Feeds:
Bài viết
Bình luận

 Trương Văn Dân

Truớc khi bạn đọc bước vào tập truyện, chúng tôi xin được kể một câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp. Câu chuyện mà Apuleio mở đầu trong Biến Thể (Metamorfosi) đã cho rằng “Câu chuyện cổ tích đẹp nhất từng được viết”. Đó là Thiên tình sử của thần Cupido (“Tình yêu”) và nàng Psyche (“Tâm hồn”). Câu chuyện đại khái thì có nhiều người biết, nhưng ở đây nó sẽ được kể lại ở dạng ngắn gọn đầy đủ nhất có thể viết được để nói lên khát vọng của nhân loại luôn muốn có cuộc sống hài hòa trong đời sống tình cảm. Câu chuyện có cả  yêu thương và oán giận, ngưỡng mộ và ganh ghét, âm mưu và trừng phạt, niềm tin và lừa dối… những va chạm không tránh khỏi trong mái gia đình.

Nhưng “Tình yêu” không thể là “Tình yêu” khi không có “Tâm hồn”, vì thế “Tình yêu” đã tha thứ và phải tìm lại “Tâm hồn” và đấu tranh cho “Tâm hồn” được vĩnh viễn gắn bó với “Tình yêu”!

Chúng ta hãy cùng dõi theo cuộc hành trình gian nan và vất vả của Tình yêu (Amore) tìm đến với Tâm hồn (Psyche) rồi Tâm hồn cũng lại phải đi tìm lại Tình yêu. Nhưng cuối cùng lòng tin trong sáng, sự trung thực, ý chí quyết tâm bảo vệ tình yêu nàng đã chiến thắng, hàn gắn lại được những rạn nứt nên các vị thần đã ban cho họ cuộc sống hạnh phúc trong thế giới vĩnh hằng.

        Thiên tình sử của thần Cupido và nàng Psyche [1]

Ngày xưa ở xứ Hy Lạp cổ đại có một ông vua và hoàng hậu sống với nhau rất hạnh phúc. Họ có ba cô con gái xinh đẹp mà cô út – tên là Psyche (nghĩa là “Tâm hồn”) – có sắc đẹp không bút mực nào diễn tả. Ba chị em thường mơ về người chồng tương lai. Người chị cả nói: chồng chị sẽ là một vị tướng nổi tiếng và chị sẽ cho các em thấy những cuộc chinh phục lớn nhất của chàng. Người thứ hai nói chồng của tôi sẽ rất giàu có nên tôi sẽ ăn mặc với lụa tốt và đồ trang sức đẹp nhất. Còn em Psyche, chồng em sẽ như thế nào? Tất cả những gì em muốn là một người chồng biết cưng chiều và tình yêu của chàng mang lại cho em hạnh phúc.

Nhiều người từ các vương quốc xa đã phải đi một hành trình dài chỉ để được thấy Psyche và xem đây là tạo vật xinh đẹp nhất trần gian. Điều này làm hai bà chị đố kỵ và tức tối. Vì tôn sùng Psyche trẻ đẹp nên việc thờ phụng nữ thần Venus  ( Vệ Nữ  hay Aphrodite)  bị sao nhãng. Các cống phẩm trước đây được dâng cho nữ thần bây giờ thưa thớt và ngôi đền của bà trống rỗng. Việc này làm bà  tức giận nên quyết định trừng phạt cô gái người trần mắt thịt kia.

Thần Vệ Nữ liền gọi con trai của mình là thần tình yêu Cupido (hay các tên gọi khác là Amore, Eros, Tình yêu )  và bảo: “Con hãy làm sao cho Psyche yêu một kẻ hèn mạt nhất và suốt đời bất hạnh với hắn!”. “Dạ con sẽ nghe lời mẹ! ”

Thần Cupido là người bắn cung còn đáng sợ hơn cả thần mặt trời Apollo, bởi vì những mũi tên của Apollo chỉ lấy đi mạng sống của con người, còn mũi tên của thần Ái tình lại là những mũi tên vô hình,  nhưng có thể mang đến niềm vui và khổ đau cho suốt cả đời người.

Thần Cupido bay đi thực hiện điều mẹ chàng ra lệnh nhưng kết quả không như mong muốn của thần Vệ Nữ. Khi đột nhâp vào hoàng cung và nhìn thấy Psyche đang ngủ, Cupido vô cùng kinh ngạc bởi vẻ đẹp của nàng nên đã bị mê hoặc đến mức mất tập trung và khi nàng trở mình thì anh bị một mũi tên… tự bắn trúng mình, khiến anh yêu nàng như điên dại. Tình yêu nàng đã bao trùm lấy trọn con tim của vị thần tình ái. Thần Cupido nhất quyết rằng người đẹp này phải là vợ mình và đã làm mọi cách để tất cả các chàng trai khác phải rời bỏ nàng.

Đã không thể hoàn thành nhiệm vụ của mẹ đã giao mà từ đó,  Cupido lại vương bận mối tơ lòng. Chàng lẳng lặng trở về cõi thần tiên mà chẳng nói gì về những gì vừa xảy ra. Thần Venus chờ tin và khi bà biết Psyche đã may mắn thoát được mũi tên của Cupido, liền buông lời nguyền rủa.

            Psyche không hay biết gì nên vẫn tiếp tục cuộc sống của mình nhưng có một điều lạ là dù xinh đẹp và được yêu nhưng vẫn chưa có ai cầu hôn trong khi hai cô chị có  rất nhiều người theo đuổi. Hai chị bèn trêu cho hả giận “Này cô em, sao em được mọi người thích mà đến giờ em vẫn chưa lập gia đình vậy? Xem hai chị nè, đã kết hôn hạnh phúc với những người đàn ông cao quý”.

  “Em không lo vì sẽ sớm xuất hiện người cầu hôn xứng đáng với trái tim của em”. Nhưng sau đó chẳng có một kẻ nào dám đến cầu hôn nàng. Nhà vua thực sự rất lo cho con gái út vì ngài không biết thiếu người cầu hôn là do Cupido  đã làm cho  tất cả đàn ông không được đánh thức tình yêu với Psyche. Thế là nàng Psyche phải sống trong cảnh cô đơn. Nàng chẳng yêu ai cũng không ai yêu được nàng. Bởi vì Cupidon đã giữ lại những mũi tên yêu.

Tình hình đó làm cho vua cha và hoàng hậu rất đỗi lo lắng. Họ chỉ còn cách đến đền thờ thần  tiên tri xin ban cho một lời chỉ dẫn và thật ác nghiệt vì thần đã phán truyền  như sau: “Psyche sẽ có một người chồng!  Đó là một con mãng xà có cánh, sức mạnh còn hơn các vị thần. Chồng nàng sẽ đón nàng đi vào một đêm khuya. Hãy mặc cho nàng đồ cưới, đưa nàng lên đỉnh đồi cao và để nàng ở lại đó một mình. Nếu không làm đúng như vậy thì chưa biết những tai họa gì sẽ giáng xuống đầu thần dân xứ này.”

Đức vua trở về thuật lại lời phán truyền của thần tiên tri cho mọi người biết. Cả kinh thành vang lên tiếng khóc than thảm thiết.    

Nhưng 2 cô chị của Psyche thuyết phục vua nên  tuân theo lời của thần tiên tri là hy sinh Psyche để tránh cơn thịnh nộ của mãng xà và sự diệt vong của tất cả dân trong thành phố.

Người ta đành sắm sửa lễ vật tiễn đưa Psyche. Còn nàng, tuy cũng không cầm được nước mắt nhưng vẫn cố gắng trấn tĩnh để an ủi vua cha và hoàng hậu:

– Xin cha mẹ bớt đau buồn! Nếu con phải lấy một người chồng hung ác thì cũng để cứu đô thành ta thoát khỏi tai họa. Nhưng sẽ có ngày con về thăm lại cha mẹ.

Lễ tiễn đưa nàng, một cô dâu về nhà chồng mà cử hành như một lễ tang. Từ cô dâu cho đến những người đưa tiễn đều mặc tang phục.

 Một đoàn người rất dài đã tiễn nàng lên núi để làm vợ mãng xà có cánh theo như lời phán truyền và bỏ nàng bơ vơ bên bờ vực.

Psyche ngồi chờ trên đỉnh đồi cao. Chút ánh sáng mờ nhạt cuối cùng của một ngày đang tắt. Bóng tối trùm lên cảnh vật làm nàng sợ hãi,  hai tay ôm lấy mặt khóc. Đêm càng về khuya, nàng càng khiếp đảm. Chỉ một tiếng động nhỏ trong bóng đen cũng làm nàng giật mình run rẩy, lo âu.

Dĩ nhiên, Cupido luôn theo dõi mọi bước chân của nàng.

 Rồi một làn gió nhẹ thổi làm Psyche cảm thấy khoan khoái. Làn gió như một bàn tay dịu hiền mơn man, ve vuốt trên người nàng.

Đó là hơi thở hiền hòa của thần Zéphyr, ngọn gió dịu dàng làm cho người nàng tỉnh táo trở lại. Tự dưng nàng cảm thấy thư thái và người nhẹ tênh, bay lâng lâng trong gió. “Vậy là con mãng xà đến đón ta ư?” Nàng tự hỏi và đưa mắt nhìn quanh nhưng không thấy gì hết. Rồi cảm giác là mình từ trên cao hạ xuống.

Psyche đặt chân xuống một cánh đồng cỏ mượt như nhung. Nàng mệt mỏi nên lăn ra thảm cỏ êm ngủ thiếp trong hương thơm ngào ngạt. Tỉnh dậy nàng thấy mình đang ở bên một con sông nước trong xanh, trước mặt là một tòa lâu đài uy nghi lộng lẫy. Những cột vàng, mái bạc, tường đồng và thềm đá hoa cương sáng lên ngời ngợi. Psyche đi đến trước tòa lâu đài. Nàng không thấy bóng một ai. Trong khi còn đang ngỡ ngàng thì nghe văng vẳng bên tai một giọng nói dịu dàng, ấm cúng: “Tòa nhà này là của nàng, xin hãy bước vào trong, đừng sợ hãi. Không một ai ở đây là người ác. Xin nàng cứ yên tâm nghỉ ngơi và tự nhiên như khi ở nhà, mọi việc đã có người lo liệu chu tất”.

Psyche nghe theo, mạnh dạn đi vào lâu đài. Mọi thứ đều sang trọng, quý giá và đẹp đẽ hết mức. Nàng chưa bao giờ được tắm trong một phòng tắm lộng lẫy như ở đây. Nàng cũng chưa từng bao giờ được dự một bữa tiệc với những món ăn ngon và mới lạ như ở đây. Trong khi nàng ăn, tiếng đàn ca từ đâu vẳng đến nghe như không cách bàn ăn của nàng bao xa, nhưng không tài nào nhìn thấy một ai. Cứ xem cung cách sống của chủ nhân và cách đối xử với nàng, Psyche đoán chắc không thể nào là một con quái vật. Trái lại chồng nàng chính là một người xinh đẹp, tài năng và lịch thiệp như nàng hằng mơ ước.

Nhưng nàng cũng không sao biết mặt người chồng. Chàng chỉ đến với nàng khi màn đêm đã buông và ra đi trước khi trời sáng. đã dặn đi dặn lại Psyche không được nghe theo ai mà tìm cách biết mặt chồng. “Ngày mà em biết mặt ta” chàng nói, “cũng là ngày chúng ta xa cách nhau vĩnh viễn”. Psyché hứa sẽ tuân theo lời căn dặn.

Khi nàng đã quen với hạnh phúc, nàng lại nghĩ nhiều về cha mẹ đang tưởng nàng mất tích và để tang, còn những người chị đang sống đời trần tục trong khi nàng sống như một nữ thần.

Điều đó khiến nàng cảm thấy không được an tâm. Một đêm, Psyche kể cho Cupido nghe những nỗi buồn trong lòng và cầu xin được gặp những người thân.

Cupido thương vợ nên bảo sáng hôm sau, Psyche sẽ được gặp lại các chị.    

Trong khi Psyche mừng rỡ thì Cupido buồn rầu nghĩ đến chuyện không hay có thể sẽ xảy ra vì chuyện viếng thăm này.

 Đêm hôm đó thần gió Zéphyr đưa hai người chị tới thảm cỏ bên bờ sông. Và sáng hôm sau hai người chị vào trong tòa lâu đài thăm em gái. Nói sao được hết nỗi vui mừng cảm động của ba chị em khi gặp lại nhau. Psyche ôm xiết hai chị trong vòng tay, nước mắt trào ra vì sung sướng. Nàng dẫn hai chị đi thăm tòa lâu đài, chỉ cho họ xem những đồ đạc sang trọng, quý giá. Nàng mời hai chị những bữa ăn thịnh soạn. Hai chị của Psyche được nghe tiếng đàn ca du dương trong khi ăn, được thưởng thức đủ thứ của ngon vật lạ, nhưng suốt từ lúc hai người chị tới không thấy mặt cậu em rể đâu. Lúc đón cũng không có, bữa ăn cũng không. Điều này khiến hai người thắc mắc. Psyche bịa ra chuyện chồng mình từ mấy hôm nay bận đi săn với bạn trong một khu rừng cách đây khá xa. Tiệc tàn, ngày hết, Psyche gửi quà về biếu cha mẹ và tặng hai chị nhiều báu vật. Hai người chị ra về và hoàn toàn vừa lòng với cách tiếp đãi của cô em. Tuy nhiên trong trái tim của họ nảy ra một sự so sánh và thèm muốn cuộc sống cao quý đó.

Trong trái tim họ bùng lên một âm mưu nham hiểm.

Đó là sự ghen tị xấu xa mà loài người đã mắc phải, khiến cho các vị thần giận dữ.

Tối hôm đó, Cupido nói rằng ba chị em đã gặp nhau như thế là đủ, rằng từ nay trở đi không nên mời hai chị tới viếng thăm lần nữa. Psyche vâng dạ nhưng chỉ ít lâu sau nàng lại nằn nì xin chồng cho phép để hai chị tới thăm mình nữa. Cupido dứt khoát không chấp thuận nhưng trước vẻ mặt âu sầu của vợ thì cuối cùng chàng đành phải chiều theo.

Đúng là cái sự khóc của đàn bà cũng là một sức mạnh, sức mạnh mang tai họa.    

Ngọn gió Zéphyr lại đưa hai người chị tới thăm em. Trong câu chuyện hàn huyên lần này, hai người chị rất thắc mắc về sự vắng mặt của cậu em rể, Psyche lúng túng, không biết biện hộ thế nào. Một người chị bèn ghé vào tai nàng nói:

– Có lẽ đúng như lời truyền phán của thần tiên tri đấy! Chồng em là một con mãng xà, vì thế cậu ấy không dám ra mặt tiếp chúng tôi.

Người chị kia bèn chêm vào:

– Sớm muộn gì rồi cũng có ngày giống yêu quái ấy sẽ hiện nguyên hình nuốt em vào bụng. Người sao lại có thể sống chung với mãng xà đời đời kiếp kiếp được?

Những lời nói đó làm bùng lên trong trái tim Psyché một nỗi hồ nghi và một sự lo âu khôn tả. Bao nhiêu hy vọng về người chồng không chân dung, luôn hình dung ra chàng là một người xinh đẹp, tài năng và lịch thiệp… bỗng sụp đổ. “Hình như hai chị nói đúng. Nếu không, tại sao anh chỉ gặp mình vào lúc đêm khuya và ra đi trước khi trời sáng? Đúng là chàng sợ bị lộ cái hình thù gớm ghiếc?” Psyche ngồi thừ ra một hồi lâu rồi khóc nấc lên:

– Các chị ơi! Có lẽ đúng như thế. Các chị bảo em phải tính sao bây giờ?

Đây chính là lúc hai người chị chờ đợi. Họ làm ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ một lối thoát cho em, nhưng thực ra câu trả lời đã được chuẩn bị từ lâu.

– Em cứ giấu ở trong phòng một cái đèn và một con dao thật sắc nhọn. Lừa cho lúc hắn ngủ say em thắp đèn và cầm dao thọc cho hắn một nhát. Nhớ thọc vào chỗ hiểm thì hắn mới chết ngay được. Chỉ có cách ấy thì mới cứu được mình và tất cả những của cải của hắn sẽ là của em, rồi các chị đến đón em về. Chị em ta sống chết có nhau.

Và các chị được thần gió Zéphyr đưa về, còn Psyche ở lại với biết bao giằng xé trong tim. “Giết chết chàng ư? Chàng đối xử với ta không có điều gì đáng chê trách, chàng là người chồng yêu quý, lẽ nào ta lại… Không, không, ta không thể giết chàng. Nhưng nếu chàng là một con quái vật thì sao? Không giết nó thì nó cũng giết mình. Nhưng nào ta đã trông thấy con quái ấy đâu? Lấy gì làm bằng cớ rằng một người yêu mến ta rất mực, tôn trọng ta, đối xử với ta không hề thô bạo lại là một con quái vật?”

Cứ thế những ý nghĩ vật lộn với nhau trong trái tim Psyche. Nàng không dám giết chồng, nhưng phải xem thử chàng là người hay quái vật? Nàng coi đó là quyết định khôn ngoan.

Đêm hôm ấy chờ cho chồng ngủ say, Psyche cố lấy hết can đảm tay cầm đèn đi nhìn chàng đang ngủ. Nàng suýt kêu trời. Không, đó là một chàng trai tuấn tú, xinh đẹp khác thường, đẹp đến nỗi trong cả những giấc mơ cũng chưa từng bao giờ tưởng tượng nổi ra một chàng trai đẹp đẽ và, cân đối đến thế. Psyche sững sờ trước vẻ đẹp của chồng. Mái tóc của chàng ánh vàng như tia nắng mặt trời và từ đôi vai mọc ra đôi cánh bảy sắc cầu vồng. Psyche hối hận về những gì đã nghĩ oan cho chồng. Nàng quỳ xuống bên giường, ghé sát đèn để nhìn cho rõ hơn. Hồi hộp lẫn nơm nớp lo âu khiến đôi tay nàng run rẩy. Và khi nàng cúi xuống thì những giọt dầu nóng từ chiếc đèn cũng nghiêng theo và rớt xuống vai chồng. Chàng giật mình tỉnh dậy. Và nhìn thấy ngọn đèn sáng trong tay vợ.

Psyche đã không giữ lời, không trung thực, không tin chàng. Không nói một lời, Cupido liền bay như một luồng gió, bỏ về đỉnh Olympus.

Ngay lập tức, Psyche vứt đèn cố đuổi theo, quên hết mọi nỗi hiểm nguy. Cuối cùng nàng ngã sóng xoài, bất tỉnh trên mặt đất. Nàng chỉ nghe như chàng nói lại là rất đau buồn phải ra đi vì “Tình yêu chẳng thể nào hiện hữu khi không có lòng tin và sự trung thực!” Chỉ mấy lời ngắn ngủi rồi Cupido biến mất.

Psyche bàng hoàng, suy nghĩ: “Chồng mình là vị thần Tình yêu! Trời! Chàng đã “trừng phạt” ta bằng sự xa cách, nhưng dù phải đi khắp cùng trời cuối đất ta cũng phải tìm chàng cho bằng được.

Khi tỉnh lại, nàng chỉ một mình. Cả khu vườn cùng với tòa lâu đài cũng đã biến mất.

Từ đó bắt đầu cuộc hành trình của Psyche đi tìm Cupido. Psyche đi, tìm ở đâu, nàng cũng không biết nhưng nàng nhất định là sẽ tìm được chàng.

Còn chàng Cupido bị vết bỏng ở vai nên phải bay về nhà để xin mẹ chữa. Lúc ấy nữ thần Vénus mới biết con trai mình đã chẳng thi hành lệnh mà lại còn yêu Psyché. Giận dữ, Vénus bỏ mặc cậu con trai đang đau đớn, khóa chặt cửa phòng nhốt Cupido và bay đi tìm Psyche để trừng phạt cho bõ ghét.

Nàng Psyche đau khổ trong bước đường phiêu bạt và không quên cầu xin các vị thần tha thứ cho tội lỗi của mình, giúp mình đi tìm lại được Cupido. Nhưng các vị thần đều lảng tránh vì sợ phiền phức với Vénus. “Chẳng được gì có khi còn mang vạ vào thân…”, nên Psyche không xin được sự trợ giúp nào. Cuối cùng nàng thấy chỉ còn cách là cầu xin nữ thần Vénus nguôi giận và nguyện làm tôi tớ cho bà. Thế là Psyche không đi tìm Cupido nữa mà quyết đi tìm Vénus.

Lại những ngày dầm mưa dãi nắng. Lại những ngày vượt núi xuyên rừng, đói cơm, khát nước, nhưng khó khăn chẳng làm cho Psyche nản lòng. Nàng tự nhủ: “Ta yêu chàng chân thành và tình yêu sẽ cho ta sức mạnh. Nếu chẳng may ta có chết trước khi gặp lại chàng thì điều đó cũng giúp chàng hiểu thấu tấm lòng trong sáng của ta”. Và Psyche tin sẽ được nữ thần Vénus tha thứ. Cuối cùng họ đã gặp nhau. Vénus cười một cách khinh thị và thách thức:

– Trời! Sao con dấn thân vào một công việc vô hy vọng như vậy? Con định đi tìm người chồng mà con đã chẳng tin yêu, người chồng đã bị con làm bỏng nặng, nó chẳng buồn gặp lại con nữa đâu. Dù sao thì con cũng phải biết mình biết người chứ. Ta nói thật, con xấu và vô duyên đến nỗi chẳng đứa nào dám yêu đâu!

Psyche đáp lại:

– Hỡi nữ thần Vénus có sắc đẹp không ai sánh nổi! Xin nữ thần hãy tha thứ cho kẻ hèn mọn này đã đem lòng kính yêu Cupido. Bởi một người phàm tục không thể kết duyên với một vị thần bất tử, trừ khi các vị thần gia ân cho phép. Đó là luật lệ của các vị thần đã ban xuống cho thế giới loài người đoản mệnh. Nhưng dù sao con cũng đã kính yêu chàng Cupido nên con sẵn sàng chịu đựng mọi nỗi gian truân, thử thách. Xin nữ thần hãy cho phép con được gặp chàng.

Nữ thần Vénus lạnh lùng nhìn cô:

– Được, ta sẽ xem ngươi có thể chịu đựng được gì để chuộc cái tội phạm thượng.

Nói rồi bà lấy một nắm hạt gạo, hạt mì, hạt đỗ, hạt ngô… trộn lại với nhau và bảo Psyche phải nhặt và tách riêng chúng ra. Công việc phải làm xong trước khi tắt nắng. Nói xong Vénus ra đi.

Psyche ngồi lại một mình với một đống hạt lẫn lộn. Dù nàng có mười mắt, mười tay thì cũng không thể hoàn thành công việc trước khi nắng tắt. Nàng cũng chẳng biết nên bắt đầu từ đâu. Nhưng khi nàng ngồi tuyệt vọng thì có vô số những con vật màu đen, bò ra từ những kẽ nứt của ngôi đền và tiến đến gần nàng. Nàng nhận ra một đội quân kiến khổng lồ. “Anh chị em ơi! Hãy đến giúp người thiếu nữ xinh đẹp và đau khổ này!”.  Thế là tất cả cùng xúm lại tách các hạt  với một sự chăm chỉ và kỷ luật nên khi nữ thần Aphrodite quay lại thì thấy công việc đã được làm xong.

 Vénus thấy thế càng thêm căm tức. Nữ thần bảo Psyche: “Chưa hết!” Vénus bẻ cho Psyche một miếng bánh mì để ăn bữa chiều và lệnh cho nàng đêm đó phải ngủ dưới đất còn bà thì trở về ngủ trên đệm ấm. Nằm trên giường Vénus nghĩ cách bắt Psyche chịu đựng nhiều thử thách, sao cho cái sắc đẹp đáng ghét kia mau chóng tàn phai thì mới hả giận. Nữ thần còn phải nhốt chặt Cupido để con không thể ra ngoài gặp Psyche. Mà dẫu có gặp lại Psyche thì lúc đó cô đã không còn xinh đẹp nữa. Cuối cùng chỉ có Vénus mới là nữ thần có sắc đẹp lộng lẫy nhất không biết đến sự tàn phai của tuổi già.

Sáng hôm sau, nữ thần Venus đưa nàng đến bên bờ của một con sông và chỉ cho nàng thấy cánh rừng bên kia: “Hãy đến khu rừng đằng kia nơi đàn cừu có bộ lông vàng thường gặm cỏ và mang về cho ta một bộ lông vàng của con cừu nếu không thì ngươi  đừng bao giờ quay lại đây nữa”. Ðiều này có vẻ không khó khăn và Psyche ngoan ngoãn vâng lệnh nữ thần và sẵn sàng lội qua sông.

Nhưng khi thần Venus biến mất thì những cây sậy rung lên xào xạc làm nổi bong bóng lên mặt nước và những vị thần sông thầm thì với nàng: “Ðừng chủ quan Psyche, phải cẩn thận. Lũ cừu này không hiền đâu. Khi mặt trời lên cao, chúng sẽ trở nên hung dữ như lửa nhưng khi chiều tối thì chúng sẽ nằm ngủ dưới những bóng cây. Lúc đó nàng có thể bơi qua sông mà không phải lo sợ để nhặt lấy những bộ lông vàng.”

Cám ơn những lời chỉ dạy của thần sông, Psyche ngồi nghỉ và sau đó bơi qua sông, làm theo lời chỉ dẫn. Tờ mờ sáng, nàng quay trở về đền thờ Venus trên tay ôm những bộ lông cừu lấp lánh.

Vénus nhận báu vật nhưng trong lòng lại nảy ra một ý đồ nham hiểm mới. Nữ thần bảo:

– Lại có ai giúp cô làm việc này chứ gì? Thôi được, ta sẽ giao cho cô một công việc nữa! Thế này nhé! Cô có nhìn thấy dòng nước đang đổ từ trên ngọn núi cao kia xuống không? Đó là đầu nguồn của con sông Styx, cô hãy đến đó múc về cho ta đầy một bình nước này.

Khi Psyche ôm chiếc bình pha lê đứng dưới chân núi nhìn lên đỉnh vách đá cao dựng đứng thì lòng vô cùng tuyệt vọng. Triền núi cao và đá tai mèo trùng trùng điệp điệp như những lưỡi cưa khổng lồ trải dài đến tận đầu nguồn. Lại còn những tảng đá rêu trơn và thác nước đổ xuống mạnh như sấm sét… Có thoát chết khi đi thì khi về cũng đến vỡ bình, què quặt. May thay vừa lúc ấy có một con đại bàng bay ngang qua. Đại bàng chộp lấy chiếc bình pha lê rồi bay lên đỉnh múc đầy nước xuống trao cho nàng.

Nhưng Vénus vẫn không buông tha người thiếu nữ. Nữ thần lại giao cho nàng phải thực hiện một công việc nữa, một công việc khó khăn và nguy hiểm gấp bội phần so với các công việc trước. Nữ thần giao cho Psyche một cái hộp bảo nàng xuống vương quốc của thần Pluton (Hadès) người cai quản âm phủ, gặp nàng Proserpine (Perséphone) cầu xin nàng ban cho một chút sắc đẹp để bỏ vào trong cái hộp nhỏ. Vénus dặn Psyche phải van xin tha thiết, phải nói sao cho Proserpine biết và thông cảm là hiện nay bà rất cần mà đang bận săn sóc đứa con bị ốm .

Psyche hiểu rằng chẳng có con người nào đi xuống âm phủ mà lại có thể sống sót để trở về. Nhưng nàng vẫn ra đi, tìm đường xuống thế giới của thần Pluton. Nàng đi hỏi mà chẳng ai biết đường. Chỉ có một chiếc tháp cổ hoang phế xót thương nên đã gọi và chỉ đường xuống âm phủ.

– Trước tiên nàng phải đi vào một lỗ hổng lớn và sâu để vào trong lòng đất. Cứ đi mãi cho đến khi gặp một con sông chắn ngang, nàng sẽ phải qua nó để đi tiếp. Ở bờ sông có người lái đò Charon lầm lì và nghiệt ngã. Nàng cứ bước xuống và đưa cho lão ta một đồng tiền là lão sẽ chở nàng sang bên kia sông. Từ đây có một con đường thẳng tắp dẫn đến cung điện của Proserpine. Gác cổng là con chó ngao Cerbère ba đầu dữ tợn, cổ chó là một lũ rắn độc lúc nào cũng ngóc đầu lên phun phì phì. Nàng cứ bình tâm đi đến gần và vứt cho nó một chiếc bánh ngọt. Thế là nó để cho nàng đi.

Psyche chân thành cảm ơn ngọn tháp già tốt bụng hiểu biết lắm chuyện của thế gian. Bây giờ chỉ còn việc lo liệu những thứ cần thiết cho cuộc hành trình vào thế giới của những linh hồn.

Nàng ngỡ rằng sẽ rất khó khăn, ai ngờ chỉ cần cầu xin là thần Proserpine đã vui lòng ban cho nàng chiếc hộp chứa sắc đẹp và gửi lời hỏi thăm đến nữ thần Venus. Bà còn chúc cậu con trai cưng của Vénus chóng bình phục.

Cầm chiếc hộp kín đựng sắc đẹp, nàng vô cùng sung sướng trở về với dương gian, nghĩ đến phút được Vénus cho gặp lại Cupido. Nàng chắc rằng đây là thử thách cuối cùng mà nàng phải chịu đựng.

Thế rồi nàng nghĩ đến cái hộp. “Sắc đẹp có hình thù như thế nào mà nữ thần Proserpine lại có thể bỏ vào trong cái hộp này? Psyche cầm hộp lắc lắc. Không thấy có tiếng động. “Nếu là bột hay là hạt thì thế nào cũng có tiếng động. Hay nó là sáp ong? Hay là ta cứ mở ra xem”. Psyche cũng muốn lấy một chút để bồi đắp cho sắc đẹp của mình. Cupido sẽ sung sướng khi gặp lại vợ đẹp hơn xưa. Psyche mở ra. Thật lạ lùng! Nàng thất vọng hoàn toàn! Một chiếc hộp không! Tuy nhiên có một thứ mà Psyche không thấy. Đó là một luồng hơi lạnh, thứ âm khí nặng nề của thế giới những người chết, bốc lên. Và chỉ một lát Psyche thấy trong người ngây ngất, đứng không vững nữa.

Nàng ngã gục xuống chìm vào trong một giấc ngủ triền miên. Đúng vào lúc tình cảnh nguy ngập này thì, may thay, thần Tình yêu-Cupido xuất hiện. Vết thương của chàng đã lành và chàng muốn gặp lại Psyche. Phòng bị khóa nên chàng đã phá cửa sổ để thoát ra. Sự thật là khó ai giam giữ được Tình yêu, vì Tình yêu ngay từ khi ra đời đã có cánh.  

Cupido đã dùng đôi cánh bay đi tìm Psyche. Chàng tìm thấy nàng nằm ngủ say, chiếc hộp vứt ở bên, nên lập tức thu hồi giấc ngủ đang đè nặng lên mi mắt của Psyche nhốt vào trong hộp, tiếp đó dùng mũi tên nhọn của mình châm vào người Psyche để đánh thức nàng dậy.

Kể sao cho xiết nỗi vui mừng của Psyche! Nàng ôm lấy đầu chàng áp vào ngực và nước mắt tuôn trào. Nàng đưa hai tay vuốt lên khuôn mặt, vầng trán cao đẹp và mái tóc mềm mại của chàng. Cupido trách vợ đã tò mò để xảy ra tai họa. Và chàng giục Psyche đem ngay chiếc hộp về dâng cho nữ thần Vénus còn chàng phải ra đi ngay vì phải làm ngay một công việc quan trọng và khẩn cấp. Chàng nói với vợ:

– Chúng ta sẽ gặp lại nhau và chắc rằng lần này sẽ ở bên nhau mãi mãi, chẳng ai có thể chia lìa hai mình được nữa.

 Cupido đi đâu? Chàng bay lên thế giới thiên đình để nhờ thần Jupiter (hay thần Zeus) can thiệp. Phải trình bày chuyện này đến thần Jupiter thì nữ thần Vénus mới không bày ra các thử thách  để hành hạ Psyche và hai vợ chồng mới có thể đoàn tụ.

Cupido tường trình đầu đuôi câu chuyện và xin thần Jupiter rộng lượng cho phép Psyche được kết hôn với mình. Nghe xong câu chuyện thần Jupiter liền cười và bảo:

– Nhà ngươi đã gây cho ta biết bao chuyện lôi thôi, phiền hà hết chỗ nói vì những mũi tên vô hình của nhà ngươi. Nhưng dù sao thì nhà ngươi cũng đã chịu đau khổ thì cũng như chịu sự trừng phạt rồi. Ta sẽ giúp cho nhà ngươi được toại nguyện.

Ngay sau đó thần Jupiter cho mời toàn thể các vị thần đến họp kể cả nữ thần Vénus. Ngài lên tiếng trước:

– Ta được biết thần Cupido đã đem lòng yêu mến và ăn ở với một người con gái trần thế là Psyche nên nữ thần Vénus đã bắt cô gái phải chịu đựng cảnh chia ly, đày đọa. Ta muốn chấm dứt sự bất công đó và tác thành cho họ. Ta cũng muốn các thần ban cho nàng Psyche được hưởng đặc ân bất tử để được sánh ngang với các vị thần. Vậy ai có chủ kiến gì xin cứ tự nhiên bày tỏ.

Các vị thần đều đồng thanh tán thưởng thiện ý cao cả của đấng chí tôn Jupiter. Thần Mercure (Hermès) được lệnh xuống trần đưa nàng Psyche lên thiên đình. Đích thân thần Jupiter ban cho nàng rượu thánh, một loại phấn hoa (ambrosia) và thức ăn thần nên từ đôi vai của nàng mọc ra đôi cánh sáng rực rỡ giống thần Cupido và thế là nàng công chúa Psyche đã trở thành một nữ thần bất tử.

Một đám cưới vô cùng trọng thể kết thúc cho số phận gian truân của nàng Psyche. Nữ thần Vénus lúc này tỏ ra hài lòng vì đã có một vị nữ thần xinh đẹp làm dâu. Thật là một kết thúc tốt đẹp.

Người xưa kể… là từ đó trở đi, nữ thần Vénus cũng như Cupido đều bận việc gia đình nên ít xuống trần để gây ra những vụ “đau tim”, “điên đầu” cho những người trần thế.

 Tuy nhiên có lúc họ vẫn xuống, nên còn khá nhiều người trần phải chịu đựng nỗi gian lao và đau khổ trong “tình trường”!

 Một đám cưới hạnh phúc diễn ra và đứa con của Cupido và Psyche sau này chính là thần Voluptas – thần Gợi cảm.

Psyche et L’Amour, tranh của William-Adolphe Bouguereau   

                                                      Amore (Cupido) và Psiche bức  tượng nổi tiếng của Antonio Canova.


[1] Còn gọi là Eros e Psiche hay Amore e Psiche – https://www.youtube.com/watch?v=826j28mVZrw

Qua rồi một năm

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Những ngày cuối năm và sau Tết luôn là thời gian chúng ta nhìn lại mình …Cuộc sống luôn mãi không có sự công bằng , Mỗi con người là một tinh cầu khác biệt…khi ta được Thượng đế ban tặng cho ta phần này…thì sẽ lấy đi cái khác để san sẽ cho tha nhân…

Hãy cứ cân bằng lại bản thân và những người xung quanh để bước đi mà không phiền não, không hổ thẹn với bản thân với tha nhân.

Mỗi ngày trôi qua…ta còn cái cảm giác được ngủ ngon trên chiếc giường của mình, giang rộng đôi tay, nhắm nghiền hai con mắt, mộng tưởng về những hồi ức xa xưa…đó chính là hạnh phúc mà ta còn có được.

Thời gian …và công việc làm người ta quên hết mọi việc xung quanh, công việc đa đoan làm tâm hồn mụ mẫm, thơ văn chữ nghĩa không màng ghé thăm…

.Mỗi ngày ngắm nhìn những bông hoa lặng lẽ khoe màu theo từng mùa mưa nắng…rồi lặng lẽ úa tàn theo quĩ đạo bất biến của vũ trụ.vậy là cũng đã may mắn lắm thay.

Những lối rẽ của đời người rồi cũng lướt qua, những nghịch cảnh cuộc đời cho ta thêm mạnh mẽ vượt qua bao cơn gió ngược, bao mảnh vỡ cuộc đời luôn để lại trong ta không chút nhạt phai.

Năm tháng sẽ xóa nhòa bao khổ hận, sẽ qua đi theo thời gian, nhưng chữ ân tình , chút tình thâm luôn còn mãi trong tâm thức mỗi người lúc buổi chiều tà.

Lợi danh há tựa bóng mây chìm nổi

Chữ ân tình luôn còn mãi không phai

Khi về già mới nhận ra rằng : ” Tình yêu…có không trong cuộc đời này…cũng chỉ là thứ yếu “

Cuộc sống đời thường của hai người với nhau : ” Không mệt mỏi chán chường nhau …chính thực là hạnh phúc trần gian”

Buổi thanh xuân ai cũng coi trọng chữ tình, vật quí cõi trần gian…Nhưng qua bao sóng gió cuộc đời, sự chán chường nhau trong đời sống, …lúc chia ly mới biết mình đã làm đúng và không hối tiếc việc đã làm…

Bà lão ly hương , nhớ cố hương khi mỗi lần năm hết…thời gian rượt đuổi nhạt nhòa trên mái tóc, bàn tay khô cứng với những đường vân tay bất biến theo tháng năm…

Một thoáng Xuân về khắp đó đây cái cảm giác lạnh buốt bàn tay chợt mới hay:

Cũng sắp xuân về nơi xứ lạ

Bùi ngùi vọng nhớ đất nước xa

Bao mùa Xuân đi qua trên mái tóc

Nhớ quê nhà lữ khách tận phương xa…

.Mấy lần trở lại nhà vào dịp Tết, hưởng lại không khí thân quen nơi quê nhà …Những con đường ngày cũ đã thay tên, những đèn màu xanh đỏ, tiếng nhạc réo rộn ràng, thành phố cũ nay không còn như ngày xưa tôi đã từng ghi lại trong bộ nhớ già nua

Người lữ khách già nua trở về quê cũ …

Mong tìm lại chút hương xưa…Tất cả đã thay đổi dưới mọi hình thức và không còn một chút gì mà tôi hằng tưởng tượng trong đầu óc tụt hậu của mình….

Bao nhiêu năm bươn chải nơi xứ người với tâm thức bôn ba, chắt chiu cùng cơm áo gạo tiền, bên những cảnh vật hầu như không thay đổi theo năm tháng, vẫn từng ấy công việc, với từng ấy màu sắc, với từng ấy người khách hàng khác màu da và chủng tộc, dễ tính và rộng rãi với cuộc sống đủ đầy và thánh thiện.

Trở lại mái nhà xưa, lòng nôn nao với biết bao ngỡ ngàng vì cảnh vật lắm đổi thay…Tìm lại những bạn bè thân quen ngày cũ, lắm đứa đã không còn…còn lại những bạn bè mới quen, hay đã gặp trong nỗi niềm quên quên nhớ nhớ, khoát lên mình họ những tấm áo nhạt nhòa màu sắc, hoạt náo giữa sắc màu, thời trang và tuối tác không cân xứng, lạ lẫm giữa mắt nhìn của một người già “tụt hậu là tôi”…

Thấy hơi sai sai đúng đúng …nhưng cũng vui mắt hơn là phải nhìn thấy những cụ già cùng thời tôi mà ở nơi này tôi từng gặp.. Ở nơi này, tôi đã từng nhìn thấy những lão ông , lão bà cùng thời tôi, ngày cuối tuần hay nhóm họp ở các hội Cao niên, hội người già, họ cũng ca hát, xưng tụng nhau những chức vụ của một thời quá vãng, cũng nhảy nhót, khoe quần là áo lượt…nhưng vẫn u uất một nỗi buồn hầu như họ đang trách cứ thời gian không dừng lại.

Ngẫm rằng: Nhũng ngọn nến đà sắp tắt đang bùng lên thắp sáng những niềm riêng…

Quay lại chỗ của mình …những năm tháng nhạt nhòa phủ đều lên mái tóc với những sợi bạc đìu hiu, chầm chậm bước chân thân quen với những cảnh vật không hề thay đổi theo năm tháng….mới hay xứ sở này, nơi chỗ mình đang sống gởi ; ” Lại không mấy đổi thay “, đất nước tôi tuy không tiến bộ hơn người nhưng thay đổi bộ mặt bên ngoài nhìn chóng mặt khi mỗi lần trở lại thăm quê nhà qua biết bao tháng năm nhung nhớ..

.Cảnh vật đổi thay và tình người biết sao ơi hỡi…. Những năm tháng qua đi trong cuộc đời …bương bả lướt qua những cơn gió ngược, lượm lặt lại những mảnh vỡ cuộc đời đã ghi dấu trong lòng mỗi người không chút nhạt phai…hỉ, nộ , ái , ố …là những thường tình mà ai cũng từng bước qua trong cuộc đời.qua rồi những niềm vui và lao khổ.

Năm tháng qua thật nhanh và mất hút trong màn sương của cuộc sống :

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Nhân nghĩa bỏ sót một chữ tình

Ngày cuối năm để chút thời gian nhìn lại mình….trong nỗi buồn đơn độc, chợt ngẫm ra rằng ;’ Muốn tìm ra một tâm hồn đồng điệu thấu hiểu nhau trong cuộc đời, thật khó hơn tìm kim nơi biển bắc” Người xưa đã từng thảng thốt gởi lại ngàn sau :” Quen biết khắp thiên hạ…Tri âm hỏi mấy người”

Rằng hay đời người là ngắn ngủi, mấy ai tìm ra người cảm thông thương yêu nhau chân thực, những người đã và đang có được hạnh phúc trần gian ấy, thực là hạnh phúc …Kiếm tìm một tình cảm thiêng liêng xứng đáng theo góc nhìn của mình :” Một người chính thực là một con người mạnh mẽ, không hèn nhát khi gặp cảnh trái ngang, biết bảo vệ và nâng niu những gì đối phương mến thích, biết chở che khi ta gặp oan khiên”

Không cần phải gần nhau mỗi ngày như hình với bóng nhưng thấu hiểu và luôn dõi bước tìm nhau trong từng ngõ tối cuộc đời, bảo vệ nhau , giúp đỡ nhau trong tâm khảm cuộc đời nhau…

Phải chăng vũ trụ này vẫn còn lại hai hạt cát vô danh, được hiện hữu trong cuộc đời trên biển cát …khi mỗi lần bị những đất cát cuộc đời bãi bôi, lợi dụng, rẻ khinh..

. Hạt cát vô tình lại thêm lần giang tay cứu đỡ dắt díu nhau , cảm thông không mời gọi.

Giữa trần thế, tôi chính là hạt cát..

Trôi lênh đênh…theo năm tháng hao gầy

Chỉ người biết…Tôi chính là hạt cát

Hạt cát vô tình rơi rớt biển xa…

Những ngày sau Tết rảnh rang nhìn lại…những tháng năm qua và nhìn xa những ngày trước mặt, tất cả đều bình an trong chỗ ngồi của mình, kiếm tìm một chút hương kỷ niệm , một chút cảm thông nhau trong cuộc đời …sao khó quá….mà thời gian không đợi chờ ai…Những mảng sương sa trên mái tóc mỗi người cũng có hạn kỳ…

Những đứa bé vẫn hàng ngày chào đón thế gian nhắc cho những người già phải mau nhường chỗ cho sự sinh tồn của chúng….

Rồi mai ta cũng ra đi

Giã từ cuộc sống đảo điên thế trần

Cuộc đời được mấy tình thân

Chỉ mong ngóng đợi…Chỉ trông ngóng chờ

Một mình giữa quãng bơ vơ

Mai về cõi ấy…thẩn thơ chỉ mình…

Atlanta ( Một ngày sau tết Con Mèo)

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Hoa Tình Yêu


Truyện ngắn Tiểu Nguyệt

.
-Trăng đêm nay đẹp quá – dường như sáng hơn mọi bữa, anh có thấy vậy không?
-Chắc sắp đến lễ Vu lan, mùa báo hiếu, cảm đến đất trời đấy, em. Em không nghe Khế Kinh đã dạy: “Hiếu đứng đầu trăm hạnh. Hiếu cảm đến trời thì mưa thuận gió hòa. Hiếu cảm đến đất thì muôn vật sinh hóa. Hiếu cảm đến người thì mọi phúc tăng trưởng” đó sao?
-Dạ! Em có nghe nội nhắc rồi – Giọng xa vắng, mới đấy mà đến Vu Lan rồi – em nhớ hồi còn ở với nội, đến ngày nầy là theo nội về chùa lễ Phật thiệt là vui.
-Em giỏi nhỉ! Đã nghe được lời Phật, biết đi chùa từ nhỏ.
-Đi chùa mà giỏi gì anh – Cười vui, hồi nhỏ em có biết gì đâu, nội nói gì, đi đâu, em nghe theo đấy thôi mà.
-Em có đọc được kinh không? Có vào lạy Phật không?
-Dạ, có chớ! Em vào lễ Phật cùng mọi người. Nội đọc kinh gì em học theo kinh nấy, riết rồi thuộc luôn. Tối nào cũng cùng nội thắp nhang, đọc kinh rồi mới đi ngủ.
-Đúng là em giỏi thiệt mà – Cười lớn, thiếu gì người có ông bà, cha mẹ đi chùa mà có làm được như em đâu.
-Hồi đó, nhiều người trong xóm Lẫm cứ tối là ra mấy nhà xóm em để ngủ, sáng sớm lại về. Có mấy người cũng thường về chùa với nội ở ngủ nhờ nhà em, vậy là cùng ngồi vào đọc kinh tối luôn.
-Anh thấy em có nhiều cái hay ghê hen! 
-Anh cứ “chuyên môn” khen em hoài – Cười hồn nhiên, hay gì đâu anh, em mít ướt lắm – Giọng vui vẻ, Em nhớ có lần chú Cả đọc kinh Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ, em ngồi nghe mà khóc như mưa. Khóc ức ử nữa mới lạ chứ!
-Không phải em mít ướt – Giọng phân trần, những người gọi là “mít ướt” là những người có tâm hồn nhạy cảm, thương người em ạ – Dừng một phút – à, hồi đó, em bao nhiêu tuổi?
-Em đang học tiểu học, nhưng từ lớp năm cho đến lớp nhất, em đều ở với nội để đi học. Sau khi hết tiểu học, em vào học trung học ở trường Bồ Đề, một ngôi trường Phật giáo, nên em được học giáo lý của Phật thêm nữa.
-Anh tưởng tượng ra em hồi đó rồi đấy nghen – Cười, một cô bé xinh xắn, dễ thương lắm lắm… 
-Anh “nhạo” em đó hả?
-Anh đâu dám “nhạo” em, anh khen thiệt mà.
-Thiệt hông đó, anh mà “nhạo”, làm em nở mũi là chết với em. À, hồi đó ở quê, vườn rộng, nên nội trồng đủ loài hoa. Thích ơi là thích!
-Nhưng em thích loài hoa nào nhất?
-Trong vườn nhà nhiều loài hoa lắm anh, hoa hồng nè, hoa mẫu đơn nè, phía trước ngõ có một bụi điệp vàng thiệt to, hoa nở quanh năm, mọi người trong xóm thường tới xin mỗi khi có đám giỗ. Tết thì nhiều hơn, có hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa hướng dương, thược dược nở vàng rực trước ngõ. Nhiều hoa vậy đấy, nhưng em thích nhất vẫn là hoa sen trồng ở cái ao phía sau nhà. Em thường hái hoa sen cắm trên bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà. Sen thơm, có hương lại có sắc, nên em rất thích.
– Hoa sen giống em!
– Sao hoa lại giống em, anh – Giọng phân vân, em không hiẻu?
– Có gì mà không hiểu? – Cười thoải mái, vì em “có hương lại có sắc” như hoa thôi!
– Anh lại “nịnh” em nữa rồi – Cười, giọng ngập ngường – vì anh thương yêu em, nên “thương cả lối đi” chứ gì!
– Em là con cháu của Tào công hay sao? – Cười, hoa sen mọc ở trong bùn, sống trong bùn, nhưng vượt lên để hướng đến mặt trời, mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn… giống như em!
-Cũng giống như mọi người được sinh ra trên thế gian, tồn tại giữa cuộc đời, nhưng đã vượt thoát khỏi sự tham lam, sân hận, dục vọng mà không bị vấy bẩn, ô nhiễm bởi dòng đời quyến rủ, phải không anh?
-Đúng vậy, em yêu! Hoa sen tượng trưng cho hình ảnh thanh cao, trong sáng; sen còn có ý nghĩa là sự cao cả, yêu thương và chia sẻ. Hoa sen được chọn làm biểu tượng dưới chân chư Phật, Bồ tát – Giọng thâm trầm, mầu của hoa sen được ví như mầu của đức hạnh, từ bi, trí tuệ, mầu của sự thanh cao tâm hồn.
-Anh nói nghe hay quá!- Cười đồng cảm, Có một điều rất lạ, là mỗi khi em lo lắng hay cảm thấy buồn, chỉ cần ra nhìn ngắm những bông sen lay động nhẹ nhàng trong nắng ở ao sen phía sau nhà nội; tự nhiên, em thấy nhẹ nhàng, và bình yên hơn rất nhiều.
-Có gì lạ đâu em – nầy nhé, em đi chùa, yêu thích hoa sen đúng là có duyên với Phật pháp rồi. Từ rất lâu đời, người ta luôn coi hoa sen như một loài hoa linh thiêng của Phật giáo. Nó thật sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hóa và cốt cách nhân văn của người Việt ta. Do đó, anh nghe, dường như hoa Sen đã được chọn làm “Quốc hoa” rồi.
-Vậy hả anh? – Lại cười, che miệng – hạt sen nấu chè rất ngon, rất mát, lại bổ nữa, anh à!
-Ngó sen nấu cháo, làm gỏi cũng ngon nữa.
-Anh coi bộ rất “sành ăn” rồi đó – Giọng băn khoăn, còn anh, anh yêu thích loài hoa nào nhất?
-Nói đến hoa là anh mê, anh thích, bởi hoa nào cũng hiến dâng cho cái đẹp, nhưng thích nhất là loài hoa Vạn thọ, bởi với anh có nhiều kỷ niệm.
-À! Anh thích hoa vạn thọ sao? Hoa có mầu vàng đậm, dễ trồng, lại thơm thơm nữa. Anh kể cho em nghe về những kỷ niệm đó được không?.
-Cha anh mất sớm, khi ấy anh mới năm, sáu tuổi nên chẳng nhớ gì nhiều về ông. Mẹ anh trồng cả vườn trước sân nhà toàn hoa vạn thọ để bán tết. Năm nào, anh cũng mang hoa ra chợ cho mẹ bán từ hai mươi cho đến ngày cuối cùng của năm, để mọi người cúng tất niên. Mỗi lần thấy hoa Vạn thọ, là anh nhớ thương mẹ lắm, dù mẹ đã theo cha, bỏ anh lại mười năm nay rồi mà anh như thấy mẹ vẫn còn bên chậu hoa Vạn thọ, bên đời sống anh vậy.
-Anh làm em muốn khóc lên rồi! – Giọng trũng thấp, rồi mai kia em sẽ cùng anh trồng nhiều hoa Vạn thọ để cúng cho mẹ, anh nhé!
-Cảm ơn em! Anh thích Vạn thọ bởi vẻ đẹp khiêm nhường, giản dị. Ngoài sự hiện diện như một đặc trưng cho mùa xuân ở quê nhà, hai chữ “vạn thọ” còn có ý nghĩa tâm linh nữa em ạ! – Vạn biểu trưng cho sự tốt lành, cát tường vô số – Thọ thể hiện cho sự sống lâu dài để hưởng phúc thọ. Cha mẹ anh đã không còn để anh chúc thọ.
-Thì mình dâng hoa cúng cha mẹ cũng được mà, anh.- Giọng chợt khóc, em xin lỗi!
-Em có lỗi gì mà xin – Cười nhẹ, tại anh nhớ mẹ quá nên nói vậy thôi.
-Hồi nhỏ, em thường hái bông Vạn thọ xé bỏ vào túi áo cho thơm, hái bông Vạn thọ làm trái kiện để đá. Theo em được biết, tên của loài hoa nầy còn là lời chúc cho ông bà, cha mẹ và tất cả mọi người, ai ai cũng được sống lâu trăm tuổi với người thân của mình. Vạn thọ là ước mơ của nhiều người khi năm mới đến phải không anh?
-Đúng vậy, em yêu! Vạn thọ là ước mơ của nhiều người khi năm mới đến. Năm nào, anh cũng cắm hoa Vạn thọ đón tết, tưởng nhớ đến mẹ.
-Xin lỗi, em đã làm anh buồn…!
-Không sao, anh phải cảm ơn em mà – Giọng bình thản, hoa tươi không chỉ mang vẻ đẹp hữu hình, mà còn ẩn chứa ý nghĩa lớn lao nữa. Nếu hoa Sen làm cho tâm hồn ta thư thái hơn sau những giây phút làm việc căng thẳng, thì… bông Vạn thọ giản dị là sự gởi gắm của ước mong về sức khỏe, hạnh phúc.
-Anh yêu của em giỏi quá! – Cười vui, em cũng rất thích bông Vạn thọ.
-Sao em lại thích bông Vạn thọ?
-Bởi hoa Vạn thọ là loài hoa mà người yêu của em thích, nên em cũng thích.
-Em nói hay nhỉ!- Cười hiền, Em thông minh thật, đơn giản vậy phải không em? Anh cũng thích bông Sen.
-Có phải bởi vì đó là loài hoa em yêu thích hông?
-Đúng vậy! Hoa nào em yêu thích là anh yêu thích hà.
-Vậy chúng mình cùng đặt cho hai loài hoa mình yêu thích một cái tên mới đi, anh.
-Ừ nhỉ! Sao mình không đặt cho chúng một cái tên riêng của hai đứa nhỉ?
-Em nghĩ là… “Hoa Tình Yêu” được không anh?
-Em yêu của anh thật tuyệt vời! – Cười hạnh phúc, Hoa Tình Yêu! Đúng là Hoa Tình Yêu rồi.
Vừa nói chưa hết câu, Tâm đưa tay ôm choàng Tịnh Thy, hôn lên đôi má nàng thật say đắm. 
Trăng đã lên cao, ánh trăng vằng vặc như soi sáng một loài “Hoa Tình Yêu” vừa nở thơm ngát trong tâm hồn hai người yêu nhau.
08/2018
TIỂU NGUYỆT

Tô cao lầu giữa lòng London

Đinh Lê Vũ

Ngày ba mẹ chia tay nhau, mẹ dẫn em qua Anh quốc định cư, cũng tròn mười bảy năm rồi.

Em hồi đó ốm nhách, đen thui, tóc cột lại bằng sợi dây thun nhỏ xíu lúc lắc sau gáy. Buổi em theo mẹ ra sân bay, nước mắt nước mũi tèm nhem, anh dỗ miết em vẫn không chịu nín. Anh thì vùi mặt vào lưng áo của ba, không dám nhìn theo em và mẹ, cũng không dám cầm tay níu em ở lại. Anh đâu biết lần ra đi đó là cách biệt nghìn trùng.

Mẹ hận ba, nên rất hiếm khi về thăm, lần mô về cũng ghé chớp nhoáng ở nhà ngoại. Nhà ngoại thì xa, cách Hội An, chỗ ba với anh sống gần ba mươi cây số. Cách duy nhất để anh có thể dồn hết tình yêu dành cho em gái là bao nhiêu tiền mẹ gởi về cho anh tiêu vặt, anh mua hết truyện Nguyễn Nhật Ánh, báo Mực Tím, nhờ ba ra bưu điện đóng gói gởi cho em. Anh biết em mê đọc truyện, anh chỉ muốn làm em vui.

Năm mười bảy tuổi, em có về thăm nhà, lúc này em đã ra dáng thiếu nữ, hai anh em đã biết tự đưa nhau đi chơi, đường hoàng như hai người lớn.

Anh còn biết thêm ngoài sở thích đọc truyện, em còn mê mấy món ăn Hội An, nhất là cao lầu. Trong hành lý quay lại Anh quốc của em ngoài sách, báo, còn có cao lầu khô và mấy thứ gia vị Hội An.

Hai anh em bắt đầu liên lạc với nhau bằng e-mail, bằng Facebook, lâu lâu còn gọi video call để được nhìn thấy nhau. Em bận lắm, bận học, bận đi làm thêm, bận chăm sóc mẹ. Mẹ cũng hay đau yếu, nên em cứ phải quẩn quanh bên mẹ.

Thoáng chốc, mười năm nữa qua đi. Mẹ ngã bệnh, ra đi sau một cơn bão tuyết. Ba có gia đình mới. Anh cũng đã kịp có chị dâu. Chỉ có em, một mình côi cút nơi xa. Em sống một mình ở ngoại ô London. Em hay gọi về, rủ anh chị qua Anh quốc chơi với em, để biết mười mấy năm qua, em với mẹ sống ra răng. Em nói hồi xưa em nghèo, bây giờ em đi làm rồi, đủ sức lo cho anh chị thoải mái một chuyến.

Lần lữa, đắn đo mấy năm trời, rồi anh chị cũng thu xếp được. Trước khi đi, chị có hỏi em là em thích ăn món chi để anh chị mang qua đãi, em nói chỉ thèm cao lầu. Ừ thì cao lầu. Chị đóng gói cao lầu khô, rồi ngũ vị hương, rồi tiêu, rồi ớt xanh. Thịt heo thì qua bên đó mua cũng được, chị sẽ vô bếp xíu thịt heo theo kiểu Hội An cho em ăn. Dự là sẽ có một bữa cao lầu Hội An chính gốc giữa lòng London, trong bữa tiệc sum họp của mấy anh em.

Anh chị đáp xuống sân bay Heathrow lúc gần sáu giờ chiều, trời hãy còn nắng rực rỡ. Đầu tháng Tám, nắng chiều ở London tắt muộn, gần mười giờ đêm, bầu trời vẫn còn sáng rờ rỡ như giữa buổi chiều bên mình. Em ra sân bay đón anh chị, ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Có trong mơ, em cũng không tưởng tượng được có ngày được đón anh chị ở London. Có trong mơ anh chị cũng chưa từng nghĩ mình có thể đi xa được như rứa. Liều một chuyến, rồi cũng đặt chân được đến London.

Thời gian anh chị ở London, trời nắng đẹp, trong vắt, chỉ hơi se lạnh vào buổi sáng sớm và lúc chiều tắt nắng. Em đưa anh chị đi khắp nơi, ghé điện Buckingham coi kỵ binh hoàng gia cỡi ngựa, chụp ảnh với London Tower, London Bridge, Big Ben, ghé cả quán rượu mang tên Sherlock Holmes huyền thoại…

Cái gì cũng lạ, cũng hay. Coi kỵ binh hoàng gia cỡi ngựa, chị cứ thắc mắc hoài răng con ngựa cao to như rứa mà cô kỵ binh xinh xắn kia leo lên ngồi trên lưng nó được. Anh thì mê mẩn với nhà cửa, các công trình kiến trúc đặc sắc của London, mà hồi nhỏ, anh chỉ được nhìn thấy trên mấy tấm ảnh trắng đen in lem nhem trong sách giáo khoa.

Em dẫn anh chị đi dạo quanh London, cho anh chị uống bia kiểu pub crawl, tức là lang thang, ghé nhiều quán, mỗi quán chỉ uống một ly bia rồi qua quán khác uống tiếp, đó cũng là cách giới trẻ London khám phá.

Nhưng anh chị đâu còn trẻ. Uống tới quán thứ ba là anh chị đã ngà ngà say, không đi nổi. Em còn đưa anh chị đi uống trà chiều kiểu Anh, lội chợ Borough coi người ta mua sắm… Chị há hốc miệng khi nghe một ly nước mía giá 9,5 bảng Anh, một bó rau muống nhỏ xíu giá 5 bảng, rồi càm ràm em xài sang quá, dẫn anh chị đi uống trà chiều một suất tới cả trăm bảng Anh. Em cười: Tại em muốn anh chị có những trải nghiệm mà em với mẹ từng có, bên ni em lãnh lương bằng bảng Anh, chớ không phải bằng tiền đồng, nên anh chị đừng có lo.

Mấy ngày khác, em dẫn anh chị đi loanh quanh khu Greenwich gần nhà em, chỉ chỗ này, chỗ nọ, chỉ quán phở Việt Nam em hay ghé ăn mỗi lúc nhớ quê nhà. Đi lang thang trong mấy công viên ở London, cây xanh mát rượi, thích nhất là có thể nhìn thấy thiên nga, vịt trời, sóc, thỏ, hải âu ở cự ly gần thiệt gần. Ở đây, chim muông không sợ người, sống chan hòa với người.

Mấy ngày còn lại, anh chị loanh quanh ở nhà, nấu cơm Việt Nam ăn với nhau. Món mô chị nấu em cũng khen ngon quá ngon quá, như thể lâu thiệt lâu em mới được ăn cơm nhà. Rảnh rỗi, anh lục lọi tủ sách của em kiếm sách đọc, mắt không dưng cay cay khi thấy em còn giữ cẩn thận mấy cuốn sách, báo anh gởi cho em đọc hồi nhỏ.

Trước ngày anh chị rời London, chị vô bếp làm cao lầu. Em đưa anh chị đến siêu thị Trung Hoa mua thịt ba chỉ, giá sống và mấy thứ gia vị Việt. Chị xíu thịt, hai chị em tíu tít làm với nhau, làm tới đâu chị chỉ em tới đó, để mai mốt anh chị về rồi thì em có thể tự xíu thịt. Sợi cao lầu khô chị mang qua để lại, em ăn cả năm sau có khi còn chưa hết.

Chị xíu thịt đơn giản hơn cách em thấy trên mạng, mà ngon y chan cái vị hồi nhỏ em hay ăn. Miếng thịt xíu xong để nguội, chị cắt thành từng lát mỏng có cả mỡ cả nạc, đặt lên tô cao lầu. Nước thịt xíu pha loãng chan vô thêm. Rau sống ăn kèm là giá sống mua ở siêu thị châu Á, xà lách và rau thơm em tự trồng trên ban công.

Em nói, ở đây rau sống đắt xắt ra miếng nên em tự trồng trớt cho khỏe. Cái ni mới đặc biệt nghe, chị mang qua cao lầu tươi cắt thành từng miếng nhỏ vuông vuông, chiên lên, rồi bỏ vô nồi chiên không dầu làm nóng một lượt, giòn rụm, thơm lừng, ăn kèm với tô cao lầu, nhai nghe rốp rốp.

Ba anh em ngồi ăn cao lầu với nhau, gọi video call về nói chuyện với ba. Lúc đó London mười hai giờ trưa, Việt Nam là sáu giờ chiều. Nhìn mấy anh em ngồi sum vầy bên nhau, ba vui lắm, mắt ba rưng rưng. Rồi tự nhiên ba nhắc tới mẹ, nhắc tới những bữa ăn gia đình đầm ấm ngày ba mẹ còn bên nhau.

Cuộc sống bây giờ đã khác lắm rồi, nhiều thứ thay đổi lắm rồi, nhưng kỷ niệm, ký ức thì vẫn còn nguyên ở đó.

Em ngồi lặng đi, không nói gì thêm. Anh nghe khóe mắt mình cay cay.

Anh em mình nhớ mẹ.

Khẽ chạm tay vào Tết

  Sơn Trần

.

Tết Nguyên Đán trở thành một truyền thống văn hóa thấm nhuần trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam

Dịu dàng từ đợt mưa xuân

Mùa xuân được gọi là mùa tái sinh của vạn vật sau hành trình dài đi qua tiết đông giá lạnh. Mùa xuân là mùa sinh sôi của cây lá sau ngày tháng âm thầm tích nhựa, sau khoảng thời gian chống chọi với từng cơn mưa dầm, từng đợt gió bấc. Và mùa xuân với từng làn mưa bụi giăng mờ, mỏng manh như một tín hiệu mơ hồ phả vào không gian cho đất trời thêm hương, thêm vị. Và tự bao giờ, thứ “mưa như rây bột” đã thành “đặc sản” của mùa xuân.

Mưa phùn! Đấy là thứ mưa không ầm ào trong chốc lát như mưa rào, không dai dẳng, rả rích như mưa dầm mà chỉ là làn mưa mỏng nhẹ, trông như hạt bụi, nhẹ như sương mai mà đằm dịu, vấn vương, neo chặt trong tâm hồn của những con người đa cảm, lãng mạn.

Mưa phùn từng đợt gieo vào lòng những kỷ niệm. Những điều đáng nhớ ấy cứ lặng lẽ theo tôi suốt cả quãng đời dài, có lúc khe khẽ, dịu dàng những cũng có khi da diết, nồng nàn. Tôi đi về phía ngày xưa cùng làn mưa phùn, gặp lại tuổi thơ đầu trần chân đất cùng lũ bạn chơi đùa mặc dấu mưa lành lạnh vương trên áo, đậu trên tóc, gương mặt đẫm nước. Cảm giác được hòa trong mưa, bình yên làm sao. Để rồi khi sống ở phố, giữa những ngôi nhà tầng san sát, nhìn mưa phùn giăng giăng ngoài ô cửa kính, tôi lại da diết nhớ về ngày tháng cũ khi chạm hờ kí ức ngọt ngào. Sau thời gian phải chịu đựng rét buốt bởi gió bấc và mưa dầm, tiết trời đã thay đổi, nắng non và mưa phùn đã đồng hành trong sứ mệnh nâng niu để từng nõn xanh, lộc biếc hân hoan thức giấc sau lớp vỏ sần sùi vết tích của thời gian.

Mưa phùn nhẹ nhàng khẽ gọi mùa xuân! Tôi đã yêu thiết tha cái thứ mưa thanh nhẹ, sẽ sàng giăng đầy kỉ niệm này. Cứ mỗi lần xuân đến, tiết trời se lạnh tôi lại nhớ đến nao lòng những cơn mưa phùn. Bởi đây chính là thời điểm tâm hồn được đánh thức, khơi gợi bởi vị mùa rõ rệt qua hương sắc của hoa, qua cái mùi ngai ngái, nồng nồng của đất. Vạn vật căng tràn sức sống, cựa mình thức giấc sau mùa đông dài. 

Bâng khuâng chợ Tết

Mỗi dịp xuân về, trong tiết trời giao mùa dịu ngọt, lòngngười bỗng thấy rộn ràng, nôn nao chuẩn bị đi chợ Tết. Phiên chợ ngày Tết, từ lâu đã là nơi lưu giữ những phong tục truyền thống, đặc trưng của làng xã, một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, để rồi khi đi xa, những điều ngỡ bình thường, mộc mạc ấy luôn vọng về trong tâm thức. 

 Những ngày giáp Tết các phiên chợ đều trở nênđông đúc, nhộn nhịp. Đi giữa không gian ấy, cảm xúc của con người trở nên tươi mới, nhiều cung bậc bởi hương vị Tết, bởi sự vun đầy của những món hàng. Và trong không gian thân thuộc ấy, nhìn đâu, chạm đâucũng thấy kỷ niệm tràn về.

Náo nhiệt và tràn ngập không khí Tết nhất là những phiên chợ vào những ngày cuối tháng Chạp. Hầu như ai nấy đều chuẩn bị sẵn những món hàng từ chuồng trại, từruộng vườn để cho chợ quê ngày Tết thêm phong phú, đa dạng. Hàng hóa chợ Tết ở quê phần lớn là sản phẩm đặc trưng, mang đậm tính truyền thống của dân tộc như: dưa kiệu, lá dong, bánh chưng, bánh tét hay nhiều loại bánh mứt tự làm. Trông đẹp mắt và sang trọng nhất là gian hàng bày bán những giỏ quà xinh xắn đựng bánh mứt, rượu trà hay những bình hoa vải, hoa nhựa sặc sỡ, bắt mắt. Nhưng có lẽ, điều tạo nên linh hồn của một cái Tết cổ truyền thì không thể thiếu sự quyện hòa giữa mùi hương và sắc màu, nét riêng dễ nhận biết. Chính vì thế chợ quê ngày Tết có những gian hàng với mùi vị của hương trầm, với sắc màu của đèn, của thiếp vàng. Dạo ngang nơi ấy, bao người xa quê trở về dịp Tết đã đi trong cảm xúc ngập tràn.  

Đi chợ quê ngày Tết là đến với một không gian chanchứa niềm vui và kỉ niệm. Đó cũng là để trở về, về với kí ức, với những gì từng gắn bó. Đi để gặp lại, nghe lại những tiếng chào mời thân thiện, chân quê. Đi để nghe âm thanh của cuộc sống đời thường vang vọng. Chợ Tết dĩ nhiên là nơi trao đổi, mua bán nhưng cũng là nơi neo giữ hương vị của tuổi thơ, của ký ức quê nhà, của nét đẹp văn hóa trong mỗi con người, nhất là người xa quê.

Linh thiêng đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc thiêng liêng, thời điểmchuyển giao giữa năm cũ sang năm mới. Lúc này trời đất giao hòa, âm dương hợp quyện, vạn vật dường như trỗi dậy, bừng lên sức sống tươi mới và mãnh liệt nhất. Trong thời gian và không gian thật sự ý nghĩa của đêm giao thừa, người ta mong ước những khó khăn của năm cũ sẽ trôi đi như những cánh hoa tàn rơi rụng trong giá lạnh mùa đông và hân hoan chờ đợi khoảnh khắc trăm hoa đua nở của năm mới đang đến với tràn đầy ước mong và hy vọng

Thật vậy, được tận hưởng vẹn nguyên phút giây thiêng liêng ấy với cảm giác của sự trầm mặc, thanh tịnh trong bóng trầm hương quyện ngát, bảng lảng với tiếng chuông khuya vang vọng mà rưng rức, bồi hồi.

Boong … boong …Nhè nhàng, khoan thai tiếng chuông từ ngôi chùa lớn ngân lên. Tiếp theo sau là tia sáng hướng thiên của pháo hoa, sáng bừng không gian đêm trừ tịch.Đất trời náo nức, tâm hồn con người trở nên tĩnh tại, gần gũi, thân thương đến lạ kỳ. Một đêm giao thừa đầy ắp yêu thương, ấm cúng sẽ tiếp thêm động lực cho mỗi người sống và làm việc tốt hơn. Theo phong tục có từ lâu đời,thường khi giao thừa người ta đều sắm một mâm lễ để cúng ngoài trời ở khoảng sân trước nhà và để cúng trong nhà tại bàn thờ gia tiên vào thời điểm bắt đầu ngày mồng Một Tết. 

Đêm giao thừa là đêm thơm thảo nhất của con cháu đối với tiền nhân, dẫu chẳng phải là ngày giỗ chạp, chỉ là vọng nhớ, biết ơn, là mong được gần gũi thân tình với người đã khuất, biểu hiện của lòng yêu thương và niềm tôn kính. Đêm giao thừa thoang thoảng mùi trầm hương nhẹ bay, cái “mùi Tết”, mùi sum họp đoàn viên không lẫn vào đâu được! Ai đi xa không về kịp nhà đón giao thừa, chỉ cần thoảng trong làn gió mùi trầm hương thơm thoảng, nhẹ bay đã nặng nhớ, nặng thương, mùi trầm hương tuy nhẹ nhàng nhưng lắng sâu.

Giữa giờ khắc giao thừa, trong hương trầm bảng lảng, nhìn bao ánh mắt long lanh, chờ đợi, lòng người bỗng khơi sâu đến tận cùng cảm thức về sự linh thiêng đang ùavề mang tín hiệu của an lành và tin yêu. 

                                                                                   

.Lưu Ngọc Minh

.

Nay ở thành phố, mỗi lần đến Tết tôi ra siêu thị để mua bánh, mứt. Có đủ các loại, bình dân có, cao cấp có; miền Nam có, miền Bắc có, tùy chọn. Nhưng từ sâu thẳm, tôi vẫn luôn nhớ về một vùng quê của ấu thơ.

Khi ấy, mỗi khi Tết đến chị em tôi cùng mẹ làm bánh, mứt để cúng, để đãi khách. Và đó không chỉ là nhu cầu tiêu dùng mà còn là niềm vui ngày Tết.

1. Mỗi dịp Tết, tuy nhà không mấy dư dả nhưng mẹ cũng làm hàng chục loại bánh. Tôi nhớ nhất là bánh in vì dễ làm, làm nhiều và để được lâu. Mẹ cho đường và bột nếp đã rang xay mịn vào thau nhỏ, hai bàn tay gầy guộc vì công việc đồng áng nặng nhọc của mẹ lúc này lại thoăn thoắt nhào trộn đến khi bột ngấm hết vào nước đường.

Rồi mẹ lấy khuôn, đổ một lớp bột, rưới một ít nhân ở giữa (pha trộn từ đậu phộng, mè, đường và bột quế), đổ tiếp một lớp bột, dùng hai tay ịn mạnh thành ra bánh.

Những chiếc bánh in tròn nhẵn có chữ phúc phía trên trông bắt mắt. Nhưng bọn trẻ chúng tôi không thích ăn bánh in vì thấy không ngon và hay mắc nghẹn. Bởi vậy, bánh in là thứ còn lại nhiều nhất sau mỗi dịp Tết.

tet-truyen-thong-2.jpg
Một cụ bà chuyên làm và bán bánh in cùng các loại bánh truyền thống khác ở chợ Nhơn Lộc (nay thuộc xã An Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai) năm 2024. Ảnh: Hoài Thu

Có một loại bánh khác cũng dễ làm nhưng bọn trẻ thích ăn hơn là bánh nổ. Gọi là bánh nổ vì khi rang, nếp sẽ nổ bung thành những hạt cốm trắng tinh, phát ra tiếng lách tách vui tai. Cách làm cũng tương tự bánh in, chỉ khác là nguyên liệu không phải bột mà là cốm.

Những hạt cốm mẩy tròn, mang hương đồng cỏ nội. Mẹ trộn cốm với nước đường, gừng rồi đưa vào khuôn ép thành bánh. Những cái bánh nổ hình thoi, giòn tan, quyện hương gừng thơm dìu dịu, nên trẻ con, người lớn đều thích.

Sang hơn là bánh thuẫn. Nguyên liệu chính của bánh thuẫn cũng là bột, đường nhưng có thêm trứng và các loại gia vị khác. Mẹ trộn bột, đường, trứng rồi đánh nhuyễn; xong đặt chiếc khuôn trên lò than, khi khuôn đã nóng cho bột vào và nướng.

Chiếc bánh thuẫn khi chín vàng ươm, nở bung như cánh hoa mai ngày Tết. Bánh tơi xốp, thơm ngon, ưu tiên để đãi khách nên bọn trẻ được mẹ phát có giới hạn.

Mứt mẹ làm cũng có nhiều loại: Mứt gừng, mứt dừa, mứt bí… Nhưng làm mứt gừng là công phu nhất. Mứt gừng tôi muốn nói ở đây là mứt gừng củ chứ không phải là gừng lát.

Làm mứt gừng lát thì đơn giản, lấy củ gừng thái lát mỏng, ướp với đường rồi sên trên lửa nhỏ, đảo đều tay đến khi đường kết tinh thì thành món mứt gừng thơm ngon, ấm bụng.

Nhưng làm mứt gừng củ thì công phu hơn nhiều. Mẹ ra vườn nhổ các bụi gừng, chọn những củ đẹp, thường có 5 nhánh để khi làm xong miếng mứt giống như bàn tay năm ngón.

Sau khi chọn được củ đẹp, mẹ đem ngâm nước rồi cạo vỏ, rửa sạch, ngâm nước muối qua đêm để củ gừng mềm và nhả bớt nhựa. Hôm sau chị em tôi ra sức xăm từng củ, phải xăm đều, xăm kỹ, đến khi củ mềm, dễ thấm đường và bớt cay.

Mỗi cây xăm có chừng mười cây kim nhọn, chị tôi có lần sơ ý bị đâm vào tay đau buốt đến phát khóc. Xăm xong, mẹ xả nước, luộc, thắng với đường đến khi chuyển sang màu trắng ngà, thì vớt ra phơi khô.

Mứt gừng nguyên củ tự làm mang hơi ấm của bàn tay người thân, tạo nên một bức tranh Tết đầy màu sắc và sống động.

Mỗi loại bánh, mứt làm xong mẹ cẩn thận xếp, cất vào các quả nhôm hoặc bình thủy tinh để dùng trong dịp Tết. Trong ba ngày Tết, ngày nào mẹ cũng sắp bánh, mứt ra đĩa mang lên bàn thờ để cúng ông bà, tổ tiên.

Khách đến thăm xuân, mẹ cũng sắp một đĩa bánh mứt, để nhâm nhi với tách trà nóng, nói chuyện đồng áng, chuyện làng trên, xóm dưới. Thấy khách bọn trẻ chúng tôi thường lẩn quẩn chờ được lì xì. Nhưng cha nhắc khéo: “Đi chơi, trẻ con không được hóng chuyện”.

2. Nhưng có lẽ không gì ấm cúng hơn việc nấu bánh tét. Để có nồi bánh tét ưng bụng, mẹ chọn nếp ngon đem ngâm trong nước sạch, vớt để ráo nước rồi ra vườn cắt những tàu lá chuối tươi, xanh mướt vào nhà gói bánh.

Trải lá trên nia, mẹ đổ một lớp gạo nếp, rồi một lớp nhân được làm bằng đậu xanh và thịt ba chỉ, đổ tiếp một lớp nếp nữa rồi gói. Mẹ cuộn chiếc bánh gọn gàng để lớp gạo nếp ôm lớp nhân vào giữa rồi dùng lạt tre để buộc.

Mẹ vừa buộc vừa chỉ bảo các chị tôi: “Buộc vừa phải thôi, lỏng quá hay chặt quá bánh đều không ngon”.

tet-truyen-thong-1.jpg
Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao TP. Quy Nhơn (cũ) tổ chức Hội thi làm bánh chưng, bánh tét mừng Đảng mừng Xuân Giáp Thìn 2024. Ảnh: Nguyễn Dũng

Số gạo nếp còn lại không đủ để làm bánh tét, mẹ thường làm vài cái bánh ú nhỏ, là phần thưởng của bọn trẻ chúng tôi khi nồi bánh chín tới. Nấu bánh tét thường vào đêm giao thừa, lũ trẻ chúng tôi quây quần bên bếp lửa, nghe người lớn nói chuyện rôm rả cho đến khi ngủ lịm lúc nào không hay.

Cũng như các loại bánh mứt khác, trong 3 ngày Tết ngày nào mẹ cũng tét bánh mang ra bàn thờ để cúng. Mẹ dùng chính sợi lạt buộc bánh để tét bánh. Một đầu lạt giữ bằng hàm răng đen nhánh, chắc chắn của mẹ, đầu kia dùng tay để tét.

Vậy mà các lát bánh đều tăm tắp như đóng khuôn vậy. Khách thăm xuân, đến bữa mẹ không kịp nấu cơm nên tét bánh, mời khách ăn với dưa món thay cơm, ai nấy đều vui.

Ngày nay đến Tết, tôi lại đến các hiệu bánh Ngọc Nga, Bà Xê để mua bánh tét, bánh chưng về dùng. Đây là các loại bánh có thương hiệu, nhiều người khen ngon nhưng với tôi, nó vẫn thiêu thiếu một cái gì đó không nói ra lời.

Dường như nó thiếu cái chất thôn quê, cái mùi đồng ruộng, cái bếp lửa ấm áp đã đi theo tôi suốt những năm thơ trẻ.

.

Nguyễn Kim Huy

.

Tranh Họa sĩ Đinh Cường

.

Thoáng bóng em đi giữa sân trường

Nụ cười giấu sau làn tóc rối. Môi hồng nở một nụ hoa.

Chiếc cặp đỏ em ôm nghiêng trong gió

Em bước đi vội vã dưới trời trưa.

.

Nắng ửng hồng. Và dáng em xưa

Đi giữa sân trường ngọt thơm mùa trái chín

Tình yêu đầu theo em vào câm nín

Cái nhìn lặng thầm gởi khoảng trời xưa.

.

Hồn nhiên nói cười như chim non. Trong veo như giọt sương ban mai.

Ngày ấy em chưa biết buồn

Ngày ấy em chưa biết ngồi đọc thơ, chưa biết ngắm hoa và mơ mộng

Chưa soi gương nhìn vẻ ưu tư.

.

Ngày ấy anh chưa biết mình

Khi từ biệt ngôi trường, từ biệt em

Sẽ luôn nhớ đến nao lòng khi ánh mắt mình tình cờ gặp nhau

Giấu sau mắt em là những sắc nắng ngày xuân.

.

Bây giờ, sau những tháng năm biền biệt cách xa

Anh thầm mong em hãy ngước nhìn lên bầu trời và tươi xanh lên sắc nắng

Khi em buồn bã, khi em thấy mình cô đơn

Em đừng hát một mình, đừng khóc

Hãy để những yêu thương trong ký ức làm nên những ngày vui ấm áp đời mình.

Cái hộp thiếc

Ngô Đình Hải

.

Tranh HS Nguyễn Thanh Bình

.Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thường thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!..

Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.

Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn.

Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…

Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:

– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!

Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một.

Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:

– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…

Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!

Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:

– Có nhậu nhớ a-lô nghen!

Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…

Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…

Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ.

Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:

– A lô! Ông thầy khỏe không?

– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?

– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…

– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…

– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…

Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó.

Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.

Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:

– Sang dữ bây!…

Nó cười:

– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…

Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:

– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?

– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…

Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…

Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:

– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…

Kim Bông thần mã


Trần Bảo Định

.
Chiều cuối năm.
Má và chị Tư vớt bánh tét máng lên cây sào tre vắt ngang vách bếp, tía lui cui lau chùi
chén bát, xếp đặt hương đèn hoa quả cần thiết cho lễ Trừ Tịch. Tía trải tấm đệm bàng giữa
sân, ngồi uống rượu lai rai với chú Sáu, dượng Chín, sau khi cúng bái rước ông bà về ăn
Tết cùng con cháu.
Rượu vào, lời ra. Chú Sáu nói:

  • Tháng cùng ngày tận. Chỉ còn năm, sáu tiếng đồng hồ nữa, Rắn hết nhiệm kỳ, bàn
    giao công việc cai quản trần gian lại cho Ngựa và cáo lui. Chẳng biết rồi Ngựa sẽ “làm ăn”
    thế nào và có thay đổi gì chăng?
    Tía cười cười, triết lý:
  • Sự thay đổi nào cũng khởi đầu từ ý thức. Đó là điều tất yếu! Ngựa có ý thức thì ắt sẽ
    có thay đổi, chú Sáu mầy lo chi cho mệt. Việc đó, đã có người lo! – Tía chuyền ly rượu cho
    chú Sáu.
    Đàn cò rời cánh đồng, bay hối hả trong không gian chiều tàn về tổ.
    Ba lão bạn đời đã vượt cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” cùng chén thù, chén tạc, khi
    rôm rả, lúc trầm ngâm của thời khắc chờ đợi “tống cựu, nghinh tân”, nhưng không phải là
    không “ưu thời, mẫn thế”!
    Dượng Chín nói:
  • Lẽ thường, thiên hạ tôn vinh ngựa Tàu hơn ngựa ta. Theo tui, ngựa ta hơn xa ngựa
    Tàu! Chỉ mỗi một chuyện Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, cầm roi sắt mà khiến lũ giặc Ân khiếp
    kinh hồn vía và tan rã. Ngựa chết vì chủ của mình, chỉ có ngựa ta, chứ ngựa tàu: chưa chắc!
    Chú Sáu cãi lại:
  • Tui đọc Tam Quốc Chí, nhớ đại khái, Quan Vân Trường bị Mã Trung, Phan Chương
    bắt và sau đó bị giết. Ngựa Xích Thố vì nhớ thương chủ, bỏ ăn mà chết! Đời sau, ai cũng
    thương cảm và ca ngợi.
    Dượng Chín bảo rằng, muốn rõ thực hư chuyện ngựa Xích Thố vì thương nhớ chủ bỏ
    ăn mà chết hay sức cùng lực tận, vì tuổi già mà chết, ta phải biết số tuổi ngựa Xích Thố đã
    sống!
    Tía chen vào:
  • Hồi ông già tui ở bạn nuôi ngựa đua nhà Hội đồng Láng miệt Đức Hòa Thượng,
    thường nói ngựa từ ba, bốn tuổi là đã có thể phối giống và ra trường đua. Thời kỳ sung mãn
    nhất của ngựa là từ sáu đến tám tuổi. Đời ngựa thường dài không quá ba mươi năm!
    Dượng Chín tiếp:
  • Ngựa Xích Thố lần đầu xuất hiện trong tay Đổng Trác là vào năm 189. Lữ Bố thấy
    Xích Thố là mê mẩn ngay và Đổng Trác đã dùng ngựa Xích Thố dụ Lữ Bố thực hiện mưu
    kế của mình. Như vậy, ngựa Xích Thố lúc bấy giờ phải ở thời kỳ sung mãn nhất. Đến năm
    219, ngựa Xích Thố chết khi Quan Vân Trường thọ hình!
    Dượng Chín chiêu ngụm rượu, rồi làm bài tính nhẩm:
  • Ngựa Xích Thố xuất hiện năm 189, chết năm 219 vị chi là ba mươi năm, cộng thêm
    khoảng tám năm từ lúc ngựa mới sinh ra cho đến khi sung mãn. Tất cả là ba mươi tám năm!
    Dượng Chín kết thúc:
  • Như vậy thì ngựa Xích Thố chết vì tuổi già, chứ chẳng phải chết vì thương nhớ chủ!
    Chú Sáu được dịp “hấp tinh kiến giải”:
  • Tui phục dượng Chín sát đất!
    Chị Tư bưng dĩa khô cá chạch và chén nước mắm me, tiếp thêm mồi nhậu. Tía biểu chị
    vào trong lấy mấy tấm hình chụp mộ ngựa Kim Bông đưa dượng Chín và chú Sáu coi.
    “Nhớ hồi nẳm, khi đơn vị hành quân qua làng Cỏ Ngựa dưới chân đèo Cù Mông, tía
    được nghe cô bác lớn tuổi kể rằng, xưa kia, nơi đây có lão Ngô đầu lĩnh, cỡi con tuấn mã
    Kim Bông, tay cầm đại đao, chuyên nghề bảo tiêu hàng hóa của thương nhân mỗi khi vận
    chuyển qua đèo. Một hôm, từ căn cứ kháng chiến, Tướng Võ Trứ tìm về hội kiến với lão
    họ Ngô. Sau tuần trà, Tướng Võ Trứ bộc bạch:
  • Vận nước nguy khốn, Vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng, rời kinh thành lên miền Tân Sở
    truyền hịch Cần Vương. Trứ nầy, mong đại huynh gả Kim Bông về phong trào Văn Thân
    Bình Định đang sục sôi chống quân xâm lược Pháp và bọn tay sai của chúng.
    Ngô đầu lĩnh cầm vò rượu tu một hơi dài, cười khanh khách:
  • Với đất nước, mạng Ngô tui còn chẳng kể thì có sá gì ngựa Kim Bông?
    Chủ, khách cáo từ. Tướng Võ Trứ nhảy lên yên ngựa. Kim Bông bất ngờ giậm chân,
    hất tung Tướng Võ Trứ rơi xuống đất.
    Lão Ngô đầu lĩnh vỗ vỗ bờm ngựa:
  • Ta già rồi, con thay ta đi cứu nước!
    Ngựa Kim Bông cạ mặt vào người lão Ngô, hí vang núi rừng, rồi phi nước đại chở
    Tướng Võ Trứ về căn cứ, giữa trưa nắng bụi mù tung…
    Kim Bông trở thành chiến mã của Phó soái Lê Tuyên – còn gọi là Bá Mười, Lê Văn
    Trang. Người và ngựa cùng cận kề cái chết ở chiến trường, sống chí tình, chí nghĩa. Chiến
    mã Kim Bông đã cùng chủ đi vào những trận đánh khốc liệt, như Trường Úc, Lò Vôi (Tuy
    Phước), Cẩm Văn (An Nhơn), Phú Gia (Phù Cát)… khiến quân xâm lược khiếp sợ, bọn
    vong nô Nguyễn Thân thất điên bát đảo, gọi Kim Bông là thần mã. Khi Chủ soái Mai Xuân
    Thưởng, Phó soái Lê Tuyên cùng tám tướng lĩnh nghĩa quân bị giặc hành hình sáng ngày
    15 tháng 4 năm 1887 tại Gò Chàm (cũ) ngày nay, gần cầu Xi-Ta, cách thành Bình Định
    non một cây số về hướng bắc, ngựa Kim Bông hiếu nghĩa, can trường liền chạy thẳng về
    nhà báo tin dữ. Lúc bị giặc vây bắt, nó trốn biệt vào núi. Thi thể Phó soái Lê Tuyên được
    chôn cất tử tế trên đất Gò Đình.
    Một sáng, khi đồng còn mù sương sớm, người làng phát hiện ngựa Kim Bông nằm gục
    chết bên mộ phần của chủ. Những giọt nước mắt hòa cùng sương còn nhòe trên mặt ngựa
    khổ đau. Cảm thương và trân quý lòng thủy chung đó, dân làng Nhân Ân cùng gia đình Phó
    soái Lê Tuyên đã xây mộ đá vôi cho ngựa Kim Bông, gần mộ phần của Phó soái Lê Tuyên.
    Trước mộ, có bức bình phong đắp nổi hình ngựa Kim Bông trên nền hoa văn bông cúc vàng
    với họa tiết tinh tế, như nhắc người đời sau tiếc thương và suy ngẫm!”
    Tía ngừng kể, mời mỗi người uống nửa xây chừng rượu. Chú Sáu, dượng Chín săm soi
    mấy tấm hình tía chụp chung với người bạn ở Bình Định bên mộ ngựa Kim Bông. Chú Sáu
    hỏi tía:
  • Anh Năm, từ Tuy Phước đi đến mộ ngựa có xa không?
    Tía nói, từ thị trấn Tuy Phước đi vào mộ ngựa Kim Bông cũng không xa mấy. Hồi đó,
    tía đi cùng người anh em bạn theo hướng Đông bắc khoảng bốn cây số, gặp ngã ba Cây
    Xoài thuộc xã Phước Thuận. Rồi qua cánh đồng hơn một cây số về miệt phía Đông thì tới
    đầu thôn Nhân Ân, xưa gọi là làng Nhân Ân, quê hương cụ Tú Diêu, thầy dạy chữ và dạy
    soạn tuồng hát bội cho cụ Đào Tấn. Đến chùa Nhân Ân, xưa gọi là đình, men theo đường
    ruộng phía tây trên trăm mét thì gặp Gò Đình, nơi yên nghỉ của Phó soái Lê Tuyên và thần
    mã Kim Bông.
    Dượng Chín nhìn nắng chiều còn sót lại trên ngọn tre, thốt lên:
  • Thế sự trên trăm năm mà tưởng chừng như mới hôm qua!
    Tía nói, theo đạo trời, ngựa sinh ra vốn dĩ tự do. Ngựa bị đóng yên, khớp mỏ, ấy là đạo
    người. Ngựa sống chí tình, chí nghĩa với người và đồng loại. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ
    cỏ”. Ngựa sống không loạn luân, ngựa mẹ thà chết không cho con phối giống! Người có
    mấy ai sống chí tình, chí nghĩa như ngựa?
    Thiên hạ, dù dễ tính hay khó tính, đều đồng thuận rằng: Ngựa biểu tượng cho sức mạnh,
    như, “Máy có mấy mã lực?” Hoặc, “Lúc này, tao thấy mầy ngựa quá! Đồ ngựa, con đĩ
    ngựa!” Có lẽ nhằm nói lên sức sống mãnh liệt của người phụ nữ. Chẳng có chi là xấu, tốt!
    Ngựa in dấu thời gian. Có người nói: “bóng câu qua cửa sổ”. Đời nhà Thương bên Tàu,
    người biết dùng ngựa kéo xe đi phương xa mua bán nên được gọi là thương nhân. Về sau
    gọi là thương nghiệp, thương mại. Ngựa ta, ngựa Tàu, ngựa nào cũng ngựa. Có điều, Xích
    Thố của Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc cách đây 1.800 năm chỉ là ngựa hư
    truyền! Còn Kim Bông của Lê Tuyên trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp
    cách đây trên 100 năm mới chính là ngựa thực truyền! Mỗi khi nhắc đến ngựa chết vì chủ
    ta chỉ thường nhớ Xích Thố ở tận đâu đâu bên Tàu, mà quên Kim Bông mà mồ mả còn sờ
    sờ trước mặt… Vậy nghĩa là sao?!
    Xứ mình có ba cái tên cùng chung một nghĩa: bông, hoa và huê. Gọi sao cũng được.
    Hương sắc còn tùy. Thiếu mặt này, dư mặt kia. Hiếm khi đặng tròn vẹn cả hai. Chơi hoa,
    đến cụ Nguyễn Du còn phải thốt “Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!” Trời sinh vậy mà,
    bạn hỏi mần chi? Trong bữa ăn nhà quê, bao giờ cũng có món “bông” hiện diện: lúc bông
    bầu, bông bí, bông mướp; khi bông điên điển, bông súng, bông chuối. Má thường dặn con
    cái, muốn hiểu người bạn đời – ngoài những yếu tố khác, có một yếu tố cực kỳ quan trọng,
    là hãy nhìn cái miệng người đó trong lúc đang ăn. Tại sao? Vì khi ăn, miệng thể hiện văn
    hóa, tư chất, tính cách con người! Miệng nói, lời có thể dối trá. Miệng ăn, nhứt định là thực.
    Kẻ đó, bán sống mua chết cũng “chạy trời không khỏi nắng!”.
    Chú Sáu chưa rõ:
  • Tại sao người xưa chọn hoa cúc vàng làm nền đắp nổi tượng ngựa Kim Bông mà
    không chọn một loài hoa nào khác?
    Dượng Chín có ý kiến rằng:
  • Cổ nhân xếp hoa cúc vô trong tứ quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Tại sao, thì phải hỏi anh
    Năm.
    Tía tiếp lời dượng Chín:
  • Mỗi sắc màu hoa cúc mang tâm tình riêng, ý nghĩa riêng. Không trùng lặp, không
    giống nhau. Cõi trần gian, chẳng có loài hoa nào sánh kịp sự bền bỉ thủy chung như hoa
    cúc. Bởi lá và hoa cúc dù úa tàn, khô héo, vẫn ôm cành, không rơi xuống đất. Ông bà xưa
    thường nói: “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”.
    Chú Sáu giờ như thấu cảm:
  • Phải rồi, hoa cúc là biểu tượng cho lòng thủy chung, cũng như ngựa Kim Bông dùng
    sinh mệnh mình để bộc lộ lòng chung thủy! Người xưa để lại cho hậu thế những điều thật
    đáng suy ngẫm. Há lẽ người thua súc vật sao!
    Tía kết thúc câu chuyện:
  • Đất yêu quái không có chỗ sống cho người lương thiện! Người đời tôn vinh Bình Định
    “đất võ, trời văn”, hẳn hồn thiêng sông núi nơi này đã nảy sinh nòi giống ngựa Kim Bông
    và được điểm tô bởi loài hoa cúc trên khắp mọi miền đất nước.
    Mặt sông chuyển màu sẫm tối.
    Ba lão bạn đời cùng cạn ly rượu cuối cùng, chờ thời khắc giao thừa sắp đến!
    (Mộ chiến mã Kim Bông tại xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ
    (nay là xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai).

Mộc Miên

.

Giao thừa hẹn với tháng giêng

Mùa xuân hẹn với linh thiêng đất trời

Hẹn ai, ta đứng ven đời

Mai hoa trổ giữa mắt người rưng rưng

.

Một mùa xuân, mấy lần xuân

Tìm ai giữa chốn vui mừng phố đông

Con chim lạc hướng bay lầm

Lối nao hẹn một trăm năm hỡi người …

Giêng thơm phơi tỏ đất trời

Một ta góc tối, mắt ngời tìm chi ….