Feeds:
Bài viết
Bình luận

Mùa xuân đã tắt !

 Đặng Thị Thanh Hương

.

Ngày tắt nắng và xuân vừa đi khuất

Trên con đường lại ồn ã như xưa

Lại tất bật tiếng rao trên phố

Vẳng âm u tiếng hát xẩm mù

.

Đã kết thúc ngày nghỉ ngơi nhàn nhã

Người sửa soạn áo khăn chuẩn bị lên đường

Những cuộc mưu sinh nào ai chẳng phải

Bỏ lại ngôi nhà cha mẹ bước tha hương

.

Rồi cứ thế thêm 12 tháng nữa

Cuộc sống trôi theo cơm áo gạo tiền

Những hóa đơn xếp chồng trên số phận

Vòng kim cô xiết chặt giấc mơ tiên

.

Lũ chúng ta sinh giữa thời loạn thế

Chiến tranh dịch bệnh phá hoang tàn

Bão lũ triền miên cuốn trôi ngàn thân xác

Hồn bơ vơ lạc lõng giữa hồng hoang!

.

Nắng tắt mùa xuân vừa đi mất

Ta lại làm lũ ngựa nhọc nhằn phi

Nhưng vó ngựa không thể phi nước đại

Kẻ cầm cương luôn giữ tay ghì …

.

Thời gian vẫn trôi qua như thế

Ngoảnh nhìn theo bao lần lá hoa tàn

Ta rồi cũng dừng cuộc chơi dâu bể

Hóa nắng vàng lang bạt mỗi xuân sang…

Thường Xuân

.

Mai Nhật

.

Bài thơ chỉ thêm vài nếp nhăn

Bạn đừng đắn đo xa lạ với một bức ảnh cũ

Mùa đông chẳng lưu trí nhớ

Chỉ phả sương mờ vào gương mặt của mùa xuân

Thời gian định vị trên con đường

Lớn lên và già đi

Sợ rằng mình không đủ sống

(Sợ không đủ bởi vì mình ham sống quá)

Cây thường xuân thường mọc muộn

(Vì mỗi khi bế tắc

chúng ta mới nghĩ về thường xuân)

Nó có hình dáng như thế nào nhỉ?

Chắc chắn nó chỉ có một chiếc lá

Bất chợt hình dung ra cây thường xuân

Cúc dại ngoài bờ mương vẫn nở

Cây cơm nguội tuổi thơ nứt trắng hạt li ti

(Đi ngoài đường gặp cây nào na ná trong ý nghĩ,

nó là thường xuân)

Nó sẽ vui khắp mọi nẻo đường

Vì chúng ta luôn muốn thế.

Thường xuân - Thơ của Mai Nhật- Ảnh 1.

Lặng Lẽ 

.

Phạm Văn Phương

.

những bông hoa bên cỏ

thắm lên trong mờ sương

.

người ơi, xa xôi quá

làm sao lòng không buồn

.

những bông hoa trên núi

vẫn lặng thầm tỏa hương

.

ngày trôi ngày trôi mãi

mùa qua mùa qua rồi

.

một hôm nhiều ái ngại

thấy đời là phai phôi

Lê Trọng Nghĩa 

.

Tôi cũng đã đi qua một phần đời đắm sâu với thơ và chữ nghĩa. Nhưng ở đây, tôi chỉ có thể nói từ chỗ của mình, chỗ của một người làm nghệ thuật thị giác. Tôi không muốn định nghĩa thay nhà văn. Càng không muốn đứng ngoài mà phán quyết văn chương phải là gì, nên là gì, hay được phép dùng công cụ nào. Tôi chỉ muốn nhìn câu chuyện hôm nay bằng kinh nghiệm của thân thể, của xưởng, của vật liệu, và của những biến động mà nghệ thuật tạo hình từng đi qua.

Tôi từng tin phẩm giá của điêu khắc nằm ở mồ hôi đổ xuống vật liệu. Nằm ở những ngày đứng lì trước đá, trước gỗ, trước sắt thép. Nằm ở việc học nghe tiếng thớ gỗ, độ câm lặng của đá, mùi khét của mối hàn như một phần kéo dài của cơ thể mình. Tôi từng nghĩ chính sự vật lộn trực tiếp ấy mới làm nên tư cách của người làm điêu khắc. Rằng phải có tay, có sức, có va đập, có bụi, có lửa, có những sai lệch rất nhỏ của cơ thể in lên bề mặt vật chất, thì hình khối mới thật sự mang linh hồn của người làm ra nó.

Bởi vậy, khi công nghệ số và in 3D bắt đầu đi vào xưởng, tôi không thể nói mình không bị chạm tự ái. Tôi biết có những nhà điêu khắc ngày nay không còn trực tiếp chạm vào vật liệu theo cách cũ. Họ phác thảo, dựng hình trên máy, thử nhiều phiên bản, chọn một phương án, rồi giao phần thi công cho bàn tay khác. Đứng trước điều ấy, tôi buộc phải tự hỏi, nếu máy có thể gánh bớt phần thi công, nếu bàn tay không còn là nơi duy nhất quyết định hình khối, vậy thì phần phẩm giá mà tôi từng ký thác vào mồ hôi, vào sức tay, vào sự chịu đựng vật liệu ấy nằm ở đâu.

Phải mất một thời gian tôi mới nghĩ khác đi. Tôi nhớ lại khoảng ba mươi năm trước, khi nghệ thuật sắp đặt và nghệ thuật ý niệm vừa ló vào đời sống mỹ thuật Việt Nam. Khi ấy, không ít họa sĩ gạo cội đã mỉa mai khá nặng lời. Đó mà cũng là nghệ thuật sao, chẳng qua là trò bày biện của những người không biết vẽ. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy mỗi lần nghệ thuật bị chạm bởi một hình thức mới, một công cụ mới, hay một quan niệm mới, phản ứng đầu tiên thường vẫn là thế. Người ta nghi ngờ, chế giễu, phủ nhận. Không hẳn chỉ vì cái mới dở, mà còn vì cái cũ trong mình đang bị lung lay.

Đi qua một quãng như thế, tôi mới hiểu rằng mồ hôi của điêu khắc không chỉ nằm trên bề mặt vật liệu. Nó còn nằm trong những đêm thức trắng với bản vẽ, trong những lần xóa đi làm lại, trong sự do dự kéo dài trước một quyết định cuối cùng. Có những thứ người ngoài không thấy. Nhưng người làm nghề biết. Công cụ có thể hỗ trợ bàn tay, nhưng không thể quyết định thay cái nhìn.

Vì thế, không thể chỉ vài câu lệnh rồi đem ra in 3D, hoặc thuê người khác đúc hợp kim, đục đẽo, triển khai, mà thành một tác phẩm điêu khắc. Cái hiện ra trước mắt có thể là một vật thể tạm ổn, một hình thức đủ chỉn chu để đứng đó. Nhưng tác phẩm nghệ thuật không chỉ là một hình thức đẹp được làm ra. Nó còn phải mang dấu vết của một tiến trình, gần như một câu chuyện dài của người nghệ sĩ với vật liệu và hình khối ấy. Nó phải là thứ đã đi qua thời gian, lao động, những lần sai, những lần bỏ, những lần quay lại, những lần tự bác bỏ chính mình để đi tới một quyết định sau cùng.

Bởi vậy, tôi không còn nghĩ giá trị chỉ nằm ở chỗ thủ công hay máy móc. Thủ công tự nó không bảo đảm chiều sâu. Máy móc tự nó cũng không triệt tiêu giá trị. Bởi rất có thể người nghệ sĩ đã đổ xuống đó một quãng mồ hôi rất dài từ trước khi chạm vào máy móc. Điều đáng nói là một hình khối có thực sự đi qua thời gian của suy nghĩ, của lựa chọn, của mồ hôi hay không. Dù là thủ công hay qua công cụ, thứ gì đã thật sự đi qua thời gian và lao động của một ý thức sống, thứ đó vẫn có thể có giá trị.

Trong lịch sử nghệ thuật tạo hình, trước khi máy ảnh ra đời, hội họa hiện thực từng gắn chặt phẩm giá của mình với khả năng tái hiện thế giới. Danh giá của người họa sĩ được chứng thực qua bàn tay mô tả giống thực. Khi máy ảnh xuất hiện, cú sốc không chỉ là kỹ thuật. Với một phần giới họa sĩ, đó còn là một sự xúc phạm tinh thần đau đớn. Điều họ mất hàng chục năm khổ luyện, từ hình họa, giải phẫu đến viễn cận, một chiếc máy lại có thể làm trong một cú bấm. Và đi cùng cú sốc ấy, không ít phản ứng mang màu sắc đạo lý cũng xuất hiện. Tranh mới là nghệ thuật. Ảnh chỉ là cơ khí. Hội họa mới có linh hồn. Máy ảnh chỉ sao chép.

Nhưng lịch sử không đi theo cách đơn giản như thế. Máy ảnh không giết chết hội họa. Nó chỉ lấy khỏi hội họa một đặc quyền cũ, và cũng vì vậy buộc hội họa phải đi tìm một phẩm giá sâu hơn. Monet không còn chỉ vẽ sự vật, ông vẽ ánh sáng đang đổi trên sự vật. Van Gogh không giữ hình thể trong trạng thái cân bằng, ông để phong cảnh và đồ vật rung lên theo cường độ nội tâm. Cézanne bắt đầu dựng lại thế giới bằng tương quan hình khối và mặt phẳng màu, như thể hội họa không còn sao chép cái thấy mà đang nghĩ lại chính cách nhìn. Điều máy ảnh gây ra không phải cái chết của hội họa, mà là một cuộc đau buộc nó phải rời khỏi chỗ trú cũ.

Từ kinh nghiệm ấy, tôi nhìn sang văn chương hôm nay với một cảm giác vừa dè dặt vừa chia sẻ. Dè dặt vì tôi không đau theo cách của những người đã định danh đời mình bằng con chữ, bằng nghề viết. Tôi không sống trọn số phận mình trong ngôn ngữ như họ. Nhưng tôi vẫn chia sẻ, vì tôi nhận ra ở đó những tương đồng sâu sắc với cú chấn động mà nghệ thuật tạo hình đã từng đi qua, khi một công cụ mới chạm tới phần mà người làm nghề từng tin là đặc quyền sâu nhất của mình.

Quanh câu chuyện AI, giới văn chương đang có nhiều phản ứng rất mạnh. Có người khước từ ngay từ đầu. Có người đón nhận một cách dè chừng. Có người rất nhanh đã dùng nó để sản xuất tác phẩm, đem đi dự thi, thậm chí giành giải thưởng. Có người xem việc dùng AI như một sự phản bội. Có người cho rằng một khi máy đã can dự, con chữ không còn thuần khiết nữa. Và rồi người ta mải miết soi xem trong một sáng tác có AI hay không, từ đó mà tranh cãi, mà kết án nhau.

Tôi không đứng về phía cực đoan nào, cũng không thần thánh hóa công nghệ. Tôi chỉ thấy rằng khi một năng lực từng rất hiếm bỗng bị san phẳng, điều bị lung lay không chỉ là kỹ năng, mà là niềm tin rằng mình có chỗ đứng vì mình đã đi qua một con đường khó. Nếu đặt mình vào chỗ của một người đã sống hàng chục năm bằng chữ, đã đổ vào câu văn toàn bộ tự trọng nghề nghiệp, cô độc, kiên nhẫn, và cả phần đời riêng khó nói, thì cú chạm này hẳn không hề nhẹ. Có khi nó còn rất cay đắng và bẽ bàng. Tôi nghĩ điều đó dễ hiểu. Bị chạm vào chỗ từng xem là thiêng thì khó ai bình tĩnh được. Đằng sau nhiều lời phủ nhận gay gắt, đôi khi không chỉ là một lập trường thẩm mỹ, mà còn là nỗi đau của một căn cước, thậm chí một bản thể, đang bị chạm tới.

Nhìn từ nghệ thuật tạo hình, tôi nghĩ biến cố này đối với nhà văn có khi còn đau đớn hơn. Bởi cái bị chạm tới ở đây không chỉ là một kỹ thuật hay một thao tác, mà là chính vùng người ta từng xem như nơi trú ngụ sâu nhất của mình. Nhưng cũng như máy ảnh đã không biến mất vì họa sĩ phẫn nộ, in 3D đã không biến mất vì người làm điêu khắc thấy mình bị xúc phạm, AI có lẽ rồi cũng vậy. Công nghệ không lùi lại chỉ vì lòng tự trọng của người làm nghề bị tổn thương.

Thừa nhận thực tại ấy, tuy nhiên, không có nghĩa là dễ dãi thừa nhận giá trị nghệ thuật của mọi thứ công nghệ làm ra. Tôi không tin có thứ văn chương nào chỉ sinh ra từ vài câu lệnh. Nhưng cũng sẽ có thứ văn chương mà người viết đã dằn vặt rất lâu, đã tiêu tốn thời gian, đã đổ mồ hôi ngay trong những thao tác tưởng như lạnh của máy. Bởi vậy, nếu chỉ neo toàn bộ phẩm giá của mình vào một hình thức lao động cũ, nghệ sĩ rất dễ bị đẩy vào một phẫn nộ kéo dài. Điều ấy có thể hiểu được, nhưng có lẽ không đủ để cứu nghệ thuật. Phẫn nộ kéo dài hiếm khi sinh ra giá trị mới. Phần nhiều, nó chỉ sinh ra cay đắng.

Chữ nghĩa rồi đây có thể sẽ đi vào một tình thế giống hình ảnh sau nhiếp ảnh, nghĩa là trở nên tràn ngập. Chính sự tràn ngập ấy sẽ khiến việc nhận ra giá trị thật trở nên khó hơn, và vì thế cái thực sự có giá trị càng hiếm hơn. Khi việc tạo ra văn bản ngày càng dễ dàng, phương tiện tự nó sẽ không còn bảo chứng cho bất cứ phẩm giá nào nữa. Phẩm giá không nằm sẵn trong chữ. Nó chỉ xuất hiện khi chữ nghĩa ấy đi qua một ý thức sống, một nhãn quan, một lựa chọn có trách nhiệm.

Trong một thế giới ngôn ngữ tràn ngập như thế, có lẽ sự đọc và sự chọn sẽ dần trở nên quan trọng không kém sự viết. Người viết khi ấy có lẽ không chỉ còn là người tạo ra câu chữ, mà còn là người biết giữ lại gì, lược bỏ gì, đặt nó vào đâu, và dừng ở đâu để một hình thức thật sự có trọng lượng. Nhưng sự chọn ấy chỉ có ý nghĩa khi nó đi ra từ một kinh nghiệm sống, một ý thức thẩm mỹ và một trách nhiệm tinh thần thật, chứ không phải chỉ từ sự tiện lợi của việc có sẵn chữ nghĩa sau vài câu lệnh. Theo nghĩa đó, một phần công việc của người viết có khi sẽ gần với công việc của nghệ sĩ nhiếp ảnh hay nghệ sĩ sắp đặt hơn. Không chỉ làm ra, mà còn phải chọn, đặt, cắt, giữ, và chịu trách nhiệm đến cùng với hình thức sau cùng mình đưa vào thế giới.

Từ tư cách một người làm nghệ thuật thị giác, tôi chỉ có thể nghiêng về một suy nghĩ như thế khi nhìn sang văn chương. Bảo vệ sự thuần khiết trong sáng tạo là một phẩm chất đẹp. Nhưng tự nó, phẩm chất ấy vẫn chưa đủ để làm nên giá trị của tác phẩm. Rồi cũng sẽ đến lúc người ta phải đặt tác phẩm của mình bên cạnh những tác phẩm có sự can dự của công nghệ mà tự hỏi, điều gì ở đây mới thật sự đáng kể. Điều đáng bảo vệ nhất có lẽ không phải là sự thuần khiết mang tính nghi lễ của thao tác, mà là sự hiện diện không thể thay thế của chủ thể. Cái giả, nếu có, có lẽ không nằm đơn giản ở việc dùng hay không dùng công cụ, mà ở sự vắng mặt của một ý thức sống, ở chỗ chủ thể rút lui và để cho công cụ chiếm lĩnh phần nhìn, phần nghĩ và phần lựa chọn vốn làm nên chiều sâu của hành vi sáng tạo.

Người ta hay nói chữ là máu thịt. Tôi nghĩ mỗi người viết sẽ tự biết máu thịt ấy nằm ở đâu. Nhưng từ phía mình, tôi hiểu một điều tương tự trong điêu khắc. Mồ hôi không chỉ nằm trên vật liệu, mà còn nằm trong những đêm trắng với bản vẽ, trong những do dự kéo dài, trong cảm giác phải đi tới hình thức ấy mà không thể khác. Nếu văn chương cũng có một thứ mồ hôi như vậy, thì tôi nghĩ nó hẳn không chỉ nằm ở thao tác gõ từng chữ, mà còn nằm trong quãng đường nội tâm dẫn người ta đến chỗ phải viết.

Có lẽ AI đang gây ra một cuộc đau không nhỏ trong văn chương, buộc văn chương phải tự định nghĩa lại mình và đi vào phần sâu hơn của chính nó, đồng thời khiến con người bớt đi những ảo tưởng về các giá trị mà trước đó họ từng nghĩ là bất biến.

Nói tới đây, tôi lại nghĩ đến Duchamp. Cái quyết liệt ở ông không nằm ở chuyện mang một cái bồn tiểu đặt vào không gian nghệ thuật, mà ở chỗ ông dám đặt lại tận gốc những câu hỏi. Nghệ thuật là gì, tác phẩm là gì, và ai có quyền quyết định giá trị của nó. Ông không chỉ gạt bỏ một vài tiêu chuẩn thẩm mỹ cũ, mà còn làm lung lay cả nền tảng từng chống đỡ cho chúng.

Tôi nghĩ văn chương rồi cũng sẽ phải đi qua một thử thách như thế. Và biết đâu trong những năm tới, văn chương cũng sẽ cần một “Duchamp” của riêng mình, không phải để phủ nhận ngôn ngữ, mà để buộc văn chương quay lại hỏi điều gì trong nó mới thật sự là cốt lõi cuối cùng. Khi kỹ thuật câu chữ không còn là nơi trú ẩn an toàn, cái gì sẽ còn lại? Giọng nói, lựa chọn, ý thức, trách nhiệm, hay một cách hiện diện khác của con người trong văn bản.

Rồi có thể sẽ đến lúc người ta bớt dừng lại ở chuyện tác phẩm có AI hay không, để quay về câu hỏi cốt lõi hơn là tác phẩm ấy có bao nhiêu độ sống, độ nhìn và sức nặng tinh thần. Ít nhất, lịch sử nghệ thuật cho thấy rằng sau những cú sốc ban đầu, câu hỏi quyết định thường không dừng ở công cụ, mà quay về tác phẩm, xem nó thực sự mang vào thế giới được điều gì.

Mồ hôi đáng quý, bàn tay đáng quý, thao tác đáng quý. Nhưng cái làm nên phẩm giá sâu nhất của nghệ thuật có lẽ không chỉ là dấu vết của lao động trên bề mặt tác phẩm. Nó còn là cái giá tinh thần mà một con người đã trả để đi tới quyết định cuối cùng. Công cụ có thể giúp ta làm nhanh hơn. Nhưng không công cụ nào có thể sống thay phần ấy.

Và có lẽ, trong mọi nghệ thuật, đó vẫn là nơi khó bị thay thế nhất.

Nhuộm tóc người trăm năm

Nguyễn Thái Dương

.

viết cho một tình yêu sắp tròn nửa thế kỷ (1976•2026)

.

Mới đầu dăm ba sợi

Rồi tháng ngày đuổi theo

Xoáy tóc dần bạc tới

Anh loay hoay cả chiều

.

Cái chiều cầm chiếc lược

Còn lọng cọng lọng cà

Chải xuôi và vuốt ngược

Bối rối hồi, cũng qua

.

Anh tận tình năm tháng

Em khen: rất… nghệ nhân

Tóc em phai từng mảng

Qua anh, xanh xanh dần

.

Sợi nào phai vì nghĩ

Sợi nào bạc vì suy

Sợi nào cũng hương nhụy

Đen trắng không so bì

.

Nhuộm xong rồi lại tỉa

Từng sợi tóc bạc thầm

Năm mươi năm tròn trịa

Đến chuỗi ngày hoa râm

.

Song hành cùng sóng cả

Nửa thế kỷ trời ban

Đôi tình xin cúi tạ

Nghĩa tơ tóc ngàn vàng…

.

Đập Đá quê nhà,

23g25 11.4.2026

Nỗi cô đơn có lửa

.Lê Văn Hiếu

.

Buổi sáng thức dậy tôi thấy tôi cô đơn

Bụng tôi nóng kinh khủng

.

Lẽ ra buốt lạnh

Cớ sao lại là lửa

.

Lửa không đốt cháy , lửa không thiêu rụi ,

Nỗi cô đơn chưa có ngọn

.

Cô đơn không có lưỡi , không có miệng ,

Không biết khóc cùng ai

.

Giá như nó cháy được

Rồi biến mất

.

Giá như nó hát được

Để dỗ dành

thế giới này dở cười dở khóc

.

Tôi biết là tôi bị bỏ quên

Bỏ quên từ kiếp trước

.

Tôi một mình

Tôi sờ nắn chính tôi

Tôi – lưu cửu …

Một ý nghĩ vụt bay

Trần Minh Nguyệt

.

một ý nghĩ vụt bay

đọng thành giọt sương

trên phiến lá mỏng

trong lòng bàn tay khuya

một điều gì vừa tắt

không tiếng động

cánh cửa

khép rất khẽ

giấc ngủ

trôi sâu

.

một ý nghĩ vụt bay

vướng

bờ rào danh vọng

sáng vừa chạm

màn còn chưa kịp mở

đã lộ ra

những đường gân câm lặng

âm thanh vỡ vụn

rơi

không ai nhặt

mọi thứ thấm dần vào cát

chậm

đến mức không còn dấu vết

mở ra

một vòm mê lộ

không lối quay về

.

một ý nghĩ vụt bay

khẽ tựa

bên cánh cửa hạnh phúc

ánh sáng

không bùng lên

chỉ rạn ra

như một giấc mơ vừa tỉnh

đi ngang

một miền trong suốt

chạm

mà không giữ

.

một ý nghĩ vụt bay…

để lại

một khoảng không biết nói

Tạ từ Hà Nội

.

Triệu Từ Truyền

.

ngỡ chia tay lại tạ từ
Hà nội ơi sắp biệt mù như xưa
thương hàng bia đá dưới mưa
đội thời gian hỡi dáng rùa kim qui

.
cho đời sau hiểu làm chi
ngàn năm thao thức thịnh suy lẽ đời
giữa xuân mưa nhẹ lá rơi
gió yên hồ lặng nín lời chia xa.

.
còi tàu vang vọng bi ca
giữa Hà nội sớm chia ra lý tình
phố đa cảm, phố đa tình
phố suy tư, phố thông minh, phố buồn

.
đi qua đường phố cội nguồn
ở chưa đành ở, đi suông sao đành
hỡi người em gái hà thành
mắt đầy sử tích trong lành ước mơ

.
môi thơm ngôn ngữ nhà thơ
gọi nhân tài sống dật dờ trong sương
dù lặng lẽ rất thân thương
dù sâu kín cứ tỏa hương nồng nàn

.
anh là đứa bé về làng
mang dòng máu của Thăng Long phiêu bồng
em nhìn anh lớn khôn không
sao còn ngây dại giữa lòng tổ tiên

.
anh xin lạy tạ thánh hiền
tạ Hà nội, tạ vô biên cơ đồ
tạ hoa, tạ miếu, tạ hồ
tạ môi, tạ mắt, hóa thơ tạ từ

22/3/1989 – Hà nội

Hoa ngày thường

Từ Hoài Tấn

.

Tôi yêu những cành hoa

Trong một ngày rất bình thường

Một ngày như bao ngày khác

Trên thế gian này không phân biệt là ngày

Ngày bình thường và hoa bình thường như vốn vậy

Như mùa đông sẽ khô trên cành

Qua mùa xuân sẽ đâm chồi nẩy lộc

Và sẽ ra hoa

Hoa bình thường của mùa

Như trời đất đặt để

Không phải do con người tạo nên

.

Trong một ngày rất bình thường

Tôi yêu loài hoa cũng bình thường

Như cơm ăn nước uống

Sáng nay tôi bước ra vườn

Tôi nghe trong gió lời thì thầm

Dịu dàng như tiếng yêu

Của người thanh niên tuổi mới hai mươi tràn đầy ước mơ cuộc sống

Yêu em

Như yêu một cánh hoa bình thường

Là cánh hoa có mùi hương vĩnh cứu

.

Hoa của ngày thường

Hoa của trước và sau

Nhập nhoạng ngày

Đặng Thiên Sơn

.

Có những buổi chiều rất lạ

Ngồi chơi với rét hiên nhà

Thấy bao nhiêu là nước mắt

Tràn qua cả cánh đồng hoa

.

Có những buổi chiều phố xá

Thèm ơi những phút la cà

Bỗng ngày rỗi hơi mặc cả

Thế rồi rảo bước ngang qua

.

Có những buổi chiều chắp vá

Khâu đầy chiếc áo thời gian

Cơn mưa gieo ngày trái vụ

Nở ra bao tiếng thật thà.