nẫu trên mạng internet do “chủ nhà” Ngô quang Hiển sáng lập và nhờ cậu Trương văn Dân giới thiệu gia nhập. Tôi thuộc lĩnh vực văn còn Thơ thì văn hay thơ đều có mặt. Vốn không biết làm thơ nên tôi ít khi để ý đọc và bình luận các thi phẩm nhưng Thơ vẫn thuờng xuyên đều đặn đến viếng các bài viết của tôi và luôn ân cần cho những lời bình hiền lành đầy tính khích lệ, cổ động nhiệt tình. Dần dà tôi mến lời của người bình và bắt đầu đọc bài và bình các thi & văn phẩm của Thơ để gọi là đáp lễ và theo tôi các tác phẩm của Thơ thực sự rất hay, đầy tính quê hương, nặng tình nhân ái. (more…)

Advertisements

Read Full Post »

Hoa nở muộn  

   Hoàng Thanh Hương

Nhà văn Hoàng Thanh Hương

Mờ sáng, cả xóm bị khua dậy bởi tiếng la oang oảng của mụ Ng, thường thì mụ la lớn mấy xóm giềng cũng chả buồn quan tâm nữa. Nhà ấy đánh nhau như cơm bữa. Những ngày đầu, nửa đêm gà gáy xóm còn người này người kia lao sang can gián, che chắn. Sau riết quen tuồng ai cũng phát ớn. Xóm giềng mặc kệ nhà Ng chí chóe. Mụ ấy chanh chua, nói dối như cuội, đánh bạc, cá độ, ăn nhậu bê tha, chồng mụ chán ngấy, con cái chán ngấy, cãi đánh tối ngày… lại đâu vào đấy. (more…)

Read Full Post »

Trái xay vào thu

 

CHẾ DIỄM TRÂM

Nhiều người hằng thích câu thơ tượng trưng của Nguyễn Xuân Sanh “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” và hiểu theo nghĩa là mùa nào thức nấy. Chẳng hạn, mùa thu là mùa của cốm non thơm cả trang văn Thạch Lam, thơ Nguyễn Đình Thi, là mùa cốm sánh với hồng bước vào “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng, mùa thu còn được Hữu Thỉnh làm mới với “hương ổi phả vào trong gió se”… Với tôi, mùa thu, ngoài những cảm xúc nao nao khai trường, còn có chút bồi hồi chờ một thức trái dân dã của mùa thu – trái xay. (more…)

Read Full Post »

Nút thắt vừa được mở. Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc.
Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân
Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào. Nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa: Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực. Thế là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời. Mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.
Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó, tôi tìm được công việc khác – giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gác dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.
Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào: Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó: Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo, như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu. Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể: Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản chẳng có buồn đau…
Đó là một món quà cho ba mẹ, cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.
Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.
“Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà má con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba má khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”.
Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ cùng những lời khuyên để trưởng thành, để trở thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương thường trực trong tim.
Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.
Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến, nên tôi đọc, đọc tất cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái, có cảm giác mình mạnh mẽ thêm lên.
“Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc”.
Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.
***
Mười năm trôi qua, giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này mà cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa mà đã là một người đàn ông trưởng thành, tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng không còn thức đêm ở một khách sạn ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí của mình tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đến với đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời cùng những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cùng nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.
Những buổi tối rảnh rỗi tôi thường đọc lại những bức thư cuối cùng của ba mẹ vì đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ. Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ ngày càng mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể trở về quê thăm ba mẹ và nhân tiện chào hỏi, cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.
Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi. Đã nhiều lần tôi xin ba mẹ gửi sang một bức hình mới chụp nhưng họ không gửi cho tôi. Hình ảnh họ trong lòng tôi vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.
Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ, lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên thế nào với chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước này?
***
Tôi gõ mạnh lên bàn phím máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được. Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.
Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách, tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà trông mong, chờ đợi!
Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.
Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “mất ngày…” “từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, có bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.
Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.
***
Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích: “ Ba, mẹ… ba mẹ đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy đã úa vàng bọc trong chiếc bao ni lông rách nát: “Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52…”.
Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ cho tôi khi tôi hỏi về ba mẹ mình:
– Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!
Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rồi quay lại hỏi thăm về căn nhà số 52.
– Đó, căn nhà cao ba tầng đó, là căn số 52.
Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Tôi đến trước cổng ngôi nhà to lớn và nhấn chuông.
– Ai đó? Chuyện gì vậy?
Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra:
– Anh là ai? Cần gì ?
Tôi chỉ vừa nói tên thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay… Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi, trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía đối diện thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.
Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật… nhưng sau…
Tôi nhìn ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, không thể nói được gì. Bà vợ thì bắt đầu nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở. Cuối cùng tôi mới có thể thốt lên câu hỏi:
– Còn số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ tôi? Nó đâu rồi?
Hai người kín đáo nhìn nhau rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả. Tôi không thể làm gì khác hơn là chạy thật xa khỏi hai hình thể không có trái tim đó.
Tôi gọi một chiếc xe về một khách sạn trong thành phố và vội vã sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?
***
Trở lại với cuộc sống của mình, mỗi ngày tôi vẫn còn ám ảnh. Một cánh cửa dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có mục đích. Còn bây giờ… Như là tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu, như không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi đã bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.
Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì tất cả im lặng. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác, lặp lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…
Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, mở vội nút thắt làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi nhặt lên một bức hình đã úa màu thời gian, cảm giác như mình đang chạm vào một điều thiêng liêng. Cảm xúc mãnh liệt dâng lên trong tôi khi tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.
“Con yêu dấu, cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu”.

Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân

(more…)

Read Full Post »

Thương nhớ ngàn năm

Huỳnh Ngọc Nga        

  (Chuyện viết theo cuộc thắng giải Bếp giỏi của kỹ sư Nguyễn Chữ năm 2013 tại Torino

                                      và với sự góp ý của ks Nguyễn Chữ cùng tài liệu internet)

 

          

                                    

 

 Hắn vốn là dân miệt Quảng Nam, vùng Mỹ Sơn. Nhà hắn anh em đông, hắn là con thứ, cha mất sớm, mẹ hắn tần tảo nuôi bầy con năm đứa ở vùng đất quê mà nắng  và gió cát, bảo biển dường như không biết bao dung để người dân nơi đó sống đời bình an. Ông trời cũng công bình khi cho kẻ giàu hay ganh tỵ, rẽ chia; người nghèo thường thương yêu đùm bọc nên anh em hắn thương nhau như  năm ngọn Ngũ Hành Sơn quấn quyện một cụm, một nguồn. (more…)

Read Full Post »

Thả quỷ

Vũ Thị Huyền Trang
Nhà nằm trên núi Ba Hương. Tên núi gắn liền với những ngôi mộ nằm la liệt khắp các gốc cây hốc núi. Đa phần là chôn trẻ con chết vì bệnh tật, người già chết vì đói ăn. Những cuộc tiễn đưa lầm lũi trong bóng tối bằng một manh chiếu rách và tiếng khóc than thút thít của đàn bà.

Bạ nơi nào chôn nơi đó. Đàn ông đào một lỗ huyệt vừa nhỏ vừa nông. Thắp lên đó ba que hương rồi quay lưng đi. Có thể họ sẽ chẳng bao giờ trở lại vì những mùa đói kéo dài vắt kiệt cả tinh thần và sức lực của người còn sống. Nếu có trở lại họ cũng không nhận ra đâu là mộ người thân mình. Gió cát và những cơn mưa rào trút từ đỉnh núi xuống đã san phẳng mọi mô đất ở đây. Thỉnh thoảng có người tìm đến chân núi, họ thắp ba nén hương vái vọng rồi lại lặng lẽ đi. Chỉ có mấy nhà giàu sống dưới chân núi là năm nào cũng làm một mâm cúng với đầy đủ đồ lễ vào ngày xá tội vong nhân. Vì họ cho rằng những linh hồn bị bỏ đói thường đi quấy phá người ở dương gian. Không rõ các cô hồn xuống núi có được no bụng không nhưng người sống thì được một phen tranh cướp. Mâm cúng vừa bày ra đã có nhiều người nghèo đứng quanh chầu chực. Họ không đợi được đến lúc tàn hương đã xông vào cướp. Người bát cháo, kẻ củ khoai củ sắn. Họ đi rồi bát đĩa vứt lại chỏng chơ. Chỉ có vàng mã bay phất phơ ngoài đường, nhem nhuốc gót chân người dẫm đạp.

 

Cũng như mọi năm, hôm ấy đúng rằm tháng bảy, nhà Sáu Gỗ soạn một mâm cúng cô hồn. Muối một đĩa, gạo một đĩa. Cháo trắng nấu loãng mười hai bát nhỏ. Tiền vàng, khăn áo, bánh kẹo, bỏng ngô, khoai sắn luộc. Thêm năm loại quả và vài khúc mía. Ba ly nước nước nhỏ đặt lên rồi nến nhang thắp đỏ. Vợ Sáu vừa bưng mâm ra chân núi còn chưa kịp giở sách cúng thì bỗng đâu có người đàn bà bụng mang dạ chửa ăn mặc rách rưới xông lại cướp đồ cúng nhét vội vào mồm. Nhìn người đàn bà khốn khổ nhai nhồm nhoàm nghẹn lồi mắt mà vợ Sáu chỉ biết than trời. Người sống ở nơi này có khi còn đói hơn cả cô hồn. Sáu Gỗ đứng từ trong nhà nhìn thấy cảnh tượng ấy, sẵn cơn say hắn lao vào đạp ngã ngửa người đàn bà rách rưới. Thị ngã xuống còn cố giữ chặt miếng sắn sượng đang muốn bật ra khỏi mồm. Một tiếng khóc vang lên như xẻ núi xé trời. Thằng Núi ra đời trong ngày dương gian vất vưởng đầy ngạ quỷ.

Thằng Núi lớn lên bằng những bữa ăn dựa vào lòng núi. Lúc bé thì lên núi kiếm củi bán cho nhà giàu lấy tiền đong gạo. Hái nấm, hái rau dại, bắn chim, bắt rắn, bẫy mèo cho những bữa ăn. Núi thoắt ẩn thoắt hiện. Nhanh như chim cắt. Loài vật chỉ cần nghe thấy bước chân Núi là vội vàng chạy về nơi ẩn nấp. Núi nhìn mọi vật xung quanh bằng con mắt háu đói. Thứ gì có thể bỏ vào miệng thì lập tức nằm trong tầm ngắm của nó. Trên đồng ruộng có chim. Dưới sông sâu có cá. Từng xâu chim sẻ nướng giòn. Từng đĩa cò rang chấm muối ớt. Cá thì bắt từ con nhỏ để kho đến con to để nướng. Núi là kẻ thù hủy diệt của muôn loài vì chẳng mấy chốc mà xứ này vắng tiếng chim ca và thưa thớt tiếng mèo hoang gọi bạn tình. Người ta gọi Núi là thằng quỷ nhỏ. Mẹ Núi, người đàn bà tên Hin quanh năm suốt tháng làm không đủ nuôi đàn con nheo nhóc. Thị lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện đi vay. Vay tứ phương nhưng chẳng bao giờ thấy trả. Thị luôn hứa “chừng nào thằng Núi lớn lên, nó sẽ kiếm tiền thay tôi trả nợ”. Trong sáu đứa con chỉ có thằng Núi là kiếm được miếng ăn. Những đứa khác chỉ ham học, ham chơi. Thị đã mấy lần nhìn thùng gạo cạn đáy mà quẳng sách vở của lũ con đi. Học làm gì? Học có no cái bụng được không? Học lắm chữ cũng không bằng thằng Núi.

Núi lớn lên vạm vỡ. Ăn không biết no, lúc nào cũng nghe thấy tiếng sủi bụng ùng ục. Như nhiều thanh niên khác trong làng, Núi đi làm thuê cho nhà Sáu Gỗ kiếm cơm. Thời gian đầu Núi theo đám người đi chặt trộm gỗ ở rừng nguyên sinh. Cơm rượu được tính bằng những vết rìu bập vào cây sắc ngọt. Nhưng thằng Núi sinh ra đâu phải để đi làm đầy tớ mãi. Núi ma mãnh và liều lĩnh. Chẳng mấy chốc mà Núi lên làm chủ, gom những thanh niên vạm vỡ nhàn rỗi đi theo mình. Toàn những kẻ vừa dám chặt rừng vừa dám chém người. Núi nâng chén rượu máu lên trước mắt đàn em hô vang “Liều thì sống. Không liều thì chết”. Dốc cạn ly này rót đầy ly khác Núi lại hô “Chặt phẳng. San phẳng. Sằng phẳng”. Đó là chặt phẳng rừng. San phẳng mọi chướng ngại vật. Sằng phẳng với anh em chiến hữu, có công thì thưởng, có tội thì phạt. Thằng nào phản bội là chết dưới tay Núi ngay. Làm nghề này chỉ nói chuyện bằng tiền và máu.

Có tiền Núi bắt đầu hưởng thụ. Hắn nói một trong bốn cái tứ khoái của con người là làm tình. Lũ đệ tử xu nịnh thường mang cúng cho Núi gái trinh. Chẳng biết hắn làm gì mà những cô gái vào tay hắn qua một đêm đều hóa điên hóa dại. Còn Núi thì trẻ khỏe như vừa hút được nguồn dương khí quý. Nhưng những kẻ thân cận thường rỉ tai nhau “Người Núi toát ra toàn khí lạnh”. Lạnh như mũi dao. Lạnh như tiền. Núi Ba Hương chẳng mấy chốc đã trọc lốc. Rừng nguyên sinh bị lâm tặc móc nối với kiểm lâm phá sạch. Những trận mưa lớn dội từ đỉnh núi xuống ào ào, xối xả tạo thành lũ quét. Cơn giận dữ của đất trời dìm nhà cửa vật nuôi ngập trong biển nước. ý trời và lòng người dâng lên uất hận. Cơn lũ đi qua để lại cảnh tan hoang. Dưới chân núi thỉnh thoảng người ta thấy những ống xương nổi lên vương vãi. Không rõ xương thú hay xương người.

Người dân lầm lũi dựng lại căn nhà, đào hố chôn xác vật nuôi chết trương phình, bới tìm đồ đạc, vét sạch giếng ăn. Tiếng người mẹ nào khóc con ai oán. Ri rỉ tiếng người tiếng dế ma mị trong đêm tăm tối mịt mùng. Những người chết trong trận lũ quét lại được khênh lên núi Ba Hương. Khi  nhát rìu tắt lịm thì đến những nhát cuốc bổ xuống đào huyệt chôn những phận người. Không cần đợi đến rằm tháng bảy, thỉnh thoảng người dân vẫn làm lễ cúng cô hồn. Vì người ta tin rằng có những con quỷ bị xổng khỏi ngục tù xiềng xích, thoát khỏi sự cai quản của Diêm Vương đi phá phách xóm làng. Trong đó có cả những con quỷ sống đội lốt người như thằng Núi.

Thằng Núi rời núi xuống phố gây dựng thủ phủ của mình, trở thành ông trùm buôn lậu gỗ. Đêm đến, đầu hắn vang lên tiếng rìu chặt cây. Tới tấp, dồn dập. Đau buốt từng cơn. Hắn thường tìm đến gái và cần sa để quên đi cơn đau. Trong cơn phê thuốc hắn thấy mình là con chim đơn độc cứ chao liệng trên bầu trời mà không có chỗ đậu. Hắn bay mãi, bay mãi vẫn chỉ thấy những cánh rừng trọc lốc không một chấm xanh. Hắn bay cho đến khi kiệt sức rơi xuống khoảng trống bên dưới rồi đâm phập vào một gốc cây bị chặt nhọn hoắt như một mũi tên. Hắn thoi thóp nghe tim mình rỉ máu nhìn xung quanh chỉ thấy bóng dáng của những nhát rìu, những gốc cây nhựa ứa ra khô cứng. Tỉnh thuốc hắn thấy mình kiệt sức hệt con chim nhỏ.

Lũ đàn em rỉ tai nhau “Dạo này đại ca mê tín gớm”. Ngày sinh nhật Núi, cũng chính là ngày xá tội vong nhân. Ban đêm Núi đến vũ trường nốc rượu mạnh và ve vuốt những ả đàn bà. Nhưng ban ngày Núi thuê thầy cúng về nhà làm lễ. Đồ cúng có heo quay, cháo yến, thịt rừng. Tiền lẻ chuẩn bị cả bao tải. Thầy cúng xong Núi đứng trên ban công cầm từng vốc tiền vứt xuống nhìn người ta dẫm đạp lên nhau tranh cướp. Đồ lễ cũng được vứt xuống, lỡ tay quăng theo cả bát đĩa trúng đầu người cướp lộc. Núi thấy cảnh tranh cướp này hay ho hơn cả chọi trâu, chọi gà. Nó cho Núi cái cảm giác của kẻ bề trên. Cứ có tiền là có thể tiêu khiển bầy người từ già đến trẻ. Kể mà thỉnh thoảng buồn mang tiền lẻ vung chơi cũng đủ vui. Mà đời Núi kiểu gì cũng phải vui. Vui để quên đi cái ký ức về người mẹ đã từng lao vào cướp miếng sắn luộc trong mâm cúng cô hồn thời đói khát. Mà thật ra hắn nên cảm ơn cái gốc tích nghèo khó của mình. Nếu không có cú đá của tên Sáu Gỗ thì chắc gì đời Núi được như bây giờ. Cú đá ấy thức tỉnh thân phận nghèo hèn. Mỗi lần nghĩ đến miếng sắn luộc chẹn ngang cổ mẹ là Núi chẳng thấy gì đáng sợ bằng cái đói.

*

Núi không sao chạy thoát được giấc mơ về cánh chim đơn độc. Những nhát rìu cứ bổ xuống đầu Núi ngày càng dữ dội. Dần dần Núi thấy đầu mình nham nhở những gốc cây ứa nhựa. Nhưng hắn bất chấp và tìm mọi cách xua đuổi những ý nghĩ ma mị điên rồ. Đời thằng Núi nếu biết sợ đã chẳng dám đi theo con đường nhuốm máu. Hàng ngày Núi thích được ngồi trong căn phòng bí mật, xoay chiếc ghế bí mật, mở cánh cửa bí mật để bước vào căn phòng bí mật trong nhà. Hắn ngồi nhìn những cọc tiền xếp chồng lên nhau cảm thấy sự đê mê chạy rần rật trong từng mạch máu. Nếu phải chết thằng Núi nhất định phải chết nghẹn vì tiền chứ không thể chết nghẹn vì sắn luộc.

Có chuyến hàng nhìn thấy rõ những cái bẫy được giăng sẵn khắp nơi nhưng chỉ vì đồng tiền nên Núi vẫn lao đầu. Mà giang hồ cũng có luật giang hồ. Ngoài luật rừng còn có luật tình luật nghĩa. Khổ nỗi thằng Núi chỉ thích dùng luật rừng. Hắn sằng phẳng quá hóa tàn độc nên anh em nhiều mà kẻ thù cũng đâu có ít. Núi bị đâm sau lưng nhiều vố chí mạng. Càng hung hăng thì càng dễ bị thương. Càng bấn loạn thì càng mù quáng. Cuối cùng đường dây buôn lậu gỗ do Núi cầm đầu cũng bị lộ. Núi rời thủ phủ lẩn trốn trong một vùng núi heo hút. Để tránh sự truy lùng của công an, Núi cắt đứt mọi liên lạc với đàn em. Vì không có bất cứ sự giúp đỡ nào nên Núi bắt đầu quay trở lại cảnh luồn rừng kiếm ăn từng bữa. Hắn cay đắng nhận ra có những lúc tiền không giúp được gì đời hắn.

Nhưng Núi đi đâu cũng gặp những cánh rừng trọc lốc. Cây cối không đủ cho Núi ẩn nấp an toàn. Có hôm đói mệt lả, Núi nằm mơ về thời thơ nhỏ. Lúc ấy cây cối um tùm, chim muông kéo về từng bầy làm tổ trên những tán xanh. Núi lấy trộm trứng chim mang về luộc ăn. Mẹ hắn dặn mỗi tổ chỉ lấy vài quả, không được lấy hết vì ít ra còn để lại hy vọng cho chim mẹ. Nhưng hắn không nghe, mỗi lần lấy trộm sạch trứng hắn bỏ vào tổ vài hòn sỏi trắng. Hắn không biết chim mẹ có bị đánh lừa mà ấp con trong mòn mỏi khô rạc cả người hay không. Hắn chỉ thấy những mùa sau chim về ít dần. Rồi không còn nghe thấy tiếng chim con ríu rít gọi nhau. Những con chim mẹ cuối cùng cũng chết dưới tay Núi. Thịt chim ngon không phải bởi mùi thơm, vị ngọt. Mà ngon còn bởi cảm giác khoái chí khi nhìn con chim giãy giụa, thoi thóp trên đống than đỏ ửng. Nghĩ đến là Núi nuốt nước bọt. Nhưng khốn thay nước bọt cũng không có mà nuốt. Cổ Núi khô ran như cánh đồng mùa hạn. Thêm cơn vật thuốc, Núi lả đi trong một hang động ít người qua lại.

Núi nằm mê man cho đến khi thấy cổ họng mình mát lạnh. Một người dân lên núi tìm cây thuốc cho nhà chùa đã tìm cách cứu Núi. Núi tá túc trong nhà ân nhân một tuần thì bất ngờ nghe thấy tiếng chuông chùa. Tâm trí sục sạo kiếm chỗ ẩn thân của hắn như được thức tỉnh. Hắn theo ân nhân vào chùa chăm chỉ băm thuốc phơi thuốc nấn ná gần sư chủ trì. Hắn vờ làm kẻ  đầy đau đớn tuyệt vọng xin nương náu cửa chùa. Cửa chùa từ bi mở lòng đón Núi. Chủ trì giao hắn việc hàng ngày quét dọn nhà chùa và nấu cháo đổ ra lá đa cúng cô hồn. Chùa nằm nơi hẻo lánh ngày thường ít người lui tới nhưng ngày rằm, mồng một thì khách thập phương kéo đến rất đông. Họ đến vì chùa linh thiêng, còn một số người thì đến xin những thang thuốc quý. Núi thường hạn chế tiếp xúc với người lạ. Thân xác nương náu cửa chùa nhưng hắn vẫn mang linh hồn quỷ dữ. Hắn ma mãnh lấy trộm tiền công đức tìm cách mua thuốc phiện mang vào chùa hút. Không ai mảy may nghi ngờ hắn, một kẻ chăm gõ mõ tụng kinh giả bộ hiền lành một con kiến không nỡ giết. Có ai biết đâu lúc cúi lạy phật chính là lúc lòng tham của Núi dâng lên. Lúc ngồi tụng kinh ở chánh điện mắt Núi hấp háy nhìn vào pho tượng cổ.

Buổi sáng hôm ấy sư trụ trì thức dậy khá sớm để chuẩn bị cho ngày lễ quan trọng trong năm. Lúc bước ra chánh điện sư thầy bỗng lặng người đi khi nhìn thấy Núi. Núi ngồi khoanh chân, đầu cúi gập xuống đất, trên tay vẫn cầm tràng hạt. Sư thầy lay gọi nhưng Núi không tỉnh lại. Núi chết dưới chân đức Phật khi đọc dở bài kinh sám hối. Sư thầy nghĩ có lẽ sáng nay Núi đã nhìn thấy bóng dáng của Đức Phật. Nhìn thấy quầng sáng rực rỡ từ miền cực lạc nên rời bỏ cõi trần. Sư thầy đâu biết rằng Núi chết chính trong ý nghĩ sẽ chờ thời cơ lấy trộm bức tượng phật cổ tuồn ra ngoài bán. Sư thầy cũng đâu có biết miệng Núi tụng kinh mà trong đầu vang lên tiếng của những nhát rìu bổ xuống. Dồn dập, tới tấp cho đến khi Núi gục đầu tắt lịm như một thân cây vừa đổ xuống. Sư thầy nói nhỏ một câu lúc đỡ đầu Núi nằm xuống “đời người trong hơi thở”. Hôm ấy chính là ngày xá tội vong nhân. Sư thầy nấu cháo trắng mở cửa chùa đón các linh hồn vất vưởng và ngạ quỷ khắp nơi…

Trên chánh điện vẫn là nụ cười nghìn năm Đức Phật.

(more…)

Read Full Post »

Tôi và cây đàn guitar

Nguyễn Huỳnh

Xã tôi có nhà ông Sáu Lắm làm nghề thổi kèn đám ma, người ta gọi là đám nhạc hiếu, nghe nói cha truyền con nối đã mấy đời. Ông Sáu chơi đờn cò, ông Tám Của thổi kèn, chị Lọ đờn kìm, còn thằng Lượm bạn tôi đánh trống. Riêng đôi chũm chọe thì lũ nhỏ chúng tôi đứa nào thích thì ông cho theo mà chụp.  Thỉnh thoảng tôi xin theo kiếm cái bánh.

 

Chị Lọ còn có cây đàn giutar nứt một đường ở mặt thùng sau, chị lấy dầu rái trét lại, như trét thúng chai. Nhà ông Sáu Lắm ở bãi Trước, nằm gần bãi cát cồn Đùi. Tối tối chị thường mang đàn ra ngồi trên cái thúng chai úp ở bãi cát rồi hát, tôi và thằng Lượm ngồi nghe. (more…)

Read Full Post »

Older Posts »