Feeds:
Bài viết
Bình luận

Houston – Đôi mắt người xưa

Vũ Thanh

HOUSTON – ĐÔI MẮT NGƯỜI XƯA

 *

Ta trở lại Houston mùa nắng quái

Gặp bạn bè thân ái của trường xưa

Bốn mươi năm bao kỷ niệm để vua đùa

Dẫu dâu bể tóc xanh nay điểm bạc

Giữa oi nồng trời Houston nắng rát

Bỗng em về tươi mát buổi đoàn viên

Vẫn dịu dàng – vẫn ánh mắt thân quen

Không ước hẹn mà nên duyên kỳ ngộ

Bốn mươi năm giữa dòng đời dông tố

Tạ ơn em đã giữ vẹn ánh mắt xưa

Biết không em – vui lắm nói sao vừa

Anh cứ sợ – giờ thì lòng mở hội

Anh chỉ giận – gặp em không còn bối rối

Cũng đành thôi – năm tháng qúa dãi dầu

Nhưng anh mừng ta được gặp lại nhau

Em có khác – chỉ duy đôi mắt đó

Đôi mắt của bốn mươi năm vò võ

Cảm ơn em – đôi mắt của người xưa

Của một chiều em bước nhỏ dưới mưa

Anh nhắc lại và nhẹ nhàng trách khẽ

“Không!” Em bảo – “hãy để tình dang dở

Để anh buồn, anh viết khúc tình ca”

Ôi ngọt ngào lời nói điêu ngoa

Anh bỏ mặc – bởi em là đôi mắt

Đêm hạnh ngộ gửi đến em khúc hát

Bản tình buồn anh viết tặng riêng em

Bốn mươi năm dài thầm kín gọi tên

Sợ em khổ – anh chỉ dám đề K.M.

Bốn mươi năm câu ước nguyền chưa phỉ

Ta lạc loài – nay đất khách gặp nhau

Buồn hay vui – khi tóc đã đổi màu?

Lời từ biệt – em bảo “mình là bạn”!!!

Cảm ơn em – Ôi! vui sao nghèn nghẹn

Mai anh về viết tiếp bản tình ca

Chuyện tình buồn – hội ngộ để chia xa

Và anh sẽ viết lên lời thâm tạ

Tạ ơn Chúa đã ban em đôi mắt

Tạ ơn người mang hạnh phúc đến em

Tạ ơn em

Riêng anh – bóng xế đợi bên thềm!

Vũ Thanh

Viết tặng đôi mắt ngày xưa K.M.

Houston 2016

Đại hội học sinh Cường Để – Nữ Trung Học Quy        Nhơn.

Con cừu thất lạc

Truyện ngắn.

Anne Carson. Nobel Prize 2026

Ngu Yên dịch

.

.

Trời lạnh trong bóng tối; chúng tôi đến sớm hơn dự định. Tôi không thích những bữa tiệc. Bà ngoại của bạn đứng trong bếp, trông như một nhân vật thần thoại, hai tay khoanh trước chiếc tạp dề. Bạn nói, cần đi quanh giao tiếp. Một lúc sau, bạn đến bên tôi, đang ngồi trên bậc thềm. Bạn vui lắm. Kể tôi nghe bao nhiêu dự định: luyện tập để trình diễn sân khấu hòa nhạc, trải qua những cuộc tuyển chọn khắc nghiệt, đi khắp thế giới. Trên trán bạn linh hồn sáng lên. Tôi chẳng biết góp ý điều gì. Tôi thành thật cầu nguyện. Biết đâu một cơn bão sẽ ngăn bước chân bạn. Nhưng rồi đêm vẫn trong trẻo. Bạn cứ nói mãi. Rạng đông bắt đầu. Tôi có ước muốn thầm kín: lặng lẽ nghiêng người về phía bạn, như rơi vào một mặt hồ, rồi biến mất. Nhưng bạn đứng dậy, phủi bụi trên người.

Ngày hôm sau, tôi đeo kính đen, theo lời bạn dặn, rời khỏi nhà, đi xuống bờ biển. “Bạn nghĩ một bài thơ đích thực sẽ cứu được bạn,” hôm ấy ở buổi dã ngoại bạn đã nói với tôi. “Đó là một sai lầm!” Chỉ một chim én nhỏ, tôi nghĩ, trong lúc bước xuống biển. Nước lạnh như ánh sao. Một buổi sáng dài vô hạn. Bài thơ của tôi chẳng ra sao cả. Đón xe buýt đến một cuộc đấu giá bán đại dương cầm.

“Chuyện gì đã xảy ra với con gấu biết hát của Keats?” là đề tài mà vài người tôi gặp tại cuộc đấu giá nêu lên, một đề tài có vẻ gần với ngành âm nhạc học, khiến tôi bỗng nhớ bạn. Không, không phải Keats có một con gấu biết hát, là Byron, tôi muốn nói thế nhưng làm thinh. Những cây đàn baby grand được bán với giá bảy ngàn đô la. Tôi nghĩ đến bạn, nghĩ đến cách bạn từng làm tôi choáng váng, hàm răng của bạn cũng từng làm tôi xây xẩm. Cuộc đấu giá kéo dài mãi. Đêm buông xuống. Tôi sống sót qua trọn một ngày không có bạn. Để tôi ghi lại một điều tốt đẹp về việc hiu quạnh một mình: không còn Bataille nữa. Bạn lúc nào cũng trích dẫn những câu đại loại như: “Eros nói vâng với tình yêu cho đến tận cái chết.” Nhảm nhí, tôi nghĩ. Chẳng phải chỉ là bạn muốn luôn giữ phần thắng trong tay sao?

Bạn đã đánh mất thế thượng phong trong chính công việc của mình, công việc nghiên cứu âm nhạc, theo một cách kỳ lạ, trong cuộc cạnh tranh với chính bản thân. Bạn kể, bà ngoại đã tìm thấy cuốn sổ nhỏ của bạn từ hồi lên tám hay chín tuổi. Trên một trang giấy có vài ô nhịp ký âm, hạt nhân của tất cả những gì bạn khám phá sau này về âm nhạc và sự thật. Đoạn nhạc này rực sáng bởi chính bạn. Bạn không bao giờ có thể vượt qua nó, thậm chí không thể đạt tới nó lần nữa. Bạn cắn lưỡi vì ghen tị rồi cất cuốn sổ đi. Tôi nhớ hôm đó là buổi chiều âm u cuối đông, chúng ta đang đi trong rừng. Cây cối đứng thẳng trong những vũng tuyết tan, vừa xám độm vừa vàng.

Lần đầu chúng ta gặp nhau, tại một bữa tiệc sau buổi diễn thuyết, Sartre có mặt ở đó, hoặc một người nào đó tự nhận mình là Sartre. Ông ta mặc áo len dày. Những người hâm mộ ông mặc áo lông thú hoặc da cừu. Đêm đó, bạn vùi mặt vào giữa hai đùi tôi suốt một giờ nhưng không thể, như người ta vẫn nói, làm được gì. Tôi đi bộ về nhà lúc khoảng bốn giờ sáng. Tuyết lấp lánh như một chiếc khăn tay mới tinh vừa được thả xuống thị trấn. Đi bộ một mình về nhà luôn là phần tôi thích nhất sau khi làm tình.

Có những ngày tôi cảm thấy sự vô định hoàn toàn đến mức tưởng như mình chỉ còn treo lại bằng một góc. Tâm trạng thì có ý nghĩa gì? Có một triết gia, hình như Heidegger, từng nói nếu không có tâm trạng, chúng ta sẽ không nhận ra mình đang sống. Tôi nghĩ ông muốn nói đến những tâm trạng tồi tệ; khi vui, tôi chẳng nhận thấy gì ngoài vẻ đẹp của chiếc mũ mình đội hoặc tốc độ chiếc xe máy. Nhưng nghĩ kỹ lại, tôi nghi ông muốn nói đến ranh giới giữa những tâm trạng, khoảnh khắc chuyển đổi. Bởi thực sự, đó mới là điều kỳ diệu. Cứ cho là bạn đang cào đáy giếng, tâm hồn trống rỗng, thảm hại, trống không, sẵn sàng buông xuôi, rồi đột nhiên nó chuyển đổi. Ranh giới mở ra. Nỗi kinh hoàng tan biến. Thế giới bật trở lại đúng vị trí. Điều ấy xảy ra thế nào? Ai điều khiển nó? Tại sao tôi không tin nó sẽ xảy ra lần nữa? Bài thơ tội nghiệp đã chết.

Nhân tiện, bài thơ của tôi nói về những nhà nghỉ ven đường. Tôi thường cảm thấy những khoảng thời gian đẹp nhất của chúng ta đã trải qua ở các nhà nghỉ. Những khoảnh khắc đẹp nhất ở nhà nghỉ là khi chúng ta bơi trong bóng tối ở hồ bơi. Ánh sáng màu ngọc lam dưới nước, thứ ánh sáng tôi vô cùng yêu thích.

Trong những chuyến đi đường dài, tôi có nhiệm vụ tìm và chọn nhà nghỉ. Tôi đã chọn sai vài lần, như lần chúng ta lái xe đến một thị trấn giữa sa mạc để xem người bạn diễn viên trong một vở kịch mới. Bên cạnh nhà hát là nhà nghỉ địa phương, quầy tiếp tân do một cậu trai Pakistan có một con mắt hoang dại quản lý, cùng một người phụ nữ, sau này mới biết là người dì, tất tả đi quanh chiếc xe lăn của cậu. Nhà nghỉ tệ, căn phòng tệ đầy ruồi, vở kịch tệ mang tên “Magic Madrigal”.

Với tôi chẳng có gì kỳ diệu. Nhà hát nhỏ xíu. Tôi có thể nhìn thấy các diễn viên đang thở, chuẩn bị để thở. Tôi có thể thấy họ bắt gặp ánh mắt nhau. Điều đó khiến tôi ngượng ngùng, có phải đó là từ đúng không? “Khán giả lúc nào cũng là kẻ đứng lầm chỗ,” bạn nói. “Thế này thì sao?” tôi nói. “Thế này nhé: tất cả diễn viên trên thế giới chỉ việc bước đi quanh một căn phòng. Rồi bước ra khỏi căn phòng. Rèm! Hết! Không còn kịch nữa!” Bạn cười. Nhưng tôi lại nghĩ về cậu trai ở nhà nghỉ, người chủ trì cái sân khấu nhỏ bé của quầy tiếp tân với chiếc máy tính đặt ngang tầm xe lăn và một chiếc máy pha cà phê dành cho khách, bữa sáng kiểu Âu châu, trong khi dì cậu đi tới đi lui như một nhân viên hậu trường, mang theo những chiếc nĩa nhựa và những gói mứt cam nhỏ. Nhìn nét mặt họ, tôi đoán hai người biết khá nhiều về đau khổ.

Tôi tự hỏi họ sẽ nghĩ gì về “Magic Lyre”, một vở kịch về những quý tộc ở Buenos Aires hoài niệm nước Ý và nước Áo? Tôi ghét hoài niệm. Có lẽ diễn xuất vốn dĩ đã mang theo hoài niệm, hoài niệm về nỗi đau, thứ từng có thật ở một nơi nào đó khác. Trên xe, tôi đang đọc “Mansfield Park” của Jane Austen, trong đó nảy sinh một tình thế khó xử quanh chuyện đóng kịch: hai nhân vật đáng ngờ nhất của cuốn tiểu thuyết đề nghị tổ chức “kịch nghiệp dư” cho một nhóm thanh niên trong nhà. Những người khác tỏ ra miễn cưỡng. Fanny, nhân vật nữ chính, nói, cô ghét diễn kịch. Hai buổi tập là tất cả những gì vở diễn đi được trước khi bị Người Cha dẹp bỏ, khi ông trở về sớm từ nước ngoài: bị bắt gặp giữa buổi tập, các diễn viên xấu hổ tan hàng và không thể nhìn thẳng vào mắt Cha trong nhiều tuần sau.

Chúng tôi rời nhà nghỉ sớm hơn một ngày, trong tâm trạng áy náy. Cậu trai và dì cậu dường như không ngạc nhiên. Họ nói dù sao chúng tôi cũng phải trả đủ tiền, và chúng tôi đã trả. Lúc ấy là giữa buổi sáng trong quầy tiếp tân, đèn bật rõ, rèm kéo kín, máy tính đang chạy đều đều. Không phải mọi sự diễn đều là hư cấu; nếu bạn là cô dâu, quản lý nhà hàng hay người khiêng quan tài, bạn đang đóng một vai. Những hình thức của nhân tính được trình diễn. Bạn và tôi đã nói với nhau những điều như thế trên đường về. Nhưng tôi nhớ đến câu chuyện về diễn viên Polos vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, người đã nổi tiếng nhờ đóng lại vở “Elektra” của Sophocles từ thế kỷ thứ năm trước Công nguyên.

Polos đóng vai Elektra, người trong một thời khắc then chốt của vở kịch đứng ôm một chiếc bình mà nàng tin là chứa tro cốt của người anh Orestes. Thực ra chiếc bình là đồ giả, chẳng có tro cốt nào bên trong, và người mang chiếc bình cùng những lời dối trá đến cho nàng chính là Orestes. Bạn sẽ phải đọc vở kịch để biết những trò rắc rối ấy ăn nhập với cốt truyện ra sao, nhưng bạn có thấy chiếc bình đó, chiếc bình không chứa tro cốt được cho là có tro cốt, chẳng phải là một ẩn dụ tinh tế cho chính sân khấu hay sao? Tất cả những chiếc bình đều là giả! Tất cả những nàng Elektra than khóc đều đau lòng một cách ngây thơ! Và Polos, một diễn viên nổi tiếng vì “lời thoại rõ ràng và cử chỉ duyên dáng”, đã quyết định vặn thêm một vòng nữa vào nghịch lý của những giọt nước mắt sân khấu.

Bởi gần đây Polos đã phải chịu một mất mát. Thế là, khi được yêu cầu đóng vai Elektra, ông khoác lên người bộ đồ tang của nàng, cầm chiếc bình chứa tro cốt chính con trai mình, mang đến cho khán giả không phải nỗi đau giả vờ mà là nỗi đau có thật của một người cha.

Tôi đau đầu khi nghĩ đến biết bao tầng sự thật và dối trá móc nối vào nhau trong cảnh tượng này. Tro cốt thật và tưởng tượng. Diễn viên, diễn xuất và đau buồn. Những người chị là những người cha. Những người đàn bà là đàn ông. Sự giả tạo nằm trong câu chuyện, và sự giả tạo được đời sống thật thêm vào. Những chiếc bình, vật dụng, mô phỏng. Khán giả ngơ ngác, thích thú, bị sân khấu đánh lừa, bị đời thực đánh lừa. Polos đi bộ về nhà sau nhà hát lúc khuya, vẫn còn nguyên lớp hóa trang trên mặt, chiếc bình giấy đựng tro cốt nằm trong ba lô. (Đoạn này viết hay quá.)

Sau chuyến đi đó, tôi trở thành người mất ngủ. Nhiều đêm, tôi ngồi trong bếp đọc những lá thư của Keats, người cũng mắc chứng chân không yên giống tôi. Một con ngài cô độc bay vòng quanh ngọn đèn. Đó là năm 1819, năm những lá thư đắm đuối, mâu thuẫn đến mê muội của Keats gửi cho người yêu Fanny, khi có lúc ông kéo nàng vào trái tim, có lúc lại đẩy nàng ra xa. Ông nói nàng đã “hấp thụ” ông; ông bảo ông khao khát được “tự do như một con hươu”. Ông đặt nàng bên cạnh Cái Chết như thứ xa xỉ cuối cùng còn lại của mình. Thật sự ông cảm thấy gì? Chắc chắn ông muốn được yêu. Chắc chắn ông thích thú với việc viết những lá thư đó, một mình trong căn phòng thuê nơi ông đến để ép mình phải viết, ông thực sự viết, mỗi ngày, với một văn phong cô đọng, tập trung, nhưng đêm vẫn còn đó. Khi yêu, chẳng phải tất cả chúng ta đều chơi một trò chơi nho nhỏ hay sao? Một bên là thiên tài của cảm xúc nguyên sơ; bên kia là những bộ quần áo hóa trang đang phơi trên dây.

Keats đói khát theo quá nhiều hướng. Ngoài chuyện các bác sĩ bắt ông ăn kiêng đến đói lả để giảm lượng máu trong người, ông còn muốn tình yêu đích thực; ông muốn nhiều hơn hai bài điểm sách khi xuất bản một cuốn sách; ông muốn bán được sách, có thu nhập; muốn được ngưỡng mộ; ông muốn có những gì Byron có! Tất cả những điều ấy làm tâm trí ông tối lại.

Tôi nhớ khi chứng mất ngủ lần đầu bám lấy mình, tôi đã đi xin lời khuyên từ những người. “Bạn có thể đếm cừu,” một người bạn nói, “nhưng đừng đếm bằng ý thức, hãy đếm bằng mắt.” Anh ấy là một Phật tử. “Và đừng mất công đếm những con cừu thất lạc,” anh nói thêm. Lúc đó tôi tưởng đó chỉ là một câu đùa, nhưng thật ra, Keats còn đang làm gì khác ngoài việc suốt đêm đếm những con cừu thất lạc? Bởi toàn thân đều đang khóc.

Đời sống vốn ngẫu nhiên. Tôi chẳng bao giờ biết những con nào đã biến mất. Có một tiếng tích của buồn, rồi một tiếng tắc của buồn, thế là chúng ta đi, và thế là chúng ta đã đi.

MISSING SHEEP

By Anne Carson

It was cold and dark; we arrived too fast. I hate parties. Your grandmother stood in the kitchen, looking mythological, hands crossed on her apron. You said you had to mingle. Later, you came up to me, where I was sitting on the stairs. You were so happy. You told me all your new plans, to train for the concert stage, undergo harrowing auditions, travel the world. On your forehead shone your soul. I had nothing to say. I was praying hard. A storm might prevent you from leaving. As it turned out, the night remained clear. You talked on. Dawn began. This was a secret wish of mine: to tip quietly forward into you, as into a lake, and vanish. But you were already standing, brushing yourself off.

Next day, I donned dark glasses (your advice), left the house, and went down to the shore. “You think a real poem will save you,” you had said to me that day at the picnic. “This is an error!” You puny swallow, I thought. I walked into the sea. It was as cold as stars. What a long morning. My poem was going nowhere. I took the bus to an auction of grand pianos.teads-resize

Whatever happened to Keats’s singing bear? was a topic raised by some fellows I met at the auction, a musicology-adjacent topic, so I suddenly missed you. No, it wasn’t Keats who had a singing bear, it was Byron, I wanted to say but did not. Baby grands were going for seven thousand dollars. I thought of you, how you shocked me, your teeth shocked me. The auction took forever. Night fell. I had survived one complete day without you. And let me record a good thing about being alone—no more Bataille. You were always quoting stuff like “Eros is saying yes to love all the way to death.” Rubbish, I thought. Wasn’t it just that you wanted to keep the upper hand?

You had lost the upper hand in your own work, your musicological work, in a weird way—in competition with yourself. You said that your grandmother had unearthed a small notebook of yours from the time when you were eight or nine years old. On one page there were a few bars of notation—the kernel of all your subsequent insights into music and truth. It blazed with you, this bit of score. You could never better it, or even equal it. You bit your tongue in envy and put the notebook away. I recall it was evening, late winter, and we were walking in a wood. Trees stood up straight in pools of melted snow, dark and gold.

First time we met—at a party after a lecture—Sartre was there, or someone who said he was Sartre. Heavy sweater. His fans wore fur coats or sheepskin. Later that night, you spent an hour with your face buried in my genitalia but could not, as we say, perform. I walked home about 4 A.M. Sparkly snow like a fresh handkerchief had been dropped on the town. Walking home alone was always my favorite part of sex.

There are days when I get a sense of such total aimlessness I feel I am just hanging by one corner. What is the importance of moods? There was a philosopher, I think Heidegger, who said that if we didn’t have moods we wouldn’t notice we were alive. I take it he meant bad moods; in a good mood I don’t notice much beyond the beauty of my hat or the speed of my motorbike. But, on second thought, I suspect he meant the border between moods, the shift. Because, really, that is the miracle. Let’s say you’re grinding the bottom of the well, soul hollow, abject, void, ready to give up—then all of a sudden it shifts. The border opens. Dread dissolves. The world snaps back. How does this happen? Who is in charge of it? Why do I not believe that it will ever happen again? Poor dead poem.

My poem, incidentally, is about motels. I often feel that our best times were spent at motels. And our best times at motels were spent swimming in the dark in the motel pool. Turquoise underwater illumination, my favorite kind of light.

On road trips, it was my job to map out the motels beforehand. I was wrong a few times, like when we drove to a town in the desert to see my friend, the actor, in a new play. Next to the theatre glowed the local motel, its front office administered by a Pakistani boy with one wild eye and a woman, who turned out to be his aunt, bustling around his wheelchair. Bad motel, bad room full of flies, bad play called “Magic Madrigal.” Not magic for me. Tiny theatre. I could see the actors breathing, getting ready to breathe. I could see them catch one another’s eye. It embarrassed me—is that the right word? “The audience is always the one out of place,” you said. “How about this,” I said. “How about all the actors in the world simply pace into a room. Then pace out of the room. Curtain! The end! No more plays.” You laughed. But I was wondering about the boy at the motel, presiding over the little theatre of the front office with a computer at wheelchair level and a coffee machine for the guests (continental breakfast included), his aunt coming and going, like a stagehand, with plastic forks and little packets of marmalade. To judge by their faces, those two knew something of suffering. How would they like “Magic Lyre,” I wondered, a play about aristocrats in Buenos Aires, nostalgic for Italy and Austria? I hate nostalgia. Perhaps acting is innately nostalgic—nostalgic for human suffering, which used to be real somewhere else. In the car, I’d been reading Jane Austen’s “Mansfield Park,” in which a dilemma arises over playacting: the novel’s two most dubious characters propose “amateur theatricals” to a houseful of young people. The others express reluctance: Fanny (heroine) says she abhors acting. Two rehearsals are as far as the production gets before it is quashed by Father, who returns early from overseas: caught mid-rehearsal, the actors suffer shattering shame and can’t look Father in the eye for weeks.

We departed the motel a day early, feeling bad. The boy and his aunt seemed unsurprised. Said we’d have to pay the full amount anyway, which we did. It was midmorning in the front office, lights on, curtains drawn, computer humming. Not all acting is fictional; if you are a bride or a maître d’ or a pallbearer, you act a part. Forms of humanity are represented. You and I said things like this to each other on the drive home. But then I recalled the story of the fourth-century-B.C. actor Polos, who made his name in a revival of Sophocles’ fifth-century play “Elektra.” Polos played the part of Elektra, who, at a certain crucial moment in the play, stands holding an urn, which she believes contains the ashes of her brother, Orestes. In fact, the urn is a fake—it contains no ashes, and the man who delivers the urn and the lies is Orestes himself. You will have to go and read the play to discover how these shenanigans make sense within the plot, but don’t you think that this urn (not) full of (alleged) ashes is a dainty allegory of theatre itself? All the urns are fake! All the keening Elektras heartbreakingly silly. And Polos, an actor celebrated for his “clear delivery and graceful action” (Aulus Gellius), decided to give one more turn of the screw to this paradox of actors’ tears.

For Polos had recently suffered a loss. And so, when asked to play the part of Elektra, he clad himself in her mourning garb and, holding the urn that contained the ashes of his own son, gave to the audience not imitation sorrow but unfeigned father’s grief.

I get a headache thinking about how many layers of truth and lie are hooked together in this scenario. Ashes, real and imaginary. Actors, acting and grieving. Sisters who are fathers. Women who are men. Fakery that is part of the story, and fakery added on by real life. Urns, props, mimesis. Audiences bemused, delighted, hoodwinked theatrically, hoodwinked for real. Polos, walking home from the theatre late at night, still wearing his makeup, ashes in a cardboard urn in his backpack.

After that trip, I became an insomniac. Often, I sit in the kitchen at night reading the letters of Keats, who suffered, as I do, from restless-leg syndrome. A lone moth circles the lamp. It is 1819, the year of Keats’s swooningly inconsistent letters to his girlfriend, Fanny, whom he alternately beckons to his heart and thrusts off. He claims she has “absorb’d” him;

he tells her he longs to be yet “free as a stag.” He pairs her with Death as his last remaining luxury. What does he really feel? Certainly he wants to be in love. Certainly he enjoys crafting these letters—alone in a rented room where he’s gone to force himself to write, and write he does, in concentrated style, every day, but still there are the nights. We all play a bit of a game when in love, don’t we? On the one hand, there is the genius of raw emotion; on the other, costumes drying on the clothesline.

Keats was hungry in so many directions. Besides the fact that his doctors had him on a starvation diet to reduce his blood, he wanted true love; he wanted more than two reviews when he published a book; he wanted sales, an income; adoration; he wanted what Byron had! It darkened his mind. I recall, when insomnia first took hold of me, seeking advice from others. “You could count sheep,” one friend said, “but don’t count consciously, count visually.” (He’s a Buddhist.) “And don’t bother counting missing sheep,” he added. I took this to be a joke at the time but, really, what else was Keats doing but counting missing sheep all night? For there is a weeping of the whole body. And life is haphazard. And I never know which ones are missing. And there is a tick of woe and a tock of woe, and so we go, and so we did.

Xa bóng Mẹ

.Trần Viết Dũng

.

Mẹ- hạt- bụi- mênh- mông- mặt- đất

Mặt đất- hạt- bụi- mênh- mông- thiên- hà

.

Hai hạt bụi suốt đời ta qua chẳng hết

Đêm nhìn trời đụng cõi bao la

.

Mẹ đau đớn hạt- buồn- con tách vỏ

Nén hơi dài ru tròn giọng dân ca

.

Ta lêu lổng Mẹ còng lưng dấu hỏi

Mắt hiền từ, thằng bé hệt dáng Cha

.

Ta dẫm đạp mặt đất đau dấu chấm

Bước cô đơn lưu lạc giữa quê nhà

.

Rồi một ngày ta về với Mẹ

Ôm vào lòng Mặt Đất lại ru ta

Thả diều trong đêm.

Đặng Phú Phong

.

Đêm nay tôi ngồi nhìn thành phố

Qua ô cửa kính mờ hơi sương

Tôi nghe tim mình rơi rất khẽ

Xuống đáy cốc cà phê còn nguyên.

.

Tôi không thể nói cho ai hiểu

Cảm giác mình đứng giữa đám đông

Như ngọn đèn quên bật cho đêm

Người đi qua, không ai ngoảnh lại

.

Sao cứ yêu người không cùng tần số

Tiếng lòng tôi, nàng nghe thành gió

Tôi gửi tình như thả diều xa

Dây đứt rồi , chiều buông, diều mất.

.

Trên tay hiện tấm bản đồ nhàu nát

Chỉ lối về một vùng đất xa xưa

Giữa phố mới, nhà cao lấp lóa

Tôi tìm hoài không thấy được tôi.

.

Chuyến xe đêm cuối cùng đã chạy

Bến tôi đứng giờ hóa bụi mờ

Tôi không đi, cũng chưa từng đứng lại

Giữa hai bờ mộng – thực, tôi đâu?!

Chiều ngang qua Sài Gòn

.Mộc Miên

.

Chiều ngang qua Sài Gòn

Bỗng thơm mùi hoa sữa

Chiều trên cây tình buồn

Tình vừa qua mùa vỡ

Hương bay về nghìn trùng

Phố đông người xa lạ

.

Chiều ngang qua Sài Gòn

Tháng mười vương nếp áo

Trên tay ôm nỗi niềm

Dưới chân đường cổ đạo

Ai hát giữa mưa bay

Để bên này nắng cháy

.

Chiều ngang qua Sài Gòn

Nồng nàn hương hoa sữa

Bánh xe đời gập ghềnh

Lăn tròn trong ký ức

Phía sau lưng anh giờ

Ai choàng tay ngày lỡ

Dẫu tình đã xa xôi

Vẫn vui như thuở ấy

.

Em băng qua mùa em

Phất hương mùa ở lại

Vòng tay nào đã quên

Ngủ đi, tình khờ dại

Thả buồn theo nước trôi

Trôi đi, đừng lên tiếng

/

Người bây giờ chắc quên

Loài hoa thơm bốn cõi

Ngủ yên

Nguyễn An Đình

.

NGỦ YÊN

.

Bến bờ nào thiên cổ

Chờ đợi bóng hình ai

Mốt mai về cố thổ

Ngủ yên giấc mộng dài.

.

SUỐI VÀNG CA

.

Tình dương gian hàng hàng

Trước sau héo úa tàn

Cảm thương theo mấy cõi

Niềm đau lệ ứa tràn

.

CHIM BÓI CÁ

.

Trên đầm sen quê nhà

Những con chim bói cá

Vùn vụt như sao sa

Bọt nước vung lả tả.

.

BAY MIẾT

.

Mừng gọi hoa nắng ơi

Chớm chồi xanh lộc biếc

Ta theo lá vàng rơi

Bám vô thường bay miết.

.

PHÙ DU

.

Phù du bay về đâu

Bỏ nhân tình bối rối

Lành lạnh cơn mưa sầu

Linh hồn đau mỗi tối

.

ĐỒNG SƯƠNG

.

Ta nhìn bóng tà dương

Thấy đất trời nghẹn thở

Băng vội qua đồng sương

Bông cỏ tưng bừng nở

.

LỜI QUÊ

.

Cõi người ta một kiếp

Mãi thơ thẩn ngàn sâu

Lời quê xin nhắn gửi

Trần gian vạn cổ sầu

.

CHUỒN CHUỒN BÔNG

.

Hoa nắng rụng đầy đồng

Mây trắng trôi bềnh bồng

Ngọn gió nồm thổi mát

Ô kìa chuồn chuồn bông.

.

GÁNH LÚA

.

Trưa nắng đường làng đất

Bũn trào nóng kẽ chân

Nón cời gió lật bật

Gánh lùa chạy rần rần.

.

CHIỀU BUỒN

.

Chim bìm bịp kêu chiều

Quê xưa mái xanh rêu

Trăng đêm chưa về kịp

Cỏ truông nằm buồn thiu

.

Làng An Ngãi, Bình Định ngày 9-10-2026

Đồng xu nhỏ và những chuyến xe

Truyện ngắn của Trương Văn Dân

.

Lâu lắm, có lẽ sau gần 30 năm, tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau

.

Tình cờ gặp lại vào một buổi sáng mùa thu, cả hai ghé vội vào một quán bar gần sân ga Lambrate. Bao nhiêu chuyện cũ, chuyện mới cứ thế tuôn ra.

Khi chúng tôi đang trò chuyện, có một người đàn ông bước vào.

Ông ta chắc tuổi cũng khoảng tám mươi. Người gầy, lưng hơi khom, mái tóc hơi thưa, bạc trắng nhưng được chải cẩn thận. Ông mặc một chiếc áo khoác cũ, hơi sờn nhưng sạch sẽ. Đôi giày dưới chân ông đã mòn, nhưng như mới vừa được đánh bóng.

Ông đến trước quầy và gọi một ly cà phê espresso.

Ông không gọi bánh sừng bò, cũng không lấy bánh sandwich. Chỉ một ly cà phê nóng.

Ông mở một chiếc ví da nhỏ màu đen và bắt đầu đếm tiền lẻ trên quầy.

Mười xu.

Năm.

Hai.

Những ngón tay ông, không hiểu vì lạnh hay tuổi già, run rẩy.

Một đồng xu tuột khỏi kẽ tay ông và rơi xuống sàn nhà.

“Xin lỗi!”, ông khẽ nói. “Tôi sẽ nhặt lên ngay lập tức”.

Đứng sắp hàng phía sau ông cụ có một chàng trai tuổi chừng ba mươi. Anh khoác bên ngoài chiếc áo khoác đắt tiền, tay đeo đồng hồ sang trọng, đôi giày được đánh sáp cẩn thận. Anh cầm chiếc điện thoại iPhone đời mới trên tay, như thể cả thế giới này đang phụ thuộc vào những gì có trong đó.

Anh khẽ thở dài, lắc đầu, cau mặt khó chịu.

AdvertisementsX

Giọng ông cụ lắp bắp, nhỏ và không mấy ai nghe rõ.

“Chỉ một lát thôi mà!”, ông nói như thì thầm.

Chàng thanh niên gượng cười mà nét mặt không vui.

“Nếu ông không đủ tiền cho một ly cà phê thì không nên gây lộn xộn, tốt nhất là tự pha ở nhà”.

Một sự im lặng, nặng nề rơi xuống trong quán bar.

Nhân viên pha chế quay mặt nhìn vào máy pha cà phê.

Một người phụ nữ cầm lấy chiếc túi xách đang đặt trên bàn và đưa mắt nhìn ra ngoài.

Mọi người đều đã nghe và thấy.

Nhưng không ai muốn can thiệp.

Ông cụ cố gắng cúi người xuống để nhặt những đồng xu. Nhưng trong cử động đó, chiếc ví nhỏ của ông ta rơi xuống.

Những đồng tiền xu lẻng kẻng, lan rộng trên sàn.

Chúng lăn xuống dưới quầy, gần chân ghế, giữa những chiếc giày của khách.

Những tiếng động phát ra nhỏ thôi nhưng tiếng dội trong căn phòng lúc đó tưởng như rất lớn.

Chàng thanh niên nhìn vào một đồng xu gần mũi giày của mình rồi dùng chân đá nó ra xa.

“Thật đáng chán!”, anh ta nói lớn.

Ngay lúc đó tôi thấy Franco đứng dậy.

Không đột ngột. Không có cử chỉ gì để làm mọi người giật mình. Hay sợ hãi. Như thể anh tự dưng đứng dậy, vì cảm thấy xấu hổ nếu cứ ngồi im.

Anh bước đến, cúi người nhặt một đồng hai xu dưới đất và đặt nó lên quầy.

Rồi anh nhìn thẳng vào mắt chàng trai.

“Bây giờ mời anh nhặt lên những đồng xu khác”.

Chàng thanh niên sững sờ, mở to mắt nhìn chằm chằm vào Franco.

“Ông nói gì, xin lỗi?”.

“Anh đã đá đồng tiền của ông cụ. Bây giờ anh phải nhặt lên!”.

Chàng thanh niên cố gắng mỉm cười, nhưng khuôn mặt méo xệch.

“Nhưng, xin lỗi, ông là ai?”.

Franco để hai tay xuôi theo hai bên hông.

“Tôi không là ai cả! Tôi chỉ là một người vừa nhìn thấy một ông cụ trả tiền cà phê bằng những đồng tiền mà ông ta có, và một người khác đã quên bài học về giáo dục”.

Ông cụ lúc này mới xen vào, giọng như thì thầm:

“Làm ơn bỏ qua đi! Không có gì quan trọng!”.

Nhưng thực ra nó quan trọng. Không phải những đồng xu. Quan trọng vì có người đã làm ông phải cảm thấy tủi hổ dù ông không làm điều gì sai.

Franco quỳ xuống và bắt đầu nhặt từng đồng xu một.

Sự im lặng trong quán nước lúc này càng trở nên nặng nề.

Chàng thanh niên liếc nhìn xung quanh. Lần đầu tiên, có lẽ anh ta không còn cảm thấy tự tin nữa.

Cuối cùng anh ta cũng cúi xuống.

Anh ta nhặt một số đồng xu, đặt chúng lên quầy và nói: “Tôi xin lỗi!”.

Anh nói nhẹ nhàng. Rất nhỏ. Nhưng dù sao cuối cùng anh cũng đã nói lên điều quan trọng đó. Rồi anh ta uống ly cà phê của mình và nhanh chóng rời khỏi quán.

Ông cụ lúc này đứng trước quầy thu ngân, bàn tay vẫn còn run rẩy. Franco đến trả tiền cà phê của chúng tôi và của ông cụ. Anh cầm thêm ba chiếc bánh sừng bò.

“Mời bác đến và cùng ngồi với chúng cháu!”, anh nói.

Nhưng ông cụ lắc đầu.

“Không, tôi không muốn làm phiền các bạn”.

“Không, bác không làm phiền ai cả. Cháu thành thật mời bác mà”.

Sau vài giây, ông ấy bước theo Franco.

Tên ông cụ là Roberto Savini.

Ông uống cà phê bằng cách bưng cả hai tay bao quanh cốc, như thể đang cần sưởi ấm đôi bàn tay nhờ hơi nóng từ bên trong.

Lúc này tôi mới nhìn ông cụ kỹ hơn. Đôi mắt màu xanh lơ. Và cái giọng xin lỗi ngay cả khi ông không có lỗi gì. Cái giọng ấy, từ lâu rồi, tôi nghe thấy quen quen.

Dành cho bạn

Tôi nhìn kỹ ông một lần nữa và bỗng thấy mình như nghẹn giọng.

“Trước đây bác có lái xe điện, phải không?”, tôi hỏi.

Ông cụ ngạc nhiên, ngước mắt lên.

“Sao cậu biết? Vâng. Đường số 4. Trong bốn mươi năm!”.

Tôi như nhắm mắt lại một lúc. Một chút quá khứ đang lướt qua.

Tuyến xe điện số 4 chạy từ citta’ studi (thành phố học) đến trạm cuối là Bệnh viện Niguarda ở Milano. Nó chạy qua ba nơi quan trọng mà thời sinh viên chúng tôi đều sử dụng: quảng trường Leonardo Da Vinci, nơi có trường Bách khoa (politecnico) nổi tiếng của Ý, quảng trường Loreto, nơi có phòng thí nghiệm tổng hợp hóa dược chính của khoa tôi học và đi ngang qua Via Festa del Perdono, nơi giảng dạy về dược lý và tương tác thuốc.

“Vậy là bác không nhớ cháu. Nhưng cháu thì còn nhớ bác đấy”.

Ông cụ vẫn im lặng.

Tôi kể cho ông nghe về một cậu thanh niên gầy gò, mang trên vai một chiếc ba lô cũ, chân mang đôi giày mỏng và nhẹ. Cậu thức học rất khuya nên sáng thường dậy trễ, vệ sinh và thay quần áo rất nhanh rồi chạy bộ mỗi sáng đến trạm dừng. Rất nhiều lần cậu thanh niên ấy sợ bỏ lỡ chuyến xe và đến trường trễ.

Gọi trạm dừng nhưng đây chỉ là một cột đèn đỏ ở làn giữa trên đại lộ Bassini mà các phương tiện giao thông phải dừng lại. Còn trạm dừng “thực và bắt buộc” nằm cách xa cột đèn này phải vài chục mét. Từ căn nhà nằm trên đường Grossich, đáng lý tôi phải đến trạm dừng “thực” để đón xe số 4. Nhưng thường đến ngã tư thì đã thấy xe đang dừng vì đèn đỏ. Nếu chờ đi chuyến kế tiếp thì sẽ mất thời gian. Thế là từ xa tôi vẫy tay ra hiệu, rồi, ngó trước ngó sau, chạy băng qua một làn đường trên đại lộ Bassini để đón xe. Đến gần tôi liền gõ nhẹ vào thùng xe.

Nếu lúc này đèn xanh bật thì bác tài xế cũng vẫn đợi thêm vài giây nữa.

Bác không nói hay hỏi gì. Bác chỉ mở cửa xe và nói:

“Nào, lên đi! Nhanh nhé!”.

Cậu thanh niên trẻ đó chính là tôi.

Ở Ý, theo quy định xe điện chỉ được phép mở cửa cho khách lên và xuống ở trạm dừng, nhưng bác tài này thường phá lệ.

Ông Savini cúi mắt xuống. “Tôi không nhớ”. “Ở khu ấy là “citta’ studi”, thành phố học, nên có nhiều sinh viên lắm!”, ông nói.

“Nhưng tôi thì luôn nhớ”.

Nói xong tôi chợt nhớ đến lời dạy của ba tôi ngày còn bé: “Con có thể quên số điện thoại, thậm chí quên địa chỉ nhà bạn bè… nhưng đừng bao giờ quên người đã giúp mình”.

Không hiểu vì ngậm ngùi nhớ đến ba tôi hay kỷ niệm về một thời trai trẻ mà môi tôi run rẩy.

Bác Savini nhìn tôi và kể trước kia bác đã từng chở nào công nhân, sinh viên, y tá, những cụ bà với túi mua sắm… Bác biết hầu hết lịch trình, khuôn mặt, thói quen của phần đông hành khách.

“Tôi rất vui khi thấy mình được phục vụ mọi người”, bác nói.

Rồi bác nói tiếp như mở lòng tâm sự, là từ khi nghỉ hưu, năm sau bác gái bị bệnh, kinh tế gặp khó khăn vì tốn khá nhiều tiền chữa trị. Sau khi vợ mất, trong căn nhà nhỏ không còn ai chờ đợi bác nữa. Tất cả những ngày đều đơn điệu, giống nhau. Quán bar này đã trở thành một nơi mà bác còn có thể đến để nghe được những giọng nói của ai đó.

Đôi khi, người pha chế nói với bác, “Chào buổi sáng” và đó có lẽ là từ duy nhất bác nhận được cho đến tối.

Franco cúi xuống nhìn đồng hồ. Chừng 30 phút nữa anh phải lấy chuyến xe lửa để đi Bologna. Chúng tôi cũng sẽ phải từ giã nhau thôi.

Sau khi trao đổi nhanh địa chỉ và số điện thoại, tôi nhìn ra bên ngoài.

Chiếc xe của tôi vẫn còn đang đậu cách quán nước không xa.

Khi Franco đứng lên bắt tay từ biệt và bước đi, không hiểu sao tôi đột nhiên hỏi:

“Bác Savini, hôm nay bác có bận gì không?”.

Bác nhìn tôi, miệng khẽ

mỉm cười.

“Không. Hoàn toàn rảnh rỗi như mọi khi!”.

Tôi đứng dậy.

“Vậy thì bác đi với cháu nhé. Xe cháu cũng đậu gần đây thôi!”.

Tôi thấy mắt bác nhìn tôi như thể tôi vừa đề xuất một điều gì quá bất ngờ.

“Đi với cậu à? Tôi chưa bao giờ được ai quan tâm như vậy”.

“Luôn có lần đầu tiên

mà bác!”.

Tôi mời bác lên xe và ngồi bên cạnh tôi. Tôi biết bác đã tin tưởng đến độ không cần hỏi là mình đi đâu hay làm gì.

Khi chúng tôi chậm rãi đi dọc theo đại lộ, rồi rẽ phải để ra ngoài thành phố, tôi đi về phía đông rồi dừng lại ở một tiệm ăn có khuôn viên rất lịch sự bên cạnh hồ Malaspina. Tôi mời bác ăn trưa ở đây, chỉ không tiết lộ là nhiều năm trước, sau khi tốt nghiệp vài năm tôi đã tổ chức lễ cưới với gia đình và các bạn thân thiết ở nơi đây.

Lúc bước xuống xe, tôi nhìn thấy khuôn mặt bác có một biểu hiện xúc động pha lẫn ngạc nhiên. Bác khẽ mỉm cười. Suốt bữa ăn tôi và bác nói chuyện vui vẻ. Có lẽ bác không còn cảm thấy già nua, nghèo khổ hay như một cái bóng, hay người vô hình trong xã hội. Tôi ngắm nhìn bác trong im lặng mà lòng ngẫm nghĩ. Đôi khi phẩm giá của một người không phải do bị té xuống đất mà chính là những đôi mắt ác tâm của kẻ khác đã không biết nhìn cuộc đời với ánh mắt bao dung. Rồi tôi nhớ đến cử chỉ và hành động của Franco, người bạn thân thiết của tôi thời trai trẻ. Có lẽ chỉ cần anh cúi xuống để nhặt vài đồng xu lẻ là đủ để nhắc mọi người rằng không có người nào có giá trị hơn người khác.

Và nghĩ cho cùng, chúng tôi không làm bất cứ điều đặc biệt gì vào buổi sáng mùa thu hôm đó. Tôi chỉ dừng lại vì một người đàn ông, nhiều năm trước, đã từng dừng lại vì tôi. Tôi đã chở bác đến cái nơi đầy kỷ niệm này vì bác cũng đã từng chở tôi đến trường. Trong cuộc gặp gỡ tình cờ này, tôi xem như bác đã bất ngờ tặng tôi một món quà. Chính bác đã cho tôi được tìm lại cái quãng thời gian đã mất, đã trôi theo dòng đời. Và bác chứ không phải ai khác, đã nắm tay, dắt tôi đến một nơi chốn kỷ niệm về một cuộc hôn nhân hạnh phúc và an lành cho đến hôm nay mà nhiều năm qua tôi đã không có thời gian hay cơ hội để quay lại.

Milano tháng 10.2025

Thư Atlanta :Mừng Sinh nhật

.

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Đêm trăn trở…

ngoài kia từng chiếc lá

Rớt rơi đều…

Êm ả vọng dáng thu

Đêm êm qua…

se sẽ hồn gởi gió

Gió ru hời…

Rũ sạch bụi thời gian

Giọt sương rơi

lặng lẽ gọi đông tàn

Mù sương phủ…

Chậm chân chờ bóng nắng

Hàng cây nhớ…

bước chân về nẻo vắng

Chiếc lá xanh

hoảng hốt rớt lìa cành

Gió hoà mây..

.trả lại mảng trời xanh

Bừng tỉnh thức…

sáng nay là ngày Bốn

Tháng Mười sang…

Khi hừng đông ló dạng

Chốn quê nghèo…

bên bờ rạ nương khoai

Đứa bé gái…

ra đời cùng khó khổ

Một kiếp đời …

cơ cực với gian nan…

Bỗng hôm nay…

Nơi xứ người xa ngái

Được người thân…

cùng với đám trò xưa

Giọt nước mắt…

người già hòa giọt mưa sa

Nhỏ xuống hôm nay …

Mừng ngày Sinh nhật…

Hôm nay là ngày đứa bé gái nhà quê , là tôi được ra đời bên bờ rạ nương khoai dưới chân ngọn núi Gai xa mờ thuộc Cát Nhơn …Phù Cát.

Từ tấm bé cho đến tận ngày nay chưa lần nào cảm xúc trong tâm tư của một bà già xa xứ lại có được cảm giác lâng lâng như mấy hôm nay…

Trong những năm tháng ngắn ngủi trên bục giảng dưới ngôi trường nhỏ miệt khu 6 ngày nào của hơn năm mươi năm trước…

Đứa bé gái nhà quê ngày nào đã đạt thành mộng ước từ tấm bé…” Được bước lên bục giảng trước những khuôn mặt ngây thơ đầy ngưỡng mộ của các em”…

Những kỷ niệm đẹp giữa cô trò mình luôn là hành trang mang theo trong suốt cuộc đời xuôi ngược .

Thời gian trôi nhanh quá, chúng ta đã bước ra xã hôi với từng mảng đời riêng..

.Mỗi lần ngơi nghỉ cô vẫn thường mơ về các em với những khuôn mặt bé thơ mà cô còn nhớ được.

Sau gần hơn 50 năm xa cách…lần hội ngộ nơi thành phố cũ, trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua…

Khi gặp lại các em: Cô vẫn nhớ lại tên từng em một mặc dù các em tất cả cũng đã bước sang tuổi lục tuần…còn cô cũng gần bước sang hàng Tám của tuổi thọ ” Bát tuần”…

Chúng ta vẫn còn nhận ra nhau…Chúng ta đã cùng nhau ca hát, nhảy múa như những người trẻ buổi thanh xuân…

Cô vẫn nhớ tên từng em một, những em học giỏi và cả những em cá biệt của ngày xưa xa ngái.

Hiếu hòa cô bé mủm mỉm giỏi toán và Anh văn cùng với Nguyễn Đình Hoàng là hai em ngang sức nhau ngày ấy???

Bích Tiên đứa bé gái da trắng môi hồng và có cái mụt ruồi đen , cũng chăm chỉ và giỏi Anh văn ???

Minh Hiếu, đứa bé gái mềm mỏng dễ thương, siêng năng và luôn hòa nhã với bạn bè…

Thùy Trang đứa bé xinh, hạt tiêu xinh xắn nhất lớp

Thanh Hương với khuôn mặt hiền hòa và nụ cười rất duyên

Minh Phúc với khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương với làn da trắng mịn,như con búp bê nhật Bản

Tài Lương khuôn mặt hiền hòa , đại biểu cho thiếu nữ Bình Định chân quê.

Ngọc Bích với khuôn mặt đầy đặn duyên dáng

Thẩm Thúy đứa bé gái trắng trẻo xinh đẹp dịu dàng nhất lóp

Minh Thuyền líu lo bên mọi lần sinh hoạt chung…

Thanh Thiên, đứa bé nhanh nhẹn với má đỏ môi hồng…

Minh Cúc với khuôn mặt lanh lợi và đen nhẽm…

Duy Việt là giọng hát hay của hai khối, mỗi lần sinh hoạt em đều được mời gọi lên ca cho chúng ta nghe

Lê sa long là một nhân tài về hội họa của lớp chúng ta

Lớp trưởng Trương Trọng Hiền và Nguyễn Khánh Toàn …Hai em đã ra đi…( Chúng ta hãy thắp cho các em ấy một nén hương lòng tưởng nhớ)

Ngoài những khuôn mặt trên mà cô còn nhớ được , một em vô cùng cá biệt, hay quậy phá nhất lớp là Hân và đội trưởng đội cờ đỏ là Anh Tuấn …Là ” Thằng Mập cờ đỏ”..

.Tâm với dáng vóc nho nhã dễ gần…

Còn rất nhiều em trong hai lớp học của trường Ngô Mây ngày ấy…Nhưng trong trí nhớ già nua của cô hôm nay mà chưa nghĩ ra…Mong các em thông cảm và cô xin lỗi nhé.

+++

Một nửa thế kỷ đi qua trên mái tóc cô trò mình …ngày gặp lại tất cả chúng ta cũng đã nhiều sợi bạc, tuổi thời gian đi qua nhanh quá???

Hôm nay ba đứa bé gái ngày nào của cô giáo trẻ ngày xưa …

Lại gặp lại nhau trên xứ người giữa thành phố Atlanta, các em đã không ngại đường xa ghé thăm cô trong dịp Sinh Nhật cô , nếu các em không nhắc thì cô cũng không còn nhớ đến ngày này.

Minh Phúc đã cùng hai con và hai đứa cháu nhỏ từ sacramento , xuyên suốt bảy tám giờ bay mới đến nơi này.

Minh Hiếu cũng từ Dallas xa xăm vạn dặm

Bích Tiên từ Austin , mang theo nụ cười và vạn niềm vui rạng rỡ đến nơi này hâm nóng tâm hồn, cùng nhau mơ về thành phố cũ, thành phố Quy Nhơn dấu yêu của chúng ta, bỏ lại những học trò cũ dấu yêu còn ở lại…

Những ngày qua ba em đã chung tay nấu những món ăn ngon do bếp trưởng Minh Hiếu và hai phụ bếp Minh Phúc và Bích Tiên , Cô được nâng niu như một người “Mẹ già trong Truyền thuyết”…

Cô được thưởng thức những món ăn rất ngon, cô trò cùng nhau dạo chơi những thắng cảnh và di tích đẹp trong tiểu Bang Georgia,chụp những tấm hình đầy ắp thương yêu và thắm tình sâu nghĩa nặng…

Xin cám ơn ba đứa trẻ ngày xưa là những học trò mến yêu của cô …Nay các em đã xấp xỉ tuổi lục tuần mà còn nhớ lại cô giáo già đơn độc hôm nay nơi đất khách .

Xin chân thành cảm tạ

Hôm nay khi ánh ban mai lố dạng , chúng ta lại tất bật cho một lần mừng Sinh nhật hoan hỉ nhất cuộc đời cô bên con cháu, bên những bạn già thân quen và nhất là bên cạnh các em và chính ba em đã chung tay tổ chức một ngày vui nhất cuộc đời cô.

Giọt nước mắt mặn môi vì hạnh phúc thay cho lời muốn nói: Xin chân thành cảm tạ những ân tình mà các em đã tặng cô, phần thưởng quí giá nhất cuộc đời cô , để biết rằng ” ta cũng từng cầm phấn bảng và còn có những học trò cũ yêu thương.

Xin cám ơn các em

Lawrenceville Oct. 4th 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Cúc

Trần Viết Dũng

.

Nắng triền sông cúc dại nở đầy

đẹp đến mức không ai cúi xuống

.

Cúc chen nhau

sáng như thể ánh sáng dư thừa

giá chỉ cần một vài cành

đặt vào chiếc bình sứ cũ

cả căn phòng sẽ lên mùa

.

Sáng nay nhiều cúc quá

nhiều đến mức

vẻ đẹp không kịp nhận ra

không ai hái

không ai mang về

không ai thầm tên cúc dại

.

Giá như ít hơn

những cánh trắng

theo người vào chợ

được mặc cả bằng đời sống khác

.

Nắng lên cao

người đi

bỏ lại sau lưng

một triền hoa không cần ai ve vuốt

Bài thơ còn dang dở

.

Lê Nho Quế Sơn

.

Tôi khổ

Tôi buồn đau

Tôi ôm đầu

Giận mình bất hạnh

Bỗng dưới lầu có tiếng hát thanh thanh

Rồi tiếng dép vội vàng lên nhanh

Bé gái ùa vào phòng tôi như cơn lốc

Vai quàng cặp tung tăng đôi bím tóc

Đôi mắt đen khựng lại tròn xoe

Chú ơi!

Sao chú trông buồn thế

Cháu mới học bài này

Cháu hát chú nghe

Rồi cháu bé gọi bầy chim Sơn ca về hót trong gió sớm

Gọi bình minh nắng hồng dào dạt

Ngàn hoa tươi dưới ánh mặt trời…

Tôi đứng

Tôi đi

Tôi cười

Tôi vỗ tay theo bé hát

Tôi có là gì

Nào có nghĩa gì đâu

Tại sao tôi phải thế này

Hay phải thế kia

Thế giới này chẳng vì tôi đâu nhé…

Và cứ thế

Tôi mặc cho đôi dòng lệ

Chảy cho lòng sạch trong