Feeds:
Bài viết
Bình luận

Lặng lẽ Quy Nhơn

Phạm Văn Phương

.

Khi tôi biết yêu, Người đã ở đó rồi

Một thành phố nhỏ nhoi và bình lặng

Thành phố không dèn mầu và âm âm tiếng sóng

Bạn bè đông vui

.

Rồi chúng tôi chia tay, mối đứa một góc trời

Thi thoảng gặp nhau thường nhắc

Ly rượu ấm trong chiều gió bấc

Nụ cười giêng hai

.

Đi hết thanh xuân, ngừoi vẫn mong ngừơi

Thương nhớ quá mà không tìm nhau được

Thành phố đồi thay nhiều, ai cũng khác

Bạn bè dần vơi

.

( Lòng vẫn yêu hoài một thành phố nhỏ nhoi

Thành phố không đèn mầu, và em bình lặng

Sóng cứ vỗ mênh mang vào xa vắng…)

.

Tôi lại về trong buâng khuâng đêm

Năm tháng như mây trời phiêu dạt

Sợi tóc trắng cầm tay soi dưới nguyệt

Trăng không mầu, em trong chiêm bao

.

Những con còng se cát đã về đâu?

Chế Diễm Trâm

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã giã từ dương thế vào sáng ngày 22/11/2020, hưởng thọ 100 tuổi. Đó là đại biểu cuối cùng của Phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Nhắc đến tên nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, bạn đọc sẽ không quên dấu ấn của ông đối với Phong trào Thơ mới nói chung và với nhóm Xuân Thu nhã tập nói riêng – một trong những nhóm thơ lấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng làm tuyên ngôn sáng tác.  

Nhóm Xuân Thuđược tập hợp từ năm 1939, gồm nhiều lĩnh vực. Mảng thơ gồm các tác giả Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ; nhạc có Nguyễn Xuân Khoát; hoạ có Đỗ Cung. Năm 1942, Xuân Thu thư lâu xuất bản một tập sách có tên là Xuân Thu nhã tập. Từ đó tên tập sách thành tên của nhóm. Trong bài Quan niệm in trong tập sách, họ lý giải cái tên của nhóm như sau:

Một biểu tượng đương nhiên, cái nhịp của cuộc sống vô cùng. Sắc xuân và hương thu. Hai mùa quá độ, uyển chuyển trong khoảng cao, trong, nhẹ… Hai mùa thực hiện Đẹp và Thơ. Hai mùa rung động cảm thông Người với Đất Trời, Trời Đất và Người.

Năm 1943, nhà thơ Đoàn Phú Tứ lại nói đến ý nghĩa của cái tên ấy:

Sống theo cái Nhịp của Trời Đất, mà cái biểu tượng đương nhiên và tốt đẹp nhất là hai mùa Xuân và Thu luân chuyển. Nên lấy hai chữ Xuân Thu làm biểu hiện cho cái Nhạc của Vũ trụ” mà “Thơ chính là cái rung động siêu việt trong trẻo, nhịp nhàng của bản nhạc vô cùng ấy([1]).

Trong Xuân Thu nhã tập, ngoài các tiểu luận trước đó đã đăng trên báo Thanh nghị, còn có ba bài thơ của Phạm Văn Hạnh (Thư thơ, Người có nghe, Giọt sương hoa), ba bài thơ của Nguyễn Xuân Sanh (Buồn xưa, Hồn ngàn mùa, Bình tàn thu), một bài thơ của Đoàn Phú Tứ (Màu thời gian), một bản nhạc của Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ và một bức tranh phụ bản của Nguyễn Đỗ Cung vẽ một gốc cây đã bị đốn hết thân cành nhưng trên đó đang bừng nở những chồi biếc khỏe khoắn.

Đó là những sáng tác vừa đóng vai trò thử nghiệm vừa đóng vai trò minh chứng cho những tuyên ngôn lý thuyết đã được trình bày trong các tiểu luận. Số lượng tác phẩm tuy không nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi nhưng nhìn vào đây cũng có thể thấy được rằng những luận điểm tuyên ngôn sáng tạo (đặc biệt trong tiểu luận Thơ) đã được các tác giả triển khai và ứng dụng ngay trên các tác phẩm của họ.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có viết riêng một mục dành cho một tác giả thuộc thi phái Xuân Thu nhã tập là nhà thơ Đoàn Phú Tứ và trích đăng một bài thơ của Đoàn Phú Tứ – bài Màu thời gian. Tuy Nguyễn Xuân Sanh không có một mục riêng nhưng trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca của tập sách nói trên, Hoài Thanh có nhắc đến Nguyễn Xuân Sanh hai lần, và cả hai lần cái tên Nguyễn Xuân Sanh đều đi liền với Bích Khê – một trong những nhà thơ tên tuổi của Trường thơ Loạn:

Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh, muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry.

Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm gìn giữ gì hết. Trong tác phẩm của họ vẫn chừng ấy tiếng ta rất quen, nhưng thảng hoặc ta mới tìm được dấu tích những ý tứ, những tình cảm ta vẫn quen gửi vào đó. Họ chạm trổ rất tỉ mỉ, không phải những rồng những phượng như ngày trước, mà những gì chẳng ai biết tên. Những gì đó đôi khi cũng đẹp. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín, nhưng lời thơ rắc rối quá, dầu sao phần đông chúng ta cũng đành kính nhi viễn chi.

Những nhận định trên của Hoài Thanh cho thấy Nguyễn Xuân Sanh là một trong những cây bút chủ chốt không chỉ của nhóm Xuân Thu mà còn của Phong trào Thơ mới giai đoạn từ năm 1936 trở đi, khi thơ Việt Nam một lần nữa muốn cách tân – chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn sang ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực với tên tuổi của ba nhóm thơ tiêu biểu: Trường thơ Loạn, Xuân Thu nhã tậpDạ đài.

Xuân Thu nhã tập trình bày nhiều quan niệm về thơ, về vũ trụ và nhân sinh, về trí thức, về nhạc, vẽ,… trong đó quan niệm về thơ đáng chú ý hơn cả. Trong tiểu luận Quan niệm, Xuân Thu nhã tập đưa ra nhiều luận điểm về mối quan hệ giữa thơ – nhà thơ – người đọc thơ.

Quan niệm của Xuân Thu nhã tập thể hiện rõ tinh thần canh tân thơ ca dân tộc khi Thơ mới lãng mạn có vẻ đã quá quen. Quan niệm thơ của họ là kết quả của mối lương duyên giữa phương Tây [cụ thể là dòng thơ tượng trưng, siêu thực Pháp] và phương Đông [chất hàm súc của thơ phương Đông và sự thâm trầm của Phật giáo]:

Tìm con đường thực, nối liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về những tính cách riêng của ta, để có thể xuôi chảy trong cái dòng sống thực của ta, không quanh co, lúng túng vì những ảnh hưởng ngoài”.

Mục đích cách tân của Xuân Thu thể hiện trên hai phương diện: không lặp lại cái tôi lãng mạn “dễ dãi” (từ của Baudelaire) và chống lại sự đồng hóa của phương Tây để ngăn cái họa mất gốc. Chủ trương trở về nguồn – ngăn cái họa mất gốc – nhưng Xuân Thu vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học phương Tây, chủ nghĩa tượng trưng trong văn học phương Tây.

Trả lời câu hỏi “Thơ là gì?”, các tác giả Xuân Thu nhã tập phân tích bản chất thơ ở ba cấp độ. Cấp độ thứ nhất, ở tính chất phổ quát: thơ có trong các hiện tượng tự nhiên, đời sống, đặc biệt tập trung trong các trong các loại hình nghệ thuật (văn học, âm nhạc, hội họa…). Rung động là bản chất phổ quát của thơ, rung động của thơ là rung động siêu việt, không thể cắt nghĩa, giải thích. Thơ là “một cái gì” không giải thích được mà cũng không cần giải thích, khi chưa kịp hiểu nó là gì, ta đã bị nó quyến rũ, lôi kéo, xâm chiếm. Thơ được ví như “Giai nhân”, như “Đẹp”, như “Trời”:

Người ta đã thử và chưa từng giải thích được thơ. Như Giai nhân, như Đẹp, như Trời. Người ta cảm thấy một cái gì siêu thoát, ra ngoài ước lệ, ở trên lý trí, nó rung động ta theo nhịp vũ trụ, hồn nhiên, nó hòa hợp Ta trong cái Đẹp và ấp ta trong cái Thật. Vẻ man mác của cái đẹp và ý sâu sắc của cái thật. Do trong trẻo gạn nên… Nó là cái gì không giải thích được, mà cũng không cần giải thích. Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc. Đột nhiên như ta nhào vô lòng mẹ không cần xét suy”.  

Cấp độ thứ hai, chất thơ trong nghệ thuật thơ – thể loại thể hiện tập trung nhất tính thơ – để chỉ ra thơ khác văn xuôi như thế nào. Theo Xuân Thu nhã tập, “Văn có tính cách giãi bày, thuộc lý trí, vụ ích lợi”, “thơ không phải lúc nào cũng để chỉ bảo một cái gì, vì nó không vụ lợi ích thực tế”. Họ nhấn mạnh đặc tính nổi bật của thơ là tính hàm súc, là kết quả của sự rung động trong trẻo và thuần khiết, vốn là đặc trưng thơ phương Đông. “Tính chất của thơ là hàm súc, tĩnh mạc, tổng hợp. Ngôn ngữ, cú pháp Á Đông rất thích hợp cho thơ. Tứ thơ thường đọng lại, cốt gợi hơn là tả… Từ cuối thế kỷ trước, thơ Pháp nhờ dòng tượng trưng đã gặp thơ Á Đông ở chỗ uẩn súc, huyền ảo… Thơ phải chứa nhiều sức khêu gợi, ý ở ngoài lời…

Chính vì vậy, thơ đích thực không dễ hiểu; nói cách khác, khó hiểu là một yếu tính của thơ ca, thậm chí cần xem sự khó hiểu này như một giá trị. Theo họ, “thơ không cần lúc nào cũng rõ nghĩa, không phải lúc nào cũng sáng sủa… Nó giữ phần sâu kín, giữ phần sâu sắc; không phải lúc nào cũng theo lý luận, vì nó chịu sức chi phối của những luật vô hình… Vậy thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu, cái hình ảnh sự khắc khoải bất diệt của muôn vật: cõi Vô Cùng ”.

Ở cấp độ thứ ba, thơ được xem xét trong tư cách là một đơn vị chỉnh thể ngôn ngữ – một bài thơ. “Tiêu chuẩn về hình thức thơ là tính-cách-độc-nhất”, bài thơ là sản phẩm độc đáo duy nhất thể hiện sự hàm súc, khêu gợi đầy bí ẩn của câu chữ, nhạc điệu, hình ảnh… Hình ảnh, ngôn từ, kết cấu, nhạc tính… tất cả được tổ chức chặt chẽ để “đọc xong bài thơ, ta bị y nguyên những câu, những tiếng của toàn bài chi phối. Hình thể, cùng lúc với hồn, sống mãi trong ta. Và ta không thể di dịch một âm thanh, một hình ảnh mà không phản bội và tàn phá”.

Về thiên chức của nhà thơ, Xuân Thu nhã tập nhấn mạnh vai trò tiên phong trong sáng tạo “tìm những cách rung động mới, những lối diễn đạt mới, bao giờ cũng ở hàng tiên phong” và phải xứng đáng với danh hiệu thi sĩ là người tạo nên cái-gì-chỉ-có-một. Do đó, hình ảnh người nghệ sĩ đích thực trong quan niệm của Xuân Thu nhã tập là “gốc cây Ta, đầy nhựa Thơ, hút nhận nhạc của Đất Trời để trổ sinh bao Điệu, thắm tươi những bông hoa Sáng Tạo dâng lên bàn thờ Đạo lý – lẽ sống của Đời”.

Việc tiếp nhận thơ cũng đòi hỏi ở người đọc những tố chất, năng lực thẩm mỹ nhất định. Theo Xuân Thu, những vần thơ đích thực “nó mê hoặc ta ngay và đặt ta vào giữa cõi thơ có thần trợ. Hay nói đúng, một cái gì trên cả âm điệu, không giải được mà chỉ cảm được thôi”. Do đó, họ đề nghị: “Hãy nằm trong thơ, dầm trong nhạc, đừng vội “hiểutrước khi xúc cảm. Rồi ta sẽ hiểu, nhất là sẽ biết, cái biết đầy đủ, trong trẻo, trọn vẹn, nhịp nhàng”. Họ đề cao trực cảm, đề cao những rung động hồn nhiên: “Đừng luận lý với thơ cũng đừng luận lý với người yêu, với giáo điều. Thấu nghĩa từng chữ, rồi những chữ ấy ở cạnh nhau sẽ nảy ra những âm thanh gì, hình ảnh gì, gợi trong trí não một vũ trụ gì tức khắc, mới mẻ”.

Đem tất cả những quan niệm ấy vào thực hành, các cây bút Xuân Thu nhã tập đã coi trọng tính “uẩn súc” của tác phẩm qua việc xây dựng các biểu tượng mang tính tượng trưng. Tính tượng trưng trong thơ của các tác giả Xuân Thu nhã tập được tạo nên bởi nhiều yếu tố mà trước hết là cách xây dựng hình ảnh giàu tính biểu tượng. Họ đặt các những hình ảnh, sự vật xa lạ cạnh nhau, trong nhiều trường hợp đã tạo nên những liên tưởng, cảm nhận đột ngột, bất ngờ.

Bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh qua bao năm tháng, có ai vỗ ngực rằng mình đã hiểu hết? Nhưng khi đã đọc bài thơ thì hầu hết đều yêu thích nó, chí ít cũng đôi câu rất nổi tiếng:

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Bài thơ xuất phát từ cảm hứng nỗi sầu nhân thế khi con người đối diện với “thời gian”, với “nhịp hải hà” miên man, vô tận. Từ “buồn” xuất hiện nhiều lần (6 lần), trong đó nỗi buồn hồi tưởng (“buồn xưa”) là âm hưởng chủ đạo. Bài thơ lấy điểm xuất phát là buổi chiều nay để sống lại một/nhiều chiều thu xưa:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm

Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Buồn hưởng vườn người vai suối tươi

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu

Duyên vàng da lộng trái du người

Ngọc quế buồn nào gội tóc xưa

Hồn xa chĩu sách nhánh say sưa

Hiến dâng

            Hiến dâng quả bồng hường

Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa

Đường tàn xây trái buổi du dương

Thời gian ơi tưới hận chìm tường

Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương.

            Tại thời điểm “chiều” hiện tại, có “quỳnh hoa”, có “nhạc”, khúc “nhài đàn”, có “rượu”, có “lẵng xuân”, có hương “ngọc quế”,… Trong không-thời gian ấy, sao mà không “say sưa”, “du dương” cho được, nhất là bên cạnh có “trầm mi”, “tóc mưa”, “môi gợi”, “da lộng”, “ngón hường”, có “vú đôi thơm”, “quả bồng hường”… dẫn dắt, dẫn dụ?

            Từ thực tại, thực tại “say”-“buồn”-“hận chìm tường” trong “lạnh lẽo”, người ta trôi, trôi dần, trôi hẳn về quá khứ, làm sống dậy một “mùa xưa” có chàng hoàng tử “hồn xanh ngát” trong “cung ướp hương” với “dấu xiêm y”, với ngón đàn “tỳ bà” mang cả một rừng “ngọt ngào” neo lại giữa “du dương” với “say sưa”…

            Càng tìm vui, tìm quên trong quá khứ càng mất phương hướng, cái tôi đành quay lại thực tại để thấy càng sầu mênh mông trong cả hai chiều kích thời gian (“muôn đời”) và không gian (“tự trăm phương”) làm thành nỗi sầu nhân thế đã hiện hữu trong con người từ xưa đến nay:  

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương

            Bài thơ đã trộn lẫn hiện tại – quá khứ – hiện tại làm thành một thế giới nghệ thuật của nỗi u buồn không dứt. Nhà thơ đã lạ hoá từ ngữ, hình ảnh bằng cách chuyển đổi cảm giác liên tục làm nên một thế giới nghệ thuật siêu cảm giác, khó hiểu, không giải thích được như quan niệm của thơ tượng trưng mà nhóm Xuân Thu nhã tập đã dụng tâm, dụng công theo đuổi. Đó là “nhạc trầm mi”, “hồn xanh ngát”, “trái xuân sa”, “lẵng xuân”, “nhài đàn”, “tóc xưa”, “tóc mưa”, “đường tàn”,…

Nhà thơ Buồn xưa cũng phát huy tính nhạc ảo diệu của thơ tượng trưng, trong đó âm giai chính là “du dương”, huyền hồ, buồn buồn thầm kín:

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

            Câu thơ toàn thanh bằng (bình thanh) giống như nhạc điệu của những câu thơ của các nhà Thơ mới Xuân Diệu, Bích Khê:  

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

                        Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ – Xuân Diệu)

            Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông (Tỳ bà – Bích Khê)

            Đó là thứ nhạc thơ mang nghĩa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng – “Thơ là sự dao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Valéry) – một điệu nhạc nhẹ nhẹ, dịu dịu nhưng day dứt, ám ảnh về nỗi sầu buồn của thời đại Thơ mới.  

Toàn tác phẩm có 142 âm tiết [kể cả nhan đề] thì có 89 âm tiết mang thanh bằng (62,67%). Nhạc điệu chủ đạo chuyên chở nỗi sầu sầu, buồn buồn, thương thương, nhớ nhớ… Bởi thế, ba chữ “nhạc trầm mi” được trở đi trở lại trong khổ đầu của bài thơ như một sự nhấn nhá, nhấn mạnh trạng thái vi diệu và mơ hồ của cảm xúc, tâm trạng.

            Bài thơ Hồn ngàn mùa, Nguyễn Xuân Sanh cũng giữ nét nhạc sầu miên man đó qua một điệp khúc (có biến đổi) cuối mỗi khổ thơ:

                        …Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

…Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan
…Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương
…Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông([2])

Còn trong bài thơ Bình tàn thu, tác giả phối vần liên tiếp trong mỗi khổ, và số câu trong mỗi khổ theo quy luật đan xen nhau (2 câu – 3 câu – 2 câu – 3 câu – 2 câu) cũng làm nên một điệu nhạc đặc trưng của Thơ mới – sầu muôn đời-muôn phương:  

 Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi
Chén vàng dâng ướp nhạc lòng đời

Sương mùa lệ héo dặm đường hương
Cung phi dăng bướm buồn Nghê Thường
Sách đàn tay xõa ái tình chương

Cổ mây người nhạc dịu vườn tươi
Da xuân mười tám tuổi buồn người

Mi thơm chanh buổi chĩu buồn da
Rượu tóc loan tháng đượm mùa ngà
Sầu chùm tơ giấy giở mưa hoa

Người ơi người nẻo ngát tường nương
Hồn Tương Giang đàn dựa buồn hường.

Tuy các nhà thơ tượng trưng Xuân Thu nhã tập vẫn tuyên ngôn về một tư duy thơ siêu thức, kín mít, bí hiểm, xoá nhoà mọi liên kết logich, mọi cách hiểu nhưng qua sự liên kết các biểu tượng, và qua cả nhạc thơ, bạn yêu thơ vẫn có thể thấu cảm ý đồ nghệ thuật của họ. Và có bài thơ nào [nhất là thơ hay] mà không có tứ thơ? Vậy nên cái khó hiểu cố tình của thơ họ vẫn có thể giải mã được. Song, vì không dễ lý giải nên những bài thơ của họ có sức hấp dẫn lớn. Từ thế hệ này đến thế hệ khác đều có thể có những liên tưởng khác nhau, làm giàu có, phong phú vẻ đẹp không tới đáy của các thi phẩm. Mà như thế, họ đã thành công! Có lẽ, ở chốn suối vàng, họ đã mỉm cười hài lòng với sinh mệnh bất tử của những đứa con tinh thần của họ.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã đi xa nhưng tác phẩm thì vẫn còn mãi. Nhắc đến ông, chúng ta nghĩ ngay đến nỗ lực cách tân Thơ mới thập niên 40 của thế kỷ XX với vai trò của thi phái tượng trưng mang tên Xuân Thu nhã tập. Nhận định của PGS.TS. Nguyễn Văn Long có lẽ là nhận định công tâm, công bằng nhất cho đóng góp của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trước Cách mạng:

“Nguyễn Xuân Sanh trăn trở tìm tòi để đến với cái đẹp trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cách tân thơ bằng sự phá bỏ tính liên tục và thay bằng tính gián đoạn, gây một âm hưởng mới lạ, có vẻ bí hiểm, làm ngỡ ngàng người đọc đã quen với sự truyền cảm của Thơ mới. Nhưng ông vẫn giữ nguyên vần, khổ, câu và cách ngắt nhịp đơn điệu, nên sự sáng tạo không được triệt để.”([3])  

Đóng góp lớn nhất của Xuân Thu, trong đó có công đầu của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là đã khơi gợi một ý tưởng: thơ có thể khác trước, khác với thứ thơ quen thuộc mà ta vẫn biết, mở ra một hướng đi mới cho thơ: “Nghệ sĩ ngày nay phải chịu trách nhiệm tạo thành những mỹ cảm ngày sau, những xúc động sau, những tuổi sau, những vô biên mới, những vĩnh viễn ngày mai.” Quan niệm của họ đã được hiện thực hóa một cách sinh động trong sáng tác của các nhà thơ viết theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa sau này.

CDT


[1] Theo Wikipedia, Xuân Thu nhã tập

[2] Bài thơ Hồn ngàn mùa (Nguyễn Xuân Sanh) như sau:

            Hy-mã-lạp-sơn buồn thu đây

            Thu

                        Tóc xuân bưng đỉnh chiều đầy

            Quý dâng Hình Nhạc nẻo nghìn mây

            Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

            Hoà hợp màu hương tranh thế gian

            Đất ơi hoa rót chén giời đàn

            Sen tưởng cầu thơm nguôi tiếng van

            Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan

            Đền xanh cửa ngát lạc hoa thương

            Cúi đầu sao khóc bể chán chường

            Quay thuyền Lái Ngọc gửi mươi phương

            Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương

            Hoàng hôn kinh dậy đất mênh mông

            Trái đẹp sau xưa gợn gió bồng

            Vai sầu chín thuở Đức say Bông

            Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông.

[3] Theo Wikipedia, Nguyễn Xuân Sanh

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Mười hai giờ mười tám phút

Người thiếu phụ đang ngồi khỏa trắng giấc mơ

Trong chiếc gương có hình oval cũ kỹ

Cô đang kéo đôi chân mày chạm về phía mặt trời

Có thể là dài như một tiếng thở

Cô dùng lớp phấn hồng quét ngược

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Chiếc gương bây giờ là hình trái đất

Có đôi mắt màu đại dương

Từng lớp phấn phủ như cơn lốc về

Trăng vỡ mềm môi

Cô khóc trên gương mặt mình

Sau lớp thủy tinh

 Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

Cô mở hộp tìm mấy câu đồng dao

Tám lẻ dôi 

Đôi lên chín

Chín lẻ một 

Mốt lên mười

Cô chuyền chuyền đôi tay

Chuyền một

Chuyền hai

Chuyền ba

Trăng vỡ

Cô chuyền trên tay

Đôi mắt xanh màu đại dương

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Cô khóc trên gương mặt mình

Sau lớp thủy tinh

Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

Trần Vấn Lệ

.

Chớp bể…là xa, xa lắm?

Mưa nguồn…chắc cũng không gần?

Sao mình lại cứ bâng khuâng

muốn mưa tới ngay trước cửa?

.


Chắc tại mình nhớ ai đó

xa như chớp bể mưa nguồn?

Không biết người ta có buồn

như mình đang buồn không nhỉ?


Một câu hỏi như sợi chỉ

se hoài mà chẳng luồn kim

chỉ nghe tiếng đập con tim

nỗi buồn trong lòng thao thức!

.

Muốn nhắm mắt đi đừng khóc

như khi ngồi giữa lòng ghe

Muốn bịt tai đi đừng nghe

sóng vỗ ào ào bên mạn…
.

Nếu mà trời đừng có sáng

Nếu mà trời đừng có chiều

đừng hỏi Má lo bao nhiêu

để cho con đi tìm sống…

.
Má ơi Má nuôi hy vọng

tại sao Má bỏ con rồi?

Hồn Má có bay lên trời

như bầy hải âu không vậy?

.
Xé quăng đi một tờ giấy

ở trong đó có bài thơ

nội dung là ước là mơ

cái hình là vòng tay Mẹ!

.
Hỡi ơi mưa nguồn chớp bể

chỉ nghe con mắt cay sè

rồi sẽ không nghe không nghe

bờ đê tiếng con ếch nhẩy!

.
Rồi sẽ không thấy không thấy.

Mẹ già cái bóng xiêu xiêu

sẽ không có bữa cơm chiều

“Má ơi hình như cơm khét?”.

.
Bàn tay Má như đang quẹt

con mắt Má buồn bao nhiêu!

Đố ai không có một chiều

bỗng dưng thấy mưa đầu ngõ…

Ông lão 80 trên lồng cu

Truyện Nguyễn Lệ Uyên

Tranh sơn dầu Picasso

          Phải khó khăn lắm ông giàmới quyết định chuyển đến chỗ ở mới. Đólà căn phòng nhỏ trên tầng áp mái, rộng tầm hai chục mét vuông, không kể ban-công nhô ra 1,6 mét. Đây chắc chắn là nơi cuối cùng để làm “chỗ đếm thời gian”.

Nguyên mảng tường dài là giá sách, đối diện là giường ngủ, đầu bên kia là chiếc bàn nhỏ lỉnh kỉnh giấy bút, sách báo, điện thoại… như gánh hàng xén thu nhỏ. Cuối cùng là phòng vệ sinh có gắn máy điều hòa phía trên cửa non mét rưỡi. Ngay trên đầu giường là nút chuông phòng khi nhức đầu, sổ mũi, chóng mặt… nhấn chuông báo xuống nhà dưới.

Một căn phòng được thiết kế như vậy cho ông già 80 quả là hoàn hảo. Khi thì ngồi trên ghế ngó ra ban-công gần đụng nhà bên kia đường, lúc nằm thẳng đuột dưới sàn, nhắm mắt như người hành thiền thở ra thở vào bụng phồng lên xẹp xuống vẽ những đường cong, gấp khúc, phẳng phiu về một trận chết rất đẹp, lộng lẫy cho mình.

          Ông đã tính toán kỹ, rất kỹ. Thời buổi bây giờ, công nghệ thay con người giải quyết mọi sự, vì vậy ông không lo bị đói, ốm đau. Hằng ngày ông đặt đồ ăn từ một dịch vụ nấu nướng sẵn, mang tới tận nhà. Đau bệnh, cấp cứu kết nối với bác sĩ riêng, bệnh viện qua Zalo, cho nên không sợ bị chết bất thần đến mười ngày sau bốc mùi mới có người phát hiện.

Còn cái sự đã chết thì hết sức đơn giản: ông đã đặt tiền trọn gói cho dịch vụ mai táng hỏa thiêu. Khi nào chết thiệt, điện thoại tự động báo cho nhà đòn tới mang xác ông đi; tro cốt cho vào chiếc quách bằng gốm sứ Bát Tràng nhìn như chiếc hòm thu nhỏ (ông đã nhìn thấy, đẹp) rồi chở về quê, đặt xuống mả gió (đã chuẩn bị sẵn cách đây 7 năm) lấp đất. Vậy là xong. Mọi việc hết sức đơn giản, tiện lợi. Còn sự tang chế lễ lộc, con cháu tùy nghi muốn làm gì sau đó cũng được, ông đã là nắm tro, thân xác về với cát bụi rồi, biết gì nữa mà phản ứng nhỏ to?

          Chuyện hậu sự như một bức tranh đẹp, giờ thì  yên tâm với những ngày còn lại ở “nơi khác”.

          Đừng nghĩ rằng “nơi khác” là khu dưỡng lão mini hay resort cho lão nhà giàu, cũng không phải nơi biệt giam cho một tù nhân nguy hiểm hay văn hoa chút xíu là nơi an dưỡngtuổi già. Coi kỹ lại, nó bình thường như mọi nơi chốn.  Có điều làchốnông tự chọn, bình dân; nằm lọt trong khu dân cư lạ kỳ: chẳng phải phố cũng chẳng ra quê, không là xóm trọ, không chợ búa sầm uất, chẳng thấy lũy tre, sông suối, không có loa kẹo kéo ầm ầm sấm động, không có quán nhậu dzô dzô… ầm ĩ, chưa nghe trộm cắp, mắng chó chửi mèo…Đây là khu phố không tên rất lý tưởng cho tuổi già cần sự yên tĩnh, hiếm khi có chiếc xe lớn nào chạy ngang, đường sạch bong, hàng cây hai bên đường như đội lính tập bồng súng đứng “thiên thu” chào tất cả mọi người qua lại.

          Hẳn nhiên khu này cũng phải có tên gì đó, song ông già không buồn để ý, chỉ vì trước đây cũng có cái tên khiến đám đông cuồng điên nhảy cẫng như bọn lên đồng, nhưng cũng có kẻ ôm mặt khóc rưng rức vì sầu hận.

          Trước mặt nhà, phía bên kia đường, ở dưới thấp  khoảng 3 thước so với mặt đường,là khoảng đất trống rộng vài chục mẫu tây, cỏ mọc xanh um, lùm bụi lúp xúp, quanh năm hoa xuyến chi nở trắng xóa; thỉnh thoảng những lùm trâm ổi nhô lên điểm xuyếtbằng những bông hoa năm màu tròn như trứng gà so.

Đã nhiều lần ông mò xuống khu đất này hít thở chút không khí sạch vào buổi sáng sớm, hái một bó hoa xuyến chi về cắm vào chiếc lục bình trên bàn thờ, sắn tay vò dập nắm lá trâm ổi để ngửi mùi thơm đậm. Nay thì không. Nội việc lên xuống cầu thang ba bốn bận cũng đủ cho bài tập thể dục cả ngày.

Phần lớn thời gian ông dành cho việc đọc sách và thở. Ông nghĩ, đọc sách giúp cho bộ não khỏi bị tê liệt chuyện nhớ quên, kiểm tra cặp mắt. Còn thở vào ra không phải để thành lão thiền sư mà hơn hết là quên bớt những hân hoan, phiền não… ám theo thời gian xa gần. Nhưng coi bộ cũng chỉ được vài phần vì có những thứ không tài nào lẩn tránh. Mới rặc ròng đây thôi, vừa đặt mông lên chiếc gối bông, chân trái vừa co chạm vào chân phải thì có tiếng leng keng rột rẹt phát ra trên bàn. Mới đầu nho nhỏ như tiếng dế kêu, rồi càng lúc càng to. Tâm của ông bị bẻ khóa,liền nhắm mắt mím môi, tai khép lại xua tiếng động mà nào có xua đuổi được gì! Thua. Tiếng chuông mỗi lúc một to, gắt như  tiếng kẻng gõ dồn dập cấp báo cháy nhà. Ông phải mở mắt, dỏng tai, với tay về phía phát ra tiếng kêu.

Ông già mở máy.

-Anh Tư, trời… Ở đâu mà tui gọi miết?

-Ai đó? À, ba Sum… sao ở ngoãi có khỏe không. Mà có chuyện gì vậy chú? Nóng lạnh mưa gió, ruộng nương…

-Gì nữa. Anh Tư chưa hay gì sao. Con mẹ Kim Hằng lại lấy chồng nữa, anh Tư!

-Con mẽ lấy chồng thì mắc mớ gì tới chú và tôi, hè?

-67 rồi anh.

-Thì 67.

-Nhưng mà, không phải như những lần trước, đận này con mẻ lấy thằng Việt kiều…

-Tốt chớ sao chú.

-Không phải vậy. Cái thằng sắp làm chồng mẽ mới nhinh nhỉnh 40, đáng tuổi con…

-Có sao đâu nào. Đó là coup de foudre, chú biết rồi? Mà thôi, chào chú nghen. Tôi có chút việc, gọi sau.

Ông già nói và tắt máy. Ông khép mắt thở một hơi dài.

Vậy đó, muốn buông ra mà đâu có được. Những chuyện không đâu vào đâu, thỉnh thoảng ập đến như cơn giông lốc, đố mà dựng tường chắn gió lớn? Khổ cái là nó không chịu tan ngay mà cứ lởn vởn, xà quần xà nẹo chí ít cũng mươi phút, có khi cả buổi. Rồi ông cố xua đi chuyện Kim Hằng lấy chồng lần nữa, nhưng thông tin từ miệng ba Sum y như keo dán chuột, cứ lùng nhùng không chịu bay ra khỏi đầu.

Ông ngồi xếp bằng xuống gối, tập trung lắng nghe hơi thở, nhưng nó cứ phập phù như bễ lò rèn.Biết có cố cũng chẳng được tích sự gì, bèn bỏ ra ban-công kéo ghế xếp ngồi ngó chong xuống hầm đất. Hoa xuyến chi trắng xóa. Lùm bụi xanh ngắt lúp xúp nhô lên giữa rừng hoa. Mấy con bò ở mút xa… Mắt ông khép lại một chút, he hé mở ra… thở…

Ông thấy mình ôm bó hoa xuyến chi áp vào ngực.Ông nhớ tới vợ trên cao, dòm thấy con mắc dính trong hóc kẹt phù sinh, chòm xóm nhấp nhổm, những người bạn già trẻco chân lướt dần theo thời gian trôi tuộtqua cánh đồng làng. Họ chập chờn trong giấc ngủ, lung linh trên vách tường ám ố, chao lượn dưới ánh sáng lờ mờ ngọn đèn ngủ. Hàng tre đung đưa, cây duối ngái ngủ, bầy chó sủa trăng. Mọi thứ chầm chậm lướt qua… chập chờn.

-Bác Tư ơi, bác Tư…

Tiếng gọi chạy lăn tăn theo tiếng chuông gọi cửa.

-Bác Tư ơi…

Ông mở choàng mắt, tỉnh cơn mê vụn, lò dò trở vô phòng, vịn cầu thang bước xuống. Chuông vẫn reo. Ông lần mò mở khóa, kéo chốt cửa. Ui da, tưởng ai.

-Thì con cứ mắc vô cánh cổng, thủng thẳng bác lấy.

-Đâu được bác. Đâu phải đồ khô.

-Khô nước gì thì cũng tới tay bác, ai vô đây?

-Con biết. Nhưng mà…

-Rồi, gì ở trỏng mà khẩn cấp vậy?

-Dạ, tô hủ tíu và ly cà phê sữa.

-Uả, ở đâu mà hủ tíu với cà phê cữ này?

-Con đâu biết.

-Ngộ chưa. Không biết mà biết mang cà phê hủ tíu tới đây. Ý bác là ai gửi những thứ này cho con mang tới. Rồi, bác cũng chưa biết con là ai nữa. Ngộ thiệt nghen.

-Dạ, Con bán cà phê ở đầu hẻm ngoài kia. Ngày nào cũng nhìn thấy bác đứng trên ban-công, tưới cây, nhìn trời. Dạ,có người kêu con bán ly cà phê, bỏ vào túi này nhờ con mang giùm tới, xin lỗi bác, cái ông già hay ra đứng ở ban-công đó.

-Mèng ơi, không thấy mặt mũi, chẳng rõ nguồn gốc tung tích mà con dám… lỡ – ông kịp ngừng lại – Mà đàn ông, đàn bà, già trẻ?

-Không nhớ nữa. Con lo pha cà phê. Người ta dặn vậy rồi để tiền lên bàn rồi đi mất. Mà hình như đàn bà. Thôi, bác Tư nhận giùm, con về bán hàng, chắc không có gì đâu.

Cô gái trao túi hàng tận tay. Ông nhận lấy nói cám ơn dặn với, lần sau nhớ cẩn thận nghe cháu.

Mang túi giấy đặt lên bàn ăn, ông ngồi cố rặn óc nhớ coi ai quen. Ông mới tới khu này chừng hai tháng, chỉ có chú khu phố trưởng, chú công an khu vực biết vì liên hệ giấy tờ tạm trú, còn lại tất cả bạn bè, người thân ông giấu biệt, trừ chiếc điện thoại như sợi dây nối.

Vậy mà sáng nay có người theo dõi ông, nhận ra ông khiến cho đầu óc rối nùi. Xem chừng chuyện nhập môn buông bỏ coi như tiêu ma.

Tô hủ tíu bỏ vào tủ lạnh, tay xách túi giấy có ly cà phê leo cầu thang, ra ban-công. Ly cà phê còn âm ấm ông già đặt lên chậu bonsai Nguyệt quế, thân vặn vẹo sần sùi, già hơn ông cả chục tuổi.

Ông già bưng ly cà phê nhấp ngụm nhỏ, bắt đầu banh quá khứ ứ hự của mình từ thời cởi truồng, trai trẻ, lang bạt cho tới khi tóc nhuốm muối tiêu, râu lông lún phún trắng. Ông cởi trần những mối tình si, tình lỡ, tình hờ, ngủ nhờ, ở đậu… Những hình bóng đậm nhạt chạy nhảy lộn xộn trong đầu, sau đó tắt ngấm tàn tro.

Không thể nhận ra ai bất ngờ bôi chút hương vị cà phê lên đầu lưỡi và hộp hủ tíu chưa đụng tới?

Ông già lắc đầu cho qua. Mà cho qua là phải. Nước non lửa củi gì nữa ở tuổi 80? Rồi quay ra dòm cây Nguyệt quế có bộ rễ phồng nhổm lên khỏi miệng chậu gốm sứ men da lươn, thân sần sùi vặn vẹokhô nẻ. Nó cũng già như ông, thỉnh thoảng nở vài chùm bông trắng ngọc, thơm dịu… rồi rụng, trơ trọi cành lá, chờ đợi thời gian lâu sau.

*

Đã vài ba lần vuốt mắt cho người thân, cả đến mươi lần nhìn những thân xác nằm bất động, tờ giấy trắng đắp lên mặt, chiếc dao cùn hay thanh sắt lòn dưới chiếu. Đó là dấu hiệu của những đã người chết.

Nhưng quả thật, không tài nào hình dung nổi cảnh mình khi chết sẽ ra sao?

Vậy là ông háo hức vẽ ra cái chết cho riêng mình. Công việc ấy khá tỉ mẩn như khi ngồi hàng tháng trời phác họa bản vẽ cho ngôi nhà thờ họ. Vẽ và bôi xóa. Những tờ giấy vò nát vất xuống sàn. Những cục tẩy mòn vẹt. Những cây bút chì chỉ còn một mẫu nhỏ…

Sự khó khăn này có giống với sự đi gần đến cái chết? Ông không biết, nhưng chắc chắn không có cảnh chết nào giống cảnh nào. Điều này hoàn toàn đúng.

Tai ông bổng nghe vang tiếng chim ríu rít. Hình như đó là tiếng con chim sâu đang chuyền trên cành Nguyệt quế? Ông khẽ mở mắt và thấy mình bay bổng ra ngoài hành lang, nhập vào cành lá màu xanh sậm. Không phải một mà hai con, nhỏ bằng nửa ngón chân cái, đuôi luôn ngúc ngoắc chuyền sải từ nhánh này qua nhánh khác, miệng luôn chíp chíp. Vụt cái, cả hai bay lên cao kéo ông theo. Ông bay lướt trên các ngôi nhà cao tầng, bay lượn trên dòng sông mênh mông, dập dềnh những mảng lục bình cắm những cọng bông tím nhạt. Những dề lục bình trôi chậm. Ông bay chậm rãi nhìn dề lục bình và dòng nước. Dề lục bình trôi? Dòng nước trôi? Cả hai cùng trôi và cả hai cùng đứng. Một thoáng khựng lại. Dòng nước sáng lóa đến nỗi gần như xóa mất màu xanh của dề lục bình.

Ông nghe âm thanh của đôi chim sâu ẩn bên dưới dòng nước cõng dề lục bình, nhẹ và êm như đám mây trắng trôi trên đầu.

Ông ngó lên cao, rồi dòm xuống dưới. Cả hai đều nhè nhẹ lướt cùng một màu trong veo như khí trời…

Âm thanh vang lên bên tai. Lần này không phải tiếng hót líu lo mà chát chúa đến vô cùng, kéo giật; cũng không phải lắng nghe mà xồng xộc như đám âm binh ma quái vác dao rựa lao vào khua rổn rảng. Tình thế này, kẻ hấp hối cũng phải mở bật mắt, ngồi dựng dậy.

Nhổm về phía phát ra âm thanh cuống cuồng như một quán tính, vơ vội ống nghe áp chặt vào tai.

-Bác Ba ơi, bác Phó Sáu chết rồi!

-Hồi nào, sao chết con?

-Chiều qua. Dạ, thảm lắm bác!

-Thủng thẳng, từ từ nói cho bác nghe.

-Dạ, hai Tửng con út Phó Sáu đó bác có thằng con nghiện du lịch châu Âu(1), nó nợ nần tùm lum bị bọn giang hồ tới nhà đòi nợ. Hai bên cãi vã xô xát, ông già đứng ra can, ai dè tụi nó chém đứt cổ Phó Sáu, mà không đứt hẳn, chỉ hai phần ba nên chi cái đầu rụng xuống tòng teng trước ngực, máu bắn thành vòi tít lên trần nhà, bắt ớn. Thảm lắm bác Ba.

-Thôi, đủ rồi đừng kể nữa – giọng ông như giận dỗi và gát máy.

Phó Sáu là bạn ông từ thuở cởi truồng chận bò, tắm sông. Lớn lên lêu bêu lang bang trôi nổi trong dòng cuốn thời cuộc, cuối cùng cũng giữ được chức ấp phó cốt trốn lính. Thời đó kêu chính danh phó ấp bị nhiều người xấu miệng xỉa xói là ấp bà góa, hay như hội Phụ nữ Liên đới của bà Ngô Đình Nhu bị gọi hội Phụ nữ Liên đái, nên gọn lại phó cộng thứ trong gia đình nghe êm hơn. Chính thức có tên Phó Sáu khi ông ta 27 tuổi.

Phó Sáu trước sau chỉ mỗi một bà vợ, chưa nghe ai tố cáo ông ve bà góa,lộn nài bẻ ách và duy nhất chỉ có mỗi một anh Tửng độc đinh. Vậy mà… ông nhắm mắt lại như muốn xua hình ảnh chiếc đầu rụng tòng teng trước ngực, rồi nghĩ: kiểu chết thảm, lảng nhách và, chắc chắn không phải là sự lựa chọn của Phó Sáu.

Hãy tưởng tượng, bạn đang đứng bên cạnh đám người đang cãi nhau, giằng co, nắm đấm… Bổng một vật gì đó xẹt qua đầu bạn, đầu vỡ toang hoác, máu chảy, bạn gục ngã và không kịp nhận ra nguyên nhân. Đúng là không nhận thấy điều gì. Máu trào. Tim ngưng đập. Chết lập tức. Như vậy, dĩ nhiên đây không phải là bản năng tìm đến sự hủy hoại thông thường như bản năng tìm sự sống với những ham muốn, khoải cảm, sinh tồn…

Chắc chắn Phó Sáu không muốn nhận một kiểu chết như vậy. Ông cũng từ chối cách chết kinh khủng này. Nhưng biết làm sao được?

Nhiều ngày sau, ông cố xóa tan hình ảnh hãi hùng đó bằng cách nằm thẳng tay chân trên chiếu hoa thở vào ra, định tâm.

____

  • Du lịch châu Âu: tiếng lóng chỉ cá độ banh bóng

(Lái Thiêu, tháng 2/2021)

Tập làm quen

Phạm Đương

Tặng Thanh Thảo

Chúng ta

Những con chim bị đánh lưới

Bị giăng bẫy

Bằng chính giọng hót của mình

Được ghi âm lại

Những chiếc lồng xanh đỏ tím vàng

Bên trong là nước tinh khiết

Không phải để hạ nhiệt

Khi nóng trong người

Bên trong có cám tổng hợp

Đủ để chúng ta véo von suốt ngày về lòng yêu nước

Mà không phải nhọc công tìm kiếm thức ăn

Cám tổng hợp

Được tẩm đủ thứ triết luận về đạo đức

Những chiếc lồng xanh đỏ tím vàng

Từ nhà tù trá hình

Thành thiên đường của nhà thơ

Giờ thì chúng ta đã quen với chiếc lồng

Mà quên giọng hót

Trần Thiên Thị

1.

yêu tôi bằng cái lạnh của mùa đông đã qua

hay cái nóng của mùa hè sắp đến ?

không

hoa đang chờ mãn khai

tôi đang chín như rượu trong ghè

chờ thơm nồng trên môi ai

mùa xuân không dành cho những đợi chờ

2.

Không phải con người đã bỏ rơi nhau

mà núi đã làm nên buổi chiều

giấu đi mặt trời

thứ của chung duy nhất của tôi và em

3.

có những nụ hoa nở ra trên đôi môi người khác

sự hàm ơn

nuôi lớn tiếng cười ?

tất cả như chừng chưa rời tay mẹ

chút ngọt ngào bú mớm vẫn trên môi ?

4.

có những giấc mơ sinh ra trong bàn tay người khác

nỗi hàm oan

sinh thành tiếng khóc

tất cả đợi chờ giữa sớm mai mưa một mặt trời

ta cầm tay nhau

và rạng một nụ cười

5.

nếu như là một người lạ

những điều tôi nói ra hôm hôm trước

sẽ là dung tục

và nếu như con người không yêu nhau

thì sẽ không còn sự phản bội

mọi vết thương chỉ là vết sẹo của tai ương

6.

tôi đã từng bán rẽ một con đường cho bà bán rượu

sau lần thiếu nợ tôi đã không đi con đường đó nữa

giật mình nghĩ mãi về sau

không biết

mình sẽ bán thêm con đường nào nữa

7.

gối đầu trên bao thứ kinh thư

chẳng có giấc ngủ nào an lành

tắm gội bao nhiêu lần

để có một tấm lòng thanh sạch ?

8

.những tín hiệu số gởi đi trong không trung cũng mang mầm bệnh

ta cầu em vô nhiễm

chìa bàn tay ấm một buổi chiều

Qua rồi tháng Giêng

Sơn Trần

Tháng giêng cũng đã qua rồi

Ngoài sân lá đỏ bồi hồi rời cây

Cuối chiều sót một chòm mây

Bỗng dưng nhớ lại những ngày lập đông.

Qua giêng vạt cải còn ngồng

Vàng trong kí ức cho lòng ngần ngơ

Nắng về buông những sợi tơ

Bàn chân khẽ bước, chạm hờ…sương tan.

Tháng giêng đi những lỡ làng

Đầu hiên cánh én nhẹ nhàng nhịp bay

Gió chùng chình giữa ngàn cây

Để đêm cạn nốt mê say với ngày…

Qua giêng mưa bụi còn bay

Ngồi nghe thương nhớ lấp đầy khoảng không …

Bục giảng hóa thạch

Triệu Từ Truyền

Thương tiếc thi sĩ Đoàn Vị Thượng

đồi núi cao một đám học trò

cúi rạp người đưa tiễn giấc mơ

thầy không bước xuống mà ở lại

bục giảng cuối giờ hóa tượng thơ

từng chữ ra đi làm thú hoang

lang thang ngoài lớp không vào bàn

mất thầy câu chữ xa trang giấy

hạt thơ thành sóng vỗ tâm hồn

trò không tuổi như hòn đá nhảy

thầy hóa thạch với những dòng thơ

ngàn sau ai gặp thiên nhiên ấy

ghi khắc sinh linh không hửng hờ!

kết tài hoa bao nhiêu lượng tử

xin chia đều muôn vạn đời sau

.Vũ Lệ Hương

Trong thinh lặng đêm đông, tôi giật mình nghe tiếng rao vọng lên căn gác nhỏ. “Ai bánh khúc nóng đê…ê… ê”! Tiếng rao cô đơn xuyên qua gió lạnh, thổi luồng hơi ấm nồng của vị bánh quê mùa kéo tôi choàng tỉnh. Mùi hương ký ức gợi nhớ trong tôi biết bao kỷ niệm về một miền quê yên bình. Mưa trắng bay trên đồng, rau tầm khúc nở ngàn hoa trắng… Mùa rau khúc về, trong cơn ngái ngủ tôi lơ mơ nghe tiếng mẹ đang rì rầm cùng bà nội: “Mưa thế này, khúc lại nở trắng đồng u nhỉ!”. Tiếng gà trong các xóm râm ran. Và tôi lại thiếp đi. Tỉnh dậy, tôi vẫn thấy đang mưa đầy trời, bà và mẹ đã đi chợ từ khi nào. Buổi nghỉ học, tôi cùng mẹ ra đồng hái rau khúc. Một mùi thơm hắc ngọt, trầm dịu, nồng đượm hòa vào màn sương sớm. Cứ âm thầm như vậy, mùa rau tầm khúc kéo dài từ cuối đông đến hết giêng, hai. Sương giăng loang đầy đồng, tôi rùng mình vì cái cảm giác lạnh buốt nơi gan bàn chân, nhưng cái lạnh không ngăn nổi bàn chân tôi thoăn thoắt chạy trên đồng, gốc rạ cứng nhô lên như thách thức. Mọi sự chần chừ và cái lạnh ban đầu tan biến. Tôi chạy đến những vạt hoa màu trắng, chỗ nào khoảng mặt ruộng sáng trắng lên và đậm màu là chỗ đó có cây mọc càng nhiều. Bà dặn tôi phải chọn rau khúc nếp mới thơm ngon. Đấy là lúc rau khúc ủ nhiều hương vị nhất vì thế mà ngon nhất. Những khóm rau tầm khúc lan xa, lá và thân phủ dày lông tơ mịn màng xốp trắng. Cây hoa bé bỏng mong manh cả đêm qua hứng đầy sương đêm. Ngắt một ngọn nhỏ lên, vò nhẹ trên tay tôi đã tưởng tượng ra hương vị và mùi thơm ngậy của rau khúc dâng lên như mùi thơm của chõ bánh khúc vừa đồ chín. Chẳng mấy chốc tôi đã hái đầy rổ mang về cho mẹ. Rau khúc vừa dai, vừa dẻo, đưa lên miệng nhai chẳng khác gì kẹo cao su bây giờ. Rau khúc hái từ ruộng về phải chế biến ngay. Để lâu rau sẽ kém chất và làm bánh không được như ý. Rau có thể đem nấu canh phổ biến trong các bữa ăn ngày xưa nhưng với bọn trẻ, món hấp dẫn là bánh khúc. Bột gạo nếp, gạo tẻ, đỗ xanh, thịt lợn cộng với gia vị hòa quyện với nhau tạo nên một mùi thơm nồng nàn cho ta liên tưởng đến những miền quê.Cha mất sớm, bà với mẹ cứ âm thầm những phiên chợ như thế, tôi nhớ nhất những buổi sớm mai chợt thức thấy hình ảnh bà và mẹ chuyện trò. Lấm tấm mồ hôi trong sớm lạnh, tóc mẹ quấn cao sau gáy bọc trong lớp khăn thơm mùi bồ kết, trong gian bếp bập bùng lửa đỏ rực rỡ. Gánh hàng đã chuẩn bị xong. Cả cuộc đời bà và mẹ gắn liền với ruộng đồng, với đói no, ấm lạnh, với khổ đau và hạnh phúc thật giản dị. Họ đi qua bão giông vẫn điềm tĩnh và cho tôi khoảng trời yêu thương bình yên nhất. Hạt rau khúc ẩn nấp nơi đâu mà chẳng đợi mùa xuân, mới mưa đông đã âm thầm nở hoa mãnh liệt như vậy. Khi có những trải nghiệm cuộc đời tôi mới thấy không phải chỉ có những loài cây to lớn mới mạnh mẽ mà cỏ cây cũng mạnh mẽ, phi thường không kém. Quanh tôi, trong những giấc mơ hương khúc nếp ngào ngạt cả cánh đồng. Tôi luôn muốn về quê vào mùa rau khúc nở.Ngày nay, cuộc sống đủ đầy, lũ trẻ không mấy khi có cảm giác thèm, khao khát món quà quê giản dị như chúng tôi khi xưa. Trong cái se lạnh của phố phường, bánh khúc đã trở thành một món quà đậm đà hương vị và nỗi nhớ của miền quê. Như tiếng mẹ vẫn thầm thì bên tôi: bánh khúc là thứ bánh bình dân, ai cũng làm được, ai ăn cũng hợp nhưng để nó trở thành món ngon thực sự, ngoài tay nghề tinh tế, thì nguyên liệu tươi ngon giữ vị đứng đầu. Người làm cũng phải thương yêu gửi gắm tình cảm trong đó nữa con ạ! Màu hoa trắng li ti của rau khúc vẫn đang thao thức trong mưa bay. Bản nhạc bình yên trong mưa nơi đồng quê giản dị và thiêng liêng ngân lên. Tiếng rao bánh vọng dồn, trong tôi trào dâng ước mong được trở về khi mùa rau chưa tàn. Tôi lại ao ước mình nhỏ bé như năm nào, để được ủ ấm những nỗi nhớ miên man, nằm lặng nghe rỉ rả tiếng côn trùng trong sớm đẫm sương trên cánh đồng tỏa hương nồng rau khúc.