.Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thường thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!..
Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.
Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn.
Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…
Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:
– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!
Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một.
Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:
– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…
Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!
Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:
– Có nhậu nhớ a-lô nghen!
Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…
Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…
Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ.
Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:
– A lô! Ông thầy khỏe không?
– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?
– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…
– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…
– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…
Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó.
Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.
Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:
– Sang dữ bây!…
Nó cười:
– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…
Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:
– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?
– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…
Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…
Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:
– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…
. Chiều cuối năm. Má và chị Tư vớt bánh tét máng lên cây sào tre vắt ngang vách bếp, tía lui cui lau chùi chén bát, xếp đặt hương đèn hoa quả cần thiết cho lễ Trừ Tịch. Tía trải tấm đệm bàng giữa sân, ngồi uống rượu lai rai với chú Sáu, dượng Chín, sau khi cúng bái rước ông bà về ăn Tết cùng con cháu. Rượu vào, lời ra. Chú Sáu nói:
Tháng cùng ngày tận. Chỉ còn năm, sáu tiếng đồng hồ nữa, Rắn hết nhiệm kỳ, bàn giao công việc cai quản trần gian lại cho Ngựa và cáo lui. Chẳng biết rồi Ngựa sẽ “làm ăn” thế nào và có thay đổi gì chăng? Tía cười cười, triết lý:
Sự thay đổi nào cũng khởi đầu từ ý thức. Đó là điều tất yếu! Ngựa có ý thức thì ắt sẽ có thay đổi, chú Sáu mầy lo chi cho mệt. Việc đó, đã có người lo! – Tía chuyền ly rượu cho chú Sáu. Đàn cò rời cánh đồng, bay hối hả trong không gian chiều tàn về tổ. Ba lão bạn đời đã vượt cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” cùng chén thù, chén tạc, khi rôm rả, lúc trầm ngâm của thời khắc chờ đợi “tống cựu, nghinh tân”, nhưng không phải là không “ưu thời, mẫn thế”! Dượng Chín nói:
Lẽ thường, thiên hạ tôn vinh ngựa Tàu hơn ngựa ta. Theo tui, ngựa ta hơn xa ngựa Tàu! Chỉ mỗi một chuyện Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, cầm roi sắt mà khiến lũ giặc Ân khiếp kinh hồn vía và tan rã. Ngựa chết vì chủ của mình, chỉ có ngựa ta, chứ ngựa tàu: chưa chắc! Chú Sáu cãi lại:
Tui đọc Tam Quốc Chí, nhớ đại khái, Quan Vân Trường bị Mã Trung, Phan Chương bắt và sau đó bị giết. Ngựa Xích Thố vì nhớ thương chủ, bỏ ăn mà chết! Đời sau, ai cũng thương cảm và ca ngợi. Dượng Chín bảo rằng, muốn rõ thực hư chuyện ngựa Xích Thố vì thương nhớ chủ bỏ ăn mà chết hay sức cùng lực tận, vì tuổi già mà chết, ta phải biết số tuổi ngựa Xích Thố đã sống! Tía chen vào:
Hồi ông già tui ở bạn nuôi ngựa đua nhà Hội đồng Láng miệt Đức Hòa Thượng, thường nói ngựa từ ba, bốn tuổi là đã có thể phối giống và ra trường đua. Thời kỳ sung mãn nhất của ngựa là từ sáu đến tám tuổi. Đời ngựa thường dài không quá ba mươi năm! Dượng Chín tiếp:
Ngựa Xích Thố lần đầu xuất hiện trong tay Đổng Trác là vào năm 189. Lữ Bố thấy Xích Thố là mê mẩn ngay và Đổng Trác đã dùng ngựa Xích Thố dụ Lữ Bố thực hiện mưu kế của mình. Như vậy, ngựa Xích Thố lúc bấy giờ phải ở thời kỳ sung mãn nhất. Đến năm 219, ngựa Xích Thố chết khi Quan Vân Trường thọ hình! Dượng Chín chiêu ngụm rượu, rồi làm bài tính nhẩm:
Ngựa Xích Thố xuất hiện năm 189, chết năm 219 vị chi là ba mươi năm, cộng thêm khoảng tám năm từ lúc ngựa mới sinh ra cho đến khi sung mãn. Tất cả là ba mươi tám năm! Dượng Chín kết thúc:
Như vậy thì ngựa Xích Thố chết vì tuổi già, chứ chẳng phải chết vì thương nhớ chủ! Chú Sáu được dịp “hấp tinh kiến giải”:
Tui phục dượng Chín sát đất! Chị Tư bưng dĩa khô cá chạch và chén nước mắm me, tiếp thêm mồi nhậu. Tía biểu chị vào trong lấy mấy tấm hình chụp mộ ngựa Kim Bông đưa dượng Chín và chú Sáu coi. “Nhớ hồi nẳm, khi đơn vị hành quân qua làng Cỏ Ngựa dưới chân đèo Cù Mông, tía được nghe cô bác lớn tuổi kể rằng, xưa kia, nơi đây có lão Ngô đầu lĩnh, cỡi con tuấn mã Kim Bông, tay cầm đại đao, chuyên nghề bảo tiêu hàng hóa của thương nhân mỗi khi vận chuyển qua đèo. Một hôm, từ căn cứ kháng chiến, Tướng Võ Trứ tìm về hội kiến với lão họ Ngô. Sau tuần trà, Tướng Võ Trứ bộc bạch:
Vận nước nguy khốn, Vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng, rời kinh thành lên miền Tân Sở truyền hịch Cần Vương. Trứ nầy, mong đại huynh gả Kim Bông về phong trào Văn Thân Bình Định đang sục sôi chống quân xâm lược Pháp và bọn tay sai của chúng. Ngô đầu lĩnh cầm vò rượu tu một hơi dài, cười khanh khách:
Với đất nước, mạng Ngô tui còn chẳng kể thì có sá gì ngựa Kim Bông? Chủ, khách cáo từ. Tướng Võ Trứ nhảy lên yên ngựa. Kim Bông bất ngờ giậm chân, hất tung Tướng Võ Trứ rơi xuống đất. Lão Ngô đầu lĩnh vỗ vỗ bờm ngựa:
Ta già rồi, con thay ta đi cứu nước! Ngựa Kim Bông cạ mặt vào người lão Ngô, hí vang núi rừng, rồi phi nước đại chở Tướng Võ Trứ về căn cứ, giữa trưa nắng bụi mù tung… Kim Bông trở thành chiến mã của Phó soái Lê Tuyên – còn gọi là Bá Mười, Lê Văn Trang. Người và ngựa cùng cận kề cái chết ở chiến trường, sống chí tình, chí nghĩa. Chiến mã Kim Bông đã cùng chủ đi vào những trận đánh khốc liệt, như Trường Úc, Lò Vôi (Tuy Phước), Cẩm Văn (An Nhơn), Phú Gia (Phù Cát)… khiến quân xâm lược khiếp sợ, bọn vong nô Nguyễn Thân thất điên bát đảo, gọi Kim Bông là thần mã. Khi Chủ soái Mai Xuân Thưởng, Phó soái Lê Tuyên cùng tám tướng lĩnh nghĩa quân bị giặc hành hình sáng ngày 15 tháng 4 năm 1887 tại Gò Chàm (cũ) ngày nay, gần cầu Xi-Ta, cách thành Bình Định non một cây số về hướng bắc, ngựa Kim Bông hiếu nghĩa, can trường liền chạy thẳng về nhà báo tin dữ. Lúc bị giặc vây bắt, nó trốn biệt vào núi. Thi thể Phó soái Lê Tuyên được chôn cất tử tế trên đất Gò Đình. Một sáng, khi đồng còn mù sương sớm, người làng phát hiện ngựa Kim Bông nằm gục chết bên mộ phần của chủ. Những giọt nước mắt hòa cùng sương còn nhòe trên mặt ngựa khổ đau. Cảm thương và trân quý lòng thủy chung đó, dân làng Nhân Ân cùng gia đình Phó soái Lê Tuyên đã xây mộ đá vôi cho ngựa Kim Bông, gần mộ phần của Phó soái Lê Tuyên. Trước mộ, có bức bình phong đắp nổi hình ngựa Kim Bông trên nền hoa văn bông cúc vàng với họa tiết tinh tế, như nhắc người đời sau tiếc thương và suy ngẫm!” Tía ngừng kể, mời mỗi người uống nửa xây chừng rượu. Chú Sáu, dượng Chín săm soi mấy tấm hình tía chụp chung với người bạn ở Bình Định bên mộ ngựa Kim Bông. Chú Sáu hỏi tía:
Anh Năm, từ Tuy Phước đi đến mộ ngựa có xa không? Tía nói, từ thị trấn Tuy Phước đi vào mộ ngựa Kim Bông cũng không xa mấy. Hồi đó, tía đi cùng người anh em bạn theo hướng Đông bắc khoảng bốn cây số, gặp ngã ba Cây Xoài thuộc xã Phước Thuận. Rồi qua cánh đồng hơn một cây số về miệt phía Đông thì tới đầu thôn Nhân Ân, xưa gọi là làng Nhân Ân, quê hương cụ Tú Diêu, thầy dạy chữ và dạy soạn tuồng hát bội cho cụ Đào Tấn. Đến chùa Nhân Ân, xưa gọi là đình, men theo đường ruộng phía tây trên trăm mét thì gặp Gò Đình, nơi yên nghỉ của Phó soái Lê Tuyên và thần mã Kim Bông. Dượng Chín nhìn nắng chiều còn sót lại trên ngọn tre, thốt lên:
Thế sự trên trăm năm mà tưởng chừng như mới hôm qua! Tía nói, theo đạo trời, ngựa sinh ra vốn dĩ tự do. Ngựa bị đóng yên, khớp mỏ, ấy là đạo người. Ngựa sống chí tình, chí nghĩa với người và đồng loại. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Ngựa sống không loạn luân, ngựa mẹ thà chết không cho con phối giống! Người có mấy ai sống chí tình, chí nghĩa như ngựa? Thiên hạ, dù dễ tính hay khó tính, đều đồng thuận rằng: Ngựa biểu tượng cho sức mạnh, như, “Máy có mấy mã lực?” Hoặc, “Lúc này, tao thấy mầy ngựa quá! Đồ ngựa, con đĩ ngựa!” Có lẽ nhằm nói lên sức sống mãnh liệt của người phụ nữ. Chẳng có chi là xấu, tốt! Ngựa in dấu thời gian. Có người nói: “bóng câu qua cửa sổ”. Đời nhà Thương bên Tàu, người biết dùng ngựa kéo xe đi phương xa mua bán nên được gọi là thương nhân. Về sau gọi là thương nghiệp, thương mại. Ngựa ta, ngựa Tàu, ngựa nào cũng ngựa. Có điều, Xích Thố của Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc cách đây 1.800 năm chỉ là ngựa hư truyền! Còn Kim Bông của Lê Tuyên trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cách đây trên 100 năm mới chính là ngựa thực truyền! Mỗi khi nhắc đến ngựa chết vì chủ ta chỉ thường nhớ Xích Thố ở tận đâu đâu bên Tàu, mà quên Kim Bông mà mồ mả còn sờ sờ trước mặt… Vậy nghĩa là sao?! Xứ mình có ba cái tên cùng chung một nghĩa: bông, hoa và huê. Gọi sao cũng được. Hương sắc còn tùy. Thiếu mặt này, dư mặt kia. Hiếm khi đặng tròn vẹn cả hai. Chơi hoa, đến cụ Nguyễn Du còn phải thốt “Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!” Trời sinh vậy mà, bạn hỏi mần chi? Trong bữa ăn nhà quê, bao giờ cũng có món “bông” hiện diện: lúc bông bầu, bông bí, bông mướp; khi bông điên điển, bông súng, bông chuối. Má thường dặn con cái, muốn hiểu người bạn đời – ngoài những yếu tố khác, có một yếu tố cực kỳ quan trọng, là hãy nhìn cái miệng người đó trong lúc đang ăn. Tại sao? Vì khi ăn, miệng thể hiện văn hóa, tư chất, tính cách con người! Miệng nói, lời có thể dối trá. Miệng ăn, nhứt định là thực. Kẻ đó, bán sống mua chết cũng “chạy trời không khỏi nắng!”. Chú Sáu chưa rõ:
Tại sao người xưa chọn hoa cúc vàng làm nền đắp nổi tượng ngựa Kim Bông mà không chọn một loài hoa nào khác? Dượng Chín có ý kiến rằng:
Cổ nhân xếp hoa cúc vô trong tứ quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Tại sao, thì phải hỏi anh Năm. Tía tiếp lời dượng Chín:
Mỗi sắc màu hoa cúc mang tâm tình riêng, ý nghĩa riêng. Không trùng lặp, không giống nhau. Cõi trần gian, chẳng có loài hoa nào sánh kịp sự bền bỉ thủy chung như hoa cúc. Bởi lá và hoa cúc dù úa tàn, khô héo, vẫn ôm cành, không rơi xuống đất. Ông bà xưa thường nói: “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”. Chú Sáu giờ như thấu cảm:
Phải rồi, hoa cúc là biểu tượng cho lòng thủy chung, cũng như ngựa Kim Bông dùng sinh mệnh mình để bộc lộ lòng chung thủy! Người xưa để lại cho hậu thế những điều thật đáng suy ngẫm. Há lẽ người thua súc vật sao! Tía kết thúc câu chuyện:
Đất yêu quái không có chỗ sống cho người lương thiện! Người đời tôn vinh Bình Định “đất võ, trời văn”, hẳn hồn thiêng sông núi nơi này đã nảy sinh nòi giống ngựa Kim Bông và được điểm tô bởi loài hoa cúc trên khắp mọi miền đất nước. Mặt sông chuyển màu sẫm tối. Ba lão bạn đời cùng cạn ly rượu cuối cùng, chờ thời khắc giao thừa sắp đến! (Mộ chiến mã Kim Bông tại xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ (nay là xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai).
Ngay từ cuối tháng 11 âm lịch tôi đã đi các chợ đầu mối để tìm mua củ kiệu làm dưa món. Đi khắp các chợ đầu mối các chủ sạp hàng đều bảo rằng phải qua tháng chạp kiệu mới về.
Không nản lòng, tôi ngược lên chợ Hóc Môn, may thay trong một hàng bán rau nằm khuất nẽo, những bó kiệu nguyên lá xanh um dành cho các bà nội trợ đang muốn làm món dưa kiệu chua đầu mùa. Bà cụ bán hàng bảo mùa này dưa kiệu chưa già, làm dưa món chưa thật ngon. Nhưng không sao, miễn là có kiệu, nguyên liệu không thể thiếu được để làm món ăn đậm vị tết miền trung: dưa món.
Ngay từ tháng 10 dương lịch, con trai tôi từ Đức đã gọi điện thoại bảo tôi: Ba, Mẹ ơi nhớ gửi dưa món cho con. Sợ tôi quên, chỉ ít phút sau trên zalo cũng hiện ra dòng chữ ” Nhớ gửi dưa món nghen ba, nhiều nhiều kiệu một chút, con thích ăn kiệu” Lời nhắn trên messenger như bảo tôi rằng tết đã đến rất gần.
Như những gia đình miền trung khác, dưa món là món ăn không thể thiếu được trong những ngay tết cổ truyền của nhà tôi. Có lần mẹ tôi nói tết thiếu gì cũng được, không thể thiếu hoa vạn thọ và dưa món. Cũng lạ, không phải trân châu mỹ vị gì, chỉ một ít củ kiệu, đu đủ, cà rốt, dưa leo xắt mõng phơi khô, thêm ít quả ớt đỏ rừng rực kèm ít lát thơm sấy trộn đều, dằn thật kỹ trong lọ nước mắm đường là đã thành vị tết.
Vì sao dưa món lại là món ăn tiêu biểu cho tết miền trung mà không phải bánh chưng, bánh tét, bánh tổ, hay thịt kho trứng vịt….? Có lẽ ở vị kiệu thơm nồng của dưa món. Thứ nguyên liệu rất đặc trưng mà mỗi năm nông dân miền trung chỉ trồng và thu hoạch duy nhất một mùa vụ tết. Không có kiệu thì không còn là dưa món ngày tết. Và như một logic, không có dưa món thì món ăn ngày tết thiếu hẵn vị tết cổ truyền
Dưa món hình như là món ăn liên kết giữa quá khứ và hiện tại. Hình ảnh tôi còn bé, chỉ đâu sáu bảy tuổi đã xúm xít ngồi chung quanh xem mẹ cắt tỉa đu đủ, củ cải, cà rốt thành những lát mỏng, với vô số hình vuông chủ nhật, hoa, ngôi sao. Rồi phụ mẹ phơi kiệu, lột kiệu, kể cả đứng canh nồi nước mắm đường sôi liu riu đến khi dẽo lại. Ba mươi năm sau, khi tôi có gia đình vào lập nghiệp tít phương Nam, dịp tết, khung cảnh ấy vẫn hiển hiện như mới ngày hôm qua. Con trai tôi, con gái tôi chỉ mới năm bảy tuổi vẫn xúm xít xem và phụ tôi làm dưa món. Chúng bu quanh cái thau men to hau háu nhìn những củ kiệu trắng nõn lẫn trong màu đỏ màu xanh và màu vàng óng ả của đu đủ cà rốt dưa leo củ cải và màu cánh gián của nước mắm nhỉ. Tất cả khi trộn lẫn vào nhau, những thứ nguyên liệu rau củ bình thường hằng ngày ấy bỗng dậy hương và trở thành một mùi vị vô cùng đặc biệt, mùi tết.
Hồi tôi học đại học ở Tp Hồ Chí Minh, thời kỳ bao cấp vô cùng khó khăn. Hai bữa ăn ở căng tin chủ yếu là khoai sắn ghé vài hạt cơm gọi là, kèm thêm ít rau xào cộng tô canh “toàn quốc”. Một hôm gần tết đi bộ ngang qua chợ Trương Minh Giảng, thấy bán ít kiệu Huế, tôi nảy ra ý định làm món dưa món. Miền nam rau củ quả nhiều, tháng 12 nắng oi ả , kiệu chỉ hai ngày là khô hanh. Còn cà rốt củ cải đu đủ thì rẻ ê hề. Duy nước mắm thì không tìm đâu ra. Nghĩ mãi rồi tôi cũng tìm ra công thức muối pha với đường, loại đường vàng tiêu chuẩn nửa kí mỗi tháng dành cho sinh viên. Đường sao vàng trên chảo cháy sem sém rồi đổ nước vào đun thật sôi cũng ra một thứ nước cũng tạm gọi nước mắm. Vậy là thành món dưa món biến tấu. Lũ bạn miền Nam của tôi ăn thử đều khen nức nỡ.
Dưa món tôi làm xong hồi đầu tháng chạp. Đợi dưa ngấu, thơm lừng tôi chắt bớt nước mắm, đóng kỷ trong hộp nhựa, gói vô số lớp bao bì gửi đi Đức theo đường chuyển phát nhanh cho con. Cách vài ngày tôi lại nhắn xem hàng đã đến chưa. Mãi đến sát tết con tôi mới vui mừng báo tin rằng hủ dưa món đã đến Đức sau hơn 20 ngày kèm theo lời phụng phịu ” Ba ơi sao ba gửi ít kiệu vậy ba? “
Tết này đúng trưa 30 khi nhà tôi quay cảnh mâm cổ gia đình với món ăn không thể thiếu là dĩa dưa món thì con tôi cũng chụp cảnh nhà nó chuẩn bị mâm cổ tết cũng với món dưa món gửi từ Việt Nam sang kèm thêm câu nhắn ” Cảm ơn ba mẹ đã gửi dưa món cho con. Có dưa món tự nhiên mới thật sự thấy tết về “
nhớ lời anh dặn hãy đi theo ánh sáng những vì sao đi theo tiếng hát anh chờ em ở đó nơi mặt trăng đang ngủ tại sao anh lại chờ em không phải nơi ghế đá công viên đầy lá rụng không phải bãi biển lấp lánh cát vàng không ven đê sông Trà thơm hương trầm quế không sông Hoài một thuở hẹn nhau
chiếc lá ngày xưa anh gửi chấp chới bay trong vầng sáng rực vàng tiếng hát nào bềnh bồng trên cánh mây xa giữa chúng ta, một màn voan trắng em vói hoài không chạm tới… “dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt…” “từ nay mãi mãi không thấy nhau…”
vâng dù mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm em sẽ đến nơi mặt trăng đang ngủ ttct