Feeds:
Bài viết
Bình luận

Nhà thơ Hồ Ngạc Ngữ tên thật Hồ Văn Khánh sinh năm 1950 tại Bình Định vừa mới đợt ngột từ trần hồi 12g 30 ngày 22/7 2021 tại huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Hưởng thọ 72 tuổi

Để tưởng nhớ một nhà thơ tài hoa, một cây bút nhiệt thành của trang xunauvn.org, chúng tôi xin giới thiệu đến quý bạn đọc ba bài thơ cuối cùng trên trang facebook cá nhân của anh

.

ĐỐI CẢNH VÔ TÂM

Thả nhẹ con thuyền trên nước biếc

Mênh mang trăng sáng một vùng trời

Đóa sen nào nở trên đầm lạnh

Hương thoảng màu trăng giấc mộng trôi

.

Non xa sương phủ mờ đêm vắng

Cố quận ai về giữa dặm khơi

Tĩnh lặng chuông tan cơn trường mộng

Thiên thu còn đọng một tiếng cười

.

Khuấy nhẹ mái chèo trên sóng nước

Con thuyền trôi nhẹ một bờ vui

Cảnh tâm vốn chỉ là ngôn tự

Trói buộc nhau chi chuyện của người

.

Thuyền chở đầy trăng, người đã ngủ

Không tâm vô sự, áng mây trời

Vẫn hương sen thoảng trên đầm biếc

Vẫn bóng trăng vàng sáng lẻ loi

HỒ NGẠC NGỮĐêm 21.07.2021

.

NGƯỜI VỀ TRONG THƯƠNG KHÓ

.

Quê mẹ là bầu trời mở rộng

Xa đã bao năm, nay lại trở về

Con đường nhỏ, ruộng đồng, hương lúa trổ

Bếp khói lam chiều cay ánh mắt con

.

Cứ ngỡ xứ người là nơi nương tựa

Những bữa cơm chan từng giọt mồ hôi

Đêm con nhìn vầng trăng bên ô cửa

Thấy xót xa về những phận người

.

Quê mẹ vẫn như tấm lòng muôn thuở

Vẫn đón đàn con từng đứa trở về

Mẹ không bỏ ai những ngày thương khó

Gió trên đầm vẫn mát rượi làng quê..

.HỒ NGẠC NGỮ20.07.2021

.

BUỔI CHIỀU,NGỒI NHÌN NẮNG

.

Nhớ bạn, ngồi nhìn bóng nắng

Lá khô rụng xuống bên thềm

Ngày mai ai còn ai mất

Đời người sao mãi buồn tênh

.

Nhớ bạn, uống chung trà nhạt

Câu thơ muốn viết lại quên

Bạn nói, tháng ngày qua vội

Viết nhiều, lòng lại buồn thêm

.

Nắng trải một màu Thu sớm

Cúc vàng mấy đóa thân quen

Gió lật từng trang kỷ niệm

Đời vui vì có bạn hiền…

HNN16.07.2021

Thơ dặn riêng

Nguyễn Đông Nhật

.

Tranh Picasso

Anh có danh hay anh có thơ

Câu hỏi ỡm ờ, có phải?

Thế sự làm người ta yếu đuối

Cây thập tự nặng hơn thời đấng Ky-tô.

.

Anh viết dăm bài, anh viết ngàn trang.

Hay dở khen chê cái vòng luẩn quẩn.

Thơ là thơ, dẫu nghiệp hay nghề

Đều khó như giản đơn mọi việc.

Nhiều định nghĩa thường xuyên biến dạng.

Cái bóng của anh không thể ngồi yên lặng.

Sau khi tan vào những gì xa lạ

Anh thấy gương mặt mình trên

vách tường câm.

.

Bi kịch hay hài kịch đều phải dàn dựng

Bằng tất cả máu của đời anh.

Thiêu rụi hết những cánh rừng năm tháng

Còn chút xá – lợi – thơ hay chỉ tro tàn?

Mây

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Mây

Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào
Một thế giới đang chuyển động
Mà không hề hấn gì
Em nắm mây trong tay
Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức
Từng câu chuyện không lời
Em ôm mây nóng bỏng
Chạy về phía mặt trời
Em nắm mây trong tay đắp ngày muốt mềm mi mắt
Đó là điều kỳ diệu nhẹ nhàng để có thể quên đi thế giới
Nơi mà chúng ta đang đứng đây
Trên sự trì nặng của đôi chân và đôi mắt mệt mỏi
Trên rất nhiều ô cửa giả
Có thể đó là một bí mật mà chúng ta có thể mang theo
Cùng với hơi thở
Của cuộc sống vốn dĩ im lặng
Có thể đó là chiếc áo em khoác cho những lúc bất chợt buồn
Em nắm mây
Chờ sự im lặng nở bung
Trôi
Trôi
Chẳng có con đường nào để biết được hết điều bất tận
Em chờ từng ngọn mây ngã rạp xuống
Trong hơi thở
Để nỗi nhớ bất động cùng đám rong rêu
Bên dưới ô cửa nhỏ

Tiếng hát Sông Hoài

Trn Thoại Nguyên

Tặng Hà Phi Bằng (Phố Cổ Hội An)

.

Sông nầy đây!

Anh vẫn nhớ Hoài

 Chân trời cũ, hồn anh đắm say!

Nhớ La Hối Mùa Xuân Tuổi Trẻ

Hội An ơi! Phố cổ tình đầy!

.

Những con đường rợp bóng cây xanh

Tuổi thơ ơi!

Biết mấy yên bình. 

Sáng tắm mát, chiều ngồi hứng gió

Thanh xuân ơi!

Sông hát trữ tình!

.
Anh dìu em…chùa Cầu nguyện ước

Mộng học hành, mộng đẹp tình duyên…

Phố cổ: Lòng bàn tay, chung bước

 Đêm Tình Yêu thắp sáng hoa đèn. 

.


Về đâu hỡi!

Phố Hoài?

Em gái?

Dòng sông trôi kỷ niệm soi lòng

Anh: Con nước xa ngoài Cửa Đại

Em: Phố buồn mái ngói rêu phong!

.
Hỡi sông Hoài Phố Cổ Hội An

 Tiếng hát em … anh vỡ cung đàn!

Anh xa xứ bao mùa giông bão

Linh hồn anh còn mãi âm vang!

.Trang xunauvn.org vừa nhận được một số bài thơ của tác giả Xuân Đạo do chị Lene Huynh ở Đan Mạch gửi đến. Xuân Đạo là tên chung của đôi vợ chồng trí thức xa quê, sống đơn độc ở nước ngoài sau năm 1975 . Trước nay họ không hề làm thơ. Những dòng này chỉ được viết sau khi người vợ , một nữ giáo sư trường Trưng Vương Sài Gòn qua đời chỉ sau hai tháng lâm trọng bệnh

Ngẫm nghĩ đôi khi thơ ra đời chính những lúc lòng ta khổ đau nhất

Xuân Đạo

.1

Còn đâu tiếng hát bến xuân

Biển xanh mặn đắng mộ phần trời cao

Điêu tàn quạnh quẽ xanh xao

Lệ nguồn tuôn chảy dội vào trong tim

Không gian chợt bỗng lặng im

Nghe hồn khấp khểnh đi tìm bóng em

Đêm nay sẽ vẫn là đêm

Mắt chong đèn mộng êm đềm ngày xưa

Em ơi em ơi em ơi

.2

Không có em như nhà không nóc vách

Ôm gối chăn lạnh buốt rợn óc tim

Những cơn bão mùa đông rùng rục thổi

Để mùa Xuân chết lịm phải không em

Nhưng em ơi tình Xuân ta vẫn sống

Bụi thời gian dù có muốn phôi pha

Màu kỷ niệm ẩn an trong ký ức

Nụ hôn đầu chất ngất hương Xuân hoa

Em ơi em ơi

.

.3

Không gian chợt bỗng lăng im

Nghe hồn khấp khểnh đi tìm bóng em

Đêm nay sẽ vẫn là đêm

Mắt chong đèn mộng êm đềm ngày xưa

.4

.Anh vẫn biết tình Xuân vẫn sống mãi

Đường trần gian riêng một mình anh thôi

Bóng hình em chỉ còn trong tâm tưởng

Tuy thật gần mà cũng rất xa xôi

Hai chúng ta tuy hai là một

Giờ còn một riêng rất đơn côi

Một chung nay đã đi rồi

Đêm ôm gối chiếc mộng môi em cười

Phạm Đương

1.
Có chiếc răng trắng khác thường trên hàm răng
là chiếc răng giả
mơ một hàm răng thật trắng
nhưng không phải răng giả
kem đánh răng Hynos quảng cáo cả trong giấc mơ
răng trắng-không giả-kem Hynos
vừa đánh răng vừa huýt sáo
đó không phải là giấc mơ của những anh chàng Sơn Đông mãi võ
đánh răng giả vừa huýt sáo thật
lẩn thẩn với những chiếc răng
tôi tự làm nghèo giấc mơ của mình

2.
Sáng nay nghe một chuyện không vui không buồn
người đàn bà sáu mươi tuổi bất ngờ gặp lại người tình cũ
trong trại an dưỡng thương binh nặng
một gã du kích cách đây đã bốn mươi mốt năm
bà thì nhận ra ngay còn ông thì lơ đễnh như kẻ xa lạ
theo ký ức mù sương của bà thì họ đã một lần hôn nhau
nhưng không dám bước qua lằn ranh ám ảnh về những cuộc kiểm điểm liên miên thời chiến
quan hệ bất chính là cụm từ đã giết chết bao giấc mơ thiếu nữ
trong đáy thẳm gã du kích năm xưa
người ấy luôn luôn mười chín tuổi
trinh trắng hơn mọi sự trinh trắng nếu như nụ hôn không bị khép vào tội bất chính
làm sao quay ngược được kim đồng hồ thời gian
để xé tan tành những cuộc họp vô bổ
nhưng biết làm sao được
những giọt nước mắt lặng lẽ chảy dọc theo chiều dài bốn mươi mốt năm
giấc mơ được thoải mái ôm nhau ngày hòa bình
đã vĩnh viễn gửi lại cánh rừng mười chín tuổi
đó là giấc mơ nặng nhọc nhất mà cả hai phải gồng gánh suốt chặng đường còn lại

3.
Con được vào đại học là giấc mơ của tất cả các bậc cha mẹ
dù chúng vẫn thích chơi điện tử hơn là học chữ
“mày không đỗ thì mày chết với tao
còn tao sẽ chết nếu như mày đỗ!”
chín mươi phần trăm dân số là nông dân
luôn luôn đọc câu kinh trên đây trước ngày tiễn con ra trận
con thi đỗ thì cha sẽ chết
nhưng thà chết như thế may ra còn được sống
nuôi giấc mơ được cày ải trên cánh đồng chữ
vẫn dễ chịu hơn là cày trên mảnh ruộng đầy hóa chất và thuốc trừ sâu
cày trên đất cằn khô được bón phân đểu
hàng triệu đứa trẻ nông thôn luôn nuôi giấc mơ không có thật
bằng những phép màu rạ rơm
tôi từng mơ như các em
bằng giấc mơ bo bo mì lát
nào hãy mơ đi các bạn
đừng sợ
không ai đánh thuế giấc mơ bao giờ!

4.
Ngày lập hạ
ba mươi chín độ năm chưa phải là con số cuối cùng mùa nắng nóng
tôi nuôi giấc mơ Đà Lạt, Sa pa chạy dọc miền Trung
bất ngờ điện cúp không báo trước
mồ hôi trộn với cơn mơ
mang hình chiếc tủ kem ngày không có điện

Lặng lẽ Quy Nhơn

Phạm Văn Phương

.

Khi tôi biết yêu, Người đã ở đó rồi

Một thành phố nhỏ nhoi và bình lặng

Thành phố không dèn mầu và âm âm tiếng sóng

Bạn bè đông vui

.

Rồi chúng tôi chia tay, mối đứa một góc trời

Thi thoảng gặp nhau thường nhắc

Ly rượu ấm trong chiều gió bấc

Nụ cười giêng hai

.

Đi hết thanh xuân, ngừoi vẫn mong ngừơi

Thương nhớ quá mà không tìm nhau được

Thành phố đồi thay nhiều, ai cũng khác

Bạn bè dần vơi

.

( Lòng vẫn yêu hoài một thành phố nhỏ nhoi

Thành phố không đèn mầu, và em bình lặng

Sóng cứ vỗ mênh mang vào xa vắng…)

.

Tôi lại về trong buâng khuâng đêm

Năm tháng như mây trời phiêu dạt

Sợi tóc trắng cầm tay soi dưới nguyệt

Trăng không mầu, em trong chiêm bao

.

Những con còng se cát đã về đâu?

Chế Diễm Trâm

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã giã từ dương thế vào sáng ngày 22/11/2020, hưởng thọ 100 tuổi. Đó là đại biểu cuối cùng của Phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Nhắc đến tên nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, bạn đọc sẽ không quên dấu ấn của ông đối với Phong trào Thơ mới nói chung và với nhóm Xuân Thu nhã tập nói riêng – một trong những nhóm thơ lấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng làm tuyên ngôn sáng tác.  

Nhóm Xuân Thuđược tập hợp từ năm 1939, gồm nhiều lĩnh vực. Mảng thơ gồm các tác giả Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ; nhạc có Nguyễn Xuân Khoát; hoạ có Đỗ Cung. Năm 1942, Xuân Thu thư lâu xuất bản một tập sách có tên là Xuân Thu nhã tập. Từ đó tên tập sách thành tên của nhóm. Trong bài Quan niệm in trong tập sách, họ lý giải cái tên của nhóm như sau:

Một biểu tượng đương nhiên, cái nhịp của cuộc sống vô cùng. Sắc xuân và hương thu. Hai mùa quá độ, uyển chuyển trong khoảng cao, trong, nhẹ… Hai mùa thực hiện Đẹp và Thơ. Hai mùa rung động cảm thông Người với Đất Trời, Trời Đất và Người.

Năm 1943, nhà thơ Đoàn Phú Tứ lại nói đến ý nghĩa của cái tên ấy:

Sống theo cái Nhịp của Trời Đất, mà cái biểu tượng đương nhiên và tốt đẹp nhất là hai mùa Xuân và Thu luân chuyển. Nên lấy hai chữ Xuân Thu làm biểu hiện cho cái Nhạc của Vũ trụ” mà “Thơ chính là cái rung động siêu việt trong trẻo, nhịp nhàng của bản nhạc vô cùng ấy([1]).

Trong Xuân Thu nhã tập, ngoài các tiểu luận trước đó đã đăng trên báo Thanh nghị, còn có ba bài thơ của Phạm Văn Hạnh (Thư thơ, Người có nghe, Giọt sương hoa), ba bài thơ của Nguyễn Xuân Sanh (Buồn xưa, Hồn ngàn mùa, Bình tàn thu), một bài thơ của Đoàn Phú Tứ (Màu thời gian), một bản nhạc của Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ và một bức tranh phụ bản của Nguyễn Đỗ Cung vẽ một gốc cây đã bị đốn hết thân cành nhưng trên đó đang bừng nở những chồi biếc khỏe khoắn.

Đó là những sáng tác vừa đóng vai trò thử nghiệm vừa đóng vai trò minh chứng cho những tuyên ngôn lý thuyết đã được trình bày trong các tiểu luận. Số lượng tác phẩm tuy không nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi nhưng nhìn vào đây cũng có thể thấy được rằng những luận điểm tuyên ngôn sáng tạo (đặc biệt trong tiểu luận Thơ) đã được các tác giả triển khai và ứng dụng ngay trên các tác phẩm của họ.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có viết riêng một mục dành cho một tác giả thuộc thi phái Xuân Thu nhã tập là nhà thơ Đoàn Phú Tứ và trích đăng một bài thơ của Đoàn Phú Tứ – bài Màu thời gian. Tuy Nguyễn Xuân Sanh không có một mục riêng nhưng trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca của tập sách nói trên, Hoài Thanh có nhắc đến Nguyễn Xuân Sanh hai lần, và cả hai lần cái tên Nguyễn Xuân Sanh đều đi liền với Bích Khê – một trong những nhà thơ tên tuổi của Trường thơ Loạn:

Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh, muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry.

Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm gìn giữ gì hết. Trong tác phẩm của họ vẫn chừng ấy tiếng ta rất quen, nhưng thảng hoặc ta mới tìm được dấu tích những ý tứ, những tình cảm ta vẫn quen gửi vào đó. Họ chạm trổ rất tỉ mỉ, không phải những rồng những phượng như ngày trước, mà những gì chẳng ai biết tên. Những gì đó đôi khi cũng đẹp. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín, nhưng lời thơ rắc rối quá, dầu sao phần đông chúng ta cũng đành kính nhi viễn chi.

Những nhận định trên của Hoài Thanh cho thấy Nguyễn Xuân Sanh là một trong những cây bút chủ chốt không chỉ của nhóm Xuân Thu mà còn của Phong trào Thơ mới giai đoạn từ năm 1936 trở đi, khi thơ Việt Nam một lần nữa muốn cách tân – chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn sang ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực với tên tuổi của ba nhóm thơ tiêu biểu: Trường thơ Loạn, Xuân Thu nhã tậpDạ đài.

Xuân Thu nhã tập trình bày nhiều quan niệm về thơ, về vũ trụ và nhân sinh, về trí thức, về nhạc, vẽ,… trong đó quan niệm về thơ đáng chú ý hơn cả. Trong tiểu luận Quan niệm, Xuân Thu nhã tập đưa ra nhiều luận điểm về mối quan hệ giữa thơ – nhà thơ – người đọc thơ.

Quan niệm của Xuân Thu nhã tập thể hiện rõ tinh thần canh tân thơ ca dân tộc khi Thơ mới lãng mạn có vẻ đã quá quen. Quan niệm thơ của họ là kết quả của mối lương duyên giữa phương Tây [cụ thể là dòng thơ tượng trưng, siêu thực Pháp] và phương Đông [chất hàm súc của thơ phương Đông và sự thâm trầm của Phật giáo]:

Tìm con đường thực, nối liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về những tính cách riêng của ta, để có thể xuôi chảy trong cái dòng sống thực của ta, không quanh co, lúng túng vì những ảnh hưởng ngoài”.

Mục đích cách tân của Xuân Thu thể hiện trên hai phương diện: không lặp lại cái tôi lãng mạn “dễ dãi” (từ của Baudelaire) và chống lại sự đồng hóa của phương Tây để ngăn cái họa mất gốc. Chủ trương trở về nguồn – ngăn cái họa mất gốc – nhưng Xuân Thu vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học phương Tây, chủ nghĩa tượng trưng trong văn học phương Tây.

Trả lời câu hỏi “Thơ là gì?”, các tác giả Xuân Thu nhã tập phân tích bản chất thơ ở ba cấp độ. Cấp độ thứ nhất, ở tính chất phổ quát: thơ có trong các hiện tượng tự nhiên, đời sống, đặc biệt tập trung trong các trong các loại hình nghệ thuật (văn học, âm nhạc, hội họa…). Rung động là bản chất phổ quát của thơ, rung động của thơ là rung động siêu việt, không thể cắt nghĩa, giải thích. Thơ là “một cái gì” không giải thích được mà cũng không cần giải thích, khi chưa kịp hiểu nó là gì, ta đã bị nó quyến rũ, lôi kéo, xâm chiếm. Thơ được ví như “Giai nhân”, như “Đẹp”, như “Trời”:

Người ta đã thử và chưa từng giải thích được thơ. Như Giai nhân, như Đẹp, như Trời. Người ta cảm thấy một cái gì siêu thoát, ra ngoài ước lệ, ở trên lý trí, nó rung động ta theo nhịp vũ trụ, hồn nhiên, nó hòa hợp Ta trong cái Đẹp và ấp ta trong cái Thật. Vẻ man mác của cái đẹp và ý sâu sắc của cái thật. Do trong trẻo gạn nên… Nó là cái gì không giải thích được, mà cũng không cần giải thích. Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc. Đột nhiên như ta nhào vô lòng mẹ không cần xét suy”.  

Cấp độ thứ hai, chất thơ trong nghệ thuật thơ – thể loại thể hiện tập trung nhất tính thơ – để chỉ ra thơ khác văn xuôi như thế nào. Theo Xuân Thu nhã tập, “Văn có tính cách giãi bày, thuộc lý trí, vụ ích lợi”, “thơ không phải lúc nào cũng để chỉ bảo một cái gì, vì nó không vụ lợi ích thực tế”. Họ nhấn mạnh đặc tính nổi bật của thơ là tính hàm súc, là kết quả của sự rung động trong trẻo và thuần khiết, vốn là đặc trưng thơ phương Đông. “Tính chất của thơ là hàm súc, tĩnh mạc, tổng hợp. Ngôn ngữ, cú pháp Á Đông rất thích hợp cho thơ. Tứ thơ thường đọng lại, cốt gợi hơn là tả… Từ cuối thế kỷ trước, thơ Pháp nhờ dòng tượng trưng đã gặp thơ Á Đông ở chỗ uẩn súc, huyền ảo… Thơ phải chứa nhiều sức khêu gợi, ý ở ngoài lời…

Chính vì vậy, thơ đích thực không dễ hiểu; nói cách khác, khó hiểu là một yếu tính của thơ ca, thậm chí cần xem sự khó hiểu này như một giá trị. Theo họ, “thơ không cần lúc nào cũng rõ nghĩa, không phải lúc nào cũng sáng sủa… Nó giữ phần sâu kín, giữ phần sâu sắc; không phải lúc nào cũng theo lý luận, vì nó chịu sức chi phối của những luật vô hình… Vậy thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu, cái hình ảnh sự khắc khoải bất diệt của muôn vật: cõi Vô Cùng ”.

Ở cấp độ thứ ba, thơ được xem xét trong tư cách là một đơn vị chỉnh thể ngôn ngữ – một bài thơ. “Tiêu chuẩn về hình thức thơ là tính-cách-độc-nhất”, bài thơ là sản phẩm độc đáo duy nhất thể hiện sự hàm súc, khêu gợi đầy bí ẩn của câu chữ, nhạc điệu, hình ảnh… Hình ảnh, ngôn từ, kết cấu, nhạc tính… tất cả được tổ chức chặt chẽ để “đọc xong bài thơ, ta bị y nguyên những câu, những tiếng của toàn bài chi phối. Hình thể, cùng lúc với hồn, sống mãi trong ta. Và ta không thể di dịch một âm thanh, một hình ảnh mà không phản bội và tàn phá”.

Về thiên chức của nhà thơ, Xuân Thu nhã tập nhấn mạnh vai trò tiên phong trong sáng tạo “tìm những cách rung động mới, những lối diễn đạt mới, bao giờ cũng ở hàng tiên phong” và phải xứng đáng với danh hiệu thi sĩ là người tạo nên cái-gì-chỉ-có-một. Do đó, hình ảnh người nghệ sĩ đích thực trong quan niệm của Xuân Thu nhã tập là “gốc cây Ta, đầy nhựa Thơ, hút nhận nhạc của Đất Trời để trổ sinh bao Điệu, thắm tươi những bông hoa Sáng Tạo dâng lên bàn thờ Đạo lý – lẽ sống của Đời”.

Việc tiếp nhận thơ cũng đòi hỏi ở người đọc những tố chất, năng lực thẩm mỹ nhất định. Theo Xuân Thu, những vần thơ đích thực “nó mê hoặc ta ngay và đặt ta vào giữa cõi thơ có thần trợ. Hay nói đúng, một cái gì trên cả âm điệu, không giải được mà chỉ cảm được thôi”. Do đó, họ đề nghị: “Hãy nằm trong thơ, dầm trong nhạc, đừng vội “hiểutrước khi xúc cảm. Rồi ta sẽ hiểu, nhất là sẽ biết, cái biết đầy đủ, trong trẻo, trọn vẹn, nhịp nhàng”. Họ đề cao trực cảm, đề cao những rung động hồn nhiên: “Đừng luận lý với thơ cũng đừng luận lý với người yêu, với giáo điều. Thấu nghĩa từng chữ, rồi những chữ ấy ở cạnh nhau sẽ nảy ra những âm thanh gì, hình ảnh gì, gợi trong trí não một vũ trụ gì tức khắc, mới mẻ”.

Đem tất cả những quan niệm ấy vào thực hành, các cây bút Xuân Thu nhã tập đã coi trọng tính “uẩn súc” của tác phẩm qua việc xây dựng các biểu tượng mang tính tượng trưng. Tính tượng trưng trong thơ của các tác giả Xuân Thu nhã tập được tạo nên bởi nhiều yếu tố mà trước hết là cách xây dựng hình ảnh giàu tính biểu tượng. Họ đặt các những hình ảnh, sự vật xa lạ cạnh nhau, trong nhiều trường hợp đã tạo nên những liên tưởng, cảm nhận đột ngột, bất ngờ.

Bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh qua bao năm tháng, có ai vỗ ngực rằng mình đã hiểu hết? Nhưng khi đã đọc bài thơ thì hầu hết đều yêu thích nó, chí ít cũng đôi câu rất nổi tiếng:

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Bài thơ xuất phát từ cảm hứng nỗi sầu nhân thế khi con người đối diện với “thời gian”, với “nhịp hải hà” miên man, vô tận. Từ “buồn” xuất hiện nhiều lần (6 lần), trong đó nỗi buồn hồi tưởng (“buồn xưa”) là âm hưởng chủ đạo. Bài thơ lấy điểm xuất phát là buổi chiều nay để sống lại một/nhiều chiều thu xưa:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm

Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Buồn hưởng vườn người vai suối tươi

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu

Duyên vàng da lộng trái du người

Ngọc quế buồn nào gội tóc xưa

Hồn xa chĩu sách nhánh say sưa

Hiến dâng

            Hiến dâng quả bồng hường

Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa

Đường tàn xây trái buổi du dương

Thời gian ơi tưới hận chìm tường

Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương.

            Tại thời điểm “chiều” hiện tại, có “quỳnh hoa”, có “nhạc”, khúc “nhài đàn”, có “rượu”, có “lẵng xuân”, có hương “ngọc quế”,… Trong không-thời gian ấy, sao mà không “say sưa”, “du dương” cho được, nhất là bên cạnh có “trầm mi”, “tóc mưa”, “môi gợi”, “da lộng”, “ngón hường”, có “vú đôi thơm”, “quả bồng hường”… dẫn dắt, dẫn dụ?

            Từ thực tại, thực tại “say”-“buồn”-“hận chìm tường” trong “lạnh lẽo”, người ta trôi, trôi dần, trôi hẳn về quá khứ, làm sống dậy một “mùa xưa” có chàng hoàng tử “hồn xanh ngát” trong “cung ướp hương” với “dấu xiêm y”, với ngón đàn “tỳ bà” mang cả một rừng “ngọt ngào” neo lại giữa “du dương” với “say sưa”…

            Càng tìm vui, tìm quên trong quá khứ càng mất phương hướng, cái tôi đành quay lại thực tại để thấy càng sầu mênh mông trong cả hai chiều kích thời gian (“muôn đời”) và không gian (“tự trăm phương”) làm thành nỗi sầu nhân thế đã hiện hữu trong con người từ xưa đến nay:  

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương

            Bài thơ đã trộn lẫn hiện tại – quá khứ – hiện tại làm thành một thế giới nghệ thuật của nỗi u buồn không dứt. Nhà thơ đã lạ hoá từ ngữ, hình ảnh bằng cách chuyển đổi cảm giác liên tục làm nên một thế giới nghệ thuật siêu cảm giác, khó hiểu, không giải thích được như quan niệm của thơ tượng trưng mà nhóm Xuân Thu nhã tập đã dụng tâm, dụng công theo đuổi. Đó là “nhạc trầm mi”, “hồn xanh ngát”, “trái xuân sa”, “lẵng xuân”, “nhài đàn”, “tóc xưa”, “tóc mưa”, “đường tàn”,…

Nhà thơ Buồn xưa cũng phát huy tính nhạc ảo diệu của thơ tượng trưng, trong đó âm giai chính là “du dương”, huyền hồ, buồn buồn thầm kín:

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

            Câu thơ toàn thanh bằng (bình thanh) giống như nhạc điệu của những câu thơ của các nhà Thơ mới Xuân Diệu, Bích Khê:  

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

                        Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ – Xuân Diệu)

            Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông (Tỳ bà – Bích Khê)

            Đó là thứ nhạc thơ mang nghĩa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng – “Thơ là sự dao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Valéry) – một điệu nhạc nhẹ nhẹ, dịu dịu nhưng day dứt, ám ảnh về nỗi sầu buồn của thời đại Thơ mới.  

Toàn tác phẩm có 142 âm tiết [kể cả nhan đề] thì có 89 âm tiết mang thanh bằng (62,67%). Nhạc điệu chủ đạo chuyên chở nỗi sầu sầu, buồn buồn, thương thương, nhớ nhớ… Bởi thế, ba chữ “nhạc trầm mi” được trở đi trở lại trong khổ đầu của bài thơ như một sự nhấn nhá, nhấn mạnh trạng thái vi diệu và mơ hồ của cảm xúc, tâm trạng.

            Bài thơ Hồn ngàn mùa, Nguyễn Xuân Sanh cũng giữ nét nhạc sầu miên man đó qua một điệp khúc (có biến đổi) cuối mỗi khổ thơ:

                        …Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

…Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan
…Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương
…Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông([2])

Còn trong bài thơ Bình tàn thu, tác giả phối vần liên tiếp trong mỗi khổ, và số câu trong mỗi khổ theo quy luật đan xen nhau (2 câu – 3 câu – 2 câu – 3 câu – 2 câu) cũng làm nên một điệu nhạc đặc trưng của Thơ mới – sầu muôn đời-muôn phương:  

 Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi
Chén vàng dâng ướp nhạc lòng đời

Sương mùa lệ héo dặm đường hương
Cung phi dăng bướm buồn Nghê Thường
Sách đàn tay xõa ái tình chương

Cổ mây người nhạc dịu vườn tươi
Da xuân mười tám tuổi buồn người

Mi thơm chanh buổi chĩu buồn da
Rượu tóc loan tháng đượm mùa ngà
Sầu chùm tơ giấy giở mưa hoa

Người ơi người nẻo ngát tường nương
Hồn Tương Giang đàn dựa buồn hường.

Tuy các nhà thơ tượng trưng Xuân Thu nhã tập vẫn tuyên ngôn về một tư duy thơ siêu thức, kín mít, bí hiểm, xoá nhoà mọi liên kết logich, mọi cách hiểu nhưng qua sự liên kết các biểu tượng, và qua cả nhạc thơ, bạn yêu thơ vẫn có thể thấu cảm ý đồ nghệ thuật của họ. Và có bài thơ nào [nhất là thơ hay] mà không có tứ thơ? Vậy nên cái khó hiểu cố tình của thơ họ vẫn có thể giải mã được. Song, vì không dễ lý giải nên những bài thơ của họ có sức hấp dẫn lớn. Từ thế hệ này đến thế hệ khác đều có thể có những liên tưởng khác nhau, làm giàu có, phong phú vẻ đẹp không tới đáy của các thi phẩm. Mà như thế, họ đã thành công! Có lẽ, ở chốn suối vàng, họ đã mỉm cười hài lòng với sinh mệnh bất tử của những đứa con tinh thần của họ.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã đi xa nhưng tác phẩm thì vẫn còn mãi. Nhắc đến ông, chúng ta nghĩ ngay đến nỗ lực cách tân Thơ mới thập niên 40 của thế kỷ XX với vai trò của thi phái tượng trưng mang tên Xuân Thu nhã tập. Nhận định của PGS.TS. Nguyễn Văn Long có lẽ là nhận định công tâm, công bằng nhất cho đóng góp của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trước Cách mạng:

“Nguyễn Xuân Sanh trăn trở tìm tòi để đến với cái đẹp trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cách tân thơ bằng sự phá bỏ tính liên tục và thay bằng tính gián đoạn, gây một âm hưởng mới lạ, có vẻ bí hiểm, làm ngỡ ngàng người đọc đã quen với sự truyền cảm của Thơ mới. Nhưng ông vẫn giữ nguyên vần, khổ, câu và cách ngắt nhịp đơn điệu, nên sự sáng tạo không được triệt để.”([3])  

Đóng góp lớn nhất của Xuân Thu, trong đó có công đầu của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là đã khơi gợi một ý tưởng: thơ có thể khác trước, khác với thứ thơ quen thuộc mà ta vẫn biết, mở ra một hướng đi mới cho thơ: “Nghệ sĩ ngày nay phải chịu trách nhiệm tạo thành những mỹ cảm ngày sau, những xúc động sau, những tuổi sau, những vô biên mới, những vĩnh viễn ngày mai.” Quan niệm của họ đã được hiện thực hóa một cách sinh động trong sáng tác của các nhà thơ viết theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa sau này.

CDT


[1] Theo Wikipedia, Xuân Thu nhã tập

[2] Bài thơ Hồn ngàn mùa (Nguyễn Xuân Sanh) như sau:

            Hy-mã-lạp-sơn buồn thu đây

            Thu

                        Tóc xuân bưng đỉnh chiều đầy

            Quý dâng Hình Nhạc nẻo nghìn mây

            Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

            Hoà hợp màu hương tranh thế gian

            Đất ơi hoa rót chén giời đàn

            Sen tưởng cầu thơm nguôi tiếng van

            Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan

            Đền xanh cửa ngát lạc hoa thương

            Cúi đầu sao khóc bể chán chường

            Quay thuyền Lái Ngọc gửi mươi phương

            Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương

            Hoàng hôn kinh dậy đất mênh mông

            Trái đẹp sau xưa gợn gió bồng

            Vai sầu chín thuở Đức say Bông

            Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông.

[3] Theo Wikipedia, Nguyễn Xuân Sanh

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Mười hai giờ mười tám phút

Người thiếu phụ đang ngồi khỏa trắng giấc mơ

Trong chiếc gương có hình oval cũ kỹ

Cô đang kéo đôi chân mày chạm về phía mặt trời

Có thể là dài như một tiếng thở

Cô dùng lớp phấn hồng quét ngược

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Chiếc gương bây giờ là hình trái đất

Có đôi mắt màu đại dương

Từng lớp phấn phủ như cơn lốc về

Trăng vỡ mềm môi

Cô khóc trên gương mặt mình

Sau lớp thủy tinh

 Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

Cô mở hộp tìm mấy câu đồng dao

Tám lẻ dôi 

Đôi lên chín

Chín lẻ một 

Mốt lên mười

Cô chuyền chuyền đôi tay

Chuyền một

Chuyền hai

Chuyền ba

Trăng vỡ

Cô chuyền trên tay

Đôi mắt xanh màu đại dương

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Cô khóc trên gương mặt mình

Sau lớp thủy tinh

Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

Trần Vấn Lệ

.

Chớp bể…là xa, xa lắm?

Mưa nguồn…chắc cũng không gần?

Sao mình lại cứ bâng khuâng

muốn mưa tới ngay trước cửa?

.


Chắc tại mình nhớ ai đó

xa như chớp bể mưa nguồn?

Không biết người ta có buồn

như mình đang buồn không nhỉ?


Một câu hỏi như sợi chỉ

se hoài mà chẳng luồn kim

chỉ nghe tiếng đập con tim

nỗi buồn trong lòng thao thức!

.

Muốn nhắm mắt đi đừng khóc

như khi ngồi giữa lòng ghe

Muốn bịt tai đi đừng nghe

sóng vỗ ào ào bên mạn…
.

Nếu mà trời đừng có sáng

Nếu mà trời đừng có chiều

đừng hỏi Má lo bao nhiêu

để cho con đi tìm sống…

.
Má ơi Má nuôi hy vọng

tại sao Má bỏ con rồi?

Hồn Má có bay lên trời

như bầy hải âu không vậy?

.
Xé quăng đi một tờ giấy

ở trong đó có bài thơ

nội dung là ước là mơ

cái hình là vòng tay Mẹ!

.
Hỡi ơi mưa nguồn chớp bể

chỉ nghe con mắt cay sè

rồi sẽ không nghe không nghe

bờ đê tiếng con ếch nhẩy!

.
Rồi sẽ không thấy không thấy.

Mẹ già cái bóng xiêu xiêu

sẽ không có bữa cơm chiều

“Má ơi hình như cơm khét?”.

.
Bàn tay Má như đang quẹt

con mắt Má buồn bao nhiêu!

Đố ai không có một chiều

bỗng dưng thấy mưa đầu ngõ…