Feeds:
Bài viết
Bình luận

Thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư

Nguyễn Đức Tùng

.

Nhà thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư, từ Huế, gửi cho chúng tôi những bài thơ sau đây. Chị là một nhà thơ hiếm hoi ngay từ khi xuất hiện đã xác định cho mình lối đi riêng. Tinh thần tự do của chị, tính độc đáo (originality), một phần nào chất nữ quyền, ý thức về sinh thái, làm nên các giá trị chính yếu. Nhưng chị cũng là nhà thơ của tình yêu, của trữ tình cá nhân mạnh mẽ.

Cô gái không hề để ý gì về thời gian yên bình của mái tóc

Cho đến khi cô nhận ra

Cần phải cắt bỏ những chiếc vây cá mềm mại đang bơi trong cái chậu bằng thủy tinh

Bởi chúng quá hẹp và mắc vướng

Cô bắt đầu tập ăn tóc

Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng

Cô ăn mỗi ngày

Giấc mơ của một bài thơ trữ tình là tính âm nhạc: nhịp điệu làm dừng lại dòng chảy, cho phép chúng ta sống lâu hơn một khoảnh khắc. Nhịp điệu trong thơ chị là ký ức. Các hình ảnh đôi khi cũng có tính nguyên thủy, tiền ngôn ngữ. Từ khi xuất hiện cho đến nay, Nguyễn Hoàng Anh Thư trung thành với lối viết của mình, với sự mô tả táo bạo, cảm giác hài hước và châm biếm.

Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào

Một thế giới đang chuyển động

Mà không hề hấn gì

Em nắm mây trong tay

Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức

Từng câu chuyện không lời

Em ôm mây nóng bỏng

Nguyễn Hoàng Anh Thư được giải thưởng Văn Việt về thơ vào năm 2016, điều này giúp xác định vị trí của chị trong văn học hôm nay. Chị là một trong số ít người viết thường xuyên tìm kiếm và làm mới chính mình. Thơ đề cập đến môi trường thiên nhiên như một không gian sống, như căn nhà tâm hồn. Đó là sự mô tả có phần lãng mạn, nhưng nhiều hơn là từ góc nhìn xã hội, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh. Đó là một chủ nghĩa hiện thực sầu muộn, tinh tế, sự tiết chế xúc cảm, với những cực đoan về tâm lý.

Mọi bi kịch đều phải dàn dựng

Mỗi cuộc ra đi

Phải rắc thêm vài nhúm tro tàn

Những bàn tay rờ rẫm trên con đường thẫm sâu

Những ngày buồn lạnh tràn xương trắng

Giọng nói ngày trầm đục

Chia lìa

Chia lìa

Từng lời nguyện ước mịt mù xanh

Th ơ tình ấy ũng là một tiếng nói nhân ái, sự bảo toàn các giá trị của con người.Tôi muốn thấy trong thơ chị nhiều yếu tố hài hước hơn nữa. Thơ chị tạo ra những giai thoại, kể những câu chuyện từ góc cạnh khác nhau của đời sống, tách bạch sự thật và giả dối, giữa khai mở và mê muội.

Thơ hiện nay không nhất thiết phải dày đặc và tối tăm như bạn có thể tưởng. Một bài thơ phải mang lại cảm xúc, hoặc gợi lên những suy nghĩ mới ở độc giả, lý tưởng nhất là cả hai, nhưng nếu không thì một trong hai thứ ấy. Có những cảm xúc vui tươi và những cảm xúc sầu muộn. Thơ hôm nay ngày càng có khuynh hướng gây phiền phức cho người đọc, không để họ yên lành, chúng chứa đầy những câu hỏi và thách thức, những mơ ước tuyệt đẹp và phản ứng giận dữ, sự thất vọng chua chát. Thơ bây giờ làm chúng ta suy nghĩ.

T. S. Elliot từng nói rằng: Thơ không phải là sự trào dâng cảm xúc nhưng là sự vượt thoát khỏi nó; thơ không phải là sự biểu hiện của nhân cách, nó là sự thoát khỏi nhân cách.

Thời nào thì con người cũng đi tìm trong thơ những điều sâu kín như hy vọng và thất vọng, chán chường và đau đớn, sự thật và tất nhiên, tình yêu. Chúng ta đang sống qua một thời kỳ khó khăn: dịch bệnh, tàn phá môi trường, độc tài và tham nhũng, nô lệ hoá con người. Tôi nghĩ, chúng ta cần nhiều hơn những tiếng nói như của Nguyễn Hoàng Anh Thư, dịu dàng và dũng cảm.

Trân trọng giới thiệu.

Nguyễn Đức Tùng

1- Ăn tóc

Cô gái không hề để ý gì về thời gian yên bình của mái tóc

Cho đến khi cô nhận ra

Cần phải cắt bỏ những chiếc vây cá mềm mại đang bơi trong cái chậu bằng thủy tinh

Bởi chúng quá hẹp và mắc vướng

Cô bắt đầu tập ăn tóc

Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng

Cô ăn mỗi ngày

Chúng có mùi vị của nắng cháy và rụm rụm của từng sợi buồn xào giòn

Chiều chiều cô lại tựa vào chiếc ghế cũ thong thả ngồi ăn nỗi buồn từ ngọn tóc chết

Chúng có mùi vị của tế bào quy tắc đóng hộp

Chúng có mùi vị của thời gian hơi chua

Thời gian đã hết hạn dùng từ bốn mươi năm trước

Khi cô đã bắt đầu biết ăn những sợi tóc máu từ trong bào thai mà mẹ cô chưa kịp cạo đi

Cô chẳng nhớ được gì

Nhưng cô nhớ rằng cô chẳng hàm ơn chúng điều gì

Bởi chúng có mùi vị mằn mặn, tanh tanh cứ mắc vào cuốn họng

Và đau đến buồn nôn

Từng cơn buồn nôn khó chịu

Từng ngọn tóc đã rối và mắc vướng

Vào trong thớ thịt và đôi mắt mờ dần của mẹ

Cô vẫn đang ăn

Những sợi tóc có mùi vị hạnh phúc và bạc bẽo

Ăn mãi cho đến khi tóc sẽ không còn sợi nào bạc hơn

Cô vẫn đang ăn

Cho đến khi cô biến thành đất để được ăn tóc

mãi mãi

2 – Người thiếu phụ trang điểm

Mười hai giờ mười tám phút

Người thiếu phụ đang ngồi khỏa trắng giấc mơ

Trong chiếc gương có hình oval cũ kỹ

Cô đang kéo đôi chân mày chạm về phía mặt trời

Có thể là dài như một tiếng thở

Cô dùng lớp phấn hồng quét ngược

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Chiếc gương bây giờ là hình trái đất

Đôi mắt màu đại dương

Từng lớp phấn phủ như cơn lốc về

Trăng vỡ mềm môi

Sau lớp thủy tinh

Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

Cô mở hộp tìm mấy câu đồng dao

Tám lẻ dôi

Đôi lên chín

Chín lẻ một

Mốt lên mười

Cô chuyền chuyền đôi tay

Chuyền một

Chuyền hai

Chuyền ba

Trăng vỡ

Cô chuyền trên tay

Đôi mắt xanh màu đại dương

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Sau lớp thủy tinh

Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

3- Một thế giới lệch

Đặt hai con mắt chéo bên dưới sống mũi

Mọi thứ bắt đầu chéo

Một thế giới chéo

Ta nhìn nhau lệch về một bên

Anh thấy tấm lưng em khuyết trũng như ngọn núi

Chúng ta nhìn lệch qua tuổi già

Con đường lệch qua để tránh bão

Mọi thứ đang đeo bám trong ngôi nhà lệch nghiêng

Ngọn tháp nghiêng thì đứng thẳng lại

Chúng ta nhìn lệch thời gian, xáo tung mọi thứ trong tuần

Thứ hai ngủ vùi, chủ nhật bắt đầu một tuần mới

Những bức tượng hoá lỏng chảy tràn con đường

Chúng ta thản nhiên

Ngẩng mặt hít thở khí trời, mở miệng hát và nghĩ đến bất cứ điều gì mình thích

Chúng ta nhìn lệch từng

Khớp xương đang chuyển động rất khó khăn

Nhìn cho đến khi chúng bất động

Treo ngược thế giới lên

Chúng ta sẽ nhìn thấy được gương mặt nhăn nhó như đang cười

Để yêu nhau

4- Hoang phí

Một thau nước xà bông

Với một cọng lá đu đủ

Cô bé thổi cả ngàn giấc mơ

Vỡ

Một bờ biển

Với hai bàn tay

Cô bé nhặt rất nhiều vỏ sò

Ngàn hải lý nằm trong chiếc túi

Một con phố, một ngõ hẻm

Vài tiếng gõ lóc cóc, cơn mưa đen sắp ập đến

Giờ cô chẳng còn một giấc mơ nào trong túi

Để mua lấy ngày xưa mang về

5- Mây

Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào

Một thế giới đang chuyển động

Mà không hề hấn gì

Em nắm mây trong tay

Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức

Từng câu chuyện không lời

Em ôm mây nóng bỏng

Chạy về phía mặt trời

Em nắm mây trong tay đắp ngày muốt mềm mi mắt

Đó là điều kỳ diệu nhẹ nhàng để có thể quên đi thế giới

Nơi mà chúng ta đang đứng đây

Trên sự trì nặng của đôi chân và đôi mắt mệt mỏi

Trên rất nhiều ô cửa giả

Có thể đó là một bí mật mà chúng ta có thể mang theo

Cùng với hơi thở

Của cuộc sống vốn dĩ im lặng

Có thể đó là chiếc áo em khoác cho những lúc bất chợt buồn

Em nắm mây

Chờ sự im lặng nở bung

Trôi

Trôi

Chẳng có con đường nào để biết được hết điều bất tận

Em chờ từng ngọn mây ngã rạp xuống

Trong hơi thở

Để nỗi nhớ bất động cùng đám rong rêu

Bên dưới ô cửa nhỏ

6- Sự chờ đợi

Điều hy vọng phải chăng bay lên chứ

Như màu xanh của tán cây măng cụt kia

Từng chiếc lá vẫn còn níu lại sau cơn bão

Cứ xanh lên mỗi khi mặt trời hiếm hoi rơi xuống giữa mùa đông

Xanh như núi Ngự Bình đầy những nấm mồ giữa hương khói màu xám xịt.

Vậy mà dưới chân

Mỗi buổi sáng

Từng móng nhọn của những chú chó

Riết chặt như thể

Tôi sẽ đi ra khỏi nhà mà quên nói lời tạm biệt

Những đôi mắt trong veo

Một ngày của tôi

Là 3 ngày của chúng

Tôi đi mất 4 giờ, chúng phải chờ đến nửa ngày.

Tại sao khi anh tạm biệt

Anh đã không hiểu 1 giờ

Là cả thế kỷ của em.

7- Thư gửi anh

Sự lẫn tránh của ngôn ngữ

Làm cho bài thơ hụt hẫng

Nỗi sợ sệt mùa đông

Cứng trên từng khớp tay

Này anh, câu chuyện mà em đã kể cho anh nghe hôm qua

Đó là một ngày thần thoại

Đám mây trắng và hàng cây xanh

Cứ thầm thì kể mãi

Câu chuyện của chúng ta đang trượt trên một đường link

Anh tin không

Nó nhỏ như sợi tóc của em dưới ánh nắng ban mai buổi sáng

Vờn trên những nhánh mây

Đang là mùa hè

Giá như nỗi nhớ anh

Có thể lột xác như đám ve

Em sẽ để lại nỗi buồn trên nhánh cây

Với màu hoa phượng đỏ cháy

Giờ này mẹ đang nấu cơm

Một nơi nào đó đang có chiến tranh

Thời gian đang sôi sùng sục

Một nơi nào đó có tiếng kêu gào trong đám cháy

Có quá nhiều thứ đang bốc hơi

Giờ này, chúng ta đang làm gì

Im lìm trong nhà bếp

Mọi thứ đang dần bốc hơi

8- Trong căn bếp

Cô cắt vây, đánh vảy, cắt nhỏ bài thơ, rồi rán lên thơm lừng

Bỏ vào một cái đĩa

Cho bữa sáng lũ chó

Chúng lắc đầu bảo: thiệt vô vị

Lần tới, cô sẽ để nguyên con, thêm một chút gia vị, rồi rán lên

9- Đôi khi

Đôi khi,

ngỡ là hơi thở bị nhốt trong căn phòng kín

Chúng chảy thành một đống lan giữa sàn nhà

Cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm

Chúng ta chẳng đủ can đảm ngước lên để thở sâu hơn

Chúng ta không dám ngợp chìm giữa màu hoàng hôn đang khuyết rạn

Để thấy chúng đang tràn qua trái tim pha lê vỡ

Muôn vàn mảnh thời gian trong vắt

Đi xuyên qua ngực chúng ta

Đôi khi, ngỡ là lời nói đang bị đóng băng trong tủ đá thật lạnh

Những ngăn tủ hình vuông, hình chữ nhật, nhà mồ, nghĩa trang, hay những chiếc quan tài, chúng ta từng hình dung

Những lời nói bị đập ra, bị cắt đi, rồi tan ra trong những chiếc ly làm bằng trái tim pha lê ấy

Chúng ta uống những lời nói có vị băng tan giữa mùa hè thẫm máu

Với nỗi đau thương ngọt lịm

Đôi khi, ngỡ là đôi mắt của chúng ta đang bị dính chặt vào bàn tay

Mũi

Miệng

Hơi thở

Và từng lời

Từng lời nói

Chúng đang chảy thành một đống giữa sàn nhà

Cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm

10- Lá không màu

Mọi bi kịch đều phải dàn dựng

Mỗi cuộc ra đi

Phải rắc thêm vài nhúm tro tàn

Những bàn tay rờ rẫm trên con đường thẫm sâu

Những ngày buồn lạnh tràn xương trắng

Giọng nói ngày trầm đục

Chia lìa

Chia lìa

Từng lời nguyện ước mịt mù xanh

Thấm trong bức tường ẩm mốc

Mọi bi kịch đều phải ra đi

Đổ lỗi vài trò ảo thuật

Hơi ấm không còn nằm yên trong chiếc áo

Bàn tay không còn định hình trên con đường thẫm sâu

Để xoay mòn mỏi

Những trục yêu thương cũ kỹ

Đêm nay

Những ngọn lá không màu

Mù mờ rơi trí nhớ

Như mái tóc em đang đổ xuống

Từng sợi dài vô tận nỗi buồn

n.h.a.t

(ảnh: NHAT, cô giáo dạy tại Đồng Khánh- HBT Huế)

May be an image of 1 person, standing, outdoors and tree

Vê lá mùa vàng

Hồ Tịnh Văn

.

Vê lá mùa vàng trên phố

Vốc nỗi nhớ cất vào tim

Lòng yêu dâng lên chất ngất

Tình trong góc khuất im lìm

Thu mang cơn mưa về ngõ

Chú chuồn chuồn ớt chiêng chơi

Cơn gió đùa vui sợi tóc

Em tìm anh về ấp môi

Tủm tỉm cười chi không nói

Mắt nhiu nhìn qua kẽ đời

Em thấy em hiền rất lạ

Đơm ánh sao khuya lên trời

Mỗi ngày thêm xa mùa cũ

Mỗi mùa víu chút ngu ngơ

Đừng để dáng anh mất hút

Thu buồn mới chép vào thơ

.

NĐK Lê Trọng Nghĩa

.

Cặp voi đá thành Đồ Bàn hiện còn lưu giữ tại Khu di tích Lịch sử Quốc gia Thành Hoàng Đế, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trước đây – nay là tỉnh Gia Lai – là một trong những hiện vật đặc biệt của điêu khắc Champa. Hai tượng có niên đại nửa sau thế kỷ XII, được tạc bằng đá sa thạch, kích thước lớn, đặt trong không gian thành cũ. Theo các tư liệu công bố, tượng voi cái cao 176 cm, dài 220 cm, rộng 85 cm; tượng voi đực cao 200 cm, dài 240 cm, rộng 100 cm. Cặp tượng được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 30/1/2023, trong đợt công nhận bảo vật quốc gia lần thứ 11.

Nhưng với tôi, hai con voi ấy không chỉ là hiện vật để đo đạc, ghi chép hay xếp hạng. Tôi sinh ra và lớn lên ở An Nhơn. Những dấu tích Chăm trong vùng đất này đã đi vào ký ức tôi từ rất sớm: viên gạch cũ, nền tháp, mảnh đá, bờ thành, lớp rêu phủ trên những thứ tưởng như im lặng. Tuổi thơ tôi không gọi chúng là di sản. Tôi chỉ biết đó là những gì còn sót lại của một thời xa, nằm trong cỏ, trong đất, trong nắng, trong bước chân người đi qua.

Cặp voi đá Đồ Bàn cũng đến với tôi từ cái nhìn như thế. Trước khi biết chúng thuộc niên đại nào, cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, tôi đã nhớ dáng đứng của chúng. Một dáng đứng nặng, lặng, như có một chuyển động đã bị giữ lại trong đá. Có những khối đá chỉ nằm trong không gian. Có những khối đá được đặt lên bệ. Nhưng cũng có những khối đá làm ta có cảm giác chúng đã mọc lên từ đất, và nếu thiếu chúng, nơi ấy sẽ trống đi một phần ký ức. Cặp voi đá Đồ Bàn thuộc về loại đó.

Một ký ức đứng trước cửa thành

Thành Đồ Bàn từng là kinh đô của vương quốc Champa trong giai đoạn Vijaya. Về sau, trên nền dấu tích cũ, Nguyễn Nhạc xây dựng kinh đô đầu tiên của vương triều Tây Sơn và đặt tên là Thành Hoàng Đế. Vì vậy, nơi cặp voi đá hiện diện không phải là một không gian trống, mà là một địa tầng văn hóa, nơi nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau: Champa, Tây Sơn, triều Nguyễn và đời sống cư dân hôm nay. Các nguồn giới thiệu di tích cũng ghi nhận Thành Hoàng Đế được xây dựng trên cơ sở kinh thành Đồ Bàn của Champa.

Hai con voi không đứng trong bảo tàng. Chúng đứng ngoài trời, trong ánh sáng, trong mưa nắng, trong độ ẩm của đất, trong tiếng người đến rồi đi. Chính không gian ấy làm nên một phần ý nghĩa của chúng. Nếu tách chúng khỏi cửa thành, khỏi nền đất An Nhơn, khỏi những lớp phế tích quanh đó, ta sẽ mất đi cảm giác về một cặp tượng đã thuộc về nơi chốn. Điêu khắc, nhất là tượng tròn ngoài trời, không chỉ là hình khối riêng lẻ. Nó còn là quan hệ giữa khối với đất, với lối đi, với khoảng nhìn và ký ức của cộng đồng.

Một điều làm tôi chú ý ở cặp voi đá Đồ Bàn là cảm giác chúng không được đặt lên cao để tách khỏi mặt đất. Chúng đứng thấp, gần với nền, như thể khối đá đã mọc lên từ chính nơi này. Cảm giác ấy rất quan trọng. Nó làm cho cặp tượng không xa cách, không trở thành những vật thờ bị nâng khỏi đời sống, mà hiện diện như hai sinh thể lớn đang giữ lấy ngưỡng cửa thành.

Nhìn kỹ phần chân tượng và nền đặt tượng, có thể thấy thời gian đã tham gia vào diện mạo hiện nay của hiện vật. Đất, mưa nắng, độ ẩm, lớp rêu, sự bồi lấp hay lún nền đều để lại dấu vết trên cách tượng chạm vào mặt đất. Không dễ kết luận đâu là chủ ý ban đầu của nghệ nhân, đâu là hệ quả của thời gian. Nhưng chính sự nhập nhòe ấy lại làm cho cặp tượng có thêm chiều sâu: thời gian, trong một nghĩa nào đó, đã trở thành một người cùng tham gia vào hình khối.

Tôi muốn nhìn cặp tượng từ kinh nghiệm trực tiếp của người làm điêu khắc: nhìn khối, cảm khối, cảm trọng tâm và tự hỏi vì sao hai con voi ấy vẫn còn sức đứng đến hôm nay. Với điêu khắc, đứng không chỉ là không đổ. Một tượng có thể đứng đúng kỹ thuật nhưng vẫn vô cảm. Ngược lại, có những khối không cần phô diễn nhiều vẫn làm người xem tin rằng nó phải ở đó, như thể chính nơi chốn đã giữ nó lại. Cặp voi đá Đồ Bàn có sức đứng ấy.

Voi cái: khối đá được nghi lễ hóa

Tượng voi cái gây ấn tượng trước hết ở vẻ trang nghiêm. Phần đầu đội vương miện nhiều tầng, hai bên tai có các dải trang trí rủ xuống. Cổ và ngực phủ những chuỗi hạt, hoa văn nổi, trong đó có các mô-típ trang trí quen thuộc của nghệ thuật Champa. Một số mô tả hiện vật cũng ghi nhận các chi tiết trang sức, yếm cổ, mô-típ quả trám và nửa quả trám trên thân voi cái.

Nhìn gần, ta thấy các chi tiết ấy không đơn thuần làm đẹp cho tượng. Chúng làm cho thân voi được nâng lên khỏi đời sống tự nhiên, trở thành một linh vật. Nhưng điều đáng chú ý hơn là trang trí không làm vỡ khối. Đây là chỗ người làm điêu khắc rất dễ nhận ra. Khi một khối lớn bị thêm quá nhiều chi tiết, nó dễ bị vụn, mất lực, mất sự liền mạch. Nhưng ở tượng voi cái, các vòng hạt, dải trang sức, hoa văn không nằm ngoài thân đá như phụ kiện gắn thêm. Chúng hòa vào bề mặt, đi theo nhịp của khối, làm cho khối vừa nặng vừa có nhịp thở.

Tượng voi cái vẫn là một thân thể lớn. Nó không mềm yếu, không trang sức theo nghĩa làm dáng. Khối thân đầy, chân vững, đầu đội vương miện nhưng không mất sức nặng. Vẻ đẹp của nó không phải vẻ đẹp mảnh mai, mà là vẻ đẹp của một sinh thể được nghi lễ hóa. Trong cấu trúc cặp đôi, voi cái không phải phần phụ của voi đực. Nó có thế đứng riêng, vẻ trang nghiêm riêng, sự hiện diện riêng.

Điều này cho thấy nghệ nhân Champa không chỉ khéo trong trang trí. Họ hiểu khối. Họ biết giữ cái toàn thể trước khi đi vào chi tiết. Với điêu khắc, đây là điều rất quan trọng. Chi tiết có thể hấp dẫn mắt nhìn, nhưng chính khối mới giữ linh hồn của tượng. Ở tượng voi cái Đồ Bàn, trang trí làm giàu cho khối, chứ không thay thế khối.

Voi đực: cái động bị giữ trong đá

Nếu tượng voi cái cho ta cảm giác về một khối được trang sức và nghi lễ hóa, thì tượng voi đực lại hiện ra bằng sức mạnh trực tiếp hơn. Đầu lớn, trán nở, tai xòe, thân căng, bụng đầy, bốn chân đặt chắc. Vòi voi buông xuống rồi uốn cong vào trong, gợi cảm giác như đang nắm hoặc nhổ một thân cây. Nhiều mô tả hiện vật cũng nhắc đến chi tiết vòi voi như đang quấn vào cọng sen hoặc nhổ cây, tạo cảm giác tượng ở trong tư thế động.

Tượng voi đực không bước đi thật. Nó cũng không hành động theo cách tả thực. Nhưng toàn thân nó chứa một lực đi. Cái động bị giữ lại trong trạng thái tĩnh. Đó là điều rất khó trong điêu khắc. Làm cho một khối đá đứng yên mà vẫn có sức chuyển động bên trong không phải chuyện của kỹ thuật đơn thuần. Nó đòi hỏi nghệ nhân phải hiểu trục thân, hiểu trọng tâm, hiểu độ nén của bụng, hướng của vòi, thế đặt của chân và sự căng của toàn khối.

Nghệ nhân Champa không tả voi theo lối giải phẫu chi li. Không có sự chăm chút quá mức vào nếp da, cơ bắp hay chuyển động sinh học. Nhưng họ nắm được thần thái căn bản của voi: nặng, chậm, mạnh, bền, có sức đẩy về phía trước. Họ không sao chép bề mặt của voi. Họ rút lấy cái cốt của voi rồi đặt vào đá.

Phần ngà của voi đực hiện đã bị gãy. Ở góc độ bảo tồn, đó là một tổn thương. Nhưng ở cảm nhận thị giác, vết gãy ấy cũng làm cho pho tượng có thêm chiều sâu thời gian. Một pho tượng ngoài trời không thể tránh khỏi mưa nắng, rêu mốc, sứt vỡ, phong hóa. Những dấu vết ấy vừa là nguy cơ, vừa là phần lịch sử của hiện vật. Người làm điêu khắc khi đứng trước một khối đá cũ thường không chỉ nhìn hình dáng ban đầu, mà còn nhìn cả thời gian đã đi qua bề mặt nó.

Hiện nay, tượng voi đực có dấu hiệu nghiêng khá rõ về phía trái khi nhìn chính diện. Sự nghiêng này làm thay đổi cảm giác cân bằng vốn có của khối tượng, khiến thế đứng uy nghi và lực trấn giữ ở góc nhìn chính diện bị suy giảm. Với một tượng tròn kích thước lớn, dáng đứng không chỉ là vấn đề kết cấu; nó là một phần giá trị tạo hình. Khi dáng đứng lệch đi, cách pho tượng hiện diện trước người xem cũng thay đổi.

Theo quan sát thực địa, hiện tượng nghiêng nhiều khả năng liên quan đến sự lún của nền đất sau thời gian dài chịu tác động của mưa nắng. Một tượng đá kích thước lớn không chỉ tồn tại bằng chất liệu đá; nó còn phụ thuộc vào nền đặt tượng, bệ đỡ, khả năng thoát nước và sự ổn định của đất. Chính ở đây, bài học điêu khắc gặp bài học bảo tồn: khối không thể tách khỏi nơi nó đứng.

Một cặp đối thoại

Cặp voi đá Đồ Bàn là một cấu trúc đực – cái. Hai con voi đứng đối nhau qua cửa thành, trước hết gợi chức năng canh giữ, trấn giữ. Nhưng nếu nhìn lâu hơn, ta thấy đó không chỉ là một sự đối xứng. Một bên thiên về sức mạnh trực tiếp của khối. Một bên thiên về vẻ trang nghiêm của trang sức. Một bên gợi lực nén. Một bên gợi sự nghi lễ hóa. Một bên dữ dội hơn. Một bên trầm tĩnh hơn. Chính sự khác biệt ấy làm cho cặp tượng sống.

Trong văn hóa nông nghiệp và trong nhiều hệ tín ngưỡng cổ ở Đông Nam Á, cấu trúc đực – cái thường gợi đến sự sinh sôi, tiếp nối, bền vững. Với cặp voi đá Đồ Bàn, có thể mở ra một cách đọc như vậy, nhưng không cần đẩy nó thành một kết luận đóng kín. Điều chắc hơn là: hai tượng được đặt ở một vị trí có ý nghĩa, nơi cửa thành, nơi người đi qua bước từ ngoài vào trong, từ không gian thường nhật vào một không gian quyền lực và ký ức.

Ở cặp tượng này, giới tính không bị che giấu, nhưng cũng không bị đẩy thành sự phô bày. Những dấu hiệu đực – cái được thể hiện vừa đủ, lặng lẽ trong khối đá. Chính điều đó khiến cặp voi không chỉ là hai linh vật canh giữ cửa thành, mà còn gợi một hình ảnh về sự sống, về sinh sôi và tiếp nối. Tính hiện thực ở đây không nhằm nhấn vào xác thân, mà để khẳng định một nguyên lý sống căn bản: sự tồn tại luôn đi cùng khả năng tiếp nối.

Khoảng trống giữa hai tượng vì thế không đơn thuần là lối đi. Đó là một khoảng ngưỡng. Người bước qua đó, dù có ý thức hay không, cũng đi qua một trường nhìn được tạo bởi hai khối đá. Điêu khắc ở đây không chỉ nằm trong từng tượng riêng lẻ. Nó nằm trong quan hệ giữa hai tượng, trong khoảng cách giữa chúng, trong vị trí của chúng trước cửa thành.

Có lẽ vì vậy mà cặp voi đá Đồ Bàn không chỉ gây ấn tượng bằng kích thước. Chúng gây ấn tượng bằng cách đứng. Chúng không chỉ là hai linh vật được đặt cạnh nhau. Chúng là một cặp đối thoại: giữa đực và cái, giữa sức nặng và trang sức, giữa bảo vệ và sinh sôi, giữa quyền lực và ký ức.

Dáng đứng của ký ức

Trong điêu khắc, đứng không chỉ là vấn đề cơ học. Một khối tượng muốn đứng vững phải có trọng tâm, bệ đỡ, sự phân bố khối lượng hợp lý. Nhưng để đứng lâu trong cảm nhận của người xem, nó cần một điều khác: lý do tinh thần để có mặt.

Sức đứng của cặp voi Đồ Bàn đến từ nhiều yếu tố: khối thân lớn, chân chắc, bệ đá, trọng tâm thấp, độ nén của toàn khối, sự tiết chế chi tiết và vị trí trước cửa thành. Nhưng nếu chỉ nói như vậy vẫn chưa đủ. Sức đứng ấy còn đến từ cảm giác chúng đã thuộc về nơi chốn. Chúng không giống hai vật thể bị đặt vào không gian. Chúng giống hai khối đã bám rễ vào đất.

Người làm điêu khắc hiểu rất rõ chuyện này. Trong xưởng, có khi chỉ xoay một khối gỗ đi một chút, nâng một chân tượng lên một chút, hạ trọng tâm xuống một chút, toàn bộ cảm giác tác phẩm đã thay đổi. Một khối có thể đúng về kết cấu nhưng thiếu sức sống. Một dáng có thể vững nhưng không có hồn. Cái khó không phải chỉ làm cho tượng không ngã, mà làm cho nó có lý do để đứng.

Tôi đã nhiều lần đặt tay lên đá ở Đồ Bàn. Không phải để kiểm tra chất liệu theo nghĩa kỹ thuật, mà để cảm. Người làm điêu khắc thường nghe vật liệu bằng tay. Gỗ có tiếng của thớ. Sắt có tiếng của nhiệt và va đập. Đất có tiếng của mềm và ẩm. Đá có tiếng im lặng sâu hơn. Đá của hai con voi Đồ Bàn không lạnh theo nghĩa một vật đã chết. Nó giữ hơi đất, hơi nắng, hơi mưa, và cả dấu tay của một thời đã khuất.

Từ cảm giác ấy, tôi nghĩ “ký ức Champa” trong cặp tượng không nằm ở một ý niệm xa xôi. Nó nằm ngay trong khối đá, trong dáng đứng, trong chỗ vòi cong, chân đặt, bụng nén, tai xòe, trang sức phủ lên thân voi cái, vết gãy trên voi đực, lớp rêu trên bề mặt, và cả độ nghiêng đang xuất hiện theo thời gian. Ký ức không phải điều chỉ được kể lại bằng văn bản. Có khi ký ức đứng trước mặt ta bằng một khối đá.

Đứng trước cặp voi ấy, tôi nghĩ đến một bài học giản dị của điêu khắc: không phải hình khối nào cũng cần kể chuyện bằng nhiều biểu tượng. Có những khối chỉ cần đứng đúng chỗ, đủ nặng, đủ im lặng, đủ bền bỉ, là đã có thể truyền đi một sức nặng tinh thần. Cặp voi Đồ Bàn thuộc về loại hình khối ấy. Chúng không nói bằng lời, cũng không cần một huyền thoại kèm theo để trở nên sâu sắc. Chúng nói bằng chính sự có mặt của mình.

Bảo tồn một dáng đứng

Việc cặp voi đá Đồ Bàn được công nhận là Bảo vật quốc gia là một sự ghi nhận cần thiết. Nhưng sau danh hiệu, điều quan trọng hơn là đời sống vật chất hằng ngày của hiện vật. Là tượng ngoài trời, cặp voi luôn chịu tác động trực tiếp của thời tiết, độ ẩm, rêu mốc và biến động nền đất.

Hiện trạng tượng voi đực bị nghiêng là điều cần được quan tâm, không chỉ ở phương diện kỹ thuật mà cả ở phương diện thẩm mỹ. Với một tượng tròn kích thước lớn, dáng đứng không đơn thuần là vấn đề kết cấu; nó là một phần giá trị tạo hình. Khi trục đứng thay đổi, cảm giác cân bằng, lực trấn giữ và thần thái của pho tượng cũng đổi khác.

Bề mặt tượng cũng đặt ra một vấn đề bảo tồn khác. Những mảng rêu, vệt ẩm và sắc độ loang trên thân đá không chỉ là dấu vết của thời gian, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cách người xem cảm nhận hình khối. Chúng có thể làm đứt quãng sự liền mạch của bề mặt, che khuất hoa văn và làm thay đổi cách ánh sáng đọc trên thân tượng. Với điêu khắc, bề mặt không chỉ là lớp ngoài của vật liệu; đó là nơi hình khối hiện ra và thần thái của pho tượng được tiếp nhận.

Vì vậy, bảo tồn cặp voi đá Đồ Bàn không nên chỉ dừng ở việc xử lý vật liệu theo nghĩa kỹ thuật. Cần quan tâm đồng thời đến nền đặt tượng, bệ đỡ, khả năng thoát nước và tình trạng sinh học trên bề mặt hiện vật. Quan sát định kỳ, đo đạc độ nghiêng, theo dõi mức độ lún và diễn biến phong hóa là những việc cần thiết.

Với cặp voi đá Đồ Bàn, giữ gìn hiện vật cũng là giữ gìn dáng đứng của nó. Bởi dáng đứng ấy không chỉ giúp pho tượng ổn định trong không gian, mà còn giữ lại thần thái và ký ức hình khối của một linh vật Champa.

Kết luận

Cặp voi đá Đồ Bàn là một chứng tích quan trọng của điêu khắc Champa trên đất An Nhơn. Với hình thức tượng tròn kích thước lớn, cấu trúc đực – cái, vị trí ở ngưỡng thành và khả năng hiện diện độc lập trong không gian, cặp tượng cho thấy một trình độ tạo hình giàu nội lực của nghệ nhân Champa.

Tượng voi cái nổi bật bởi khối được trang sức và vẻ trang nghiêm của linh vật. Tượng voi đực nổi bật bởi sức nặng, lực nén và cái động bị giữ lại trong đá. Cả hai không chỉ mô phỏng hình voi, mà làm cho đá mang được thần thái của voi. Đó là điều quan trọng của điêu khắc: không kể hết, không tả hết, nhưng giữ được cái cốt lõi.

Với tôi, cặp voi đá Đồ Bàn còn là một bài học riêng. Bài học ấy không chỉ nằm trong lịch sử mỹ thuật, mà trong kinh nghiệm làm nghề: khối phải có trọng tâm, dáng phải có lý do, vật liệu phải được lắng nghe. Một tác phẩm điêu khắc muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần kỹ thuật, mà cần một sức đứng tinh thần.

Hai con voi Đồ Bàn vẫn ở đó. Một đực, một cái. Một cặp linh vật. Một cặp chứng nhân. Chúng đứng trước thành cũ như đứng trước thời gian. Và trong sự im lặng ấy, chúng tiếp tục nhắc ta về một vương triều đã xa, một nền mỹ thuật còn để lại dấu sâu trong đá, và một vùng đất nơi ký ức Champa vẫn chưa hoàn toàn rời khỏi mặt đất.

Mơ lại chốn xưa

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Nhăm nhăm hai con mắt…

Mơ về ngày tuổi nhỏ

Nghe thỏang trong hơi gió

Bầy chim sẻ gọi nhau

Ríu rít bên bờ rạ

Chích chích nghe rất lạ

Hòa cơn mưa tầm tã

Lót ngót trận mưa dầm

.

Mơ trở lại xóm làng

Những con đường ngày xưa

Nay đã thành đại lộ

Đường phố xe ngập tràn

Tiếng động cơ ầm vang

Chen chúc như ngày hội

Người trở về bước vội

Nhớn nhác tựa Mán về…

.

Mơ về mái nhà xưa

Chân lạc lối chưa quen

Đường phố cũ thay tên

Nhà nhà nay đổi chủ

Những hàng cây thức ngủ

Lối nào đã đi qua

Sao bây giờ xa lạ

Phải ta không bây giờ..???

.

Mơ bãi biển Quy nhơn

Ngày xưa chân in dấu

Thời gian nào thơ ấu

Chân sáo mãi vui đùa

Những hàng thông bao mùa

Chứng kiến lần hò hẹn

Nay mình ai đơn lẻ

Trở lại dấu yêu xưa

.

Chỉ còn là kỷ niệm

Người người… đã lìa xa

Nhìn lại chỗ của ta

Bình yên được bao niên

Suốt một đời xuôi ngược

Chân mỏi bàn tay run

Ngoảnh lại quãng đường xa

Tịnh tâm chờ chắp cánh…

Atlanta (June 21st 2026)

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Lục bát… Một ngày

Võ Miên Trường

.

1-SÁNG.

Trở mình ly tách chạm nhau

Cafe đắng ngọt nguyên màu trần gian

Sương rơi từ thuở hồng hoang

Rót tinh khiết trộn nắng vàng thành em…

2-TRƯA.

Ngước nhìn sợi nắng trên cao

Im lặng trưa tiếng vẫy chào cuộc tôi

Vườn xưa bóng đứng ta ngồi

Nghe như bỏng rát nụ cười nhân gian…

3-CHIỀU.

Chiều ơi bấc thổi về đâu

Mà lênh đênh ấy chật dâu bể này

Buồn ngang mềm đốt ngón tay

Bao nhiêu chiều nữa cho đầy chật nhau…

4-ĐÊM.

Bao nhiêu khắc đủ tròn đêm

Bao nhiêu thương nhớ ủ mềm nỗi không

Mây tan về phía vô cùng

Đợi mùa giáp hạt hẹn trùng ngộ nhau…

Ông Tổ nghề

.Hải Hạc

.

Đám đông đã chia thành hai phe và tranh cãi rất quyết liệt. Cuộc tranh cãi có khi đổ máu đã kéo dài suốt 40 năm. Sự tranh cãi ấy bắt đầu từ những thứ tài sản cướp được của những người chạy trốn. Đôi lúc, qua những khe cửa rất nhỏ từ xa, có những ánh mắt nhìn về phía họ mà sợ hãi. “Lạy trời, lạy thánh, cho chúng ôm hết về mà im tiếng ngay đi”. Đó là bọn đĩ điếm và quân ăn cướp. Chúng đang giành giật nhau cái bức tượng màu trắng bạch kia là ông Tổ nghề của chúng. Có ông, chúng mới mang lại cái may mắn làm nghề được. Cuộc tranh cãi không ai nhường nhịn ai, nhưng đã đến lúc phải khánh thành bức tượng cho đúng ngày lễ trọng đại của dân chúng. Vậy nên về sau, chúng đều tôn xưng cụ Tổ là Tổ chung của cả hai nghề.

Dù sao thì điếm và ăn trộm cũng là đồng minh của nhau. Cụ Tổ sẽ bảo kê cho chúng cả. Ngày xưa, cụ đã phò trợ con cháu khai mỏ để đúc tiền, nấu nước biển làm muối đều có lợi chung cho thiên hạ. Cụ đã lập ra rất nhiều nhà thổ để chứa nhan sắc để dành đấy mà chờ lấy lãi từ sự ban ân sủng của bọn vua quan hay thương buôn. Chúng tụ họp lại mua vui thì chúng được lãi nhiều. Còn bọn người nhan sắc ấy vừa có tiền lại vừa nộp thuế làm lợi cho ngân khố chung. Còn những kẻ trộm thì dùng những bàn tay thần kỳ để khoắn sạch ngân khố ấy một cách nhanh và gọn, không để lại dấu vết. Chúng lập ra thật nhiều hội thảo để bán mua để được thật nhiều tiền thuế vào ngân khố chung. Cứ thế việc bán mua diễn ra rất sôi động, đủ các mặt hàng không sót một thứ gì: phân trẻ con, son phấn, nữ trang, vàng bạc, ngoại tệ, đất đai, huân chương huy chương, bằng cấp, và cả những chiếc bằng vàng đến ghế đã gãy. Chúng còn bày ra những phiên chợ bán cả nội tạng người sống. Chung quy là những đồng tiền ấy đã quay từng vòng tròn và rơi dần dần trong túi của bọn chúng cả, như trò xay nghiền bột ở cái cối đá. Như vậy, cụ Tổ đã mang lại nhiều phúc lành cho chúng lắm.

Bức tượng đã hoàn thiện những khâu cuối cùng khi đã tô son môi và sơn xong bộ móng tay màu đỏ choét. Sáng hôm ấy, chúng móc ông cụ vào một cái cẩu rồi đặt trên một chiếc thùng xe tải lớn. “Ông quá nặng, quả là hết sức nặng”, đám đông trầm trồ. Ông được chở đến đặt trên chiếc bệ ở một công viên rất rộng lớn. Ông đứng đấy, nét mặt rất uy nghiêm, theo cái nhìn rất uy nghiêm rất riêng của bọn chúng. Chúng không ngớt tấm tắc khen và vuốt ve:

“ Nhìn cụ Tổ như thần Ác, rất đẹp”

“ Nhìn như đao phủ chứ, thế này mới đạt chuẩn”

“ Như thần Bạch Mi ấy nhỉ”

“ Cụ tập Gym thật là siêng năng, bắp tay kìa, cứ cuồn cuộn”

Cứ đến mồng một, ngày rằm thì bọn gái điếm thì đều lấy khăn tay lau mồ hôi lau qua mặt cụ Tổ một lượt. Rằng như vậy thì khách sẽ lưu luyến lắm. Còn bọn trộm thì thắp hương khấn vái vào những kỳ thi lên cấp. Cứ đến mỗi kỳ, chúng phải thi thố thể hiện đẳng cấp của mình. Chúng được huấn luyện ngón nghề rất công phu: hành thích (ám sát), hành tẩu (bỏ chạy), hành ẩn (ẩn trốn), hành quy (hóa thân) và hành phục (nhập vai). Luật lệ của bọn chúng rất nghiêm ngặt và phức tạp: chỉ được truyền nghề cho con cháu ruột và dâu rể trong ngày mồng một và ngày rằm. Trong lần ấy, chúng được uống tiết gà sống và theo chân sư phụ trong ngày đầu tiên. Các môn sinh phải thực hiện thành công 99 vụ trộm trót lọt thì sẽ đạt cấp “ Phong” lên một chức khác cao hơn: cấp “Hỏa”. Đạt cấp “Hỏa” xem như gã học trò được giữ chức “trợ lý ăn trộm” và có quyền lập bàn thờ tổ và nhận đệ tử. Rồi cứ thế chúng thi nhau tập luyện để đạt các cấp cao hơn: Sơn, Thủy, Thổ, Mộc. Kẻ nào kém cỏi thì bị đánh rớt cho làm ăn mày nên chúng cố tìm mọi cách để thoát thân kể cả độn thổ hay bán rẻ người thân của chúng. Tháng tư năm nay trời nắng nóng rất sớm, cảnh buôn bán vẫn rất tấp nập. Những gương mặt nhan sắc được trát phấn thật dày đon đả chào thưa. Mồ hôi chảy nhễ nhại, những khuôn mặt phấn loang lổ màu trắng đen. Mùi nước hoa, mùi người, mùi mồ hôi…quyện vào nhau làm con người ta phấn khích dữ lắm. Người ta tổ chức cả lễ diễu hành rầm rộ ngoài phố với những chiếc xe rác mang cái đầu voi làm bằng giấy bồi được phủ lên những miếng vải màu mè đỏ xanh vàng rất rực rỡ. Người ta tổ chức rước kiệu những nhan sắc của nghề điếm. Hai cô gái mặt hoa được điểm trang thật kỹ lưỡng ngồi trên những chiếc xe ấy và đi giữa phố, chúng còn được che cả lọng vàng được cắt dán tỉ mỉ của những tay hàng mã lành nghề. Ngập tiếng tung hô. Năm nay chúng ăn mừng thật lớn. Những gương mặt gân guốc với những ánh mắt như lưỡi lê cứ ngước lên trên. Súng và gươm đao phủ khắp lối ngõ. Bọn kẻ trộm với đầy đủ sắc phong được ngồi chễm chệ ở hàng ghế phía trên. Chúng tụ hội về đây rất đông. Chúng bắt tay nhau, ôm hôn thắm thiết trước ống kính truyền hình. Tình cảm hay đang dò xét ánh mắt của nhau mà tính nước giành giật những cái ghế của cụ Tổ.

Bên dưới, đám đệ tử đang duyệt binh, chúng đi hai bước thụt lùi ba bước rất điệu nghệ. Lũ ăn mày đang lếch thếch đứng hai bên đường nhìn chúng rất thán phục.

Có rất nhiều sư phụ đã đến dự, ngực đeo đầy huân chương. Họ được ngồi ở bục bên trên dành cho những người từng mang chức sắc. Họ đã từng đã truyền nghề cho chúng nay đã giải nghệ vì tuổi gà sức yếu nhìn lũ trâu ăn phè phỡn mà ứa cả ruột gan. Chúng không hề biết chia chát mà còn vơ vét đến nỗi các cụ không có những lộc rơi lộc vãi nào cả.

Bên dưới, đám dân đen hò reo ủng hộ rất nhiệt tình.

Trưa, tắt nghẽn đường. Mọi thứ ùn ùn. Đói bụng. Chúng đạp lên nhau tìm đường về nhà.

Tối khuya, đám hậu duệ của chúng phóng xe bạt mạng, hoặc rung lắc trong những cái loa vặn to hết cỡ, hoặc chém nhau. Chúng đang ngáo đá.

Hàng ngày, hàng tuần, chúng lại rèn luyện và thi lên cấp. Những cuộc mua bán. Những lễ lạt. Những bức tượng. Những cái cổng chào. Những chiếc ghế. Những chiếc huân chương. Những con số. Những giải thưởng. Hoa hòe, lủng lẳng và cũng đầy phản trắc.

Bọn gái điếm lần lượt mặc vào và cởi ra những bộ váy áo liên tục trong ngày.

Bọn kẻ trộm lần lượt được sắc phong và đánh rớt. Lũ ăn mày kêu la đầy đường.

Bức tượng của cụ Tổ vẫn sừng sững vậy. Nghiêm trang. Vẫn đôi môi và bộ móng tay đỏ choét. Cụ càng ngày càng bị béo phì ra bởi con cháu cứ ép cụ phải ăn lộc liên tục. Cụ sắp đạt chuẩn của kỷ lục ghi nét thế giới.

Chúng rất tự hào. Chúng đúc tượng cụ có mặt khắp mọi nơi, trong nhà ngoài ngỏ. Thỉnh thoảng chúng lại sờ lên đầu cụ và khề khà: “ Cụ được lắm, chúng con cảm ơn công lao to lớn của cụ”.

Hải Hạc

Phạm Văn Phương

.

sáng nay mây trắng bay nhiều quá

anh nhớ ngày anh cùng về trường

mấy chục năm rồi không trở lại

lối xưa còn có bóng người thương ?

.

bạn cũ còn gần dăm ba chú

nhớ nhau hú gọi chơi một ngày

học trò nhiều đứa làm ông ngoại

em đã lên bà hay trắng tay ?

.

sáng nay mây trắng bay nhiều quá

mình đã già nua, cũng khác rồi

nhớ nhung xin gửi qua vạn lý

một góc ân tình chưa phai phôi

Những ngày ở Cà Mau 

Nguyễn Liên Châu 

.

NHỮNG NGÀY Ở CÀ MAU

Cái thị xã nhỏ như miệng chén

Tới lui quanh quẩn một cây cầu

Nhục cơm áo theo đời đưa đẩy

Ta dạt đây… no đói cầu âu

.

Phố phường dọc theo con sông nhỏ

Mà lòng người rộng đến mênh mông

Ta ngạo mạn bỗng hiền như đất

Ấm nghĩa tình gạo chợ nước sông

.

Ngỡ ngàng trước hiền lành chất phác

Những chế hia phóng khoáng hơn thơ

Vì nụ cười chân thành châu thổ

Ta đưa tay phủi bụi giang hồ

.

Thời cuộc đẩy ta lên bục giảng

Nói những điều không cảm không ưa

Lũ học trò thương thầy áo rách

Nên nói chi chúng nó cũng “ừa”

.

Cứ hèn hèn từng trang giáo án

Cứ an thân đội lốt ông thầy

Ta đi qua hiền hòa mưa nắng

Chẳng nơi nào lành như ở đây

.

Rồi cũng hết bốn năm tình nghĩa

Ngày rời xa buồn thắt cả lòng

Đời trót lỡ cõi nào cũng tạm

An ủi mình chảy giống nước sông…

Vực ở phố

.

Nguyễn Trí.

.

Thức là một thứ rất thiệt ở hẻm sáu mốt.

Nói là hẻm nhưng bề thế lắm. Sau lên hàng khu phố hẳn hoi. Bốn hướng dân số thuộc loại khủng. Phòng trọ dăm bảy dãy. Tạm trú Nam Trung Bắc, cả Tây Nguyên đều có mặt. Đủ thứ nghề, từ hủ tíu gõ, hột vịt lộn, chưng gai giò, ba bánh đạp, có cả loại…liều phận mình bán nguyệt buôn hoa.

Tất cả đều tự xếp mình dưới trướng của Thức.

Giang hồ nào cũng có cái đệm kèm theo như Tám Thẹo, Bốn Bù Loong, Sáu Vũ Bảo… Thức thì không, trụi lủi. Nhưng anh chị em nhà Thức lại chúa ăn theo. Bụi đời, tạm trú cả thường trú làm ơn đừng đụng chạm tới Thủy Thức, Thưởng Thức, Thọ Thức nếu muốn làm ăn nuôi vợ nuôi con.

Muốn an lành phải biết. Biết làm sao? Thằng Hải chồng con Ánh Loan miền tây lên. Chạy Honda ôm, không biết luật đóng hụi chết, đã bị đòn còn bị cấm hành nghề, con vợ có tí nhan sắc mang ra làm kế mỹ nhân mới được vô biên chế mà chạy. Ghê ta? Hơn cả ghê, gớm lắm. Xong cái án năm năm tù về tội mua bán tàng trữ ma túy và cầm đầu đâm chém giành lảnh địa, vừa về đến nhà Thức ra một đòn là cả hẻm tâm phục khẩu phục liền. Đòn gì? Con Thủy – chị Thức – mua bán nhà giải tỏa lấy tôn, sắt, xà bần bị cạnh tranh bởi một đầu nậu khác. Nghe nói có người ăn hiếp bà chị thân yêu. Thức phê một mũi ma túy, na con rồng xăm ở trong tù, cái đầu ở ngực, đuôi vắt xuống tận chân cùng cái mặt cô hồn mò xuống chỗ bán mua. Kẻ cạnh tranh không biết sợ con rồng hay sợ thành tích ở tù bỏ của chạy lấy người ngay lập tức, bọn cò con ăn theo cũng rút lui có trật tự.

Sự biết điều được tính bằng giấy bạc. Không một nghề nào trong hẽm không đóng hụi chết. Ba bánh đóng tuần, Honda ôm đóng ngày. Nhiều ít tùy vào thu nhập, không luận ai, tất nhiên chừa dân thường trú. Vậy mấy đứa bán phấn buôn hương đóng cái gì?

Đóng người. Thức muốn người đẹp nào là má mì phải chiều. Thôi kệ đi – mấy má nói với gà – Chiều nó đi em, với lại nó xì ke ôm ấp cho vui thôi, chả có gì đâu. Ma mì nói để an ủi chớ gà nào qua tay Thức mà không hãi. Đừng nghĩ xì ke không nghĩ đến khoản đó. Chỉ mấy thằng thiếu thuốc mới lo kiếm thuốc, còn Thức là dân mua bán, trong tay luôn đủ và đầy. Gái vào tay nó đâu bình thường như khách tìm hoa. Phê vô Thức hành hạ thế nầy thế nọ như thú vật… Ma mì cũng biết, nhưng làm sao?

Tạm trú mong Thức bị hốt cốt, nếu cần chết luôn đi cho rồi. Làm ăn khó khăn, tiền nhà, tiền điện nước thêm cái triều cống uất không chịu được. Mong vậy thôi, chứ Thức là con quỷ, tù tội về nó hóa trùm Lu-xi-phe. Buổi sáng Thức nhâm nhi cà phê quán cóc, con nghiện đến giao tiền, rồi tự động đến gốc cây nầy, cục gạch kia lấy hàng. Công an cũng có truy quét, nhưng đành chịu. Bắt được vài thằng dỡ gạch lấy hàng, chưa kịp thu nó đã quăng xuống cống phi tang, đâu có tang vật để truy… Ai dám đứng ra tố cáo Thức mua bán hoặc thu hụi chết? Bằng chứng đâu? Thời nào cũng phải nhân chứng vật chứng, đâu phải ưng sao nói vậy. Có Tề Thiên cũng bó tay.

– Chuyện của Ánh Loan vợ Thằng Hải mới tội nghiệp.

– Tội nghiệp khỉ mẹ gì, con nhỏ đó ăn theo thằng Thức cũng làm trời làm đất, nói thiệt với ông, gái miền tây….

– Nè, đừng có quơ đũa cả nắm, dân miền tây nghe được họ lột da đầu mày liền. Dân nào mà không có người nầy người nọ. Ở đâu cũng có anh hùng. Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên. Ai dám nói Sài Gòn, Huế, Hà Nội không có trời ơi đất hỡi, trong chùa còn có Sư Hổ Mang nói chi đời…

– Tui vui miệng nói vậy thôi, ông làm gì dữ vậy, tui xin lỗi được chưa?

– Đâu có được, nói phải uốn lưỡi, phải thông qua bộ não chớ. Tao là dân xứ Thần Kinh nè, nghe câu huế mộng, huế mơ ai ngờ huế… cũng tự ái, nhưng nghĩ lại, cũng có dăm ba anh lợi dụng giọng Huế ngọt ngào. thành mang tiếng. Thiệt tình mà nói em gái miền tây sông nước mười em đẹp hết chín rưởi, bọn đứng đường cứ dạ em ở Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ mà khoe thành miền Tây mang tiếng, mày hiểu chưa?

– Xin lỗi lần nữa được hông? Tui xin phạt một li…. Khà….Rồi tới ông… Tiếp vụ Ánh Loan đi

– Khà…. Con nhỏ đẹp ác liệt luôn. Túm lại cỡ người mẫu thời trang phải ước ao có cái bo-đỳ như nó, gương mặt thì tầm cở á hậu. Tao đi đó đi đây gặp người đẹp không ít, nhưng gặp Ánh Loan là mộng mơ, mơ mộng liền…

– Kha kha kha… Ông tiếu lâm thiệt. mộng mơ gì ở đây ông?

– Thấy cái đẹp mình thấy đời đẹp hơn, hiểu hông?

– Hiểu, hiểu. Người đẹp là một kì quan, đúng hông?

– Ok. Ánh Loan đẹp nhưng lấy trúng một thằng chồng không biết trân trọng. Cứ rượu vô là…

– Mấy tay miền Tây rượu dữ lắm ông ơi….

– Nữa, lại miền Tây. Tao miền Trung, mày Ban Mê Thuột không đang rượu là gì? Nói chung bọn đàn ông mình, mười thằng rượu hết chín, còn một bị đau bao tử. Miền Tây có uống nhiều hơn một tí, nhưng dân sông nước thôi, còn ở phố họ cũng chừng mực lắm. Mày quơ cả nắm vô, lọt tai họ lột da đầu nữa à…

– Ông hở cái đòi lột da đầu, rồi tiếp đi.

Thằng Hải không hiểu sao bị Thằng Thức ghét, không cho chạy ôm. Nó biểu vợ qua năn nỉ hộ. Thăng du côn Thức, thấy nhan sắc thích quá, đòi con nhỏ lên giường. Nó nghĩ Ánh Loan cũng như mấy con móng đỏ, muốn là được nên sàm sở, ai ngờ bị phản ứng kịch liệt. Con nhà đàng hoàng, lại có chồng, ai lại để cho đàn ông động tay động chân, nó bạt tai đàn anh, chạy về trọ bù lu bù loa với chồng. Biết thằng chồng nói sao không?

– Sao?

– Đù má…Có mất miếng thịt nào mà mày làm dữ vậy, mày đánh nó là tao biến khỏi thành phố này luôn. Đồ con ngu.

Vậy mà Thức không làm gì cả, con nới tay cho Hải. Thằng đàn ông nào cũng có một chổ đâm đầu vô để chết, là gì biết không? Là nhan sắc, là tình yêu. Thức say đắm Ánh Loan. Hải vừa ra khỏi nhà, Thức đã đến. Trước Ánh Loan, Thức hóa thành con mèo tội nghiệp. Nó vung tiền ra giúp đỡ người đẹp…nỉ non, òn ỉ…Trong khi đó thằng chồng chỉ biết tiền, bỏ bê cô vợ trẻ. Có bữa ngà ngà hơi men, bạt tai vợ rồi đi kiếm của lạ… Ánh Loan thút thít khóc đã có Thức săn sóc vỗ về, mày hiểu hông?

– Hiểu.

– Hiểu sao?

– Đường mật…. Mưa dầm thấm lâu…

– I như rằng. Cuối cùng Ánh Loan lọt tay du côn Thức

– Thằng Hải biết không?

– Cả cái hẽm sáu mốt ai cũng biết, chỉ mình nó không biết.

– Lạ vậy?

– Lạ cái đầu mày, nó làm như không biết.

– Nó không yêu vợ nó à?

– Đàn ông có nhiều tay rất lạ. Có thằng vì tiền đem vợ mình dâng cho kẻ khác.Tao có quen một thằng đich thân đưa vợ đến vũ trường làm vũ nữ. Đêm nào nàng ” nhảy sô” nó chạy xe về một mình.

Hải mặc kệ vợ và Thức thành một cặp. Ánh Loan từ một chân chất hiền lành hóa khô cằn đá sỏi. Ngày cặp kè với người tình, đêm về ngủ với chồng, có đêm ngủ luôn với Thức. Từ đá sỏi cô gái dần sắt và máu, cũng lạnh lẽo với đời. Ở quê lên cô xem việc đóng hụi chết là độc ác tàn nhẫn, khi thay mặt Thức thu tiền cô lại thấy là điều tất nhiên.

– Vậy thôi. Ăn cắp quen tay ngủ ngày quen mắt …. Bộ trấn lột vậy mà chính quyền không trị hả ông?

– Từ từ – dzô đi – Tao làm cái coi, mày cầm li lâu quá… khà…. Sau nầy có thằng Thuận dưới Đồng Nai lên chạy ba bánh đạp.Nó cũng chung theo lệ…hẽm. Nhưng tuần đó con Loan đòi thêm, thằng Thuận không chịu, vậy là thằng Thức đập cho một trận. Tuyên bó cấm hành nghề. Thuận cũng chúa lì đòn, nó cứ chạy…. Thằng Thức thấy lệnh mình không linh ngang nhiên tịch thu xe…

– Mẹ ơi, cha chú dữ a. Đâu coi pháp luật ra gì.

– Thì vậy, Thằng thuận điên lên phát đơn kiện Thức về tội đánh người vô duyên cớ, ăn cướp tài sản công dân… Chụp ngay cơ hội, Công An phường lôi thằng Thức lên tạm giam ba ngày…

– Ba ngày mùi mẽ gì.

– Thằng Thức nghiện nặng, nhốt ba ngày nó vật vã như con dòi. Công An bài trừ ma túy lập hồ sơ chờ đưa đi cai nghiện cưỡng bức…Sau đó thả nó về.

– Rồi sao?

– Về nhà, nó độp một mũi, bị sốc đi luôn…

– Chuyên nghiệp mà cũng bị sốc à?

– Biết sao không? Bon giao hàng ma mảnh lắm. Ánh Loan ở nhà phân hàng bán lẽ. Ngày đầu nó còn giao thứ thiệt, biết Thức bị tó nó trộn ba cái bá láp vô… Thèm quá Thằng thức đâu còn lí trí mà luận ra…

– Rồi sao?

– Công An bắt đầy đủ tang vật. Ánh Loan bị đưa đi trại cai nghiện hăm bốn tháng….

Gió nam

.Phạm Văn Phương

.

GIÓ NAM

.

gió nam thổi suốt thời trai trẻ

thổi giữa lòng mình năm tháng xa

bạn ta mấy đứa không về nữa

trời đất còn nguyên nỗi nhớ nhà

.

THÁNG SÁU

.

những chùm hoa thắp lên trời xanh

lấm tấm những gương mặt đầy nắng

tháng sáu bừng hoa tử kinh

ấm trong vòng tay những người bạn già

thời mới lớn

tháng sáu cùng mình thắp lên niềm hy vọng

.

VÔ ĐỀ

.

đất trời tắm gội sau mưa

anh thơm như thể ngày xưa thơm về

giã từ cát bụi nằm nghe

tháng năm rụng xuống một bè bông lau