Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Uncategorized’ Category

Trần Bảo Định
 
 Một.
Nắng trưa hầm hập nóng, chị Hai ngồi đươn rế dưới bóng hàng cây trâm già. Những sợi tre thanh mảnh, qua bàn tay mềm mại của chị, chốc lát biến thành vật dùng làm bếp gia đình. Thằng Út chẻ và vuốt xong bó tre, dợm đứng dậy đi bắt cá rô ngộp nắng ở ngoài lung. Chị Hai ngăn lại:
– Tháng năm đồng khô hạn, cá rô không có thức ăn nên thiếu thịt thừa xương; bắt chi, cậu Út nó!
Trong nhà, má đương tỉ mẫn sửa lại cái sàng gạo để ngày mốt má sàng gạo sạch trấu, tấm…chuẩn bị giỗ tía. Má nói vọng ra:
– Chị Hai của con nói phải đó! Ông bà xưa thường dặn: ”Măng tháng chín thì nhịn cho chồng/ Cá rô tháng năm thì bằm cho chó”.
Vậy là, dự tính của thằng Út bị má và chị cản trở; mặt mày nó buồn xo, xụi lơ cán cuốc.
Chị Hai bèn bỏ ngang việc đươn rế, rủ cậu em đi róc lá dừa nước mần bánh lá ăn trưa cho đỡ buồn miệng.
Nghe nói tới mần bánh lá, thằng Út nhảy cửng lên mừng rơn hơn mừng húm!
Má nhắc chừng, chẳng khác gì phân công:
– Con Hai lo đi róc lá dừa, còn thằng Út chạy ra gò quơ mớ lá thúi địt (1) mang về cho má giã lấy nước cốt nhồi bột.
Nhà nghèo, thường thì buổi ban mai, không có gì ăn dằn bụng; ai nấy đều lo làm lụng công việc, mãi tới lưng chừng trưa, khoảng chín, mười giờ thì má mới dọn cơm cho cả nhà cùng ăn bữa cơm chính trong ngày. Thành thử, đến trưa hoặc xế trưa, bụng dạ thằng Út hay bị kiến bò. Má biết ý nên thường bày mần bánh, khi bánh chuối, lúc bánh lá…Cứ vậy, ngày nầy qua tháng nọ, thằng Út chẳng ngán ăn vì đối với nó, có cái ăn đã là đã lắm rồi!
Bột gạo nặn mỏng dính trên thân lá dừa nước cắt khúc được chị Bảy gắp ra từ nồi hấp cách thủy. Mùi thơm đặc trưng của bánh lá bay lãng đãng theo hơi nước sôi xông thẳng vô mũi thằng Út, khiến nó thèm ăn… muốn chết! Má lật đật cắt bánh cho vào dĩa, chưa kịp chan nước cốt dừa, chan nước mắm thắm, độn thêm dưa leo băm nhuyễn, thì nó đã hấp tấp bóc tay, ăn bánh ngon lành. Má rầy:
– Bây, ăn cái giống gì hồ đồ vậy! Bụng dạ nào chịu xiết!
Miệng thằng Út vừa nhai bánh, vừa hỏi:
– Bụng là sao, dạ là sao, hả má?
– Dạ trên rún, bụng dưới rún. Nhưng rồi, bụng làm thì dạ phải chịu thôi!
Má nói cầu kỳ quá, nó chẳng hiểu; trong lòng nó vẫn thắc mắc, là tại sao phải dùng nước lá thúi địt nhồi bột thì bánh lá mới ngon? Và, bộ hết tên đặt rồi hay sao mà lại đặt cái tên thúi địt, nghe thiệt kỳ cục!
Con Vện sủa trước ngõ cắt gãy dòng suy nghĩ vẩn vơ của thằng Út. Tiếng má nói vội:
– Nhà có khách, nha bây!
Chị Hai chộp úp cái lồng bàn đậy bánh, thằng Út bưng dĩa bánh vừa ăn vừa vọt lẹ ra sau hè cạnh bến nước.
Ngoài sân, con Vện sủa nà, càng lúc càng gắt củ kiệu…
– Vện! V…ệ…n…!
Con Vện nghe tiếng kêu của má liền cụp đuôi ngưng ngang sủa, nhảy phóc về nằm cạnh chưn má như thể  sẵn sàng bảo vệ chủ.
– Xin lỗi, bà kiếm ai?
Má hỏi, khi người đàn bà dợm bước qua ngạch cửa.
– Chị Bảy! Tư Sen nè! Bộ chị quên em rồi sao?
Tư Sen giở nón lá, lột cái khăn rằn bịt tóc, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt hốc hác dọc ngang lằn xếp.
– Mèn đéc ơi! Dì Tư Sen!
Má thảng thốt và mừng rỡ kêu lên! Con Vện mõm giảu, ngoắc ngoắc đuôi như muốn chia sẻ với chủ niềm vui bất ngờ chợt đến.
Dì Tư với má thân quen từ thời còn thiếu nữ, từ cái thời cả xóm nghèo sau chợ bám ga Tân Hiệp, chuyên sống cái nghề bán bưng các loại đồ ăn thức uống – trong đó, có bánh lá dừa ngon nhứt hạng – cho khách lữ hành. Nhà ngoại, má thủ vai chính công việc mần bánh lá dừa giao mối cho bạn hàng, cho Dì Tư chạy tàu bất kể ngày đêm thay phiên nhau bán bánh. Má thường nói: ”Cái nghề nầy, tuy cực thân nhưng không khổ tâm”. Thức khuya dậy sớm riết rồi cũng quen. Hôm nào, đường ray lỡ hư, tàu về trễ chuyến, ai nấy đều trông đứng trông ngồi. Hồi đó, má chỉ tỉ mỉ cách mần bánh lá dừa cho chị Hai, lúc tóc chị còn kẹp chưa búi.
– Xứ mình, không ai không biết mần bánh lá dừa, nhưng để mần cái bánh lá dừa thiệt ngon thì không phải ai cũng biết. Nghề nào cũng có cái mí mửng riêng, chẳng ai chỉ cho ai hết! 
Má thường nói với chị Hai như vậy. Rồi, má dặn:
– Bánh ngon, ngoài việc chọn cà bắp lá dừa nước tỉa vuốt thành hình ống xoắn ốc, nếp mới có vị dẻo, nước cốt dừa béo thơm, nhưn đậu xanh hay chuối, hoặc đậu đen trộn nếp…thì tùy; còn phải tính tới chuyện: bánh khô vì ém nguyên liệu chặt tay, bánh rời vì ém nguyên liệu lỏng tay. Buộc bánh nhớ không buộc chặt cứng, cũng không buộc lỏng quá…chỉ có quen tay, mới có thể buộc được vừa chặt vừa lỏng.
Thong thả, má chậm rãi nói tiếp:
– Từng chùm bánh lá dừa hấp bằng lửa củi dừa trong nồi nước hòa tan chút ít phèn chua, màu bánh chín đẹp tươi hơn và bánh mang hương vị miền Nam đậm đà thêm!
Pháp tái chiếm Mỹ Tho, má Bảy dắt chị Hai, thằng Út và  cả con Vện rời xóm chợ, bỏ lại sau lưng sân ga; hối hả theo dòng người tản cư chạy về hướng Đồng Tháp Mười qua ngả Phú Mỹ. Rồi, cũng từ đó, nghề mần bánh lá dừa của má thất lạc cùng thời cuộc.
 
Hai.
Căn chòi lá giữa rừng, không đủ sức che chắn cái lạnh của rừng đêm. Dì Tư nằm lăn qua trở lại theo tiếng lá rơi lộp độp trên mái tranh, khiến dì nhớ ôi là nhớ… những ngày cũ ở quê nhà. Đất Tân Hiệp nằm cạnh con lộ Đông Dương(2) với những chuyến tàu qua, những chuyến tàu về dừng lại ga Tân Hiệp rồi đi(3). Từng hồi tàu kéo nỗi buồn chia ly lê thê theo đường ray hun hút, thắt lòng người ở lại. 
– Khuya rồi, chưa ngủ sao, dì nó?
Nghe má Bảy hỏi lời tỉnh rụi, chớ không phải lời ngái ngủ, dì đáp lại câu gọn ơ:
– Thì chị, nào đã ngủ đâu!
Cả hai người đàn bà cùng cười, cùng ngồi bật dậy thầm trong tiếng muỗi vo ve thiếu đói. Con Vện nằm ngoài hiên, kêu tiếng kêu ư…ử…như ngầm đánh động rằng: ‘’tui’’ cũng chưa ngủ! Người và vật đang canh thức dưới bầu trời đầy sao!
– Tính ra, tui về tá túc với chị và tụi sắp nhỏ, còn nửa tuần trăng nữa là chẵn hai năm. Tự dưng, đêm nay, tui nhớ nhà quá!
Nói xong, dì thở dài, cái thở dài không hẳn vì mệt mỏi của người đi đường xa, mà vì người đi đường xa chẳng rõ tới lúc nào mình mới dừng chưn lại.
– Bộ dì tưởng tui không nhớ nhà sao?
Con Vện vung vai đứng dậy, chưn quào quào ngạch cửa, như rằng nó không quên chốn cũ; nơi đã cho nó một khung trời đông vui, tự do chạy nhong nhong ra sân ga đón người quen hoặc đứng xớ rớ đâu đó, ngó dì Tư bán từng xâu bánh lá dừa cho khách mỗi chuyến tàu về.
Đêm hồi ức buồn, nhưng là cái buồn đẹp, đầy thơ mộng, xán lạn lòng kẻ ly hương!
Má Bảy nhắc chuyện đại địa chủ họ Đoàn ở Tân Hiệp, mặc dù vợ chùm, con bầy; song đã hiến toàn bộ gia sản, đất đai (4) vì nền Độc Lập nước nhà. Nghe nhắc họ Đoàn, dì Tư nhói lòng liên tưởng tới người bạn học của cậu Năm (5) hồi nẳm: Anh Ba Sài Gòn! Ngày lễ, đôi khi vào cuối tuần hoặc kỳ nghỉ hè, anh Ba Sài Gòn thường theo cậu Năm về chơi. Anh dạo cảnh coi huê, thích ăn nem Tân Hiệp, cắn mận hồng đào Trung Lương, nhưng món khoái miệng nhứt đối với anh, vẫn là bánh lá dừa quê. Chẳng hiểu vì bánh hay vì người, anh thường lân la bắc chuyện với dì; có lắm lúc, thấy dì mồ hôi nhễ nhại, tất bật giao bánh và lu bu thối tiền cho khách; anh chẳng ngại ngần bưng thúng bánh giúp dì…báo hại đám bạn hàng ở sân ga cứ xầm xì, trêu ghẹo, khiến dì đôi lần mắc cỡ muốn chết!
– Chồng không nhớ, nhớ người dưng rồi, phải hôn?
Má Bảy điểm huyệt dì Tư.
– Chồng con gì với thứ người đó, chị ơi!
Rồi, dì kể:
– Đương lấy mối bánh lá dừa của chị bán chạy tàu ngon lành ở ga, tía cho người nhắn tin biểu tui nghỉ bán, quay về nhà sửa soạn đi lấy chồng. Trời đất, lấy chồng chi mà lấy nôn dữ vậy! Tui nấn ná nhiều lần là có ý chờ gặp mặt anh Ba Sài Gòn để giãi bày phân tỏ; bởi lần cuối gặp nhau sau kỳ anh nghỉ hè, lúc chia tay khi tàu sắp chuyển bánh rời ga, anh hò câu hò để lại trong tôi niềm thương mến:
”Đường xa ba bữa, xe lửa chạy cũng thấy gần 
Anh muốn ăn rau đắng trộn với rau cần
Anh muốn về xứ sở đặng gần với em”.
Ngày qua ngày, bao chuyến tàu qua, anh vẫn bặt vô âm  tín và như chị biết đó, tui đành về thôi!
Có tiếng thổn thức khẽ khàng lẫn trong hơi sương khuya.  
– Phải rồi, dì nói chị mới nhớ: sau mấy tháng dì đi lấy chồng, hình như cậu Ba Sài Gòn có theo cậu Năm về lại Tân Hiệp. Cậu ngong ngóng, đứng trơ trọi một mình, giữa sân ga chiều cuối năm…
Má Bảy nói, giọng buồn buồn, chia sẻ nỗi lòng cùng dì Tư.
– Chuyện vỡ lở cũng tại cô Sáu hết thảy. Tuy cô Sáu là em của tía, nhưng mọi chuyện hệ trọng trong gia đình tía đều do cô quyết định, vì xét cho cùng, cô là chỗ cậy nhờ mỗi khi nhà gặp khó khăn tiền bạc.
Dì nói phân bua với má Bảy và cũng là, tự phân bua với chính mình. Một hồi, dì nói tiếp:
– Cô Sáu thuyết phục tía: ”Dù họ Đoàn đại địa chủ vùng đất Tân Hiệp thì cũng chẳng thể bường họ Dương (6) đại địa chủ vùng đất Mỹ An Phú. Bởi, họ Dương không những đại địa chủ mà còn chiếm được long mạch vùng đất thiêng Láng Cò. Chỗ em mai mối cho con Tư là chỗ ở trên cục đất long mạch đó. Tuy khác họ Dương, nhưng họ của người ta cũng có của ăn của để, vẫn hơn họ của mình mạt cọng từ đường!”. Đoán tía đâu dễ một sớm một chiều ưng cái bụng mà giao núm ruột của mình cho người dưng, cô Sáu xoay ngang chơi cái kiểu mưa dầm thấm đất làm tía xiêu lòng. Trấn an tía vững dạ, cô Sáu chắc cứng: ”Rằng, nhà chồng con Tư họ Trịnh không là họ Dương, nhưng ở đậu trên đất họ Dương thì chẳng thể nào, không hưởng được sái phú quý của họ Dương…”. Lo tía trở quẻ vì tự ái ”dựa hơi người”, cô Sáu nói xa nói gần: ”Con Tư nó đã trổ mã mặn mòi rồi đó, anh chị không tính gấp cho nó yên bề gia thất để mai kia mốt nọ, chỗ đàng hoàng không gã lại gã chỗ điếm đàng thì đội quần cả đám, nha anh Năm!”. Sợ lỡ lời tía giận, cô Sáu nói vớt vát: ”Bến tàu là chốn giang hồ, hàng ngày con Tư bán bánh lá dừa chạy tàu, thiệt bụng em không yên dạ chút nào!”.
Chị Hai thằng Út thức giấc nằm im giả đò ngủ để hóng chuyện. 
– Năm đó, trời chớm vào đông, họ hàng đưa tui lên xe ngựa đi lấy chồng…Và rồi, tui khổ sơn trường từ đó!
Có tiếng nấc cục, chẳng biết của dì hay của má.
– Mấy đứa bạn thường nói: ”Có chồng hơn ở giá”, Nhưng, có chồng rồi thì tui mới hiểu ”thà ở giá hơn có chồng” Ngày mần quần quật như trâu, đêm nằm chèo queo ở lẫm lúa với bầy chó giữ ma giữ trộm. Năm thuở mười thì, họa hoằn thằng chồng mới lò dò mò tới chốc lát, gọi là đoái hoài thương tưởng; vì đâu phải một mình tui là vợ, thằng chồng chí những tới ba vợ…
Tiếng má Bảy cắt ngang:
– Ba vợ hay ba đời vợ?
Dì Tư trả lời nhát gừng:
– Có chết vợ nào đâu mà gọi đời!
Rồi, dì nhỏ to nói tiếp:
– Về sau, tui mới rõ: cha mẹ chồng cưới vợ cho con ngoài chuyện sanh con đẻ cái, còn cốt có thêm sức lao động để khai hoang, phục hóa mở rộng đất đai. Cũng thời may, tui chưa có con; chớ nếu có con, chắc là tui khổ tối mày tối mặt!
Lời dì nặng nề khi kể lại cái hôm chồng lặng lẽ cùng cả hai người vợ trước theo gia đình đi tản cư.
– Tui và đám chó giữ lẫm lúa, nào có hay biết trời trăng gì. Tới chừng ngó lên đường làng thấy thiên hạ xôn xao, gánh gồng bồng bế chen lấn nhau đi, chẳng khác chi chạy giặc. Hoảng quá, bầy chó sủa om sòm; tui hớt hơ hớt hải lội ruộng băng đồng về nhà thì tá hỏa…Ơn trời, tui lưu lạc cả năm sau mới gặp được chị ở đây!
Nói tới đó, dì Tư bật khóc!  
Đêm đầm đầm sương, con Vện thỉnh thoảng cất tiếng rên ư…ử…như thấm chuyện người trong cõi đời còn đen hơn mõm chó!
 
Ba.
Hồi đi tản cư, má Bảy không theo dòng người đổ xô về hướng Cai Lậy mà chọn hướng về chợ thầy Yến (7) Phú Mỹ, vì đoạn đường từ Tân Hiệp tới Phú Mỹ chỉ ngót nghét mười cây số; trong khi đó, đường từ Tân Hiệp tới Cai Lậy xa gấp năm bảy lần hơn. Vả lại, má Bảy đinh ninh đi tản cư mươi ngày, nửa tháng là cùng; nào ngờ hai mùa trăng trôi qua, má cũng chưa định được ngày trở lại nhà. Tây đóng đồn ngay tại bến đò Phú Mỹ, khiến cho tuyến đường sông duy nhứt ở phía Tây của Đồng Tháp Mười nối với xóm làng phía Đông lộ Đông Dương, coi như bị thắt gút nơi cuống họng. Việc đi lại mần ăn của dân chúng trong và quanh vùng mỗi ngày một khó khăn; có khi, vì bị Tây nó tình nghi mà chết oan mạng.
Má Bảy và dì Tư bây giờ đã là người cùng cảnh ngộ, cùng ”đỏ mờ con mắt trong lờ”(8) nên cả hai hết lòng đùm bọc nhau. Ở nơi rừng tràm bạt ngàn, đồng lầy ngập nước ”Muỗi lềnh kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tợ bánh canh” trong cảnh trời mênh mông bàng, sậy…thì má và dì chẳng còn lòng dạ nào nghĩ tới chuyện mần bánh lá dừa để sống đắp đỗi qua ngày. Bởi, một điều dễ hiểu là không có nguyên liệu và bánh bán cho ai, rồi ai dám bơi xuồng mang bánh xuống chợ thầy Yến? Một hôm, dì Tư ngồi nhổ tóc sâu cho má Bảy, nhơn dịp dì gợi chuyện:
– Hay là, chị em mình nhổ bàng đươn mê (9) bỏ mối cho ghe trà vải (10). Tui tính vậy, chị Bảy nhắm coi có được không?
Má Bảy ”ừ hén”:
– Sao lâu nay, chị em mình chẳng tính ra!
Má Bảy nhớ hồi còn ở quê, bà ngoại con Hai hay nói: ”Cùng nghề đươn thúng, túng nghề đươn mê” (Tục ngữ). 
– Phải rồi, dì Tư nó! 
Hàng ngày, dì Tư với con Hai chống xuồng vô bưng nhổ cọng bàng mang về phơi giã; rồi cả nhà xúm lại đươn mê. Cực nhưng không khổ, mà lại vui. Đâu chỉ có dì cháu nhổ bàng, nhiều người tứ xứ đi tản cư rồi mắc kẹt ở lại cũng chăm nhổ bàng mần kế sinh nhai.
”Lòng thương con gái Kiến Vàng (11)
Đầu đội neo bàng, tay xách mo cơm” (Ca dao).
Tiếng giã bàng đêm cùm cụp…cùm cụp…nghe sao mà buồn thúi ruột, nhớ nhà!
Thằng Út vô tư bên cạnh con Vện đa đoan việc: Vện giữ nhà, Vện đẩy đuổi chuột, rắn mỗi khi chúng lăm le xâm nhập nơi ăn chốn ở của chủ. Đó là, chưa kể những buổi trưa nắng nóng trên lưng, hầm dưới chưn ven rừng tràm bén mí đông bưng; Vện chạy ộp oạp trên đất sình theo cậu chủ Út hốt ổ cúm núm; lượm trứng cò, diệc, le le, vịt trời…hoặc giả, cắn tha dây dớn (12) cho cậu chủ ngậm mỗi khi khát nước. Vện không từ nan bất cứ việc gì dù nặng hay nhẹ, một khi chủ cần đến.
– Chẳng được đâu dì Tư nó!
Má Bảy gạt phắt ngang ý định của dì Tư gánh mê bàng xuống chợ Phú Mỹ bán, rồi tùng dịp về Tân Hiệp. Má Bảy nói:
– Thằng Tây Taillet có hỗn danh ”Tây Búa” là hung thần man rợ, gieo sự chết chóc kinh hoàng đối với những người dân lương thiện cả vùng Hưng Thạnh, Tân Hòa Thành,Tân Hội Đông, Mỹ An Phú…Mấy tháng trở lại đây, sau những trận mưa giông mồng năm tháng năm, thằng”Tây Búa” hồ nghi Nguyễn Văn Tốt đào đường, phá lộ Cổ Chi nên đã dùng búa chặt đầu đem treo tại cầu Đúc và nó, xẻ thịt ông rao bán ở bến đò (13). Người và ghe xuồng qua lại, nó buộc phải mua. Dân đấm ngực thình thịch , dậm chưn kêu trời như bọng; bởi, Nguyễn Văn Tốt chỉ là người làm ghe, sống đàng hoàng ở Tân Hòa Thành.
Nói xong, má Bảy thở dài ngán ngẫm.
– Mình đàn bà tay yếu chưn mềm, bất quá cũng chỉ là người gánh mê bàng đi bán dạo thì chắc, tụi Tây, tụi theo Tây mần lính kín, chẳng bắt bớ hay gây khó dễ gì đâu.
Dì Tư phân bua với má Bảy và có ý hờn mát:
– Chị khéo lo xa!
Má Bảy không những không để bụng lời nói hờn mát của dì Tư mà ngược lại, càng thấy thấy thương dì nhiều hơn. Má hiểu chữ tình của dì đối với chàng trai Ba Sài Gòn sâu đậm tới mức nào. Và, sự dở dang tình từ cổ chí kim đều đẹp tuyệt! Bán dạo mê bàng chỉ là cái cớ để dì thực hiện nỗi khao khát tìm về sân ga, với mong mỏi tìm lại được bóng người xưa.
– Dì không có cái giấy ”Lách-xê-pát-xê” tức là cái giấy thông hành tạm, thì đừng hòng lọt qua được bến đò, chưa nói tới cái đồn Phú Mỹ tinh quái. 
– Chớ người ta đi, nghe trà vải lui tới hà rầm đó, có sao đâu!
Dì Tư cãi lại má Bảy. Má Bảy nói chậm rãi:
– Người ta khác, mình khác! Thời giặc giã, không thể lấy người mà so với mình.
*
Hai ngày đêm, cả nhà má Bảy nôn nao và nóng lòng, không ai ăn ngủ được. Mọi người ngóng dài cổ trông tin tức dì Tư thông qua con Vện, nhưng rồi con Vện cũng biệt tăm. Má Bảy cằn nhằn một mình suốt ngày:
– Đã nói đừng đi, vậy mà, cứ nằng nặc đòi đi cho bằng được!
Hễ mỗi lần cằn nhằn, má Bảy lại ra sân vái bốn hướng, lạy mười phương cầu nguyện ơn trên phù hộ cho dì Tư dữ ít lành nhiều. Thằng Út tuy tánh tình không được đằm thắm như con Hai, nhưng nó lại là đứa nặng tình trượng nghĩa. Qua nay, có lúc nó khóc, có lúc nó nằm vùi trên cái chõng tre dựa mé hè; phần thương dì, lớp nhớ con Vện – một người bạn chí cốt – chưa bao giờ rời xa nó nửa bước. Vậy mà,…
– Thằng Út đâu rồi?
Phía sau bếp, má Bảy hỏi.
– Dạ! Con đây nè!
– Con rủ con Vện đi với con ra bến sông ngồi chờ ghe trà vải chèo ngang qua, ngoắc vô mua cho má cặp dừa khô.
Rồi,  má dặn:
– Nhớ nói người bán lựa dùm cặp dừa bị dày cơm, nha con!
– Dạ!
Chưa dứt tiếng ”dạ”, thằng Út co giò chạy ra bến sông. Con Vện cũng chẳng vừa gì, phóng theo cậu chủ bén gót.
Má Bảy tính mần bánh lá dừa đãi dì Tư, trước lúc sớm mai dì thử gánh mê bàng xuống chợ bán. Song, giữa Đồng Tháp Mười bốn bề rừng tràm giăng giăng, chẳng có cách nào tìm được cà bắp của cây dừa nước để lấy lá gói bánh, nên đành chuyển qua mần bánh lá nước cốt dừa.
– Út! Con nạo dừa, còn chị Hai con nhồi bột với lá thúi địt cho dì nắn bột hấp bánh.
Dì Tư phân công chị em nó rành rọt.
Má Bảy dùng lá điều thay lá dừa nước nắn bột. Mùi bánh lá có thể có khác, nhưng vị bánh lá chưa chắc đã khác, vì nhờ nước cốt lá thúi địt chận đứng mùi lá điều phá hỏng vị bánh lá.
– Không phải vô cớ mà người đời đặt cho lá cái tên thúi địt. Ăn nó là phải địt, dù người hay thú vật. Hễ địt là phải thúi và hễ thúi, thì chất dơ trong cơ thể mới được tống ra ngoài bằng cách xì hơi, giúp đường ruột khỏe khoắn. Kẻ tham vô độ thường gian manh, tráo trở thì sao biết thưởng thức mùi vị của lá thúi địt. Thiên hạ không ai chịu nín địt, chẳng qua  là chưa phải lúc địt mà thôi!
Thằng Út đang gò lưng, kềm chưn lên bàn nạo, dằn tay nạo cơm dừa…nghe má Bảy nói, nó đã cái lỗ tai.
Vậy mà, giờ đây ”đang khi vui vẻ ra buồn bã”, thử hỏi làm sao nó cầm được nước mắt mà không khóc! Chính nó vỗ về và sai biểu con Vện đưa dì Tư đi tới bến đò rồi hãy quay về, nếu hữu sự thì hết sức giúp đỡ dì Tư. Vện hiểu ý, ngúc ngoắc cái đuôi ra chiều ưng thuận.
Từng đàn cò bay về tổ cắt đứt những vệt nắng còn chần chừ, nấn ná trên cây. Rừng chiều tối sớm hơn cánh đồng bàng!
Con Hai chạy hớt hơ hớt hải từ bến sông lên nhà.
– Má! Má ơi, dì Tư…bị… 
– Dì Tư, bị…bị cái gì?
Tiếng Bảy hốt hoảng. Thằng Út ngồi vụt dậy:
– Chị Hai nói sao? Chị Hai!
– Dì Tư bị…g…i…ế…t…
Ba má con sững sờ ôm nhau ràn rụa nước mắt. Họ cắn nỗi đau nín lặng trong nỗi nhục mất nước!
Tin dì Tư bị giết, con Hai nghe được từ người đàn ông trên ghe trà vải học lại và nó còn nghe, con chó đi theo người đàn bà bị giết đã bị thằng Tây búa bắn gãy cẳng, xém chết! Lúc má Bảy hoàn hồn chạy ra bến thì chiếc ghe đã rời bến lâu rồi.
 
Bốn.
– Má ơi! Má ơi má! Vện đã về, má ơi!
Thằng Út kêu má chói lói trong nỗi mừng vui khôn tả.
Tiếng con Vện sủa gấp gáp bên kia sông.
Con Hai xô cây chống cửa, bước ra sân
– Về tới nhà, sao Vện không bơi qua sông?
– Bộ con quên rằng, Vện bị bắn gãy cẳng sao!
Má Bảy trầm tĩnh nói với con gái.
Tiếng con Vện mỗi lúc mỗi sủa gấp gáp như nhắc nhở, thúc giục chủ không còn kịp thời gian.
Má hiểu chuyện kinh thiên sắp xảy ra cho gia đình qua tiếng sủa của con Vện. Má hối chị em thằng Út quơ đại áo quần rồi nhanh chưn xuống xuồng qua sông.
Biết hai con thắc mắc, má nói:
– Nội trong sáng mai, tụi Tây và tụi theo Tây sẽ tới đây!
Lúc xuồng ra gần giữa sông, má Bảy ngửa mặt lên trời than:
– Xưa, ”Làm người thì khó, làm chó thì dễ”. Nay, ngược lại, thời thế chẳng biết đâu mà lần!./
TBĐ.
……………………………………………………
 (1) Có nơi gọi lá mơ.
(2) Quốc lộ 1A bây giờ. 
(3) Đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho hoạt động từ 1885 đến 1958.
(4) Ông Đoàn Giang (thân phụ nhà văn Đoàn Giỏi) có 3 người vợ, 18 người con. Nhà văn Đoàn Giỏi (Đoàn Văn Hòa) con thứ năm của người vợ cả ông Đoàn Giang, trước Đoàn Giỏi là anh trai và 2 chị gái. (theo lời bà Đoàn Thị Tuyết, em gái nhà văn Đoàn Giỏi).
(5) Nhà văn Đoàn Giỏi (1925-1989) học Trường Collège Mỹ Tho (Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho), đậu bằng thành chung, theo học hội họa Trường Mỹ thuật Gia Định. Trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (hiện nay) là nhà của gia đình ông Đoàn Giang đã hiến khi xưa. (Tài liệu lịch sử Đảng bộ thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
(6) Họ Dương trải qua bốn đời: Dương Văn Bảo, Dương Văn Long, Dương Văn Lâm, Dương Văn Cường…khai phá vùng đất nay gọi là xã An Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Thời nhà Nguyễn, Láng Cò là Tân Hòa Tây thuộc tổng Hưng Long). Gần mộ tổ họ Dương, có hai ngôi mộ Dương Văn Huề tự Mau (1891-1944), Nguyễn Thị Kỷ (1895-1992)là thân phụ và thân mẫu của cựu Tổng thống VNCH, Đại tướng Dương Văn Minh.
(7) Thầy Yến thuộc tầng lớp nho sĩ theo lưu dân tới khai phá và định cư Phú Mỹ (làng Phú Mỹ thành lập năm 1808). Thầy Yến mở trường dạy học và bốc thuốc. Về sau, dân tụ về đông đúc, thầy Yến lập chợ và từ đó, dân gọi chợ thầy Yến. Đến năm 1896, chính quyền thời bấy giờ xây lại chợ mới và cho đặt tên chợ Phú Mỹ, nhưng dân trong vùng vẫn quen gọi chợ thầy Yến. (theo ”Di tích lịch sử tỉnh Tiền Giang).
(8) Lờ là dụng cụ dùng để bắt cá.
(9) Đươn mê là đươn manh đệm.
(10) Ghe trà vải là ghe bán tạp hóa lưu động trên sông.
(11) Tên gọi cũ của xã Hưng Thạnh (nay thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang).

(more…)

Advertisements

Read Full Post »

Mở mắt ngày đã trôi

 

 

Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

Tôi gọi xóm tôi là xóm vũ phu. Ấy là tôi gọi thế, chứ xóm ấy có tên một vị anh hùng dân tộc hẳn hoi và xóm ấy không phải toàn mấy ông mất nết ưa nói chuyện bằng tay chân với vợ. Bệnh đánh vợ nó lây qua đường không khí đấy, đầu tiên là nhà Mãn, gã đánh vợ huỳnh huỳnh, tuần nào cũng đôi trận, lý do nào cũng chính đáng cả. Vợ đánh phấn nó bảo chỉ đi làm đĩ mới dồi phấn trắng dày mặt thế, vợ nó đón con về muộn 5 phút nó tát bốp má phải gắn ngay cho thị cái tội đứng buôn dưa lê với trai… Con vợ thua thằng chồng 5 tuổi, học chưa hết cấp 2, phụ bán phở cho cô họ, thằng này làm thợ hồ đời bố truyền đời con. Làm theo mùa xây dựng. Hết mùa ngồi nhà vá xe, bán nước giải khát với vợ. Thằng này ghen bệnh hoạn, trong đầu nó lúc nào con vợ cũng có dấu hiệu sắp đi ngoại tình. Vợ nó đau lòng, uất ức nhiều lần bỏ đi nhưng nó tìm, năn nỉ cầu xin tha thứ, khóc lóc hứa sửa thói hư và ngoen ngoét luôn mồm chỉ vì “anh yêu em quá, anh lo mất em”. Bài này, mấy câu trơn nước bọt này chả cứ con vợ học hết lớp 2 mủi lòng, tôi tin chắc 90% phụ nữ nhà ta sẽ xuôi giận, sẽ tặc lưỡi cho qua chuyện, lại ậm ừ biện minh là do chồng nó yêu mình mới thế, thôi thì về cho con nó có bố, cho thiên hạ nó khỏi xầm xỉ xầm xì cái thứ gái bỏ chồng… thế là cắp giỏ trở về cùng chồng. Đàn bà cả tin, nông cạn là chuyện muôn đời, đặc tính giống cái thay đổi sao được. Tôi cũng đàn bà, có khi tôi còn dại bằng 10 con vợ thằng thợ hồ xóm tôi ấy chứ. (more…)

Read Full Post »

Giao thừa của mẹ và cha

Nguyễn Thái Dương

images-3

Chiếc giường ấm chút hơi xưa

Con nằm chỗ mẹ nằm chưa phai mùi

Trăn qua trở lại mấy hồi

Hiện ra dáng dấp mẹ ngồi cứ như… (more…)

Read Full Post »

Thằng bạn tôi bị… xe cán chó thứ thiệt. Già đầu ham vui cỡi xe gắn máy đi dọc Trường Sơn, qua bên Lào. Đường thênh thang, khỏi lo bắn tốc độ, cứ thế phượt. Một con chó thủng thỉnh băng ngang… Chẳng biết y hãm lại hay tới luôn, nhưng kết quả là bà vợ phải thuê xe lên tận biên giới đón cái thân thể bất động đó về, vái tứ phương, vái Trời vái Phật, phát nguyện ăn chay một năm để ông chồng mắc dịch tai qua nạn khỏi.

Vũ Thế Thành 

Tôi đến thăm. Y nắm tay tôi, nửa tỉnh nửa mê, thều thào:“Đợi ít bữa khỏe lại, đi làm một chầu thịt chó… rửa…hận”. Nay, hận đã rửa, nhưng bà vợ, dù là tay sành ăn đáo để vẫn còn phải ăn chay. Đâu dám xù… Trời Phật.

Ăn chay nhịn thèm chỉ vì những chuyện…hỡi ơi như trên, thì ăn chay gắn liền với khổ hạnh, sướng khổ lẫn lộn.

Quyền lực, quyền hành đi chợ, bếp núc nằm hết trong tay mấy bả, thì các ông chồng dù trong thực tế ít khi tỏ ra tình nguyện cũng bị « cưỡng bức » ăn chay một cách êm ái

Quyền lực, quyền hành đi chợ, bếp núc nằm hết trong tay mấy bả, thì các ông chồng dù trong thực tế ít khi tỏ ra tình nguyện cũng bị « cưỡng bức » ăn chay một cách êm ái

(more…)

Read Full Post »

 

NTGNM cover 1

 

Cũng gần 3 năm kể từ ngày tập tùy bút này ra đời, tôi không ngờ mình cũng viết lăng nhăng thêm được hơn chục bài.

Tất cả chỉ là những mảng ký ức rời rạc về Mẹ, vềSài Gòn, nơi tôi sinh ra và lớn lên với biết bao thăng trầm của đời người, và một chút về Đà Lạt, nơi đang dung túng cho những mảng ký ức đó xuất hiện bên tách trà ly rượu.

Thôi, gom hết luôn vào lần tái bản này cho tiện. Nợ văn chương coi như trả sạch, cả vốn lẫn lời. (more…)

Read Full Post »

Ngây Ngô

 

 

TRUYỆN NGẮN CỦA  NHẬT CHIÊU

Nhat-Chieu-copy

Thuở ấy trên núi cao có một cô gái tên là Ngây Ngô, bốn mùa im lặng, nhưng đôi khi từ cô ngân lên tiếng nụ hoa đang nở hay tiếng những chiếc lá vừa rơi xuống đất.

 

Nhớ thuở ấy, tôi là thú ăn đá.

 

Tôi là một con thú khổng lồ và luôn luôn nhai đá thành bụi. Luôn luôn? À không, khi nào đói thôi, khi đến bữa ăn.

 

Tôi không thuộc giống loài nào, không thuộc họ nào. Đứng riêng biệt một mình. Trên núi, sống một mình, lang thang kiếm ăn một mình.

 

Từ miệng tôi, bụi đá thường tuôn bay như khói và đôi khi cũng bắn ra lửa do đá lửa lẫn vào thức ăn và va chạm nhau, khiến người ta có thể lầm tôi với một loài rồng.

 

Dẫu sao đi nữa, bao giờ tôi vẫn là thú ăn đá, một sáng tạo chưa từng lặp lại của Thiên nhiên, của hệ sinh thái cực kỳ đa dạng trong thế giới xanh này.

 

Thú ăn đá có tôn thờ thần linh không? Xin đáp ngay là KHÔNG.

 

Đó là điểm khác biệt lớn giữa thú ăn đá và con người. Con người rất kiêu ngạo nhưng sẵn sàng quỳ mọp trước mọi thần linh.

 

Vậy nên không thể hiểu vì sao con người lại tự xưng mình là loài thượng đẳng, thậm chí tự tách mình ra khỏi thế giới, hành xử như thể mình từ đâu đó đến đây, có một thứ huyền bí gọi là linh hồn trong mình.

 

Trong khi đó, toàn bộ thế giới còn lại là vô hồn. Cũng tức là vô nghĩa. Sự im lặng của thiên nhiên, theo con người, chứng tỏ điều đó.

 

Trong từ điển của thú ăn đá, tất nhiên là chỉ ghi chép trong trí nhớ, thì con người và thần linh được định nghĩa rất đơn giản và rõ ràng:

 

con người: loài ăn tạp

thần linh: loài ăn khói

 

Tôi không bao giờ xem con người là cái gì khác hơn một thành phần của thiên nhiên, như mọi loài khác, không có ngoại lệ.

 

Và tôi biết thừa con người. Cái loài đó tham. Đòi rau quả từ đất, đòi cá tôm từ nước, đòi muông thú từ rừng, đòi từ trời chim chóc, vân vân và vân vân. Bao giờ cũng muốn chiếm đoạt nhiều hơn nữa.

 

Trong khi tôi và các loài khác luôn luôn tự biết thế nào là đủ.

Biết đủ. Con người là loài duy nhất không biết điều đó. Thế mới lạ!

 

Tôi ghét thần linh. Cái loài đó ảo. Sống tựa vào con người. Ngồi chờ lễ tế mà hít lấy khói hương.

 

Sao lại thế? Không một chút tự trọng nào cả.

Thú ăn đá là kẻ vô thần và tự hào điều đó. Vô thần, vô chủ và vô tâm:

Trong từ điển của thú ăn đá:

 

vô thần: không bịa ra quỷ thần, không tạo hình quỷ thần.

vô chủ: không để ai đứng trên đầu mình hay trong đầu mình.

vô tâm: không lo, không ngại, không phiền.

 

Ba từ đó có thể tóm tắt triết lý của thú ăn đá. Và triết lý đó chẳng có gì phức tạp. Cũng chẳng cần hệ thống.

 

Có lần thú ăn đá gặp người. Trò chuyện:

Người – Mi không có bầy đàn à?

 

Thú – Không. Theo thời gian, hết con thú ăn đá này thì đến con thú ăn đá khác. Bao giờ cũng một mình. Thiên nhiên không tạo ra hai con thú ăn đá cùng một lúc. Dù vậy, trí nhớ thì truyền lưu từ đời này đến đời khác.

 

Người – Không thể hiểu nổi!

Thú – Đó chỉ là một trong vô số trò chơi sáng tạo của thiên nhiên thế thôi.

 

Người – Mi có mơ gì không trong khi ăn đá?

Thú – Mơ gì?

 

Người – Mơ làm thú ăn cỏ, thú ăn kiến, thú ăn lửa… hoặc là thú ăn người chẳng hạn.

Thú – Vô tâm

 

Người – Đá có ngon không?

Thú – Đá là thứ tuyệt vời nhất để ăn, đối với ta.

 

Thuở ấy hầu như không có chiến tranh. Trên núi cao bốn mùa im lặng có một cô gái lặng lẽ hầu như không nói năng, được gọi là Ngây Ngô. Nhưng cô có thể hót như chim, reo như suối reo và có thể ngân lên thứ tiếng của bông hoa nở, chiếc lá rơi.

 

Thuở ấy, sống gần thú ăn đá là nhóm người thuộc bộ lạc Cầu Vồng. Họ tôn thờ cầu vồng nên tự gọi thế. Và họ sống trên một dãy núi gọi là Đại Non.

 

Thần núi hiện ra trước mặt bộ lạc.

 

Thần – Nếu thú ăn đá xơi hết dãy núi này, ta sẽ chết. Vậy là chính nó đang xâm phạm quyền lợi của các ngươi. Nó là nguy cơ lớn nhất. Các ngươi sẽ có ngày chẳng còn nơi trú thân. Tận thế đến nơi mà các ngươi chẳng biết gì!

 

Người – Vậy chúng tôi phải làm sao đây?

 

Thần – Hãy cứu lấy thần linh để tự cứu các ngươi. Hãy quyết chiến với thú ăn đá vì thần linh. Nhân danh thần linh mà chiến đấu.

 

Người – Vâng, nhưng làm sao đánh bại được nó?

 

Thần – Các ngươi là bộ lạc của Cầu Vồng. Vậy mỗi lần cầu vồng xuất hiện, các ngươi sẽ được tiếp sức, đủ mạnh để đánh tan thú ăn đá.

 

Và để cứu thần núi, bộ lạc Cầu Vồng mở cuộc chiến lớn với thú ăn đá.

 

Thật ra, chỉ con người tìm diệt thú ăn đá. Thú chỉ tránh đi chứ không đánh trả.

 

Và để diệt một đời thú ăn đá, con người phải đốt rừng, phá núi, xâm hại thế giới tự nhiên bằng những biện pháp không tự nhiên chút nào.

 

Trong bộ lạc có cô gái Ngây Ngô.

 

Ngây Ngô, mọi người gọi vậy vì bốn mùa cô không nói gì. Rất hiếm khi cô nói tiếng người. Cô chỉ thích phát ra tiếng chim hót, tiếng gió reo trong lá và đôi khi người ta cảm tưởng từ cô lan ra tiếng hoa đang nở và lá đang rụng.

 

Một hôm, cô gái Ngây Ngô lên tiếng, nói với bộ lạc Cầu Vồng. Rằng tại sao phải tiêu diệt thú ăn đá. Vì sau khi ăn đủ lượng đá trong đời, thú ăn đá tự vỡ tan thành đá. Thế nên đá chẳng mất đi đâu và núi chẳng mất đi đâu. Một thú ăn đá mới ra đời cũng thế.

 

Tuyệt đối chẳng cần chiến tranh.

Tuyệt đối chẳng cần đốt rừng phá núi.

 

Lời cô gái Ngây Ngô chẳng những không được nghe mà còn làm bộ lạc Cầu Vồng nổi giận. Pháp sư ra lệnh cô phải leo lên các dốc cao tìm cho ra thú ăn đá nếu không sẽ bị thiêu sống.

 

Buộc phải lên đường, Ngây Ngô bắt đầu leo dốc. Nhưng cô cũng muốn gặp thú ăn đá. Không phải để ra hiệu chỉ lối cho bộ lạc.

 

Giữa mọi người, cô là kẻ duy nhất không có ác ý với thú ăn đá.

Thú ăn đá có thể tin cô.

 

Sau nhiều ngày leo trèo khó khăn, cuối cùng cô gái Ngây Ngô cũng toại nguyện.

Cô nhỏ bé và chỉ đi một mình nên thú ăn đá không né tránh. Không những thế, thú còn cố tình đón đợi cô.

 

Ngây Ngô – Em không có ác ý đâu.

Thú – Ta biết chứ, cô bé. Một bông hoa cô còn không ngắt, sao có thể ác ý với ai. Nhưng cô có biết là cầu vồng sắp mọc rồi không?

 

Ngây Ngô – Vâng.

Thú – Lần này, tin vào cầu vồng sẽ giúp tiêu diệt ta, bộ lạc của cô sẽ hăng hái lên đây quyết chiến.

 

Ngây Ngô – Trước đây, mỗi lần nhìn thấy cầu vồng, em vui thích vô cùng. Vì cầu vồng đẹp hơn cả hoa, cả bướm. Em mê màu sắc và ánh sáng của nó nhưng em không tôn thờ nó như mọi người. Mọi người kính sợ nó và ra lệnh em không được nhìn ngắm nó. Họ nói Thần Cầu Vồng sẽ nổi giận vì khi nhìn ngắm như vậy, em tỏ ra bất kính và báng bổ thần linh. Họ nói ngay cả thần núi cũng tôn thờ Thần Cầu Vồng.

 

Thú – Sao mà người ta mê muội đến thế. Chính những giấc mơ đẹp của con người đã tạo ra cầu vồng. Vì mơ cũng là ánh sáng. A, ta có cái này chỉ cho cô xem.

 

Thế rồi, nắm lấy tay cô gái Ngây Ngô, thú ăn đá đưa cô vào một tàng cây lớn như thể đang nấp trốn một chuyện gì đó.

 

Mà đúng thế. Tàng cây ấy ở gần chân cầu vồng.

Từ vách núi, một cái bóng lớn đi ra, tiến về phía chân cầu vồng.

 

Từ chỗ nấp trên một cành nhánh, qua kẽ lá Ngây Ngô nhận ra cái bóng kỳ dị đó chính là thần núi Đại Non đã từng hiện ra ở bộ lạc cô.

 

Cái miệng to tối ngòm đang làm gì vậy? Cái miệng hố thẳm của bóng thần núi suýt làm Ngây Ngô bật ra tiếng thét kinh hoàng nếu thú ăn đá không nhanh nhẹn che miệng cô.

 

Cái miệng hắc ám ấy đang bắt đầu nuốt cầu vồng. Và dải màu sắc long lanh ấy cứ trôi vào hố miệng phàm ăn.

 

Một chốc sau, chẳng còn lại gì trên bầu trời ướt mưa.

Đã no nê thỏa thích, cái bóng đen to lớn trở về vách núi, nhanh chóng biến mất.

 

Ngây Ngô – Tại sao hắn phải ăn cầu vồng?

Thú – Đó là thứ thần phàm ăn tục uống. Khói hương dù thừa mứa từ đám người mê tín, hắn vẫn ăn thêm cầu vồng. Ngoài ra, hắn tin rằng làm vậy, con người càng thần phục hắn hơn.

 

Ngây Ngô – Tại sao hắn phải gây ra chiến tranh?

Thú – Tự suy nghĩ đi, cô bé. Cô đâu có ngây ngô.

 

Ngây Ngô – Bây giờ thì em phải trở về.

Thú – Bộ lạc không chào đón cô đâu.

 

Ngây Ngô – Em biết.

 

Và rời khỏi tàng đại thụ, cô bé đi xuống. Đi xuống nơi không có ai chào đón cô.

 

Giữa đường đi xuống, dưới những chiếc lá đỏ nhẹ nhàng rơi, cô bé Ngây Ngô nằm chết. Ai giết cô? Không ai nhận.

 

Nằm trên cỏ hoa, cô im lặng như vẫn thường im lặng, như thiên nhiên vẫn thường im lặng.

 

Thuở ấy trên núi cao

bốn mùa thanh vắng

có hay không một cô gái tên là Ngây Ngô?

Read Full Post »

   Elena Pucillo Truong

(Nguyên tác : Il passato sotto la neve )

Bản dịch của Trương Văn Dân

images (1)

Bước đi mà mắt tôi cứ liên tục nhìn những cửa hàng và khuôn mặt của những người gặp trên đường phố. Ánh đèn màu rực rỡ của mùa Giáng Sinh phản chiếu trên mặt đường nhựa và trên những vũng nước đọng lại sau cơn mưa. Tôi cô đơn, và trầm cảm. Nghĩ lại cuộc đời mình, tôi những muốn đánh đổi với cuộc đời của bất kỳ người nào mà tôi gặp: Dẫu đời họ có xảy ra bất cứ điều gì, tôi vẫn tin là họ vẫn hạnh phúc hơn những gì mà tôi đã và đang sống.

 

Sau 18 giờ bay tôi đã đến thành phố Milano vào sáng sớm, và trong suốt hành trình tôi đã không chợp mắt. Thông thường trong các chuyến bay xa tôi rất thích xem phim, bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, rồi sau đó cố gắng ngủ vài tiếng đồng hồ. Thế nhưng lần này tôi chỉ ngồi yên, nhìn cái màn hình không bật, tối đen, và không muốn làm điều gì khác. Có quá nhiều ý nghĩ ập đến trong đầu tôi. Bao nhiêu kỷ niệm cũ xưa đang tràn đến, và trong trí nhớ còn nhiều thứ đang làm tôi buồn khổ đến bây giờ.

 

Lúc máy bay hạ cánh trời hãy còn tối lắm, ngoài trời chỉ có  một chút ánh sáng lờ mờ và gần như chẳng có người nào ở sân bay. Tôi đến băng chuyền nhận hành lý và  bước ra ngoài, đụng ngay với cái lạnh âm năm độ của mùa đông đang chờ ở ngoài trời. Hơi thở của tôi biến thành hơi nước và làm mờ mắt kính lúc tôi nhìn quanh quất để tìm một chiếc taxi đưa tôi về thành phố. Với những ngón tay lạnh giá tôi khó nhọc mới mở được cửa xe.

–          Thưa ông về đâu ạ?

–          Ông làm ơn chở tôi đến Hotel Michelangelo, gần nhà ga trung tâm.

Gã tài xế còn đang ngái ngủ nên chỉ lái xe mà chắng nói gì, và dường như tôi cũng thích thú về sự im lặng này trong khi chiếc xe bon bon tiến về thành phố. Đó là thành phố của tôi, nơi tôi từng sống và có một căn nhà. Tuy vậy tôi chẳng có ý định về nhà. Mười năm rồi, kể từ lúc tôi rời bỏ thành phố này, đáng lý phải nhớ lắm… nhưng tôi đã xóa bỏ nó… hay ít ra cũng cố quên là mình đã từng có một mái nhà.

Đến khách sạn, tôi chỉ muốn được tắm nước nóng và nghỉ ngơi. Uống một viên melatonine để ổn định đồng hồ sinh học, trên người vẫn còn mặc áo choàng tắm tôi buông mình xuống giường. Sau vài giờ đồng hồ thiếp ngủ trong không khí ấm áp của căn phòng khách sạn, tôi cảm thấy khoẻ hơn. Hơi đói bụng, tôi ra ngoài để tìm mua một mẩu bánh mì và một tách cà phê. Trên đường phố có nhiều quầy hàng, trên đó chưng bày đủ thứ bánh ngọt, thịt xúc  xích, đồ chơi cho trẻ em và các vật liệu trang trí cho mùa Giáng Sinh.

 

Hai tay đút trong túi quần, tôi đi bộ ngoài đường và cảm thấy thích khi gió lành lạnh lướt nhẹ trên mặt, lòng vui vui nhìn những bông tuyết lác đác rơi từ bầu trời xám xịt trên cao. Tôi rất thích tuyết. Không gian im lặng và toàn một màu trắng phủ lên thành phố thường cho tôi một cảm giác tinh khôi. Không khí trong lành hơn và vạn vật như mang một hình thái khác, không dễ định hình. Tôi bỗng nhớ đến một mùa Giáng Sinh của nhiều năm trước, lúc đó tôi chỉ vừa ba, bốn tuổi. Tối đó ba tôi về nhà rất trễ, những bông tuyết bám đầy trên vai áo khoác của ông, nhưng trên tay ông có cầm một gói quà thật lớn.

 

Gần như không kịp cởi áo, ông bảo tôi và người anh trai lớn hơn vài tuổi cùng tháo lớp giấy bao quanh rồi mở chiếc hộp có đựng món quà không mong đợi. Đó là một chiếc xe lửa chạy bằng pile và ngay lập tức chúng tôi ráp nối các đường ray, bỏ pile cho xe lửa vận hành…  Lúc đó mẹ tôi không chia sẻ ý tưởng này, ngược lại… bao lần rồi cả nhà đợi ba về để ăn tối, bao nhiêu lần chờ đợi trong vô vọng. Rồi lúc ông về chẳng ai chịu ngồi vào bàn ăn. Ba tôi luôn về trễ, tôi không biết vì lý do công việc hay vì chuyện gì khác, nhưng cũng có thể là ông muốn thế… Ông không bao giờ quan tâm đến gia đình… thế nhưng mùa Giáng Sinh năm ấy ông lại trở về nhà với món quà mà không ai dám mơ. Và như nhiều lần trước, bỗng dưng, tôi như nghe lại tiếng ba mẹ cãi vã, tiếng hét và tiếng điã chén va xuống đất, chìm lấp trong những tiếng chửi thề và cánh cửa bị dập mạnh. Sau đó là sự yên lặng, nặng nề, chỉ bị ngắt quãng bởi tiếng khóc của mẹ và tiếng nức nở của tôi trong lúc anh tôi đang cố ráp những mảnh tàu móp méo từ cơn giận của ba.

 

Tôi quệt bàn tay giá lạnh lên mắt tựa như để xoá bỏ hình ảnh xa xưa đó. Tôi cần phải gọi điện, báo cho anh tôi biết là tôi đã đến nhưng hình như trời hãy còn quá sớm. Tôi muốn có một ít thời gian để biết mình đang ở đâu và cần phải làm gì. Mười năm trước tôi đã ra đi sau cái chết của mẹ, một cuộc đời đau khổ rồi ra đi trong ít phút. Có lẽ do chìm trong ưu tư nên khi băng qua đường mẹ không nhận biết là có một chiếc xe camion đang chạy qua. Nhưng biết đâu đó cũng chính là toan tính của mẹ từ nhiều năm trước… Tuy nhiên đó cũng là một điều tốt cho bà vì khỏi phải thấy những gì ba tôi đã làm về sau: Một người đàn bà khác trong căn nhà cũ, những kỷ niệm của mẹ bị vứt đi, và tất cả số tiền tiết kiệm và dành dụm của bà bị mất trọn trong những cuộc đỏ đen hay nộp cho những người đàn bà trắc nết. Tôi còn nhớ mình và anh trai bị đuổi ra khỏi nhà, vì bị xem là một thứ của nợ: Tôi được một bà dì ở Roma nhận về nuôi còn anh trai thì về nhà một ông bác ở tận thành phố Como… Chúng tôi lớn lên như thế, luôn biết vâng lời và đôi mắt u buồn; còn ba tôi, một gã thiếu-niên mãi-mãi-chẳng-trưởng-thành, mang trong tim sự tàn ác và bản năng của loài ác thú, chúng tôi chẳng biết tin gì.

 

Lớn lên, chúng tôi có những cuộc đời khác nhau. Anh trai tôi tình nguyện tham gia vào một tổ chức nhân đạo ở Phi Châu còn tôi thì tìm được việc làm như một kỹ sư dầu khí, làm việc trên giàn khoan dầu hỏa ở vùng Đông Nam Á. Chúng tôi đã không liên lạc với nhau trong một khoảng thời gian khá lâu: Có thể rất khó giải thích mà chỉ với ý nghĩ nói chuyện với anh thường làm lòng tôi quặn thắt… Rồi vài ngày trước, anh chủ động gọi tôi qua điện thoại di động, sau vài lời thăm hỏi đại loại “Em khoẻ không?” mặc dù thừa biết là tôi cũng đau đớn như anh. Anh báo cho tôi hay là ba chúng tôi đã không còn nữa, bệnh ung thư đã cướp mất ông. Cả đời ông chưa bao giờ chấp nhận làm một người bình thường, thế mà ông đã chết vất vưởng ngoài đường phố, trong sự lạnh nhạt, dưới cái nhìn vô cảm của khách bộ hành. Ngay cả mụ đàn bà trắc nết vừa quen, cũng đã thừa cơ lấy sạch số tiền trong bóp của ông trong khi ông đang giãy chết. Sau đó bà mới báo tin cho anh tôi và  anh ấy liền gọi điện cho tôi. Đây chính là lý do mà tôi trở lại thành phố này, dù lúc đầu tôi hoàn toàn không muốn.Vô ích, tất cả đều vô ích. Về làm gì để dự đám tang của một người mà chỉ thỉnh thoảng mới nhớ mình là một người cha?

 

Nhưng sau đó thì tôi đổi ý.Tôi lấy chuyến bay đầu tiên có thể và về đây, dù chưa chắc lắm về điều mình đang làm. Trời lạnh quá! Thỉnh thoảng tôi rùng mình vì rét nhưng cuối cùng cũng tìm thấy quán cà phê nên vội vã bước vào. Không khí bên trong thật ấm cúng và có nhiều trang trí về Giáng Sinh toàn màu đỏ và màu vàng. Không gian còn có tiếng nhạc nhẹ và tiếng chuông nhà thờ càng làm cho không khí thêm vui và thư giãn. Tôi còn ngửi thấy mùi nhựa của những cành thông treo trên tường, viền quanh bức tường hình cánh cung trên trần nhà và ở một góc phòng còn phát ra tiếng tí tách của củi đang cháy trong lò sưởi. Tôi gọi một tách cà phê với một bánh sandwich và trong lúc chờ đợi, tiến đến gần lò sưởi để hơ nóng hai bàn tay. Lát sau tôi đút tay vào túi quần và cầm lấy chiếc điện thoại đang nằm trong túi. Giờ này chắc anh tôi cũng đã đến rồi. Tôi bấm số và chờ nghe tiếng chuông từ phía bên kia.

 

– Chào, em đã đến rồi chứ? Em khoẻ không?

– Dạ đến rồi! Em đang ở  khách sạn Michelangelo. Còn anh, khoẻ chứ?

Giọng tôi run run và  sau đó chỉ mơ hồ nghe giọng anh nói với tôi:

– Chờ anh ở khách sạn. Anh cũng ở gần đó. Mình gặp nhau sau chừng mười phút nhé!

Tôi cảm thấy như mình vừa biến thành một đứa bé, khi có anh bên cạnh để che chở, nhớ những lúc anh xen vào giữa để bảo vệ tôi từ những cú quật của ba. Có lẽ lúc này tôi bắt đầu hiểu tại sao mình muốn trở về, để tìm lại một lần nữa chút tình cảm thuở lớn lên trong một gia đình hoàn toàn không giống với những gia đình khác. Tôi uống một ngụm cà phê  và không thể nào ăn hết chiếc bánh sandwich rồi vội vã tính tiền, rảo bước về hướng khách sạn. Tuyết vẫn còn rơi và tất cả những âm thanh xô bồ như bị dập tắt và nhấn chìm trong màn trời trắng xoá.Tôi đi như chạy về khách sạn và cuối cùng nhìn thấy anh tôi cũng đang từ xa đi lại. Chúng tôi ôm nhau… không nói lời nào mà mắt cả hai đều đầy nước mắt, giờ này thì chúng tôi đã là hai gã đàn ông, tóc ít nhiều đã bạc theo năm tháng cùng với niềm đau. Cả hai cùng bước vào sảnh của khách sạn và tìm một chỗ ngồi ở quầy bar.

– Tóc anh bạc nhiều mà em vẫn nhận ra ngay.

–  Còn em cũng đâu còn là một chàng trai nhỏ bé nữa. Anh nói. “ Vào mùa Giáng Sinh mà màu da của chúng mình ướm nắng thế này, chắc sẽ làm bao người ganh tị.”

Tôi bật cười, nghĩ đến những ngày cô đơn của mình trên giàn khoan, dưới ánh nắng gay gắt giữa đại dương. Tính tôi không thích những chỗ đông người và có lẽ đó là lý do mà tôi thích sống ở đó, suốt ngày có thể tự do nhìn ngắm đường chân trời và nhìn những đàn chim biển bay lượn trên cao.

– Đáng lý anh đã phải gọi em sớm hơn nhưng anh không làm được! Giờ thì anh nhận ra là anh thấy thiếu em. Có lẽ anh chỉ sống ở Phi Châu vài tháng nữa rồi sau đó sẽ quay về Ý. Còn em thì sao?

– Em cũng vậy. Nhiều lúc em cũng rất nhớ anh! Bây giờ thì công việc và mọi thứ đều ổn. Có lẽ em phải về làm việc chừng sáu, bảy tháng nữa rồi cũng sẽ dời về Brasile trong một dự án khai thác mới. Còn đám tang? Ngày mai phải không anh?

– Đúng, 9 giờ sáng mai! Tất cả mọi thứ đều đã  chuẩn bị xong. Em đừng bận tâm. Và vừa nói anh vừa siết chặt tay tôi, rồi sau một lúc ngập ngừng, anh nói thêm: “ Em có muốn về nhà… để nhìn thấy ba không?”

Tôi lắc đầu. Không, tôi không thể. “ Em van anh, đừng yêu cầu em chuyện này”. Tôi nhìn thấy hình ảnh một người đàn ông giận dữ đang lao vào phòng mình và chẳng cần một lý do nào, ông la hét, rồi túm áo tôi kéo ra khỏi giường trong lúc tôi đang ngái ngủ, rồi bắt đầu mắng chửi, đánh đập, trong khi tôi nhận nhiều cú đấm mà chẳng hiểu vì sao. Bỗng dưng tôi thấy mình nghẹt thở như thuở ấy, trong lúc hỗn loạn đang tìm cách trốn thoát khỏi bốn bức tường giam hãm, dường như chỉ xây lên để nhốt tôi và ông ta. Tôi tiếp tục không trả lời anh. Không! Tôi không thể!

– Giờ thì dù sao ổng cũng mất rồi. Anh tôi nói tiếp. Anh biết, đây không phải là một điều dễ dàng, nhưng dù sao chúng mình cũng đã làm lại được cuộc đời. Còn ba, ổng chỉ có thể mỗi ngày mỗi huỷ hoại đời mình.

Cuối cùng tôi đồng ý, nhưng tâm thần tôi vẫn còn bấn loạn và mệt mỏi.

– Thôi được! Mình đi ngay đi! Rồi lát nữa quay lại khách sạn để ăn một chút gì.

Anh nắm cánh tay tôi và cả hai cùng bước ra ngoài.

-Kìa, taxi đây rồi!

Mặc dù đèn đường chiếu sáng lờ mờ nhưng gã tài xế cũng nhìn thấy chúng tôi và chạy đến. Chúng tôi bước vào trong xe ấm áp, ngồi cạnh nhau ở băng sau. Chỉ sau vài phút chúng tôi đã đến trước chiếc cổng nặng nề mà trước đây là căn nhà của chúng tôi. Anh tôi trả tiền cuốc xe rồi chúng tôi bước xuống. Anh lục trong túi tìm chìa khoá để mở cổng. Chúng tôi bước vào sảnh và tiến đến chiếc thang máy, tôi cúi đầu theo anh, như thể mắt không thể rời khỏi sàn nhà. Tầng ba. Chúng tôi bước ra và trong khi anh tôi mở ổ khoá để vào căn hộ, trong đầu tôi nảy lên ý muốn trốn chạy khỏi nơi này. Tôi hít một hơi dài và cố gắng tự trấn tĩnh. Cửa đã mở và anh đang nhìn tôi. Chúng tôi cùng yên lặng vào nhà.

Tất cả dường như đều đã ố vàng, cũ kỹ. Tôi nghe có mùi ẩm mốc, không khí tù túng như đã rất lâu các phòng ốc bị đóng kín không cho ánh sáng và không khí trong sạch tràn vào. Tất cả như bị bỏ hoang. Ở cuối lối vào, tôi nhìn thấy phòng khách và ở bên phải là phòng ngủ. Cửa khép hờ.

Bên cạnh giường ngủ người ta có đặt một chiếc quan tài trong đó có thể xác của ba tôi. Tôi  khó nhọc tiến đến và nhìn thấy ông.

Sự can đảm như đột ngột tràn đến. Ai đây? Tôi như không hề biết người đàn ông này. Ông hoàn toàn không còn là những gì mà tôi đã từng nghĩ về ông. Ông nằm đó. Bất động. Chỉ còn da bọc xương, mí mắt sụp xuống, đóng lại hai hốc lõm xưa là đôi mắt và đôi môi tái nhợt hơi hé mở. Trên người ông có mặc một chiếc sơ mi có cổ áo rất rộng.

Gần như đọc được ý nghĩ của tôi, anh tôi nói:

Anh vừa mua một chiếc sơ mi mới, anh còn nhớ số đo của ba nhưng bây giờ thì nó quá lớn với ông.

Tôi muốn có được một chút xót thương cho người đàn ông xa lạ này. Thế nhưng tôi chỉ cảm thấy xót thương chính mình, hằng đêm bị rượt đuổi bởi những bóng ma, tuy chỉ là kỷ niệm nhưng cũng đủ huỷ hoại cuộc đời tôi.

-Anh đừng bận tâm! Anh đã làm  quá nhiều cho ba rồi!

Chúng tôi đi một vòng trong căn nhà trống hoắc, dường như không còn vật dụng hay bàn tủ gì như chúng tôi còn nhớ. Thế nhưng khi bước vào gian bếp, tôi như vừa thấy mẹ mình đang lấy ra một món ăn thơm phức từ hoả lò. Nhắm mắt, tôi như nghe mùi thơm đang lan toả khắp nhà, nhớ những lúc cả nhà quây quần ăn uống trong những ngày chủ nhật. Một thoáng thôi. Khi mở mắt tôi không nhìn thấy gì cả. Chỉ vài phút rồi chúng tôi đóng cửa và bước xuống đường. Bây giờ chúng tôi trao đổi với nhau, thoả thuận về các việc cần làm rồi cả hai, mệt đừ, ai về khách sạn của người ấy.

Chúng tôi ở bên nhau ba ngày, lúc đưa tang ba tôi chẳng có ai khác ngoài hai chúng tôi. Thê thảm như cuộc đời của ông ấy.

Thế rồi cũng đến lúc chia tay.

Anh trai tiễn tôi ra sân bay.Tôi làm thủ tục bay và chúng tôi cùng chờ khoảng mười lăm phút trước khi vào phòng đợi.

– Anh rất vui mừng được gặp lại em, anh nói, biết đâu một ngày nào đó anh cũng sẽ đến tìm em bên đó. Nhớ gọi điện cho anh khi em đến nơi. Và nhớ gọi chúc mùng Giáng Sinh nữa!

– Chắc chắn rồi! Em cũng rất vui được gặp lại anh! Chúng ta sẽ còn nhiều dịp gặp nhau nữa.

– Chúc em thượng lộ bình an. Cố gắng ngủ trên máy bay nhé. Tôi nhìn thấy anh lưỡng lự một lúc rồi rút từ trong túi áo khoác ra một vật gì. “Đây là món quà nhỏ cho em. Chúc Mừng Giáng Sinh!”

Tôi nhìn gói quà. Bỗng thấy mình đãng trí vì không mua chút quà để tặng lại anh. Tôi mở ra. Và giữa những dòng nước mắt, tôi nhìn thấy chiếc đầu máy xe lửa  chạy bằng pile của những năm tháng cũ.

 

Sai Gon 11-2012

(more…)

Read Full Post »

Older Posts »