Feeds:
Bài viết
Bình luận

Đặng Thị Thanh Hương

.

Tôi về ngày ấy đã xa

thời gian tàn khốc xóa nhòa yêu thương

chỉ còn nước chảy, mưa buông

những ngôi nhà mới, những đường dọc ngang

tôi tìm bóng mẹ đầu làng

ngoài sân xào xạc nắng mang mẹ về !

.

Men theo tiếng quét chổi tre

chập chờn bóng mẹ trước hè gọi tên

cuộc đời trăm ngả đường quên

trong tim vẫn trắng một miền lau xa…

.

Mẹ giờ ở giữa bao la

lời ru, tiếng chổi sân nhà còn đâu

trời mưa trắng lạnh mái đầu

vành khăn tang gói nỗi đau tận cùng

Năm trôi, tháng cũ, ngày dưng

tôi rồi cũng sẽ về cùng gió mây

đi tìm mẹ dưới hàng cây

lần theo tiếng chổi lá bay mỗi mùa !

.

Đời người như giấc ngủ trưa…

Tâm Nhiên

  1. An Nhơn Vờn Trăng Nước Trường Thi

Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở:

“Một hơi vừa đi mất
Cho ta hơi mới đầy
Chan hòa hương màu đất
Vui trời chơi gió bay”

Gió bay mây nổi, hòa chan cùng vạn hữu, phiêu hốt một hồn thơ vừa cao rộng vừa sâu thẳm, trầm lắng, thung dung với nụ cười hiền, thiên lương như sông nước Trường Thi mà thuở nhỏ, anh thường hay chạy ra bơi lội, rỡn đùa chơi với sóng thơ và hoa nắng…

Trăng gió An Nhơn, vờn mộng quê nhà Bình Định lung linh đã sinh ra thi sỹ ngày 24 tháng 2 năm 1943. Hoa đồng cỏ nội, bờ tre, vườn chuối, hàng cau, cánh đồng, bến sông quê, trăng sương, gió núi, biển ngàn là dưỡng chất thiên nhiên một thời tuổi trẻ, thanh xuân, rực ngời cả trời thơ đất mộng bồng bềnh…

Rồi lớn lên giữa không khí Đường thi Quách Tấn, Đông Hồ, Yến Lan, Vũ Hoàng Chương và lãng mạn đầy sáng tạo Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Đinh Hùng, Bích Khê, Chế Lan Viên….Hít thở bầu không khí văn chương dị thường, chứa chan tình cảm đó, cho nên khi vừa mới 15, 16 tuổi, câu hỏi bất ngờ đầu tiên của anh là Thơ là gì? Thi ca là cái chi? Một câu hỏi như một công án Thiền mà bình sinh trong cuộc sống, anh luôn trăn trở, thắc mắc thành một mối đại nghi suốt ngày đêm không ngừng nghỉ. Thi ca là gì? Ngay cả Bùi Giáng cũng không trả lời được:

“Con chim thì ta biết nó bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sỹ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì?
Thì đó là điều
Ta không biết!”

  1. Thi Ca Là Gì?

“Thi ca trời đất là da
Thịt xương máu tủy thơ là trăng sao
Núi xanh sông trắng lộn nhào
Những khi gió thoảng mưa rào chợt ghi”

Thi sỹ tự hỏi, tự đáp như thế, rồi cao hứng, bừng cháy lên ngọn lửa đam mê đầy quyến rũ, liền vội ghi lại hàng trăm bài thơ đầu tiên, còn nằm trong bản thảo (1961) Dào dạt trong trạng thái phiêu diêu, tiêu sái, xuất thần ấy, kéo dài đến mấy chục năm trời vừa điêu linh, thống khổ, vừa thăng hoa tuyệt hảo, khiến anh đã miên man sáng tạo thành 7 thi phẩm tâm đắc nữa: Mưa Mắt Tình (1968) Tâm Thu Kinh (1970) Tuyệt Huyết Ca (1972) Thi Thiên (1973) Trúc Biếc (1974) Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn (bản thảo 2000) Thơ Tình Và Tình Thơ (bản thảo, 2002). Chẳng khác chi Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử, anh cũng say thơ, mê thơ, điên thơ đến nỗi thành Vấn Nạn Thi Ca:

“Đã lòng mây trắng trời xanh
Sao còn dội ngược dồn quanh hỡi người
Trăm năm một cuộc đi đời
Là khi lá thốt hoa cười nghe ra”

  1. Thi Sỹ Là Chi?

Nghe được hoa lá, cỏ cây, mây gió, trăng sao, đất đá nói cười là anh đã tự nhiên như nhiên trở thành một thi sỹ rồi. Nhưng Thi sỹ là chi? Hàn Mặc Tử nói:

“Thi sỹ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình…Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn, sướng khổ, giận hờn đến gần đứt sự sống.”

Còn Đặng Tấn Tới thì khơi vơi cho biết Thi Sỹ là:

“Những hồn thi sỹ đâu đây
Bao la vô trú bên mây gió ngàn
Sử sầu đôi thế kỷ tan
Tâm thanh lặng nở lan tràn thơ ca
Chim bay lấp lánh dương hòa
Những lòng thi sỹ chưa ca nửa lời”

Chúng ta hãy lắng nghe Đặng Tấn Tới nói về Thơ:

“Thơ đi qua những Hội Mùa cùng ánh sáng lừng vang bước đất.

Thơ còn nói lên Hình của Bóng, Tình của Mơ, Mộng của Chân. Thơ chẳng ngừng soi tỏ Khối-Tình-Chung-Muôn-Thuở, thường khi đi trước vang sóng của Không-Thời, nâng cao vũ trụ vào thanh khí, truyền hơi nồng ấm đến tận nhân sinh.

Bao năm rồi, bấy nhiêu tinh tú sáng soi những trời thơ mới lạ, kỳ diệu thay Sức-Chứa-Không-Gì-Cả!

Trời Thơ là gì? Đất Mộng ra sao? Chân Thơ Mộng vẫn còn đi khắp? Chính nét Đẹp Thật bao dung hơn nửa Vô Cùng.

Thơ buồn hay thơ vui giữa khoảnh khắc đất trời mà kẻ nhớ Hạt-Bụi-Đường-Đi còn thơ thẩn bước.

Giấy mực ơi! Lá cỏ xa trời
Một hôm nào ta hết thở chơi
Mùa thu thơ tràn theo gió nhớ
Lang thang qua mặt đất không lời”

  1. Mưa Mắt Tình – Cơn Mưa Diệu Ảo Qua Vườn Chiêm Bao

“Một hôm nào ta hết thở chơi.”Ý thức rằng mình đang lưu trú gần bên cái chết, kề cận với cái chết nên dốc hết sức bình sinh để sống từng giây phút và sáng tác giữa mưa nắng, gió bụi trần gian…

Lang thang giữa “Mùa thu thơ tràn theo gió nhớ”nhà thơ vô tình làm rơi xuống giữa hư vô, sa mạc cuộc đời cơn Mưa Mắt Tình:

“Tôi cũng biết trời bây giờ đỏ lắm
Cây đón đường hỏi tôi
Em lạ bởi tôi không cười nói
Trời ơi! Lẽ nào em thương tôi!

Cơn mưa đó tôi có rồi
Mà ngày trước em thường bảo buồn không xiết kể
Cây bờ sông hàng mé nước
Nhốt hồn tôi giữa những thân xiềng
Tôi nằm gặm cát sờ cây khóc
Thì ra cây là mây đậu nhánh tay

Nước xô hồn hoa lau dậy
Làm tình với tôi
Chiều mất rồi
Trên đồi
Mưa đồi tôi hay đồi em
Mặt trời tối”

Mặt trời sẫm tối, hoàng hôn xuống rồi, không còn phân biệt mưa đồi em hay mưa đồi tôi mà chỉ biết rằng mình đang chìm trong cơn phiêu hốt giữa Mưa Ngọn Chiêm Bao:

“Hát mộ khúc thu mưa, nhỏ lệ giọt buồn một mình. Trời tháng 4 hay mùa tháng 7, nhạc mưa hay máu nắng chết cuối mắt nâu?

Tóc em bay tạt điệu tiêu sầu, lũng cỏ hoang xiêu bước lạnh. Rụng một ngôi sao môi đau vết sáng, giọt nến hồng đêm tôi ngủ trên tay, chờ em hiện về mà cơn gió nào tạt mưa chiêm bao?

Tôi hát một đoạn nhạc rời, thắp điếu thuốc sau cùng, chờ em bên đường lá ướt…”

Chờ em hay chờ nàng thơ đến, bên đường lá ướt đầy những cơn mưa dầm đẫm lệ, đầm đìa nỗi cô đơn, hiu hắt, lặng thấm cả 39 bài thơ tự do trong thi tập Mưa Mắt Tình. Thuở đó (1968) thi sỹ mới 25 tuổi đời nên chới với những bước đi còn chênh vênh giữa đôi bờ mộng thực…

  1. Mộng Thực Lướt Rung Trên Cung Cầm Tâm Thu Kinh

Thực mộng bồng phiêu giữa muôn chiều du lãng trong thế giới mênh mang của thi ca sâu lắng Đặng Tấn Tới. Mới lạ chất thơ lẫn chất nhạc cùng hòa khúc cung cầm Tâm Thu Kinh:

“Thu dầm âm nguyệt
Thu tâm băng tuyết
Ta thổ huyết trăng
Ngập thu tang trắng”

Đó là Thu Tâm, bài thơ mở đầu thi tập Tâm Thu Kinh. Rồi trải dài qua 60 nốt nhạc vang âm đến nốt cuối cùng là Gánh Thu Phong:

“Quải rộng thu phong
Lên ngàn cô vọng
Ngã trong ngô đồng
Lạnh dồn thu không”

Bước đi của thi ca đã đến chỗ “Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” rồi. Đến chỗ này thì chúng ta cũng mù mù, chập chờn theo cho vui, chứ không cần phải rõ ràng chi cho lắm. Hãy cùng lắng nghe tiếng vọng tuyệt mù Tình Không:

“Thu ơi! Đừng trỗi điệu đàn
Cung tiên thiều cũ trăng vàng bên sông
Loạn màu ố máu ồ bông
Lá ngô đồng lấp tình không thu nào”

Tình Không là vậy đó, còn Kinh Không là đây:

“Thu vân
Bất tận
Thu phần
Tử tận
Tận Vô”

Giữa Bất tận…Tận vô…bỗng hoát nhiên, thi nhân bừng Chứng Ngộ:

“Nhìn suốt vừng trăng
Quên mất vừng trăng
Đi đến vừng trăng
Không thấy vừng trăng
Tịnh tưởng ánh trăng
Màu trăng không còn”

Không còn màu trăng, chỉ còn Thu Máu Hồng:

“Ôi biết bao giờ em đến đây
Mùa thu gầy guộc với hai tay
Ôm không hết đất trời vô vọng
Lòng chết trần ai gãy tháng ngày

Thôi nhé! Là thu lề tóc cũ
Là thôi men rượu bốc trăng mù
Cũng thôi từ lúc lòng lay nhẹ
Hương phấn thu vàng ngang liễu thu

Mai tôi về người có theo không?
Bụi mê tang chế bước phiêu bồng
Tôi còn thở mộng vào thu máu
Hồn của ngàn thu hiu hắt bông”

Tâm Thu Kinh gồm 61 bài thơ chập chùng ẩn ngữ như thế. Đọc thơ là để cảm chứ không cần phải hiểu, như tác giả đã nói:

“Hầu hết thơ trong Tâm Thu Kinh là những Sầu Kinh Ca vọng về Em Ma quá mộng và là máu của thiên thu về tụ dồn nhật nguyệt, vỡ hàn huyết tuyệt mùa, lùa điêu linh chìm cõi cho tan nát tang hồn, vùi chôn thể phách. Tất cả chúc hoài xuống một bi thu phù mộng bông máu mê đường, trải qua vô lượng thu huyết lũ. Từ đó xương máu rung lên lời kinh tàng tịch, ngút ngàn sâu thẳm tâm thu.”

  1. Tuyệt Huyết Ca Hòa Âm Thấm Hồn Vạn Đại

Tiêu Dao Du là khúc hát tự do, tự tại của Trang Tử, Thảo Am Ca là bài ca đã về đã tới vườn tâm thanh tịnh, an yên của Thạch Đầu Hy Thiên hay Phóng Cuồng Ca là khúc hát tiêu sái, thoát tục của Tuệ Trung Thượng Sỹ và đặc biệt Tuyệt Huyết Ca của Đặng Tấn Tới cũng hát vang lên tiếng lòng thiên cổ, hòa âm theo các bậc tiền nhân trên thể điệu bi hùng cùng tuyệt:

“Lòng ơi! Mở từng trang tuyệt huyết
Đưa nhau về bến nguyệt vườn sương
Mang mang cát bụi lên đường
Những xương máu cũ phai hường là đâu?
Trăng cổ độ ố màu tang hải
Trải thu phần quan tái vài bông
Nao nao gió giục sang hồng
Rụng bao nhiêu cánh giữa lòng nhân sinh
Nay buổi hội trời xanh sắc lá
Ta cũng sầu mở quá độ chơi
Ghé trong mây trắng môi cười
Một xe cát bụi xô người ra đi”

Xô người ra đi về đâu trong cõi đời mang mang mờ mịt, để cho Ôn Như Hầu sầu ca bi thiết về phận hồng nhan, thục nữ phải rơi vào hoàn cảnh éo le, ngậm ngùi đến não nùng trong Cung Oán Ngâm Khúc.

Rung cảm theo Ôn Như Hầu, hồn thơ Đặng Tấn Tới cũng chuyển sang tiết điệu se lòng song thất lục bát, nhưng Tuyệt Huyết Ca tuy cũng sầu khúc nhưng thăng hoa lên cung bậc tân kỳ, mỹ cảm, hàm dung khổ đau và hạnh phúc, giọt lệ và nụ cười lấp lánh, long lanh hơn:

“Em phai máu điều Lan Lý Huệ
Lạc mê đồ gót xế phần ma
Sương phồn nội phấn nhìn ra
Ngàn xanh xa ngút bóng tà nhân gian
Ta dừng lại bên đàn Lưu Huyết
Rót linh hồn xuống huyệt trăng khơi
Hãy ra chơi Cõi Ngoài Trời
Những anh hồn cũ bên đời lưu linh
Nghìn thu trước ai tình xanh mắt
Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương
Cùng nhau về tụ đầu sương
Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa”

Thi sỹ thấu thị nhân sinh, có con mắt: “Nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” như đại thi hào Nguyễn Du, nên đồng cảm nỗi khổ niềm đau thống thiết của kiếp con người, của thập loại chúng sinh, những hào sỹ hùng tâm tráng khí, những tài hoa trác tuyệt xưa nay:

“Ai bước vội bên ngàn gió thẳm
Ai buồn lay trên dặm lau khô
Lênh đênh ngoài biển nhấp nhô
Và ai trên nẻo mơ hồ hàn giang?
Người vưởng vất tận hang cùng cốc
Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương
Máu khô thịt nát bên đường
Rợn màu tinh huyết đò dương đắm chìm
Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh
Vùi đó đây từng mảnh thân non
Đất bay đá chạy chi còn
Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh”

Sầu khúc thê lương, rờn rợn máu, nước mắt rồi cũng phôi pha và trôi qua nghìn mùa lao đao khổ đế, để phục hồi trên mặt đất hoang tàn những đóa hoàng hoa rực rỡ, bừng lên ánh nắng reo vui, chim cá ca ngâm giữa mênh mông sông núi rạng ngời:

“Vui lăn lóc theo bầy chim cá
Ca ngâm tràn lan má liên môi
Bao nhiêu thị vọng quy hồi
Còn trong biển lục chỗ ngồi nước xanh
Xa xăm quá tinh thành sao tới?
Hỡi người ơi vời vợi sầu thương
Chiêu ca một độ lên đường
Gọi hồn vô trú du phường trăng chơi
Non nước cũ rạng ngời sông núi
Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây
Nước trôi mây cuốn chưa đầy
Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng”

“Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây” là một câu thơ xuất thần, chứng tỏ thi sỹ đã thấy ra cái tinh túy, cốt tủy của thi ca. Thấy được như thế, nên thơ về mở lễ hội hân hoan đón mừng Nàng Thơ hay Người Em Nguyên Thủy mà bấy lâu nay mãi hoài trông ngóng, đợi chờ mong:

“Xưa lễ hội mơ màng nghiêng bóng
Bao nhiêu chiều ước vọng chưa xanh
Nay ta mở hội lá cành
Người em Nguyên Thủy đạp thanh phương nào
Về đây ngát sương sao dạo khúc
Đàn tơ xanh phổ lục từ bi
Cỏ cây bến rạng lâm ly
Trăng hoa một độ xuân thì mang mang
Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng
Bàn chân không lùa sóng vô biên
Ta đi dạo khắp cõi miền
Này là phố thảo kia triền xóm hoa”

Với cây đàn Trí tuệ tương tri, thi sỹ dạo lên những tình khúc Từ bi tri ngộ đầy sáng tạo, vào ra suốt sớm trưa chiều vang tận “Chín từng thanh khí chói lòa hào quang.” Trong bầu không khí kỳ diệu, chiếu sáng, lấp lánh ánh thanh tân của buổi hồng hoang, khai thiên lập địa ấy, ta với người, anh với em hồi sinh trong buổi bình minh của nhân loại “Ôi trái đất còn non không tuổi. Lòng ta vui như núi long lanh.” Hạnh phúc nhất là được cầm bàn tay em cùng: “Đi về một mạch đường thanh” rất thong dong, thân thiết:

“Nghiêng đôi nhánh liễu dương làn tóc
Hé đôi môi hồng ngọc bờ hoa
Mắt soi dịu ánh dương hòa
Chín từng thanh khí chói lòa hào quang
Trang tái thế trần gian mới mở
Ta với người hồn vỡ nguồn cơ
Mới hay trăng nước đường tơ
Từ xưa reo sáng trong giờ hồng hoang
Ôi trái đất còn non không tuổi
Lòng ta vui như núi long lanh
Đi về một mạch đường thanh
Bàn chân tân ước bước xanh da trời”

Tuyệt Huyết Ca là bản trường ca đầy chất nhạc và thơ, xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vào khoảng năm 1972 gây xôn xao giới văn nghệ sỹ thời bấy giờ, bởi tiếng thơ xuất thần rung ngân thật độc đáo. Đấy là thời kỳ văn nghệ Miền Nam rực rỡ nhất với những thi sỹ thượng thừa như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Phạm Thiên Thư, Tường Linh, Trần Xuân Kiêm, Huy Tưởng, Nguyễn Tôn Nhan, Phù Hư, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Nguyễn An Đình, Trần Tuấn Kiệt, Trần Đới, Nguyễn Bắc Sơn… Nhà văn Mang Viên Long, bạn thân thiết Đặng Tấn Tới đã viết một bài bình luận dài về thi phẩm này:

“Thi phẩm Tuyệt Huyết Ca gồm 27 đoạn thơ song thất lục bát, tất cả 108 câu thơ, chung quanh một nhan đề chính đã được chọn. Sử dụng lối thơ cổ truyền Việt Nam để diễn tả những khúc ca máu hồng tuyệt vời của dân tộc.

Đặng Tấn Tới đã dồn hết rung cảm tích tụ kỳ diệu bao năm giữa “ Trăng cổ độ ố màu tang hải. Trải thu phần quan tái vài bông” trong cảnh tượng đời sống ghê khiếp như ma quái “Người vất vưởng tận hang cùng cốc. Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương” vào thời gian được ghi nhận là biến loạn nhất trong hai mươi năm chinh chiến…”

Điệu vần song thất lục bát cổ điển mà viết tuyệt hay, truyền đạt được sự rung cảm tận tâm hồn sâu thẳm như thế này, duy chỉ có tài hoa, thi sỹ thượng đẳng Đặng Tấn Tới mới viết được mà thôi, như Tơ Vui:

“Tiêu dao dạo qua đồng bông trắng
Rạng hồn thâu đời nắng lừng vang
Lá hoa rung lại đôi hàng
Nghe triều thiên nhạc dâng tràn cao xanh
Vang vang tận mong manh làn gió
Trầm trầm xô ngàn cỏ sau sương
Ruổi rong chín nẻo lạc phường
Giang hà ơi một thoáng hương mơ hồ
Ta cũng đủ tung hô vạn đại
Ta cũng đành vin hái tơ vui
Trao ai đóa sáng ngậm ngùi
Một hôm trời đất ngủ vùi trên tay
Trong nửa chớp đầu mày cuối mắt
Trăm muôn đời lặng ngắt sau non
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ”
Hôm trẩy hội trao bờ một lá
Còn hôm nay màu má như mơ
Đêm đêm sương trắng sang bờ
Làm sao ta biết được giờ nào vui
Lòng trong hội trong vùi trong tịch
Đời trong đời ngấn tích phiêu nhiên
Nước trong nước bước vô biên
Tay trong tay nắm một miền tuyệt không
Vườn mây lộng mênh mông sương tụ
Suối xanh reo thường trụ xuôi ta
Non thiêng nước biếc đâu là
Chân vui đạp dặm hồn hoa mở dồn
Thâu tất cả càn khôn một ngáp
Cười mang mang vạn pháp đầu sương
Đất thơm ta hãy lên đường
Máu reo bát ngát trùng dương tinh huyền”

  1. Khai Mở Nguồn Thơ Tuyệt Mỹ Thi Thiên

“Ta cũng đủ tung hô vạn đại
Ta cũng đành vin hái tơ vui”

Vâng, thi sỹ lang thang qua mặt đất không lời, không nói năng chi. Chỉ im lặng, vô ngôn để cảm nhận trọn vẹn, thấu triệt tuyệt đối cái linh khí của vũ trụ và nhân sinh, cái tinh túy thi ca Chân Thiện Mỹ, cái nguồn mạch tâm linh thần cảm, chạm mặt hạnh phúc lẫn khổ đau, thấu thị lẽ đất trời…

Thời kỳ đó, anh có đi dạy học trường Bồ Đề Đập Đá tại quê nhà Bình Định một thời gian, lập Thư Quán Hoàng Hạc để mưu sinh. Lấy Trang Tử, Lão Tử, Kinh Dịch, Kinh Phật, Thiền làm sách gối đầu giường. Anh dầm mình trong thế giới Thi ca Tư tưởng, kết bạn với các Thiền sư, đạo sỹ, ẩn sỹ Đông phương, dạo chơi với các triết gia, thi sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ Tây phương…

Đồng thanh tương ứng, anh tiêu hóa rất nhanh và biến thành máu huyết, tinh túy rạt rào, trào tuôn trong lòng rỗng rang của anh…Để từ đó mà dấn bước trên con đường thênh thang sáng tạo, khai mạch suối nguồn Thi Thiên, mở ra cảnh giới vô ngần Bất Tuyệt:

“Ngồi bên hương ngát trang đời
Mở vài bông vắng lặng trời lâm ly
Bao la bến cỏ xanh rì
Niềm vui trút mộng ra đi phương nào
Bước trong buổi hội tâm bào
Nghe xương máu vọng tơ đào nguyên xưa
Thời gian thôi chẳng bao giờ
Trần gian bất tuyệt bây giờ là đây”

Bây giờ là ở đây, là thực tại hiện tiền. Cái thực tại mà Krishnamurti gọi là cái Đang là luôn luôn mới lạ, cái sát na vĩnh cửu. Thi sỹ nhắc nhở chúng ta hãy sống trọn vẹn, chú tâm vào cái Đang là này trong từng sát na, từng hơi thở để nghe Nhạc Trời:

“Đời vui ta cũng ra đi
Một chiều ngất hạn bên ly sóng trời
Xanh xanh một sớm vườn chơi
Tạ màu hoa cỏ bên người bao dung
Trao vào mộng thắm không trung
Gởi sầu tro bụi vô cùng thời gian
Ta đi chẳng đến trên đàng
Lá xanh ngần mãi tơ ngàn ngao du”

Đó là cuộc đi, cuộc lữ trong cõi giới Nội Tâm, cuộc ngao du, phiêu bồng giữa vườn Lòng mênh mông của thi sỹ, theo thể điệu Henry Miller:

“Chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất mà thôi, đó là đi vào bên trong tâm hồn sâu kín, thăm thẳm trong lòng mình và đi vào giữa lòng mình thì thời gian, không gian, ngay đến hành động cũng không quan trọng chi cả.”

Đi mà không chỗ đến là bước đi kỳ cùng ngay giữa thực tại của chàng trai Ngoài Ba Mươi Tuổi Vui Chơi:

“Ba mươi mấy tuổi bây giờ
Mất đi thơ dại chẳng ngờ về đâu
Sầu chung chưa ráo máu đầu
Đứng đi lênh láng trang màu thanh thiên
Một năm mở mấy cuộc điên
Một đời bày mấy trận tiền biển dâu
Trăng sao chơi với thương sầu
Đường xưa im bóng đọng màu tà huy
Gió mây thao thiết mộng gì
Ngoài ba mươi tuổi bước đi không cùng
Hẹn hò trong hội vô chung
Câu thơ sẽ thở lên khung trắng hồn”

“Một năm mở mấy cuộc điên” cho vui, vì cuộc điên ở đây là thể điệu phiêu nhiên điên chơi theo kiểu Thơ Vô Tận Vui Bùi Giáng:

“Anh điên mà vui vẻ thập thành
Còn các em tỉnh táo mà đành buồn thiu”

Đặng Tấn Tới cũng có máu điên điên như Hàn Mặc Tử:

“Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”

Điệu vui vẻ, rỡn đùa, điên chơi với nàng thơ trinh trắng “Hẹn hò trong hội vô chung” giữa tuế nguyệt man thiên, tuyệt cùng phương nao kỳ ngộ Bao La Kim Cổ:

“Năm nay mùa cỏ xanh tươi
Vui về bên núi em cười sau nương
Đêm đêm trăng sáng nẻo thường
Hồn thơm lá cỏ du phường sương hoa
Bao la kim cổ môi òa
Cùng ta hợp hội tấu hòa thiên nhiên”

  1. Như Bùi Giáng Nhập Hoan Hỷ Địa

Giữa trời trăng sao muôn thuở, thi nhân cùng nàng thơ “Vui về bên núi em cười sau nương” thật vô cùng đẹp đẽ. Một vẻ đẹp như thơ như mộng, bồng tênh sương khói ảo huyền, thiết tha cùng muôn loài vạn vật hòa âm trên cung bậc ngân rung vô lường Thương Cảm:

“Trời xanh xanh thẳm nơi đâu
Hồn xanh xanh bất tuyệt màu thời gian
Nghìn năm mây trắng dư vang
Giọt sương thương cảm lạnh tràn hư không”

Một niềm thương cảm giữa “Hồn xanh xanh bất tuyệt màu thời gian” đó, thi nhân bất thần nhập vào cảnh giới Hoan hỷ địa như Bùi Giáng nên nhảy múa hát ca Ta Vui:

“Sáng nay nằm giữa gió vàng
Hoa lá cỏ đỏ xanh tràn vườn không
Tâm ơi mấy sợi mây hồng
Đưa ta đến bến phiêu bồng chờ mong
Máu phai còn lại mấy dòng
Ta vui cạn rót xuống lòng bao la”

Trận hân hoan vang dậy tiếng cười ngây ngất giữa nhân sinh trường mộng, không còn phân biệt đây là thực hay mộng, nên thi nhân lịm hồn Chiêm Bao Trời Đất:

“Hỡi ơi! Trái đất chiêm bao
La đà sự thật trăng sao trên trời
Hay là mặt đất đùa chơi
Núi cao ngây ngất trận cười tràng giang”

Trận cười tràng giang, đại hải vang dài hòa chan, trộn lẫn vào cuộc thơ, cuôc mộng, cuộc hư huyền huyễn hóa hay cuộc chiêm bao mơ màng chi chi đi nữa, đối với thi sỹ thì tất cả đều diệu dụng, dung nhiếp một cách Nhiệm Mầu:

“Ca ngâm nhạt sắc cầm chương
Sóng thu vàng chảy phấn hương ra nguồn
Lạnh trời phơ phất tiếng chuông
Bờ hoa lá cỏ phai buồn sóng xanh
Người về quê trắng tan canh
Bàn chân vân bước qua ngành biển dâu
Lửa hương trao gió nguyện cầu
Đóa lòng thanh lặng nhiệm mầu ánh vui”

Khi thấy được “ánh vui mầu nhiệm” là tâm hồn thi nhân đã huyền đồng cùng Lòng Vạn Vật, Tâm Đất Trời, rực ngời ánh sáng lẽ thật Chân Như và hoát nhiên bừng tỏ ngộ cảnh giới huy hoàng, mới lạ Hoa Nghiêm giữa thiên thu vạn đại diễm tuyệt Huyền Nhiên:

“Không còn mây đâu còn đây
Đi trong vạn đại giữa giây sấm huyền
Bước vui bỏ hội thôi thuyền
Lên Đồng Tâm rạng ánh truyền Chân Như
Ra về biệt dạng thanh hư
Trăng trong sóng lộng môi cười viên dung”

Viên dung là viên mãn, một trạng thái trọn vẹn, tròn đầy nên hồn nhiên reo cười dưới trời trăng trong sóng lộng và cùng hát bản Bát Nhã, ca khúc Đại từ Tâm:

“Lá hoa chớp lộng không thì
Sáng bao la đóa huyền vi tâm vàng

  1. Thấy Trong Bọt Nước Chở Màu Thiên Thu

Chỉ một chữ Tâm thôi mà thiên kinh vạn quyển từ xưa đến nay, diễn giải chưa xong. Muốn hiểu được Tâm là gì, chúng ta phải đọc lại toàn bộ kinh điển Nguyên Thủy, Đại Thừa…Thôi thì, ở đây thi sỹ chỉ cần cảm nhận Thu Vô Cùng:

“Xôn xao nắng bướm qua cầu
Dưới sông bọt nước chở màu thiên thu”

Thấy được màu thiên thu trong một bọt nước là một cái thấy của con mắt Thiền, đã trực ngộ được cái mà thi sỹ Wiliam Blakrle đã từng thấy:

“Thấy thế gian trong một hạt cát
Và bầu trời trong đóa hoa rừng
Nắm vô biên trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu giữa giờ phút trôi”

Thi sỹ Đặng Tấn Tới một lần kia hoát nhiên thấy được “Dưới sông bọt nước chở màu thiên thu” là thấu rõ chân lý Nhất nguyên, Bất nhị, Phù du là Vĩnh cửu, Sát na là Thiên thu, Một là Tất cả mà trong Thiền tông thường hay nói đến. Cho nên, từ đó nhìn toàn thể cuộc đời đều cảm nhận ngây ngất trước Vô Biên Môi Cười:

“Sương rơi ngời rạng mãn thiên
Mấy trường đình lộng vô biên môi cười
Bây giờ ngây ngất trận chơi
Nói cười giữa cuộc con người lá lay
Khôn hàn vàng bước thu bay
Đi vào trùng ngộ lộ bày bạch vân
Bước ra một bước tần ngần
Cuối đường kia đã có lần phôi pha
Non phơi ánh bạc giang hà
Buồn theo mây nước ướt tà mắt xanh”

Thấy được chân tướng “vô biên môi cười” nên “đi vào trùng ngộ” cái bản lai diện mục của mình rồi. Vì thế, thi nhân thanh thản Về:

“Ta về ngọn cỏ reo xanh
Bến thành mây dựng long lanh nước trời
Tay lùa vô lượng thơm tươi
Chân vui mở lối đưa người bao la
Hồng trần thoảng giấc hương qua
Một hơi thiên cổ lạnh nhòa thu không”

Trên đường trở về, sau cuộc lữ phiêu bồng, còn nghe vang vọng những bước Hành Ca:

“Ba mươi mốt tuổi vui chơi
Theo trời đất mộng con người mang mang
Trăng đi đâu hết con đàng
Gió xanh chưa thổi cuối làn vi vu
Máu không không cả hư phù
Ai trong giọt giọt dòng thu tiếp dòng
Lượng trời mây nước tươi trong
Ta yêu không cả những lòng mai sau”

Bước độc hành ca vẫn đi theo nhịp điệu phiêu nhiên lục bát giữa đôi bờ sinh tử, hát khúc nhạc tương ngộ, tương tri Thi Thiên:

“Một mùa trái đất xanh xanh
Chở ta đi dạo mấy thành lửa mây
Thả thơ thanh thảo lừng bay
Trao về Tri Ngộ đôi ngày trần gian
Gởi qua Sinh Tử hai hàng
Bây giờ lục bát vỗ tràn lục ba
Đất trời hội mới gieo hoa
Cảo thơm lá cỏ mở tòa thi thiên
Bước chân vân thủy lên miền
Tiêu dao du xứ như nhiên phiêu bồng”

  1. Trúc Biếc Miền Tiêu Dao Vô Sở Trụ

“Bước chân vân thủy lên miền
Tiêu dao du xứ như nhiên phiêu bồng”

Phiêu bồng qua chơi bên miền Trúc Biếc cõi Tiêu dao du theo cuộc lữ Vui Chơi:

“Giữa đời chơi cuộc lữ
Đầy vơi lòng vui qua
Lửa thiêng huyền diệu xứ
Sáng hết mặt mày ta”

Giữa muôn trùng cuộc lữ, rong chơi lêu lổng, không chỗ trú cư, thi sỹ theo Trang Tử bước Tiêu dao du qua những cảnh giới huyền diệu xứ, rực ngời lửa thiêng, hiện rõ mặt mày sáng tỏ ngời chân diện mục trong cuộc Tử Sinh:

“Lăn hòn đất vô sinh
Vào ra lòng bất tử
Ôi nhật nguyệt vong tình
Ta còn ư! Mất ư!”

Mất hay còn, bây giờ đối với thi sỹ thì cũng chỉ là một cuộc chơi giữa Lòng Vũ Trụ:

“Vũ trụ hơi còn nóng
Lòng chưa dứt phong thi
Đất dâng tràn thanh khí
Trời vẫn thắm vô vi”

Trời đất tràn đầy thanh khí nên cứ mặc sức Thở Khoan Khoái:

“Thở khoan khoái đây rồi
Vào ra riêng có thôi
Thở tan hoang gốc ngọn
Tròn một bước xa xôi”

Rồi chiều phiêu dật đi vi vu Thu Thủy Thi:

“Chiều kêu trong khóm trúc
Tiếng lòng không vi vu
Sông xa tràn ánh lục
Trời rong chơi nước thu”

Trúc Biếc là tập thơ thứ 5 (1974) gồm 60 bài tứ tuyệt ngũ ngôn. Hồn thơ vẫn hoài trôi chảy theo suối tình yêu thương muôn thuở, mới mãi từng Phút Giây:

“Ta với người phút giây
Sương mai reo nắng dậy
Mới nghe và vừa thấy
Tình vạn thuở thơ ngây”

Tuy gặp nhau giây phút thôi nhưng người với ta đã là Tri Âm:

“Ngàn xa không trông được
Thấy nhau màu tâm tư
Bao la nguồn thiên tứ
Rào rạt tiếng thơ người”

Xa xôi hay gần gũi đều gặp nhau ở đây, bây giờ, ngay Hiện Tiền:

“Thở qua hơi người mới
Hồn cũ thấy nhau đâu
Đất trời thương ai đợi
Chơi trò không trước sau”

Không trước, không sau, chấm dứt ý niệm nhị nguyên, vô phân biệt thì mọi vọng tưởng đều vắng lặng, đó là lúc Tan Vọng:

“Bao nhiêu lời chưa tới
Đưa tay gió lạnh tràn
Chứa chan lòng vạn đại
Một tiếng vọng rồi tan”

Khi mọi tiếng ồn ào, động tịnh, chơn vọng đều tan biến thì vạn hữu trở lại trạng thái Như Như:

“Rồng rắn nước non chơi
Vỗ trời xa cả cười
Mắt tàn tro vẫn giữ
Niềm thanh lặng như như”

Tuy như như bất động mà thi nhân vẫn Hòa Vui:

“Cát bụi vui hòa ấy
Cho ta tình đắm say
Còn đây lòng mở thấy
Trời xanh mây trắng bay”

  1. Diệu Kỳ Người Em Nguyên Thủy Đi Về

May mắn, hy hữu thay! Người Em Nguyên Thủy hay Nàng Thơ tuyệt sắc giai nhân trong Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca ấy, thi nhân đã có cơ duyên diện kiến và thiết tha hồn rúng cảm từ buổi gặp đầu tiên, nên liền cảm tác làm Thơ Tình:

“Nắng mưa thấm đẫm tâm tình
Yêu em gió sớm vẽ hình trăng thâu
Đời thường bỗng lạ bên nhau
Ngấn sương trước sáng ngàn sau sóng cành
Yêu em hạt bụi long lanh
Con đường nho nhỏ vòng xanh đất trời
Dòng thơ trôi cuốn không lời
Là lời giây phút rót mời đang khi
Yêu em mặt đất cùng đi
Mặt trời giữa ngực thầm thì suối hương”

“Yêu em” là một điệp từ, dù có tụng ca đến cả nghìn lần cũng không diễn tả hết được tâm tình sâu thẳm của thi nhân dành cho nàng thơ kiều diễm, thùy mị Duy Khương hay còn gọi Thanh Ngọc Lan – Một đóa Ngọc Lan ngát hương thanh khiết, tuyệt vời của thi sỹ.

Yêu em mặt đất cùng đi với mặt trời, dìu nhau về ngồi bên lò Lửa Bát Quái:

“Ba ngàn thế giới cầm tay
Trao nhau một chiếc vòng này nhớ cho
Đời nay dẫu có lắm trò
Vẫn còn hơi ấm bên Lò Lửa Yêu”

Bát quái là 8 quẻ âm dương trong Kinh Dịch. Bát quái có liên quan đến triết học Thái cực và Ngũ hành, được ứng dụng trong Phong thủy, Địa lý, Thiên văn học, Chiêm tinh học…Ở đây, thi sỹ muốn nói đến lửa âm dương của tình yêu diệu kỳ đã thắp sáng bừng lên như ngọn lửa hồng, nhân ngày trọng đại, hai người làm lễ cưới nhau Mười Một Tháng Chín:

“Soi gương vấn tóc một mùa
Vẻ xanh còn nở hoa mưa đến giờ
Bụi trần trải hết lòng mơ
Sóng thơ bất tuyệt hôn bờ thương yêu
Nắng sương thấm đẫm bao chiều
Sớm thăng hoa cảm thấu nhiều trang khuya
Còn nhau trong bước đi về
Rượu-Bao-La đủ môi kề lượng vui

Em yêu cả Mộng Thơ Đời
Yêu em trẻ lại thơ ngời sương hoa
Lạnh nồng em đến cùng ta
Tiếp vui trùng cửu rượu hòa cúc hương
Ngày nào vấn tóc soi gương
Theo trang sách bước chung đường mang mang
Giờ nghe lại nhạc mưa ngàn
Lòng reo hội mới ngân vang tơ trời
Bên nhau bày sẵn mấy lời
Bồi hồi nhịp cốc hát mời tình xanh”

“Bồi hồi nhịp cốc hát mời tình xanh” rót tràn đầy ngày hôn lễ, đầy tràn cả nhật nguyệt, thiên thanh vào khoảng năm 1971, tại Hoàng Hạc Thư Quán giữa mùa trăng vàng An Nhơn cố xứ…

Ngày trọng đại đó, thi sỹ còn lưu lại bút tích:

  1. 9 Nhâm Ngọ
    Tặng Duy Khương

“Đã từng lúc ngọt mềm hoa cỏ
Có nhiều khi giọt nhỏ đồng tâm
Trải cơn nắng dãi mưa dầm
Chung đường vai gánh nợ tằm đa mang

Đời lấp lánh bụi vàng trang viết
Tình xanh còn bất tuyệt cho nhau
Nghe ra tơ tóc nhiệm mầu
Nhìn vào sáng cả cơ cầu thủy chung

Em nâng chén vô cùng ngang mắt
Cạn cùng nhau son sắt niềm yêu
Này đây lượng sóng dâng triều
Biển ngời chân sóng dập dìu cát vui…”

Đặng Tấn Tới (2002)

  1. Thơ Tình Và Tình Thơ Cùng Nhập Diệu Phiêu Nhiên

Từ đó, Nàng Thơ về, Người Em Yêu Dấu đến, trên bước chân mềm mại, mãi hoài nghe dưới gót ngân vang phím đàn tri âm, tri kỷ. Dáng em đi vừa yểu điệu, dịu hiền vừa quyến rũ, du dương với bao niềm nhiếp dẫn và khơi mở con đường hân hoan sáng tạo cho thi nhân Đặng Tấn Tới. Cả thi phẩm Thơ Tình Và Tình Thơ, gồm 40 bài thiết tha, da diết, riêng tặng: “Em Thanh Ngọc Lan nghiêng soi mình đất hứa. Gánh cùng ta cả Ảo và Chân…” Thi phẩm tâm đắc này, được anh viết ngay trên từng bước song hành theo nhịp tim bổi hổi, bồi hồi Mỗi Ngày:

“Mỗi ngày cát bụi còn vui
Ẩn trong mắt lá cây nuôi ánh trời
Con đường viền cỏ đôi mươi
Bước chân đi đứng bỗng vơi chợt đầy
Nắng lên vẽ đậm vòng ngày
Trăng về tô mượt nét mày non xa
Em cầm ngọn lửa hồng hoa
Đêm tình gió xỏa hiền hòa tóc hương”

Hương tóc em ồ hương Ngọc Lan bay ngạt ngào, thơm ngát cả không gian vàng óng ả, cả Trời Xanh Tháng Chín:

“Thanh hồng điểm ánh sao trong
Bao la trời chở cả lòng yêu nhau
Thời gian nhẹ đến không màu
Thẳm sâu còn lộng biếc đầu nguồn xuân
Những ngày quấn quít đôi chân
Đất đưa man mác thân gần mộng xa
Em về xanh lá chim ca
Cỏ thơm nghiêng tỏa nắng hoa trông vào
Những ngày núi trước hiên cao
Tình thơ không tiếng rạt rào em nghe”

Em nghe rạt rào bao ngày tháng những tiếng lòng thơ réo rắt, cao vút tận trời trăng sao huyền ảo rồi lặng trầm âm ba thư thả Tạ Tình:

“Yêu em hạt bụi phô trần
Giọt sương linh diệu trong ngần biển dâu
Câu thơ nghiêng cánh Phượng Cầu
Như tìm nhau thuở bắt đầu thanh âm
Cung thương dẫu trót ôm cầm
Chạnh lòng thêm nặng gánh tâm cảm này
Tạ tình chợt choáng đêm say
Với em mưa nắng những bay bổng ngày
Niềm vui rất mỏng đầu mày
Còn reo cuối mắt lá cây xanh đời”

Thơ Tình Và Tình Thơ quá đỗi tha thiết, quyện hòa như thế. Đẹp hơn cõi Thiên Đàng hay xứ Thiên Thai nào đó trong truyện cổ tích hay văn chương tưởng tượng…

Phải chăng, đó là bản tình ca diệu thường yêu thương, được sáng tác trong máu lửa và nước mắt, bởi một thi sỹ Đông phương giữa một bối cảnh lịch sử hỗn mang đầy hoang tàn, đổ nát, bị vây khổn trong cuộc chiến tranh tương tàn tương sát, tang thương đầy máu lệ…Thế mà thi nhân vẫn điềm nhiên mỉm được nụ cười tuệ trí, bi mẫn, vô ngần thương yêu và sáng tạo một cách tự tại, tự do…

Có ai trong chúng ta còn nhớ được điều này, như thi hào Hoelderlin đã từng nhớ: “Con người ngụ cư trên mặt đất như một thi nhân.” Vâng, Đặng Tấn Tới quả nhiên là một thi nhân đích thực, một thi sỹ bi tráng đi về trên mặt đất trầm trọng và đau thương này, để cất lên tiếng ca chân thiện mỹ Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca, Trúc Biếc, Tâm Thu Kinh, Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn đầy hào quang bi trí rạng ngời. Vâng, chỉ còn lại tiếng hát của thi nhân là bất tuyệt Thiên Thu:

“Trăng bạc gieo tang hồ lạnh bạc
Đường thanh như ý vân hà thanh
Nắm tay máu trút hồn xiêu lạc
Mai bước giang hồ quạnh mắt xanh

Em ơi! Còn có bao giờ buổi
Em của ta hề thanh thủy ba
Ôm đuối hồn đau kề chín suối
Ta nào sống được hết đời xa

Thôi em! Lạnh gót trùng lai ấy
Xô đẩy chi nhau đắm mái đầu
Mưa cửa thiên thu mù lá dậy
Nói cười nhưng nói được chi đâu!”

  1. Một Đêm Nhớ Đời Với Đặng Tấn Tới

Giữa muôn trùng cuộc lữ, du sỹ phi vó ngựa sắt phiêu bạt giang hồ đi xuyên Việt, xuôi ngược Bắc Nam nhiều chuyến rồi. Có một chiều phiêu lãng, khoảng năm 1996, du sỹ phi ngang qua thị trấn An Nhơn, Bình Định thì trời xế bóng tà huy, du sỹ chợt nhớ Đặng Tấn Tới ở đây, nên liền tạt vô nhà thăm thi sỹ…

Cuộc viếng thăm bất ngờ, nhưng anh vẫn hoan hỷ tiếp đón, không phải bằng trà mà bằng rượu Bàu Đá. Nhà anh là Thư Quán Hoàng Hạc duy nhất ở vùng thị trấn xa mù ấy. Phu nhân là chị Duy Khương-Thanh Ngọc Lan dịu dàng, hiếu khách, niềm nở mời bữa cơm chiều. Đó là bữa cơm đạm bạc, tuy chỉ có rau lang luộc, cá kho và canh bầu thôi nhưng là một bữa cơm ngon tuyệt nhất trong cuộc đời du sỹ, vì cả ngày nhịn đói, nhịn khát chạy rong ruổi, lang thang khắp vùng ngoại ô Quy Nhơn…

Cơm nước xong, anh dẫn xuống nhà thi sỹ Nguyễn An Đình thăm chơi và tối đó, tiệc rượu Bàu Đá được bày ra ngoài sân vườn cây Sung, cùng cụng ly túy lúy cho đến tàn khuya, đúng nghĩa theo một câu thơ Tuệ Sỹ: “Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…”

Vừa lai rai vừa kể chuyện Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, chuyện Hàn Mặc Tử và tất nhiên chuyện Bùi Giáng. Nhắc đến Bùi Giáng thì anh cao hứng đứng bật dậy đọc thơ liền:

“Ông nói những điều chẳng nói sao
Có vì vui rất mực chiêm bao?
Từ năm Gia Tĩnh hai em gái
Lễ đạp hồn xanh máu đỏ trào

Vui rỡn lan man khắp mọi miền
Về trồng cây cỏ đọ vô biên
Hỡi ơi! Chiều gió tràn con mắt
Người múa qua đời mộng đảo điên”

Rồi trong cơn chuếnh choáng, anh đọc tiếp bài Rượu Trăm Năm tặng du sỹ:

“Rượu trời ta uống một ly
Thức rưng rưng giấc vô thì càn khôn
Rượu này ta tẩm một hồn
Men thiên thu thổi chân dồn tịch liêu
Rượu người một cốc tiểu yêu
Ôi trăm năm cháy một chiều máu ta
Em ơi! Đời ướt dương tà
Rượu trăm năm đốt hồn ma tang bồng
Một ly một thuở rồi không
Ly này ly nữa còn trông ly nào?”

Trào dâng một nguồn vui đồng thanh tương ứng, dưới ánh nguyệt rằm lấp lánh trong vườn trăng xanh, du sỹ cũng ứng khẩu đọc bài thơ Túy Lúy Cùng Thi Nhân Đặng Tấn Tới để đáp lễ:

Xế chiều ghé tạt An Nhơn
Thăm Đặng Tấn Tới ngợp hồn thi ca
Mưa Mắt Tình mát chan hòa
Thi Thiên Trúc Biếc tuyệt tha thiết tình

Tình thơ mở cuộc phiêu linh
Ta xin cạn chén rượu Bình Định say
Tuyệt Huyết Ca quá mộng đầy
Một đêm trọn vẹn bắt tay ân cần

Rượu Bàu Đá quá lâng lâng
Vài ly thôi đủ xuất thần trí khai
Hết lòng hết sức cảm hoài
Tâm Thu Kinh cảm hồn lai láng hồn

  1. Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn

Hai nghìn năm đằng đẵng vèo qua trong chớp mắt. Vào khoảng năm1998, anh Đặng Tấn Tới bị bệnh nan y, phải vào Sài Gòn chữa trị. Vì phải thường xuyên khám bệnh, nên phu nhân anh đưa anh vào Sài Gòn ở với các con, để thuận tiện cho việc chữa bệnh. Thế là anh chị đành giã từ vườn Bonsai, giàn Phong Lan và Thư Quán Hoàng Hạc ở quê nhà với bao nỗi sầu ca, ngậm ngùi… Tuy căn bệnh trầm kha đã đến gót chân rồi, nhưng hồn thơ Đặng Tấn Tới vẫn chất ngất tận đến Ngày Sau:

“Đi vào mây nước thẳm
Còn hạt cát vu vơ
Ngày sau ai nắm được
Cảm thật đến ban sơ”

Ở đây, thơ chuyển sang cung bậc Thiền. Mỗi thân phận người là một hạt cát vu vơ thôi. Rồi tùy theo duyên nghiệp mà trôi chảy, bay qua muôn trùng nhật nguyệt, thiên địa giữa trùng trùng duyên khởi mà “Đi vào mây nước thẳm.” Để ngày sau hay ngàn năm sau nữa, tái sinh lại làm người, có nắm được, cảm được cái thuở ban sơ, cái nguyên ủy tự bao giờ? Thơ thiền chỉ nêu ra, gọi ý, hiểu sao cũng được mà không hiểu thì cũng là Thơ:

“Câu thơ
Thở hơi thiên cổ
Có gì đâu”

Có chi đâu phải không, vì bước đi của thơ là Đường Vui:

“Đi dạo
Quên ráo
Đường”

Đường không đường, không lộ. Đó là diệu pháp của Đạo hay Yếu Nghĩa:

“Trời sao
Chẳng là gì
Đạo”

“Đạo khả đạo phi thường Đạo” Lão Tử đã nói thế. Krishnamurti thì phát biểu dễ hiểu hơn:

“Cái mà Phật gọi là Niết Bàn, Chúa gọi là Thiên Đàng, chính cái ấy tôi gọi là Cuộc Sống.

Cuộc Sống không gì tốt đẹp hơn là Tình thương. Người có Tình thương mới thực là Tâm Đạo, vì Đạo chân chính, không dựng trên tín ngưỡng, giáo điều. Người có Tình yêu thương mới thực có Đạo Tâm, dù thương một người hay thương nhiều người. Tình thương là cái hiện tiền, cái tột cùng, cái không thể đo lường được…”

Tình yêu, Tình thương là điệp khúc, là bản trường ca miên viễn, bất tuyệt của thơ mà sứ mệnh người thi sỹ sáng tạo phải giữ gìn, xiển dương, làm cho phục hồi, sống dậy mãnh liệt, ý lực bừng lên huy hoàng, sáng suốt, tuôn trào vô lượng, vô biên…

Hãy đốt hồn thơ thiêng liêng, cháy rực ngời ngọn lửa cảm xúc, rung động thiên thu, để nghe nhịp thở bồi hồi giữa bầu khí hậu thanh tân, phấn chấn, hân hoan, yêu đời trong tiếng hát Đại bi tâm, như thi sỹ Saint John Perse phát biểu, trong buổi lễ tiếp nhận giải Nobel, năm 1960 tại Thụy Sỹ:

“Người thơ đã có trong con người ăn lông ở lỗ, người thơ vẫn sẽ có trong con người thời nguyên tử, vì người thơ là một phần tử bất khả phân của con người. Chính từ sự đòi hỏi của Thơ, của Tâm, làm phát sinh tôn giáo và nhờ duyên thơ mà tia lửa thiêng sống mãi trong khối đá người. Khi mọi thần thoại sụp đổ hết thì Thơ là chỗ ẩn cuối cùng của cái tối linh.”

Cái tối linh, tối thượng đó chính là nơi chốn mà thi sỹ Đặng Tấn Tới đi về thở nhẹ khói vô vi, khi thấy Đạo nằm ngay trong đời sống thường nhật…

Thơ thiền là vậy, gợi ra cả một thế giới mênh mông trong một hạt bụi, trong một giọt lệ, một nụ cười hay trong một đóa hoa Thược Dược mà nhà thơ Quách Thoại đã thấy:

“Đứng yên bên hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Sực nhìn em kinh ngạc
Vừa thoảng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu”

Chỉ một đóa hoa thôi, qua cái nhìn của thi sỹ thì quá mầu nhiệm như thế, huống chi là thấy một con người phải không? Đặng Tấn Tới cũng biết như vậy, nên rất trân trọng những giây phút Còn Nhau:

“Chút lòng trong cát bụi
Sáng ngoài hương cỏ cây
Đêm trăng tơ mền núi
Ta còn nhau ngắm mây”

Biết còn bên nhau ngắm mây, nhìn trăng, uống trà là còn cảm được Trời Đất Như Thơ:

“Không đề trang tịch mặc
Vút cánh thu long lanh
Suối để trời trong vắt
Lòng thơ đâu nước xanh”

Thanh thản, an nhiên, cảm xúc thực sự trước lẽ sinh tử là Chút Lòng Đây:

“Cuộc đau chưa dễ hết
Tình vui còn phút giây
Chén hương màu thấm máu
Khuya sớm rõ lòng đây”

Một chút lòng Chợt Cảm với thi sỹ Huy Tưởng:

“Rì rì rêu miết lạnh
Lặng lặng trăng mài xa
Giữa lòng treo núi quạnh
Nóng một bầu mai hoa”

Tha thiết với Nguyễn Tôn Nhan, Ngàn Mây:

“Trắng trưa trời cố quận
Bước qua lòng sang đâu
Thấy nhau làn mây chuyển
Ánh lộng nước không màu”

Và đặc biệt hơn nữa, bài Gởi Về Thành Gia – Tặng Nguyễn Tôn Nhan:

“Góc chợ thành Gia cách mấy năm
Am Ngu khép mở tưởng mù tăm
Lời im để nặng tình thơ nhạn
Ngày bặt thêm đau tấc ruột tằm
Cuộc lớn vẫn đi về lãng đãng
Thế cùng còn hít thở xa xăm
Hẹn nhau xanh thẳm không đâu đấy
Bước lộng tơ sao rạng ánh rằm”

(Nguyễn Tôn Nhan là bạn thơ, đồng thời là thông gia với Đặng Tấn Tới. Con trai Nguyễn Tôn Nhan cưới con gái Đặng Tấn Tới. Chữ viết thi sỹ)

Với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, Bước Chân:

“Gẫm những cuộc chơi đùa
Chạy dài thiên cổ
Đều để lại một lỗ
Thật to”

Với thi nhân Quách Tấn, Nhân Một Câu Nhắn Gởi:

“Ai đọc thơ tôi mà hỏi thơ?
Thôi thì thơ mộng lửa trời hơ
Đất Quê sớm tối còn hơi ấm
Vẫn lộng Đường Đi điểm sáng chờ”

Đường đi của thi ca từ bao giờ đến bây giờ vẫn Tuyệt:

“Viết viết muốn chẳng viết
Tuyệt tuyệt hóa bất tuyệt
Bao giờ như bây giờ
Tinh hoa hòa tinh huyết”

Tinh cha, huyết mẹ tạo sinh ra Cha Và Con Và… là bài thơ anh dành tặng riêng cho các con mình:

“Các con như chính là ta
Vì ta cũng đã từng là các con
Một dòng máu chạy bon bon
Chỉ tim biết được lối mòn dạ đau
Biển trời nghiêng gánh xưa sau
Cảm thương lặng lẽ một màu thẳm xanh”

Anh cảm thương lặng lẽ Nhìn Con Tập Lật:

“Bấy lâu nằm ngửa ngó cao
Giờ tập nhìn thấp lật ào đi con
Cuộc đời trên dưới xoay tròn
Qua bao điên đảo vẫn còn một Tâm”

Chỉ một Tâm ấy thôi mà hoạt dụng cả cuộc đời thi sỹ và bây giờ, anh muốn truyền cái Tâm ấy lại cho các con mình, như các Thiền sư truyền tâm ấn cho đệ tử vậy.

Thi phẩm cuối cùng Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn có hơn 300 bài thơ thiền như thế. Tuyệt thay! Bài nào cũng rốt ráo mà Đặng Tấn Tới đã làm trong những giây phút xuất thần, nhập thánh, trước khi lên xe tang chạy về thiên cổ, nhà thơ vẫn Thở Nhẹ:

“Ai người tránh khỏi bệnh đời
Bồ tát vì thế chưa rời Đường Đi
Ta dù chẳng đến vô vi
Vào ra thở nhẹ có gì nặng đâu!”

Thở nhẹ nhõm khi đối diện tử thần, thi nhân mỉm cười phất áo ra đi, chiều ngày 27. 10. 2017 (âm lịch) tại nhà riêng của anh ở Bình Thạnh, Sài Gòn. Đó là một chiều Vô Chiêu:

“Đó là tuyệt kỹ vô chiêu
Cũng là tiếng gọi trăng triều nước mây
Thế mà máu chảy nào hay
Từng giây từng phút trao tay Đất Trời
Lý nào thật lẽ gì chơi
Một vòng tròn mãi chẳng vơi chẳng đầy”

Ngày anh lên đường, ly viễn phương qua bên kia thế giới, du sỹ không về kịp, nên trầm mặc, lặng im Niệm Tưởng Đặng Tấn Tới:

Tiễn người thi sỹ lên đường
Qua chơi cõi lạ cuối phương xa mù
Khuất bên kia miền thiên thu
Vĩnh hằng trăng nước giữa phù vân bay

Ra đi gởi lại nơi này
Những bài thơ rất ngất say của mình
Tuyệt Huyết Ca Tâm Thu Kinh
Với Trúc Biếc Mưa Mắt Tình Thi Thiên

Tiếng thơ linh chiếu diệu huyền
Vang trong tâm thức bừng uyên tư nào
Xong rồi một cuộc chiêm bao
Đến đi như thị bước vào như nhiên

  1. Tinh Túy Thi Ca Đặng Tấn Tới

Đặng Tấn Tới là một thi nhân thượng đẳng, một hồn thơ sâu lắng, trầm mặc Đông phương. Hương vị thi ca đầy chất Thiền nhưng cũng đậm đà, tha thiết tình cảm. Anh sinh ra đời, không phải để làm việc quốc gia đại sự hay để cứu nhân độ thế chi chi cả mà chỉ như cánh Hoàng Hạc vàng bay qua cánh đồng rộng, sông dài, nhật nguyệt, nghiêng cánh lướt tiêu dao, dạo cung đàn thiên địa, hát khúc tử sinh trên từng phím tình tự, phiêu bồng, rong chơi và làm thơ mà thôi.

Thơ Đặng Tấn Tới mới lạ, có cách dùng ngôn ngữ rất riêng, rất đặc biệt như đại thi sỹ Bùi Giáng viết trong tác phẩm Thi Ca Tư Tưởng (1969): “Nguồn thơ Đặng Tấn Tới rất đặc biệt. Đọc mấy thi phẩm ông, tôi còn giữ lại một cảm tưởng hiu hắt. Rủi sao, tập thơ ông, tôi bỏ lạc đâu mất, nên không thể dám mạo muội viết nhận định ra đây. Xin một dịp khác.”

Nhà thơ thứ thiệt Nguyễn Đức Sơn thì nhận xét rằng: “Đặng Tấn Tới là một trong bảy, tám nhà thơ nổi bật nhất, trong vòng mười lăm năm nay” (Thư ngày 2. 7. 1969)

Học giả Nguyễn Hiến Lê cảm nhận: “…Thú thật, có bài tôi đọc mấy lần mà không hiểu nổi, những bài nào hiểu thì thường là thích, chẳng hạn bài Thơ Rời, bài Hòa Vui, bài Như Lòng…Thật là đặc biệt, thơ Đặng Tấn Tới không thấy ở các nhà thơ khác thời nay” ( Thư ngày 5. 6. 1974)

Còn Mang Viên Long, nhà văn đã xuất bản hơn 30 tác phẩm, bạn đồng hương, chí cốt Đặng Tấn Tới phát biểu chân tình:“Thơ Đặng Tấn Tới chảy dài suốt 30 năm đều thấm đẫm tư tưởng Phật giáo Thiền tông, nhưng từ lăng kính triết lý đạo Phật, dòng thơ anh soi chiếu một cách vi tế, như nhiên đến các ngõ ngách đời sống riêng chung, từ phận người, quê hương đến vạn hữu…với một phong cách bày tỏ hiện đại, bên cạnh tài năng sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ với nhiều cách tân, nhiều từ ngữ sáng tạo, nhạy bén, gợi cảm.

Dòng thơ nhất quán như một dòng chảy huyền nhiệm, uyển chuyển, tinh khôi, chuyên chở bao ý tình sâu thẳm, thâm thúy. Có bài như câu kệ, công án hay của giây phút thiền quán tỉnh thức xuyên qua những điều giản dị quanh đời sống, như cỏ cây, gió mây, trăng nước. Không gian thơ mở ra bát ngát, dường như gần, dường như xa, nhưng trong cái ảo diệu, linh hoạt ấy, lại có sức truyền cảm, hấp dẫn người đọc lạ kỳ…”

Đi vào thế giới thi ca Đặng Tấn Tới, chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến bàng hoàng khác, bởi anh thường sử dụng lục bát, ngũ ngôn, song thất lục bát để diễn đạt ý thơ bát ngát của mình. Qua cách dùng nghệ thuật biểu tượng, hoán dụ, ẩn ngữ, như chọn từ đặt tên cho mỗi tập thơ Mưa Mắt Tình, Tâm Thu Kinh, Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca đã là một nét tân kỳ, mới mẻ, mới lạ rồi…

Quá độc đáo nguồn Thơ Tình sinh động, nhưng ấn tượng nhất vẫn là mạch Thơ Thiền tuyệt diệu. Điều đó, cho chúng ta biết, thi sỹ đã tâm chứng, cảm ngộ được mật pháp phiêu bồng, ẩn ngữ vô vi, dị ảo của ngôn ngữ thượng thừa, vô phân biệt trí…

Khi thi nhân bất thần cất giọng hát một mình “Tinh hoa hòa tinh huyết” thì có lẽ nhà thơ đã trực nhận Thấy Gì?:

“Hết lời chẳng tới vô ngôn
Thi ca rất mực chân dồn bước chân
Kia kìa rõ cái gần gần
Đuổi chơi chớ bắt cho thần thẩn thơ
Nghìn xưa soi đến bây giờ
Bóng trăng trăng bóng ai ngờ nước xanh
Nên em mới lại vin cành
Thấy gì trong vắt dưới mành mi cong”

Thấy và nghe phát xuất từ Lòng trong trẻo, Tâm thanh tịnh. Đấy là cái thấy sơ nguyên, trinh tuyền vẻ đẹp nụ cười của Người Em Nhân Loại:

“Người Em Nhân Loại còn chơi
Tâm hồn cát bụi rạng ngời cỏ hoa
Bình minh soi thấu trăng tà
Tử sinh hòa nhập Một Nhà Là Đây
Trận cười từ nổi sóng mây
Đi đi ta lại vui vầy trong nhau
Hội mùa môi ghé thơm đau
Còn xanh ngấn tích trước sau không cùng
Em về lộng lẫy bao dung
Đôi điều chưa thốt lạ lùng nghe ra
Trùng khơi mãi gọi giang hà
Triều dâng non nước lời ca giao nguồn”

Nguồn cội giao hòa nhau từ buổi bình minh khai thiên lập địa đến cuổi buổi hoàng hôn, xế bóng nguyệt tà nhân thế lâm ly, thì bất thình lình hiện ra:

“Bình minh soi thấu trăng tà
Tử sinh hòa nhập Một Nhà Là Đây”

Ồ! Ồ! “Một Nhà Là Đây” là cõi Quê Chung mà thi sỹ thượng đẳng Đặng Tấn Tới đã vạch ra cho chúng ta thấy, qua hai nguồn mạch thi ca sáng tạo lung linh Tình thi và Thiền thi thật vô cùng thú vị. Diệu kỳ thi ca là thế. Vậy thì cần chi phải hiểu tinh túy thi ca Đặng Tấn Tới làm chi nữa mà cứ thong dong để lòng mình trong veo, reo hát an lành, thanh lương như Nước Chảy Mây Trôi:

“Nước trôi mây cuốn buồn chăng?
Thưa rằng nước cuốn vui bằng mây trôi
Trời xanh đất đỏ bồi hồi
Dưới trăng đâu chẳng chỗ ngồi một khi
Hết lòng hết sức bước đi
Hỏi là nước chảy hay vì mây bay…”

Tâm Nhiên

Thi sỹ Đặng Tấn Tới và các tác phẩm của anh.

Du sỹ thắp nén tâm hương, tưởng niệm Đặng Tấn Tới, tại nhà phu nhân anh ở Bình Thạnh,, Sài Gòn, sáng 21. 3. 2026

Trương Văn Dân

           Lời ngỏ về tập thơ

             BÀI CA THẾ KỶ 21

                                ( Về thảm họa và các cuộc Chiến tranh )

                                      Canzoniere del xxi° secolo. Nxb Pace  

                                                    (Bản tiếng Ý  – 10.2025)

                                              Bài ca thế kỷ 21 nxb Thuận Hóa 1.2026

          Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”,  tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.

         Cũng trong năm đó, sự kiện Tết Mậu Thân (1968) thì thơ có thêm chủ đề thân phận và nỗi đau của con người trước cuộc chiến. Chừng vài chục bài thơ lẫn lộn được chép cẩn thận trong một tập giấy pelure nhiều màu.. cho đến cuối năm 1971 nó cũng theo tôi qua Ý du học và hơn 40 sau, năm 2008 lại cùng tôi quay về Việt Nam.

           Tất nhiên đó là những bài thơ xoàng, chỉ dành cho một vài bạn thân đọc chứ chưa bao giờ công bố.

           Năm 1973, bài thơ “Vết thương hồng trên cánh chim câu” được hội sinh viên sáng tác ở Paris đưa vào tuyển tập, tiếc là sau đó bị thất lạc. Rồi  khi làm trưởng ban báo chí của Hội sinh viên Việt Nam tại Milano, tôi viết văn xuôi, chỉ thỉnh thoảng mới lạc vào vườn thơ. Có lẽ đến năm 1987 tôi có viết bài thơ cuối cùng rồi vì công việc mưu sinh nên hoàn toàn bỏ bút.

Mãi đến 1994 được đọc truyện ngắn “Những ngày đánh mất” của Dino Buzzati tôi hiểu được ý nghĩa sâu sắc về thời gian, xưa nay cũng là nỗi ám ảnh thường trực của tôi. Xúc động, tôi  liền dịch ra tiếng việt rồi gửi  cho tạp chí Thế Giới Văn ở Mỹ. Bài được đăng và còn được chủ bút khích lệ nên từ đó tôi mới dịch rồi viết, và bắt đầu cầm bút trở lại. Nhưng chỉ viết văn xuôi.

           Tiếng thơ như đã ngủ im  từ những ngày thơ ấu bỗng một hôm thức dậy.

 Thức dậy vì cuộc chiến  Nga – Ukraine!

          Tôi viết về cuộc chiến này nhưng cũng là viết cho quê hương tôi, cho tất cả những cuộc chiến tranh từ trước đến nay ở bất cứ nơi đâu mà tôi đều cảm thấy vô nghĩa.

Tâm hồn tôi đau đớn khi nhận thấy bao nhiêu người đã chết trong cuộc chiến tranh này, với biết bao kẻ bị tàn tật và bao nhiêu gia đình mất nhà cửa. Tự dưng, như đất bằng dậy sóng, hàng vạn con người bị ném vào lò lửa chiến tranh, nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ trở về nhà vì đã biến thành tro bụi. Nhiều người bị tàn tật và hóa điên vì những gì đã chứng kiến.

Hình ảnh hằng ngày trên TV… cùng những bài nhận định về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ ba có thể nổ ra… đã bật trong lòng tôi những câu chữ. Nó giống như con sò đã nuốt nhầm hạt cát làm mình đau phải tự vệ bằng cách đem máu thịt của mình phủ lên và hóa thành các vần điệu “có thể gọi là thơ”. Nó cần thiết như một trị liệu pháp.

 Thơ  hay không thơ, mới hay cũ, cách tân hay không… tôi chẳng quan tâm..  và kết quả là bài thơ  “Thế chiến 12 đoản khúc” ra đời.

 Bạn Trần Ngọc Châu gọi đó là “Tiếng lòng không thể không viết. ”

Sau đó thì những bài “thơ” khác được tiếp tục viết. Nó mở đầu cho những suy tưởng về thân phận con người  trong cõi sống vào đầu thế kỷ 21.

                                              &

 Tôi không viết cho Ukraine hay Nga mà viết cho quê hương tôi, cho các các dân tộc khác đã bị  bằm nát trong thế kỷ này, từ Trung Đông cho đến Châu Á và lan sang cả Đông Âu. Như Iraq, Libya, Afghanistan, Syria, Crimea,…   Màu máu đỏ của nhân loại có khác gì máu đã  mấy ngàn năm từng nhuộm đỏ đất nước tôi?

Nhìn những đoàn người tị nạn với hành trang ít ỏi, áo quần không đủ ấm dưới nắng cháy da hay mưa tuyết…,  tôi không thể không nghĩ đến những thảm kịch tương tự mà người dân nước tôi đã từng gánh chịu.

Nạn nhân đó cũng chính là tôi và  tất cả những người từng bất lực chứng kiến những khổ đau, mất mát… Ukraine chỉ là chất xúc tác để những cảm xúc buồn đau trong tôi lan rộng, nên viết về họ cũng là viết cho tất cả những cuộc chiến đã và đang xảy ra. 

Bởi những hình ảnh chết chóc ở bất cứ nơi nào cũng giống nhau.

Những cái xác bị thiêu cháy thì da đen da vàng da trắng cũng chỉ là một khối thịt hóa thành than. Một sự bình đẳng đến nghẹn ngào và đau đớn!

                                                *

          Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh những đoàn người gồng gánh, địu con chạy nháo nhào khỏi các vùng chiến sự ở quê tôi. Có cụ già héo quắt, đôi mắt hoảng loạn, ôm cái xác trên tay. Có đứa bé thơ day vú mẹ cạn sữa dần, khóc đến khản giọng mà không hề hay biết người mẹ đã chết thảm bên đường di tản.

Trên Tivi sáng nay tôi thấy một người cha đang vuốt ve khuôn mặt  đứa bé gái và nức nở bảo mọi người hãy nhìn xem cháu xinh đẹp biết bao. Cháu như đang ngủ nếu không có tấm vải liệm màu trắng. Trên một góc phố khác có cậu bé đang vật lộn trong mưa dầm mình trên con đường ngập lụt, cõng trên vai thi thể cứng đờ của một đứa em đã chết mà cậu chưa sẵn sàng xa nên không chịu bỏ lại phía sau.

Bỗng dưng tôi thấy trên khuôn mặt đờ đẫn của những đứa trẻ này khuôn mặt của chính tôi, của cả loài người đang quằn quại trong tuyệt vọng

Với lương tâm con người, những gì đang xảy ra ở Ukraine là không thể chịu đựng.  Để duy trì quyền lực, bán buôn vũ khí… người ta sẵn sàng chà đạp lên hàng ngàn xác chết của người già, phụ nữ và trẻ em vì tội lỗi của họ “là người Ukraine”. Cái hố sâu thù hận giữa Nga và họ đột nhiên biến thành một vực thẳm không thấy đáy và có thể sẽ tồn tại trong nhiều thập kỷ, nhiều thế hệ.

Tôi đã khóc. Dù biết tiếng khóc ấy không làm ai no, không xoa dịu được những vết thương. Không an ủi được người đau khổ.  

 Bỗng dưng tôi nhớ đến những cái tên lạ lùng của những đứa trẻ ở quê tôi.  Cha mẹ đặt tên con là gạo, là cơm, là nhà, là xóm, là làng…  với mong ước  lớn lên chúng sẽ có miếng ăn, có nhà để ở, có quê hương nguồn cội.  Các sư cô hay các “ma soeur” còn đặt tên các bé ở các trại mồ côi  là mẹ, là cha, anh, chị … để nó quên đi thân phận mồ côi, bị bỏ rơi hay được nhặt trước cổng chùa. Rồi đến tên các thôn xóm là An Lạc, Phú Hòa, Thạnh Mỹ.. với ước vọng bình an, giàu có, hiền hòa, … bởi chiến tranh đã tàn phá mọi thứ, chỉ còn lại một đống tro tàn.   

           Hơn 50 năm qua, từ khi còn là một thiếu niên mới lớn, đến giờ đã trở thành một người qua tuổi 70 nhưng nỗi đau xưa trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ như một căn bệnh không thể chữa lành.

          Khi một người bị giết người ta luôn tìm hiểu nguyên nhân và truy lùng thủ phạm. Thế nhưng khi có hàng triệu người bị giết thì mọi người lại dửng dưng! Chẳng lẽ không ai là  kẻ sát nhân? Hay tất cả chúng ta đều là đồng phạm vì đã câm miệng, thờ ơ?            

                                                   *

Các bài thơ của tôi viết trong tập thơ Bài ca thế kỷ 21 -Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh với ước mong là thế giới không còn chiến tranh, khẩn thiết kêu gọi mọi người cùng tưới mầm hòa bình, hóa giải mầm mống bạo lực, tham lam và sợ hãi. Vì chỉ do sợ hãi và nóng giận chúng ta mới chế ra bom hạt nhân, vì tham lam và mê muội nên chúng ta sản xuất vũ khí để kích động xung đột. Chiến tranh chỉ đến từ tâm trí chúng ta, nó đến từ sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ rồi tự làm khổ mình và gây đau thương cho người khác.

Chúng ta đang sống trong một thế giới chia cắt và hận thù. Đã có nhiều người đánh mất niềm tin nên trong mùa Giáng Sinh đã đem đặt Chúa Hài Đồng giữa đống đổ nát của một trận bom.

Nhưng xin đừng bi quan mà  hãy lan tỏa tình yêu vì  đau thương và thống khổ đã có quá nhiều trên trái đất này.

Có thể câu chữ vụng về của tôi giống như tiếng gào trên sa mạc, nhưng tôi thiết tha kêu gọi những người có quyền lực và lợi ích hãy chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh.

Tôi ước mơ được làm người, để sống với nhau, sống cùng nhau và sống cho nhau.

 Bởi chiến tranh nào giải quyết được gì?  Hơn 2500 năm trước đức Phật đã  dạy:

                      “Chiến thắng gây hận thù,

Thất bại chuốc khổ đau,

Ai từ bỏ thắng bại,

An tịnh liền theo sau”. (Tương Ưng Bộ kinh, Samyutta Nikàya I-102)

 Và những ai muốn sống an lạc tránh sợ hãi và khổ đau, hãy từ bỏ sát sanh:

“Hận thù tiêu diệt hận thù

Ðời này không thể có,

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật nghìn thu”. (Pháp Cú, Dhammapada, 5)

                                        *

Có lẽ khi đến một tuổi nào đó, chừng 70/ 80 lòng ta đã lạnh, tim ta đã khô, chuyện gia đình xã hội, cơm áo gạo tiền sau bao năm tháng đã  không còn đè nặng trên vai, thơ như lối thoát, như cái phao giúp ta khỏi chết chìm trong biển đời trước khi bay về miền mây trắng?

          Cuối cùng, tôi muốn gửi đôi lời tới những người đã đọc tập thơ này… Xin các bạn đừng quên, dù sao trái đất này cũng là thế giới tươi đẹp của chúng ta, nó xứng đáng được chúng ta đấu tranh để bảo vệ. Thờ ơ trước cái ác và đóng cửa lương tri liệu có phải là một điều không kém phần tàn ác?     

Đời sống là một thiên đường khi chúng ta biết sống với nhau. Được sống trong một thế giới văn minh, trong một nền văn hóa có tình người rực rỡ. Bất kỳ  nguồn gốc chúng ta ở nơi đâu trên trái đất, không phân biệt màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, thói quen hay truyền thống… Chúng ta hãy nắm tay để đi cùng nhau chống lại chiến tranh để không còn ai bị hành hạ hay bắn giết chỉ vì tham vọng của một nhóm người  và tôi tin chắc không có điều gì không làm được khi mọi người đều chung tay hành động 

Cần phải chứng minh là chúng ta đang có phương tiện tinh thần để chống lại sự tiêu diệt nền văn minh.

Chiến tranh chỉ là sự hủy diệt! Xưa nay chưa ai thấy có cuộc chiến nào nhằm khôi phục lại nhân quyền, tự do hay công bằng xã hội mà chỉ là sự tranh giành quyền lực, kẻ chiến thắng là ông chủ mới, chưa chắc tốt hơn ông chủ cũ mà nó vừa đạp đổ.

Cho dù bạn ủng hộ bên nào, bạn vẫn có thể yêu cầu ngừng bắn, thả con tin và ngừng giết chóc cũng như tiếp cận viện trợ không hạn chế.

Trong mọi quan hệ luôn có điều đúng điều sai nhưng tôi nghĩ không có lý do nào có thể biện minh cho bạo lực và chém giết. Sự hung hãn chỉ để phô bày tính yếu đuối của con người, nó chỉ đập phá chứ  không bao giờ  xây dựng được điều gì tốt đẹp. 

Tôi luôn mơ xây một bức tường in các tranh vẽ, bài thơ hay và có chủ đề chống chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới. Đặt bên những bức tượng  ở nơi trang trọng nhất thành phố: Nó nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên những tội ác và đau khổ,  để chúng ta không trở thành nạn nhân trong tương lai.

Chúng ta không thể quên vì sự lãng quên ấy tạo điều kiện cho cái mầm ác trỗi dậy rồi tiếp tục chiến tranh nhân danh những điều tốt đẹp.

Tôi mong các bạn không lùi bước trước cái ác và cùng đứng lên, bên nhau và vì nhau cho đến chừng nào chúng ta còn sống. Nếu bạn còn chần chừ thì xin hãy tưởng tượng  là bạn đang sống bình yên ở một nơi nào đó rồi bỗng nhiên có một quả phi tiễn từ xa bay tới làm căn nhà đổ sập và người thân của bạn đang nằm dưới gạch đá hoang tàn . Bạn không thể chờ được nữa! Hãy cùng chúng tôi góp phần phản đối để ngăn chận chiến tranh trước khi quá muộn

Bạn ơi, nên nhớ rằng chúng ta luôn thuộc về số đông, chúng ta là một sức mạnh to lớn có thể làm thay đổi mọi thứ. “Chúng ta có thể loại bỏ chiến tranh. Chúng ta có thể nấu thép xe tăng, tàu chiến thành tàu du lịch hay gom hết vũ khí trên trái đất đúc thành những chiếc chuông nhỏ và phân phát cho tất cả mọi người, mời tham gia vào một cuộc đại diễu hành vòng quanh thế giới để kêu gọi hòa bình.

 Đồng loạt, đồng loạt những tiếng thơ trong Bài ca thế kỷ 21 – Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh cũng là những tiếng chuông cùng lúc gióng lên, ngân vang trong không gian, truyền đến mọi quốc gia trên quả địa cầu để tỉnh thức tâm thiện của loài người.

               Milano  12.2022                     

Gởi cây phiền muộn

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

_ Kệ cứ nằm thêm mười phút nữa, kim đồng hồ chỉ 8 giờ mà trời đã hưng hửng sáng hơn tuần qua, báo hiệu cho những ngày sắp đổi sang những ngày lạnh giá nhất trong năm…

Những buổi sáng thức dậy giữa thinh không mông lung ngàn nỗi nhớ, lồng ngực như khó thở, cố ngăn vài tiếng ho khan khô khốc, trăn trở mình qua lại , tới lui rồi nhủ lòng :

Những ngày đông giá trước mùa Giáng Sinh năm nay… trời ấm lên hơn mọi năm , , mưa đan xen của đất trời tươi xanh vạn vật….

Mùa Giáng sinh mà mọi người có thể khoác lên mình những trang phục mát mẻ hơn mọi năm.

Một ngày như mọi ngày, trở dậy, chặng đường dài đơn côi chùng chình quen thuộc, không vội vàng, không nhìn đồng hồ tay lần nào nữa, thời khóa biểu như đang sẵn có trong tiềm thức…

Tuần tự theo một trình tự nhất định, bất biến và nhuần nhuyễn như người ca sĩ già hát lại bài hát quen thuộc trong suốt chặng đường dài nhai đi nhai lại, như lảo bò già nằm nhai lại mấy miếng rơm khô khốc trong buổi hòang hôn khi xong việc đồng áng mỗi ngày.thức dậy, chuẩn bị cho mình bữa sáng, bữa trưa, pha cho mình ly càphê sáng…

Lại ra vườn sau sân trước, thủ thỉ, thù thì cũng cây cỏ chim muông, hai con mèo nhỏ vẫn theo sát bước chân chủ nhân khắp lối đua chen câu thăm hỏi, nũng nịu và thân mến…

Trước khi rời khỏi nhà bao giờ tôi cũng xách bình tưới nhỏ rưới nhẹ lên chậu cây hoa Quỳnh trước cửa, đặt sự chăm lo, thương mến lên những cánh lá xanh giòn cứng và những kẽ lá như một lời nhắn nhủ:’

“Hãy giữ lại giùm ta những lo toan , hãy cất cho ta mọi ưu phiền của những ngày qua, mong hôm nay là một ngày tốt đẹp”…

Thời gian qua. gần ba thập kỷ …hầu như lòng không muốn giao tiếp với bất kỳ ai trong cuộc sống, những bạn bè xa gần hầu như cắt hết mọi giao tiếp, ngán ngẩm cho tình người, sự tha hóa gian trá của tha nhân…

Ngòai giờ làm việc tôi cũng chỉ vui cùng cây cỏ, chó mèo, chim cá…những vật thể không biết dùng “xảo ngôn” đối đãi cùng nhau, mỗi ngày đi về, đám mèo hoang ngồi trước cửa nhà đọi chủ nhân, hai con chó nhỏ hanh hao tranh giành sự vuốt ve trìu mến…

Sự ấm áp không thốt ra bằng ngôn từ nhưng bằng cái vẫy đuôi, bằng âm thanh xuất phát từ tình thương mến thật ấm áp và vô hình.

***

Thời gian ba thập kỷ sau lưng tôi ngày cũ…

Suốt tám giờ đồng hồ giao tiếp với những người khách hàng thân quen đôi khi cũng lắm nỗi nhiêu khê vì công việc phục vụ cho những khách hàng khó tính, nỗi chán chường vẫn thường len lén tìm về trong tâm trí..

Nhưng chưa bao giờ tôi thấy nhàm chán công việc mình đã chọn, công việc bé mọn giữa xứ người ta mà có thể đem lại cơm no áo ấm cho mình, có thể làm chủ lấy mình không lệ thuộc vào cấp trên hay giờ giấc, công việc cũng nhẹ nhàng không cần nhiều sức lực và bằng cấp.

Nhưng mỗi lần chìm sâu vào tâm tưởng sự buồn chán vì công việc do tha nhân mang lại., những trở ngại vì ngôn ngữ hay những lo lắng vì công việc, đôi khi lòng cũng vương vấn chút ưu phiền.

..Một sáng nào… lại chợt nhớ lại bài viết về người thợ mộc trong câu chuyện mà tình cờ đã được đọc qua trang mạng:

+++ Mỗi ngày sau khi xong việc, với bao nỗi chán chường, mệt mỏi sau một ngày làm việc, người thợ mộc đã dùng đôi bàn tay vuốt nhẹ lên một cây nhỏ trước cửa phòng làm việc, với ý tưởng gởi gấm những phiền muộn lại cho cây xanh, khi trở về nhà với vợ con, người thợ mộc thấy nhẹ nhàng hơn với những ưu phiền gởi lại cho cây xanh nơi chỗ làm.Và từng ngày ông ta gởi mãi những phiền muộn của mình cho cây xanh giữ hộ, nỗi muộn phiền cứ vơi dần theo ngày tháng và người thợ ấy đã mất hẳn đi những ưu phiền mà thấy ngập tràn hạnh phúc và bình an trong việc làm và đời sống.+++

Và từng ngày như thế, trước khi ra về tôi cũng bắt chước cử chỉ của người ấy, cây xanh được tôi mua về để gần lối ra vào của ngôi nhà …

Mỗi chiều trước khi ra vào nhà, tôi cũng đưa đôi bàn tay vuốt nhẹ lên cây xanh với tâm tình gởi gắm lại cho cây những phiền muộn của một ngày làm việc.

Rồi từng ngày như thế…

Từ ngày biết gởi gắm những phiền muộn vào cho cây xanh, tôi bỗng thích trồng nhiều cây xanh trong vườn, những cây trái được mua về, được ươm cấy trong vườn nhà nhiều hơn, mỗi sáng thức dậy tôi bước ra vườn sau sân trước, đưa tay vuốt ve những cành lá xanh tươi, những quả xanh ươm roi hay chín mọng trên cành, gởi gắm nỗi lòng cùng cây xanh bóng mát, những ưu phiền như vợi bớt nhiều hơn là tỏ bày cùng bạn bè hay những kẻ thân quen..

Ở những bạn bè chỉ nhận từ họ những ganh tị, đãi bôi, khoe khoang , phỉ báng nhau và cuối cùng là mệt mỏi và chán nãn vì tình người, tình đời.

Vì rằng trong cuộc sống chẳng ai luôn biết sẻ chia cho ai mãi hòai..mà đôi khi còn tị hiềm, ganh ghét nhau .mà thôi, thực chất chỉ có tự bản thân ta tự giải tỏa những nỗi buồn của chính ta, không ai có thể giúp ta được- ngòai chính ta.không ai có thể giúp ta đứng dậy khi ta vấp ngã mà chỉ tự ta gượng đứng dậy với đôi chân của mình mà thôi

.kẻ khác cũng chỉ chóp lưỡi đầu môi, sau lưng là nỗi mừng vui vì biết ta không hạnh phúc, không may mắn như họ.

Qua mau những tháng ngày chìm sâu trong những nỗi đau mất mát, sai lầm, gặp gỡ những người trong cảnh khốn cùng của cuộc đời..

Khi đã hoàn toàn rời xa công việc…dọn về ngôi nhà nhỏ giữa trung tâm thành phố Atlanta để được gần gũi các con…những đứa con còn biết quan tâm đến bậc sinh thành.

Tôi đã quen biết một người bạn mới, chị rủ tôi đến tham dự một buổi sinh hoạt của một hội cao niên tại đây…

Tôi đã gặp lại một số bạn đồng hương mà tôi đã gặp tại thành phố này gần ba thập kỷ trước…Bây giờ họ không còn nhận ra tôi…Thời gian và bệnh tật đã biến họ thành những kẻ khuyết tật…

Tôi vẫn còn nhận biết ra các chị…Những ngày sau tháng tư đen…chúng tôi đã từng hẹn nhau trên những chuyến tàu chiều về Tuy Hòa , ngủ trọ nơi bến xe hay những nhà dân lân cận khu trại giam của những người ” tù cải tạo” là chồng và cha của những đứa con chúng tôi…

Ngày đó chúng tôi đều là những người mẹ trẻ, xinh đẹp và giỏi giang , đảm đang , đương đầu cùng gian khó, hy sinh cho chồng con trước thời cuộc…

Bốn thập kỷ trôi nhanh trên mái tóc chúng tôi….

Bây giờ gặp lại nhau. các chị không hề nhận ra tôi, cô giáo trẻ của các con chị ngày xưa vần từng lần theo chân các chị giữa núi rừng Củng Sơn ngày xa xưa ấy…

Đêm về… nhìn lại thân mình… mới biết rằng mình còn hạnh phúc hơn người. những bạn bè xưa cũ khi mỗi lần gặp lại cũng chẳng mấy ai được hạnh phúc bình yên hơn ai..

Rồi cũng qua mau một kiếp làm người.

Qua rồi những tháng ngày lận bận vì công việc…những cuộc tình ” không nỡ buông”, thóat ra những mất mát sai lầm của cuộc sống, phải chăng con người đã trở nên khôn ngoan hơn, luôn nhìn đời bằng cặp mắt cay đắng, ngờ vực với rất nhiều người xung quanh khi giao tiếp…

Qua rồi những đau đớn, mất mát, mới thấy thương thân mình và nổ lực đứng lên tự thân mình và những phiền muộn chỉ biết gởi gắm cho cây phiền muộn giữ dùm mỗi ngày cho vợi bớt sầu muộn đơn côi.

Những cây cối mà hàng ngày tôi chăm sóc chính là những người bạn chí thiết cất giữ ưu phiền của chủ nhân mỗi sáng mỗi chiều…

***

Qua chuyến về thăm quê nhà, những lần về nuôi mẹ già tại những bệnh viện tại Sai gòn

Rồi những lần về nuôi chị tôi tại quê nhà …

Hình ảnh của chị tôi… mới ngày nào vẫn mạnh mẽ tốt tươi, nay bỗng chốc biến thành kẻ vô dụng từ thân xác đến tinh thần, chị ngày nào đảm đang , nhanh nhẹn trong giao tiếp xử thế với mọi người…

Một cơn bạo bệnh cướp mất đi mọi linh họat hơn người trong cuộc đời chị…tình thương không biết gởi sao cho vừa với những bất hạnh mà chị gánh nhận hôm nay.

Bây giờ chị ngồi đó, một người già yếu không còn làm gì hơn là sự giúp đỡ của người khác từ bước đi cho đến việc mưu sinh.. Trong mấy chị em, chỉ có chị là nhận nhiều cực khổ nhất trong cuộc đời đã qua, chị chưa có lấy một cuộc tình đôi lứa, chưa một lần sẻ chia đắng ngọt với một người khác phái, chưa một lần có một mái gia đình riêng tư , cả cuộc đời chị cứ quẩn quanh trong căn nhà quen thuộc, mãi mê cùng công việc mưu sinh, cả thời thanh xuân chưa có lấy một lầ hò hẹn, chưa cùng ai sẻ chia đắng ngọt cuộc đời…

Mỗi khi nghĩ về chị và quãng đời đã qua của chị..

Tiếng thở dài xót xa , thương chị vô vàn, tuổi già của chị với vô vàn nỗi đau thân xác, cuộc sóng không công bình với những người chơn chất, hiền lành như chị lại nhận chịu bao thống khổ trần gian…

Những lời thầm thì cùng cây cỏ mỗi ngày tôi vẫn gởi gấm cho đám cây cất giữ mỗi ngày.

Cuộc sống của mỗi con người thật ngắn ngủi và không sao biết trước được ngày mai sẽ ra sao???

Mỗi chúng ta đã qua rồi những ngày sống đủ, nhìn lại bản thân mình và hãy thốt lời cảm tạ, những ngày tháng chông chênh trong cuộc sống đã qua đã cho ta bao niềm thống hận, bao hận tủi cuộc đời, những đua chen giành giật..

Những mơ ước đầu đời cho đến ngày gần kề miệng lỗ..

.Bây giờ đã qua rồi tuổi thất tuần, mỗi chúng ta khi bước vào thời gian của buổi hòang hôn…tất cả đã được định vị bỡi đơn vị thời gian mà tuổi thất tuần là thời gian mức đến..

.Qua rồi những bon chen thế tục, qua rồi những tình ái giối gian…tất cả đã chìm sâu trong dĩ vãng, tất cả đã qua mau và không bao giờ nên quay đầu nhìn lại, giã biệt mọi thứ thuộc thế tục cuộc đời.

Bây giờ mỗi ngày trước khi bước chân ra khỏi nhà , thả mình bên tay lái, những ưu phiền sầu muộn gởi lại những cây xanh sân sau, ngõ trước, nhìn ngắm lại ngôi nhà mới thân yêu do bàn tay mình tạo dựng, mơ ước đầu đời của một thời thanh xuân bỏ lại..

Là tôi đã hòan thành ý nguyện , mơ ước chút bình yên cho cuộc đời mình có được.

Cuộc đời đã qua …xấu tốt, nghèo khổ, khó nghèo, gian truân, khổ hận….tất cả đều đã qua…tất cả chỉ còn là dĩ vãng, còn lại bây giờ là những thực chất mỗi ngày mà tâm tư còn giữ được, cuộc sống bình yên đơn độc đan xen tiếng thở dài….

Buổi chiều từ nơi hồ bơi trở về nhà , gởi gắm sầu muộn lại cho cây phiền muộn cất giữ dùm cho buổi tối về đặng bình yên, cho giấc ngủ không còn chút ưu phiền…

mơ sao trong giấc ngủ bình yên có lần trở về ngôi nhà cũ gặp lại chị em, bà con, bạn bè., các học trò cũ thân thương trong mừng vui bất tận.

Một lần này được trở về nơi đã từng ngày nhìn mình lớn lên, ôn lại những ngày cơ cực tuổi ấu thơ trãi dài theo tuổi thanh xuân bỏ lại và những tháng ngày bôn ba trong cuộc đời khổ lụy…

Biết có lần nào nữa… chân bước ngược về nơi chốn cũ sống lại những kỷ niệm ngày nào…hay bình yên trong nỗi phiền muộn bâng quơ nơi xứ người cô quạnh, từng sáng từng chiều gởi nỗi phiền muộn chín vàng trên cành cây ngọn cỏ…

Trong nỗi muộn phiền và tiếng thở dài luôn là sự tự mãn của một kiếp con người nhỏ bé giữa đất người xa lạ, biết tự vươn lên bằng bàn tay và khối óc của mình, niềm tự hào vì đã làm được điều bé mọn mà tuổi thơ tôi đã hằng mơ ước từ ngày bỏ nước ra đi…

Ưu tư phiền muộn… cũng chỉ là những dấu chấm than cho một bài viết về cuộc đời của một người.

Tất cả xin gởi gấm nỗi bi ai , chút ưu phiền cho ‘cây phiền muộn’ từ đây.

Cám ơn hoa lá Giữ giùm buồn khổ

Cám ơn đời : ta cũng được bình yên

Cám ơn Thượng đế: cho con sức mạnh

Vững tay chèo vượt sóng giữa phong ba

Xin cám ơn

Atlanta Những ngày cuối năm 2025

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Đinh Thị Thu Vân 

.

cuộc đời em dẫu có anh rồi

cay mắt lắm những ngày xao xác nhớ

em nhớ anh lắt lay từng nhịp thở

từng li ti nước mắt đẫm bơ vơ…

.

em nhớ anh rưng rưng nghìn mạch máu

mạch máu dịu lành mạch máu dại loang

em nhớ anh đêm sâu quặn thắt

ngày nắng ngỡ ngàng ngày gió hoang mang

.

em nhớ gì anh ơi khi cận kề âu yếm

nhớ và mơ, mơ và nhớ đan đầy

rúc vào nhau mềm yếu ngây say

sao vẫn nhớ, như kiếp nào thăm thẳm kiếp!

.

rúc vào nhau… kết lại một thời quên

em chỉ ước được tận cùng sóng sánh

tận cùng bên anh… yêu mềm sông đậm biển

yêu nồng hồn, nồng mắt, ấm đam mê…

.

em yêu anh, mà lá chẳng ngừng rơi

mà ngày tháng chẳng ngừng trôi, mà đêm sâu phải rạng

em chuốc hồn em mơ một đời mật loáng

mơ, mơ, mơ

mơ mượn vai người

nương níu thanh xuân!

Kẻ phản trắc

Ngô Đình Hải

.

Nguy hiểm đi sự kiện. Nguy hiểm hỏi:

– Ai?

Đáp án:

– Kiện bóng tôi!

-Cái gì?

– Phản trắc!

Năm lại hỏi:

– Có nhân chứng không? 

Đợi vú:

– Có! Ở đây! 

nói:

– Ai muốn xử lý theo cách nào?

Đâm gầm xuống:

– Treo cổ! Kẻ phản xạ phải được treo cổ!..

– Được, ta sẽ chọn cái bóng đối với bạn. Ta sẽ treo cổ kẻ phản xạ! Bất kể đó là ai.

– Công cụ, phải như vậy bằng công cụ mới.

Đèn sáng lên, cái bóng được đưa tới trước móng ngựa. Nó thảnh thơi đứng nghe, không chút gì lo sợ.

Cuộc đối thoại bắt đầu. 

Không nói với cái bóng:

– Ta sinh ra hạng. Thuộc tính của ta!…

Cái bóng xò ngang:

– Không đúng! Là ông tự nghĩ, tự cho như vậy. Ông không hề sinh ra thứ gì hết. Thượng đế sinh ra tôi để bạn đồng hành với cuộc sống của ông thôi! 

Đấu tiếp:

-Ta ở đâu phải ở đó. 

– Đúng vậy! 

– Ta làm gì thì phải làm theo.

– Đúng vậy!

– Ta vui ta buồn, phiền cũng phải buồn vui theo…

– Đúng! Tôi là cái bóng của ông. Trước sau vẫn vậy. Vĩnh Viễn không thay đổi. 

Đấu tiếp:

– Gần đây thì khác! Bạn không nghe lời ta nữa…

– Không đúng!

– Người không theo ta, không tham dự vào bất kỳ công việc gì của ta…

– Không đúng! 

– Tới trong giấc ngủ, cũng không nên chui vào như ngày xưa…

– Không đúng! Tôi vẫn trung thành với ông như ngày nào. Tuyệt đối trung thành. Ông không thấy, không biết, ý qua là ông thay đổi. Ông đã mượn áo của người khác. Cuộc sống của người khác. Ông tình nguyện làm cái bóng của người khác, để hưởng chút vinh quang thừa thuận lợi, chút lộc lộc mứa mứa của họ. Ông tự đánh lừa mình, phải không tôi!

– Còn nữa không? Tình huống cố gắng cho ta thấy, anh ta đang theo một hình hình khác sao? Đồ họa phản xạ!

– Không đúng! Cái hình tôi theo chính là ông ngày cũ. Chỉ có ông, chính ông đã phản bội con người mình. Chính ông mới là kẻ phản bội!

Giành lấy mình, đưa tay lên mặt, gõ vào cái khối thịt nhăn nhúm:

  • Người nói láo, ta vẫn là ta…

Cái bóng 1:

  •  Ông làm điều ác hằng ngày, bất chấp mọi thứ. Ông gieo rắc nỗi đau cho người khác!…

Đâm gầm xuống:

  • Can’t like! Ta đã ẩn kỹ. Không ai biết, không ai hay…

Cái bóng đầu:

  • Anh ấy đã sử dụng nó! Cái ác đâu yên yên. Nó bò lên mặt, nó dừng ra từ cử động, từ lời nói. Chính nó làm các biến thể…

Nhìn xuống bên dưới. Bộ quần áo đang mặc định. Cái mặt nạ đang đeo. Luôn cử chỉ và lời nói của ánh sáng, đều tia ra sự gian trá, bịp bợm. 

Đặc chỉ tay vào:

– Ta đã thấy rồi! Không cần thiết phải kể đến những cái bóng thứ yếu. Chỉ riêng chuyện chiến tâm gạt bỏ, kẻ đi theo mình suốt đời, đủ thấy là bội bạc, kẻ vô lương. Chính mình! Là kẻ phản bội! Mới là đáng sợ đáng sợ…

Mặt trời lên, trường pháp luật được thiết lập. Đứng trước sợi dây cung cấp thanh lọc. Tiếng trống dồn dập, cảnh báo giờ hành động quyết định. Sợ hãi, đánh giá bất động! hiện nguyên hình hài cũ. Từ sau thằn lằn, cái bóng nhẹ nhàng bước lên, cho đầu vào sợi dây…

NĐH

3- CÁI QUẦN 

Cô gái trẻ vùng mãng cầu, cố gắng thoát ra khỏi cái khoảng tối đang ôm chặt. Tối quá! Cô không nhìn thấy gì. Đã đi. Thực tế đã đi. Đã rời bỏ nơi này, rút ​​gọn nhanh chóng như khi xóa tới. Đã rời xa người cô, và mang cả cuộc đời còn lại của cô đi theo, trong cơn ngẫu tình bất ngờ! Tăng cường nhiên liệu cày nát thân cô trên bờ ruộng, không cần thắc mắc chuyện sau đó. Cái đánh bạn muốn và đã có. Cô ấy chỉ biết và khóc. Người cô bê bết đất. Cô đang yên lành, đang mơ mộng như bao nhiêu thiếu nữ khác, thì ngọc đến. Đến, mang theo sấm sét bất ngờ lùa qua cánh đồng, cây lúa đang xanh mởn, đổ nát, rung rung xuống mặt ruộng sì săm sắp nước. Trước đó, cô đã cố gắng đánh lừa bằng hết sức lực của mình, nhưng thân thiện quá. Từng đấm cát xuống đầu, xuống mặt cô như trời giáng. Cho tới khi không được nhận nữa. Cô nằm xuôi tay, mắt cảm giác đi và hơi mặn chát vì máu của mình. Cô mặc định muốn làm gì thì làm. Ngực cô đau vì những cái hơi hấp háy và bạo bạo của dũng mãnh. Cái đau chui vào bên trong, chạy dài xuống giữa hai đùi, giảm đau, giảm đau chèn hơi thở, giảm đau lên cái đầu tôi vì sợ hãi. Cô những tưởng mình chết, sẽ chết và đã chết! Nhưng rồi cô vẫn còn đây. của mình. Cô ấy không chết. Cô vẫn phải trở về với cái sống. Cô chống tay ngồi dậy. Cô quơ tay tìm cái quần, không biết đã vứt nó ra chỗ nào. Người cô quạnh, ê ẩm. Không thể tìm thấy! Chắc chắn nó chui xuống dưới đám tĩnh rồi. Coi như xong. Bầu trời lắng xuống! Cô không hiểu sao cô ấy lại có thể chọn lại? Cô nghèo, cô quê mùa, cô đen đúa. Cô không có gì nổi trội hơn những đứa con gái khác cùng làng. Cô thua xa mấy cô “trắng da dài tóc” ở thành thị. Cuối cùng cũng đến nổi tiền tệ. Mềm có tiếng con nhà quan quyền, giàu có trong vùng. cũng làm tới các chức năng khác. Sao đánh lại đi làm chuyện này? Sao chọn cô? Sao lại là cô?…

Cô kiệt sức lực. Đầu cô như muốn nổ tung. Chuyện xảy ra đã xảy ra rồi. Cô không nghĩ được điều gì hơn. This phút cô ấy chỉ muốn một thứ. Tìm cái quần. Cô muốn mặc định lại nó. Cô ấy không thể thiếu nó. Dù cô ấy phải ở đây. Nằm chết trên bờ biển này, cô cũng phải có nó. Cô quờ quạng, cô mò mẫm tìm. Cô nhướng mắt chất húp, bê bết mủ để nhìn. Một vùng tối nhớ nhớ. Cô ấy là một điểm viết. Tiếng ồn ào trong tiếng gió và tiếng côn trùng trong đêm. Cô muốn lên tiếng kêu cũng không kêu được thành tiếng. Miệng cô rằn toạc. Mà kêu làm gì, có ai nghe đâu. 

Cô ấy cũng không thể tồn tại ở đây. Cô ấy không thể chết ở đây. Nếu phải chết, cô sẽ chết ở một nơi khác, sạch sẽ hơn và mặc quần áo hoàng gia. Cô đơnm com bò dậy. Cô lết trên đám lúa tiếp tục tìm cái quần. Luôn không có. Cô hận thù, rồi cô luôn giận dữ. Biết vậy, cô mặc định đánh lửa ngay từ đầu, cố gắng lấy cái quần, có khi còn ủng hộ tiền tệ hơn. Cái đau mang theo cái đau càng đau hơn. Output tê tái. 

Cô lại ở dưới. Rồi cô bồi dậy tìm. Cái quần như biết cô cần, trốn thoát. Ngày nào cô ấy phải mặc quần! Không ngờ lúc đó lại quan trọng và lớn lao với cô như lúc này. Cô ấy đã mất hết. Không thể để mất thêm quần. Không thể đánh dấu biến cô thành một con chó cái. Default Quần vô. Gia nào cũng phải mặc cho được cái quần để trở lại làm người. Cô cứ thầm kêu trời kêu đất. Cô lam bẩm sinh thổ thần, cô cầu xin người khuất mặt tối, cho cô tìm được cái quần. Không có ai trả lời. Cái quần vẫn còn sót lại. 

Cô ấy hết sức hiển thị. Từ bên dưới của cực cực, cô chợt thấy mình vô lý. Không có quần thì sao? Khởi động xong thì sao? Ai ra đây mà thấy. Giỏi sao lúc tỉnh không ra? 

Cô bò, cô lết. Cô ấy chọn bước bước. Chân cô như Gmail chặt xuống đất. Người chú về phía trước, hai tay cô nắm chặt lấy cái rách bươm, cô đi về phía bên mà cô biết sẽ có đèn đèn. Nơi đó là nhà của cô, là nơi duy nhất có những người thương yêu cô. Là nơi vĩnh viễn bình yên. Là nơi thân quen gắn liền với việc thiếu nữ. Chung quanh cô bóng tối bụa vây. Cô nghe hỗn loạn trong tiếng lê lết của con thú bị thương cùng đường, tiếng thở hơi ngạt của mình là tiếng cười cười hê của mèo, ui theo phía sau lưng. Cô ấy không quay lại. Mỗi lần vấp ngã, mỗi lần cô chạm tay vào bên dưới người mình, cái trống rỗng của phần dưới không có quần. Cô lại giật người. Không! Cô ấy không thể tải về loại tang thương này. Cô không thể để cho cha mẹ cô, những người nông dân cả đời bán mặt cho đất. Không thể để chọn những đứa trẻ còn ngây thơ mang theo hình ảnh khốn khổ này. Cô cần phải tới một nơi trước đó. Đổi hướng. Cô ấy không đi nữa. Cô chống tay, cô quỳ gối, cô bò thật sống về phía con sông. Ở đó có nước, ở đó sẽ giúp cô đi nhẹ nhàng điều này…

Cô săn đám đông hoang dã bên bờ sông dần dần xuống. Khi nửa người đã ngập nước. Cô hồi mắt lại, tận hưởng từng cái va đập nhẹ nhàng, từng cái vuốt ve mơn của nước. Như một vật phẩm quý giá của trời ban. Cô đi trong cái kiến ​​về, cái an ủi nhỏ nhoi còn lại. Một số bãi biển trôi ngang, thả lại bên cô. Tiếng Lào của ai đó:

  • Lại thêm người nữa…Tội nghiệp!…
  • Lại là ò à?…
  • Còn ai vô đây?…Không ai làm gì được Kiểm sao? Ông trời không có mắt sao?…
  • Khó lắm! Có tiền. Có quyền. Có thế lực. Có gia đình, người thân che đậy, dung túng. Rồi mọi thứ cũng trôi đi, như chuyện chị em mình lúc trước!
  • Không thể như vậy hoài nghi? Còn nơi nào đã thực sự bao che cho lựa chọn nữa không?
  • Còn nữa! Nơi này! Nơi chúng ta tự chôn vùi tội lỗi, tự sục cuộc sống đời mình bằng cam chịu và im lặng…

Những tiếng nói dài nối tiếp nhau. Cô gái hét lên:

  • Không có tôi. Không bao giờ tôi có thể chọn thứ tự!
  • Vô ích, đánh giá ở cao lắm. Loại như chúng tôi không vào đâu!…

Cô ôm tỉnh, chỉ cần đáp ứng mờ mịt mấy cái bóng đạp chìm chìm. Nửa thân dưới trần trụi, những cái bóng ở móng, không có cái quần nào, in như cô vậy. 

Mặt trời vừa mọc. Ngày vừa lên. Ánh sáng bắt đầu chiếu sáng, chạy qua những cánh đồng về phía con sông. Đêm đã tàn. Mọi thứ rồi sẽ được hiển thị dưới ánh sáng. Không có gì có thể che đậy mãi được. Người cô gái dần dần xuống. Nước bắt đầu lên, nước leo qua bụng, nước bò lên thủ, lên cổ. Bằng nổ lực cuối cùng, cô gái ngước mặt lên nhìn bầu trời. Hai tay cô gồng lên, trong một hoạt động hết sức khỏe kỳ lân, như muốn gửi vào đó một lời khấn nguyện, một lời nói, trước khi người cô chìm hẵn vào trong nước. Dòng sông đón thêm một mảnh người, chịu đựng và tĩnh lặng…

Bác sĩ nói sức khoẻ lành mạnh. Thời gian bình thường. Cái đau đau bên dưới bụng chỉ là tưởng tượng. Tưởng thế nào cũng được! Lu bác sĩ vô ích. Bao nhiêu máy móc, bao nhiêu tiền, vẫn không tìm ra nhân nhân. Bao nhiêu thuốc nam vẫn không giảm!

Chính Robot cũng làm những điều lạ với căn hộ của mình. Bình thường không sao. Chỉ cần cởi quần quần ra khỏi người, dù để đi bảo vệ sinh, hay đơn giản là chỉ để thay một cái quần khác, thì bên dưới quần lót lại đau nhói, như có một vật sắc bén nào đó đập vào. Nhất là khi đánh chuẩn bị leo lên bụng một nguời đàn bà, để làm chuyện “đệ tam khoái” thì cơn đau lại nhập tới nhanh hơn. Lister hơn. Kết quả lễ hội. Đầu như có ai bắn thẳng một mũi tên bằng thép cứng xuyên qua. Mặc dù đã được xếp hạng, leng keng. Cơn đau chỉ dừng lại khi đánh cái quần lên! 

Đi đến chiến binh của con cá ngày càng nặng nề, chỉ cần lửa hay bất kỳ ai, ôm tay vào quần của chim lửa, là bụng dưới đau rát. Hãy đến mỗi lúc một cơn giật và kéo dài như vô tận. Bác sĩ bó tay. Cơ thể kiệt sức và chết chóc với cái quần hôi hám mặc rằn không thể thay thế. Và vì là người có quyền thế nên phải kiểm tra. Bác sĩ không tìm thấy điều gì đặc biệt. Ngoài một trái tim đen thui. Xác định chết thì có gì đặc biệt. Bất kỳ giá trị lợi ích của nó còn hay hết…

Người đi làm đồng sớm, sáng hôm nay kể lại. Cô gái với thân thể bình, không mặc quần, chết cá bên bờ sông trong một tư thế rất lạ. Một tay cô nắm chặt một bên áo. Cái vạt áo cong lại hình cánh cung, mặc cho dòng nước súc Đẩy, một tay như thả xong mũi tên. Mũi tên đã đi, chắc chắn nó sẽ đến đúng nơi cần đến. Chắc chắn! Hãy tin vào điều này như tin vào ngày và đêm của Đất Trời vậy.

NĐH

Đêm của biển

Trần Kỳ Trung

.

Đêm nay tôi và Hằng đi trên bãi biển, gió từ xa thổi lại làm mơn man những con sóng nhỏ, mát lạnh, cát dưới chân mềm mại… Thường những buổi dạo đêm như thế này thấy thư thái nhưng sao đêm nay tâm trạng tôi trong khung cảnh ấy, thấy buồn đến lạ. Ngày mai tôi phải chia tay với Hằng. Em đi bên hình như không để ý đến tâm trạng tôi lúc đó, vẫn bước, những bước chân thoải đều trên bãi biển rồi Hằng dừng lại, nhìn ra xa, nói với tôi:

– Tối nay là tối ba mươi, không có trăng nên mặt biển đen, thầy ạ. Giá như có trăng, buổi chia tay em với thầy có thêm một kỷ niệm nữa, để nhớ !

Không cần thế đâu em, thế này cũng đã nhớ lắm rồi, tiếng sóng dưới chân vỗ nhẹ, những ngôi sao nhấp nháy tít trên cao không thể làm cho mặt biển sáng thêm và hình như, mặt biển đen cùng tiếng sóng vỗ là một sự níu kéo trong bất lực. Tôi hỏi em :

– Với quyết định này của tổ chức nhà trường, em có buồn không ?

– Không, thầy ạ! Em thấy bình thường, có việc gì đâu mà phải buồn!

Lạ nhỉ, chuyện như thế, mà em nói có vẻ “bình thường”, không giống như tôi nghĩ. Hay là …

Trước ngày thống nhất đất nước, ở miền Nam, Hằng là giáo viên dạy môn văn, ở một trường trung học đệ nhất cấp (Tương đương cấp II). Đất nước thống nhất, em thôi dạy học, để thi đại học. Hằng đỗ điểm vào đại học khá cao. Trong lớp tôi chủ nhiệm, Hằng là người gần như lớn tuổi nhất, tôi chú ý đến em không phải vì em nét mặt đẹp nhưng trông hơi buồn, cũng không phải dáng người thanh mảnh cùng mái tóc đen dày phủ bờ vai thon gọn, mà chú ý vì cách nói chuyện của Hằng. Em nói chuyện từ tốn, nhẹ nhàng, dễ cuốn hút. Em thuộc nhiều thơ, không riêng những bài thơ tiền chiến, mà cả những bài thơ “hừng hực khí thế” của mấy nhà thơ bên cách mạng, em cũng thuộc. Hằng đọc những bài thơ ấy cho tôi nghe bằng giọng rất truyền cảm. Tôi rất tin, với kiến thức sẵn có, lại chăm học, ham học hỏi, Hằng ra trường, nhất định em sẽ trở thành một cô giáo dạy văn giỏi. Tôi với Hằng, mới có gần năm tháng của học kỳ một, trong năm đầu tiên đại học, biết nhau. Không phải, nếu tính thật chi tiết, những giờ, ngày… gặp nhau, lúc lên lớp giảng bài, lúc họp lớp, rồi những buổi trò, thầy tới thăm nhau hoặc như lúc tôi nhìn thấy Hằng, “đánh” vội ánh mắt để “gặp” trong tích tắc, thời gian đó có bao nhiêu đâu, không giấu, tôi có cảm tình với em, dù ở cương vị này đòi hỏi có sự nghiêm túc, nhất là đối với sinh viên nữ. Còn Hằng, hình như em có tình cảm với tôi, đó là theo cảm nhận, khi tôi nghe em nói:

– Hôm qua lên lớp, em thấy thầy có vẻ mệt, thầy giảng, không nên nói to, giữ sức, chúng em nghe được mà !

Quả thật trước hôm đó, tôi bị sốt nhẹ, nhưng bên ngoài cố biểu hiện không có vấn đề gì, giấu thế mà Hằng cũng biết. Rồi nữa, chiếc sơ mi tôi thường mặc, rách một đường sau lưng, phơi bên cửa sổ trong khu giáo viên. Cùng mấy bạn sang chơi, để ý thấy, Hằng xin phép tôi mang chiếc áo đó về, khâu lại. Đường chỉ Hằng khâu, rất kín, đẹp như người ta đạp máy. Tôi nhìn đường chỉ đó thầm phục, em rất khéo tay. Mấy bạn sinh viên nữ ở cùng phòng với Hằng trong khu ký túc xá thường đùa, nhưng có lẽ như để cho tôi ngầm hiểu rằng Hằng cũng mến tôi:

– Thầy ơi! Trong giờ giảng ngày mai, thầy gọi chị Hằng lên trả bài nhé. Chị Hằng mong lắm đấy!

– Chúng em đố thầy, chị Hằng thích thầy nào giảng bài nhất? – Không đợi tôi trả lời, tất cả đồng thanh – Thầy !

– Chị Hằng nói, thầy chỉ hơn chị có bốn, năm tuổi chứ mấy…

Sau những lời nói đó là tiếng cười khúc khích, những cái đấm lưng thùm thụp…

Nghe vậy, nét mặt Hằng lạnh, tuy không tỏ ra bực mình, nhưng lại khẽ lắc đầu, em nói, giọng nghiêm túc:

– Không phải như thế đâu, thầy đừng tin các bạn ấy nói.

Những lần nói chuyện với Hằng, tôi biết hoàn cảnh gia đình em. Cha của Hằng là một công chức trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa làm việc rất mẫn cán, đầy trách nhiệm, ai cũng mến. Trong gia đình, ông là người chồng thương vợ, người cha thương con, ai cũng cảm phục, tự hào. Sau năm một chin bảy lăm, ông thất nghiệp, tạm làm xe ôm đón khách, bữa có khách, bữa không, gia đình rơi vào cảnh khốn khó về kinh tế, nhưng không phải vì thế mà ông bi quan. Ông luôn động viên Hằng, phải giữ nghề giáo, có điều kiện nên đi học thêm. Chính lẽ đó, đang dạy môn văn ở một trường cấp II, em tạm rời bục giảng, thi vào đại học, nơi tôi công tác. Hằng nói về người cha với sự kính trọng và có hiếu :“ Em không muốn ba em buồn, lúc nào em cũng muốn cho ba vui”.

Nghe Hằng kể chuyện gia đình tôi càng thương em hơn, muốn nói với em điều đó, nhưng sao khó quá.

Suy nghĩ nhiều, rồi tôi quyết định.

Tối ấy!

… Hai chúng tôi cùng đi dạo trên bãi biển vắng, cả hai đi được một đoạn đường dài, có lúc như chạm vào nhau, rồi giật mình, tách vội ra xa, có chút lúng túng, ngượng ngập mà gần như cả hai, tôi và em, không nói với nhau được một lời nào. Nhưng khoảng khắc im lặng đó, tôi tin, có khi nói được bao điều… Đi một đoạn xa, phá vỡ sự im lặng, Hằng giục tôi:

– Sao thầy không nói với em điều gì đi!

– Hằng à…tôi muốn nói với em…- Tôi ấp úng, dù tưởng chuẩn bị đầy đủ, ấy vậy quả thật tôi không biết nên diễn đạt thế nào cho Hằng hiểu, nhất là lúc này.

Chúng tôi dừng lại, Hằng nhìn tôi, trong bóng đêm vẫn cảm thấy cái nhìn thấm đẫm thương yêu nhưng giọng của Hằng rất bình tĩnh:

– Thầy muốn nói với em điều gì ?

– Hằng…!

– Em hiểu! – Hằng nói như có sự chuẩn bị trước – Em hiểu tình cảm của thầy dành cho em… nhưng lúc này không thể… không thể, thầy ạ!

– Vì sao ? – Tôi hỏi.

– Em sẽ giải thích, nhưng lúc này … không thể – Im lặng một lúc rồi em nói tiếp – Nhưng… thầy phải cho phép em giữ tình cảm này và thầy… không được giận em!

Tôi có cảm giác không gian lúc này thật nặng nề, thời khắc cũng dường như dừng lại. Vẫn giọng của Hằng, Hằng như muốn kéo tôi đứng dậy, phải tỉnh táo, em cho tôi biết một chuyện:

– Hôm qua, thầy cho chúng em xem những tấm ảnh chụp thời thầy còn là sinh viên ngoài Bắc, em lấy một bức ảnh mà thầy không biết. Em xin lỗi thầy và thầy tặng cho em bức ảnh đó nghe !

Thở ra nhè nhẹ, có phần nản, nếu bây giờ tôi cầm một tập ảnh, Hằng muốn lấy, tôi cũng cho, giữ những tấm ảnh đen trắng ấy làm gì. Một thời mình ngây thơ, một thời bồng bột, ngộ nhận… để luôn nhận thất bại trong tình yêu. Bây giờ không phải thế, đây là lúc chín chắn hơn thời ấy, tôi nhìn thấy Hằng, một người con gái đẹp đủ những điều tôi cần…

Nhưng, Hằng gần đấy nhưng có vẻ xa xôi qúa, không lẽ giữa tôi với Hằng chỉ dừng lại tình thầy trò, không lẽ tôi sẽ mất em!!!

Cái điều tôi tưởng tượng lại hóa ra sự thật. Hằng buộc phải thôi học, trả về địa phương vì trong lý lịch em không ghi “có người chú tham gia quân đội của “ngụy” đang đi học tập cải tạo”!!! Một điều thấy quá vô lý, tôi liền hỏi ông Trưởng phòng tổ chức nhà trường:

– “ Chú ruột” của em Hằng đâu có dính dáng đến nhận thức, đạo đức, tư cách của em ấy mà chúng ta lại buộc em ấy thôi học!

Ông trưởng phòng tổ chức giương mục kỉnh lên nhìn tôi, ánh mắt có phần lạ lẫm, hoang mang:

-Ơ! Anh là một cán bộ giảng dạy của một trường đại học, dạy một bộ môn rất quan trọng mà nhận thức lệch lạc đến thế cơ à. Tôi hơi ngạc nhiên đấy! – Không đợi phản ứng của tôi, ông nói tiếp – Buộc em Hằng thôi học, trả về địa phương, ngoài việc em Hằng “dính” vào một trong mười ba trường hợp (1) để xét tuyển vào đại học, có người thân trong gia đình, họ hàng tham gia chế độ ngụy quân, ngụy quyền. Đã vậy em giấu không ghi lý lịch, biểu hiện sự không trung thực, minh bạch. Đây còn là yêu cầu địa phương, anh có muốn xem công văn của địa phương, nơi gia đình Hằng ở, gửi cho nhà trường không? Họ nói, chính ba của Hằng cũng từng là một công chức trung thành làm việc trong chế độ cũ. Vì sơ sót, kiểm tra chưa kỹ, nên họ đồng ý cho Hằng thi đại học. Chứ không, Hằng phải ở nhà không được nhập học ngay từ đầu học kỳ rồi…

– Thế anh không biết, em Hằng từng là cô giáo, dạy cho rất nhiều học sinh, hiện em là sinh viên học giỏi, có uy tín, không riêng tôi mà các đồng nghiệp của tôi trong khoa đều mến. Có chú ruột “tham gia quân đội chế độ cũ” không ảnh hưởng đến đạo đức, tư cách, kết quả học tập của em ấy, mà chúng ta buộc em ấy thôi học. Làm việc này đâu có thể hiện tính nhân bản, văn minh của chế độ ta. Các em sinh viên từng học với em Hằng sẽ nghĩ thế nào về việc này! – Tôi nói với sự phản ứng gay gắt.

Ông trưởng phòng tổ chức nhà trường lắc đầu, nói mà không có biểu hiện một chút nhân từ:

– Không, anh quá chủ quan! Sự căm thù cách mạng, căm thù chế độ mới của các thế lực chống phá nhà nước ta ghê gớm lắm, chúng không cam chịu thất bại. Biết đâu cô Hằng này, bề ngoài là như thế nhưng bên trong đang ấp ủ những mưu tính thâm độc ví như … – Ông trưởng phòng tổ chức nhà trường lấy tay vỗ vỗ lên trán – Cô ta giảng dạy rồi truyền đạt cho học sinh những bài văn, bài thơ ngầm xuyên tạc đường lối của đảng, nhà nước, kích động lòng hận thù, xây dựng trong tương lai một đội quân bí mật phá hoại chế độ. Chúng ta phải cảnh giác với những loại người này, không thừa!

– Tôi thấy việc làm này quá tàn ác, tại sao chưa thấy việc người ta làm mà anh đã suy luận như vậy?

– Anh dạy lịch sử mà chẳng hiểu lịch sử, đảng ta lãnh đạo dân tộc ta chiến thắng là do đâu, anh biết không ? Đó là sự cảnh giác, là luôn luôn đề phòng những trường hợp xấu nhất để có phương sách đối phó thích hợp. Còn anh nói tôi làm việc này “tàn ác”? Xin lỗi anh, chắc anh chưa quên những máy bay B-52 của Mỹ rải thảm bom khắp nước ta, chưa quên vụ Mỹ Lai, chưa quên hình ảnh những người dân lành bị chết trong những vụ càn quét của Mỹ – ngụy. Anh so sánh đi, ai “tàn ác” hơn ai! – Ông ta nhìn tôi cười mai mỉa.

Nói với những con người mà sự cố chấp, cực đoan, suy nghĩ một chiều trong đầu óc còn “cô đặc cứng hơn đá” như thế này bằng thừa, vạn lời phản biện của tôi cũng vô ích, không cần thiết. Lúc này, tôi nghĩ, cần động viên Hằng, giúp em vượt qua cú sốc quá lớn này.

Tôi lại “lầm” một lần nữa, người cần động viên là tôi, chứ không phải là Hằng…

… Đi bên tôi, dọc bãi biển vắng, Hẵng vẫn bình thản bước những bước nhẹ nhàng, không chút vội vã, em nói, giọng không chút tư lự, đắn đo mà bình thản như không có việc gì xảy ra:

– Thầy đừng buồn nhiều về chuyện của em. Em thôi học, về lại gia đình, cũng là điều mừng, em sẽ có điều kiện giúp ba, là chỗ dựa cho mấy đứa em học tiếp, chúng nó học giỏi lắm…

– Em không tiếc à! – Vừa nói tôi vừa nắm tay em, muốn kéo em vào sát người tôi.

Em vội rút tay ra và khẽ đứng xa tôi, nói như lẫn với hơi thở, lẫn với cả sự xúc động :

– Em tiếc chứ ! tiếc nhất là xa thầy và các bạn, mới có mấy tháng mà không biết bao nhiêu kỷ niệm, những kỷ niệm này sẽ đi theo em suốt cuộc đời. Không biết trong tương lai, em sẽ được gặp lại thầy và các bạn không? – Lúc này em lại nắm tay tôi, nói gần như gấp gáp – Thầy phải hứa với em một điều, thầy có dám hứa không ?

Tôi trả lời ngay, không chút đắn đo:

– Tôi hứa!

– Bao giờ thầy có tin vui, nhất định thầy phải cho em biết! Thầy hứa đi.- Hằng giục.

– Em nói gì tôi không hiểu, tôi tưởng em yêu cầu tôi nói… nhưng hôm nay với em, tôi sẽ nói… – Tôi định nói hết nỗi lòng của mình cho Hằng biết, tôi không muốn mất em, em mãi mãi thuộc về tôi, nhưng Hằng đã ngăn lại:

– Em hiểu thầy định nói điều gì rồi nhưng thầy không được nói điều đó… Không được… không được… thầy ạ! Lúc này… Không được…

Giọng em dứt khoát, tôi chưa từng nghe, rồi em buông tay tôi, quay người, chạy rất nhanh mất hút trong bóng đêm.

Sóng biển của đêm đen vẫn vỗ dưới chân…

… Tiễn Hằng về lại gia đình, cả tháng liền tôi không làm được bất cứ việc gì, hình ảnh của em cứ lẩn khuất trong đầu. Sang khu ký túc xá sinh viên, tôi vẫn thấy hiển hiện hình ảnh của em đứng lẫn đang nói chuyện với các bạn cùng lứa ở hành lang… Nhớ nhất đêm chia tay trên bãi biển, tiếng của Hằng vẫn như văng vẳng đâu đây…

Sau đợt dẫn sinh viên đi viết lịch sử địa phương, về lại trường, tôi nhận được thư em. Lá thư Hằng gửi cho tôi, nằm văn phòng Khoa cũng được hơn hai tuần.

Trong thư Hằng viết:

“… Cho phép em gọi được một tiếng “ Anh ”

Anh thân yêu!

Đoc những lá thư anh gửi, em biết tình cảm của anh dành cho em. Thương lắm, nhưng em có linh tính, nếu yêu anh, em sẽ làm khổ anh. Tương lai của anh rất đẹp, em không thể làm xấu tương lai đó, dù rất yêu anh, em vẫn phải khước từ tình cảm của anh dành cho em. Và sự thật đúng như em linh tính, thậm chí còn lớn hơn cả những điều em linh tính, nó bắt em phải xa anh. Em muốn hỏi biển rộng, trời cao, non xanh, tại sao người ta không muốn cho em đi chung đường với anh? Em có gây nên tội tình này đâu! Em yêu anh thật lòng mà, muốn bên anh mãi mãi, vậy mà lúc này, là không thể. Anh có tin không, anh là người yêu duy nhất, mãi mãi. Anh hãy tha lỗi cho em những lúc em cư xử không đúng với anh. Em làm vậy vì em muốn anh quên em, để một mình em nhớ anh thôi. Lúc em viết lá thư này là tấm ảnh của anh để trước mặt. Dù xa anh, nhưng anh luôn bên cạnh em. Thương anh nhiều lắm! ”.

Thư của Hằng gửi, do điều kiện khách quan mà nhận chậm trễ (2), không thể trách ai, vậy mà điều này làm tôi tức giận. Giá như lá thư này nhận sớm hơn, tôi đã gặp Hằng rồi.

Không thể chậm hơn nữa, từ mờ sáng hôm sau, tôi ra bến xe, cố chen, mua bằng được chiếc vé về quê của Hằng. Xe khách dùng nhiên liệu bằng than, (3 ) chạy chậm kinh khủng. Đã vậy, tôi ngồi hàng ghế sau, sát lò than, cái nóng như thiêu, như đốt, hầm hập, mồ hôi đổ ra dầm dề, cả người ám bụi, quá khổ, nhưng sẽ khổ hơn nếu như tôi không gặp được Hằng.

Tôi mong gặp em, tính đến từng giây trên đường xe chạy…

Gần chiều, tôi mới đến được ngôi nhà của gia đình Hằng ở, nhưng sao ngôi nhà lại trống vắng thế này, cửa khóa, có giấy dán niêm phong. Tôi ngơ ngác, hay là mình nhìn lầm. Không, đúng mà! Đúng như ghi trong địa chỉ Hằng cho tôi, sao nhà không có ai…

Tôi toan quay ra, thì có người đi đến, hỏi:

– Chú tìm ai?

– Dạ, xin phép cho cháu hỏi, đây có phải là nhà của cô giáo Hằng con ông Tín không ạ!

– Đúng rồi, vậy chú muốn gặp ai?

Tôi hơi lúng túng, rồi cũng nói:

– Cháu muốn tìm cô giáo Hằng…cháu…

– Thế chú chưa biết tin gì à!

-Tin gì ạ! -Tôi giật mình, như có luồng điện chạy dọc sống lưng.

– Cách đây hơn mười ngày, cả nhà cô ấy vượt biên, nhưng không thành. Thuyền nhỏ, người đông vừa ra thoát cửa sông thì bị chìm, chết tất cả, may người ta vớt được xác cô ấy cùng hai người em, chôn ở nghĩa địa xã, chú muốn đến viếng, tôi chỉ. Còn ngôi nhà này chính quyền niêm phong rồi. Gia đình này chết, tội lắm!

Trời đất như quay cuồng trước mặt, tôi gào lên trong tiếng nấc:

– Hằng ơi! Chuyện này có thật không em?

Tôi gọi tên em, rồi tiếng gọi đứt lịm trong ánh hoàng hôn đang buông và…

… bóng tối nhập nhòa cũng đang chuẩn bị tràn đến.

HẾT

————-

Chú thích:

(1) Thi đỗ vào đại học, hồi ấy, những năm đầu mới thống nhất đất nước, xét tuyển lý lịch rất ghê gớm. Nhiều thí sinh giỏi, thi đỗ điểm cao, nhưng bị trượt vì nguyên nhân có “lý lịch không trong sạch”!!!

(2) Những năm bảy mươi, thế kỷ trước, chưa có điện thoại di động. nếu có, chưa chắc có truyện ngắn này.

(3) Thời bao cấp, không có xăng, xe ô tô phải chạy bằng than, chạy rất chậm, ai ngồi gần, nóng hơn “lò bánh mỳ”, ấy vậy mua vé được đi xe này không dễ. Hồi ấy ai ở Quy Nhơn đi Đà Nẵng, một lần chứng kiến, sợ đến già.

Phía nước mắt

Phạm Đương

.

Ông đã tặng những giọt máu cuối cùng của mình

cho phe nước mắt

rồi đi

nhẹ như một sớm xuân Hà Nội

.

trong khi người ta không chọn phe

ông lại đứng về phía nước mắt

phía luôn luôn chịu thiệt

trong các cuộc mặc cả dưới gầm bàn

.

không chọn phe

để đất nước không trở thành nơi thử vũ khí mới

của các siêu cường

không chọn phe

để Nhân dân không bị biến thành những tấm khiên

che đỡ cho những ủ mưu hắc ám

.

không chọn phe

những tưởng đất nước sẽ tràn ngập tiếng cười

ai ngờ

lại quá nhiều nước mắt

ông đã đứng về phía ấy

.

phía của mù mờ

phía của hy vọng

.

bây giờ thì ông đã ngả hẳn về phía ấy

phía của những oan khiên đầy nước mắt

máu của ông đã đặc quánh cùng chữ nghĩa

Dương Tường!

Thơ Nguyễn Kim Huy

.

Bây giờ mình nói đây cười đây

Mà tuổi lên chín lên mười nói cười hồn nhiên đã xa mình lâu lắm

Hình như ở tuổi mười lăm

Có lúc mình cũng đăm đăm cùng ai ngồi suốt ban trưa trông ngóng khoảng trời chiều…

.

Bây giờ qua tuổi trẻ rồi mình lại có những lúc đăm chiêu

Chắc là mình thương nhớ ngày xưa mình nhiều lắm

Ngày còn nhỏ con đường đời trước mắt mình mở ra xa thăm thẳm

Mà ngó thấy em ánh mắt bỗng trong veo.

.

Bây giờ nửa đêm có những lúc mình không ngủ quắt queo

Chắc là mình thương nhớ ngày xưa mình nhiều lắm

Thương nhớ nhứt tuổi mười lăm em đằm thắm

Cùng với mình thức suốt buổi chiều rồi thức luôn qua đêm ngóng đợi một ban mai.

.

Bây giờ bạn bè xa biệt chẳng còn gặp được ai

Nhiều khi thấy lòng ngổn ngang trăm sự

Chỉ còn biết gởi nỗi niềm mình về tuổi ngày xưa xa lắm

Tuổi ngày xưa xa lắm đã từ lâu…

Tháng ba vừa mở

Võ Miên Trường

.

Hoàng hôn vừa hạ đường bay

Lạ em nắm níu sợi mây lạc lòng

Và thơ – mật ngữ rêu phong

Luân hồi… sóng cứ từng vòng chạm – tan

.

Xuân còn cư trú trên ngàn

Nguyên khôi kìa những muôn vàn đợi xanh

Tràn tay nỗi nhớ cầm canh

Mà tình như sợi chỉ mành đong đưa

.

Mùa như đồng lõa giăng mưa

Dắt trang quá khứ về thưa thốt chiều

Quấn tròn một búi rong rêu

Tháng ba vừa mở yêu kiều còn đang…

.

Và em áo mỏng nhân gian

Kết hoa cho những đoan trang dậy thì…