Trời chưa sáng hẳn, bóng tối vẫn còn bao phủ mịt mùng nơi đây. Một quang cảnh kỳ lạ, nghẹt thở, nặng nề bức bối, và đầy hiểm họa.
Đại hồng thủy. Chung quanh mênh mông là nước đen ngòm vẫn đang chảy xiết cuồng nộ, cuốn trôi theo cơ man những thứ trên đường đi. Có cây cối gãy đổ, từng mảng nhà cửa vật dụng bong tróc, xác động vật… chúng quấn vào nhau thành những khối vật thể hung tợn như sẵn sàng nuốt chửng mọi chướng ngại vật. Không còn phân biệt được đâu đã từng là đồng ruộng vườn tược, đâu là nhà cửa đường sá. Chỉ còn trơ lại vài cái mái nhà run rẩy nhô lên, hàng cột điện xiêu vẹo dây nhợ tả tơi, những ngọn cây lẩy bẩy.
Một chiếc ghe cứu hộ nhỏ với vài người trên đó đang tiến vào, thận trọng len lách, ánh đèn pin loang loáng dò dẫm. Không ai biết bên dưới dòng nước đục ngầu đang cuồn cuộn này là gì, có thể là một tấm lưới lan đang vật vờ sẽ cuốn chặt chân vịt, một thanh dầm sắt sẵn sàng xuyên thấu, hoặc cũng có thể là những nạn nhân vô tội của thiên tai.
“A lô a lô. Có ai ở đây không? Bà con ơi, còn ai ở đây không?”. Một người cầm cái loa tay nói to phá tan sự im lặng rờn rợn đang bao trùm.
Ghe cứu hộ đây, bà con ơi…”.
“Chắc họ kịp di tản từ đầu hôm hết rồi”.
“Nghe nói vẫn còn. Có mấy người được cứu thoát lúc đó kêu là nhà còn người, mà ghe hết chỗ nên chờ chuyến sau đó”.
“Chuyến sau nào nữa, từ lúc đó là nước lũ ào ào về ai dám đi ghe vô khúc này cho lật chết cả đám à”.
“Bởi vậy mới nói. Ủa, nhìn kìa, trên cái mái ngói đó đó, khuất sau ngọn tre á…”.
Trời vẫn còn chập choạng, người nọ chỉ người kia nghiêng qua ngó lại.
“A lô a lô, đây là ghe cứu hộ…”.
“Hình như có một người ngồi trên mái phải không?”.
“Đâu, in như là có 2 người ngồi cạnh nhau lận”.
“Họ còn sống không mà sao không thấy lên tiếng?”.
“A lô a lô, ghe cứu hộ tới đây, bà con bình tĩnh”.
“A, đúng là nhà của cái cô ẵm đứa nhỏ mới sinh hôm qua khóc lóc năn nỉ kêu tụi mình quay vô cứu mẹ của cổ phải không?”.
“Chắc vậy rồi, tội quá. May là có hai người ở lại cầm cự cũng đỡ”.
“Có một thôi mà”.
“Mới thấy hai cái bóng người nhô lên ngay mái ngói. Đó đó, họ đang ra hiệu kìa. Họ đang kêu cứu đó, nghe rồi, tới liền”.
Anh nhân viên cứu hộ nhớ lại chuyến ghe cuối cùng lúc đầu hôm ở ngay chỗ này. Khi đó mưa lớn và nước đang lên chưa có dấu hiệu dừng lại, ai nấy cuống cuồng hoảng hốt vì không lường trước được tình huống khẩn cấp lần đầu tiên trong lịch sử như vậy. Các đội cứu hộ đều bị rơi vào tình trạng quá tải, không ra vào kịp tất cả các điểm ngập lụt đang phát tín hiệu cầu cứu để đưa người thoát đi. Điện thoại thì reo như xé lòng và cho đến khi mất sóng, điện cúp thì thảy đều thất thủ. Khi chiếc ghe nhỏ đến khu vực này thì đã đủ người, liên tục chòng chành đe dọa. Lẽ ra họ đã bỏ qua ngôi nhà ấy nhưng trước hoàn cảnh quá sức nghiệt ngã của Lan, sản phụ còn trong thời gian ở cữ với con nhỏ mới sinh thì không đành lòng. Mỗi người phải nín thở đi một chút để cứu thêm một mạng người.
Vậy là chỉ người mẹ trẻ địu con trước ngực xuống ghe trước, với lời hứa sẽ quay lại đón người nhà sau. Ghe lèn chặt người chao đảo như chiếc lá giữa dòng nước dữ, mấy lần bị tắt máy muốn lật úp do chân vịt bị vướng phải vật cản cần có người lặn xuống gỡ. Tới được điểm tập kết thì thảy đều kiệt sức. Không còn phương tiện đi vô lại. Người mẹ trẻ ôm con thơ như hóa điên, cô nói, còn người nhà mình kẹt trong đó.
***
Khi đó khó khăn lắm Tầm mới đẩy được con gái và cháu ngoại mới sinh lên chiếc ghe cứu hộ cuối cùng cặp sát cổng. Nước đã tràn vô nền nhà hơn hai tấc còn ngoài đường ngang mặt sân thì cũng gần cả mét rồi. Trời bắt đầu sập tối.
“Có đi thì đi cả nhà, má không lên ghe thì hai mẹ con con ở lại luôn”, Lan ôm cứng con nhỏ, tay kia níu mẹ mình.
“Ghe đầy lắm rồi mà thấy ngặt quá nên mới liều chở thêm một người. Thêm nữa là chìm ghe chết cả đám ai chịu”.
“Nhanh lên để ghe người ta còn vòng vô lại, còn ai thì đi chuyến sau thôi”.
“Con đi trước đi, mẹ dọn sơ nhà cửa thêm chút, cứ tới nơi ở yên đó mẹ theo ra ngay. Còn không thì tới nhà mấy dì trong phố ở tạm. Con nhỏ nhà tui nó mới sinh chưa đầy tháng, bà con thương tình ngó chừng giùm”. Tầm gỡ tay con gái ra, cúi đầu gởi gắm cho người trên ghe.
“Được rồi, giờ tụi tui ra ngoải xong ổn định rồi vòng vô lại, mà biết đâu chừng giờ đến tối nước rút chớ không lên nữa đâu. Mưa ngớt rồi”.
“Má, má cẩn thận đó, không có dọn gì nữa, kệ đi…”, Lan tức tưởi.
“Biết rồi”, Tầm xua xua tay, chị cố giấu cơn choáng váng đang kéo tới, nhìn theo chiếc ghe đang chầm chậm rời xa dần rồi bì bõm lội vô nhà. “Sao má bỏ ba được”.
Có vẻ cây đèn pin đang phát ra những tia sáng yếu ớt cuối cùng, Tầm tắt luôn. Căn nhà quen thuộc này nhắm mắt chị cũng không nhầm chỗ. Đêm đầu tháng không trăng, le lói ánh sao xa tít qua màn mưa mỏng. Tiếng ghe máy cũng không còn vọng lại nữa. Thinh lặng quá đến cả tiếng côn trùng, tiếng chó sủa mèo kêu cũng không. Chỉ còn lại tiếng nước chảy xiết gập ghềnh như thác đổ.
“Sao em không đi theo tụi nhỏ?”
“Ghe đầy quá rồi anh không thấy sao”.
“Chớ không phải vì còn anh hả?”.
“Giờ muốn tui đi luôn cho biết tay không? Thiệt, nhà cửa đang yên đang lành. Ở đây mấy chục năm rồi có bao giờ nước vô tới nền nhà được đâu trời”.
“Đừng lội dưới nước nữa, thôi kệ bỏ hết lên đây cho khô ráo”.
“Anh thì khỏe rồi, gì cũng bỏ hết”.
Tầm loay hoay kéo cái bàn gỗ chồng lên đi văng, cách mặt nước được chừng nửa mét. Hy vọng nước không lên tới nữa.
“Có vẻ chắc chắn rồi ha, cùng lắm ghe không vô rước được thì đêm nay mình nghỉ tạm trên bàn có sao đâu anh. Có hai người mà sợ gì”.
“Ờ, đêm ngó vậy chớ ngắn lắm. Mấy khi mình có dịp”.
“Câu này nghe quen quen à. Ây da, thẳng được cái lưng rồi. Muốn chợp mắt chút ghê”.
“Đừng ngủ, nằm gối lên tay anh nè, mình nói chuyện đi”.
“À há, ngủ quên có khi lọt xuống nước à. Anh kể chuyện ngày xưa nghe coi”.
“Anh có phải là mối tình đầu của em không?”.
“Nữa, có câu đó hỏi hoài”.
“Vì em là mối tình cuối của anh mà”.
“Rồi sao, bất công hả?”.
“Thì thiệt thòi quá chớ sao, ba chục năm”.
“Gì dữ vậy, 30 năm tình hận luôn?”.
“Thì tính từ hồi mình mới 18 tuổi”.
“Xàm ghê. À mà không biết mẹ con con Lan ra ngoài ổn chưa anh ơi. Điện thoại gì cũng không được chẳng biết sao”.
“Lúc nó đi nước vẫn chưa cao lắm, sẽ an toàn thôi”.
“Ghe cứu hộ nói sẽ quay lại mà sao không thấy chiếc nào nữa hết… chẳng lẽ…”.
“Tối quá họ mất phương hướng em à, gặp nước xoáy nguy hiểm lắm. Chắc mình phải ráng cầm cự tới sáng”.
“Tội nghiệp cháu ngoại mình quá, biết vậy để con Lan ở lại Sài Gòn đẻ đi chớ kêu nó về nhà làm gì. Anh thấy thằng nhỏ có cái mũi với cặp lông mày y hệt anh không. Trời ơi… ui ui nước lên tới mép bàn rồi anh ơi, ướt lưng áo em luôn, làm sao đây”.
Tầm đang nằm co ro trên mặt bàn bật ngồi dậy, tay quờ trúng ngay dòng nước lạnh ngắt đang dâng lên từ từ.
Tầm chưa dứt lời thì mấy tiếng động lớn nối nhau ầm ầm vang lên từ góc nhà, nước bắn tới tung tóe. Chị lập cập soi đèn pin còn sáng nhờ nhờ tới. Cái tủ áo bị nước xô bật ngửa ra kềnh càng trôi, cái kệ sách lật úp tanh bành. Tủ lạnh, máy giặt sau bếp chắc cũng cùng chung số phận. Áng chừng nước đã tràn vô nhà hơn một mét nên chẳng thứ gì đứng vững.
“Anh ơi cái đi văng này, cái bàn này mà cũng trôi luôn thì mình biết bám vô đâu?”.
“Còn anh đây chi. Qua bên này. Trèo lên đi em, bước tới khung cửa sổ làm điểm tựa rồi chuyển qua. Mình lên được chỗ đó là tạm yên tâm”.
“Chỗ… chỗ nào… Hả? Không, em… không trèo lên đó được…”.
“Được, được mà, nắm chặt tay anh nè, đu qua”.
“Chắc chưa, chớ tuột tay là chết chắc”.
“Yên tâm. Đúng rồi đó, chân đặt lên thanh ngang nè, níu mạnh song cửa nhấc mình lên, cố lên, cố lên em, phải qua đó thôi”.
Tầm vói qua và bị hụt chân, thấy mình bị ngập gần hết thân người trong dòng nước lạnh đen ngòm, chới với chụp được nùi dây điện hay gì đó và ghì chặt lại để khỏi bị trôi rồi rướn lên. Cuối cùng chị cũng thả được người xuống vị trí mới cao hơn ở bên phải cửa sổ sát vách tường, đầu gần chạm trần nhà. Nơi này nếu đứng thẳng lên thì có thể tháo được vài viên ngói để ngoi lên tiếp nếu vẫn còn bị dòng nước lũ truy đuổi.
Tầm bật khóc, “Không có anh em biết làm sao”.
“Không sao cả, xong rồi, em giỏi lắm. Bây giờ mình tháo mấy viên ngói này ra luôn đi em, rủi nước lên nữa thì mình có thể leo hẳn lên mái, may ra có ai nhìn thấy mà tiếp cứu. Gần sáng rồi”.
“Hết đêm nhanh vậy”.
“Ừ, có mỏi thì dựa vô anh chút”.
“Hai người đứng chụm lại ở đây có khi nào bị sập không anh”.
“Ăn thua gì. Mình sắp được cứu rồi. Em có nghe tiếng gì không?”.
“Tiếng máy nổ. Ôi, đúng rồi, có tiếng người nữa kìa”, Tầm nhắm mắt lắng nghe rồi cố rướn người lên để nhìn ra xa.
Đó là lúc chiếc ghe máy của nhóm cứu hộ đang chầm chậm tiến vào, họ phát loa tìm kiếm.
“Leo luôn lên mái đi em, mau ra hiệu cho họ”.
“Sao em lên được?”.
“Được, theo anh, đây, đặt chân vào cây đà này, tay bám vô đây, xong chưa, hai, ba, lên nè”.
Tầm như được một sức mạnh vô hình đẩy mạnh, chị ngoi đầu ra khỏi mái ngói và bò hẳn lên trên, há miệng hít hơi thở dốc. Xa xa giữa mênh mông nước trong ánh sáng nhá nhem có bóng một chiếc ghe đang từ từ tiến lại gần.
“Cứu tôi với, có người, có người ở đây…”, Tầm lạc giọng, bủn rủn, mắt hoa lên, chị đã cố gắng lắm rồi.
***
Người đầu tiên mà Tầm nhìn thấy khi tỉnh lại trong bệnh viện là Lan với vẻ mặt hốc hác lo âu. Chị định thần lại mất mươi giây.
“Má, má thấy trong người sao, trời ơi may mắn quá…”.
“Má có bị gì đâu mà nằm đây vậy. Hai mẹ con sao rồi?”.
“Ổn rồi má. Con ân hận quá, biết vậy hôm qua cứ ôm con ở lại với má… Má bị rối loạn tiền đình nặng đến nỗi ngất xỉu luôn, may mà ghe cứu hộ tới kịp”.
“Ngất xỉu?”.
“Dạ, ngất xỉu ngay trên mái nhà luôn. Hên sao má lên được tới đó chớ không ghe người ta đi ngang không thấy ai là bỏ qua luôn rồi”.
“Nhờ ba con…”, Tầm chợt nín bặt. Sóng lưng chị lạnh toát, cả cơ thể đông cứng. Từng mảnh ký ức rời rã đang dần phục hồi trong khó khăn.
“Hai mẹ con con về nhà dì Tư ngay tối qua, con gởi cháu để quay lại tìm má mà họ không cho vô trong khu vực nhà mình nữa, bắt dừng lại ở phía ngoài lộ hết. Cũng không xuồng ghe nào đi được vì nước chảy xiết quá. Mãi đến sáng sớm nay thì ghe cứu hộ mới đưa má ra. Nhìn má lúc đó thấy sợ lắm, tái nhợt mà kiểu nửa mê nửa tỉnh. Hên là bác sĩ khám nói không sao, chỉ cần nghỉ ngơi thôi”.
“Giờ là chiều rồi sao?”.
“Dạ, má mê man cả ngày luôn đó. À nước rút rồi má, nhanh còn hơn lúc lên”.
“Về nhà mình thôi con”.
***
Hai mẹ con ngậm ngùi đứng trước ngôi nhà hoang tàn sau cơn lũ, không còn nhận ra thứ gì nữa. Thế giới bị chìm dưới ba mét nước lũ cuồng nộ suốt hai ngày hai đêm giờ lộ ra đầy tang thương. Đất dưới chân như bị vò nát, bùn non đặc quánh từ các ngả đường trây lên tường lên mái, lên cây cối vườn tược. Mọi thứ đều bị xô lệch trôi nổi chìm khuất và biến dạng trong bùn đất. Rác rến ngập ngụa dày đặc. Chỉ những ánh mắt thất thần ngao ngán trên khuôn mặt mọi người là giống nhau.
“Dọn không nổi thôi thuê người phụ đi má”, Lan rầu rĩ.
Tầm ậm ừ, chị đi thật nhanh vô nhà, dùng hết sức để kéo cánh cửa chính đang bị bít kín bởi đất cát bùn lầy. Vẻ nôn nóng và lo âu hiện rõ. Lan đi sau nhìn mẹ ngạc nhiên.
“Má tìm gì hay sao mà lật đật vậy?”.
Trong nhà ngổn ngang vật dụng gãy đổ chồng chất, bàn ghế giường tủ tấp vô các góc choáng lối. Tầm vẹt hết các thứ giờ đã thành xà bần để xăm xăm đi tới nơi đó, rưng rưng đứng sững nhìn chỗ đã nâng đỡ cứu mạng trong đêm đen kinh hoàng. Mình đã ở trên đó được thật sao.
Lan nhìn theo tay chỉ của mẹ, một lỗ hổng đủ chui lọt người từ mái ngói rọi thẳng xuống ngay phía trên vị trí đó sáng bừng.
Chỉ là một tấm đan bê tông được đúc chắc chắn gắn liền vào vách ở trên cao nhất của ngôi nhà làm trang thờ. Giữa bao nhiêu thứ bị trôi nổi gãy đổ mà bức di ảnh của cha mình vẫn còn nguyên trên tường không xê xích, vẻ như còn rỡ ràng hơn.
“Má, ba vẫn còn kìa”, Lan reo lên.
Tầm im lặng, chị nhớ rất rõ cái sức mạnh vô hình đã giúp mình tìm lại được sự sống ở giây phút quyết định với một cú rướn lên cao cuối cùng.
Nhà thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư, từ Huế, gửi cho chúng tôi những bài thơ sau đây. Chị là một nhà thơ hiếm hoi ngay từ khi xuất hiện đã xác định cho mình lối đi riêng. Tinh thần tự do của chị, tính độc đáo (originality), một phần nào chất nữ quyền, ý thức về sinh thái, làm nên các giá trị chính yếu. Nhưng chị cũng là nhà thơ của tình yêu, của trữ tình cá nhân mạnh mẽ.
Cô gái không hề để ý gì về thời gian yên bình của mái tóc
Cho đến khi cô nhận ra
Cần phải cắt bỏ những chiếc vây cá mềm mại đang bơi trong cái chậu bằng thủy tinh
Bởi chúng quá hẹp và mắc vướng
Cô bắt đầu tập ăn tóc
Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng
Cô ăn mỗi ngày
Giấc mơ của một bài thơ trữ tình là tính âm nhạc: nhịp điệu làm dừng lại dòng chảy, cho phép chúng ta sống lâu hơn một khoảnh khắc. Nhịp điệu trong thơ chị là ký ức. Các hình ảnh đôi khi cũng có tính nguyên thủy, tiền ngôn ngữ. Từ khi xuất hiện cho đến nay, Nguyễn Hoàng Anh Thư trung thành với lối viết của mình, với sự mô tả táo bạo, cảm giác hài hước và châm biếm.
Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào
Một thế giới đang chuyển động
Mà không hề hấn gì
Em nắm mây trong tay
Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức
Từng câu chuyện không lời
Em ôm mây nóng bỏng
Nguyễn Hoàng Anh Thư được giải thưởng Văn Việt về thơ vào năm 2016, điều này giúp xác định vị trí của chị trong văn học hôm nay. Chị là một trong số ít người viết thường xuyên tìm kiếm và làm mới chính mình. Thơ đề cập đến môi trường thiên nhiên như một không gian sống, như căn nhà tâm hồn. Đó là sự mô tả có phần lãng mạn, nhưng nhiều hơn là từ góc nhìn xã hội, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh. Đó là một chủ nghĩa hiện thực sầu muộn, tinh tế, sự tiết chế xúc cảm, với những cực đoan về tâm lý.
Mọi bi kịch đều phải dàn dựng
Mỗi cuộc ra đi
Phải rắc thêm vài nhúm tro tàn
Những bàn tay rờ rẫm trên con đường thẫm sâu
Những ngày buồn lạnh tràn xương trắng
Giọng nói ngày trầm đục
Chia lìa
Chia lìa
Từng lời nguyện ước mịt mù xanh
Th ơ tình ấy ũng là một tiếng nói nhân ái, sự bảo toàn các giá trị của con người.Tôi muốn thấy trong thơ chị nhiều yếu tố hài hước hơn nữa. Thơ chị tạo ra những giai thoại, kể những câu chuyện từ góc cạnh khác nhau của đời sống, tách bạch sự thật và giả dối, giữa khai mở và mê muội.
Thơ hiện nay không nhất thiết phải dày đặc và tối tăm như bạn có thể tưởng. Một bài thơ phải mang lại cảm xúc, hoặc gợi lên những suy nghĩ mới ở độc giả, lý tưởng nhất là cả hai, nhưng nếu không thì một trong hai thứ ấy. Có những cảm xúc vui tươi và những cảm xúc sầu muộn. Thơ hôm nay ngày càng có khuynh hướng gây phiền phức cho người đọc, không để họ yên lành, chúng chứa đầy những câu hỏi và thách thức, những mơ ước tuyệt đẹp và phản ứng giận dữ, sự thất vọng chua chát. Thơ bây giờ làm chúng ta suy nghĩ.
T. S. Elliot từng nói rằng: Thơ không phải là sự trào dâng cảm xúc nhưng là sự vượt thoát khỏi nó; thơ không phải là sự biểu hiện của nhân cách, nó là sự thoát khỏi nhân cách.
Thời nào thì con người cũng đi tìm trong thơ những điều sâu kín như hy vọng và thất vọng, chán chường và đau đớn, sự thật và tất nhiên, tình yêu. Chúng ta đang sống qua một thời kỳ khó khăn: dịch bệnh, tàn phá môi trường, độc tài và tham nhũng, nô lệ hoá con người. Tôi nghĩ, chúng ta cần nhiều hơn những tiếng nói như của Nguyễn Hoàng Anh Thư, dịu dàng và dũng cảm.
Trân trọng giới thiệu.
Nguyễn Đức Tùng
1- Ăn tóc
Cô gái không hề để ý gì về thời gian yên bình của mái tóc
Cho đến khi cô nhận ra
Cần phải cắt bỏ những chiếc vây cá mềm mại đang bơi trong cái chậu bằng thủy tinh
Bởi chúng quá hẹp và mắc vướng
Cô bắt đầu tập ăn tóc
Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng
Cô ăn mỗi ngày
Chúng có mùi vị của nắng cháy và rụm rụm của từng sợi buồn xào giòn
Chiều chiều cô lại tựa vào chiếc ghế cũ thong thả ngồi ăn nỗi buồn từ ngọn tóc chết
Chúng có mùi vị của tế bào quy tắc đóng hộp
Chúng có mùi vị của thời gian hơi chua
Thời gian đã hết hạn dùng từ bốn mươi năm trước
Khi cô đã bắt đầu biết ăn những sợi tóc máu từ trong bào thai mà mẹ cô chưa kịp cạo đi
Cô chẳng nhớ được gì
Nhưng cô nhớ rằng cô chẳng hàm ơn chúng điều gì
Bởi chúng có mùi vị mằn mặn, tanh tanh cứ mắc vào cuốn họng
Và đau đến buồn nôn
Từng cơn buồn nôn khó chịu
Từng ngọn tóc đã rối và mắc vướng
Vào trong thớ thịt và đôi mắt mờ dần của mẹ
Cô vẫn đang ăn
Những sợi tóc có mùi vị hạnh phúc và bạc bẽo
Ăn mãi cho đến khi tóc sẽ không còn sợi nào bạc hơn
Cô vẫn đang ăn
Cho đến khi cô biến thành đất để được ăn tóc
mãi mãi
2 – Người thiếu phụ trang điểm
Mười hai giờ mười tám phút
Người thiếu phụ đang ngồi khỏa trắng giấc mơ
Trong chiếc gương có hình oval cũ kỹ
Cô đang kéo đôi chân mày chạm về phía mặt trời
Có thể là dài như một tiếng thở
Cô dùng lớp phấn hồng quét ngược
Đôi mắt xanh màu thảo nguyên
Chiếc gương bây giờ là hình trái đất
Đôi mắt màu đại dương
Từng lớp phấn phủ như cơn lốc về
Trăng vỡ mềm môi
Sau lớp thủy tinh
Lỗ chỗ thịt da rát bỏng
Cô mở hộp tìm mấy câu đồng dao
Tám lẻ dôi
Đôi lên chín
Chín lẻ một
Mốt lên mười
Cô chuyền chuyền đôi tay
Chuyền một
Chuyền hai
Chuyền ba
Trăng vỡ
Cô chuyền trên tay
Đôi mắt xanh màu đại dương
Đôi mắt xanh màu thảo nguyên
Sau lớp thủy tinh
Lỗ chỗ thịt da rát bỏng
3- Một thế giới lệch
Đặt hai con mắt chéo bên dưới sống mũi
Mọi thứ bắt đầu chéo
Một thế giới chéo
Ta nhìn nhau lệch về một bên
Anh thấy tấm lưng em khuyết trũng như ngọn núi
Chúng ta nhìn lệch qua tuổi già
Con đường lệch qua để tránh bão
Mọi thứ đang đeo bám trong ngôi nhà lệch nghiêng
Ngọn tháp nghiêng thì đứng thẳng lại
Chúng ta nhìn lệch thời gian, xáo tung mọi thứ trong tuần
Thứ hai ngủ vùi, chủ nhật bắt đầu một tuần mới
Những bức tượng hoá lỏng chảy tràn con đường
Chúng ta thản nhiên
Ngẩng mặt hít thở khí trời, mở miệng hát và nghĩ đến bất cứ điều gì mình thích
Chúng ta nhìn lệch từng
Khớp xương đang chuyển động rất khó khăn
Nhìn cho đến khi chúng bất động
Treo ngược thế giới lên
Chúng ta sẽ nhìn thấy được gương mặt nhăn nhó như đang cười
Để yêu nhau
4- Hoang phí
Một thau nước xà bông
Với một cọng lá đu đủ
Cô bé thổi cả ngàn giấc mơ
Vỡ
Một bờ biển
Với hai bàn tay
Cô bé nhặt rất nhiều vỏ sò
Ngàn hải lý nằm trong chiếc túi
Một con phố, một ngõ hẻm
Vài tiếng gõ lóc cóc, cơn mưa đen sắp ập đến
Giờ cô chẳng còn một giấc mơ nào trong túi
Để mua lấy ngày xưa mang về
5- Mây
Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào
Một thế giới đang chuyển động
Mà không hề hấn gì
Em nắm mây trong tay
Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức
Từng câu chuyện không lời
Em ôm mây nóng bỏng
Chạy về phía mặt trời
Em nắm mây trong tay đắp ngày muốt mềm mi mắt
Đó là điều kỳ diệu nhẹ nhàng để có thể quên đi thế giới
Nơi mà chúng ta đang đứng đây
Trên sự trì nặng của đôi chân và đôi mắt mệt mỏi
Trên rất nhiều ô cửa giả
Có thể đó là một bí mật mà chúng ta có thể mang theo
Cùng với hơi thở
Của cuộc sống vốn dĩ im lặng
Có thể đó là chiếc áo em khoác cho những lúc bất chợt buồn
Em nắm mây
Chờ sự im lặng nở bung
Trôi
Trôi
Chẳng có con đường nào để biết được hết điều bất tận
Em chờ từng ngọn mây ngã rạp xuống
Trong hơi thở
Để nỗi nhớ bất động cùng đám rong rêu
Bên dưới ô cửa nhỏ
6- Sự chờ đợi
Điều hy vọng phải chăng bay lên chứ
Như màu xanh của tán cây măng cụt kia
Từng chiếc lá vẫn còn níu lại sau cơn bão
Cứ xanh lên mỗi khi mặt trời hiếm hoi rơi xuống giữa mùa đông
Xanh như núi Ngự Bình đầy những nấm mồ giữa hương khói màu xám xịt.
Vậy mà dưới chân
Mỗi buổi sáng
Từng móng nhọn của những chú chó
Riết chặt như thể
Tôi sẽ đi ra khỏi nhà mà quên nói lời tạm biệt
Những đôi mắt trong veo
Một ngày của tôi
Là 3 ngày của chúng
Tôi đi mất 4 giờ, chúng phải chờ đến nửa ngày.
Tại sao khi anh tạm biệt
Anh đã không hiểu 1 giờ
Là cả thế kỷ của em.
7- Thư gửi anh
Sự lẫn tránh của ngôn ngữ
Làm cho bài thơ hụt hẫng
Nỗi sợ sệt mùa đông
Cứng trên từng khớp tay
Này anh, câu chuyện mà em đã kể cho anh nghe hôm qua
Đó là một ngày thần thoại
Đám mây trắng và hàng cây xanh
Cứ thầm thì kể mãi
Câu chuyện của chúng ta đang trượt trên một đường link
Anh tin không
Nó nhỏ như sợi tóc của em dưới ánh nắng ban mai buổi sáng
Vờn trên những nhánh mây
Đang là mùa hè
Giá như nỗi nhớ anh
Có thể lột xác như đám ve
Em sẽ để lại nỗi buồn trên nhánh cây
Với màu hoa phượng đỏ cháy
Giờ này mẹ đang nấu cơm
Một nơi nào đó đang có chiến tranh
Thời gian đang sôi sùng sục
Một nơi nào đó có tiếng kêu gào trong đám cháy
Có quá nhiều thứ đang bốc hơi
Giờ này, chúng ta đang làm gì
Im lìm trong nhà bếp
Mọi thứ đang dần bốc hơi
8- Trong căn bếp
Cô cắt vây, đánh vảy, cắt nhỏ bài thơ, rồi rán lên thơm lừng
Bỏ vào một cái đĩa
Cho bữa sáng lũ chó
Chúng lắc đầu bảo: thiệt vô vị
Lần tới, cô sẽ để nguyên con, thêm một chút gia vị, rồi rán lên
9- Đôi khi
Đôi khi,
ngỡ là hơi thở bị nhốt trong căn phòng kín
Chúng chảy thành một đống lan giữa sàn nhà
Cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm
Chúng ta chẳng đủ can đảm ngước lên để thở sâu hơn
Chúng ta không dám ngợp chìm giữa màu hoàng hôn đang khuyết rạn
Để thấy chúng đang tràn qua trái tim pha lê vỡ
Muôn vàn mảnh thời gian trong vắt
Đi xuyên qua ngực chúng ta
Đôi khi, ngỡ là lời nói đang bị đóng băng trong tủ đá thật lạnh
Những ngăn tủ hình vuông, hình chữ nhật, nhà mồ, nghĩa trang, hay những chiếc quan tài, chúng ta từng hình dung
Những lời nói bị đập ra, bị cắt đi, rồi tan ra trong những chiếc ly làm bằng trái tim pha lê ấy
Chúng ta uống những lời nói có vị băng tan giữa mùa hè thẫm máu
Với nỗi đau thương ngọt lịm
Đôi khi, ngỡ là đôi mắt của chúng ta đang bị dính chặt vào bàn tay
Mũi
Miệng
Hơi thở
Và từng lời
Từng lời nói
Chúng đang chảy thành một đống giữa sàn nhà
Cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm
10- Lá không màu
Mọi bi kịch đều phải dàn dựng
Mỗi cuộc ra đi
Phải rắc thêm vài nhúm tro tàn
Những bàn tay rờ rẫm trên con đường thẫm sâu
Những ngày buồn lạnh tràn xương trắng
Giọng nói ngày trầm đục
Chia lìa
Chia lìa
Từng lời nguyện ước mịt mù xanh
Thấm trong bức tường ẩm mốc
Mọi bi kịch đều phải ra đi
Đổ lỗi vài trò ảo thuật
Hơi ấm không còn nằm yên trong chiếc áo
Bàn tay không còn định hình trên con đường thẫm sâu
Cặp voi đá thành Đồ Bàn hiện còn lưu giữ tại Khu di tích Lịch sử Quốc gia Thành Hoàng Đế, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trước đây – nay là tỉnh Gia Lai – là một trong những hiện vật đặc biệt của điêu khắc Champa. Hai tượng có niên đại nửa sau thế kỷ XII, được tạc bằng đá sa thạch, kích thước lớn, đặt trong không gian thành cũ. Theo các tư liệu công bố, tượng voi cái cao 176 cm, dài 220 cm, rộng 85 cm; tượng voi đực cao 200 cm, dài 240 cm, rộng 100 cm. Cặp tượng được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 30/1/2023, trong đợt công nhận bảo vật quốc gia lần thứ 11.
Nhưng với tôi, hai con voi ấy không chỉ là hiện vật để đo đạc, ghi chép hay xếp hạng. Tôi sinh ra và lớn lên ở An Nhơn. Những dấu tích Chăm trong vùng đất này đã đi vào ký ức tôi từ rất sớm: viên gạch cũ, nền tháp, mảnh đá, bờ thành, lớp rêu phủ trên những thứ tưởng như im lặng. Tuổi thơ tôi không gọi chúng là di sản. Tôi chỉ biết đó là những gì còn sót lại của một thời xa, nằm trong cỏ, trong đất, trong nắng, trong bước chân người đi qua.
Cặp voi đá Đồ Bàn cũng đến với tôi từ cái nhìn như thế. Trước khi biết chúng thuộc niên đại nào, cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, tôi đã nhớ dáng đứng của chúng. Một dáng đứng nặng, lặng, như có một chuyển động đã bị giữ lại trong đá. Có những khối đá chỉ nằm trong không gian. Có những khối đá được đặt lên bệ. Nhưng cũng có những khối đá làm ta có cảm giác chúng đã mọc lên từ đất, và nếu thiếu chúng, nơi ấy sẽ trống đi một phần ký ức. Cặp voi đá Đồ Bàn thuộc về loại đó.
Một ký ức đứng trước cửa thành
Thành Đồ Bàn từng là kinh đô của vương quốc Champa trong giai đoạn Vijaya. Về sau, trên nền dấu tích cũ, Nguyễn Nhạc xây dựng kinh đô đầu tiên của vương triều Tây Sơn và đặt tên là Thành Hoàng Đế. Vì vậy, nơi cặp voi đá hiện diện không phải là một không gian trống, mà là một địa tầng văn hóa, nơi nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau: Champa, Tây Sơn, triều Nguyễn và đời sống cư dân hôm nay. Các nguồn giới thiệu di tích cũng ghi nhận Thành Hoàng Đế được xây dựng trên cơ sở kinh thành Đồ Bàn của Champa.
Hai con voi không đứng trong bảo tàng. Chúng đứng ngoài trời, trong ánh sáng, trong mưa nắng, trong độ ẩm của đất, trong tiếng người đến rồi đi. Chính không gian ấy làm nên một phần ý nghĩa của chúng. Nếu tách chúng khỏi cửa thành, khỏi nền đất An Nhơn, khỏi những lớp phế tích quanh đó, ta sẽ mất đi cảm giác về một cặp tượng đã thuộc về nơi chốn. Điêu khắc, nhất là tượng tròn ngoài trời, không chỉ là hình khối riêng lẻ. Nó còn là quan hệ giữa khối với đất, với lối đi, với khoảng nhìn và ký ức của cộng đồng.
Một điều làm tôi chú ý ở cặp voi đá Đồ Bàn là cảm giác chúng không được đặt lên cao để tách khỏi mặt đất. Chúng đứng thấp, gần với nền, như thể khối đá đã mọc lên từ chính nơi này. Cảm giác ấy rất quan trọng. Nó làm cho cặp tượng không xa cách, không trở thành những vật thờ bị nâng khỏi đời sống, mà hiện diện như hai sinh thể lớn đang giữ lấy ngưỡng cửa thành.
Nhìn kỹ phần chân tượng và nền đặt tượng, có thể thấy thời gian đã tham gia vào diện mạo hiện nay của hiện vật. Đất, mưa nắng, độ ẩm, lớp rêu, sự bồi lấp hay lún nền đều để lại dấu vết trên cách tượng chạm vào mặt đất. Không dễ kết luận đâu là chủ ý ban đầu của nghệ nhân, đâu là hệ quả của thời gian. Nhưng chính sự nhập nhòe ấy lại làm cho cặp tượng có thêm chiều sâu: thời gian, trong một nghĩa nào đó, đã trở thành một người cùng tham gia vào hình khối.
Tôi muốn nhìn cặp tượng từ kinh nghiệm trực tiếp của người làm điêu khắc: nhìn khối, cảm khối, cảm trọng tâm và tự hỏi vì sao hai con voi ấy vẫn còn sức đứng đến hôm nay. Với điêu khắc, đứng không chỉ là không đổ. Một tượng có thể đứng đúng kỹ thuật nhưng vẫn vô cảm. Ngược lại, có những khối không cần phô diễn nhiều vẫn làm người xem tin rằng nó phải ở đó, như thể chính nơi chốn đã giữ nó lại. Cặp voi đá Đồ Bàn có sức đứng ấy.
Voi cái: khối đá được nghi lễ hóa
Tượng voi cái gây ấn tượng trước hết ở vẻ trang nghiêm. Phần đầu đội vương miện nhiều tầng, hai bên tai có các dải trang trí rủ xuống. Cổ và ngực phủ những chuỗi hạt, hoa văn nổi, trong đó có các mô-típ trang trí quen thuộc của nghệ thuật Champa. Một số mô tả hiện vật cũng ghi nhận các chi tiết trang sức, yếm cổ, mô-típ quả trám và nửa quả trám trên thân voi cái.
Nhìn gần, ta thấy các chi tiết ấy không đơn thuần làm đẹp cho tượng. Chúng làm cho thân voi được nâng lên khỏi đời sống tự nhiên, trở thành một linh vật. Nhưng điều đáng chú ý hơn là trang trí không làm vỡ khối. Đây là chỗ người làm điêu khắc rất dễ nhận ra. Khi một khối lớn bị thêm quá nhiều chi tiết, nó dễ bị vụn, mất lực, mất sự liền mạch. Nhưng ở tượng voi cái, các vòng hạt, dải trang sức, hoa văn không nằm ngoài thân đá như phụ kiện gắn thêm. Chúng hòa vào bề mặt, đi theo nhịp của khối, làm cho khối vừa nặng vừa có nhịp thở.
Tượng voi cái vẫn là một thân thể lớn. Nó không mềm yếu, không trang sức theo nghĩa làm dáng. Khối thân đầy, chân vững, đầu đội vương miện nhưng không mất sức nặng. Vẻ đẹp của nó không phải vẻ đẹp mảnh mai, mà là vẻ đẹp của một sinh thể được nghi lễ hóa. Trong cấu trúc cặp đôi, voi cái không phải phần phụ của voi đực. Nó có thế đứng riêng, vẻ trang nghiêm riêng, sự hiện diện riêng.
Điều này cho thấy nghệ nhân Champa không chỉ khéo trong trang trí. Họ hiểu khối. Họ biết giữ cái toàn thể trước khi đi vào chi tiết. Với điêu khắc, đây là điều rất quan trọng. Chi tiết có thể hấp dẫn mắt nhìn, nhưng chính khối mới giữ linh hồn của tượng. Ở tượng voi cái Đồ Bàn, trang trí làm giàu cho khối, chứ không thay thế khối.
Voi đực: cái động bị giữ trong đá
Nếu tượng voi cái cho ta cảm giác về một khối được trang sức và nghi lễ hóa, thì tượng voi đực lại hiện ra bằng sức mạnh trực tiếp hơn. Đầu lớn, trán nở, tai xòe, thân căng, bụng đầy, bốn chân đặt chắc. Vòi voi buông xuống rồi uốn cong vào trong, gợi cảm giác như đang nắm hoặc nhổ một thân cây. Nhiều mô tả hiện vật cũng nhắc đến chi tiết vòi voi như đang quấn vào cọng sen hoặc nhổ cây, tạo cảm giác tượng ở trong tư thế động.
Tượng voi đực không bước đi thật. Nó cũng không hành động theo cách tả thực. Nhưng toàn thân nó chứa một lực đi. Cái động bị giữ lại trong trạng thái tĩnh. Đó là điều rất khó trong điêu khắc. Làm cho một khối đá đứng yên mà vẫn có sức chuyển động bên trong không phải chuyện của kỹ thuật đơn thuần. Nó đòi hỏi nghệ nhân phải hiểu trục thân, hiểu trọng tâm, hiểu độ nén của bụng, hướng của vòi, thế đặt của chân và sự căng của toàn khối.
Nghệ nhân Champa không tả voi theo lối giải phẫu chi li. Không có sự chăm chút quá mức vào nếp da, cơ bắp hay chuyển động sinh học. Nhưng họ nắm được thần thái căn bản của voi: nặng, chậm, mạnh, bền, có sức đẩy về phía trước. Họ không sao chép bề mặt của voi. Họ rút lấy cái cốt của voi rồi đặt vào đá.
Phần ngà của voi đực hiện đã bị gãy. Ở góc độ bảo tồn, đó là một tổn thương. Nhưng ở cảm nhận thị giác, vết gãy ấy cũng làm cho pho tượng có thêm chiều sâu thời gian. Một pho tượng ngoài trời không thể tránh khỏi mưa nắng, rêu mốc, sứt vỡ, phong hóa. Những dấu vết ấy vừa là nguy cơ, vừa là phần lịch sử của hiện vật. Người làm điêu khắc khi đứng trước một khối đá cũ thường không chỉ nhìn hình dáng ban đầu, mà còn nhìn cả thời gian đã đi qua bề mặt nó.
Hiện nay, tượng voi đực có dấu hiệu nghiêng khá rõ về phía trái khi nhìn chính diện. Sự nghiêng này làm thay đổi cảm giác cân bằng vốn có của khối tượng, khiến thế đứng uy nghi và lực trấn giữ ở góc nhìn chính diện bị suy giảm. Với một tượng tròn kích thước lớn, dáng đứng không chỉ là vấn đề kết cấu; nó là một phần giá trị tạo hình. Khi dáng đứng lệch đi, cách pho tượng hiện diện trước người xem cũng thay đổi.
Theo quan sát thực địa, hiện tượng nghiêng nhiều khả năng liên quan đến sự lún của nền đất sau thời gian dài chịu tác động của mưa nắng. Một tượng đá kích thước lớn không chỉ tồn tại bằng chất liệu đá; nó còn phụ thuộc vào nền đặt tượng, bệ đỡ, khả năng thoát nước và sự ổn định của đất. Chính ở đây, bài học điêu khắc gặp bài học bảo tồn: khối không thể tách khỏi nơi nó đứng.
Một cặp đối thoại
Cặp voi đá Đồ Bàn là một cấu trúc đực – cái. Hai con voi đứng đối nhau qua cửa thành, trước hết gợi chức năng canh giữ, trấn giữ. Nhưng nếu nhìn lâu hơn, ta thấy đó không chỉ là một sự đối xứng. Một bên thiên về sức mạnh trực tiếp của khối. Một bên thiên về vẻ trang nghiêm của trang sức. Một bên gợi lực nén. Một bên gợi sự nghi lễ hóa. Một bên dữ dội hơn. Một bên trầm tĩnh hơn. Chính sự khác biệt ấy làm cho cặp tượng sống.
Trong văn hóa nông nghiệp và trong nhiều hệ tín ngưỡng cổ ở Đông Nam Á, cấu trúc đực – cái thường gợi đến sự sinh sôi, tiếp nối, bền vững. Với cặp voi đá Đồ Bàn, có thể mở ra một cách đọc như vậy, nhưng không cần đẩy nó thành một kết luận đóng kín. Điều chắc hơn là: hai tượng được đặt ở một vị trí có ý nghĩa, nơi cửa thành, nơi người đi qua bước từ ngoài vào trong, từ không gian thường nhật vào một không gian quyền lực và ký ức.
Ở cặp tượng này, giới tính không bị che giấu, nhưng cũng không bị đẩy thành sự phô bày. Những dấu hiệu đực – cái được thể hiện vừa đủ, lặng lẽ trong khối đá. Chính điều đó khiến cặp voi không chỉ là hai linh vật canh giữ cửa thành, mà còn gợi một hình ảnh về sự sống, về sinh sôi và tiếp nối. Tính hiện thực ở đây không nhằm nhấn vào xác thân, mà để khẳng định một nguyên lý sống căn bản: sự tồn tại luôn đi cùng khả năng tiếp nối.
Khoảng trống giữa hai tượng vì thế không đơn thuần là lối đi. Đó là một khoảng ngưỡng. Người bước qua đó, dù có ý thức hay không, cũng đi qua một trường nhìn được tạo bởi hai khối đá. Điêu khắc ở đây không chỉ nằm trong từng tượng riêng lẻ. Nó nằm trong quan hệ giữa hai tượng, trong khoảng cách giữa chúng, trong vị trí của chúng trước cửa thành.
Có lẽ vì vậy mà cặp voi đá Đồ Bàn không chỉ gây ấn tượng bằng kích thước. Chúng gây ấn tượng bằng cách đứng. Chúng không chỉ là hai linh vật được đặt cạnh nhau. Chúng là một cặp đối thoại: giữa đực và cái, giữa sức nặng và trang sức, giữa bảo vệ và sinh sôi, giữa quyền lực và ký ức.
Dáng đứng của ký ức
Trong điêu khắc, đứng không chỉ là vấn đề cơ học. Một khối tượng muốn đứng vững phải có trọng tâm, bệ đỡ, sự phân bố khối lượng hợp lý. Nhưng để đứng lâu trong cảm nhận của người xem, nó cần một điều khác: lý do tinh thần để có mặt.
Sức đứng của cặp voi Đồ Bàn đến từ nhiều yếu tố: khối thân lớn, chân chắc, bệ đá, trọng tâm thấp, độ nén của toàn khối, sự tiết chế chi tiết và vị trí trước cửa thành. Nhưng nếu chỉ nói như vậy vẫn chưa đủ. Sức đứng ấy còn đến từ cảm giác chúng đã thuộc về nơi chốn. Chúng không giống hai vật thể bị đặt vào không gian. Chúng giống hai khối đã bám rễ vào đất.
Người làm điêu khắc hiểu rất rõ chuyện này. Trong xưởng, có khi chỉ xoay một khối gỗ đi một chút, nâng một chân tượng lên một chút, hạ trọng tâm xuống một chút, toàn bộ cảm giác tác phẩm đã thay đổi. Một khối có thể đúng về kết cấu nhưng thiếu sức sống. Một dáng có thể vững nhưng không có hồn. Cái khó không phải chỉ làm cho tượng không ngã, mà làm cho nó có lý do để đứng.
Tôi đã nhiều lần đặt tay lên đá ở Đồ Bàn. Không phải để kiểm tra chất liệu theo nghĩa kỹ thuật, mà để cảm. Người làm điêu khắc thường nghe vật liệu bằng tay. Gỗ có tiếng của thớ. Sắt có tiếng của nhiệt và va đập. Đất có tiếng của mềm và ẩm. Đá có tiếng im lặng sâu hơn. Đá của hai con voi Đồ Bàn không lạnh theo nghĩa một vật đã chết. Nó giữ hơi đất, hơi nắng, hơi mưa, và cả dấu tay của một thời đã khuất.
Từ cảm giác ấy, tôi nghĩ “ký ức Champa” trong cặp tượng không nằm ở một ý niệm xa xôi. Nó nằm ngay trong khối đá, trong dáng đứng, trong chỗ vòi cong, chân đặt, bụng nén, tai xòe, trang sức phủ lên thân voi cái, vết gãy trên voi đực, lớp rêu trên bề mặt, và cả độ nghiêng đang xuất hiện theo thời gian. Ký ức không phải điều chỉ được kể lại bằng văn bản. Có khi ký ức đứng trước mặt ta bằng một khối đá.
Đứng trước cặp voi ấy, tôi nghĩ đến một bài học giản dị của điêu khắc: không phải hình khối nào cũng cần kể chuyện bằng nhiều biểu tượng. Có những khối chỉ cần đứng đúng chỗ, đủ nặng, đủ im lặng, đủ bền bỉ, là đã có thể truyền đi một sức nặng tinh thần. Cặp voi Đồ Bàn thuộc về loại hình khối ấy. Chúng không nói bằng lời, cũng không cần một huyền thoại kèm theo để trở nên sâu sắc. Chúng nói bằng chính sự có mặt của mình.
Bảo tồn một dáng đứng
Việc cặp voi đá Đồ Bàn được công nhận là Bảo vật quốc gia là một sự ghi nhận cần thiết. Nhưng sau danh hiệu, điều quan trọng hơn là đời sống vật chất hằng ngày của hiện vật. Là tượng ngoài trời, cặp voi luôn chịu tác động trực tiếp của thời tiết, độ ẩm, rêu mốc và biến động nền đất.
Hiện trạng tượng voi đực bị nghiêng là điều cần được quan tâm, không chỉ ở phương diện kỹ thuật mà cả ở phương diện thẩm mỹ. Với một tượng tròn kích thước lớn, dáng đứng không đơn thuần là vấn đề kết cấu; nó là một phần giá trị tạo hình. Khi trục đứng thay đổi, cảm giác cân bằng, lực trấn giữ và thần thái của pho tượng cũng đổi khác.
Bề mặt tượng cũng đặt ra một vấn đề bảo tồn khác. Những mảng rêu, vệt ẩm và sắc độ loang trên thân đá không chỉ là dấu vết của thời gian, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cách người xem cảm nhận hình khối. Chúng có thể làm đứt quãng sự liền mạch của bề mặt, che khuất hoa văn và làm thay đổi cách ánh sáng đọc trên thân tượng. Với điêu khắc, bề mặt không chỉ là lớp ngoài của vật liệu; đó là nơi hình khối hiện ra và thần thái của pho tượng được tiếp nhận.
Vì vậy, bảo tồn cặp voi đá Đồ Bàn không nên chỉ dừng ở việc xử lý vật liệu theo nghĩa kỹ thuật. Cần quan tâm đồng thời đến nền đặt tượng, bệ đỡ, khả năng thoát nước và tình trạng sinh học trên bề mặt hiện vật. Quan sát định kỳ, đo đạc độ nghiêng, theo dõi mức độ lún và diễn biến phong hóa là những việc cần thiết.
Với cặp voi đá Đồ Bàn, giữ gìn hiện vật cũng là giữ gìn dáng đứng của nó. Bởi dáng đứng ấy không chỉ giúp pho tượng ổn định trong không gian, mà còn giữ lại thần thái và ký ức hình khối của một linh vật Champa.
Kết luận
Cặp voi đá Đồ Bàn là một chứng tích quan trọng của điêu khắc Champa trên đất An Nhơn. Với hình thức tượng tròn kích thước lớn, cấu trúc đực – cái, vị trí ở ngưỡng thành và khả năng hiện diện độc lập trong không gian, cặp tượng cho thấy một trình độ tạo hình giàu nội lực của nghệ nhân Champa.
Tượng voi cái nổi bật bởi khối được trang sức và vẻ trang nghiêm của linh vật. Tượng voi đực nổi bật bởi sức nặng, lực nén và cái động bị giữ lại trong đá. Cả hai không chỉ mô phỏng hình voi, mà làm cho đá mang được thần thái của voi. Đó là điều quan trọng của điêu khắc: không kể hết, không tả hết, nhưng giữ được cái cốt lõi.
Với tôi, cặp voi đá Đồ Bàn còn là một bài học riêng. Bài học ấy không chỉ nằm trong lịch sử mỹ thuật, mà trong kinh nghiệm làm nghề: khối phải có trọng tâm, dáng phải có lý do, vật liệu phải được lắng nghe. Một tác phẩm điêu khắc muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần kỹ thuật, mà cần một sức đứng tinh thần.
Hai con voi Đồ Bàn vẫn ở đó. Một đực, một cái. Một cặp linh vật. Một cặp chứng nhân. Chúng đứng trước thành cũ như đứng trước thời gian. Và trong sự im lặng ấy, chúng tiếp tục nhắc ta về một vương triều đã xa, một nền mỹ thuật còn để lại dấu sâu trong đá, và một vùng đất nơi ký ức Champa vẫn chưa hoàn toàn rời khỏi mặt đất.
Đám đông đã chia thành hai phe và tranh cãi rất quyết liệt. Cuộc tranh cãi có khi đổ máu đã kéo dài suốt 40 năm. Sự tranh cãi ấy bắt đầu từ những thứ tài sản cướp được của những người chạy trốn. Đôi lúc, qua những khe cửa rất nhỏ từ xa, có những ánh mắt nhìn về phía họ mà sợ hãi. “Lạy trời, lạy thánh, cho chúng ôm hết về mà im tiếng ngay đi”. Đó là bọn đĩ điếm và quân ăn cướp. Chúng đang giành giật nhau cái bức tượng màu trắng bạch kia là ông Tổ nghề của chúng. Có ông, chúng mới mang lại cái may mắn làm nghề được. Cuộc tranh cãi không ai nhường nhịn ai, nhưng đã đến lúc phải khánh thành bức tượng cho đúng ngày lễ trọng đại của dân chúng. Vậy nên về sau, chúng đều tôn xưng cụ Tổ là Tổ chung của cả hai nghề.
Dù sao thì điếm và ăn trộm cũng là đồng minh của nhau. Cụ Tổ sẽ bảo kê cho chúng cả. Ngày xưa, cụ đã phò trợ con cháu khai mỏ để đúc tiền, nấu nước biển làm muối đều có lợi chung cho thiên hạ. Cụ đã lập ra rất nhiều nhà thổ để chứa nhan sắc để dành đấy mà chờ lấy lãi từ sự ban ân sủng của bọn vua quan hay thương buôn. Chúng tụ họp lại mua vui thì chúng được lãi nhiều. Còn bọn người nhan sắc ấy vừa có tiền lại vừa nộp thuế làm lợi cho ngân khố chung. Còn những kẻ trộm thì dùng những bàn tay thần kỳ để khoắn sạch ngân khố ấy một cách nhanh và gọn, không để lại dấu vết. Chúng lập ra thật nhiều hội thảo để bán mua để được thật nhiều tiền thuế vào ngân khố chung. Cứ thế việc bán mua diễn ra rất sôi động, đủ các mặt hàng không sót một thứ gì: phân trẻ con, son phấn, nữ trang, vàng bạc, ngoại tệ, đất đai, huân chương huy chương, bằng cấp, và cả những chiếc bằng vàng đến ghế đã gãy. Chúng còn bày ra những phiên chợ bán cả nội tạng người sống. Chung quy là những đồng tiền ấy đã quay từng vòng tròn và rơi dần dần trong túi của bọn chúng cả, như trò xay nghiền bột ở cái cối đá. Như vậy, cụ Tổ đã mang lại nhiều phúc lành cho chúng lắm.
Bức tượng đã hoàn thiện những khâu cuối cùng khi đã tô son môi và sơn xong bộ móng tay màu đỏ choét. Sáng hôm ấy, chúng móc ông cụ vào một cái cẩu rồi đặt trên một chiếc thùng xe tải lớn. “Ông quá nặng, quả là hết sức nặng”, đám đông trầm trồ. Ông được chở đến đặt trên chiếc bệ ở một công viên rất rộng lớn. Ông đứng đấy, nét mặt rất uy nghiêm, theo cái nhìn rất uy nghiêm rất riêng của bọn chúng. Chúng không ngớt tấm tắc khen và vuốt ve:
“ Nhìn cụ Tổ như thần Ác, rất đẹp”
“ Nhìn như đao phủ chứ, thế này mới đạt chuẩn”
“ Như thần Bạch Mi ấy nhỉ”
“ Cụ tập Gym thật là siêng năng, bắp tay kìa, cứ cuồn cuộn”
Cứ đến mồng một, ngày rằm thì bọn gái điếm thì đều lấy khăn tay lau mồ hôi lau qua mặt cụ Tổ một lượt. Rằng như vậy thì khách sẽ lưu luyến lắm. Còn bọn trộm thì thắp hương khấn vái vào những kỳ thi lên cấp. Cứ đến mỗi kỳ, chúng phải thi thố thể hiện đẳng cấp của mình. Chúng được huấn luyện ngón nghề rất công phu: hành thích (ám sát), hành tẩu (bỏ chạy), hành ẩn (ẩn trốn), hành quy (hóa thân) và hành phục (nhập vai). Luật lệ của bọn chúng rất nghiêm ngặt và phức tạp: chỉ được truyền nghề cho con cháu ruột và dâu rể trong ngày mồng một và ngày rằm. Trong lần ấy, chúng được uống tiết gà sống và theo chân sư phụ trong ngày đầu tiên. Các môn sinh phải thực hiện thành công 99 vụ trộm trót lọt thì sẽ đạt cấp “ Phong” lên một chức khác cao hơn: cấp “Hỏa”. Đạt cấp “Hỏa” xem như gã học trò được giữ chức “trợ lý ăn trộm” và có quyền lập bàn thờ tổ và nhận đệ tử. Rồi cứ thế chúng thi nhau tập luyện để đạt các cấp cao hơn: Sơn, Thủy, Thổ, Mộc. Kẻ nào kém cỏi thì bị đánh rớt cho làm ăn mày nên chúng cố tìm mọi cách để thoát thân kể cả độn thổ hay bán rẻ người thân của chúng. Tháng tư năm nay trời nắng nóng rất sớm, cảnh buôn bán vẫn rất tấp nập. Những gương mặt nhan sắc được trát phấn thật dày đon đả chào thưa. Mồ hôi chảy nhễ nhại, những khuôn mặt phấn loang lổ màu trắng đen. Mùi nước hoa, mùi người, mùi mồ hôi…quyện vào nhau làm con người ta phấn khích dữ lắm. Người ta tổ chức cả lễ diễu hành rầm rộ ngoài phố với những chiếc xe rác mang cái đầu voi làm bằng giấy bồi được phủ lên những miếng vải màu mè đỏ xanh vàng rất rực rỡ. Người ta tổ chức rước kiệu những nhan sắc của nghề điếm. Hai cô gái mặt hoa được điểm trang thật kỹ lưỡng ngồi trên những chiếc xe ấy và đi giữa phố, chúng còn được che cả lọng vàng được cắt dán tỉ mỉ của những tay hàng mã lành nghề. Ngập tiếng tung hô. Năm nay chúng ăn mừng thật lớn. Những gương mặt gân guốc với những ánh mắt như lưỡi lê cứ ngước lên trên. Súng và gươm đao phủ khắp lối ngõ. Bọn kẻ trộm với đầy đủ sắc phong được ngồi chễm chệ ở hàng ghế phía trên. Chúng tụ hội về đây rất đông. Chúng bắt tay nhau, ôm hôn thắm thiết trước ống kính truyền hình. Tình cảm hay đang dò xét ánh mắt của nhau mà tính nước giành giật những cái ghế của cụ Tổ.
Bên dưới, đám đệ tử đang duyệt binh, chúng đi hai bước thụt lùi ba bước rất điệu nghệ. Lũ ăn mày đang lếch thếch đứng hai bên đường nhìn chúng rất thán phục.
Có rất nhiều sư phụ đã đến dự, ngực đeo đầy huân chương. Họ được ngồi ở bục bên trên dành cho những người từng mang chức sắc. Họ đã từng đã truyền nghề cho chúng nay đã giải nghệ vì tuổi gà sức yếu nhìn lũ trâu ăn phè phỡn mà ứa cả ruột gan. Chúng không hề biết chia chát mà còn vơ vét đến nỗi các cụ không có những lộc rơi lộc vãi nào cả.
Bên dưới, đám dân đen hò reo ủng hộ rất nhiệt tình.
Trưa, tắt nghẽn đường. Mọi thứ ùn ùn. Đói bụng. Chúng đạp lên nhau tìm đường về nhà.
Tối khuya, đám hậu duệ của chúng phóng xe bạt mạng, hoặc rung lắc trong những cái loa vặn to hết cỡ, hoặc chém nhau. Chúng đang ngáo đá.
Hàng ngày, hàng tuần, chúng lại rèn luyện và thi lên cấp. Những cuộc mua bán. Những lễ lạt. Những bức tượng. Những cái cổng chào. Những chiếc ghế. Những chiếc huân chương. Những con số. Những giải thưởng. Hoa hòe, lủng lẳng và cũng đầy phản trắc.
Bọn gái điếm lần lượt mặc vào và cởi ra những bộ váy áo liên tục trong ngày.
Bọn kẻ trộm lần lượt được sắc phong và đánh rớt. Lũ ăn mày kêu la đầy đường.
Bức tượng của cụ Tổ vẫn sừng sững vậy. Nghiêm trang. Vẫn đôi môi và bộ móng tay đỏ choét. Cụ càng ngày càng bị béo phì ra bởi con cháu cứ ép cụ phải ăn lộc liên tục. Cụ sắp đạt chuẩn của kỷ lục ghi nét thế giới.
Chúng rất tự hào. Chúng đúc tượng cụ có mặt khắp mọi nơi, trong nhà ngoài ngỏ. Thỉnh thoảng chúng lại sờ lên đầu cụ và khề khà: “ Cụ được lắm, chúng con cảm ơn công lao to lớn của cụ”.