Feeds:
Bài viết
Bình luận

Nghe mưa

Phạm Văn Phương

.

NGHE MƯA

.

nằm nghe lạnh đổ xuống ngày

ngỡ đông vừa lại và lay áo mình

dặt dìu tiếng đục tiếng trong

tiếng mưa gần gũi tiếng lòng xa xôi

.

MIỀN THƠ DẠI

.

nhớ thương làng cũ quê nghèo

bạn bè tuổi nhỏ sớm chiều nhẩn nha

vườn nhà còn đấy bông hoa

gió đưa xuống tận lòng ta buồn buồn

.

MÀU SƯƠNG CỐ QUẬN

.

về đây nhớ thuở ban đầu

mênh mang cố quận một màu khói sương

thu phai lành lạnh chiều buồn

người qua trên những dặm trường lẻ loi

.

Kỷ vật

Lê Nho Quế Sơn

.

(Tặng Nga Thanh)

.

Anh không thể mang theo

Con hẻm nhà anh ở

Những sáng nắng, mưa chiều

Em chờ anh nơi đó

.

Anh không thể mang theo

Con đường dài huyện lỵ

Hai đứa mình chở nhau

Đùa vui rồi giận lẫy

.

Anh không thể mang theo

Bao nẻo đường kỷ niệm

Ơi mấy quán cà phê

Chiếc hôn dài bịn rịn

.

Thôi thì anh giữ lấy

Chiếc xe cũ em đi

Khi một mình cũng thấy

Có em đang cận kề

Tưởng nhớ mẹ

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Ngày mai là ngày giỗ mẹ tôi…

Sau năm ngày ghé thăm thành phố Savannah , thành phố biển thuộc tiểu bang Georgia nơi tôi sinh sống hơn ba mươi năm qua.

Thành phố ngập tràn những cây Sồi trong truyền thuyết của người Thiên Chúa Giáo .

Lễ phong Thánh của giáo hội công giáo …phong thánh cho Năm Thánh Tử vì đạo tại thành phố yên bình bao phủ bỡi những cây Sồi rũ bóng âm thầm bên những hồ nước thơ mộng…

Tôi đã rong chơi ở nơi này năm ngày bên những người bạn mới hiếu khách và ấm cúng bên nhau suốt mấy ngày nơi thành phố thơ mộng an bình …

Cám ơn những người bạn mới thân thương và gởi lại thành phố Savannah lời tạm biệt ân cần khi chuyến xe Bus rời khỏi thành phố biển an bình và giã biệt những cây Sồi yên bình rũ bóng xuống những con sông nhỏ mộng mơ mà tôi được một lần ghé thăm và luyến lưu về những tấm chân tình của những người bạn theo đạo Thiên Chúa giáo hiền hòa ở đó

Xin cám ơn tất cả những bạn bè mới quen. Cám ơn thành phố biển Savannah đã cho tôi những bữa ăn ngon và những tình thân ở đó. Xin cám ơn…

+++

Sáng nay… sau một đêm dài bình an trở về ngôi nhà nhỏ thân quen của mình .

Ngoài kia những cây cối hai bên đường quanh khu tôi ở đã vàng cam, rạng rỡ sắc màu hơn hôm tôi rời thành phố.

Một mình vào chợ Việt Nam …với ý định mua một vài món ăn về nấu mâm cơn Giỗ mẹ vào ngày mai, hôm nay mới là ngày thứ Ba

Ngày mai là ngày giỗ mẹ, ngày giỗ rơi vào ngày thứ Tư , thường ngày xưa khi các con còn nhỏ, mấy mẹ con sống chung với nhau, nếu ngày giỗ Ông bà Ngoại rơi vào ngày thường thì tôi chỉ đặt trái cây trên bàn thờ , thắp nhang và khấn vái báo tin cho Cha Mẹ là bữa giỗ sẽ dời lại vào ngày cuối tuần, nhưng từ khi các con lớn khôn, đã có việc làm và đã dọn ra ở riêng…

Chỉ còn lại có một mình , tôi không còn giữ thói quen này nữa mà làm đúng ngày… và chỉ làm một vài món và trái cây , bông hoa đặt trện bàn thờ cha mẹ và thắp mấy tuần nhang.

Có lẽ ở quê nhà chị tôi và em gái tôi cũng đã tất bật bên những bà con thân quen bên nhau trong ngày này ???

..

Tôi muốn nấu những món ăn mà ngày xưa Mẹ vẫn thường làm vào những lần ngày xưa mẹ vẫn thường làm khi nhà có giỗ: nồi canh ổ qua nhồi tôm thịt, ram mấy miếng thịt heo, thịt gà để chật miếng sắp chung một dĩa chả đủ thứ …

gồm một lát chả lụa cắt tròn để chính giữa, các thứ khác xếp vòng quanh, công việc mà ngày xưa tôi thích được làm khi ở tuổi mới lớn,

Mẹ thường tập cho chị em tôi để mai sau có gia đình riêng biết cách mà làm…những món ăn bình thường mà chúng tôi đã nhìn thấy qua nhiều năm tháng theo chân mẹ mãi thật xa của nhũng ngày thiếu nữ …

Đĩa mì xào với tôm thịt, vài món nữa nếu là đám giỗ lớn, có đông người…soạn hết những món đã mua về…đặt những trái cây và bình bông lên bàn thờ…

Nỗi buồn bỗng òa vỡ trong tôi như ngọn gió đổi mùa chợt ập về cuốn phăng đi những lá chớm vàng trên bờ cỏ ngoài sân.

.Nhũng bông cải sau vườn rung rinh trước gió như sẻ chia nỗi buồn riêng, con chó nhỏ quẩn quanh bên chân chủ nhân như nhắc thầm hãy mau trở về thực tại.

.Bóng tối chập choạng bên ngoài cánh cửa… với tay mở chiếc ti vi trong phòng khách cho có âm thanh, cho nỗi buồn pha trộn với những âm thanh vô cảm và lãng đãng nỗi buồn ùa về xâm chiếm một cõi riêng

Hình ảnh mẹ chập chùng trong kí ức…

Ngày xưa mẹ tôi đã từng thích ăn món gì ??? tôi sẽ chỉ làm một món đó…cho buổi chiều nay.

Thời gian của những ngày tuổi thơ hiện về, thỉnh thoảng vào các buổi chợ Phiên, thời gian của những ngày xưa xa lắm,

Mẹ thường đi bán Chợ Phiên Gò Chàm, cứ năm ngày một lần phiên chợ, mẹ gom những hàng hóa trong gian hàng của mẹ vào hai cái khăn gói lớn và ra đi từ lúc trời còn tối mịt, chiếc xe lam đã được quen biết cũ đến đón tận nhà và đưa về tận cửa vào lúc xế chiều…

Thường vào những ngày mùa Hè không đi học, tôi thường được theo giúp mẹ trông chừng hàng hóa cho mẹ, các kẻ ăn cắp vặt hay trà trộn vào người mua hàng lấy đi hàng hóa của người bán, hàng hóa của mẹ tôi cũng chỉ là những món hàng phục vụ cho những người dân lao động nghèo, những chiếc quần đùi, áo cánh, những bộ quần áo trẻ em rẻ tiền, mấy cái áo gối chắp vá bằng những mảnh vải rẻo chắp lại theo những hình thù không nhất định do bàn tay của mẹ vào những lúc rỗi việc, sau này tôi cũng thường làm những công việc này giúp mẹ…

Mẹ ngồi một góc tấm nylon trải trên đám đất trống, tôi ngồi một góc, chờ sẵn miếng giấy báo xé sẵn để gói hàng và đếm tiền đưa cho mẹ,

Hàng hóa dọn xong là trời vừa hừng sáng

, Mẹ thường dạo mua bữa điểm tâm cho hai mẹ con, thường mẹ mua cho tôi tô cháo lòng hay tô mì gánh , có khi mấy cái bánh xèo, phần của mẹ chỉ là cái bánh đúc chấm mắm tôm hay vài củ khoai…

Lúc ấy tôi chỉ biết nhận phần ăn của mình mà không hề nghĩ đến chuyện sẻ chia cho mẹ, thỉnh thoảng lại hỏi mẹ, câu nói thật vô tư và không chút nghĩ suy:

– Sao Mẹ không thích ăn giống như con ????

– Ừ Mẹ thích gì ăn nấy, con cứ ăn rồi coi hàng giúp mẹ…những thứ ấy mẹ đã từng ăn nhiều rồi.

Sau khi tan buổi chợ , hai mẹ con hay ra ngồi chờ xe ở một góc chợ cạnh một gánh mì, bà chủ gánh mì đã quen mặt bạn hàng của mình, lúc nào thấy mẹ con tôi đến là đon đả mời chào và tự động múc hai tô mì..

.Đặc biệt là một tô có những miếng thịt nửa nạt nửa mỡ nhuộm vàng cam xắt mỏng, trải đều trên mặt tô và mấy cọng hẹ xanh cùng chút tóp mỡ vàng óng..

.Còn một tô chỉ phủ trên mặt tô mấy cọng hẹ và chút rau sà lách…với nước lèo ngập mùi bột ngọt, như một thói quen muôn đời của mẹ.

Mẹ luôn lấy phần mình là tô mì không thịt thà gì cả như một tô mì chay ….Và trong tuổi thơ tôi đã chứng kiến nhiều lần như vậy, trong bữa ăn hàng ngày Khi vào mâm cơm, mẹ tôi chỉ chọn phần cơm nguội ăn trước, rau mắm qua loa, những miếng ăn đầy đặn mẹ thường nhường hết cho ba chị em tôi..

Ngày ấy sao chúng tôi mãi vô tình với những cử chỉ này và cũng chỉ biết mẹ thích vậy chứ không nghĩ là vì sao…thói quen nhường hết cho các con, những tô mì không có thịt , những tô phở không thịt bò, những đĩa cơm khi vào quán chỉ ăn với đồ xào mà những miếng sườn nướng ngon lành ngày ấy cũng chỉ các con là được ăn ….còn Mẹ…

Lớn lên một chút, một đôi lần tôi bảo mẹ rằng :

– Con muốn mẹ phải ăn giống con

– Các con cứ ăn phần mình để còn lớn, mẹ đã ăn nhiều rồi, không cần nữa….

Ngồi nhìn mớ đồ ăn chưa nấu, những giọt nước mắt đã ứa tràn trên má trên môi tự bao giờ, cuộc sống với những bộn bề đôi khi như quên mất những đi những khắc khoải , những ý nghĩ riêng mang mà chưa một lần thốt lên thành ngôn từ khi còn nhìn thấy nhau, ngày đó tôi chỉ biết vậy mà chưa lần nào tỏ cho Mẹ tôi biết là tôi hiểu thấu tấm lòng của mẹ, những người Mẹ Việt Nam suốt cả đời tận tụy hy sinh cho đàn con…

Suốt chặng đường dài bên gối mẹ …tôi đã từng nhìn thấy sự hy sinh cho các con quên cả bản thân mình …cho đến khi tôi xuất giá…và tận khi họan nạn vì thời cuộc đổi thay …tôi trở về nhà cùng hai con nhỏ, mẹ vẫn vui vẻ đón nhận ba mẹ con tôi trong thương yêu hết mực, chở che mẹ con tôi cho đến lúc chồng tôi được trở về.

Mẹ là thế đó, người mẹ nghèo của chị em tôi, muôn đời tôi vẫn hãnh diện và biết ơn vì những tình thương bao la mẹ đã cho mẹ con tôi trong cuộc đời.

***

Tôi soạn ra mấy món đã mua để nấu hai tô mì…hai tô mì không thịt , không gia vị đậm màu, ra vườn ngắt mấy cọng hẹ, mấy lá sà lách xanh non óng mượt.., đặt hai tô mì chay bốc khói trước bàn thờ Mẹ.

– Mẹ ơi, bây giờ con mới hiểu thấu tấm lòng của Mẹ…thì Mẹ đã không còn…lẽ ra cái việc làm hôm nay con phải làm lúc mẹ còn..

.Con phải nói với mẹ là con cũng thích ăn những tô phở, những tô mì không cần thịt thà chi cả,

Con cũng thích ăn những món mà mẹ thích, những củ khoai lót dạ lúc đói lòng, bát cơm ghé độn, chỉ nhường con hạt gạo.

Manh áo vá vai mẹ từng đêm vá lại…con cũng có thể mặc …sao mẹ lại không để phần con ???

Mẹ ơi bây giờ một mình con nơi này…ăn hết hai tô mì mà ngày xưa Mẹ vẫn thường ăn…Và còn những món mà mẹ vẫn thường làm cho chúng con..

.Bây giờ con có lập lại với chỉ mình con …thì có ích chi đâu…

Ở nơi này..

.Những đứa con nơi xứ người có ngày lễ Mother’s day

Và Father’ s day…Để vinh danh và tưởng nhớ các đấng sinh thành mỗi năm…

Đó là chuyện của xứ người ta …

Tấm lòng của những đứa con của đất nước người ta …

Còn chuyện của đất nước mình, những đứa con của đất nước mình, xứ sở nghèo như đất mẹ Việt Nam…

Hẳn vẫn còn tấm lòng của những người con

“không quên mẹ nghèo, mẹ Việt nam của chúng ta “

…

Cơm ghé độn ….

Mẹ nhường con phần trắng

Bát cơm tươi …..

Rày chia sẻ cùng ai.

Mẹ đi rồi …..

..Biết cùng ai nói với ……

Cuộc thăng trầm……

Đất khách…. ngậm ngùi than…

Lawrencevill Nov. 4th 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Giữa cỏ

Trần Ngọc Tuấn

.

Lạy em giũ sạch muộn phiền

Cho tâm thanh bạch giữa miền phù hoa

.

Lạy em bớt tiếng chua ngoa

Đời cay đắng lắm lại qua làm gì

.

Lạy em hãy ít so bì

Trăm năm rồi cũng bay đi úa vàng

.

Lạy hừng đông tới đêm tàn

Có nghe tôi lạy giữa ngàn cỏ ru

Những mảnh rời

Nguyễn Hoàng Anh Thư

,

1.Tư duy

Tư duy im lặng

nó thích bóng tối vì không nhìn thấy được những ngôi sao

mực tung vào nước lấp lánh thân tròn phóng đi, thoát khỏi ngàm cá dữ

2. Hơi nóng

Nắm chặt tay nhau để tận hưởng

hơi nóng đang nguội dần đi

chúng luồn vào những thớ thịt ở trái tim

3. Cánh đồng

Cánh đồng kể cho tôi nghe, mọi người đi đâu và làm gì

kể cả cái áo tơi đang dần rớt giữa cơn mưa nặng hạt

chúng không còn che được tiếng hò

4. Cầu nguyện

Buổi sáng thứ bảy, tiếng cầu nguyện đang trượt trên đường link, kịp về phía bên kia

đã là 8h32 phút tối

chúng vội vã đến nơi để dỗ giấc ngủ ngon

vẫn còn nghe hơi thở gấp

5. Thẩm phán

Khi tiếng khóc trẻ sơ sinh là một thẩm phán

con người im lặng lắng nghe

và sửa chữa tội lỗi trong đoạn đời còn lại

6. Mắt gỗ

Tiếng thở dài khoáy cửa se mòn sợi gió

khép kín nhìn nhau trong một cái mắt gỗ

vừa lìa đứt khỏi cội thông già

7. Điều vô vị

Vòng vòng, những vòng khoác lác, sống chết, chết sống

phồng lên phồng lên, rỗng tận ngõ trời

nổ tung cả lời thiên thạch

 8. Lữ khách

Lữ khách liệm mùa đông trong cái giá mùa hè

bần bật chạm bước chân đã cũ

hơn nửa mái đầu tìm vại nước ở sân sau

9. Cuộc đời

Bạn tôi khản tiếng

ru cuộc đời

còn lại nửa tấm thân ở trên nôi

10. Giọt mồ hôi

Nhốt mảnh đồng đang trôi giữa mùa nước xoáy

thò tay nhặt lại những giọt mồ hôi

thơm mùi lúa sữa

11. Thời gian

Thời gian triển lãm những nụ cười

sự lười biếng ghen tỵ

nó nằm xấu xí và hư hỏng như một cái nêm gỗ

12. Phố xương thủy tinh

Những con phố mắc chứng xương thủy tinh

chúng bị rút rỗng

những bước chân trầm tư và hiền lành

13. Lục bát

Vần lục bát khấp khểnh

khi chiếc lưỡi bị hụt vào trong

cất đi sự nuối tiếc trên đĩa mật

14. Dấu triện cầu cứu

Trong trang bìa quyển sách

dấu triện đỏ nhìn chúng tôi

cầu cứu

được gắn thẻ giá nơi chữ cuối cùng

15. Những cái tên

Phụ âm nguyên âm đánh vần lắp ghép

những cái tên không có hình dạng con người

như những gương mặt chảy mù bên giờ cuối

 16. Cuộc mất tích

Câu chuyện buổi sáng

ẩn dụ trong một miếng bánh

ném bạn qua cửa sổ và chạy

muộn giờ làm và nghẹn ứ trên đường

ly cà phê bắt đầu điều tra một cuộc mất tích

17. Trên bàn cờ

Bệnh tật đang đánh cờ với thần chết

nó uống rượu

và nhìn những xilanh nó vừa thắng được từ phía bên kia

đang di chuyển trên hai ngón tay của của người khác

18. Vị sương mù

Tháng tám

những đứa trẻ ngửi vào chiếc mũi của mình

chỉ có vị sương mù

19. Những chiếc bánh Trung Thu

Trung Thu

thằng Cuội ngồi hấp bánh lá đa

mùi ca dao thơm ngát

những chiếc bánh rướm máu trăng vàng

20. Trò lắp ghép

Đứa trẻ ngồi tách số phận và ghép lại

như hình thù một chiếc giày

ước vô định như mây

21. Bài học của im lặng

Sự im lặng dạy tôi về mặt trăng và

sao, đám mây và sương mù

những bước chân vô trùng

và chiếc họng gió mồ côi

22. Sự chờ đợi

Bàn tay dài hơn, đôi mắt dài hơn, những bước chân dài hơn

trên nỗi ngóng chờ chiếc lá

đợi mùa thu vàng hứa hôn

23. Trên bàn tiệc

Bài thơ rơi giữa bàn tiệc

nghị luận về các hương vị của món ăn

kết luận: tất cả đều có vị ái tình

24. Sự hy sinh

Bài thơ khảo luận về sự hy sinh

về sự hành hình đàn kiến

những con mối ngấu nghiến những cái xác trắng phau

25. Điều mặc định

Bài thơ đang thuyết giảng về sự bất tử của linh hồn

trên chiếc hồ của ếch

có thanh củi làm vua*

26. Cầu khấn

Những con số thích chơi trò trốn tìm

chúng bật ngửa tấm bảng

núp và cầu khấn: lạy trời đừng xoay

27. Trò kéo co

Những con đường thích chơi trò kéo co

với bắp thịt của mưa nắng

song,

đừng bắt chúng chơi trò đấu trí với sự quanh co

28. Sự đơn giản

Cuộc đời nằm ngoài lời trích dẫn

trách cứ danh ngôn

rằng, suy nghĩ gai góc làm đau cái dạ dày

29. Cạnh huyền

Bạn muốn đi đường tắt?

cứ nhân đôi cạnh huyền

và xếp gập góc vuông chưa trải thành góc tù chật hẹp

30. Nuốt sương

Thử im lặng để nuốt những hạt sương

lắng nghe tuổi

gập hằn điều tiếc nuối về phía đuôi mắt

31. Thua cuộc

Buổi sáng, mớ lý thuyết đưa ra lời khuyên

đừng để con đường đi quá xa

nhưng sự thật là chỉ còn đôi chân mệt mỏi đã bị đánh bại

32. Ký ức

Muốn chơi trò đánh đố kí ức

trên những thanh củi lạnh ngắt

trên trời không còn một đốm sao để nhóm lửa những nỗi buồn

33. Đích cuối

Con đường thở hổn hển dưới đôi chân của vận động viên

không phải là đường chạy một trăm mét

những đám mây trôi về đích rã mòn

34. Niềm vui

Xoay tròn và lướt nghiêng như trò ném thia lia

những mảnh vỡ không chịu đâm sầm xuống nước

từng vòng sóng sánh trong mắt trước niềm vui vừa chực tan

35. Bịt mắt

Nếu bạn bịt mắt, sẽ thấy bài thơ ở vầng trăng

bạn sẽ hát, đến khi nhìn thấy vị sương mù trên chiếc mũi

bài thơ sẽ khóc

36. Mọt chữ

Những sinh vật lạ bu quanh một bài thơ

liếm láp vị ngọt trên đầu ngọn chữ

chảy ra từ chiếc lưỡi của mình

37. Niềm kiêu hãnh

Rất nhiều loài khỉ lạ, mặt đỏ bừng như gấc

chúng tự hào vì đã sở hữu cái đầu hói của mình

khi đã hái lượm thật nhiều quả chín từ cây

38. Bài học tiến hoá

Những con đường mùa mưa nói với chúng tôi rằng

hãy biết tiến hóa như loài cá lưỡng cư

những chiếc cầu treo thì nói: hãy biết điều kì diệu của loài thằn lằn bay

39. Tự do

Những con trai than khóc

chẳng phải vì tiếc ngọc

mà chúng đồng cảm với sự tự do của hạt cát

40. Thân sứa

Muốn thân là loài sứa

để tự do tan dưới nắng mặt trời

trong suốt với bình minh của nước

41. Khiếu nại

Chiếc lá vàng khiếu nại

dưới gót chân Achilles

chẳng nghe thấy tiếng mùa thu

42. Sự thất bại

Khi người đàn ông Việt thất bại

thường đổ lỗi cho rượu

nhưng không nếm được mùi của rượu vang

43. Tranh luận

Những trái chín phản đối sự chờ đợi

nhưng những trái non nói rằng

sự chờ đợi có thể lớn hơn khi bạn biết chọn lựa

44. Quy luật

Những trái táo bệnh tật

ép mình chết non

trên nỗi tiếc nuối của vị ngọt

45. Ánh sáng

Sự im lặng đang tỏa sáng trong ngọn nến vừa thắp lên những nỗi buồn

chúng đang mặc cả về sự im lặng của chuyến đi

46. Khiêu vũ dưới mưa

Muốn khiêu vũ chân trần trong vũng nước của mưa

bật ô lên, mưa sẽ khóc

mắt ngọc trôi giữa rêu xanh

47. Điều nuối tiếc

Về phía bên kia, sau lời ghi chú của hoàng hôn

có con thạch sùng chợt thức giấc

nuối tiếc giấc mơ về loài rồng lửa

48. Sự khởi hành

Nỗi buồn né tránh

nó im lặng

để khởi hành như mặt trăng [đôi lúc đỏ lên như mặt trăng máu]

49. Phơi ảnh

Một lần trời đẹp

tôi đem tấm ảnh ra phơi

và tha thứ cho sự hối tiếc

50. Password của con đường

Khi khớp gối rã sợi dây chằng

con đường đã quá xa

bạn sẽ nhớ những lần chần chừ thay đổi password

51. Tivi

Chủ nhật, màn hình quảng cáo, nhảy múa với các ngôi sao, thần tượng

con người bị bó trong những điều tào lao

tôi trượt trên TV và bỏ đi với quyển sách

52

Cây thông ngất ngưởng

cây thông hò reo

gió ghé qua nói rằng:

ngày mai có nhiều người muốn mua bộ tràng kỉ

53. Quyển sách

Nỗi nhớ biến thành sợi chỉ khâu từng trang sách

từng chương, từng chương

có những tờ xếp ngược

54. Đêm

Có những lối ra cho những tĩnh mạch bị tắc nghẽn

đêm

đặt ý nghĩ lên cái móc nhọn của chữ S

55. Bát cơm nghiêng

Chẳng thấy màu vàng trên xác lá mùa thu ấu tuổi

đôi mắt đục mù bên bờ suối

vun tròn những bát cơm nghiêng

56. Pháo hoa

Những khoảnh khắc phá vỡ mặt đất

từng chùm pháo hoa

rớt lặng giữa mắt đêm

57. Buổi sáng hoài nghi

Chúng tôi đi trên con đường của sự hoài nghi vào buổi sáng

có những giọt nước mắt chảy vào miệng của đám đông

và những hình ảnh quá sắc nét minh họa cho lời trích dẫn

58. Nỗi sợ

Hôm nay nỗi sợ hãi đã can đảm đứng dậy

viết lời cuối

cho những nốt nhạc bị mất tích sau cánh rừng thông

59. Trò phù thuỷ

Có những trò phù thủy trong những bức tường trống rỗng

màu vàng ngoài ô cửa sổ

đã dày đặc những bụi hoa mưa

60. Trái tim

Nó đã đau đớn cùng với tôi

trái tim nói với tôi khi đi bộ

trên con đường ngày xưa đầy bụi cỏ gai

 61. Chiếc cối xay

Quay vòng trong cái cối xay

chữ nghĩa rụng

còn lại trong khoang bụng lổn nhổn Tấm và Cám

62. Cá ngựa

Không phải thằn lằn

mà là cá ngựa vằn

đang tái tạo da trên gương mặt và những cái đuôi quẫy nhanh với nước

63. Đọc một bài thơ

Truy cập vào chiếc ô

mưa

nhỏ giọt điều hiển thị

64. Sự kiên định

Chiêm ngưỡng hoàng hôn

nứt trong hạt gai đỏ

cố gắng chống lại những thay đổi trên đường đi

65. Phía ngoài màu xám

Xa hơn, về phía đường chân trời

không có màu xám

cho điều thất bại hay chiến thắng

66. Lý do của tầm gửi

Khi cây tầm gửi tìm được lý do để sống

nó dính chặt

ngay cả khi nó đốt thanh củi đến khô

67. Sự bắt đầu

Không có lý do để bắt đầu mùa thu

từ chiếc lá vàng

bởi cuộc sống đã được viết trên gương mặt

68. Ngọn đèn đá

Ngọn đèn đá đã tắt

những bồ hóng, những rêu phong

những giọt hoàng hôn nhỏ ròng trong mắt

69. Sa lầy

Có gì đó nhầm lẫn ngoài kia

chiếc bóng đang đánh chìm dưới đầm lầy

vì mưa

70. Cú ngã

Đêm, người đàn ông chạy ra khỏi nước mắt

té ngã

số phận quay về hướng tốt hơn

71. Đường phố

Một ngày đường phố vỡ tan trong gương

nằm trong muôn mảnh

như một máy nhân bản

từng lằn nứt trong chiếc lá mùa thu

73. Điều hoài nghi

Khi sự hoài nghi lãng quên

cũng là lúc mùa thu bị đánh chìm

trước sự ngập ngừng nơi khung cửa

74. Thạch nhũ

Nếu di chuyển Phong Nha

thạch nhũ ngừng khóc

bởi không thể kết thúc thời gian của mình

75. Điều phiền muộn

Đặt một ít phiền muộn lên nụ cười, nó chạy

bỏ giỏ trong những đường mòn

ở mí mắt

 76. Sơn xanh chiếc lá

Người ta sơn chiếc lá

màu xanh

để từ chối mùa thu đi ngang qua cửa sổ

77. Đừng nghe đá khóc

Chạy, chạy đi

đừng nghe lệ rơi của đá

đào trong mặt đất nụ cười thỏa nguyện trên mi

78. Thêm một chút

Thêm chút nụ cười, thêm một chút hoa trên ngôi mộ

thêm một chút của tôi

chút điều tham lam trên đường đến

79. Đèn vàng

Chờ đợi thôi

lần lượt đi qua những ngọn đèn vàng

mưa chẳng kịp thong dong

80. Kinh cầu an

Bắt đầu lời giảng từ trăm năm

bức tranh trầm tư

chẳng chịu nhàu nỗi nhớ

81. Ngôn ngữ

Ngôn ngữ di chuyển vào lưỡi khi bạn nói

dừng lại suy nghĩ bên trong cuộc đua

rồi đóng băng trong vòm miệng

82. Những trái bí ngô

tiếng chân trẻ chạy, tiếng khóc bị trói

chiếc mặt nạ im bặt

vàng trong ngọn lửa bí ngô

83. Quyền lực

Halloween, màu gió đen

khỏa gương mặt cũ

lấp hằn quyền lực dưới những chiếc mặt nạ

84. Con bù nhìn

giữa cánh đồng nửa đêm, con bù nhìn bật lên tiếng nói

đó là những quả bí ngô, không phải là đầu lâu

và reo lên cười

85. Thần Kali

thế kỷ 21, thần KaLi vẫn không mặt quần áo

ăn bí ngô

có lẽ thần thiếu vitamin A và thử nếm vị bột mì thật lạ

86. Những chú lính chì

Một bản sao mới của sự sống

khi người ta muốn nhân bản

những chú lính chì biết đánh trận khi còn ở nhau thai

87. Sai lệch

Sự thật không đi thẳng

nó nghiêng một góc rất nhỏ

đủ để tất cả những đường song song

không bao giờ gặp nhau

88. Thử nghiệm

Người ta đem niềm tin

thả vào ống nghiệm

và ngạc nhiên khi thấy

nó sôi lên

89. Mặt phẳng

Lịch sử thích được viết trên mặt phẳng để che giấu

những vết lún

của máu đã khô

90. Chiếc dạ dày của những con lạc đà

Chiếc dạ dày của những con lạc đà

tiêu hóa cơn khát của cát

và những bước chân biến mất trong mắt gió

91. Ngôn ngữ trên khán đài

Những từ ngữ được lặp đi lặp lại

và nhổ ra

trên khán đài những dòng chữ chạy và biểu diễn

bên dưới những lời ngợi ca cửa miệng

 92. Sự lười biếng

Ở một nơi nào đó mưa

con ốc sên lười biếng

 bò ra khỏi cành cúc họa mi

93. Mùa đông và chiếc tất

Mùa đông chui vào chiếc tất

phát hiện

đêm ấm áp chỉ một bàn chân

94. Sự tưởng tượng

Tôi nhìn làn sóng cánh

nó bơi ếch trong không khí

khi chiếc cầu thang bị đánh cắp

95. Phóng thích

Có gì đó mắc kẹt khi nỗi ăn năn được phóng thích

chúng mọc dằm trong mắt

của lũ quạ đen

96. Nỗi buồn

Một loại nỗi buồn

như thể chào mừng khai sanh của tôi

như thể bóng tối đi theo từng bước chân mòn

97. Tập tin bất hạnh

Nơi tập tin đính kèm vào bất hạnh

đó là đôi khi bạn bỏ lỡ cái đánh lửa nhỏ

để nhìn piston quay

98. Tập quán

Chúng ta quen với việc

cúi xuống nhặt như xin lỗi đồ vật, sau khi làm rơi

nhưng hiếm khi cúi đầu trước con người

99. Lỗ thủng

Đạo đức có một lỗ thủng nhỏ

đủ cho quyền lực chui qua

và đủ hẹp để lương tâm không theo kịp

100. Đèn đỏ

Đèn đỏ đứng canh

những ý nghĩ vượt rào

con người thì luôn tin mình có lý do chính đáng

Houston – Đôi mắt người xưa

Vũ Thanh

HOUSTON – ĐÔI MẮT NGƯỜI XƯA

 *

Ta trở lại Houston mùa nắng quái

Gặp bạn bè thân ái của trường xưa

Bốn mươi năm bao kỷ niệm để vua đùa

Dẫu dâu bể tóc xanh nay điểm bạc

Giữa oi nồng trời Houston nắng rát

Bỗng em về tươi mát buổi đoàn viên

Vẫn dịu dàng – vẫn ánh mắt thân quen

Không ước hẹn mà nên duyên kỳ ngộ

Bốn mươi năm giữa dòng đời dông tố

Tạ ơn em đã giữ vẹn ánh mắt xưa

Biết không em – vui lắm nói sao vừa

Anh cứ sợ – giờ thì lòng mở hội

Anh chỉ giận – gặp em không còn bối rối

Cũng đành thôi – năm tháng qúa dãi dầu

Nhưng anh mừng ta được gặp lại nhau

Em có khác – chỉ duy đôi mắt đó

Đôi mắt của bốn mươi năm vò võ

Cảm ơn em – đôi mắt của người xưa

Của một chiều em bước nhỏ dưới mưa

Anh nhắc lại và nhẹ nhàng trách khẽ

“Không!” Em bảo – “hãy để tình dang dở

Để anh buồn, anh viết khúc tình ca”

Ôi ngọt ngào lời nói điêu ngoa

Anh bỏ mặc – bởi em là đôi mắt

Đêm hạnh ngộ gửi đến em khúc hát

Bản tình buồn anh viết tặng riêng em

Bốn mươi năm dài thầm kín gọi tên

Sợ em khổ – anh chỉ dám đề K.M.

Bốn mươi năm câu ước nguyền chưa phỉ

Ta lạc loài – nay đất khách gặp nhau

Buồn hay vui – khi tóc đã đổi màu?

Lời từ biệt – em bảo “mình là bạn”!!!

Cảm ơn em – Ôi! vui sao nghèn nghẹn

Mai anh về viết tiếp bản tình ca

Chuyện tình buồn – hội ngộ để chia xa

Và anh sẽ viết lên lời thâm tạ

Tạ ơn Chúa đã ban em đôi mắt

Tạ ơn người mang hạnh phúc đến em

Tạ ơn em

Riêng anh – bóng xế đợi bên thềm!

Vũ Thanh

Viết tặng đôi mắt ngày xưa K.M.

Houston 2016

Đại hội học sinh Cường Để – Nữ Trung Học Quy        Nhơn.

Con cừu thất lạc

Truyện ngắn.

Anne Carson. Nobel Prize 2026

Ngu Yên dịch

.

.

Trời lạnh trong bóng tối; chúng tôi đến sớm hơn dự định. Tôi không thích những bữa tiệc. Bà ngoại của bạn đứng trong bếp, trông như một nhân vật thần thoại, hai tay khoanh trước chiếc tạp dề. Bạn nói, cần đi quanh giao tiếp. Một lúc sau, bạn đến bên tôi, đang ngồi trên bậc thềm. Bạn vui lắm. Kể tôi nghe bao nhiêu dự định: luyện tập để trình diễn sân khấu hòa nhạc, trải qua những cuộc tuyển chọn khắc nghiệt, đi khắp thế giới. Trên trán bạn linh hồn sáng lên. Tôi chẳng biết góp ý điều gì. Tôi thành thật cầu nguyện. Biết đâu một cơn bão sẽ ngăn bước chân bạn. Nhưng rồi đêm vẫn trong trẻo. Bạn cứ nói mãi. Rạng đông bắt đầu. Tôi có ước muốn thầm kín: lặng lẽ nghiêng người về phía bạn, như rơi vào một mặt hồ, rồi biến mất. Nhưng bạn đứng dậy, phủi bụi trên người.

Ngày hôm sau, tôi đeo kính đen, theo lời bạn dặn, rời khỏi nhà, đi xuống bờ biển. “Bạn nghĩ một bài thơ đích thực sẽ cứu được bạn,” hôm ấy ở buổi dã ngoại bạn đã nói với tôi. “Đó là một sai lầm!” Chỉ một chim én nhỏ, tôi nghĩ, trong lúc bước xuống biển. Nước lạnh như ánh sao. Một buổi sáng dài vô hạn. Bài thơ của tôi chẳng ra sao cả. Đón xe buýt đến một cuộc đấu giá bán đại dương cầm.

“Chuyện gì đã xảy ra với con gấu biết hát của Keats?” là đề tài mà vài người tôi gặp tại cuộc đấu giá nêu lên, một đề tài có vẻ gần với ngành âm nhạc học, khiến tôi bỗng nhớ bạn. Không, không phải Keats có một con gấu biết hát, là Byron, tôi muốn nói thế nhưng làm thinh. Những cây đàn baby grand được bán với giá bảy ngàn đô la. Tôi nghĩ đến bạn, nghĩ đến cách bạn từng làm tôi choáng váng, hàm răng của bạn cũng từng làm tôi xây xẩm. Cuộc đấu giá kéo dài mãi. Đêm buông xuống. Tôi sống sót qua trọn một ngày không có bạn. Để tôi ghi lại một điều tốt đẹp về việc hiu quạnh một mình: không còn Bataille nữa. Bạn lúc nào cũng trích dẫn những câu đại loại như: “Eros nói vâng với tình yêu cho đến tận cái chết.” Nhảm nhí, tôi nghĩ. Chẳng phải chỉ là bạn muốn luôn giữ phần thắng trong tay sao?

Bạn đã đánh mất thế thượng phong trong chính công việc của mình, công việc nghiên cứu âm nhạc, theo một cách kỳ lạ, trong cuộc cạnh tranh với chính bản thân. Bạn kể, bà ngoại đã tìm thấy cuốn sổ nhỏ của bạn từ hồi lên tám hay chín tuổi. Trên một trang giấy có vài ô nhịp ký âm, hạt nhân của tất cả những gì bạn khám phá sau này về âm nhạc và sự thật. Đoạn nhạc này rực sáng bởi chính bạn. Bạn không bao giờ có thể vượt qua nó, thậm chí không thể đạt tới nó lần nữa. Bạn cắn lưỡi vì ghen tị rồi cất cuốn sổ đi. Tôi nhớ hôm đó là buổi chiều âm u cuối đông, chúng ta đang đi trong rừng. Cây cối đứng thẳng trong những vũng tuyết tan, vừa xám độm vừa vàng.

Lần đầu chúng ta gặp nhau, tại một bữa tiệc sau buổi diễn thuyết, Sartre có mặt ở đó, hoặc một người nào đó tự nhận mình là Sartre. Ông ta mặc áo len dày. Những người hâm mộ ông mặc áo lông thú hoặc da cừu. Đêm đó, bạn vùi mặt vào giữa hai đùi tôi suốt một giờ nhưng không thể, như người ta vẫn nói, làm được gì. Tôi đi bộ về nhà lúc khoảng bốn giờ sáng. Tuyết lấp lánh như một chiếc khăn tay mới tinh vừa được thả xuống thị trấn. Đi bộ một mình về nhà luôn là phần tôi thích nhất sau khi làm tình.

Có những ngày tôi cảm thấy sự vô định hoàn toàn đến mức tưởng như mình chỉ còn treo lại bằng một góc. Tâm trạng thì có ý nghĩa gì? Có một triết gia, hình như Heidegger, từng nói nếu không có tâm trạng, chúng ta sẽ không nhận ra mình đang sống. Tôi nghĩ ông muốn nói đến những tâm trạng tồi tệ; khi vui, tôi chẳng nhận thấy gì ngoài vẻ đẹp của chiếc mũ mình đội hoặc tốc độ chiếc xe máy. Nhưng nghĩ kỹ lại, tôi nghi ông muốn nói đến ranh giới giữa những tâm trạng, khoảnh khắc chuyển đổi. Bởi thực sự, đó mới là điều kỳ diệu. Cứ cho là bạn đang cào đáy giếng, tâm hồn trống rỗng, thảm hại, trống không, sẵn sàng buông xuôi, rồi đột nhiên nó chuyển đổi. Ranh giới mở ra. Nỗi kinh hoàng tan biến. Thế giới bật trở lại đúng vị trí. Điều ấy xảy ra thế nào? Ai điều khiển nó? Tại sao tôi không tin nó sẽ xảy ra lần nữa? Bài thơ tội nghiệp đã chết.

Nhân tiện, bài thơ của tôi nói về những nhà nghỉ ven đường. Tôi thường cảm thấy những khoảng thời gian đẹp nhất của chúng ta đã trải qua ở các nhà nghỉ. Những khoảnh khắc đẹp nhất ở nhà nghỉ là khi chúng ta bơi trong bóng tối ở hồ bơi. Ánh sáng màu ngọc lam dưới nước, thứ ánh sáng tôi vô cùng yêu thích.

Trong những chuyến đi đường dài, tôi có nhiệm vụ tìm và chọn nhà nghỉ. Tôi đã chọn sai vài lần, như lần chúng ta lái xe đến một thị trấn giữa sa mạc để xem người bạn diễn viên trong một vở kịch mới. Bên cạnh nhà hát là nhà nghỉ địa phương, quầy tiếp tân do một cậu trai Pakistan có một con mắt hoang dại quản lý, cùng một người phụ nữ, sau này mới biết là người dì, tất tả đi quanh chiếc xe lăn của cậu. Nhà nghỉ tệ, căn phòng tệ đầy ruồi, vở kịch tệ mang tên “Magic Madrigal”.

Với tôi chẳng có gì kỳ diệu. Nhà hát nhỏ xíu. Tôi có thể nhìn thấy các diễn viên đang thở, chuẩn bị để thở. Tôi có thể thấy họ bắt gặp ánh mắt nhau. Điều đó khiến tôi ngượng ngùng, có phải đó là từ đúng không? “Khán giả lúc nào cũng là kẻ đứng lầm chỗ,” bạn nói. “Thế này thì sao?” tôi nói. “Thế này nhé: tất cả diễn viên trên thế giới chỉ việc bước đi quanh một căn phòng. Rồi bước ra khỏi căn phòng. Rèm! Hết! Không còn kịch nữa!” Bạn cười. Nhưng tôi lại nghĩ về cậu trai ở nhà nghỉ, người chủ trì cái sân khấu nhỏ bé của quầy tiếp tân với chiếc máy tính đặt ngang tầm xe lăn và một chiếc máy pha cà phê dành cho khách, bữa sáng kiểu Âu châu, trong khi dì cậu đi tới đi lui như một nhân viên hậu trường, mang theo những chiếc nĩa nhựa và những gói mứt cam nhỏ. Nhìn nét mặt họ, tôi đoán hai người biết khá nhiều về đau khổ.

Tôi tự hỏi họ sẽ nghĩ gì về “Magic Lyre”, một vở kịch về những quý tộc ở Buenos Aires hoài niệm nước Ý và nước Áo? Tôi ghét hoài niệm. Có lẽ diễn xuất vốn dĩ đã mang theo hoài niệm, hoài niệm về nỗi đau, thứ từng có thật ở một nơi nào đó khác. Trên xe, tôi đang đọc “Mansfield Park” của Jane Austen, trong đó nảy sinh một tình thế khó xử quanh chuyện đóng kịch: hai nhân vật đáng ngờ nhất của cuốn tiểu thuyết đề nghị tổ chức “kịch nghiệp dư” cho một nhóm thanh niên trong nhà. Những người khác tỏ ra miễn cưỡng. Fanny, nhân vật nữ chính, nói, cô ghét diễn kịch. Hai buổi tập là tất cả những gì vở diễn đi được trước khi bị Người Cha dẹp bỏ, khi ông trở về sớm từ nước ngoài: bị bắt gặp giữa buổi tập, các diễn viên xấu hổ tan hàng và không thể nhìn thẳng vào mắt Cha trong nhiều tuần sau.

Chúng tôi rời nhà nghỉ sớm hơn một ngày, trong tâm trạng áy náy. Cậu trai và dì cậu dường như không ngạc nhiên. Họ nói dù sao chúng tôi cũng phải trả đủ tiền, và chúng tôi đã trả. Lúc ấy là giữa buổi sáng trong quầy tiếp tân, đèn bật rõ, rèm kéo kín, máy tính đang chạy đều đều. Không phải mọi sự diễn đều là hư cấu; nếu bạn là cô dâu, quản lý nhà hàng hay người khiêng quan tài, bạn đang đóng một vai. Những hình thức của nhân tính được trình diễn. Bạn và tôi đã nói với nhau những điều như thế trên đường về. Nhưng tôi nhớ đến câu chuyện về diễn viên Polos vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, người đã nổi tiếng nhờ đóng lại vở “Elektra” của Sophocles từ thế kỷ thứ năm trước Công nguyên.

Polos đóng vai Elektra, người trong một thời khắc then chốt của vở kịch đứng ôm một chiếc bình mà nàng tin là chứa tro cốt của người anh Orestes. Thực ra chiếc bình là đồ giả, chẳng có tro cốt nào bên trong, và người mang chiếc bình cùng những lời dối trá đến cho nàng chính là Orestes. Bạn sẽ phải đọc vở kịch để biết những trò rắc rối ấy ăn nhập với cốt truyện ra sao, nhưng bạn có thấy chiếc bình đó, chiếc bình không chứa tro cốt được cho là có tro cốt, chẳng phải là một ẩn dụ tinh tế cho chính sân khấu hay sao? Tất cả những chiếc bình đều là giả! Tất cả những nàng Elektra than khóc đều đau lòng một cách ngây thơ! Và Polos, một diễn viên nổi tiếng vì “lời thoại rõ ràng và cử chỉ duyên dáng”, đã quyết định vặn thêm một vòng nữa vào nghịch lý của những giọt nước mắt sân khấu.

Bởi gần đây Polos đã phải chịu một mất mát. Thế là, khi được yêu cầu đóng vai Elektra, ông khoác lên người bộ đồ tang của nàng, cầm chiếc bình chứa tro cốt chính con trai mình, mang đến cho khán giả không phải nỗi đau giả vờ mà là nỗi đau có thật của một người cha.

Tôi đau đầu khi nghĩ đến biết bao tầng sự thật và dối trá móc nối vào nhau trong cảnh tượng này. Tro cốt thật và tưởng tượng. Diễn viên, diễn xuất và đau buồn. Những người chị là những người cha. Những người đàn bà là đàn ông. Sự giả tạo nằm trong câu chuyện, và sự giả tạo được đời sống thật thêm vào. Những chiếc bình, vật dụng, mô phỏng. Khán giả ngơ ngác, thích thú, bị sân khấu đánh lừa, bị đời thực đánh lừa. Polos đi bộ về nhà sau nhà hát lúc khuya, vẫn còn nguyên lớp hóa trang trên mặt, chiếc bình giấy đựng tro cốt nằm trong ba lô. (Đoạn này viết hay quá.)

Sau chuyến đi đó, tôi trở thành người mất ngủ. Nhiều đêm, tôi ngồi trong bếp đọc những lá thư của Keats, người cũng mắc chứng chân không yên giống tôi. Một con ngài cô độc bay vòng quanh ngọn đèn. Đó là năm 1819, năm những lá thư đắm đuối, mâu thuẫn đến mê muội của Keats gửi cho người yêu Fanny, khi có lúc ông kéo nàng vào trái tim, có lúc lại đẩy nàng ra xa. Ông nói nàng đã “hấp thụ” ông; ông bảo ông khao khát được “tự do như một con hươu”. Ông đặt nàng bên cạnh Cái Chết như thứ xa xỉ cuối cùng còn lại của mình. Thật sự ông cảm thấy gì? Chắc chắn ông muốn được yêu. Chắc chắn ông thích thú với việc viết những lá thư đó, một mình trong căn phòng thuê nơi ông đến để ép mình phải viết, ông thực sự viết, mỗi ngày, với một văn phong cô đọng, tập trung, nhưng đêm vẫn còn đó. Khi yêu, chẳng phải tất cả chúng ta đều chơi một trò chơi nho nhỏ hay sao? Một bên là thiên tài của cảm xúc nguyên sơ; bên kia là những bộ quần áo hóa trang đang phơi trên dây.

Keats đói khát theo quá nhiều hướng. Ngoài chuyện các bác sĩ bắt ông ăn kiêng đến đói lả để giảm lượng máu trong người, ông còn muốn tình yêu đích thực; ông muốn nhiều hơn hai bài điểm sách khi xuất bản một cuốn sách; ông muốn bán được sách, có thu nhập; muốn được ngưỡng mộ; ông muốn có những gì Byron có! Tất cả những điều ấy làm tâm trí ông tối lại.

Tôi nhớ khi chứng mất ngủ lần đầu bám lấy mình, tôi đã đi xin lời khuyên từ những người. “Bạn có thể đếm cừu,” một người bạn nói, “nhưng đừng đếm bằng ý thức, hãy đếm bằng mắt.” Anh ấy là một Phật tử. “Và đừng mất công đếm những con cừu thất lạc,” anh nói thêm. Lúc đó tôi tưởng đó chỉ là một câu đùa, nhưng thật ra, Keats còn đang làm gì khác ngoài việc suốt đêm đếm những con cừu thất lạc? Bởi toàn thân đều đang khóc.

Đời sống vốn ngẫu nhiên. Tôi chẳng bao giờ biết những con nào đã biến mất. Có một tiếng tích của buồn, rồi một tiếng tắc của buồn, thế là chúng ta đi, và thế là chúng ta đã đi.

MISSING SHEEP

By Anne Carson

It was cold and dark; we arrived too fast. I hate parties. Your grandmother stood in the kitchen, looking mythological, hands crossed on her apron. You said you had to mingle. Later, you came up to me, where I was sitting on the stairs. You were so happy. You told me all your new plans, to train for the concert stage, undergo harrowing auditions, travel the world. On your forehead shone your soul. I had nothing to say. I was praying hard. A storm might prevent you from leaving. As it turned out, the night remained clear. You talked on. Dawn began. This was a secret wish of mine: to tip quietly forward into you, as into a lake, and vanish. But you were already standing, brushing yourself off.

Next day, I donned dark glasses (your advice), left the house, and went down to the shore. “You think a real poem will save you,” you had said to me that day at the picnic. “This is an error!” You puny swallow, I thought. I walked into the sea. It was as cold as stars. What a long morning. My poem was going nowhere. I took the bus to an auction of grand pianos.teads-resize

Whatever happened to Keats’s singing bear? was a topic raised by some fellows I met at the auction, a musicology-adjacent topic, so I suddenly missed you. No, it wasn’t Keats who had a singing bear, it was Byron, I wanted to say but did not. Baby grands were going for seven thousand dollars. I thought of you, how you shocked me, your teeth shocked me. The auction took forever. Night fell. I had survived one complete day without you. And let me record a good thing about being alone—no more Bataille. You were always quoting stuff like “Eros is saying yes to love all the way to death.” Rubbish, I thought. Wasn’t it just that you wanted to keep the upper hand?

You had lost the upper hand in your own work, your musicological work, in a weird way—in competition with yourself. You said that your grandmother had unearthed a small notebook of yours from the time when you were eight or nine years old. On one page there were a few bars of notation—the kernel of all your subsequent insights into music and truth. It blazed with you, this bit of score. You could never better it, or even equal it. You bit your tongue in envy and put the notebook away. I recall it was evening, late winter, and we were walking in a wood. Trees stood up straight in pools of melted snow, dark and gold.

First time we met—at a party after a lecture—Sartre was there, or someone who said he was Sartre. Heavy sweater. His fans wore fur coats or sheepskin. Later that night, you spent an hour with your face buried in my genitalia but could not, as we say, perform. I walked home about 4 A.M. Sparkly snow like a fresh handkerchief had been dropped on the town. Walking home alone was always my favorite part of sex.

There are days when I get a sense of such total aimlessness I feel I am just hanging by one corner. What is the importance of moods? There was a philosopher, I think Heidegger, who said that if we didn’t have moods we wouldn’t notice we were alive. I take it he meant bad moods; in a good mood I don’t notice much beyond the beauty of my hat or the speed of my motorbike. But, on second thought, I suspect he meant the border between moods, the shift. Because, really, that is the miracle. Let’s say you’re grinding the bottom of the well, soul hollow, abject, void, ready to give up—then all of a sudden it shifts. The border opens. Dread dissolves. The world snaps back. How does this happen? Who is in charge of it? Why do I not believe that it will ever happen again? Poor dead poem.

My poem, incidentally, is about motels. I often feel that our best times were spent at motels. And our best times at motels were spent swimming in the dark in the motel pool. Turquoise underwater illumination, my favorite kind of light.

On road trips, it was my job to map out the motels beforehand. I was wrong a few times, like when we drove to a town in the desert to see my friend, the actor, in a new play. Next to the theatre glowed the local motel, its front office administered by a Pakistani boy with one wild eye and a woman, who turned out to be his aunt, bustling around his wheelchair. Bad motel, bad room full of flies, bad play called “Magic Madrigal.” Not magic for me. Tiny theatre. I could see the actors breathing, getting ready to breathe. I could see them catch one another’s eye. It embarrassed me—is that the right word? “The audience is always the one out of place,” you said. “How about this,” I said. “How about all the actors in the world simply pace into a room. Then pace out of the room. Curtain! The end! No more plays.” You laughed. But I was wondering about the boy at the motel, presiding over the little theatre of the front office with a computer at wheelchair level and a coffee machine for the guests (continental breakfast included), his aunt coming and going, like a stagehand, with plastic forks and little packets of marmalade. To judge by their faces, those two knew something of suffering. How would they like “Magic Lyre,” I wondered, a play about aristocrats in Buenos Aires, nostalgic for Italy and Austria? I hate nostalgia. Perhaps acting is innately nostalgic—nostalgic for human suffering, which used to be real somewhere else. In the car, I’d been reading Jane Austen’s “Mansfield Park,” in which a dilemma arises over playacting: the novel’s two most dubious characters propose “amateur theatricals” to a houseful of young people. The others express reluctance: Fanny (heroine) says she abhors acting. Two rehearsals are as far as the production gets before it is quashed by Father, who returns early from overseas: caught mid-rehearsal, the actors suffer shattering shame and can’t look Father in the eye for weeks.

We departed the motel a day early, feeling bad. The boy and his aunt seemed unsurprised. Said we’d have to pay the full amount anyway, which we did. It was midmorning in the front office, lights on, curtains drawn, computer humming. Not all acting is fictional; if you are a bride or a maître d’ or a pallbearer, you act a part. Forms of humanity are represented. You and I said things like this to each other on the drive home. But then I recalled the story of the fourth-century-B.C. actor Polos, who made his name in a revival of Sophocles’ fifth-century play “Elektra.” Polos played the part of Elektra, who, at a certain crucial moment in the play, stands holding an urn, which she believes contains the ashes of her brother, Orestes. In fact, the urn is a fake—it contains no ashes, and the man who delivers the urn and the lies is Orestes himself. You will have to go and read the play to discover how these shenanigans make sense within the plot, but don’t you think that this urn (not) full of (alleged) ashes is a dainty allegory of theatre itself? All the urns are fake! All the keening Elektras heartbreakingly silly. And Polos, an actor celebrated for his “clear delivery and graceful action” (Aulus Gellius), decided to give one more turn of the screw to this paradox of actors’ tears.

For Polos had recently suffered a loss. And so, when asked to play the part of Elektra, he clad himself in her mourning garb and, holding the urn that contained the ashes of his own son, gave to the audience not imitation sorrow but unfeigned father’s grief.

I get a headache thinking about how many layers of truth and lie are hooked together in this scenario. Ashes, real and imaginary. Actors, acting and grieving. Sisters who are fathers. Women who are men. Fakery that is part of the story, and fakery added on by real life. Urns, props, mimesis. Audiences bemused, delighted, hoodwinked theatrically, hoodwinked for real. Polos, walking home from the theatre late at night, still wearing his makeup, ashes in a cardboard urn in his backpack.

After that trip, I became an insomniac. Often, I sit in the kitchen at night reading the letters of Keats, who suffered, as I do, from restless-leg syndrome. A lone moth circles the lamp. It is 1819, the year of Keats’s swooningly inconsistent letters to his girlfriend, Fanny, whom he alternately beckons to his heart and thrusts off. He claims she has “absorb’d” him;

he tells her he longs to be yet “free as a stag.” He pairs her with Death as his last remaining luxury. What does he really feel? Certainly he wants to be in love. Certainly he enjoys crafting these letters—alone in a rented room where he’s gone to force himself to write, and write he does, in concentrated style, every day, but still there are the nights. We all play a bit of a game when in love, don’t we? On the one hand, there is the genius of raw emotion; on the other, costumes drying on the clothesline.

Keats was hungry in so many directions. Besides the fact that his doctors had him on a starvation diet to reduce his blood, he wanted true love; he wanted more than two reviews when he published a book; he wanted sales, an income; adoration; he wanted what Byron had! It darkened his mind. I recall, when insomnia first took hold of me, seeking advice from others. “You could count sheep,” one friend said, “but don’t count consciously, count visually.” (He’s a Buddhist.) “And don’t bother counting missing sheep,” he added. I took this to be a joke at the time but, really, what else was Keats doing but counting missing sheep all night? For there is a weeping of the whole body. And life is haphazard. And I never know which ones are missing. And there is a tick of woe and a tock of woe, and so we go, and so we did.

Xa bóng Mẹ

.Trần Viết Dũng

.

Mẹ- hạt- bụi- mênh- mông- mặt- đất

Mặt đất- hạt- bụi- mênh- mông- thiên- hà

.

Hai hạt bụi suốt đời ta qua chẳng hết

Đêm nhìn trời đụng cõi bao la

.

Mẹ đau đớn hạt- buồn- con tách vỏ

Nén hơi dài ru tròn giọng dân ca

.

Ta lêu lổng Mẹ còng lưng dấu hỏi

Mắt hiền từ, thằng bé hệt dáng Cha

.

Ta dẫm đạp mặt đất đau dấu chấm

Bước cô đơn lưu lạc giữa quê nhà

.

Rồi một ngày ta về với Mẹ

Ôm vào lòng Mặt Đất lại ru ta

Thả diều trong đêm.

Đặng Phú Phong

.

Đêm nay tôi ngồi nhìn thành phố

Qua ô cửa kính mờ hơi sương

Tôi nghe tim mình rơi rất khẽ

Xuống đáy cốc cà phê còn nguyên.

.

Tôi không thể nói cho ai hiểu

Cảm giác mình đứng giữa đám đông

Như ngọn đèn quên bật cho đêm

Người đi qua, không ai ngoảnh lại

.

Sao cứ yêu người không cùng tần số

Tiếng lòng tôi, nàng nghe thành gió

Tôi gửi tình như thả diều xa

Dây đứt rồi , chiều buông, diều mất.

.

Trên tay hiện tấm bản đồ nhàu nát

Chỉ lối về một vùng đất xa xưa

Giữa phố mới, nhà cao lấp lóa

Tôi tìm hoài không thấy được tôi.

.

Chuyến xe đêm cuối cùng đã chạy

Bến tôi đứng giờ hóa bụi mờ

Tôi không đi, cũng chưa từng đứng lại

Giữa hai bờ mộng – thực, tôi đâu?!

Chiều ngang qua Sài Gòn

.Mộc Miên

.

Chiều ngang qua Sài Gòn

Bỗng thơm mùi hoa sữa

Chiều trên cây tình buồn

Tình vừa qua mùa vỡ

Hương bay về nghìn trùng

Phố đông người xa lạ

.

Chiều ngang qua Sài Gòn

Tháng mười vương nếp áo

Trên tay ôm nỗi niềm

Dưới chân đường cổ đạo

Ai hát giữa mưa bay

Để bên này nắng cháy

.

Chiều ngang qua Sài Gòn

Nồng nàn hương hoa sữa

Bánh xe đời gập ghềnh

Lăn tròn trong ký ức

Phía sau lưng anh giờ

Ai choàng tay ngày lỡ

Dẫu tình đã xa xôi

Vẫn vui như thuở ấy

.

Em băng qua mùa em

Phất hương mùa ở lại

Vòng tay nào đã quên

Ngủ đi, tình khờ dại

Thả buồn theo nước trôi

Trôi đi, đừng lên tiếng

/

Người bây giờ chắc quên

Loài hoa thơm bốn cõi