Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Elena Pucillo Truong’

Nút thắt vừa được mở. Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc.
Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân
Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào. Nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa: Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực. Thế là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời. Mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.
Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó, tôi tìm được công việc khác – giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gác dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.
Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào: Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó: Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo, như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu. Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể: Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản chẳng có buồn đau…
Đó là một món quà cho ba mẹ, cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.
Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.
“Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà má con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba má khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”.
Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ cùng những lời khuyên để trưởng thành, để trở thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương thường trực trong tim.
Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.
Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến, nên tôi đọc, đọc tất cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái, có cảm giác mình mạnh mẽ thêm lên.
“Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc”.
Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.
***
Mười năm trôi qua, giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này mà cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa mà đã là một người đàn ông trưởng thành, tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng không còn thức đêm ở một khách sạn ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí của mình tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đến với đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời cùng những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cùng nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.
Những buổi tối rảnh rỗi tôi thường đọc lại những bức thư cuối cùng của ba mẹ vì đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ. Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ ngày càng mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể trở về quê thăm ba mẹ và nhân tiện chào hỏi, cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.
Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi. Đã nhiều lần tôi xin ba mẹ gửi sang một bức hình mới chụp nhưng họ không gửi cho tôi. Hình ảnh họ trong lòng tôi vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.
Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ, lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên thế nào với chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước này?
***
Tôi gõ mạnh lên bàn phím máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được. Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.
Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách, tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà trông mong, chờ đợi!
Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.
Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “mất ngày…” “từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, có bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.
Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.
***
Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích: “ Ba, mẹ… ba mẹ đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy đã úa vàng bọc trong chiếc bao ni lông rách nát: “Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52…”.
Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ cho tôi khi tôi hỏi về ba mẹ mình:
– Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!
Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rồi quay lại hỏi thăm về căn nhà số 52.
– Đó, căn nhà cao ba tầng đó, là căn số 52.
Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Tôi đến trước cổng ngôi nhà to lớn và nhấn chuông.
– Ai đó? Chuyện gì vậy?
Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra:
– Anh là ai? Cần gì ?
Tôi chỉ vừa nói tên thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay… Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi, trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía đối diện thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.
Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật… nhưng sau…
Tôi nhìn ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, không thể nói được gì. Bà vợ thì bắt đầu nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở. Cuối cùng tôi mới có thể thốt lên câu hỏi:
– Còn số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ tôi? Nó đâu rồi?
Hai người kín đáo nhìn nhau rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả. Tôi không thể làm gì khác hơn là chạy thật xa khỏi hai hình thể không có trái tim đó.
Tôi gọi một chiếc xe về một khách sạn trong thành phố và vội vã sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?
***
Trở lại với cuộc sống của mình, mỗi ngày tôi vẫn còn ám ảnh. Một cánh cửa dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có mục đích. Còn bây giờ… Như là tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu, như không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi đã bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.
Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì tất cả im lặng. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác, lặp lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…
Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, mở vội nút thắt làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi nhặt lên một bức hình đã úa màu thời gian, cảm giác như mình đang chạm vào một điều thiêng liêng. Cảm xúc mãnh liệt dâng lên trong tôi khi tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.
“Con yêu dấu, cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu”.

Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân

(more…)

Advertisements

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

 

.15741137_239569236480101_8988290461707126345_n

 

Sự yên lặng gần như thiêng liêng chào đón chúng tôi trong lúc thả dọc theo bờ kênh trên một chiếc xuồng nhỏ. Tiếng mái chèo khua trong dòng nước xanh thẫm làm kinh động mấy con rắn nằm nép mình giữa những xác lá khô rớt dọc hai bên bờ.

Một cảm giác yên bình lấp đầy trái tim tôi khi ánh mắt nhìn thấy những tán lá xanh của những rừng cây  cao vượt qua khỏi đầu những cụm lau tóc bạc. (more…)

Read Full Post »

Trị liệu nhóm

 

Elena Pucillo Truong

 

 elena

 

Tôi rất thích được thức dậy trong đêm để chuẩn bị khởi hành cho một chuyến đi. Màn đêm có một sự quyến rũ đặc biệt và dường như khi thành phố ngủ yên có nắm giữ một bí mật  nào đó và sự huyền bí chỉ bị khám phá lúc mặt trời sắp mọc. Trong sự tĩnh lặng tôi có thể nghe được tiếng động rất khẽ của những người đang tất bật để chuẩn bị hàng cà phê hay thức ăn sáng cho những vị khách thức dậy sớm đang đi bộ thể dục quanh khu nhà. Trong bóng đêm lờ mờ đó tôi thường bị thu hút bởi những ánh đèn hay bởi những mùi vị phát ra từ những quán phở, quán hủ tiếu hay bún bò Huế

Thời điểm ấy tôi không bị những tiếng ồn giao thông trên đường phố hay những tiếng còi inh ỏi làm phiền … và nhờ thế mà quên đi cái cảm giác khó chịu là đang sống trong một thành phố lớn và hiện đại. (more…)

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong
100312afamilyVC_77df8

(Nguyên tác : lettera alla madre)
Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương yêu,
Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!
Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.
Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng. (more…)

Read Full Post »

 

Elena Pucillo Truong

phong-tuc-ngay-tet6

(Nguyên tác : La ricchezza del silenzio)

          Bản dịch của Trương Văn Dân

 

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát… Nam Mô Đại Bi…

Tiếng niệm Phật vang vang trong đầu bà, trong lúc bàn tay khẳng khiu chậm chạp lau những phiến lá chuối, nhẹ nhàng xếp từng chiếc chồng lên nhau, như thể đang lần tràng hạt…

Nam Mô A Di Đà Phật…Nam Mô A Di … (more…)

Read Full Post »

 

 

Những tuỳ bút của Elena Pucillo Truong được nói tới trong bài viết này nằm trong tập “Một phút tự do” do Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ ấn hành năm 2014.

Lê Nhật Ký

 mot-phut-tu-do_31972_1
Bìa tập sách “Một phút tự do” của, NXB Văn hóa – Văn nghệ, 2014.

Elena Pucillo Truong là tiến sĩ ngôn ngữ và văn chương, giảng dạy tiếng Pháp và văn minh Pháp tại Đại học Minalo, Italia. Năm 1985, chị lập gia đình, chồng là chuyên gia công nghệ dược  – nhà văn Trương Văn Dân, người Tây Sơn, Bình Định, du học Italia năm 1971. Nhiều năm trở lại đây, chị theo chồng về Việt Nam sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Sự thay đổi này đã mở ra cho chị những cơ hội khám phá và hoà nhập vào đời sống cộng đồng dân cư Việt nói riêng, Đông Nam Á nói chung. (more…)

Read Full Post »

download

Những khoảnh khắc vô tận

 

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

 

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)

Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ  – 10-2014

 

Hầu hết những truyện ngắn của Elena Pucillo Trương trong tập này đều thể hiện một đặc điểm quen thuộc của thể loại: nắm bắt cái khoảnh khắc của đời sống để làm hiện lên chân dung tinh thần và yếu tính tự do của con người.

 

Đó là phút mặc khải khi người mẹ chồng bấy lâu nuôi định kiến với người con dâu, bỗng một ngày nhận ra sợi dây mật thiết gắn bó hai người qua một mầm sống mới tượng hình, nhờ đó trút bỏ vẻ lãnh đạm và ích kỷ thường ngày để tìm lại sự dịu dàng và bao dung vốn có của mình.

 

Đó là những giờ phút hai anh em ruột thịt gặp lại nhau sau mười năm xa cách, trong căn nhà thời thơ ấu, nơi diễn ra đám tang của người cha thô bạo đã để vết hằn trên hai trái tim thơ dại. Trong cái khoảnh khắc từ giã, khi người anh tặng lại em chiếc đầu máy xe lửa chạy bằng pin mà người cha mua tặng một mùa giáng sinh xa lắc, dòng nước mắt bỗng rửa trôi tất cả những uất ức, căm hận.

 

Đó là một phút tự do khi người đàn bà quyền lực khô khốc, khó tính và cáu bẳn vì ngập đầu trong công việc, bỗng một buổi sáng kia muốn vượt thoát ra khỏi cái guồng máy quay đều làm ngạt thở để tìm lại bản tính thật của mình.

 

Đó là thời khắc của ngày cuối năm, sau bao ngày chờ đợi, người ni sư già gặp lại người đệ tử đã bỏ chùa ra đi không tăm tích, nay trở về với đứa con bé bỏng trong tay.

 

Đó là thoáng chốc hai người trẻ tuổi chưa quen biết trao cho nhau ánh mắt dịu dàng và nụ cười thân mật trên chuyến tàu về quê ăn Tết.

 

Đó là thời điểm định mệnh, ngẫu nhiên hay có chọn lựa, mà cặp vợ chồng già hay đôi tình nhân trẻ cùng nhau đi đến cái chết để giữ trọn một tình yêu đẹp…

 

Trừ truyện ngắn Trước khi màn hạ, ngòi bút nhân hậu của Elena Pucillo Trương như chỉ viết về tình liên đới, lòng trắc ẩn, sự bao dung và tha thứ của con người. Trên tất cả, đó cũng chính là những khoảnh khắc của yêu thương, như tác giả viết qua ý nghĩ của một nhân vật: “Tình yêu đã bùng nổ trong một lát nhưng đã theo tôi đến suốt đời người”.

 

Elena không chỉ nắm bắt mà còn biết cách miêu tả những khoảnh khắc, làm cho nó kéo dài ra, thu hút sự chú ý của người đọc, chẳng hạn khi chị tái hiện hình ảnh bà Viên Trân chiết trà ướp sen mời khách: “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số”. Và tác giả gọi đó là “khoảnh khắc vô tận”: ngắn ngủi về thời gian vật lý, nhưng vô tận về hiệu ứng tâm linh.

 

Với chủ đề Carpe diem/ Nắm bắt khoảnh khắc, Elena đã từ một nouvelliste trở thành một essayiste khi chị bình luận về những vần thơ của Tôn Nữ Hỷ Khương: “Và trong hầu hết các bài thơ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đều có phản chiếu tư tưởng này, bà trải lòng với người đọc rằng cuộc đời này là duy nhất, nhắc chúng ta biết đó là một quà tặng duy nhất và tuyệt vời của tạo hóa mà chúng ta đang có và vì thế cần phải biết trân trọng và hãy sống với niềm vui. Thế giới bao quanh chúng ta thật tuyệt vời và sự sống chính là điều quan trọng. Bất cứ một biến cố nhỏ hay lớn nào trong cuộc đời chúng ta, từ nụ cười của em bé đến sự leo lên đỉnh một ngọn núi cao cũng đều phải cho chúng ta ý thức về tính siêu phàm của cuộc sống”.

 

Thế giới này vô thủy vô chung, nhưng được tạo dựng từ những khoảnh khắc được chiếu sáng từ trái tim nhân ái của con người.

 

Đó là những đốm sáng lóe lên trên đường đời dằng dặc, giúp mình gắng đi cho trọn dù chỉ một chặng ngắn ngủi của thời gian.

 

  1. N. P.

SG 6/2014

                Đời  như  một  hạnh  ngộ

download (1)

Nhà Văn Nhật Chiêu

 

(Đọc Một Phút Tự Do- Tập truyện ngắn – Tùy bút của Elena Pucillo Truong)

Nhà Xuất Bản Văn Hóa Văn Nghệ  – 10-2014

 

Elena Pucillo Truong là một trường hợp văn chương thú vị, một từ trường cuốn vào mình một vài chất nào đó của Ý và mội vài chất của Việt.

Chị là người Ý, sống ở Việt Nam, sống trong giao cảm với đất, nắng gió và người ở góc trời xa lạ mà thân thiết này, đơn sơ mà rắc rối này, bi cảm mà hay cười này…

Đầy cảm hứng, chị cầm lấy bút. Truyện ngắn và tản văn. Ở đâu cũng man mác một niềm giao cảm với Đời-như-một-hạnh-ngộ. Và Đông Tây hòa vào một giai điệu tình yêu.

 

&

Truyện ngắn của Elena có cái đặc sắc mà truyện ngắn Ý thường có. Đó là nhẹ, nhanh và linh hoạt.

Nhẹ như hơi thở nhẹ. Không có gì trầm trọng. Dẫu có ngộ nhận nhưng rồi sẽ có biến chuyển. Một cái gì đó bình thường thôi nhưng “nó sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta…” như ta thấy trong truyện “Phút mặc khải”.

Nhanh như một bài ca. Một bi kịch có thể kể trong vài trang, như truyện “ Phòng số 3” nói về một cuộc tự tử đôi. Lối kết rất cô đọng : “ Nhiều năm đã trôi qua nhưng không hiểu sao tôi không thích giao chìa khóa phòng số 3 cho ai cả.” Chỉ trong câu văn rất nhanh ấy, ta thấy cả nhân tính lẫn nhân tình.

&

Hình ảnh Việt nam xuất hiện thường xuyên trong tản văn Elena. Không phải hiện ra như một bưu thiếp. Không như những bức ảnh thường thấy khi người ta chụp về một trú xứ mà mình không tùy thuộc. Trong những tản văn này, ta hiểu được sự hòa điệu tâm hồn, sự thấu cảm có thể thực hiện từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác.

Elena có thể thấm hồn mình vào không gian trà việt với một cảm thức tinh tế lạ thường: Sau khi diễn tả động tác chiết trà tuyệt vời của nghệ nhân Viên Trân, Elena viết : “Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: chăng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số…Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay…đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người…

Thế đấy, từ những truyện ngắn và tản văn của Elena, ta nhận được món quà không mong đợi mà đầy niềm vui, một thứ hơi ấm tình người vốn rất cần trong đời sống hôm nay mà vô cảm hóa đang là một nguy cơ.

 

  1. C

 

SG 6/2014

 

 

 

 

 

Read Full Post »

Older Posts »