Feeds:
Bài viết
Bình luận

Kiếp trước mù tăm

 Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

.

Đôi khi khùng em ước

treo cổ trên cọng cỏ như một giọt sương

sướng nhá

em long lanh

tan ra

cho chồng con kiếm tìm chơi

lại hoảng

vì trước khi hóa giọt sương

em chưa rửa chén

.

làm người

thật khó bốc hơi

chuồn khỏi thế giới này

em con bé lá vàng mặc quần áo đất

chơi trốn tìm với gió

rên rỉ hồn thu

ú… u …

.

có khi tỉnh queo

kiếp trước mù tăm

tai em thành hang dế ai kêu trong đầu mình

những tiếng ngàn xưa

rích ..rích …

.

buồn quá

đành phải vui

ai đang hát

yêu đi yêu đi

nhạt miệng kinh khủng

thử lấy tay nắm tóc

em tự kéo mình lên khỏi thế giới

để làm gì

em không biết !

NTAH

Những mùa qua!

.Đặng Thị Thanh Hương

.

Ta vẫn đi trên con đường phiêu bạt

Những mùa xuân lặng lẽ qua đời

Mùa trở gió mỗi đông về khô khát

Xác lá vàng từng chiếc tác tan rơi

.

Ôm một cô đơn, giấu một ngậm ngùi

Đêm lăn lóc dỗ dành giấc ngủ

Chiếu chăn để lâu ngày không phơi nữa

Kỉ niệm xanh rêu ẩm mốc hơi tàn

.

Trong góc bàn phủ bụi thời gian

Son phấn bỏ quên, xiêm y lỗi mốt

Đến giấc mơ còn trở nên khó nhọc

Thì nói chi ân ái với hẹn thề

.

Bãi bể hoá nương dâu suốt lối tình si

Còn lại câu thơ chỉ riêng ta nhớ

Thời gian ngắn lại từng hơi thở

Chẳng còn nhiều để mà mộng mơ

Xuân đã đi theo cơn nắng bơ phờ…

 Đỗ quyên

Ngô Đình Hải

.

Giao dịch bảo vệ ban đêm. 6 giờ chiều tới viện, nhận ca trực tuyến là thứ duy nhất từ ​​người ban ngày: cánh cổng!

Bịnh viện thuộc hạng sang nhứt thành phố. Bịnh nhân ở đây toàn là những kẻ có tiền. “Nhà giàu tẩy tay, bằng ăn mày rụng lông”. Hắt hơi, xổ mũi cũng qua cho bác sĩ Tây, ngó tới sừng lui, x xy ít tiếng, có sung mà xài tiền. Buồn buồn, ở lại vài đêm, lấy cái không khí, cho nó yên lòng, mắc tiền hơn ở khách sạn năm sao một chút. Nhiêu đó đủ làm phòng bệnh lúc nào đó yên tĩnh. Xe cột ra vô khối nượp, một người bịnh, một ít người vô thăm, một ít sơn hào quà cáp là bình thường. Nhiệm vụ của anh chàng gắn liền với cánh cổng, phân chia đó không cho bán hàng rong, vé số hay ăn trộm vô kiếm ăn. Đứng đó chỉ để chọn người bịnh và người có cảm giác an toàn. nhẹ biết và không ảo tưởng về cái thực sự trong công việc của mình. Bình viện thì có cái quái gì phải bảo vệ? Cứ gọi gác-dan hay gác cổng như cũ nhưng dễ nghe hơn. Có điều giờ này có cái để làm, có miếng ăn mà bỏ vô miệng là may cho Chiến lắm rồi.

Từ chiều, chiến đứng ở cổng, nhìn thiên hạ, cho mọi người thấy mình. Lúc vắng người ra vô, lửa lại ngóng lên tán cây tôi gần đó, coi mấy con chim cống đã về tổ chưa. Thứ chim chỉ có hai màu, bạch bạch minh. Đầu trắng, đen, trắng bụng. Mùa hè ở rừng, mùa thu kéo nhau về phố, không biết làm gì. Dân thành thị hay đổ cống với cuốc gọi là. Cuốc lủi trong bụi nước kêu trong đêm hè. Đỗ bổ sung khác. Quyên ở trên cây, hay hát vào buổi sớm mai mùa thu. Quyên hét như tiếng rít, âm thanh bén và cao vút, xàn xao một vùng lá, không trộn lẫn với bất kỳ loài chim nào khác. Là nghe mấy người ở rừng nói vậy. Gần quân ở rừng nhiều ngày, với đánh lửa, tiếng đỗ đỗ như tiếng ru con, tiếng gọi chồng tha thiết, của những người phụ nữ sống tĩnh lặng trong căn nhà lá đơn sơ ven rừng. Căn nhà vắng bóng đàn ông và nước mắt nhiều hơn nụ cười. Thua trận, khép áo chiến binh về làm ông thông thường dân Nam bộ, đánh mang theo tiếng đỗ đỗ, mang theo màu đen trắng mộc mạc của loài chim, như mang theo cái tình cảm, cái hơi ấm nhẹ che của rừng…

Đến hơn 10g, khi lão Tự, tay bảo vệ bên cổng cung cấp nghiên cứu mở rộng thêm ánh sáng rực rỡ, kiểm soát cổng bên này, cầm theo cây đèn pin, bắt đầu thư giãn một vòng xung quanh phòng khách. Soi đèn từng chic ngách, bụi cây. Khi biết chắc chắn không có gì lạ, mọi thứ đâu ở chỗ mọi người. Quá trình leo lên Đấng bố trí, bên dưới gốc cây tôi lớn gần cổng, đang chực chờ tới sáng! Thưa bác sĩ, y tá hay bất kỳ ai có gì cần phải tới chiến binh, cứ nơi nào mà gọi. Đêm ngủ yên tĩnh, sống nằm ngửa mặt lên nhìn qua tán lá, bầu trời đêm ở đây mỗi đêm mỗi khác, không đêm nào giống đêm nào. Có trăng, không trăng, mây dày, mây mõng, nhiều sao, ít sao, khác nhau. Nhưng lạ lùng lại là một đêm rất giống trời của những lần hành quân, của những đêm gác ngày xưa. Bầu trời làm việc nhớ. Đêm nhắc nhở nhớ những kỷ niệm. Đêm lại mang đến cơn cuồng loạn. Nỗi lo lắng và nỗi sợ hãi nào, chỉ che chở cho những người tấm áo khác, nhưng vẫn còn nguyên. Lâu lắm rồi, Đánh không có một giấc ngủ tròn. Host năm sau, đánh dấu anh chàng bạn học cũ, đã xin chọn lựa chỗ làm này. Không phải chỉ là gói ăn, nó còn làm cho chiến hào cường vì chứng mất ngủ, giúp cho thoáng thoát ra những cơn ác mộng tử thần, chờ đợi sơn hào quang lại là kéo nhau tới. Cây me của bệnh viện, làm bạn với hôi hằng đêm, từng kể cho mèo nghe rất nhiều chuyện, cho mèo rất nhiều thứ, cả cái cảm giác được cảm thông và chia sớt của tình bạn.

Buổi sáng, mặt trời lên. Trước khi về, đám cháy luôn ná lại dưới gốc cây một lát, để chờ nghe trên đầu hoa vài tiếng chim đậu đỗ, chờ nhìn thấy cuộc chia tay bị rịn của vợ chồng chim, rời tổ đi kiếm. Cơ sở cũng đã từng có một cái tổ ấm như vậy, cho đến khi cái bần hàn, khốn khó, không còn giữ chân con chim mái được nữa. Buổi chiều về trong cái tổ trống hoác, vài đồng bạc góp nhỏ, sau một ngày bán sức lao động với chiếc xích-lô trên đường. Mức độ không chiến, đánh lửa chỉ buồn mình. Im lặng sống trong cái cô đơn đêm vĩnh hằng và giấc ngủ bằng giấc ngủ với người bạn mới: rượu!…

Đêm tới đã lâu. 1 cánh cổng lại. Phía xa, trên băng đá, hình như vẫn có người ngồi. Đang đi về phía đó. Một phụ nữ trong nhân bản đồ. Cô im lặng, nhìn ánh mắt, cặp mắt thẩn thờ trên gương mặt xanh xao. Chỉ một thoáng, ánh mắt lại hướng về hai cánh cổng đang đóng. nhẹ nhàng chào, rồi bỏ đi. Gần nửa đêm, vòng lại chỗ cũ, vẫn thấy cô ngồi, sương xuống băng tuyết nghe lạnh. swift:

• Khuya rồi…

Cô như tỉnh tỉnh mộng mơ, bạn tắm dậy đi về phía dãy phòng của mình. Đi theo, cho đến khi người y tá trực nhìn thấy, chạy trốn ra đón. Nửa dừng lại trước cánh cửa nhìn theo cô. Quy trình nội bộ không được phép kiểm tra bên trong, không hoạt động của một cổng tên gác!

Đêm sau, đêm nữa. Bình tĩnh lại ở chỗ ngồi cũ. lặng lẽ lại muộn rồi, và cô lại lững thững đi về phòng mình không nói tiếng nào. Một chút không biết và cũng không muốn tìm hiểu, gia cảnh cô ra sao, mà không có ai bên cạnh buổi tối. Cô ấy đang ở phòng nào? Cao chỉ chờ đợi, chắc chắn cô bị nặng và giàu có lắm, mới chịu nỗi đau chi phí dài hạn của cái bệnh viện này. Nói tóm lại, là mọi câu chuyện của cô ấy liên quan gì tới bạn, ngoài cái khoảng cách sangnhắc dài thượt của hai cuộc sống mà bạn cảm thấy được. Cho đến một đêm cô lên tiếng, lúc chớp mắt:

• Khuya rồi, cô lên phòng nghỉ đi, ngoài này lạnh…

Cô chần chừ, lấy trong túi áo lá 500 nghìn, đưa về phía bên cánh:

• Anh giúp tôi một công việc được không?

Gần gũi, thoáng hơi và thoáng mát tự ái:

• Không cần đâu. Cô nói đi, nếu tôi làm được…

Cô cười, nụ cười hắt nắng và ánh trăng:

• Tôi xin lỗi. Tôi chỉ mong nhờ anh mua giùm. Ở cuối đường TKH có quán ăn bán ban đêm. Anh cứ gì đó, nói bán một đĩa mì xào cho cô Quyên là họ biết. Anh làm ơn…

MỘT! cô gái tên đã biết rồi. Nó giống tên một loài chim yêu thích. Cái tên làm cho đáng yêu và gần gũi hơn. hoàn toàn tự chủ lấy tiền:

• Được, có ai hỏi, cô đừng trả lời là xong…

Ra đến nơi, mới biết. Quán đông toàn giới ca nhạc sĩ, họ Thả đây ăn sau buổi diễn. Cuộc sống về đêm sau ánh đèn. Cuộc sống lò nướng xiêm áo, đầy những cách đặc biệt và ngộ nhận. Cái ưu ái của đồng tiền, làm một vài người trong số họ, trở nên kệch cởm và lố bịch. Chắc chắn cô trước đây, cũng là một trong số họ…

Cô vẫn ngồi trên băng đá. Giai đoạn đặt mi và tiền thối trước mặt cô. Cô lí nhí cảm ơn, mắt dán chặt vào hộp mì đã mở sản phẩm còn thô. Sợ cô sợ, đứng trước ra xa một chút, chờ thử cô có nhờ thêm gì không. Không, không có gì cả. Cô gần như quên mất ngọc. Cô ngồi bất động, chỉ có ánh mắt chợt sáng lên rồi vụt tắt. Nụ cười nở ra chưa đáp ứng được biến mất. Để cho cô yên với những cái rất riêng, hẵn là cô đang nhớ tới nhiều thứ. ở lại tĩnh lặng về chỗ của mình. Im lặng thuốc, giấu nó trong bàn tay, thở thật chậm những hơi thở nhẹ nhàng, vì phòng giam bị cấm. Tối nay mặc kệ, có nó được thấy nhẹ nhàng hãy đi từng phần…

Tới nhẹ bước quay lại, cô đã mất. Hộp mì và tiền còn sót lại. Thì ra nhờ nhờ mua, không phải cô muốn ăn, mà cô chỉ muốn nhìn cho đỡ nhớ! Trẫm tiền, bụng sẽ được đưa lại cho cô, rồi thư già Tự đưa cho hộp thư già. Gác cổng bên trong tình yêu, ít đi lại, nhưng nhiều đêm đã bịnh, lão hóa trong suốt, cực hơn bên cạnh nhiều…

Đêm sau, như một sự thôi thúc không được khuyến khích. Từ cổng, kiêu phải nhẹ nhàng về phía băng ghế, coi có cô không! Lúc đi hết một vòng, ngang qua thấy trống rỗng, lửa cháy luôn ở trên đó như để chắc chắn mình không chật chội, đêm nay cô không xuống. Chờ đợi, không biết tại sao chờ và chờ để làm gì?

Sửa lỗi vừa dậy thì cô ấy sẽ xuất hiện. Cô nói với Bạch, nhẹ nhàng mà rõ ràng:

• Tôi muốn ra ngoài…

Nhìn cô, thở khác qua đêm. Hình như cô vừa trang điểm xong, khuôn mặt thanh tú mờ đi màu xanh xao thường ngày. Ending đầy đủ:

• Cô ấy không thể mặc định nhân vật được nhân bản. Cô…

Cô cười tinh nghịch, hé cho lớp coi lớp áo bên trong:

• Có sẵn rồi…

Chưa phản hồi đầy đủ. Cô ấy đã kéo áo khoác trắng luôn nói:

• Là đi với anh…Anh bỏ tôi đi!…

Gõ nhẹ như cái máy. Đã nói cái gì đánh giá được cho cô đánh đều làm, đã xác định bụng không từ chối bất cứ điều gì cô đề nghị rồi mà. đưa cô lại chỗ khuất sau gốc tôi, chờ cô hoàn thành bỏ bộ đồ cơ sở, thuận tiện giấu nó vào cái mộc trên thân cây, rồi sau cô ra cổng, sau:

• Cô ra trước sự mong đợi. Tôi lấy xe liền kề.

Anh cổng cho cô ra xong, anh chàng đóng kín, xông hơi qua đường lão Tự:

• Coi chừng, tôi về nhà có chuyện gấp, lát vô…

Lão Tự cười cười sặc sỡ:

• Vợ con không có, chó mèo cũng không, chuyện đèn gì! Đi đi, để tao coi. Lát vô nhớ mang theo cái gì ăn được.

Cuối cùng Dream tàu ​​ra ngoài, cô đã chờ sẵn trong Chiếc váy hai màu đen trắng. Đã quá nửa đêm, xe cột thưa thớt, vài cơn gió lạnh tốc độ qua Chiếc Váy đẹp và sang trọng. Nằm gần đo, sống dưới yên xe cái áo khoác cũ, hơi thở hôi mùi hôi cho cô:

• Cho lạnh…

Áo che chắn, nhảy lên xe ngồi, ôm ngang bên ngoài tỉnh bơ:

• Đi anh, chỗ nào cũng được…

nhẹ nhàng cô ra trung tâm, vòng qua mấy phòng trà, tụ điểm ca nhạc. Giờ này, người ta đã ra về hết, đâu còn ai, chỉ có mấy tấm bảng hiệu đèn nháy chớp nhoáng, chực chờ ở những cái tên và hình ảnh quảng cáo.

Chỗ nào cô ấy cũng kêu gọi dừng lại. Cô nói:

• Em hát ở đây…Ở đây nữa…Đây nữa…Chỗ trợ này là vui nhất…Đông lắm…Đêm nào cũng vậy…

Ngang qua đường Duy Tân, cô

Yêu xuống đi bộ, tắm cũng chiều, đà luôn chiếc xe lên lề, để đi với cô. Cô ấy khẳng định người vào hộp. Những bước đi chậm và nhẹ nhàng. Cô đang về với tháng ngày qua của mình, còn ngọc lọt vào vùng trời kỷ niệm ngày mới lớn. Không ai nói với ai bằng tiếng nào. Có thể chiến đấu trở thành một người khác, một ai đó với cô, và ngược lại!

Tới hồ con rùa, cô vùng chạy lại ngồi lên trên bờ rìa, hai chân nhúng vào trong nước đồng đưa ra, tay ngoắc ngoắc:

• Lại đây, em cho coi cái này

dựng xe, ngồi xuống cạnh. Cô lấy điện thoại trong Chiếc cốc nhỏ, ấn mấy cái rồi áp nó vào tai hộp:

• Nghe đi, em hát đó! Hay không?

Không cần phải nghe cũng gật đầu. Cái gật đầu đồng tình hơn là công nhận. Cô tuần sát sát, cửa hàng tiếng hát theo. Giọng cô nhỏ và khả năng đặc biệt, khác với giọng hát trong máy. Hạ sốt, chưa tìm được câu nào để nói, thì cô đã ôm ngựa lấy ngọc, tay cô kéo mặt đỏ thật gần mặt cô, mã mặt mãng hồng và nụ cười làm duyên:

• Coi nè, em giờ xấu lắm phải không? Phải không?

Trời đất, tình cảnh này mà hỏi Hỏa chuyện đẹp xấu, kiềm thiệt chứ. Ánh sáng của ngọn đèn tỏa sáng lại. Sương nhìn thật sâu vào mắt đó, môi đó, vào tất cả những cảm giác nồng nàn còn sót lại trên đó. Lâu lắm rồi, đánh mới tìm lại được cái thanh thản, nhẹ đềm khi nhìn một khuôn mặt. chuyển động lia lịa:

• Không, không tệ! Đẹp, đẹp mà…

Lần này thì sẽ nói thật, rất thật. Cô cười, suy nghĩ cô đang vui. Cô lại ấn báo, rồi ra mặt trước mặt góc, tấm hình quảng cáo cho một buổi ca nhạc. cảm thấy hình cô với những người khác, và cái tên: ca sĩ Đỗ Quyên! Cô tiếp:

• Chương trình này lớn lắm, hay lắm! Em hát đầu tiên. Anh coi chưa? Thấy em hát chứ hả?…

Lâu lắm rồi, đánh không quan tâm tới mấy thứ này, tới ba cái ca hát trên tivi chiến còn làm cống coi, nói gì tới nó. Nhưng nhìn sơn phấn của cô khi hỏi, sơn không nở:

• Có, có! Em tuyệt lắm…

Cô cười lớn:

• Đốc, doc tổ! Không có em, em, không diễn ra được. Em bịnh, known?…

Cười, cô bật. Khóc ầm ĩ. Mặt nạ trên vai chiến đấu. Khóc ngon lành như một đứa trẻ. Ngồi im lặng, chịu đựng…

Gần đó cô ấy đã đưa ra một lựa chọn mới sáng sủa để đến thư viện. Phương pháp trực tiếp cửa ra đón:

• Ở đâu…mà…mà…

Im lặng không trả lời, nhìn theo cô được dìu đi khuất. Nghe như vừa đánh mất một điều gì đó quý giá của mình…

Một tối, hai tối, ba tối, không thấy cô. Đến bữa thứ tư, thì tắm chịu hết nổi. Tự nhiên Cát bạch lo, cái lo lắng vô suy. Nỗi sợ hãi cho một câu chuyện không tháng năm. Mặc định cho bộ đồ của mình tất cả thường ngày và đi làm sớm. Open window, step to the room. Tay y tá trực thấy cờ, ngạc nhiên hàm có ý hỏi đánh chuyện gì? nhẹ nhàng hỏi lại:

• Cô Quyên…Cô Đỗ Quyên ở phòng nào?

• Phòng 1, lầu 2, khoa Lây…

• Bình cái gì? Cô sao rồi?

• Phổi! Nặng lắm! Trở lại mấy ngày. Chắc chắn qua đêm nay…

Vùng chạy về phía cầu thang, mặc định tay y tá kêu Ê!…Ê!…

Phòng cô đông người. Mùi dầu thơm, mùi son phấn sực nức. Những bộ quần áo tiền lấp lánh xung quanh. Cô nằm chặt xuống giường, rất nhiều chiếc ống cắm lên trên. Không thắc mắc, không cần biết trong số những người ở đây có ai là nhà, là bạn, là người yêu, là chồng cô, hay không. Mặc kệ họ nghĩ gì, nói gì. Luôn luôn xin lỗi, rồi chen vào. Đứng yên nhìn cô, im lặng bao trùm. Nhẹ nhàng xuống sát mặt cô gọi khẻ, chỉ cho mình cô nghe:

• Cô Quyên…Cô Quyên…

Chất gọi và gọi, gọi trong niềm hy vọng nhỏ nhoi cô còn nghệ được. Và cô mở mắt, cô nhìn thấy tím, môi cô mấp máy, tay cô run run. Không thể được, quên luôn mọi người xung quanh đang nhìn mình. ngồi xuống ngay mép giường, ôm choàng lấy cô, người đánh rơi xuống, đè lên những cái ống. Không thể nghe được cô nói gì. Hai cánh tay yếu ớt của cô đã không còn sức để ôm hồn như đêm nào. Những ngón tay cố gắng ôm chặt vào vòng tay. Những thứ nước mắt ứa ra, lăn trên mặt cô. giọng nghe mắt mình cũng cay sè. Yên lặng và bất động…

Cho tới khi đánh lửa nghe thấy tiếng ồn, tiếng ồn ào và người y tá nhẹ nhàng cởi tay cô ra khỏi sơn. bình mới chịu buông cô ra, loạng choạng dậy dậy. Thử nghiệm có thể rời khỏi phòng như một người mơ mộng.

Ngoài sân đã tắt nắng. Im lặng bên dưới thông báo trước của tôi. Không còn tiếng ồn ào gọi nhau của nhóm đậu trên cành. Những giấc mơ thấy họ đã bỏ qua nơi này, bỏ qua, mà về với rừng. Về và không bao giờ quay lại nữa. Những sớm mai, sẽ không còn ai nghe được, tiếng hót ríu rít của loài chim đỗ quyên gọi bạn. Tự nhiên mọi thứ với lửa cháy trở thành xa lạ và buồn hiu hắt. Thùng quần quần áo của cô, đã được cửa hàng trong suốt đêm nào, cuộn nhỏ lại, xô vào trước đẩy sau áo. Cốt đã có cô, vẫn còn cô ở trong người. sẽ mang cô về, về với vùng trời của trẻ. Ngoài ra, nơi đó cô có là gì của thiên hạ cũng không liên quan gì tới Tứ!

Nhìn cánh cổng và bảo vệ ánh sáng đang chờ đợi thay thế. Thăng tiến xe ngang qua hiện tại và…không dừng lại! Ngày mai, cây tôi già sẽ tẩy trọi vì thiếu những người bạn, đỗ quyên và…hắn!

Xe chạy trên đường, đầu hộp trống. Cảm giác cũng không muốn về nhà, về cái tổ đã quen với cái trống vắng của đêm thường trực. Một số lá vàng rơi ngang qua mặt sáng. Giờ thì biết chắc chắn mùa thu đang tiến tới và những cánh chim đỗ đã thực sự không còn…

Trong đám tang của cô, lúc lên đồ. Lẫn trong những bộ quần áo thời trang lẫy lẫy, người ta đã tìm thấy một chiếc áo khoác cũ đã bạc màu, được sắp cẩn thận, bên dưới cái váy màu đen trắng. Cái áo khoác đàn ông…NĐH

Gió sang ngày

Trần Huiền Ân

.

Căn gác rộng bốn mét vuông. Hai cửa sổ chiếm hai bên vách. Phần còn lại chỉ đủ chỗ treo một bức tranh, một tập lịch và chiếc đồng hồ. Chiếc bàn rộng kê sát góc. Trên mặt bàn, ống đựng bút, cái gạt tàn, bao thuốc lá, hộp quẹt. Bên phải ghế ngồi, một chồng sách chất cao. Dưới gầm bàn lại mấy thùng chứa sách.

Chủ căn gác vừa tròn sáu mươi, là một nhà giáo sắp nghỉ hưu. Công việc ban ngày của ông ta, một buổi đi dạy, một buổi, vợ ông ta cũng là một nhà giáo đến trường, ông ta phải chăm sóc mội trăm con gà công nghiệp : cho gà ăn, thay nước uống, lượm trứng. Ông ta chỉ lên gác ngồi vào ban đêm, sau khi nghe xong bản tin buổi chiều.

Trên bàn, còn một vật phải kể đến. Ấy là pho tượng nhỏ bằng chì, cao chừng một tấc, nguyên ông ta nhặt được mấy năm trước, thấy hay hay giữ lại. Một đêm, bất chợt ông ta nhìn kỹ pho tượng. Đây là một chiến binh bại trận. Chiếc nón chóp nhọn hất ngược ra sau. Tay trái cụt vào phía trong khuỷu. Bàn chân trái dẫm lên, cố giữ chiếc khiên chỉ còn nửa. Đầu gối phải hơi quỵ. Tay phải buông xuôi nhưng vẫn cầm chặt chiếc giáo gãy lưỡi… Trong đường nét đơn sơ, lờ mờ của khuôn mặt, ông ta nhận ra người chiến binh đang cắn răng chịu đựng đau đớn, cả về tinh thần và thương tích trên cơ thể. Sáng ra ông tìm một vuông nỉ nhỏ màu đỏ, lót dưới pho tượng, cảm thấy như người thương binh sống hơn, có hào khí hơn.

Từ đo, những giây phút nghỉ ngơi giữa chữ nghĩa, ông ta ngồi tựa người thư thả thở khói thuốc nhìn pho tượng. Có khi ông ta mân mê cánh tay cụt, mũi giáo gãy, muốn pho tượng biểu lộ sự đồng cảm như ông ta đã đối với pho tượng, song tuyệt nhiên pho tượng bằng chì ấy vẫn lặng lẽ, dửng dưng, chìm đắm trong kỷ niệm xa xưa nào.

Hôm khai quật phế tích Chùa Bà, có người đem tặng ông ta một pho tượng vũ công Chiêm Thành. Cô vũ công hình như bằng đồng, cao cũng gần bằng người thương binh, được chạm khắc công phu, tỉ mỉ hơn, hai gót chân chụm lại, bàn chân mở ra, hai tay đưa cao, ngẩng mặt lên, tươi tỉnh. Ông ta tìm một vuông nỉ nhỏ màu xanh, đặt cô vũ công lên đó, bên cạnh pho tượng chì.

Ít lâu sau, ông ta ngờ ngợ, qua đêm trên mặt bàn có chút gì thay đổi, thứ tự hơn, sạch sẽ hơn, chẳng hạn bao thuốc lá được đặt ngay ngắn, cây bút được đóng nắp lại, những mẩu cát bụi không có. Một đêm, do ly rượu nồng uống với người bạn buổi chiều, ông ta gục xuống mặt bàn ngủ thiếp. Giữa giấc bỗng nghe có tiếng động nho nhỏ, tiếng nói nho nhỏ như là tranh luận. Ông ta hé mắt nhìn, và rất đỗi ngạc nhiên. Giọng người thương binh chậm rãi :

           -Tôi coi đó là chuyện thường, trong bao nhiêu chuyện thường ở đời, tôi có quyền chấp nhận và không chấp nhận. Tôi yêu ông ấy một số điểm, đồng thời ghét ông ấy một số điểm. Nói chung là tôi không có sự ràng buộc nào với ông ấy. Còn cô, xin tùy cô…

Người vũ công bước ra khỏi vuông nỉ xanh. Cô phải khom người xuống mới đẩy nổi chiếc quẹt ga đến nằm song song sát bên bao thuốc. Bỗng cô thét lên thất thanh. Ông ta choàng dậy. Một con chuột từ mặt bàn phóng theo song cửa sổ. Hai pho tượng vẫn đứng yên nơi vị trí cũ. Ông ta cúi nhìn xuống. Nét mặt cô vũ nữ chưa hết vẻ hoảng hốt. Cô hơi run run. Chợt ông ta mỉm cười. Quả là mình đã bị ảnh hưởng những chuyện liêu trai, đem chắp nối giữa mộng và thực.

Đêm sau, muốn khám phá những bí ẩn về hai pho tượng, ông ta mắc chiếc võng vải lên gác, mười giờ tối mang kính râm đi nằm, định bụng sẽ thức để quan sát mọi điều. Thế nhưng chờ đợi mãi không thấy gì, ông ta ngủ quên. Nhiều đêm liên tiếp như vậy, sáng ra ông ta cứ ngờ ngợ: trên mặt bàn có chút gì thay đổi?

Mấy tuần lễ trôi qua.

Lần ấy…chừng một giờ sáng. Cô vũ công nói:

-Dẫu sao…ông ấy, anh và tôi, nơi căn gác này là cùng sống dưới một mái gia đình. Và dẫu sao…ông ấy là chủ của chúng ta.

Tiếng người thương binh:

-Cô là vũ công cung đình, quen thân nô lệ, sẵn sàng đặt quan hệ chủ tớ. Điều đó không hợp với một chiến binh như tôi.

-Dù muốn dù không, anh và tôi, đều là vật sở hữu của ông ấy. Ông ấy chẳng đã bày tỏ sự ưu ái, đã trải thảm đỏ, thảm xanh dưới chân chúng ta đấy sao?

-Lẽ ra ông ấy phải để tôi được chôn vùi mãi mãi trong lòng đất, cũng như cô ngàn năm yên nghỉ dưới phế tích chùa Bà. Ông ấy đưa tôi lên đây để làm gì? Tôi không thích, không quen đứng trên thảm đỏ. Chỗ của tôi ngoài chiến trường, là rừng núi, là tiếng loa kêu gọi, tiếng kèn xung trận, tiếng thét xông lên…

-Làm sao tắm hai lần trên một lưu lượng? Anh còn có đủ sự tráng kiện ngày ấy không? Chúng ta ở đây, bên nhau, âu cũng là Định Mệnh. Đêm đã bắt đầu chuyển sang ngày, anh có nghe chăng, một giọt nồm nhè nhẹ? Hãy đi một vòng, song song với bước đi của thời gian mà lắng tai tìm hiểu. Đằng kia có một khối đá, chúng ta đến xem…

Cô vũ công bước lại, quàng tay qua vai người thương binh. Chân phải của pho tượng chỉ hơi khập khiễng. Hai pho tượng sánh nhau đi trên mặt bàn, có lúc im lặng, có lúc thì thầm điều gì ông ta không nghe được. Trở về giữa mặt bàn, họ dừng chân bên quyển vở mở rộng hai trang giấy trắng, chặn một viên đá hình bầu dục. Người thương binh mừng rỡ nói lớn:

-Ồ, khối đá! Loại đá đen được nắng mưa sông suối bào mòn gọt láng thế này phải ở tận thượng nguồn và đã già nua lắm. Nơi đó biết bao nhiêu là đá. Chúng tôi đã từng nằm gối đầu lên đá, gươm giáo một bên, chờ giờ xuất kích.

Tiếng cô vũ công:

-Vậy anh hãy tưởng tượng trang giấy này là bãi cát ven sông. Thử một lần gối đầu lên đá và mơ giấc mơ xưa.

Cô vũ công giúp người thương binh nằm xuống, gối đầu lên đá. Cô đem vuông nỉ xanh đắp lên người anh rồi quay đi, chừng năm bảy bước, ngoái nhìn. Người thương binh tung vuông nỉ xanh ra, đứng dậy đến bên cô, rụt rè nắm tay cô. Vài tích tắc trôi qua như là để họ nhìn vào mắt nhau. Rồi cô vũ công ngả đầu trên vai người thương binh, tay phải anh quàng qua ôm cô, cánh tay trái vung vẩy, trông thật đáng thương.

Họ bắt đầu hôn nhau thì ông ta nhắm mắt lại, không nuốn xoi mói giây phút thiêng liêng riêng tư của người khác. Lòng ông ta thầm nghĩ: Xin chúc hạnh phúc. Ta sẽ tác thành cho hai bạn.

Ông ta thức dậy muộn, tự trách mình sao đã ngủ quên và ngủ quên lúc nào. Trên quyển vở hai pho tượng nằm bên nhau, đè lên vuông nỉ đỏ, vuông nỉ xanh phủ kín nửa thân. Ông ta lại phân vân: Đêm rồi đã xảy ra câu chuyện như thế chăng? Hay vẫn là sự liên tưởng, chắp nối giữa mộng và thực? Người thương binh đã ôm lấy cô vũ công, họ đã hôn nhau và âu yếm nằm bên nhau? Hay cơn gió sớm buổi sang ngày xuyên qua cửa sổ đã thổi văng hai pho tượng cùng hai vuông nỉ?  “Ta sẽ tác thành cho hai bạn” ! Ông ta tự cười cái ý nghĩ trẻ con của mình. Làm sao ông ta có thể tác thành cho họ được? Nếu họ có linh hồn thì việc họ gặp nhau là do một căn duyên nào đó của Trời Đất, chỉ có Trời Đất mới tác thành cho con người, chứ con người hôm nay làm sao tác thành cho những kiếp đời hàng trăm năm trước?

Ông ta đặt hai pho tượng lại chỗ cũ, dùng viên đá chặn giấy đè lên giữa hai vuông nỉ để phòng gió thổi. Cũng là để, nếu pho tượng có hồn thì người cựu binh có thể tìm thấy ở đó nét chấm phá của dáng dấp núi rừng, đầu nguồn mạch suối, nơi đã từng là chiến trường oanh liệt. Đêm đêm, ông ta lại bày một chút bề bộn, để khi cô vũ công thu dọn, hai pho tượng có cớ nói về ông ta. Ông ta cũng chú ý chọn những vật nhẹ nhàng, những việc nhẹ nhàng, như chiếc nắp bút không đóng, vài chiếc kim găm vung vãi, để cô vũ công đỡ vất vả. Sáng ra, ông ta cứ ngờ ngợ : Có chút thay đổi gì trên mặt bàn chăng? Hay cái thứ tự này đã được sắp xếp gọn trước khi đi ngủ?

Bẵng đi một thời gian bận nhiều công việc.

Một buổi tối ông ta cầm hai pho tượng lên lau bụi. Ông ta có cảm tưởng cô vũ công đẹp hơn, duyên dáng hơn, nụ cười hàm tiếu đã trở thành mãn khai. Người thương binh cũng bớt đi nhiều vẻ đăm chiêu xa vắng. Chân phải không còn quỵ xuống nữa, đã gần đứng thẳng được. Cau mày nhớ và nghĩ, rốt cuộc ông ta cũng không giải đáp được nỗi phân vân: Có phải vậy chăng? Hay việc đầu gối của pho tượng chì quỵ xuống chỉ là cảm giác hoàn toàn chủ quan, ta ngỡ vậy vì khi nhặt được đã sẵn định kiến, đinh ninh rằng đây là pho tượng miêu tả một chiến binh bại trận đau khổ?   

Tô bún mọc ký ức

Đinh Lê Vũ

.

Một món ăn nào đó gắn với đoạn ký ức thường đọng lại dư vị khó phai, dẫu cố kiếm tìm cũng khó chuẩn vị như trải nghiệm ban đầu…

Bún mọc là món phổ biến ở Hà Nội. Ảnh: Internet
Bún mọc là món phổ biến ở Hà Nội. Ảnh: Internet

Cách đây chừng ba chục năm, tôi dạy ở Biên Hòa. Hồi đó tôi mới ra trường, chỉ ngoài hai mươi, tài sản chỉ là cái rương gỗ mang từ bốn năm đại học ở Huế vô. Tôi sống ngay trong khu tập thể sinh viên của Trường Cơ điện Đồng Nai, bên cạnh nhà máy giấy Tân Mai.

Trên đường chạy ra phố, gần ngã ba Máy Cưa, có một quán bún mọc. Quán bún nằm dưới một khoanh đất trũng sâu so với mặt đường, phải xuống mấy bậc thang cấp bằng xi măng, lại không có tên nên Nguyên gọi là bún Trũng, tôi thì gọi theo Nguyên nên mặc định nó là quán bún Trũng, Nguyên cũng là người chỉ tôi đến ăn bún chỗ này. Hồi đó, mỗi khi rủng rẻng tiền, tôi, Nguyên và Tiến, ba gã giáo viên trẻ ở chung phòng hay rủ nhau ra bún Trũng là có một bữa phong lưu.

Thật khó nói là tô bún Trũng có thật sự xuất sắc hay không nhưng đó là tô bún mọc đầu tiên tôi biết tới, Hội An của tôi và Huế, Đà Nẵng ngày đó không có bún mọc. Đối với mấy thằng trai trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, lại nghèo như chúng tôi hồi đó, tô bún mọc như một thứ cao lương mỹ vị thần tiên.

Nước dùng ngọt đậm đà, các loại mọc, chả cắn vô thấm thía đầu lưỡi, chả quế thơm mùi đặc biệt. Đó cũng là miếng chả quế đầu tiên tôi được biết trong đời. Vì có nhiều thứ đầu tiên trong tô bún mọc ngày đó nên tôi nhớ. Nhớ vị nước dùng, nhớ cảm giác khi ăn miếng chả quế, nhớ cả vị ớt xanh cay xé mà thơm, nhớ cả miếng hành phi rải trên tô bún, nhớ tô rau sống có tía tô, hoa chuối xắt sợi và rau muống bào ăn kèm…

Đầu năm 1993, tôi rời Biên Hòa, lang bạt nhiều nơi. Ăn nhiều tô bún mọc, từng vài lần ăn bún mọc ở Hà Nội, nơi được coi là xuất xứ của bún mọc, thậm chí vài năm sau khi rời Biên Hòa, tôi còn có đôi lần quay lại quán cũ, nhưng vẫn không tìm lại được cái hương vị và cảm giác ngày ấy. Gần nhất là năm ngoái, trong một dịp ghé lại Biên Hòa dự đám cưới con của bạn thân, tôi có tìm qua chốn cũ. Mọi thứ đã khác xa, không còn một chút dấu vết.

Trong đời người ta, thường lưu dấu những ký ức. Nó có thể vô nghĩa, nó không gắn liền với điều gì đặc biệt, nó lẩn khuất trong muôn ngàn thứ đã trải qua trong đời, ở một khoảnh khắc nào đó, thăm thẳm, hút sâu, nhưng không quên được. Nó không dưng trở thành nỗi nhớ thương, thoạt tiên là chỉ nhớ hương vị một món ăn, một góc quán, một con đường cũ.

Rồi lan man nhớ đến những người đã cùng mình trải qua những năm tháng đó, nhớ những ngọt bùi, vui buồn đã có với nhau. Nhớ người yêu cũ. Nhớ những người ơn. Rồi nhớ rộng hơn, nhớ cả một thành phố, một vùng đất.

Kỷ niệm không chỉ là một thứ cụ thể để mình có thể quay về tìm lại. Nó còn là cảm giác được sống với những thứ xưa cũ và niềm hạnh phúc bé mọn từng trải qua với những thứ ấy. Đôi khi, nó như những đợt sóng ùa về, nhắc mình nhớ ra, đời sống này ngắn lắm. Những tháng ngày hiện tại, có thể nhạt nhẽo, có thể vô nghĩa, nhưng sẽ là kỷ niệm của ngày sau.

Hoa nguyệt quế trong mưa

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Hoa nguyệt quế chờ

mây rơi xuống nở

tầng tầng lớp lớp những đóa mưa

Tôi thấy một nhà thơ đang loay hoay như đàn kiến

tìm nơi trú ẩn trong một hũ đường

Mỗi chữ là hạt đường long lanh

chúng rơi xuống, dính chặt vào râu, vào cánh

hắn cắn, hắn nuốt, hắn lịm đi trong vị ngọt

Từng câu từng câu

Tầng tầng lớp lớp

Những đoá mưa đang tan rã

Hoa nguyệt quế chờ

Thơ rơi xuống

Mong manh

Buồn thảm

Tháng hai

Trần Thị Cổ Tích

.
nắng đã ấm rồi đó em yêu
hôm qua chim én ngủ yên lành
hôm qua nghe gió trời xao xuyến
gọi ánh xuân về trong mưa xanh

tháng hai mỏng mảnh bóng tơ trời
chạm lên vai nhỏ, hỏi giùm tôi
khi nào em đến, qua lối hẹn
ngắm cội mai vàng đêm ba mươi

tháng hai ta nhớ lời tình xưa
ngồi bên nhau đợi phút giao thừa
tách cà phê ấm trong lòng phố
nói khẽ điều gì như tiễn đưa

tháng hai giữ màu sương khói nhé
một thoáng run run lạnh cuối mùa
một chút hương trầm vương góc phố
và một chuyện tình
bỏ ngỏ suốt trăm năm

ttct

Tháng Giêng về Ba Tri

Hồ Chí Bửu

.

Nắng Ba Tri bay mùi muối mặn

Ta trở về Bảo Thạnh buồn hiu

Mười năm – hồ dễ mười năm chẳn

Phú Lễ – chừng như nhớ rất nhiều..

.

Tiệm Tôm – biển vẫn như ngày cũ

Gió về Tiên Thủy sóng xôn xao

Ai về Mỹ Chánh cho ta nhắn

Lữ khách dường như ngấn lệ trào

Phan Thanh Giản gởi thân Bảo Thạnh

Rượu độc ngày nào thành rượu tri ân

Danh tướng bây giờ nằm hiu quạnh

Lặng lẽ mà nghe nắng lịm dần..

.

Giồng Tre ôm ắp thân Đồ Chiểu

Một thuở vang trời Lục Vân Tiên

Gởi cho thiên hạ lời kinh diệu

Khí phách mà nghe rất đổi thiền

.

Trở về – là muốn lòng ấm lại

Thơm phức đâu rồi rượu Ấp Sanh

Đêm nay ta sẽ về Phú Ngãi

Thắp nén nhang thơm – Chiến Sĩ Hành…

hochibuu

Ngồi nghe mình hát 

PN.Thường Đoan

.

Ngồi im nghe tiếng chân rộn rã dừng bên nụ hoa

ngồi im nghe chim líu lo gọi nhau

ngồi im nhìn mây đùa nắng bồng bềnh

tôi biết, bão giông không còn.

.

Ngồi im trên metro lướt qua cuộc đời người

xòe tay gió hôn vội những ngọc ngà xa xưa

màu xanh cuối thu lẻ loi

màu xanh hết đông lưa thưa

gom hết về dâng cho mùa xuân sáng nay.

Sáng nay tôi ngồi một mình với bình yên

lá rơi xuống nốt trầm

nắng treo trên cao cùng đỗ quyên gọi chào

lưu ly hỏi, người xa về chưa.

.

Ngồi im nhìn người đi bên người, trái tim bảo tôi cười

nụ hôn tuổi thơ ấm một đời, đã cay

một tiếng chờ nhau giờ trả cho sông dài

đò tôi neo giữa cồn hoang.

Ngồi im nghe mùa xuân vỗ về

này, những chua cay để phong ba cuốn đi

đừng trách gió đã quên đốm lửa đêm giao thừa

bể dâu là cuộc cờ.

.

Sài Gòn nắng mưa vẫn đợi chờ nhau.

.

Mắt Huế

Nguyễn Kim Huy

.

Trưa hôm ấy nắng mênh mang thôn Vĩ

Nắng ngập ngừng chừng nắng mới vừa lên

Thuyền chở trăng còn ở lại bến bên

Lòng thoáng dậy chút hồn thi sĩ

.

Những thành quách cỗi già bao niên kỷ

Em trẻ trung xinh đẹp đến không ngờ

Những thành quách đắm chìm trong suy nghĩ

Em ngoan hiền trong trẻo tựa vầng trăng

.

Trưa hôm ấy giờ đã thành xa vắng

Lúc chia tay không kịp nói một điều

Trời nhẹ gió và nồng nàn những nắng

Mà mắt ai dai dẳng Huế mờ mưa

.

Trưa hôm ấy đã là bữa trưa xưa

Huế trầm mặc và em thành kỷ niệm

Hương giang neo thương nhớ dập dềnh xô

Đen láy bờ mi em có biết chi mô!