Feeds:
Bài viết
Bình luận

Phiên chợ trong ký ức

.Ái Duy

.

Không biết có ai còn nhớ cái chợ bên đường chỉ chuyên bán hàng ăn sáng, họp từ tinh mơ cho tới giữa trưa là tan sạch sẽ, không để lại dấu vết. Chợ nằm ngay ngã tư giữa khu phố thị dân nghèo, tỏa ra bốn hướng, ngay trước cửa các ngôi nhà, ven hàng rào, dưới gốc cây. Có không dưới hai chục hàng ăn uống cố định đủ thể loại để phục vụ cho bữa sáng, chưa kể xe cà rem, xe bong bóng, gánh đậu hũ, hàng bầu cua xóc đĩa lưu động… Hàng gánh mâm thúng bày ra cả hai bên đường, khách ngồi trên những đòn gỗ quanh cái bàn thấp lè tè, san sát đấu lưng vào nhau, xe cộ đi ngang phải len lách. Đi rảo một vòng đầu chợ tới cuối chợ không tới trăm mét đã con mắt, cồn cào cái bụng.

Một phiên chợ chỉ họp buổi sáng

Chợ có bao giờ tôi cũng không rõ, chỉ nhớ hồi 5, 6 tuổi cứ mỗi sáng mở mắt là cầm mấy đồng bạc cắc của má phát cho tự đi ra đó ăn, chỉ cách nhà chừng vài chục mét, góc Bạch Đằng – Mạc Đĩnh Chi khu Xóm Mới Nha Trang. Phía ngoài là gánh hàng xôi, góc này là bà Bắc chuyên xôi bắp, xôi cúc; xéo bên kia đường còn 2 hàng xôi khác nữa. Rồi hàng khoai củ, bắp luộc để trong rổ kê trên một cái ghế thấp. Tiếp đó là bánh căn, bánh xèo, bánh canh, mì Quảng, bún bò, bún riêu, phở, bánh bèo hỏi, cháo, bánh mì, bánh ướt, bánh đúc… Gần như không thiếu món ăn sáng nào vì chợ có đã lâu, người dân tụ lại mua bán, hễ thiếu thứ gì lập tức có gánh hàng mới bổ sung ngay.

Ngã tư Bạch Đằng – Mạc Đĩnh Chi bây giờ. Ảnh: G.C

Còn có thêm hàng bán cơm rượu ngọt lịm ngồi sau lưng cột đèn mới ngộ, nhớ cô bán hàng múc vô chén cho khách mà dè sẻn như đong như đếm, làm cho đứa nhỏ cứ ước sau này có cả thau ăn cho đã. Đứa nhỏ đó chỉ có vài đồng cắc má phát cho mỗi sáng tự đi ăn, đủ cho một món đơn giản nhất như gói xôi hoặc ổ bánh mì chan nước. Nói thêm, bánh mì chan nước là món phổ biến thuở ấy, xẻ ổ bánh ra và chan vào đó thứ nước sốt béo ngậy toàn nước màu lẫn chút tóp mỡ, thêm chút dưa hành. Có khi nó lấy đồng bạc cắc đặt đại vô ô đánh bầu cua thử thời vận rồi ôm bụng đói về nhà, để rồi tự hứa với lòng đời này sẽ không bao giờ thèm chơi đỏ đen nữa. Nó cũng thích nhịn ăn mua bong bóng nhưng không mang về giấu được nên đành chịu.

Bà ngoại tôi có một gánh bánh canh bột gạo cá mối bán mỗi sáng ở dưới gốc cây nhãn khu chợ này. Tối đến, tôi theo ngoại ra Núi Một lấy bột, 4 giờ sáng ngoại nổi lửa bếp củi lách tách, 5 giờ đã gánh ra. Cá mối lành, ăn mát, hợp với trẻ nhỏ, người bệnh, ngoại mua về lọc xương nấu lấy nước, còn phần phi lê giã làm chả. Tiếng chày nện thình thịch trên cối đá mỗi trưa theo tôi vào giấc ngủ suốt thời thơ ấu. Hôm nào bán ế tới 9 giờ còn cũng phải gánh về để kịp đi chợ lấy cá mối bạn hàng để dành, nồi bánh canh bột gạo giờ đó đã nở lềnh ra, lắm khi phải ăn trừ cơm. Người dân trong xóm kêu ngoại là bác Bảy bánh canh, còn có bà Bảy mì Quảng nức tiếng, bà Ba cháo lòng không hề kém cạnh, chị Thơ bèo hỏi, cô Năm bánh căn… Sau ngoại lớn tuổi nên nghỉ bán, chỗ ngồi đó lập tức được người khác tới thay thế chớ không có chuyện sang sạp.

Mỗi buổi sáng lại nhớ một phiên chợ xưa

Chợ hưng thịnh nhất là sau năm 1975 cho tới cuối những năm 90. Chợ nhiều người biết đến hơn chớ không chỉ người dân trong vùng, tính ra cũng thật tiện lợi, ghé vô muốn ăn gì cũng có, không phải băn khoăn suy nghĩ. Tới giai đoạn dọn dẹp lòng lề đường thì khu chợ cũng bắt đầu bị giải tán và dần dần thu hẹp lại, chỉ còn những nhà cho thuê chút mặt tiền đủ cho gánh hàng ăn lùi vào thì còn tồn tại. Lần hồi vắng vẻ thưa thớt, người mua kẻ bán đều buồn thiu, hàng ăn bình dân cầm cự mãi rồi cũng biến mất nhường chỗ cho những cửa hàng mọc lên thay thế. Ngay cái tên khu Xóm Mới bây giờ cũng được gọi bằng tên khu Bàn Cờ.

Thi thoảng gặp người năm cũ vẫn hay nhắc nhớ về cái chợ ăn sáng thân thương này, nhớ món nọ món kia, nhớ người này người nọ. Người mới thì chắc khó hình dung ra chợ gì họp chút buổi sáng, toàn hàng ăn. Bây giờ đi qua đi lại hằng ngày, ngó góc này thấy trong ký ức hiện lên hàng bánh canh, góc kia là mì quảng, bún bò, góc nọ xe kẹo kéo…, thấy cả con bé ngái ngủ cầm đồng bạc cắc trong tay ngơ ngác mà nó cứ tưởng mình thông minh láu lỉnh lắm.

Sáng sáng, mỗi lần phân vân ăn gì, ghé mua ở đâu là lại thấy nhớ cái chợ này quá đỗi.

ÁI DUY

Tự sự cuối năm

.Hồ Chí Bửu

.

Ta khẳng định mình hít thở bằng không khí

Nhưng người lại bảo rằng

Ta hít thở bằng thi ca

Phán quyết cuối cùng của quan tòa

Gọn ghẽ mà ngộ nghĩnh

.

Ta ảo thuật ngôn ngữ

Ta gạ gẫm đức tin

Ta dò dẫm những hành trình lạc lõng

Ta rong chơi trên ven biên cuộc đời

Hoang phí và ngạo nghễ

.

Người soi ta từng centimet

Người thổi còi khi ta chạy lạc làn đường

Người tự tin và hào phóng

Người là họa sĩ tài ba vẽ cho ta khung trời

thơ mộng và bất biến.

Với người

Ta chỉ là tên ngỗ nghịch mà hợm hĩnh

.

Ừ, thì ta

gã làm thơ với những bước chân khập khiễng

trên vòm trời thi ca

Vậy mà người xưng tụng tán dương

Ngỡ ngàng khi người khoát lên vai ta

chiếc áo choàng sặc sỡ

lẫm liệt đến sững sờ rồi cười khà khà

bảo rằng chuẩn không cần chỉnh.

Người khiến ta cưỡng bức ngôn ngữ

hiếp dâm văn chương và tưởng mình là vô địch.

Đẻ non những bài thơ nhão nhẹt

nông nỗi đến sững sờ luồn lỏi nài nỉ và vỏn vẹn

miễn cưỡng ra đời những quái thai.

.

Không biết tự lúc nào

Người thành chất ma túy mà ta xài vô tội vạ

Để rồi ngày nào đó cạn kiệt nguồn tài nguyên nầy

Sẽ đẩy ta đến bờ vực tử sinh

Cuối năm tự nhiên say..

hochibuu

Dịu dàng ơi

 Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

.

Tôi được hưởng sự dịu dàng trong giấc ngủ

Của người đàn ông ảo không rõ mặt

Ba của sắp nhỏ ơi

Đùng ghen với kẻ hào hoa cuối cùng

Đang đợi để ga-lăng tôi

Kẻ đó có tên là Đất

Để chết rồi tôi được dịu dàng ôm…

Lối mộng hoang ngôn

.Dung Thị Vân

1-

Tình nhân ơi ta gặp nhau

mà chẳng đỏ câu hẹn ước

Đá còn mòn hao

Nên gặp gỡ đã khoanh tròn

2-

Em biết anh dạ chiều nương khóc

Dù một lần triền dốc ngược non cao

Dù một lần bên hàng cây trầm tích

Trong hoang vu khoảnh khắc kiêu mờ

3-

Đây lối mộng hoang ngôn

Kìa đường loang dài nắng

Ta cứ gọi tháng năm

Xóa hết buổi ban đầu

4-

Ai cũng có một trùng miên 

-nhốt vào ngăn tim viễn mộng

Thành giải lụa ngang trời

Bay mãi trắng thinh không

5-

Tình nhân ơi

Đừng khoác áo màu trăn trở

Chiều tím hút trên đồi

Ta đã lạc áo tình nhân.

Bức ảnh và chồng thư cũ

Trương Văn Dân

.

  Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.  

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.

Tôi như chợt thấy một đời người dồn lại.

Chính vào giây phút đó, tôi ý thức rõ ràng rằng những người tuy đã mất đi nhưng vẫn còn hiện hữu, ở đây, lúc này, tuy vắng mặt mà hiện diện cùng tôi.

 Tất nhiên tôi không thể nhìn thấy họ như bóng dáng xưa. Nhưng nếu hiểu theo lời của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì: “Ngày mai, tôi sẽ tiếp tục hiện diện. Nhưng bạn sẽ phải rất cẩn thận mới có thể nhìn thấy tôi. Tôi sẽ là một bông hoa hay một chiếc lá. Tôi sẽ ở trong những hình dáng đó và vẫn gửi cho bạn một lời chào. Nếu bạn đủ nhận biết, bạn sẽ nhận ra tôi, và bạn có thể mỉm cười với tôi. Tôi sẽ rất hạnh phúc ”.

                                        &

 Năm mươi năm dồn nén như một chiếc lò xo, nhưng khi bung ra thì những  gì xảy ra trong suốt quãng thời gian đó đồng loạt thức dậy. Chập chờn nhảy múa trong một bầu trời đầy sương mù của ký ức.

Chỉ là một tình cờ hay có một sự sắp xếp nào đó của hoá công? Cách đây mấy tháng, một người bạn mất liên lạc hơn 40 năm tình cờ thấy và kết bạn với tôi trên Facebook. Dũng tìm được tôi nhờ đọc một bài báo trên BBC[1] tiếng việt  kể về chuyến bay vào tâm dịch Italia để gặp Elena ngay khi nước này dịch Covid.19 đang bùng phát mãnh liệt mà phần lớn các chuyến bay về Milano đều bị huỷ bỏ.

Mấy tuần sau anh gửi qua email mấy tấm hình mà tôi đã quên đi, không còn nhớ. Đó là bức hình chụp vào sáng ngày 21/12/1971  khi chúng tôi, một nhóm sinh viên 13 người vừa đặt chân đến sân bay quốc tế Fiumicino ở Roma.  

    Đoàn “nai vàng ngơ ngác” đến sân bay Fiumicino, Roma 21.12.1971. Ngày đầu ở Ý.

 Nhìn bức ảnh, cảm xúc trong buổi chiều 50 năm trước như vừa trỗi dậy. Những thanh niên lần đầu xuất ngoại, làm quen, nói cười rối rít, ai cũng cố tỏ ra mình cứng rắn để che giấu những lo âu về con đường trước mặt. Mặt đăm chiêu, ngồi trịnh trọng trên chuyến bay Air Vietnam từ Sài Gòn qua Bangkok. Thế nhưng lớp vỏ mạnh mẽ như lớp sáp tan chảy khi máy bay cất cánh. Tiếng nhạc trong khoang đang mở to lời hát  “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An: “Xin một lần xiết tay nhau một lần cuối cho nhau, Xin một lần vẫy tay chào thôi dòng đời đó cuốn người theo” thì có tiếng thút thít từ các ghế ngồi. Một người, hai người… rồi tất cả đưa mắt nhìn nhau, khuôn mặt nhạt nhoà.

           Chờ cảm xúc lắng xuống, tôi ngồi nghĩ lại. Sau bao năm vật đổi sao dời,  tuy khởi điểm là đi chung một chuyến tàu nhưng dòng đời đã cuốn chúng tôi, mỗi người trôi theo một định mệnh khác nhau.  Ai thuận buồm, ai ngược gió, quay cuồng “như lá úa trong cơn mưa chiều…” thành công hay thất bại gì thì cũng chìm trong bể khổ của đời.

                                            

Bắt đầu từ chuyến bay định mệnh ấy là những ngày tháng xa quê hương, bè bạn và những người thân.  Mọi gian khổ vất vả thì chịu được mà sự cô đơn, trống vắng thì nó mênh mang mà  không biết tỏ bày hay chia sẻ cùng ai.

Niềm an ủi lúc đó là được nghe một giọng nói thân quen, nhưng đó là điều không tưởng. Sinh viên thì nhà làm gì  có điện thoại mà gọi bằng gettone qua điện thoại công cộng, chi phí một cuộc gọi đường dài có khi bằng sinh hoạt cả tháng!

Gettone là đồng xu nhỏ, có một rảnh ở giữa và bỏ lên một khe nằm trên máy điện thoại. Sau khi kết nối nó sẽ rớt vào máy, thời gian rớt được tính bằng khoảng cách từ nơi gọi đến nơi nhận. Gần chậm, xa mau. Khi gọi xa thì tiếng gettone rơi nhanh như nhịp tim người gọi. Khi thời lượng tương ứng với số tiền trả sắp hết máy rung chuông báo, nếu không nạp kịp gettone là cuộc gọi bị ngắt!

 Thập niên 1970 tôi thường gọi Elena bằng cách này. Ngày nào ăn chiều xong chúng tôi cũng nói chuyện với nhau vài phút, nhưng cũng có khi cao hứng, nói với nhau cả nửa tiếng hay nhiều hơn. Vì là điện thoại công cộng nên có nhiều người khác đứng chờ bên ngoài. Có khi sốt ruột họ gõ cửa cabin hối thúc. Đứng bên trong, tôi xoè bàn tay trái đang nắm một mớ gettone, nhìn thấy, họ lắc đầu, miệng làu bàu rồi bỏ đi tìm máy khác!

Những khi nói nhiều, tiếng gettone rơi làm mình chóng mặt mà ở đầu giây bên kia còn  nghe tiếng mẹ Elena mắng: nói gì mà lâu dữ vậy!

Vì gọi điện khó khăn và đắt đỏ như thế nên mỗi khi gọi bạn bè ở xa như Pháp, Đức, Thụy Sĩ… thì chúng tôi xem như mời bạn cà phê, nói lâu hơn là xem như mời bữa ăn trưa, liên lục địa.

Vào năm 1981, lần đầu tiên tôi hẹn hai em Xuân, Minh vừa mới định cư ở Sidney (Úc) đến nhà cô dượng Tàu Năm để chờ nghe điện thoại, giọng chúng tôi run lên vì hơn 10 năm anh em mới nghe được giọng nói của nhau. Người nghe, kẻ nói đều đã chuẩn bị sẵn nội dung, tranh thủ nói nhanh để nói được nhiều!

                                                &

Những bức thư cất giữ trong chừng ấy năm làm tôi nhớ tới một thời đã qua và âm hưởng vẫn còn đọng tới bây giờ. Nó như những chiếc cầu cho tôi nối lại với cuộc đời chìm sâu trong kỷ niệm.  Mỗi khi nhận được thư của ba tôi, có khi viết tay, có khi đánh máy, tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần, dù đó là những bức thư thật dài, có khi hơn 10 trang giấy. Ba tôi đánh máy rất nhanh, còn viết thì thư ông chỉ có tôi là đọc  “ro ro” còn các em tôi thì vừa đọc vừa phải… đoán.

Sau khi buông thư tôi thường nằm dài suy nghĩ. Có khi tôi nghe như từ những bức thư đang thở ra hơi thở của ba tôi và trên sàn nhà đang thầm thì bước chân của ông, rõ ràng đến nỗi tôi suýt buột miệng gọi ông. Có khi tôi chăng nghe mà chỉ thấy những khuôn mặt xa xôi hiện về. Nhạt nhòa, nhưng vẫn thấy ba má và tất cả  các anh em Hiếu, Nga, Nguyệt, Xuân, Minh và tôi đang ngồi chen chúc quanh bàn ăn ấm cúng. Có lúc tôi mơ chân trần bước đi trên cát biển Qui nhơn, thỉnh thoảng ra mé nước nghe sóng vỗ dưới chân. Tuổi thơ của tôi đã trôi như một dòng sông và những lúc lặng lẽ ấy chỉ còn lại những hoài niệm mà thời gian đã mang đi xa lắc.  Đôi lúc tôi thấy tiếc nuối nhưng chỉ một thoáng thôi, vì nhiều nỗi lo toan khi nhìn đến thực tại nơi đất khách.

          Những ngày sau 1975 thời gian rảnh rổi không nhiều vì từ một chàng công tử vô tư tôi phải vừa làm vừa học. Áp lực kinh tế, học hành, tôi phải thanh thủ học trên xe bus lúc đông người mỗi khi đi đến chỗ làm hay lúc về nhà.

          Trong những lúc mềm lòng, tôi rất cần một bàn tay để nắm. Nghe được một giọng nói thân thương, không cần họ làm gì để giúp mà chỉ cần biết có ai đó quan tâm đến mình.

 Nhưng xung quanh nào có ai đâu! Không có sự chọn lựa nào khác là tự bước đi bằng đôi chân, nhận lấy trách nhiệm cho cuộc sống và tương lai của mình.

Hồi đó, trong suốt bao nhiêu năm… tôi mong chờ những bức thư như một bộ hành mơ nguồn nước trong sa mạc. Gửi thư đi, trung bình 3 tháng mới nhận được trả lời. Biết thế, nhưng viết xong thì ngày nào cũng chờ. Mỗi sáng ra khỏi nhà đều nhìn vào hộp thư, dù biết chắc là không có mà lòng vẫn hụt hẫng.

Những bức thư thường làm tôi bâng khuâng, rộn ràng, đầy ắp niềm vui song cũng man mác, bồi hồi.

Vì những điều kiện khách quan nên tôi không được sống gần ba mình. Thế nhưng trong thời gian ít ỏi đó những bài học của ông vẫn theo tôi suốt cuộc đời. Những lời dạy từ  nhỏ vẫn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách cũng như quan niệm về cuộc sống.

Trong thư, ba dặn ra xứ người con sẽ phải hoà nhập vào văn hoá và xã hội mới nhưng đừng để bị làm mờ cái gốc của mình.

Tôi nằm lòng lời căn dặn đó. Sống nhiều năm ở trời Tây, mà khi về Việt Nam ít ai nhận ra tôi là “Việt Kiều” vì  phong cách dân dã chân quê, như bùn đất quê hương vẫn còn bám từ bấy đến nay. Tuy đã từng ngắm tuyết ở trời Âu nhưng cũng đã từng tắm truồng trên dòng sông Côn; Từng ở khách sạn 5 sao lộng lẫy ở nước ngoài nhưng cũng đã từng ăn bát cơm nóng nấu trong nồi đất vào ngày mưa ở Vĩnh Thạnh, nhìn gió núi lùa qua cửa sổ, thấy người thân ở quê ngoại rét run người với chiếc áo phong phanh… bấy nhiêu năm, tuy sống xa nhà mà nề nếp, thói quen, tính cách của ngày xưa vẫn con đậm nét.  Tiếng Việt của tôi vẫn như xưa,  thời gian đầu có chút bỡ ngỡ về vài từ mới nhưng chỉ nghe qua một lần là nhớ, và tuy sống ở nước ngoài 50 năm nhưng tôi chưa bao giờ        “độn” thêm từ ngoại quốc nào trong giao tiếp, tôi nghĩ viết “chúc mừng năm mới” là đủ nghĩa chứ thấy không cần phải viết “happy new year” làm gì.

Có thể nói cái tâm là ba tôi đã dạy cho tôi. Sau 1975, ông biết tôi sẽ gặp khó khăn và những buồn phiền không thể tránh: “Đã làm người, thì con phải chấp nhận gánh vác. Đôi khi còn phải gánh cả những việc oan ức…” “ Nhưng dù thế nào cũng không được thù hận và đánh mất niềm tin vào tính thiện lương của con người ”. “ Nếu có điều kiện thì cứ giúp người, thà bị sai lầm còn hơn là ân hận ”..

             Trong những bức thư ấy có điều tôi hiểu ngay nhưng cũng có những lời dạy, mà mãi nhiều năm sau, quá tuổi 60, nghiệm ra tôi mới hiểu. “Sống là phải làm tốt vai trò và bổn phận của mình trong xã hội, nhưng cố bỏ cái tôi để sống an nhiên và hạnh phúc với chính mình.” “ Tài năng gì cũng chỉ là bọt bèo. Đừng kiêu căng hay đuổi theo ảo ảnh; Danh tiếng, địa vị gì cũng đều phụ thuộc vào lời khen chê của kẻ khác. Đừng để tâm trí mình dao động vì những việc nằm ngoài tầm kiểm soát đó để không bị biến thành con rối của miệng đời.”

          …Rồi biến cố đau buồn.  Vẫn còn trẻ và đẹp nhưng  trái tim ông đã lặng lẽ ngừng đập. Ông chỉ sống vừa đủ lâu để thấy những thay đổi của đất nước và lòng người.

Nhưng ba tôi không mất. Ông chỉ nằm an nghỉ trong trái tim tôi mà thôi.

                                                &

Những bức thư ấy là những nhịp cầu nối liền khoảng cách và kết nối tình thân. Xa bỗng hóa gần.

 Ngày xưa… liên lạc với nhau rất khó! Nhưng hôm nay, với phương tiện sẵn sàng, mọi cuộc gọi đều tức thời và miễn phí nhưng con người lại ít kết nối với nhau! Ai cũng than rằng mình rất “bận”. Là không có thời gian? Nhưng có thực là chúng ta bận đến nỗi  đến không thể gửi một tin nhắn vài phút để hỏi thăm, để biết là mình đang nghĩ đến và chia sẻ với người thân?

 Đúng là cuộc sống hôm nay tất bật, nhưng một cuộc gọi, một tin nhắn để biết rằng đang nghĩ đến nhau là luôn cần thiết.

           Với một khoảng cách quá xa, có khi cách nhau nửa vòng trái đất, thì một tin nhắn có nghĩa là ta vẫn hiện diện khi… đang vắng mặt. Người ở xa cũng không đòi hỏi gì nhiều. Một cuộc gọi ngẫu nhiên, để một thoáng quên đi những bận bịu cơm áo thường ngày hay tạm quên đi những muộn phiền không đáng nhớ. Nghe giọng một người quen ở xa là một niềm an ủi. Biết rằng trên đời này còn có ai đó nhớ đến mình.

           Gọi thăm thôi. Cần chi mục đích? Vì thực ra mục đích quý báu nhất là thăm hỏi mà không có mục đích nào.

          Nhưng dường như mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi cú điện thoại đều vì một điều gì. Không cần, không liên lạc!

 Ngày nay, con người thực dụng nên cân đong đo đếm tình cảm bằng những điều kiện sinh tồn chăng? Đôi lúc vì dửng dưng mà ta làm nhạt nhòa những tình cảm đẹp, đánh mất những hạnh phúc giản đơn.

Với các lý do “gần như” hợp lý, nhiều người biện minh cho sự bận rộn vì nỗi lo cơm áo, mà thực tế là trên mạng xã hội hằng ngày họ vẫn đưa hình khoe con khoe cháu, tiệc tùng ăn uống hay hiện diện ở các địa điểm du lịch đấy thôi.

 Hãy sử dụng tốt thời gian vì không ai biết mình sẽ còn bao lâu nữa.

Hơn hai năm bị mắc kẹt Covid ở Ý, tôi đã nhận ra: có một số người nếu không chủ động tìm, họ chẳng bao giờ hỏi đến. Nhờ thời gian đó mà hiểu ai mới thật sự là người quan tâm đến mình.

May là suốt những ngày bị cách ly ở Milano vì  Covid.19… tôi đã sống toàn tâm toàn ý với tình yêu văn chương. Đọc và viết rất nhiều. Tôi dành trọn ngày đêm để viết những quyển sách của mình, thi thoảng sửa lại một vài truyện ngắn hay dịch vài đoạn văn hay. Trên bàn làm việc luôn có một bình hoa nhỏ đa sắc mà Elena đã trang điểm cho không gian sáng tác. Phòng làm việc có một cửa sổ lớn nhìn ra ngoài, bầu trời có khi xám xịt, có lúc trong sáng tùy theo mùa. Những lúc nghĩ ngợi, tôi thường nhìn cây lê đơm hoa trắng muốt báo  mùa xuân, rồi hoa rụng báo mùa hè, rồi lại lá lại vàng để báo thu sang, sau đó thì trút lá, cành trần trụi trong sương tuyết khi một mùa đông đang đến. Hoa lê trắng còn nở lần thứ hai để mùa xuân khác đến rồi sẽ sớm trôi qua vào mùa hè, mùa thu và mùa đông thứ hai. Thế giới, ký ức về Việt Nam như càng ngày càng xa.

 Thế rồi, đùng một cái, ánh sáng như chói chang rực rỡ hơn từ cái thế giới sáng tạo chiếu vào cái không gian chật hẹp tù túng của những ngày bị cách ly, khi tiểu thuyết Ước Hẹn Cuối Cùng bước vào giai đọan cuối. Nhìn khuôn mặt rạng rỡ của tôi, Elena liền hỏi: anh viết xong rồi hả? Năm mươi năm qua, không cảm xúc nào của tôi mà không bị vợ mình phát hiện.  Suốt hơn hai năm tôi đắm mình cho tiểu thuyết, miệt mài buồn vui hạnh phúc khổ đau cùng nhân vật. Câu chuyện trong tiểu thuyết vô vàn đắm say mà cũng đầy thăng trầm, sầu khổ. Nhưng câu trả lời của tôi là một tràng cười. Điều kỳ lạ là tiếng cười của mình làm tôi kinh ngạc. Cảm tưởng như 50 năm về trước tôi đã nghe chính giọng của mình trong một máy ghi âm trên băng casette. Lúc đầu tôi hoàn toàn không nhận ra, tuy nó đúng là giọng của tôi, nhưng đó là cái giọng mà người khác nghe chứ không phải cái giọng mà bản thân tôi nghe được như máu thịt đến từ bên trong của con người mình.

Suốt hai năm qua tôi âm thầm và im lặng làm bạn cùng nhân vật, hòa mình với những đau thương, chết chóc nên tôi như đã quên đi thực tại. Cười như thế nào? Và bây giờ giống như lần đầu tiên tôi nghe tiếng mình cười.

Lệnh giãn cách lúc này đang nới lỏng và sắp chấm hết. Tôi sẽ được tự do bay về Việt Nam để gặp lại bạn bè và lo việc in ấn tác phẩm tâm huyết của mình. Thế nhưng khi dịch bản thảo ra tiếng Ý- L’ultima promessa- cho hai người  bạn thân thì họ khuyên nên in trước bằng tiếng Ý vì bối cảnh tiểu thuyết ở Milano và những vấn đề liên quan đến văn hóa và luật pháp ở Ý…

 Tôi sẽ làm gì với ánh sáng chói chang của những ngày “tự do” sắp tới? Tôi sẽ làm gì với những thói quen cũ, gặp gỡ bạn bè bị gián đoạn sau một thời gian dài? Một quyển sách sắp in không thể trả lại cho tôi những ngày bị cướp mất vì đại dịch. Nó như một đứa con sắp được sinh ra, cần phải chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, giúp nó tránh những cạm bẫy, những phê phán, đố kỵ hay yêu thương chào đón… tất cả những hệ quả mà mình đã mường tượng trong lúc hình thành câu chữ. Vâng, tôi biết khi sách ra đời, nó cũng không thể nào tránh được những hệ lụy như một con người, cái đề tài mà trước đây tôi đã từng trăn trở khi viết tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần.

Milano 10.2022

https://www.facebook.com/xuan.truong.967/posts/pfbid0FFTLTjRWF37HZZ7whyzECQncZH9cqc2TJEJAjwz4v8YikkQsxPgBSmNcCQjhuEbVl?__cft__%5B0%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__cft__%5B1%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__tn__=%2CO%2CP-R%5D-R  19.6.2023

Xuan Truong cùng với Minh Truong và  8 người khác

Một truyện ngắn hay cho ngày Father’s Day của nhà văn Trương văn Dân.  Xin mời đọc:

BỨC ẢNH VÀ CHỒNG THƯ CŨ.

Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.


[1] https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-52089979?fbclid=IwAR3B-XnOx36srzUb5qkbVbwLumAjeZvl6Uld_e6QJUDnLQrysJazTeANZlw

Vườn rau của Ngoại

 Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Những luống mầm trời lạnh trước giêng hai

Cái cách người ta hỏi

Với mọi sinh linh

Làm sao lấy năng lượng từ đâu để ung dung

Thưa năng lượng muôn màu

Ví dụ tối nay, tôi lấy được năng lượng từ củ bình tinh trắng muốt

Của mệ bán bên vỉa hè

Củ bình tinh xưa Ngoại thường trồng quanh mỗi gốc chanh

Hoặc từ những luống đất cuốc vội trong vườn

Vùng đất cát rã tơi như sự bao dung định đoạt

Những loại mầm từ đó mọc lên

.

Nhẹ nhàng tơi xốp

Những ngọn mầm bầu bí

Hay những loại cỏ hoang

Những luống mầm con cháu cứ mọc lên

Tươi giữa nắng

Những luống mầm nhẹ nhàng tươi xốp

Chúng tôi cứ thế mọc lên

Độn Rùa làng tôi cũng xanh hơn

Nhấp nhô trên nền xanh uốn ượn

Trời xanh biển xanh phá Tam giang xanh

Những tiếng nói tiếng cười

Dỗ sông mềm

Quanh co uốn lượn

Những luống mầm đặt bày trò giỡn chơi với nắng

Mọc vội sớm hôm

.

Những luống mầm trời lạnh lên xanh

Trước giêng hai ngoại đã vun trồng

Năng lượng từ Ngoại

truyền sang đất

truyền sang mầm

chúng tôi lớn lên

ung dung

Săn mây

Đinh Lê Vũ

.

Văn phòng My làm việc có chín người. Anh Trân làm trưởng đại diện, quản lý tám nhân viên. Tổng công ty ngoài Hà Nội, năm thì mười họa mới thấy một lần. Chỉ có chín anh em, nên y như trong một gia đình. Anh Trân là ông bố, chị Chi là bà mẹ, đám lau chau còn lại là bầy con. Trong giờ làm cũng như ngoài giờ, đi đâu cũng có nhau.

Minh họa: VĂN TIN
Minh họa: VĂN TIN

Đùng một cái, ông bố về hưu. Không chỉ vậy, anh Trân còn dự định về hưu sẽ sang nước ngoài ở với con. Viễn cảnh xa xôi nghìn trùng hiển hiện trước mắt. Đứa nào cũng buồn, mà không nói ra.

Cả nhóm tính làm một sự kiện gì đó, thiệt long trọng, để chia tay anh Trân. Ban đầu, dự tính sẽ ăn tối với nhau ở một nơi thiệt xịn xò. Nhưng vẫn chưa đủ. Tình cảm dài, mười mấy năm chia ngọt sẻ bùi với nhau, một bữa tối sao đủ. Thêm chuyến đi chơi xa mới thỏa. Để sau này, có cái mà nhớ lại.

Anh Văn hăng hái với ý tưởng đi chơi nhất. Anh nói đi đâu để anh cầm tài tổ chức cho. Măng Đen là hợp lý nhất. Từ Tam Kỳ, chạy vô Quảng Ngãi, rồi rẽ lên Măng Đen. Chừng hai trăm cây số. Gói gọn trong hai ngày cuối tuần.

Sẽ đi ngang qua đèo Vilolak, cảnh tượng vô cùng kỳ vĩ. Nghe qua là thấy thích rồi. Anh Văn lo thuê xe, đặt phòng, lên lịch trình. Chuyến đi là để anh Trân có chút kỷ niệm đẹp với mọi người, trước khi về hưu.

Hào hứng vậy, nhưng gần tới ngày đi, có mấy người thoái thác. Ai cũng có lý do. Cuối cùng, còn lại anh Văn, người cầm tài tổ chức và Loan, Tiến, My là mấy đứa tre trẻ, ham vui. Anh Văn băn khoăn: Ít người quá, mình có đi không? My nói: Chuyến đi là cho anh Trân. Ảnh muốn đi, tụi mình sẽ đi.

Vậy là đi. Chốt lại, còn năm người, tính cả anh Trân, là ba nam hai nữ. Thuê chiếc xe bảy chỗ. Đặt cái phòng dorm ở một homestay trên Măng Đen, mấy anh em ở chung với nhau. Cái homestay là do anh Nam, bạn của anh Văn giới thiệu. Anh Nam là nhiếp ảnh gia tự do sống ở Quảng Ngãi, ảnh ngao du khắp nơi, chỗ nào cũng biết.

Mới đầu, chỉ là anh Văn hỏi anh Nam vài thông tin về Măng Đen, rốt cuộc, anh Nam là thành viên thứ sáu trong đoàn. Anh Văn nói, anh Nam nhiệt tình, lại rành Măng Đen, chắc chắn sẽ đưa mình đến vài chỗ thú vị. Chưa gặp anh Nam mà ai cũng hào hứng.

Anh Nam gợi ý khởi hành sớm, ba giờ sáng lên đường. Để kịp săn mây trên đèo Violak, mùa này mây phủ trên đỉnh đèo rất đẹp. Anh Trân lùng bùng: Đi chơi chi sớm quá, như đi ăn trộm. Nhưng thấy mấy đứa nhỏ háo hức, anh cũng miễn cưỡng xuôi theo. Anh cũng chỉ mới nghe nói, chưa săn mây bao giờ. Dễ chi được đi săn mây.

Xe đến đỉnh đèo Violak gần sáu giờ sáng. Trời chưa sáng hẳn, mây mù giăng kín đỉnh đèo. My tưởng chỉ có mình nhóm My săn mây, ai dè lên tới nơi, cũng thấy kha khá người và xe. Đứng nhẩn nha một lúc thì nắng lên. Lúc này, trời trong vắt, mây gom lại thành cụm lững lờ, hiền hòa. Cảnh tượng như cảnh tiên. Ai cũng tranh thủ tạo dáng chụp ảnh, để lưu lại chút gì đó thật đặc biệt với mây, để khoe lên Facebook.

Chỉ anh Trân là thờ ơ. Anh leo xuống xe, ngó qua, rồi leo lên xe lại, thiêm thiếp ngủ. Anh than: Tau đi xe nhiều không bao giờ say xe, răng đi cái đèo ni, mệt khiếp. Loan đang nghiêng đầu tạo dáng, nghe anh nói, quay lại, nhìn anh thông cảm: Anh chờ tụi em chút xíu, chụp xong tấm ảnh, tụi em lên liền.

Chút xíu của Loan là gần hai tiếng đồng hồ. Không riêng Loan, cả anh Văn, cả Tiến, cả My đều say sưa, tới lúc anh Văn kêu lên xe còn ráng bấm thêm chỗ này một kiểu, chỗ kia một kiểu.

Anh Nam trở thành nhân vật trung tâm, vì anh chụp ảnh đẹp, lại mang theo flycam. Anh chụp ảnh cho mấy đứa bằng flycam, còn tranh thủ quay mấy đoạn phim ngắn cho trang web du lịch anh cộng tác. Đứa nào cũng vui, cũng hí hửng, không đứa nào nhớ tới anh Trân đang chờ trên xe.

Lúc cả bọn quay lại, anh Trân không còn ngủ nữa. Anh ngồi sõng soài, dựa vào lưng ghế, nhìn xa xăm. Anh hỏi đúng một câu: Đi được chưa, mà đứa nào nghe cũng nem nép, không biết anh có chi không vui mà tự nhiên kiệm lời quá.

Cả nhóm rồi cũng tới được Măng Đen đúng ngọ, sau khi dừng lại ăn mì gói, uống cà phê quấy quá ở cái quán nhỏ trên đỉnh đèo. Anh Nam đưa cả nhóm đến ăn trưa ở quán lẩu, có nhiều món đặc sắc, đặc biệt là món lẩu xuyên tiêu, nước cay sè.

Cả bọn húp nước lẩu sì soạt, khen ngon tới tấp, anh Trân chỉ nhấm nháp chiếu lệ, anh không ăn cay được. Ở văn phòng, mỗi lần đi ăn ở đâu, chị Chi hay dặn chủ quán làm suất ăn không cay cho anh, lên Măng Đen thì không đứa nào nhớ chuyện đó.

Bước ra khỏi quán lẩu, đứa nào cũng hồ hởi: no quá, ngon quá, mà không nghe anh Trân nói gì. Anh Nam hỏi: Ăn ngon không anh, anh trả lời uể oải: Cũng tạm. Hỏi vặn thêm thì anh nói chả cá ngon, măng trộn thì hơi tệ. Anh không nói chi tới món lẩu.

Chỉ có My là thấy anh có vẻ trầm ngâm, nhưng ý nghĩ này cũng thoáng qua trong đầu My, rất nhanh. Còn cả một buổi chiều, rồi sáng mai với nhiều tiết mục hấp dẫn. My phải chợp mắt một chút để buổi chiều, mặt tươi tỉnh mà chụp hình.

Buổi chiều, cả nhóm đi tham quan khu nhà cây, lòng vòng ở dãy chợ phiên cuối tuần, đứa nào cũng vui một cách bận rộn, tận dụng từng khoảnh khắc. Bỏ lại không khí văn phòng sau lưng, không còn sếp, không còn nhân viên, chuyến đi này là để anh em vui với nhau, nên phải hết mình.

Nhảy sạp, kéo nhau ghé mấy quầy hàng trong khu chợ phiên thử hết các món đặc sản… tụi nhỏ làm anh Trân theo đuối đơ. Anh đã đến tuổi bắt đầu chậm chạp rồi. Thâm tâm, anh muốn chuyến đi này là dịp để anh em ngồi sum vầy, tâm sự. Để anh hiểu mấy đứa hơn, mấy đứa hiểu anh hơn. Làm việc chung với nhau, không phải lúc nào anh cũng thoải mái, mở lòng được.

Anh tưởng chuyến đi sẽ rất gắn kết, cởi mở, nhưng nó không được vậy. Có điều gì đó rất khác, trong cách mà mấy đứa nhỏ đối với anh. Tụi nó vẫn quý anh, nhưng không còn cái trang trọng, chừng mực như ở văn phòng, nơi mà nhất cử nhất động của anh đều được quan tâm, mọi ý kiến của anh đều được lắng nghe. Anh thấy ngậm ngùi, rõ ràng là không thể không thấy ngậm ngùi, hụt hẫng.

Đêm ở núi rất sâu. Càng về đêm trời càng lạnh. Ngồi uống rượu với cả nhóm trong căn nhà gỗ của homestay, có lúc, My còn nghe được tiếng lá rơi khẽ khàng, tiếng gió đuổi nhau ngoài kia xao xác.

Anh Nam mượn ở đâu cây guitar mang ra đàn hát tặng mọi người, giọng anh ngọt và ấm: Rồi mai đây, khi mình xa nhau, nhớ đến nhau hoài.. (*). My thấy mình như say chếnh choáng, không biết là say đêm, say rượu, hay say giọng hát.

Tàn cuộc rượu thì đã quá mười hai giờ đêm. Mọi người nhìn quanh, lúc này mới nhận ra anh Trân đã không còn ngồi ở đó nữa. Mấy đứa rón rén vô phòng, đi thật nhẹ, không ngờ cũng làm anh Trân thức giấc.

Anh hỏi: Giờ này mấy đứa mới đi ngủ à? Anh Nam, có lẽ thấy áy náy, buột miệng rủ: Sáng mai, em đi săn mây, cách homestay mình ở chưa tới ba cây số. Mọi người đi với em đi, không đi thì tiếc lắm.

Loan, là đứa cả ngày nay chụp ảnh nhiều nhất, chơi nhiệt tình nhất, lên tiếng hỏi: Mấy giờ mình đi, anh Nam? Nam cười: Sáu giờ sáng. Anh Văn với Tiến gật đầu: Tụi này ok. Anh Trân lừ khừ: Tính sau đi. My lắc đầu: Em không đi, mệt lắm, em ở nhà ngủ.

Buổi sáng, anh Trân là người dậy sớm nhất, chừng bốn giờ sáng đã dậy rồi. Lúc mọi người xôn xao gọi nhau, ảnh đã ngồi thiền xong. Nam hỏi: Đi không anh? Ảnh ngần ngừ nhìn quanh, thấy My vẫn đang ngủ, ảnh nói: Thôi, để anh ở nhà với My.

Mấy đứa rời homestay đi săn mây. Tưởng là chỉ đi chừng một tiếng đồng hồ thôi, ai dè cảnh đẹp quá, mây trắng quá nên mấy đứa quên cả giờ giấc, lúc về, Nam lại phát hiện bỏ quên đồ, phải quay lại tìm.

Mấy đứa đi với Nam quay lại tìm đồ, hứng lên đi ăn sáng luôn, mặc anh Trân với My ở nhà chóc ngóc chờ. Tề tựu tới homestay thì đã gần mười giờ sáng, thấy anh Trân với My đang ngồi thu lu, mỗi người mỗi góc, mấy đứa biết là có chuyện rồi. Nên líu ríu dọn đồ, líu ríu kéo ra xe.

Mọi thứ trôi qua có vẻ bình thường, lịch sự, nhưng vì lịch sự quá nên ai cũng cảm nhận rõ ràng là đã có chuyện. Mà chuyện gì ta? Lẽ ra, chương trình của ngày thứ hai sẽ đi cà phê ngắm hoa hồng, ghé chùa Khánh Lâm, rồi ăn trưa, ghé tắm suối trên đường về.

Nhưng lúc lên xe, nhìn vẻ nghiêm nghị khác thường của anh Trân, không ai dám nhắc tới cà phê, tắm suối. Tới khi đi dạo trong khuôn viên chùa Khánh Lâm, anh Nam mới rón rén hỏi anh Trân: Mình ghé tắm suối không anh? Anh Trân lắc đầu: Chạy về thẳng Tam Kỳ đi!

Suốt chặng đường về, không khí trên xe rón rén một cách lạ kỳ. Nam nói chuyện điện thoại liên tục như để khỏa lấp cái im ắng khó chịu. Văn, Tiến cắm cúi lướt Facebook. Loan giả bộ ngủ gà ngủ gật. Cả Văn, cả Tiến, cả Loan đều bồn chồn, mong xe nhanh về tới Tam Kỳ, để tách My ra hỏi: Có chuyện gì vậy?

Về tới nhà rồi My mới nói: Có chuyện gì đâu, anh Trân ảnh buồn. Nói là rủ ảnh đi chơi chia tay, mà tụi mình cứ đu theo ông Nam săn mây, mấy cũng anh Nam này, anh Nam nọ. Không phút giây mô tụi mình dành cho anh Trân, ngồi với ảnh, tâm sự với ảnh. Anh Nam đi chuyến này là kết hợp đi làm, chớ đâu phải dẫn mình đi chơi. Ảnh có quen biết chi với anh Trân đâu mà nhiệt tình dẫn đi, chia tay với tiễn biệt.

(*) Lời ca khúc “Rồi mai đây”, nhạc ngoại quốc, lời Việt của Trường Kỳ.

.

Hồng Thủy Tiên

.

Từ lâu

Khi anh biến mất khỏi thành phố này

Những đám mây trắng không còn trở lại, để nhắc nhở em về một buổi chiều im lặng bên nhau

Từ lâu

Bất an về anh đã đeo đẳng từng cơn khát sống, khi vắt kiệt mình cho những trưa nắng

Đốt thiêu  từng nụ cười không kịp nở sau khẩu trang

Phấn son không giấu được vẻ mỏi mệt của đợi chờ

Đợi chờ cho một sự không chắc chắn

Chẳng còn cần thiết, và chẳng biết vì sao. Thôi đừng vô vọng

Và nhạt dần, nhạt dần

Mà năm tháng cứ trôi

Từ lâu

Kí tự vô nghĩa cứ miết trên mười đầu ngón tay

ANH

ANH

ANH

Đã qua, đã rời bỏ. Rối rắm, ma mị những mê lộ.

Cứ lớn dần trong đêm tối một bông hoa yêu thương

Dù đã cố gắng, cố gắng khoát lên nó đủ vẻ thản nhiên, ơ thờ, hờ hững, mặc kệ…

Bông hoa hé nở

Trinh bạch thơm

Em muốn rũ trôi một cảm giác không thuộc về mình

Đừng hỏi tại sao chân trời lại vắng những đám mây, và sự bất an – lại lấp đầy em…

Thoảng một hương đêm

Ngô Thanh Vân

Thoảng trong đêm

mùi hương tóc em thơm mềm vai nhỏ
đan bàn tay vào gió
ướp ngón sen nồng nàn
những ngón thon mảnh khảnh muốt dài


Đừng nói gì thêm
bởi chẳng thể làm em nguôi nhớ
mùa hoa ngây mắc nợ

không phải mình nợ nhau
thôi làm đau những giấc mơ gầy


Cánh đồng năm xưa có ai ghé thăm
vô tình ngang qua chỉ còn trơ gốc rạ
nghĩ bông lúa chín cúi đầu
mà thương mình day dứt
dẫu sao tơ nhện buông mành
chỉ rối tháng ngày nhau
 

Mà lạ chưa
thoảng một hương đêm cũng thành nhắc nhở
bởi mình thật dạ thật lòng
nên cứ nặng trong tim

Nói với đêm

mà đêm giờ hun hút
thoảng niềm tin vừa rớt bên đời
nghe trong gió chút gì mằn mặn

riêng mình. Một nỗi vương mang.

Thắp nắng chân mây

Võ Miên Trường

.

.Em về thắp nắng chân mây

Bùa mê

vượt thoát những ngày đã qua

Về xây từng nấc tháp ngà

Dựng buồm

lên những thương xa nhớ gần

Về thôi trút hết phân vân

Trả đêm

thăm thẳm cuộc trần gian mơ

Như chưa có thật bao giờ

Những xanh xao

thắp ván cờ người dưng

Chân mây thắp nắng lưng chừng

Giọt sương

chạm vỡ vô cùng tan mau

Về thôi nỗi nhớ đã nhàu

Giữa bùn

sen vẫn thắm màu… bao dung.