Feeds:
Bài viết
Bình luận

Thơ điếu

Huỳnh Ngọc Nga

Từ lâu tôi tự tập cho mình cái tính điềm tỉnh hơn trước một chút, bớt dao động bởi những buồn vui trong cuộc sống vì với tuổi đời theo năm tháng đi qua tôi hiểu ra rằng mọi thứ đều là vô thưòng, hư ảo. Vậy mà sáng hôm qua tôi nghe mình hoảng loạn với một tin mới đến bất ngờ trên trang facebook tôi thường sử dụng hàng ngày như một thói quen, tin Nguyễn Ngọc Thơ không còn nữa, người bạn thơ văn, ngườì em chữ nghĩa của tôi và bạn bè Xứ Nẫu đã từ bỏ tất cả để ra đi không cần cho tôi có cơ hội gặp lại lần thứ hai.

Tôi quen Thơ qua trang văn thơ Xứ Nẫu trên mạng internet do “chủ nhà” Ngô quang Hiển sáng lập và nhờ cậu Trương văn Dân giới thiệu gia nhập. Tôi thuộc lĩnh vực văn còn Thơ thì văn hay thơ đều có mặt. Vốn không biết làm thơ nên tôi ít khi để ý đọc và bình luận các thi phẩm nhưng Thơ vẫn thuờng xuyên đều đặn đến viếng các bài viết của tôi và luôn ân cần cho những lời bình hiền lành đầy tính khích lệ, cổ động nhiệt tình. Dần dà tôi mến lời của người bình và bắt đầu đọc bài và bình các thi & văn phẩm của Thơ để gọi là đáp lễ và theo tôi các tác phẩm của Thơ thực sự rất hay, đầy tính quê hương, nặng tình nhân ái. Đọc tiếp »

Advertisements

Ngã tư

 Nguyễn Kim Huy

kim

NGÃ TƯ       

 

Dừng ngã tư đèn vàng

Nghe một làn hương quen

Bất giác nhìn bên cạnh

Hai người cùng ngỡ ngàng Đọc tiếp »

Hoa nở muộn  

   Hoàng Thanh Hương

Nhà văn Hoàng Thanh Hương

Mờ sáng, cả xóm bị khua dậy bởi tiếng la oang oảng của mụ Ng, thường thì mụ la lớn mấy xóm giềng cũng chả buồn quan tâm nữa. Nhà ấy đánh nhau như cơm bữa. Những ngày đầu, nửa đêm gà gáy xóm còn người này người kia lao sang can gián, che chắn. Sau riết quen tuồng ai cũng phát ớn. Xóm giềng mặc kệ nhà Ng chí chóe. Mụ ấy chanh chua, nói dối như cuội, đánh bạc, cá độ, ăn nhậu bê tha, chồng mụ chán ngấy, con cái chán ngấy, cãi đánh tối ngày… lại đâu vào đấy. Đọc tiếp »

Một lối viết dung dị, cách kể chuyện gần gũi. Những đối thoại, chân dung ta gặp đâu đó mỗi ngày.

Bùi Việt Quý

Những góc khuất số phận lóe lên phút chốc rồi lại chìm vào bóng tối. “Ngửa”, tập truyện ngắn của Ngô Đình Hải – NXB Hội Nhà văn, 2017 – sau 4 tập thơ đã xuất bản, cho thấy một giọng điệu riêng, hài hước mà thâm thúy, gai góc mà nặng tình.

Tác giả cất lên tiếng nói lạ mà quen, có khi như nhát dao cắt ngọt, có khi như hồi chuông dịu lòng, có khi như sấm chớp, cảnh báo tai ương. Sự trải đời, chiêm nghiệm, những ẩn dụ và hình ảnh biểu trưng dễ ở lại với độc giả. Nếu như “Bụi đường” bất ngờ với cơn nôn ói của anh tài xế tuổi 30 sau khi “gần” chị chủ ở căn phòng khách sạn vùng biên thì “Cái giếng nước” là câu chuyện về nỗi cô đơn, về tình yêu từ thuở hoa niên đến lúc lìa đời và cái giếng là chứng nhân, là cứu vớt cho những bi kịch của người trong cuộc và cả cái hồ đồ, nghi ngại, đa đoan của người đời. Truyện “Chó” không chỉ là câu chuyện về người và vật nuôi mà còn là thông điệp về số phận, nỗi ám ảnh của nhân sinh; còn “Vũ khúc đen” bày ra tấn tuồng mỗi người sắm vai, bất chấp thủ đoạn để đạt mục đích chiếm đoạt, đôi chỗ đọc gai người… Với “Tuồng”, “Lâm toilet”, “Hoàn thi sĩ”, “Danh họa”, Ngô Đình Hải cười vào thói đời một cách sâu cay nhưng ý nhị tình người.

Mảng truyện viết về thân phận con người cùng những đẩy đưa của số phận và những bi kịch được tác giả khắc họa thành công. “Ngửa” cũng là hiện thân của sự cô đơn, bất hạnh qua chiếc cột đèn, chứng nhân đời sống thị dân. “Về nhà” là lát cắt hiện thực, ông giáo già từ giã cõi đời quá nhiều kẻ gian lọc lừa người ngay. “Cơm đường, cháo chợ, vợ người ta” thấm đẫm tình người. “Thôi, bỏ đi” có đủ hỷ nộ ái ố, cái đau tột cùng, cay đắng tột cùng đều được giải thoát trong cái kết để trút bỏ oán hờn, dằn vặt…

Tình yêu trong tập truyện này đẹp và buồn, cứ nhói đau và chực rơi nước mắt với “Khuôn mặt” và “Con đường có bao nhiêu lối rẽ”. Chỉ là một lần gặp trên đường, suốt mấy chục năm Dũng mang theo và anh thương quý Chi bởi cô cùng tên và có khuôn mặt giống người con gái ấy. Một chuyện tình học trò đẹp như thơ đến cuối đời vẫn cứ đẹp như người con gái, người đàn bà ấy, dù qua bao nhánh rẽ đau buồn vì đó là tình yêu đích thực: “Rốt cuộc chỉ có ông là không bỏ tôi”…

Nhận xét về tập truyện, nhà văn Nguyễn Trí cho rằng: “Văn chương trong “Ngửa” như một dòng suối ào ạt qua bình nguyên vào mùa lũ, băng băng trôi vào hồn người thưởng ngoạn. Những con chữ được chắt chiu, lạ và độc đáo”. Chừng đó là quá đủ với một đời văn.

Đọc tiếp »

Trái xay vào thu

 

CHẾ DIỄM TRÂM

Nhiều người hằng thích câu thơ tượng trưng của Nguyễn Xuân Sanh “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” và hiểu theo nghĩa là mùa nào thức nấy. Chẳng hạn, mùa thu là mùa của cốm non thơm cả trang văn Thạch Lam, thơ Nguyễn Đình Thi, là mùa cốm sánh với hồng bước vào “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng, mùa thu còn được Hữu Thỉnh làm mới với “hương ổi phả vào trong gió se”… Với tôi, mùa thu, ngoài những cảm xúc nao nao khai trường, còn có chút bồi hồi chờ một thức trái dân dã của mùa thu – trái xay. Đọc tiếp »

Trang sức lạ

Lê Văn Hiếu
 
 
 
Hạt giống đã vùi quên hàng trăm năm
Hôm xưa vươn mình đâm chồi trỗ lá
Kết thành chiếc nậm xinh xinh
 .

Đọc tiếp »

Dải ruy băng màu tím

Nút thắt vừa được mở. Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc.
Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân
Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào. Nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa: Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực. Thế là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời. Mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.
Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó, tôi tìm được công việc khác – giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gác dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.
Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào: Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó: Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo, như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu. Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể: Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản chẳng có buồn đau…
Đó là một món quà cho ba mẹ, cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.
Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.
“Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà má con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba má khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”.
Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ cùng những lời khuyên để trưởng thành, để trở thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương thường trực trong tim.
Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.
Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến, nên tôi đọc, đọc tất cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái, có cảm giác mình mạnh mẽ thêm lên.
“Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc”.
Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.
***
Mười năm trôi qua, giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này mà cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa mà đã là một người đàn ông trưởng thành, tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng không còn thức đêm ở một khách sạn ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí của mình tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đến với đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời cùng những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cùng nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.
Những buổi tối rảnh rỗi tôi thường đọc lại những bức thư cuối cùng của ba mẹ vì đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ. Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ ngày càng mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể trở về quê thăm ba mẹ và nhân tiện chào hỏi, cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.
Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi. Đã nhiều lần tôi xin ba mẹ gửi sang một bức hình mới chụp nhưng họ không gửi cho tôi. Hình ảnh họ trong lòng tôi vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.
Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ, lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên thế nào với chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước này?
***
Tôi gõ mạnh lên bàn phím máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được. Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.
Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách, tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà trông mong, chờ đợi!
Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.
Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “mất ngày…” “từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, có bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.
Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.
***
Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích: “ Ba, mẹ… ba mẹ đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy đã úa vàng bọc trong chiếc bao ni lông rách nát: “Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52…”.
Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ cho tôi khi tôi hỏi về ba mẹ mình:
– Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!
Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rồi quay lại hỏi thăm về căn nhà số 52.
– Đó, căn nhà cao ba tầng đó, là căn số 52.
Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Tôi đến trước cổng ngôi nhà to lớn và nhấn chuông.
– Ai đó? Chuyện gì vậy?
Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra:
– Anh là ai? Cần gì ?
Tôi chỉ vừa nói tên thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay… Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi, trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía đối diện thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.
Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật… nhưng sau…
Tôi nhìn ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, không thể nói được gì. Bà vợ thì bắt đầu nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở. Cuối cùng tôi mới có thể thốt lên câu hỏi:
– Còn số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ tôi? Nó đâu rồi?
Hai người kín đáo nhìn nhau rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả. Tôi không thể làm gì khác hơn là chạy thật xa khỏi hai hình thể không có trái tim đó.
Tôi gọi một chiếc xe về một khách sạn trong thành phố và vội vã sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?
***
Trở lại với cuộc sống của mình, mỗi ngày tôi vẫn còn ám ảnh. Một cánh cửa dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có mục đích. Còn bây giờ… Như là tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu, như không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi đã bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.
Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì tất cả im lặng. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác, lặp lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…
Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, mở vội nút thắt làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi nhặt lên một bức hình đã úa màu thời gian, cảm giác như mình đang chạm vào một điều thiêng liêng. Cảm xúc mãnh liệt dâng lên trong tôi khi tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.
“Con yêu dấu, cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu”.

Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân

Đọc tiếp »