Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Cội mai ở lại

Hoàng My
Con rắn chắc dài phải gần hai mét, nặng trịch. Khi anh cầm nó đưa cao lên quá đầu để thằng Tâm chụp hình, đuôi nó còn phết dưới đất một đoạn kha khá. Hàng thiên nhiên săn bắt được đó, chứ không phải đồ nuôi giả mạo đâu nhé!
 /// Minh họa: Tuấn Anh

Minh họa: Tuấn Anh
Lão chủ quán cứ ít phút lại chạy ra rít thuốc lào sòng sọc trong cái ống điếu to tướng, tuyên bố với anh như thế. Câu nói nhằm ý khoe chất lượng món ăn khiến anh bất giác thở dài, hình dung ra mấy khu rừng ngày càng cạn kiệt mọi thứ. Biết thế, tiếc thế, đau đáu thế, nhưng mình vẫn cứ phải ăn, thật là… Trong lúc đợi chế biến món rắn hầm sả ớt, anh rảo ra phía sau, nhìn những cái chuồng bé xíu ẩm thấp hôi hám nhốt vài con nhím, con hoẵng, con rùa xấu số đang đợi hóa kiếp. Anh thấy mình không có lý do mà lại thở dài.
Quán ở sát biên giới Việt – Cam, phía trước là cửa khẩu quốc tế, vòng vèo qua những con đường bé xíu heo hút mới tới, vậy mà ngồi chỉ một chút đã thấy có chiếc xe hơi khác ghé lại, thân quen buông câu: Bữa nay có gì đặc sản không ông chủ? Lão chủ quán liền hất hàm hỏi ngược: Quý khách muốn ăn gì cũng chiều được.
Vài ly rượu thuốc khiến thằng Tâm hăng hái hơn hẳn. Nó bảo, đầu giờ chiều mình sẽ vòng qua mấy chỗ em từng xem qua trước rồi. Ngon lắm. Có một cây rất bá cháy, tán rộng, chắc phải chừng ba mươi năm tuổi có hơn à, bị cái bà chủ nhà mắc dịch không chịu bán. Để hôm nay anh thử trổ tài dụ dỗ bả coi sao nghen! Nhạc mẫu tương lai của em đấy nhé, vậy mới cú!
– Bớt ảo đi mày, ế bền vững mà bạ đâu cũng thích kêu vợ kêu bồ!
Sau câu đùa ấy, anh hỉ hả cười. Đây không phải lần đầu anh cùng thằng Tâm la cà ở khu vực rừng già này để săn mai. Loài cây của mùa xuân phương nam hình như ưa loại đất nâu đỏ mỡ màng này thì phải, nên chưa ở đâu anh thấy trồng mai nhiều và đẹp như ở đây. Giá cả cũng hên xui vô chừng, nhưng nói chung là rẻ. Gặp phải chủ nhà tay mơ hoặc hám tiền là coi như trúng mánh lớn. Anh không hẳn vì lợi nhuận, dù nhiều đợt bán lại cho bạn bè người quen, thu lại cũng bộn. Chủ yếu, anh thích la cà trong những con đường mòn xanh lá, cảm giác làm chủ tay lái qua một hành trình xuyên rừng, bên cạnh là thằng Tâm hoa tiêu mồm miệng liến láu khiến anh như được thư giãn sau những ngày bươn bả căng thẳng mỏi mệt.
Tâm sống hẳn vào cây. Tìm mua, cắt tỉa, bứng gốc, mang về nuôi dưỡng chăm sóc. Nó say mê cổ thụ, đắm đuối những dáng mai một thân một cốt đầy mê hoặc. Già nua cằn cỗi cỡ nào, mai ghép hay mai tàng, vào tay nó là đâm chồi nảy lộc ngay. Tâm chỉ dở trong cái việc kiếm đầu ra, buôn bán. Dăm ba đợt nhận mối thầu trồng cây xanh trong khuôn viên một công ty hoành tráng nào đấy nhưng lại không rõ ràng tiền nong khiến nó cụt vốn, lây lất vài ba thứ cây vớ vẩn tép riu.
– Chút nữa tui chở đại ca ghé nhà con ghệ của tui xem lại gốc này nhé. Ngon lắm!
Vẫn cái tiếng “ngon” quen thuộc của thằng Tâm. Anh khẽ cười. Cây mai ấy quả là đủ khiến cho một tay chơi nghiệp dư như anh mê mẩn. Anh từng đến đó một lần, không gặp chủ nhà, cửa đóng im ỉm nên đứng từ ngoài nhìn vào cho đỡ ghiền. Gần hết tháng giêng rồi mà sắc vàng vẫn rực lên một góc, tựa hồ bao nhiêu lộc lá của khu vực này đều gom hết về đây, khoe ra cái màu óng ả nuột nà cuối mùa của nó. Lả tả đợi tàn phai thôi mà vẫn đẹp đến não nùng. Anh ngây người ra ngắm, chợt hiểu vì sao bà già kia nhất định không chịu nhả cái cội mai mấy mươi năm tuổi ra cho cò, lái lẫn khách.
Bả cũng không chịu gả con bé Hai cho tui mới tức chứ! Thằng Tâm lại thủng thẳng kể. Hai đứa quen nhau lâu rồi, mà kêu cưới cho xong chuyện, con bé cứ ậm ừ, bà già thì cười trừ.
Bé Hai thực ra không phải là quá bé. Cô gái trạc tuổi thằng Tâm, tóc có lẽ dài, vì được bới cao lên, chừa ra một cái cần cổ vun vút trắng trẻo. Khuôn mặt dễ coi, nhưng có vẻ là không phải dễ dãi hay dễ nhằn. Bé Hai đưa mắt nhìn anh như ước chừng, trước khi buông câu nói trỏng:
– Mẹ không bán mai đâu!
Anh cũng không định mua nữa. Cảm giác rõ rệt rằng, cội mai ấy, nếu bứng rời khỏi cái sân rộng bề ngang mà ngắn ngủi kia, nối tiếp là căn nhà lợp mái lá tứ bề bằng đất nung hay cái gì đó tương tự, tôi tối và êm êm ấy, thì thật không còn ý nghĩa nữa. Chẳng hiểu trời xui khiến gì, anh còn lén lút nghĩ thêm, nếu không có bé Hai loanh quanh bên cạnh, thì cội mai ấy cũng sẽ bớt đẹp. Anh hiểu luôn, vì đâu thằng Tâm thường kèm theo cái cụm “ngon lắm” khi nhắc về ngôi nhà có bà già, cây mai và người con gái nó quen biết nhiều năm mà chưa thể cưới hỏi gì.
Thằng Tâm với bé Hai đi về hướng vườn tiêu nói chuyện, bỏ mặc anh lững thững phía ngoài. Anh lặng lẽ nhìn mớ xoan đào, bằng lăng, mận ăn trái đã cắt cụt ngọn, được bứng trồng trong mấy cái chậu đất nung to tướng xếp hàng dài buồn thiu bên đầu hồi. Cây cối dường như cũng có cuộc đời riêng của nó, nên khi bị tách ra khỏi nơi đã sinh ra và lớn lên thì cũng khó có thể đẹp đẽ tươi mưởi như lúc đang ở nơi chúng thuộc về. Ý nghĩ bâng quơ ấy đưa anh ngang qua cái cửa sau mở ra khoảnh vườn đã cho thằng Tâm thuê để trồng cây, “làm nghề”. Bà già, mẹ của bé Hai đang ngồi cùng mớ áo quần nùi nùi lớp lớp bên cạnh. Ánh mắt dành cho anh không mấy thiện cảm. Kệ. Anh thư thả dạo hết lượt chiều ngang của vườn tiêu, tiện tay hái cả nắm trái chín nhìn ngon mắt, dù chẳng để làm gì. Lúc anh quay ra, vẫn thấy bà già nhướng mắt nhìn anh chăm chú:
– Cô may đồ cho khách à?
– Ừ, loay hoay chi đó cho vui. Chứ biết làm gì bây giờ.
Anh nhìn mớ vải vóc có phần cũ kỹ úa màu ấy, tự hỏi, có phải bà già cứ khâu vào rồi lại gỡ ra, mượn sợi chỉ cây kim để khuây khỏa thời gian hay không nhỉ. Anh bất giác thấy mình bỏ qua thói quen kiệm lời cố hữu mà dịu dàng hỏi thăm thêm vài câu, bất ngờ khi nhận lại thái độ chia sẻ đến khó tin:
– Ông nhà tôi mới mất tháng rồi. Mấy chục năm trước đưa mẹ con tôi từ bên Cam về đây, mua đất dựng nhà, làm công trình phụ các kiểu. To rộng để làm gì, rồi đột ngột bỏ mẹ con tôi mà đi…
Bà già nghèn nghẹn. Nước mắt chẳng ròng ròng mà chậm chạp rơi ra, khó nhọc. Anh đứng đó, bối rối, xót ruột. Tựa hồ như chính anh vừa gây ra cái tội gì đấy, khiến cho tủi hờn bật ra thành dòng. Người già thật lạ kỳ, giống như một cái chai luôn đóng kín, khó ai có thể bày tỏ, cho tới lúc nào đó bỗng đột ngột bật nắp trút ngược, bao chất chứa trong lòng tuôn ra. Anh bỗng muốn nắm tay bà già để an ủi. Hoặc chí ít là khẽ chạm vào bà, theo một cách nào đấy, giữa người ta với nhau…
Có tiếng bước chân, bé Hai và thằng Tâm vừa quay lại. Thằng Tâm thoáng cười, vẻ ngạc nhiên và hài hước với cảnh tượng trước mặt. Bé Hai nhìn thẳng vào mắt anh, lạ lẫm. Nửa như trách móc, nửa lại khiến anh thấy mình luống cuống. Người đàn ông đã gần đi qua tuổi trẻ, bôn ba nhiều mảnh đất, trải qua vô số nỗi thiệt hơn thành bại ở đời, hà cớ gì phải lúng túng trước một bà già và một cô gái miền đất đỏ thế này?
***
Anh còn trở lại cái vườn tiêu, nơi phía trước có căn nhà mái lá và đầu hồi được cho thuê để trồng cây ấy thêm vài bận nữa. Lần đầu là cùng với thằng Tâm và một hai người thợ địa phương vừa thuê vội. Anh mướn họ leo lên lợp lại cái mái nhà đã có vài nơi lỗ chỗ nhiều sợi dột. Chằng thêm lá, kèo thêm dây để chống chọi lại mùa gió sắp tới. Dặm sơn lên mấy mảng tường lốm đốm vì thấm nước. Vừa làm anh vừa bông đùa với thằng Tâm, là đầu tư cho chú mầy cũng tốn bộn tiền đấy nhé. Liệu liệu mà thu hoạch cho tôi nhờ! Nói xong, anh liếc nhanh ra xung quanh, chỉ sợ có ai kia nghe được sự bỗ bã ấy. Anh bỗng cắc cớ tự hỏi mình, là có đúng là anh đang vì thằng Tâm thật không?
Mấy đợt sau, anh đi một mình, đấu tranh dữ dội với cảm giác hình như anh vu vơ có lỗi với thằng Tâm thì phải. Ta có đang làm đúng không? Ta vì cái gì vậy chứ? Ta sao thế này? Anh gạt qua những băn khoăn của bản thân khi quyết định tới lui chốn ấy, nhiều lần…
Thêm dăm lượt nữa, anh đến, chỉ để cùng bà già ngồi ăn bánh uống trà anh tự mang theo, nghe kể thêm vài câu chuyện hồi xưa, với cụm từ luôn được nhắc nhớ là “ông nhà tôi”. Anh loay hoay với câu hỏi: Phải yêu thương đầy vơi như thế nào, thì khi người đã khuất xa lâu rồi, mà người ở lại vẫn còn ngong ngóng nỗi tiếc mong khoắc khoải đến vậy? Tinh nghịch trong anh sự tưởng tượng rằng, biết đâu mười, hai mươi năm nữa, bé Hai cũng có một “ông nhà tôi” trong tim cô ấy, cùng thưởng trà ngắm mai, thì kẻ may mắn kia sẽ ấm áp hạnh phúc biết chừng nào. Thâm tâm anh chẳng dám thừa nhận, là trong mấy câu chuyện không đầu đuôi vô thưởng vô phạt ấy, anh vẫn có lúc dáo dác ngó ra cổng, chờ một tiếng bước chân len qua cội mai vàng. Là bé Hai đi làm công nhân ở gần đó về, dắt chiếc xe vào cổng, lên tiếng chào ông khách mê mai đến dở người…
Bà già giờ đã quen tiếng quen người, có vẻ cảm kích và quý mến, mở lời biểu anh ở lại ăn cơm, nhẹ tênh và đơn giản như với người nhà. Anh cố giấu nỗi sung sướng ngon miệng khi được xếp gọn đôi chân mà ngồi vào mâm cơm nhà đó, đối diện với bông bí xào tỏi, trứng chiên thịt bằm, khô cá bé tí ram mặn. Bé Hai giờ không còn dành cho anh ánh nhìn lạ lẫm nữa, nhưng đôi mắt mang hình dấu hỏi vẫn thường nhướng về phía anh, khó tin xen lẫn buồn cười. Tựa hồ như kiểu “dẫu anh cố gắng thế nào thì cũng không có được cây mai nhà tui đâu”. Anh đôi khi chỉ muốn buông chén trà uống dở xuống, níu tay bé Hai mà giải thích một câu rằng, thật ra ngay từ hôm đầu, anh đã bỏ hẳn ý định mang cội mai đi rồi.
Nhưng anh chẳng dám. Thật lạ lùng là đôi khi người ta bỗng trở nên nhút nhát vì một ai đấy không dữ dằn, không nguy hiểm, càng không có ý định tấn công hay ăn hiếp mình…
***
Anh bất ngờ nhận được cuộc gọi của thằng Tâm vào chiều cuối năm, khi lòng đã dự định ngày giờ quay lại thăm cội mai và chủ nhân của nó.
– Báo tin với ông anh, là tết này tui cưới vợ! Nghiêm túc nhé!
Anh thật lòng mừng cho nó. Từng tuổi ấy, giá như có một người đàn bà để cùng tưới mấy cái chậu đất nung trồng mấy cái cây xoan đào, bằng lăng, lộc vừng kia, thì vẫn tốt hơn những chuyến rong ruổi rừng xanh không có ai ngong ngóng chờ về. Chưa kịp hỏi gì, đã nghe thằng Tâm oang oang thông báo tiếp:
– Bà già cuối cùng chịu bán cây mai rồi. Đại ca thu xếp lên bứng với tui. Chuyến này anh em ta được cả đơn lẫn kép. Mà chắc cũng nhờ bao nhiêu công sức ông anh tới lui chỗ đó, nên bà già mới cảm động, mà gả bé Hai cho tui đấy!
Thằng Tâm còn dặn dò kể lể tính toán thêm vài thứ nữa, đại khái như chắc phải chuẩn bị cả xe cẩu lẫn xe cuốc mới xử nổi cội mai này. Anh em mình phải bó bầu quanh gốc cây thật lớn cho chắc cú. Cơ hội lâu lắm mới tới, đâu thể sơ suất, ông anh tuyển được cây mai hàng hiệu, thì em út cũng có chút cháo. Thử coi, biết đâu tóm được vài chục triệu là bình thường…
Anh hầu như không còn nắm rõ nội dung câu chuyện nữa, nhưng vẫn thoáng qua trong đầu một nhận xét, là tuyệt nhiên không nghe thằng Tâm nhắc gì thêm về cái chuyện nhân duyên đại sự. Có vẻ như, giữa lấy vợ và “cưới” được em mai tuyệt hảo có khả năng sinh lời cao ấy, thằng Tâm vẫn ưu tiên cái vế sau hơn hẳn… Nhưng thật ra, thì với anh, điều ấy còn có ý nghĩa gì?
Không hiểu sao mà hôm nay anh lái xe lừng khừng như thể quên lối. Anh nghĩ tới thằng Tâm, với chữ “ngon” bất hủ của nó. Tới cái cần cổ vun vút trắng trẻo và đôi mắt chán ngán nhìn những kẻ luôn hăm he xẻ thịt cây mai. Phảng phất xa gần một dấu hỏi dành cho anh, người đàn ông rõ rành không thuộc về chốn biên giới mịt mờ, cớ sao cứ hay lui tới làm gì. Bà già khốn khổ kia nữa, cuối cùng vì đâu mà đã mềm lòng nhân nhượng? Lẽ nào vì hiểu lầm những đợt chăm chút của anh? Anh nở nụ cười như khóc, hình dung ra hình ảnh cội mai vàng rực cùng những câu chuyện yêu thương sâu dày trong ký ức về “ông nhà tôi” bị bứng ra khỏi nơi nó thuộc về. Gần năm nay, cội mai vàng rực ấy giống như cái neo để anh dặn mình sống tốt hơn, chậm hơn, đàng hoàng hơn
Quá nửa tháng chạp rồi, nên ngay cả ở mảnh đất tưởng đâu vẫn bị thế giới văn minh bỏ quên này, mùa xuân cũng đang khẽ khàng tiến lại. Bông cúc vạn thọ nhà ai trông tết hay sao, mà háo hức nở sớm trước sân nhà rưng rức. Anh bắt gặp bên hàng rào một rổ kiệu to đang đợi nắng, thấp thoáng bóng đàn bà ra vào dưới chái hiên. Dưng không anh thấy mình nghĩ về một dáng người với mái tóc bới cao chừa ra cái cần cổ trắng ngần. Có điều gì đó chợt nhoi nhói ngang qua tim anh, quay quắt.
Hình ảnh cội mai vàng rực ấy khiến anh bỗng dứt dạc với chính mình: Không thể nào! Chân anh vít ga, mặc kệ bàn tay đặt trên vô lăng rất giống như kẻ mộng du. Bởi anh tin chắc là, dẫu cuộc đời được mất éo le xoay trở thế nào, ai buồn ai vui, thì cội mai vàng kia cũng nhất định phải ở lại khoảnh sân có bề rộng mà hẹp chiều ngang kia, với những câu chuyện yêu thương sâu dày của nó.
Nhất định như thế.
Advertisements

Read Full Post »

Bến xuân

Truyện ngắn

          Tiểu Nguyệt

 

Hạ đạp xe qua khúc cua rồi rẽ vào đường Hoàng Diệu, con đường mà ngày xưa bọn con gái trường nữ tụi nàng hay gọi là “con đường tình ta đi” mỗi khi đến lớp. Hàng me hai bên đường rợp mát, yên vắng, với những chiếc lá me bay bay nên thơ, để các nàng võ vẽ tập gieo vần mơ mộng. Hạ mỉm cười nhớ lại những bài thơ mộng mơ ngày nào, sao mà ngây ngô, sao mà dễ thương lạ.

Ngày ấy, sáng nào nàng cũng đến rủ Ngân cùng đi học, hai đứa vừa đi vừa ngân nga vài câu trong một tình khúc nào đó yêu thích, trên con đường thơ mộng ấy. Tà áo vừa rộng, vừa dài, xúng xính, xùng xình của Hạ, nhìn vào là có thể đoán biết mặc bính áo của người khác. Nàng luôn mặc áo dài của chị gái đã chật bỏ ra, có khi dép đứt, phải lấy sợi dây ny lon cột lại, xỏ ngang một khúc cây ngắn, vẫn reo vui, hồn nhiên đến lớp. Chiếc quần trắng bị sên “cạp” lủng lỗ, đi bộ thì thôi, nhưng nếu đi xe đạp thì phải cột túm ống quần lại, giống đi thăm ruộng vậy. Thế mà Hạ chẳng biết mắc cỡ, tỉnh bơ trước cái nhìn diễu cợt của bạn bè cùng trang lứa. Dù vậy, các bạn luôn dành cho Hạ lời khen xinh xắn, dễ thương, có đôi mắt sâu thẳm cuốn hút. Đám bạn trong lớp cũng tỏ ra ngưỡng mộ Hạ vì các bài tập luôn đạt điểm cao nhất. (more…)

Read Full Post »

Ngõ hoa

Truyện Ngắn

MANG VIÊN LONG.

Cô bạn giới thiệu cho Thuận căn phòng có chiều dài 5 mét, chiều rộng 4,5 mét – tổng cọng hơn 22 mét vuông, như ở tầng trên. Đến xem, Thuận đề nghị lấy phòng dưới đất, bởi còn chút khoảng sân có bóng cây, có thể đi lui đi tới được. Bà chủ nói đã nhận lời một cô giáo mới vừa chuyển đến dạy ở thị xã niên khóa nầy rồi, đành chịu.

Lúc đứng ở khoảng hành lang hẹp tầng trên, Thuận nhìn sang dãy phố đối diện, thấy ngôi nhà kiểu vila thời Pháp có trồng nhiều hoa, nghĩ có thể thư giãn đôi chút mỗi sáng khi vừa thức dậy. Căn phòng nầy là phòng trọ thứ ba Thuận đi tìm thưê trong gần tuần lễ nay tương đối tốt, nên đã đặt cọc tiền trước ba tháng cho bà chủ nhà. (more…)

Read Full Post »

Nguyễn Thị Tịnh Thy

Vợ chồng nhà văn Elena Pucillo (giữa) và Trương Văn Dân đang tâm sự về tình yêu và trang viết – Ảnh: L.Điền

Trong làn sóng di dân của nhân loại từ xưa đến nay, người ta thường bỏ nơi nghèo khó để đến xứ giàu sang, bỏ nơi lạc hậu để đến vùng văn minh… Nhưng ở thế kỷ XXI này, có một nữ tiến sĩ người Ý lại đi ngược so với mọi người; chị bỏ nơi giàu sang, văn minh để về với nghèo khó, lạc hậu. Đó là Elena Pucillo Truong. (more…)

Read Full Post »

Chuối trổ buồng

Trần Bảo Định

1.
Má mất trước hòa bình.
Ngày về, tôi nghe chòm xóm kể lại: ”Mảnh đạn pháo ”mồ côi” từ căn cứ Đồng Tâm bắn đã cắt lìa sự sống của má tôi!”. Ngôi nhà ba gian, hai chái lợp lá dừa nước thuộc mấy đời người, giờ chỉ còn lại mớ tro tàn bay tứ tán. Lần hồi, xóm giềng giúp tôi dựng lại ngôi nhà trên nền đất cũ, cái nền đất mơ ước hòa bình, và thấm máu mẹ tôi.
– Bảy! Dựng nhà xong, cháu nhớ trồng chuối lập vườn, nha!
Bác Hai nhắc. Chắc là bác sợ tôi quên.
Tôi nói trả treo:
– Trồng chuối cũng chỉ là cách nuôi ma quỷ. Người ta nói: đêm đêm nó hiện về kêu, tiếng kêu khóc rợn người!
Bác cười sặc sụa, buông thòng một câu:
– Ngày trước, má cháu muốn biến khu đất vườn tạp nầy thành vườn chuối!
Bồi hồi, tôi nhớ lại.
Bến nước nhà tôi ngó qua bên kia là doi đất Hốc Đùn (1) giữa đôi bờ sông Bảo Định. Sanh thời, má tôi thích trồng cây chuối, mặc kệ người ta hay chê bai: trồng chuối là ”trồng chúi nhủi” (!?). Có lần má nói: ”Hòa bình, má sẽ lập vườn trồng chuối, và chuối đó phải mang thương hiệu ‘Chuối Bến Chùa’!
– Chuối có nhiều giống. Vậy, má dự định trồng giống chuối nào?
Tôi hỏi, má chợt cười: ”Giống chuối nào má cũng trồng, không phân biệt”.
Má giải thích:
– Tùy đất chọn giống, không thể tùy giống chọn đất.
Rồi, má nói thòng câu: ”Con người ta thì cũng vậy, thôi! Tùy việc chọn người, không thể tùy người chọn việc”.
Lát sau, má nói chắc cứng:
– Xẻo đất vàm Bến Chùa được bồi lắng bởi phù sa hỗn dung từ hai dòng sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, nên có khả năng giúp các giống chuối nhanh chóng phát triển, tươi tốt.
Giờ thì, tôi thực hiện điều mong ước của má!
Giống chuối cao đòi hỏi không gian, giống chuối lùn thì không. Buổi trưa bóng đứng, tàu lá chuối buồn rũ nắng. Bâng khuâng, tôi nhìn đọt và búp chuối chênh vênh phơi cái noãn nà, khiến kẻ chặt lòng cũng không thể không là khách tình si. Buộc miệng, tôi ngâm nga:

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem (2).

Những bông chuối lay động; tiếng xạc xào nửa như hớ hênh, nửa như khép nép run rẩy rụng cuống hoa. Nhớ và thương má tôi, người trở thành thiếu phụ trong những ngày đầu binh lửa qua làng. Mắc võng dưới tán cây vú sữa, tôi đọc đi đọc lại ”Suối về Hoa Nghiêm” (3), và từ nơi sâu thẳm của đứa con đã lên tuổi lão, tôi trào dâng niềm xúc cảm, bởi:

Mẹ mãi muôn đời mẹ của con
Dù Nam Hải cạn Thái Sơn mòn
Trái tim in bóng THỜI mơ MỘNG
Tuổi ngọc ngà vương nét lệ son

mà thi sĩ Trần Quê Hương đã vắt máu tim mình dệt thành những vầng thơ về Mẹ!
Trong tâm tưởng, tôi nghe tiếng róc rách của suối, tiếng gọi rạt rào về cõi HOA NGHIÊM bằng những trang kinh quý báu cho người. Bỗng dưng, tôi nhớ chuyện nhà:
” – Trời khuya rồi đó, con!
Má nhắc tôi.
– Dạ!
Dòng sông quê bàng bạc trăng sương.
Tôi lững thững bước qua thềm cửa, hình như bóng trăng lẽo đẽo theo sau níu gót chưn. Tôi ngoái lại, trăng xoay mặt về phía vườn chuối, và trăng xoải mình bơi ra vàm rạch Bến Chùa mênh mông nước.
– Con đi ngủ đây, má!
Nói là nói vậy, chớ thiệt ra, tôi nào có ngủ nghê gì được đâu. Bởi lẽ, trong tôi co cụm bao điều trăn trở, và dàn trải những dự phóng tương lai bất định của trai thời loạn: Chiến tranh!
Tiếng pháo gầm xa như tiếng sấm nổ của cơn mưa đầu mùa. Má tôi lụm cụm ngồi dậy.
– Bảy! Ngủ thức, con?
Nằm im, tôi giả đò ngủ.
– Cái thằng nầy, thời giặc giả mà mới đó đã ngủ say rồi!
Má cằn nhằn, sự cằn nhằn pha lẫn tiếng thở dài ngao ngán bom đạn.
– Xuống tảng-xê, nhanh lên, con!
Má lay chưn tôi theo nhịp thúc giục.
Tiếng súng nổ như bắp rang ở hướng cầu Bến Chùa ”.
Hoàn cảnh cũ tuy đã xa lắc xa lơ, nhưng tôi không thể nào quên và cũng không thể nào không nhớ đoạn thơ trong bài thơ ”Mười năm con lớn” của ông:

Con nhớ mỗi lần nghe súng, mõ
Đầu đàn ngoại gọi ”Dậy con ơi!”
Dậy liền xuống đất chun hầm trốn
Lo lắng nằm run…vái Phật Trời

Và, đêm thổ huyết trăng vàng úa, tật nguyền trên quê hương tôi!

2.
Vườn chuối mượt xanh, cây chuối đã ba mùa trổ bông kết trái thành buồng trên mảnh đất từng bị đạn bom chà đi xát lại và nay, vẫn còn phảng phất mùi thuốc súng. Tôi giật mình, ngậm ngùi khi đọc thơ ông:

Nước nhà gặp thuở can qua
Chiến chinh máu lửa chan hòa lệ dân
Vì tình chung gác tình thân
– Em ơi! Hãy nhớ duyên trần trăm năm…

Lời người ra đi dặn dò người ở lại, và người ở lại cũng dặn dò người ra đi: ”Mau về, con khóc đợi chàng đó nghen!” trong ”mắt đẫm châu tràn” tiễn ”người đi tận mù tăm sương ngàn…”. Những câu thơ mang nội hàm bình dị không hẳn là bình dân, rất dung dị đời thường đã rót vào lòng người đọc sự thổn thức không thể cưỡng lại.
Chàng thi sĩ – đứa con yêu dấu của rạch Bến Chùa, vùng đất đã từng nổi tiếng mận Hồng Đào một thuở – đã y bát đi khắp nẻo đường quê hương, và chàng gửi lại ”Suối về Hoa Nghiêm” với hai khúc đoạn: ”Tình ca 25 năm”, ”Cây Tùng – Phương Hồng Cỏ và Biển Khơi”. Tôi thẫn thờ nhìn bông hoa chuối màu tím trước cơn gió dữ tạo tiếng gió xé lòng tử biệt:

Con gái hai mươi thành thiếu phụ
Khóc tình chưa cạn lệ chia ly
Rồi nay lại khóc thân đơn lẻ
Anh hỡi! Sao mà vội sớm đi?

Phận người trong kiếp trầm luân chìm bể khổ, và ông đã ngộ ra từ cái giác nơi trái tim tinh khôi khi bước vào tuổi mười ba. Dưới bầu trời xanh và mây trắng, ông mất cha rồi mất mẹ, thân côi cút nương tựa ngoại… những ngày! Ông tìm về… Về HOA NGHIÊM bằng tất cả tấm chơn tình tận hiến.
Đêm đồng bằng xuống nhanh như cố xua đuổi ngày. Trăng – Trời trong thể trạng Trời – Trăng, và nếu vì một lý do nào đó, Trời – Trăng thiếu Mây – Nước, thì Trời – Trăng kia cũng chẳng còn ý nghĩa gì đối với thế gian. Mẹ tạo con và con thì không thể tạo mẹ. Tôi đã đọc thơ thi sĩ Trần Quê Hương cho bác Hai và bà con trong xóm cùng nghe. Thơ của ông chẳng khác nào ban mai mồi nắng, truyền ấp áp và quang hợp sự sống. Đó là điều cảm nhận không riêng gì bác Hai mà của cả mọi người. Với thiên hạ, chẳng xa lạ gì ông; với người Mỹ Tho dưới mái tịnh xá Ngọc Tường trong chiến tranh hay hòa bình, thì ông mãi mãi vẫn là người thân ruột rà. Người ta trọng ông vì cái nghĩa, mến ông bởi cái tình, thương ông từ cái chất phác, hồn hậu và nhứt là, ông cúi mình xuống nâng mọi người giác ngộ cái cần giác ngộ trong cõi vô thường. Vì vậy, thơ ông không cần dụng công chắc lọc chữ gọi là sang hoặc hàn lâm mà vẫn đi vào lòng người đọc sự nhẹ nhàng, tinh tế như lời ru của mẹ, như câu hò, câu ca dao thấm đượm tình quê.
Tôi nói nhiều về thơ ông, có lẽ do chủ quan và cũng có lẽ do đồng cảm. Song, phải thú nhận rằng, tôi không cầm được nước mắt khi chạm vào thơ ông viết về Mẹ!
Mẹ ông hay mẹ tôi, hoặc bất cứ bà mẹ nào trong thế gian nầy, chắc đều có cùng mẫu số chung là ”banh da xé thịt” đẻ con! Ông bộc bạch tâm tình:

Hỡi ơi! Rêm nhức cùng da thịt
Mẹ lại vì con cam chịu mà

cho tới lúc ông chào đời:

Vừa ra lòng mẹ oe oe khóc
Tiếng khóc con xua hết tủi hờn!

Tự dưng, tôi liên tưởng cây chuối vườn nhà – chỉ là chúng sinh – ; vậy mà nó cũng phải trải qua thời khắc ”banh da xé thịt” để trổ buồng; đồng thời cho ra đời mầm sống mới, gìn giữ giống nòi! Tôi đã nhớ ra, có lần bác Hai chỉ vẽ:
– Chuối chỉ trổ buồng về đêm!
Tôi hỏi: ”Vì sao?”. Thong thả, bác nói chậm rãi:
– Đêm càng sâu, không khí càng lạnh, nhứt là dưới phần gốc chuối và từ đây, cái lạnh truyền khắp thân cây. Thân cây chuối run bần bật và phát tán thanh âm ”nghiến ken két” .
Rồi, bác nói người yếu bóng vía, nghe thanh âm đó giữa đêm khuya khoắt cũng có thể điếng hồn, chết giấc.
Tôi ê răng. Bác cười:
– Đó là, tiếng kêu rên của bẹ bắp chuối đang lúc bung quài chuối non chào đời!
Tôi xẻn lẽn, nhận ra cái ngớ ngẩn:
– Vậy mà, cháu…
– Cháu tưởng rằng: trồng chuối là nuôi ma quỷ!
Bác đỡ và nối lời tôi.
*
Chết ngất đôi giờ cho con mẹ
Lọt lòng ra khỏi bến tình nhau

Câu thơ của ông đã gợi trong tôi hình ảnh chẳng khác gì buồng chuối non bung ra khỏi bẹ bắp, thật kỳ lạ – mà cũng rất kỳ diệu! – mơ hồ tựa người chui ra, và không rõ bắp chuối lấy nước trong vắt ở đâu mà nhễu thành giọt… thành giọt giống như nước ối của mẹ sanh con. Cái ”bến tình nhau” của thi sĩ là mối dây vi diệu cột chặt tình mẫu tử phải đạo làm người. Tôi thương cảm thi sĩ như tôi thương cảm tôi, bởi thi sĩ và tôi, cả hai đều không còn cha mẹ, để:

Đêm đêm thắp ngọn đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con (Ca dao).

Trong vòng đời nghiệt ngã, thi sĩ đã tự giác nhi giác tha:

Phải tự lòng mình trau luyện lấy
Tự mình thức tỉnh trước đời mình
Trăm năm hồ dễ ai còn thấy
– Sinh giả danh hề, tử giả sinh?

Đêm tàn. Trời sáng hửng, và thi sĩ đã:

Giã từ nhân thế trần gian giả
Năm tháng phiêu bồng thoảng tháng năm.

3.
Thực tại, người ta thường ngộ nhận bịnh ”chùn đọt chuối” với bông hoa chuối, nó giống nhau mà không phải nhau. Bông hoa chuối màu tím, thiên hạ hay gọi: ”Màu tím buồn châu thổ” vì thương nhớ mẹ. Cây chuối trổ bông sau hơn nửa năm hoặc cả năm trồng. Bác Hai dặn tôi không được cắt tỉa lá xung quanh bông chuối. Bác nói: ”Dưới ánh nắng mặt trời, lá bảo vệ bông chuối”.
Thiên nhiên tuyệt diệu!
Cái tuyệt diệu của thiên nhiên là: Cây chuối cần nước. Mất nước, cây chuối khô héo, lụn tàn và chết. Nhưng, nếu nước ngập tràn gây úng thì cây chuối không thể sống. Sự cân bằng môi sinh nó quan trọng biết dường nào. Vả lại, cây chuối cần và đủ không gian sống, chất lượng sống trên vùng đất vốn trù phú, phù sa màu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long.
– Đừng tiếc chồi nhỏ dù rất nhiều, cháu hãy mạnh tay chặt bỏ.
Bác Hai khuyến cáo và biểu tôi chọn để lại một chồi vượt trội hơn các chồi khác. Bác nói: ”Đó là cách tốt nhứt giữ cho cây khỏe mạnh và buồng chuối trĩu trái, thơm ngon”!
Quê tôi, thường hay gọi buồng là nải. Thực tế trái chuối ra nải treo, nải treo thành tầng, mỗi tầng gọi là nải, mỗi nải có nhiều trái và các nải gọi chung là buồng chuối. Khi bông chuối thu hẹp cánh, buồng chuối lồ lộ trên quài thì tôi cắt bỏ những phần thừa cây chuối. Có lẽ, một câu thơ, một bài thơ hay tập thơ chắc là cũng vậy thôi, và thi sĩ Trần Quê Hương đã làm được điều đó một cách tinh tuyển hết sức tự nhiên đối với thi phẩm ”Suối về Hoa Nghiêm”!
Bắp chuối, chính là bông đực và bông đực, không khả năng sinh sản nên người ta phế bỏ. Khi lá cây chuối bắt đầu rụng và chóp bông nhỏ trên đầu trái chuối khô héo là lúc thu hoạch trái. Bác Hai chỉ chặt nhát dao giữa thân cây chuối, tôi làm chưa đúng, bác cằn nhằn: ”Đã biểu chặt chéo giữa cây phía đối diện buồng chuối”, và bác nói thêm: ”Uốn cong cây, rồi cắt buồng ”.
– Cháu nhớ giữ lại một chồi cây, nó sẽ thay cây mẹ ở ngày mai!
Bác Hai cẩn thận nhắc chừng tôi.

Đêm quê nhà.
Trăng Vu Lan bồng bềnh, đùn đục sương xứ sở. Nằm nghe tiếng chuối ”nghiến ken két” trở dạ ngoài vườn, tôi bâng khuâng trong nỗi cảm hoài ”Suối về Hoa Nghiêm” qua từng câu thơ thi sĩ Trần Quê Hương, và với tôi, đã quá đủ chất liệu làm nên trang sử thi về Mẹ thuần khiết tâm hồn Việt!
TBĐ.
…………………………………………….
(1) Nay là ấp 5, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
(2) Ba tiêu (cây chuối), Nguyễn Trãi (Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, 1976).
(3) Tuyển tập thơ : Suối về Hoa Nghiêm – Tặng phẩm dâng đời – Tâm hồng mười phương (trích), Trần Quê Hương, Nxb Tổng Hợp, 2015.

(more…)

Read Full Post »

Đặng Phú Phong

     ( Ông bà Võ Phiến với những tháng ngày thong dong.)

Ông Võ Phiến gọi Nguyễn Mộng Giác là một người “thàng”(hậu). Ông Nguyễn Mộng Giác cũng gọi Võ Phiến là “thàng”. Và, hai ông định nghĩa thàng như sau:

Nguyễn Mộng Giác: “Thàng” không phải là hiền. “Thàng” là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc.” (Đặc san Tây sơn –Bình Định,1999) (more…)

Read Full Post »

Nhân ngãi

 

                                         Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

Thái Phiên

.

Tháng cô hồn, ai cũng e ngại, ai cũng kiêng cữ. Dậu nghe mẹ dạy hồi còn bé xí rằng tháng 7 âm lịch “ai còn mẹ thì đừng làm mẹ khóc/ đừng làm buồn lên mắt mẹ nghe không?”. Dậu nghe thế, hiểu sơ sơ nghĩa là phải thương mẹ nhiều, không được làm mẹ buồn, mẹ khóc thế mới là con cái hiếu thảo. Dậu nghe người già kể rằng hàng năm cứ tháng 7 âm lịch Diêm Vương mở cửa địa ngục cho các linh hồn ma quỷ về trần gian hưởng lộc bố thí, cúng dường của người trần từ ngày 2 đến 14. Ai có người thân đã mất, tháng này sắm sanh cúng lễ chu đáo để báo đáp tình nghĩa. Hương linh lang thang không ai thờ cúng thì các gia chủ đều sắm cho mâm lễ ngoài sân mời đến hâm hưởng mà thỏa mãn, không quấy phá gia chủ… Rồi mẹ dặn Dậu phải kiêng tắm khuya, kiêng phơi quần áo ngoài trời đêm, kiêng đi chơi khuya, kiêng nói to gọi nhau í ới trong đêm vắng, kiêng khua chén khua đũa chập tối, mờ sáng… thôi thì bao nhiêu là kiêng cữ trong tháng cô hồn để tránh ma tà xâm phạm đến nhà cửa, bản thân. Ở đời Dậu chả sợ ma, cũng chả biết ma dạng hình gì, phim ảnh chiếu tùm lum mỗi nước mỗi kiểu ma quỷ, dữ hiền, ghê rợn có hết nhưng đấy chỉ là tưởng tưởng của mấy vị nhà văn, nhà đạo diễn, quay phim còn ma thật Dậu chả gặp bao giờ, dầu cũng từng mong. Dậu chả sợ ma. Dậu sợ người, họ là ma đầu đen. Những kẻ trước mặt Dậu vừa miệng mồm ngọt nhạt như kem như kẹo đấy, Dậu vừa đi khuất lưng, vừa vắng họp là cong môi tâu hớt, phê bình văng vãi. Nên Dậu thích vắng họp, để tìm ra kẻ đối đầu với mình. Miều sẽ nói lại không sót dấu phẩy nào những lời vài kẻ phê bình vùi dập Dậu nơi những cuộc họp dài lê thê chán như con gián với những mặt người quanh quẩn, buồn tẻ. Ma đầu đen đáng sợ gấp tỉ lần ma tưởng tượng. (more…)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »