Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Hoa Tình Yêu


Truyện ngắn Tiểu Nguyệt

.
-Trăng đêm nay đẹp quá – dường như sáng hơn mọi bữa, anh có thấy vậy không?
-Chắc sắp đến lễ Vu lan, mùa báo hiếu, cảm đến đất trời đấy, em. Em không nghe Khế Kinh đã dạy: “Hiếu đứng đầu trăm hạnh. Hiếu cảm đến trời thì mưa thuận gió hòa. Hiếu cảm đến đất thì muôn vật sinh hóa. Hiếu cảm đến người thì mọi phúc tăng trưởng” đó sao?
-Dạ! Em có nghe nội nhắc rồi – Giọng xa vắng, mới đấy mà đến Vu Lan rồi – em nhớ hồi còn ở với nội, đến ngày nầy là theo nội về chùa lễ Phật thiệt là vui.
-Em giỏi nhỉ! Đã nghe được lời Phật, biết đi chùa từ nhỏ.
-Đi chùa mà giỏi gì anh – Cười vui, hồi nhỏ em có biết gì đâu, nội nói gì, đi đâu, em nghe theo đấy thôi mà.
-Em có đọc được kinh không? Có vào lạy Phật không?
-Dạ, có chớ! Em vào lễ Phật cùng mọi người. Nội đọc kinh gì em học theo kinh nấy, riết rồi thuộc luôn. Tối nào cũng cùng nội thắp nhang, đọc kinh rồi mới đi ngủ.
-Đúng là em giỏi thiệt mà – Cười lớn, thiếu gì người có ông bà, cha mẹ đi chùa mà có làm được như em đâu.
-Hồi đó, nhiều người trong xóm Lẫm cứ tối là ra mấy nhà xóm em để ngủ, sáng sớm lại về. Có mấy người cũng thường về chùa với nội ở ngủ nhờ nhà em, vậy là cùng ngồi vào đọc kinh tối luôn.
-Anh thấy em có nhiều cái hay ghê hen! 
-Anh cứ “chuyên môn” khen em hoài – Cười hồn nhiên, hay gì đâu anh, em mít ướt lắm – Giọng vui vẻ, Em nhớ có lần chú Cả đọc kinh Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ, em ngồi nghe mà khóc như mưa. Khóc ức ử nữa mới lạ chứ!
-Không phải em mít ướt – Giọng phân trần, những người gọi là “mít ướt” là những người có tâm hồn nhạy cảm, thương người em ạ – Dừng một phút – à, hồi đó, em bao nhiêu tuổi?
-Em đang học tiểu học, nhưng từ lớp năm cho đến lớp nhất, em đều ở với nội để đi học. Sau khi hết tiểu học, em vào học trung học ở trường Bồ Đề, một ngôi trường Phật giáo, nên em được học giáo lý của Phật thêm nữa.
-Anh tưởng tượng ra em hồi đó rồi đấy nghen – Cười, một cô bé xinh xắn, dễ thương lắm lắm… 
-Anh “nhạo” em đó hả?
-Anh đâu dám “nhạo” em, anh khen thiệt mà.
-Thiệt hông đó, anh mà “nhạo”, làm em nở mũi là chết với em. À, hồi đó ở quê, vườn rộng, nên nội trồng đủ loài hoa. Thích ơi là thích!
-Nhưng em thích loài hoa nào nhất?
-Trong vườn nhà nhiều loài hoa lắm anh, hoa hồng nè, hoa mẫu đơn nè, phía trước ngõ có một bụi điệp vàng thiệt to, hoa nở quanh năm, mọi người trong xóm thường tới xin mỗi khi có đám giỗ. Tết thì nhiều hơn, có hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa hướng dương, thược dược nở vàng rực trước ngõ. Nhiều hoa vậy đấy, nhưng em thích nhất vẫn là hoa sen trồng ở cái ao phía sau nhà. Em thường hái hoa sen cắm trên bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà. Sen thơm, có hương lại có sắc, nên em rất thích.
– Hoa sen giống em!
– Sao hoa lại giống em, anh – Giọng phân vân, em không hiẻu?
– Có gì mà không hiểu? – Cười thoải mái, vì em “có hương lại có sắc” như hoa thôi!
– Anh lại “nịnh” em nữa rồi – Cười, giọng ngập ngường – vì anh thương yêu em, nên “thương cả lối đi” chứ gì!
– Em là con cháu của Tào công hay sao? – Cười, hoa sen mọc ở trong bùn, sống trong bùn, nhưng vượt lên để hướng đến mặt trời, mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn… giống như em!
-Cũng giống như mọi người được sinh ra trên thế gian, tồn tại giữa cuộc đời, nhưng đã vượt thoát khỏi sự tham lam, sân hận, dục vọng mà không bị vấy bẩn, ô nhiễm bởi dòng đời quyến rủ, phải không anh?
-Đúng vậy, em yêu! Hoa sen tượng trưng cho hình ảnh thanh cao, trong sáng; sen còn có ý nghĩa là sự cao cả, yêu thương và chia sẻ. Hoa sen được chọn làm biểu tượng dưới chân chư Phật, Bồ tát – Giọng thâm trầm, mầu của hoa sen được ví như mầu của đức hạnh, từ bi, trí tuệ, mầu của sự thanh cao tâm hồn.
-Anh nói nghe hay quá!- Cười đồng cảm, Có một điều rất lạ, là mỗi khi em lo lắng hay cảm thấy buồn, chỉ cần ra nhìn ngắm những bông sen lay động nhẹ nhàng trong nắng ở ao sen phía sau nhà nội; tự nhiên, em thấy nhẹ nhàng, và bình yên hơn rất nhiều.
-Có gì lạ đâu em – nầy nhé, em đi chùa, yêu thích hoa sen đúng là có duyên với Phật pháp rồi. Từ rất lâu đời, người ta luôn coi hoa sen như một loài hoa linh thiêng của Phật giáo. Nó thật sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hóa và cốt cách nhân văn của người Việt ta. Do đó, anh nghe, dường như hoa Sen đã được chọn làm “Quốc hoa” rồi.
-Vậy hả anh? – Lại cười, che miệng – hạt sen nấu chè rất ngon, rất mát, lại bổ nữa, anh à!
-Ngó sen nấu cháo, làm gỏi cũng ngon nữa.
-Anh coi bộ rất “sành ăn” rồi đó – Giọng băn khoăn, còn anh, anh yêu thích loài hoa nào nhất?
-Nói đến hoa là anh mê, anh thích, bởi hoa nào cũng hiến dâng cho cái đẹp, nhưng thích nhất là loài hoa Vạn thọ, bởi với anh có nhiều kỷ niệm.
-À! Anh thích hoa vạn thọ sao? Hoa có mầu vàng đậm, dễ trồng, lại thơm thơm nữa. Anh kể cho em nghe về những kỷ niệm đó được không?.
-Cha anh mất sớm, khi ấy anh mới năm, sáu tuổi nên chẳng nhớ gì nhiều về ông. Mẹ anh trồng cả vườn trước sân nhà toàn hoa vạn thọ để bán tết. Năm nào, anh cũng mang hoa ra chợ cho mẹ bán từ hai mươi cho đến ngày cuối cùng của năm, để mọi người cúng tất niên. Mỗi lần thấy hoa Vạn thọ, là anh nhớ thương mẹ lắm, dù mẹ đã theo cha, bỏ anh lại mười năm nay rồi mà anh như thấy mẹ vẫn còn bên chậu hoa Vạn thọ, bên đời sống anh vậy.
-Anh làm em muốn khóc lên rồi! – Giọng trũng thấp, rồi mai kia em sẽ cùng anh trồng nhiều hoa Vạn thọ để cúng cho mẹ, anh nhé!
-Cảm ơn em! Anh thích Vạn thọ bởi vẻ đẹp khiêm nhường, giản dị. Ngoài sự hiện diện như một đặc trưng cho mùa xuân ở quê nhà, hai chữ “vạn thọ” còn có ý nghĩa tâm linh nữa em ạ! – Vạn biểu trưng cho sự tốt lành, cát tường vô số – Thọ thể hiện cho sự sống lâu dài để hưởng phúc thọ. Cha mẹ anh đã không còn để anh chúc thọ.
-Thì mình dâng hoa cúng cha mẹ cũng được mà, anh.- Giọng chợt khóc, em xin lỗi!
-Em có lỗi gì mà xin – Cười nhẹ, tại anh nhớ mẹ quá nên nói vậy thôi.
-Hồi nhỏ, em thường hái bông Vạn thọ xé bỏ vào túi áo cho thơm, hái bông Vạn thọ làm trái kiện để đá. Theo em được biết, tên của loài hoa nầy còn là lời chúc cho ông bà, cha mẹ và tất cả mọi người, ai ai cũng được sống lâu trăm tuổi với người thân của mình. Vạn thọ là ước mơ của nhiều người khi năm mới đến phải không anh?
-Đúng vậy, em yêu! Vạn thọ là ước mơ của nhiều người khi năm mới đến. Năm nào, anh cũng cắm hoa Vạn thọ đón tết, tưởng nhớ đến mẹ.
-Xin lỗi, em đã làm anh buồn…!
-Không sao, anh phải cảm ơn em mà – Giọng bình thản, hoa tươi không chỉ mang vẻ đẹp hữu hình, mà còn ẩn chứa ý nghĩa lớn lao nữa. Nếu hoa Sen làm cho tâm hồn ta thư thái hơn sau những giây phút làm việc căng thẳng, thì… bông Vạn thọ giản dị là sự gởi gắm của ước mong về sức khỏe, hạnh phúc.
-Anh yêu của em giỏi quá! – Cười vui, em cũng rất thích bông Vạn thọ.
-Sao em lại thích bông Vạn thọ?
-Bởi hoa Vạn thọ là loài hoa mà người yêu của em thích, nên em cũng thích.
-Em nói hay nhỉ!- Cười hiền, Em thông minh thật, đơn giản vậy phải không em? Anh cũng thích bông Sen.
-Có phải bởi vì đó là loài hoa em yêu thích hông?
-Đúng vậy! Hoa nào em yêu thích là anh yêu thích hà.
-Vậy chúng mình cùng đặt cho hai loài hoa mình yêu thích một cái tên mới đi, anh.
-Ừ nhỉ! Sao mình không đặt cho chúng một cái tên riêng của hai đứa nhỉ?
-Em nghĩ là… “Hoa Tình Yêu” được không anh?
-Em yêu của anh thật tuyệt vời! – Cười hạnh phúc, Hoa Tình Yêu! Đúng là Hoa Tình Yêu rồi.
Vừa nói chưa hết câu, Tâm đưa tay ôm choàng Tịnh Thy, hôn lên đôi má nàng thật say đắm. 
Trăng đã lên cao, ánh trăng vằng vặc như soi sáng một loài “Hoa Tình Yêu” vừa nở thơm ngát trong tâm hồn hai người yêu nhau.
08/2018
TIỂU NGUYỆT

Read Full Post »

Đinh Lê Vũ

Ngày ba mẹ chia tay nhau, mẹ dẫn em qua Anh quốc định cư, cũng tròn mười bảy năm rồi.

Em hồi đó ốm nhách, đen thui, tóc cột lại bằng sợi dây thun nhỏ xíu lúc lắc sau gáy. Buổi em theo mẹ ra sân bay, nước mắt nước mũi tèm nhem, anh dỗ miết em vẫn không chịu nín. Anh thì vùi mặt vào lưng áo của ba, không dám nhìn theo em và mẹ, cũng không dám cầm tay níu em ở lại. Anh đâu biết lần ra đi đó là cách biệt nghìn trùng.

Mẹ hận ba, nên rất hiếm khi về thăm, lần mô về cũng ghé chớp nhoáng ở nhà ngoại. Nhà ngoại thì xa, cách Hội An, chỗ ba với anh sống gần ba mươi cây số. Cách duy nhất để anh có thể dồn hết tình yêu dành cho em gái là bao nhiêu tiền mẹ gởi về cho anh tiêu vặt, anh mua hết truyện Nguyễn Nhật Ánh, báo Mực Tím, nhờ ba ra bưu điện đóng gói gởi cho em. Anh biết em mê đọc truyện, anh chỉ muốn làm em vui.

Năm mười bảy tuổi, em có về thăm nhà, lúc này em đã ra dáng thiếu nữ, hai anh em đã biết tự đưa nhau đi chơi, đường hoàng như hai người lớn.

Anh còn biết thêm ngoài sở thích đọc truyện, em còn mê mấy món ăn Hội An, nhất là cao lầu. Trong hành lý quay lại Anh quốc của em ngoài sách, báo, còn có cao lầu khô và mấy thứ gia vị Hội An.

Hai anh em bắt đầu liên lạc với nhau bằng e-mail, bằng Facebook, lâu lâu còn gọi video call để được nhìn thấy nhau. Em bận lắm, bận học, bận đi làm thêm, bận chăm sóc mẹ. Mẹ cũng hay đau yếu, nên em cứ phải quẩn quanh bên mẹ.

Thoáng chốc, mười năm nữa qua đi. Mẹ ngã bệnh, ra đi sau một cơn bão tuyết. Ba có gia đình mới. Anh cũng đã kịp có chị dâu. Chỉ có em, một mình côi cút nơi xa. Em sống một mình ở ngoại ô London. Em hay gọi về, rủ anh chị qua Anh quốc chơi với em, để biết mười mấy năm qua, em với mẹ sống ra răng. Em nói hồi xưa em nghèo, bây giờ em đi làm rồi, đủ sức lo cho anh chị thoải mái một chuyến.

Lần lữa, đắn đo mấy năm trời, rồi anh chị cũng thu xếp được. Trước khi đi, chị có hỏi em là em thích ăn món chi để anh chị mang qua đãi, em nói chỉ thèm cao lầu. Ừ thì cao lầu. Chị đóng gói cao lầu khô, rồi ngũ vị hương, rồi tiêu, rồi ớt xanh. Thịt heo thì qua bên đó mua cũng được, chị sẽ vô bếp xíu thịt heo theo kiểu Hội An cho em ăn. Dự là sẽ có một bữa cao lầu Hội An chính gốc giữa lòng London, trong bữa tiệc sum họp của mấy anh em.

Anh chị đáp xuống sân bay Heathrow lúc gần sáu giờ chiều, trời hãy còn nắng rực rỡ. Đầu tháng Tám, nắng chiều ở London tắt muộn, gần mười giờ đêm, bầu trời vẫn còn sáng rờ rỡ như giữa buổi chiều bên mình. Em ra sân bay đón anh chị, ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Có trong mơ, em cũng không tưởng tượng được có ngày được đón anh chị ở London. Có trong mơ anh chị cũng chưa từng nghĩ mình có thể đi xa được như rứa. Liều một chuyến, rồi cũng đặt chân được đến London.

Thời gian anh chị ở London, trời nắng đẹp, trong vắt, chỉ hơi se lạnh vào buổi sáng sớm và lúc chiều tắt nắng. Em đưa anh chị đi khắp nơi, ghé điện Buckingham coi kỵ binh hoàng gia cỡi ngựa, chụp ảnh với London Tower, London Bridge, Big Ben, ghé cả quán rượu mang tên Sherlock Holmes huyền thoại…

Cái gì cũng lạ, cũng hay. Coi kỵ binh hoàng gia cỡi ngựa, chị cứ thắc mắc hoài răng con ngựa cao to như rứa mà cô kỵ binh xinh xắn kia leo lên ngồi trên lưng nó được. Anh thì mê mẩn với nhà cửa, các công trình kiến trúc đặc sắc của London, mà hồi nhỏ, anh chỉ được nhìn thấy trên mấy tấm ảnh trắng đen in lem nhem trong sách giáo khoa.

Em dẫn anh chị đi dạo quanh London, cho anh chị uống bia kiểu pub crawl, tức là lang thang, ghé nhiều quán, mỗi quán chỉ uống một ly bia rồi qua quán khác uống tiếp, đó cũng là cách giới trẻ London khám phá.

Nhưng anh chị đâu còn trẻ. Uống tới quán thứ ba là anh chị đã ngà ngà say, không đi nổi. Em còn đưa anh chị đi uống trà chiều kiểu Anh, lội chợ Borough coi người ta mua sắm… Chị há hốc miệng khi nghe một ly nước mía giá 9,5 bảng Anh, một bó rau muống nhỏ xíu giá 5 bảng, rồi càm ràm em xài sang quá, dẫn anh chị đi uống trà chiều một suất tới cả trăm bảng Anh. Em cười: Tại em muốn anh chị có những trải nghiệm mà em với mẹ từng có, bên ni em lãnh lương bằng bảng Anh, chớ không phải bằng tiền đồng, nên anh chị đừng có lo.

Mấy ngày khác, em dẫn anh chị đi loanh quanh khu Greenwich gần nhà em, chỉ chỗ này, chỗ nọ, chỉ quán phở Việt Nam em hay ghé ăn mỗi lúc nhớ quê nhà. Đi lang thang trong mấy công viên ở London, cây xanh mát rượi, thích nhất là có thể nhìn thấy thiên nga, vịt trời, sóc, thỏ, hải âu ở cự ly gần thiệt gần. Ở đây, chim muông không sợ người, sống chan hòa với người.

Mấy ngày còn lại, anh chị loanh quanh ở nhà, nấu cơm Việt Nam ăn với nhau. Món mô chị nấu em cũng khen ngon quá ngon quá, như thể lâu thiệt lâu em mới được ăn cơm nhà. Rảnh rỗi, anh lục lọi tủ sách của em kiếm sách đọc, mắt không dưng cay cay khi thấy em còn giữ cẩn thận mấy cuốn sách, báo anh gởi cho em đọc hồi nhỏ.

Trước ngày anh chị rời London, chị vô bếp làm cao lầu. Em đưa anh chị đến siêu thị Trung Hoa mua thịt ba chỉ, giá sống và mấy thứ gia vị Việt. Chị xíu thịt, hai chị em tíu tít làm với nhau, làm tới đâu chị chỉ em tới đó, để mai mốt anh chị về rồi thì em có thể tự xíu thịt. Sợi cao lầu khô chị mang qua để lại, em ăn cả năm sau có khi còn chưa hết.

Chị xíu thịt đơn giản hơn cách em thấy trên mạng, mà ngon y chan cái vị hồi nhỏ em hay ăn. Miếng thịt xíu xong để nguội, chị cắt thành từng lát mỏng có cả mỡ cả nạc, đặt lên tô cao lầu. Nước thịt xíu pha loãng chan vô thêm. Rau sống ăn kèm là giá sống mua ở siêu thị châu Á, xà lách và rau thơm em tự trồng trên ban công.

Em nói, ở đây rau sống đắt xắt ra miếng nên em tự trồng trớt cho khỏe. Cái ni mới đặc biệt nghe, chị mang qua cao lầu tươi cắt thành từng miếng nhỏ vuông vuông, chiên lên, rồi bỏ vô nồi chiên không dầu làm nóng một lượt, giòn rụm, thơm lừng, ăn kèm với tô cao lầu, nhai nghe rốp rốp.

Ba anh em ngồi ăn cao lầu với nhau, gọi video call về nói chuyện với ba. Lúc đó London mười hai giờ trưa, Việt Nam là sáu giờ chiều. Nhìn mấy anh em ngồi sum vầy bên nhau, ba vui lắm, mắt ba rưng rưng. Rồi tự nhiên ba nhắc tới mẹ, nhắc tới những bữa ăn gia đình đầm ấm ngày ba mẹ còn bên nhau.

Cuộc sống bây giờ đã khác lắm rồi, nhiều thứ thay đổi lắm rồi, nhưng kỷ niệm, ký ức thì vẫn còn nguyên ở đó.

Em ngồi lặng đi, không nói gì thêm. Anh nghe khóe mắt mình cay cay.

Anh em mình nhớ mẹ.

Read Full Post »

.Lưu Ngọc Minh

.

Nay ở thành phố, mỗi lần đến Tết tôi ra siêu thị để mua bánh, mứt. Có đủ các loại, bình dân có, cao cấp có; miền Nam có, miền Bắc có, tùy chọn. Nhưng từ sâu thẳm, tôi vẫn luôn nhớ về một vùng quê của ấu thơ.

Khi ấy, mỗi khi Tết đến chị em tôi cùng mẹ làm bánh, mứt để cúng, để đãi khách. Và đó không chỉ là nhu cầu tiêu dùng mà còn là niềm vui ngày Tết.

1. Mỗi dịp Tết, tuy nhà không mấy dư dả nhưng mẹ cũng làm hàng chục loại bánh. Tôi nhớ nhất là bánh in vì dễ làm, làm nhiều và để được lâu. Mẹ cho đường và bột nếp đã rang xay mịn vào thau nhỏ, hai bàn tay gầy guộc vì công việc đồng áng nặng nhọc của mẹ lúc này lại thoăn thoắt nhào trộn đến khi bột ngấm hết vào nước đường.

Rồi mẹ lấy khuôn, đổ một lớp bột, rưới một ít nhân ở giữa (pha trộn từ đậu phộng, mè, đường và bột quế), đổ tiếp một lớp bột, dùng hai tay ịn mạnh thành ra bánh.

Những chiếc bánh in tròn nhẵn có chữ phúc phía trên trông bắt mắt. Nhưng bọn trẻ chúng tôi không thích ăn bánh in vì thấy không ngon và hay mắc nghẹn. Bởi vậy, bánh in là thứ còn lại nhiều nhất sau mỗi dịp Tết.

tet-truyen-thong-2.jpg
Một cụ bà chuyên làm và bán bánh in cùng các loại bánh truyền thống khác ở chợ Nhơn Lộc (nay thuộc xã An Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai) năm 2024. Ảnh: Hoài Thu

Có một loại bánh khác cũng dễ làm nhưng bọn trẻ thích ăn hơn là bánh nổ. Gọi là bánh nổ vì khi rang, nếp sẽ nổ bung thành những hạt cốm trắng tinh, phát ra tiếng lách tách vui tai. Cách làm cũng tương tự bánh in, chỉ khác là nguyên liệu không phải bột mà là cốm.

Những hạt cốm mẩy tròn, mang hương đồng cỏ nội. Mẹ trộn cốm với nước đường, gừng rồi đưa vào khuôn ép thành bánh. Những cái bánh nổ hình thoi, giòn tan, quyện hương gừng thơm dìu dịu, nên trẻ con, người lớn đều thích.

Sang hơn là bánh thuẫn. Nguyên liệu chính của bánh thuẫn cũng là bột, đường nhưng có thêm trứng và các loại gia vị khác. Mẹ trộn bột, đường, trứng rồi đánh nhuyễn; xong đặt chiếc khuôn trên lò than, khi khuôn đã nóng cho bột vào và nướng.

Chiếc bánh thuẫn khi chín vàng ươm, nở bung như cánh hoa mai ngày Tết. Bánh tơi xốp, thơm ngon, ưu tiên để đãi khách nên bọn trẻ được mẹ phát có giới hạn.

Mứt mẹ làm cũng có nhiều loại: Mứt gừng, mứt dừa, mứt bí… Nhưng làm mứt gừng là công phu nhất. Mứt gừng tôi muốn nói ở đây là mứt gừng củ chứ không phải là gừng lát.

Làm mứt gừng lát thì đơn giản, lấy củ gừng thái lát mỏng, ướp với đường rồi sên trên lửa nhỏ, đảo đều tay đến khi đường kết tinh thì thành món mứt gừng thơm ngon, ấm bụng.

Nhưng làm mứt gừng củ thì công phu hơn nhiều. Mẹ ra vườn nhổ các bụi gừng, chọn những củ đẹp, thường có 5 nhánh để khi làm xong miếng mứt giống như bàn tay năm ngón.

Sau khi chọn được củ đẹp, mẹ đem ngâm nước rồi cạo vỏ, rửa sạch, ngâm nước muối qua đêm để củ gừng mềm và nhả bớt nhựa. Hôm sau chị em tôi ra sức xăm từng củ, phải xăm đều, xăm kỹ, đến khi củ mềm, dễ thấm đường và bớt cay.

Mỗi cây xăm có chừng mười cây kim nhọn, chị tôi có lần sơ ý bị đâm vào tay đau buốt đến phát khóc. Xăm xong, mẹ xả nước, luộc, thắng với đường đến khi chuyển sang màu trắng ngà, thì vớt ra phơi khô.

Mứt gừng nguyên củ tự làm mang hơi ấm của bàn tay người thân, tạo nên một bức tranh Tết đầy màu sắc và sống động.

Mỗi loại bánh, mứt làm xong mẹ cẩn thận xếp, cất vào các quả nhôm hoặc bình thủy tinh để dùng trong dịp Tết. Trong ba ngày Tết, ngày nào mẹ cũng sắp bánh, mứt ra đĩa mang lên bàn thờ để cúng ông bà, tổ tiên.

Khách đến thăm xuân, mẹ cũng sắp một đĩa bánh mứt, để nhâm nhi với tách trà nóng, nói chuyện đồng áng, chuyện làng trên, xóm dưới. Thấy khách bọn trẻ chúng tôi thường lẩn quẩn chờ được lì xì. Nhưng cha nhắc khéo: “Đi chơi, trẻ con không được hóng chuyện”.

2. Nhưng có lẽ không gì ấm cúng hơn việc nấu bánh tét. Để có nồi bánh tét ưng bụng, mẹ chọn nếp ngon đem ngâm trong nước sạch, vớt để ráo nước rồi ra vườn cắt những tàu lá chuối tươi, xanh mướt vào nhà gói bánh.

Trải lá trên nia, mẹ đổ một lớp gạo nếp, rồi một lớp nhân được làm bằng đậu xanh và thịt ba chỉ, đổ tiếp một lớp nếp nữa rồi gói. Mẹ cuộn chiếc bánh gọn gàng để lớp gạo nếp ôm lớp nhân vào giữa rồi dùng lạt tre để buộc.

Mẹ vừa buộc vừa chỉ bảo các chị tôi: “Buộc vừa phải thôi, lỏng quá hay chặt quá bánh đều không ngon”.

tet-truyen-thong-1.jpg
Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao TP. Quy Nhơn (cũ) tổ chức Hội thi làm bánh chưng, bánh tét mừng Đảng mừng Xuân Giáp Thìn 2024. Ảnh: Nguyễn Dũng

Số gạo nếp còn lại không đủ để làm bánh tét, mẹ thường làm vài cái bánh ú nhỏ, là phần thưởng của bọn trẻ chúng tôi khi nồi bánh chín tới. Nấu bánh tét thường vào đêm giao thừa, lũ trẻ chúng tôi quây quần bên bếp lửa, nghe người lớn nói chuyện rôm rả cho đến khi ngủ lịm lúc nào không hay.

Cũng như các loại bánh mứt khác, trong 3 ngày Tết ngày nào mẹ cũng tét bánh mang ra bàn thờ để cúng. Mẹ dùng chính sợi lạt buộc bánh để tét bánh. Một đầu lạt giữ bằng hàm răng đen nhánh, chắc chắn của mẹ, đầu kia dùng tay để tét.

Vậy mà các lát bánh đều tăm tắp như đóng khuôn vậy. Khách thăm xuân, đến bữa mẹ không kịp nấu cơm nên tét bánh, mời khách ăn với dưa món thay cơm, ai nấy đều vui.

Ngày nay đến Tết, tôi lại đến các hiệu bánh Ngọc Nga, Bà Xê để mua bánh tét, bánh chưng về dùng. Đây là các loại bánh có thương hiệu, nhiều người khen ngon nhưng với tôi, nó vẫn thiêu thiếu một cái gì đó không nói ra lời.

Dường như nó thiếu cái chất thôn quê, cái mùi đồng ruộng, cái bếp lửa ấm áp đã đi theo tôi suốt những năm thơ trẻ.

Read Full Post »

Ngô Đình Hải

.

Tranh HS Nguyễn Thanh Bình

.Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thường thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!..

Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.

Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn.

Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…

Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:

– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!

Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một.

Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:

– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…

Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!

Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:

– Có nhậu nhớ a-lô nghen!

Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…

Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…

Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ.

Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:

– A lô! Ông thầy khỏe không?

– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?

– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…

– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…

– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…

Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó.

Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.

Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:

– Sang dữ bây!…

Nó cười:

– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…

Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:

– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?

– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…

Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…

Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:

– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…

Read Full Post »

Kim Bông thần mã


Trần Bảo Định

.
Chiều cuối năm.
Má và chị Tư vớt bánh tét máng lên cây sào tre vắt ngang vách bếp, tía lui cui lau chùi
chén bát, xếp đặt hương đèn hoa quả cần thiết cho lễ Trừ Tịch. Tía trải tấm đệm bàng giữa
sân, ngồi uống rượu lai rai với chú Sáu, dượng Chín, sau khi cúng bái rước ông bà về ăn
Tết cùng con cháu.
Rượu vào, lời ra. Chú Sáu nói:

  • Tháng cùng ngày tận. Chỉ còn năm, sáu tiếng đồng hồ nữa, Rắn hết nhiệm kỳ, bàn
    giao công việc cai quản trần gian lại cho Ngựa và cáo lui. Chẳng biết rồi Ngựa sẽ “làm ăn”
    thế nào và có thay đổi gì chăng?
    Tía cười cười, triết lý:
  • Sự thay đổi nào cũng khởi đầu từ ý thức. Đó là điều tất yếu! Ngựa có ý thức thì ắt sẽ
    có thay đổi, chú Sáu mầy lo chi cho mệt. Việc đó, đã có người lo! – Tía chuyền ly rượu cho
    chú Sáu.
    Đàn cò rời cánh đồng, bay hối hả trong không gian chiều tàn về tổ.
    Ba lão bạn đời đã vượt cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” cùng chén thù, chén tạc, khi
    rôm rả, lúc trầm ngâm của thời khắc chờ đợi “tống cựu, nghinh tân”, nhưng không phải là
    không “ưu thời, mẫn thế”!
    Dượng Chín nói:
  • Lẽ thường, thiên hạ tôn vinh ngựa Tàu hơn ngựa ta. Theo tui, ngựa ta hơn xa ngựa
    Tàu! Chỉ mỗi một chuyện Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, cầm roi sắt mà khiến lũ giặc Ân khiếp
    kinh hồn vía và tan rã. Ngựa chết vì chủ của mình, chỉ có ngựa ta, chứ ngựa tàu: chưa chắc!
    Chú Sáu cãi lại:
  • Tui đọc Tam Quốc Chí, nhớ đại khái, Quan Vân Trường bị Mã Trung, Phan Chương
    bắt và sau đó bị giết. Ngựa Xích Thố vì nhớ thương chủ, bỏ ăn mà chết! Đời sau, ai cũng
    thương cảm và ca ngợi.
    Dượng Chín bảo rằng, muốn rõ thực hư chuyện ngựa Xích Thố vì thương nhớ chủ bỏ
    ăn mà chết hay sức cùng lực tận, vì tuổi già mà chết, ta phải biết số tuổi ngựa Xích Thố đã
    sống!
    Tía chen vào:
  • Hồi ông già tui ở bạn nuôi ngựa đua nhà Hội đồng Láng miệt Đức Hòa Thượng,
    thường nói ngựa từ ba, bốn tuổi là đã có thể phối giống và ra trường đua. Thời kỳ sung mãn
    nhất của ngựa là từ sáu đến tám tuổi. Đời ngựa thường dài không quá ba mươi năm!
    Dượng Chín tiếp:
  • Ngựa Xích Thố lần đầu xuất hiện trong tay Đổng Trác là vào năm 189. Lữ Bố thấy
    Xích Thố là mê mẩn ngay và Đổng Trác đã dùng ngựa Xích Thố dụ Lữ Bố thực hiện mưu
    kế của mình. Như vậy, ngựa Xích Thố lúc bấy giờ phải ở thời kỳ sung mãn nhất. Đến năm
    219, ngựa Xích Thố chết khi Quan Vân Trường thọ hình!
    Dượng Chín chiêu ngụm rượu, rồi làm bài tính nhẩm:
  • Ngựa Xích Thố xuất hiện năm 189, chết năm 219 vị chi là ba mươi năm, cộng thêm
    khoảng tám năm từ lúc ngựa mới sinh ra cho đến khi sung mãn. Tất cả là ba mươi tám năm!
    Dượng Chín kết thúc:
  • Như vậy thì ngựa Xích Thố chết vì tuổi già, chứ chẳng phải chết vì thương nhớ chủ!
    Chú Sáu được dịp “hấp tinh kiến giải”:
  • Tui phục dượng Chín sát đất!
    Chị Tư bưng dĩa khô cá chạch và chén nước mắm me, tiếp thêm mồi nhậu. Tía biểu chị
    vào trong lấy mấy tấm hình chụp mộ ngựa Kim Bông đưa dượng Chín và chú Sáu coi.
    “Nhớ hồi nẳm, khi đơn vị hành quân qua làng Cỏ Ngựa dưới chân đèo Cù Mông, tía
    được nghe cô bác lớn tuổi kể rằng, xưa kia, nơi đây có lão Ngô đầu lĩnh, cỡi con tuấn mã
    Kim Bông, tay cầm đại đao, chuyên nghề bảo tiêu hàng hóa của thương nhân mỗi khi vận
    chuyển qua đèo. Một hôm, từ căn cứ kháng chiến, Tướng Võ Trứ tìm về hội kiến với lão
    họ Ngô. Sau tuần trà, Tướng Võ Trứ bộc bạch:
  • Vận nước nguy khốn, Vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng, rời kinh thành lên miền Tân Sở
    truyền hịch Cần Vương. Trứ nầy, mong đại huynh gả Kim Bông về phong trào Văn Thân
    Bình Định đang sục sôi chống quân xâm lược Pháp và bọn tay sai của chúng.
    Ngô đầu lĩnh cầm vò rượu tu một hơi dài, cười khanh khách:
  • Với đất nước, mạng Ngô tui còn chẳng kể thì có sá gì ngựa Kim Bông?
    Chủ, khách cáo từ. Tướng Võ Trứ nhảy lên yên ngựa. Kim Bông bất ngờ giậm chân,
    hất tung Tướng Võ Trứ rơi xuống đất.
    Lão Ngô đầu lĩnh vỗ vỗ bờm ngựa:
  • Ta già rồi, con thay ta đi cứu nước!
    Ngựa Kim Bông cạ mặt vào người lão Ngô, hí vang núi rừng, rồi phi nước đại chở
    Tướng Võ Trứ về căn cứ, giữa trưa nắng bụi mù tung…
    Kim Bông trở thành chiến mã của Phó soái Lê Tuyên – còn gọi là Bá Mười, Lê Văn
    Trang. Người và ngựa cùng cận kề cái chết ở chiến trường, sống chí tình, chí nghĩa. Chiến
    mã Kim Bông đã cùng chủ đi vào những trận đánh khốc liệt, như Trường Úc, Lò Vôi (Tuy
    Phước), Cẩm Văn (An Nhơn), Phú Gia (Phù Cát)… khiến quân xâm lược khiếp sợ, bọn
    vong nô Nguyễn Thân thất điên bát đảo, gọi Kim Bông là thần mã. Khi Chủ soái Mai Xuân
    Thưởng, Phó soái Lê Tuyên cùng tám tướng lĩnh nghĩa quân bị giặc hành hình sáng ngày
    15 tháng 4 năm 1887 tại Gò Chàm (cũ) ngày nay, gần cầu Xi-Ta, cách thành Bình Định
    non một cây số về hướng bắc, ngựa Kim Bông hiếu nghĩa, can trường liền chạy thẳng về
    nhà báo tin dữ. Lúc bị giặc vây bắt, nó trốn biệt vào núi. Thi thể Phó soái Lê Tuyên được
    chôn cất tử tế trên đất Gò Đình.
    Một sáng, khi đồng còn mù sương sớm, người làng phát hiện ngựa Kim Bông nằm gục
    chết bên mộ phần của chủ. Những giọt nước mắt hòa cùng sương còn nhòe trên mặt ngựa
    khổ đau. Cảm thương và trân quý lòng thủy chung đó, dân làng Nhân Ân cùng gia đình Phó
    soái Lê Tuyên đã xây mộ đá vôi cho ngựa Kim Bông, gần mộ phần của Phó soái Lê Tuyên.
    Trước mộ, có bức bình phong đắp nổi hình ngựa Kim Bông trên nền hoa văn bông cúc vàng
    với họa tiết tinh tế, như nhắc người đời sau tiếc thương và suy ngẫm!”
    Tía ngừng kể, mời mỗi người uống nửa xây chừng rượu. Chú Sáu, dượng Chín săm soi
    mấy tấm hình tía chụp chung với người bạn ở Bình Định bên mộ ngựa Kim Bông. Chú Sáu
    hỏi tía:
  • Anh Năm, từ Tuy Phước đi đến mộ ngựa có xa không?
    Tía nói, từ thị trấn Tuy Phước đi vào mộ ngựa Kim Bông cũng không xa mấy. Hồi đó,
    tía đi cùng người anh em bạn theo hướng Đông bắc khoảng bốn cây số, gặp ngã ba Cây
    Xoài thuộc xã Phước Thuận. Rồi qua cánh đồng hơn một cây số về miệt phía Đông thì tới
    đầu thôn Nhân Ân, xưa gọi là làng Nhân Ân, quê hương cụ Tú Diêu, thầy dạy chữ và dạy
    soạn tuồng hát bội cho cụ Đào Tấn. Đến chùa Nhân Ân, xưa gọi là đình, men theo đường
    ruộng phía tây trên trăm mét thì gặp Gò Đình, nơi yên nghỉ của Phó soái Lê Tuyên và thần
    mã Kim Bông.
    Dượng Chín nhìn nắng chiều còn sót lại trên ngọn tre, thốt lên:
  • Thế sự trên trăm năm mà tưởng chừng như mới hôm qua!
    Tía nói, theo đạo trời, ngựa sinh ra vốn dĩ tự do. Ngựa bị đóng yên, khớp mỏ, ấy là đạo
    người. Ngựa sống chí tình, chí nghĩa với người và đồng loại. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ
    cỏ”. Ngựa sống không loạn luân, ngựa mẹ thà chết không cho con phối giống! Người có
    mấy ai sống chí tình, chí nghĩa như ngựa?
    Thiên hạ, dù dễ tính hay khó tính, đều đồng thuận rằng: Ngựa biểu tượng cho sức mạnh,
    như, “Máy có mấy mã lực?” Hoặc, “Lúc này, tao thấy mầy ngựa quá! Đồ ngựa, con đĩ
    ngựa!” Có lẽ nhằm nói lên sức sống mãnh liệt của người phụ nữ. Chẳng có chi là xấu, tốt!
    Ngựa in dấu thời gian. Có người nói: “bóng câu qua cửa sổ”. Đời nhà Thương bên Tàu,
    người biết dùng ngựa kéo xe đi phương xa mua bán nên được gọi là thương nhân. Về sau
    gọi là thương nghiệp, thương mại. Ngựa ta, ngựa Tàu, ngựa nào cũng ngựa. Có điều, Xích
    Thố của Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc cách đây 1.800 năm chỉ là ngựa hư
    truyền! Còn Kim Bông của Lê Tuyên trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp
    cách đây trên 100 năm mới chính là ngựa thực truyền! Mỗi khi nhắc đến ngựa chết vì chủ
    ta chỉ thường nhớ Xích Thố ở tận đâu đâu bên Tàu, mà quên Kim Bông mà mồ mả còn sờ
    sờ trước mặt… Vậy nghĩa là sao?!
    Xứ mình có ba cái tên cùng chung một nghĩa: bông, hoa và huê. Gọi sao cũng được.
    Hương sắc còn tùy. Thiếu mặt này, dư mặt kia. Hiếm khi đặng tròn vẹn cả hai. Chơi hoa,
    đến cụ Nguyễn Du còn phải thốt “Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!” Trời sinh vậy mà,
    bạn hỏi mần chi? Trong bữa ăn nhà quê, bao giờ cũng có món “bông” hiện diện: lúc bông
    bầu, bông bí, bông mướp; khi bông điên điển, bông súng, bông chuối. Má thường dặn con
    cái, muốn hiểu người bạn đời – ngoài những yếu tố khác, có một yếu tố cực kỳ quan trọng,
    là hãy nhìn cái miệng người đó trong lúc đang ăn. Tại sao? Vì khi ăn, miệng thể hiện văn
    hóa, tư chất, tính cách con người! Miệng nói, lời có thể dối trá. Miệng ăn, nhứt định là thực.
    Kẻ đó, bán sống mua chết cũng “chạy trời không khỏi nắng!”.
    Chú Sáu chưa rõ:
  • Tại sao người xưa chọn hoa cúc vàng làm nền đắp nổi tượng ngựa Kim Bông mà
    không chọn một loài hoa nào khác?
    Dượng Chín có ý kiến rằng:
  • Cổ nhân xếp hoa cúc vô trong tứ quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Tại sao, thì phải hỏi anh
    Năm.
    Tía tiếp lời dượng Chín:
  • Mỗi sắc màu hoa cúc mang tâm tình riêng, ý nghĩa riêng. Không trùng lặp, không
    giống nhau. Cõi trần gian, chẳng có loài hoa nào sánh kịp sự bền bỉ thủy chung như hoa
    cúc. Bởi lá và hoa cúc dù úa tàn, khô héo, vẫn ôm cành, không rơi xuống đất. Ông bà xưa
    thường nói: “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”.
    Chú Sáu giờ như thấu cảm:
  • Phải rồi, hoa cúc là biểu tượng cho lòng thủy chung, cũng như ngựa Kim Bông dùng
    sinh mệnh mình để bộc lộ lòng chung thủy! Người xưa để lại cho hậu thế những điều thật
    đáng suy ngẫm. Há lẽ người thua súc vật sao!
    Tía kết thúc câu chuyện:
  • Đất yêu quái không có chỗ sống cho người lương thiện! Người đời tôn vinh Bình Định
    “đất võ, trời văn”, hẳn hồn thiêng sông núi nơi này đã nảy sinh nòi giống ngựa Kim Bông
    và được điểm tô bởi loài hoa cúc trên khắp mọi miền đất nước.
    Mặt sông chuyển màu sẫm tối.
    Ba lão bạn đời cùng cạn ly rượu cuối cùng, chờ thời khắc giao thừa sắp đến!
    (Mộ chiến mã Kim Bông tại xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ
    (nay là xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai).

Read Full Post »

Lê Tâm

.

Ngay từ cuối tháng 11 âm lịch tôi đã đi các chợ đầu mối để tìm mua củ kiệu làm dưa món. Đi khắp các chợ đầu mối các chủ sạp hàng đều bảo rằng phải qua tháng chạp kiệu mới về.

Không nản lòng, tôi ngược lên chợ Hóc Môn, may thay trong một hàng bán rau nằm khuất nẽo, những bó kiệu nguyên lá xanh um dành cho các bà nội trợ đang muốn làm món dưa kiệu chua đầu mùa. Bà cụ bán hàng bảo mùa này dưa kiệu chưa già, làm dưa món chưa thật ngon. Nhưng không sao, miễn là có kiệu, nguyên liệu không thể thiếu được để làm món ăn đậm vị tết miền trung: dưa món.

Ngay từ tháng 10 dương lịch, con trai tôi từ Đức đã gọi điện thoại bảo tôi: Ba, Mẹ ơi nhớ gửi dưa món cho con. Sợ tôi quên, chỉ ít phút sau trên zalo cũng hiện ra dòng chữ ” Nhớ gửi dưa món nghen ba, nhiều nhiều kiệu một chút, con thích ăn kiệu” Lời nhắn trên messenger như bảo tôi rằng tết đã đến rất gần.

Như những gia đình miền trung khác, dưa món là món ăn không thể thiếu được trong những ngay tết cổ truyền của nhà tôi. Có lần mẹ tôi nói tết thiếu gì cũng được, không thể thiếu hoa vạn thọ và dưa món. Cũng lạ, không phải trân châu mỹ vị gì, chỉ một ít củ kiệu, đu đủ, cà rốt, dưa leo xắt mõng phơi khô, thêm ít quả ớt đỏ rừng rực kèm ít lát thơm sấy trộn đều, dằn thật kỹ trong lọ nước mắm đường là đã thành vị tết.

Vì sao dưa món lại là món ăn tiêu biểu cho tết miền trung mà không phải bánh chưng, bánh tét, bánh tổ, hay thịt kho trứng vịt….? Có lẽ ở vị kiệu thơm nồng của dưa món. Thứ nguyên liệu rất đặc trưng mà mỗi năm nông dân miền trung chỉ trồng và thu hoạch duy nhất một mùa vụ tết. Không có kiệu thì không còn là dưa món ngày tết. Và như một logic, không có dưa món thì món ăn ngày tết thiếu hẵn vị tết cổ truyền

Dưa món hình như là món ăn liên kết giữa quá khứ và hiện tại. Hình ảnh tôi còn bé, chỉ đâu sáu bảy tuổi đã xúm xít ngồi chung quanh xem mẹ cắt tỉa đu đủ, củ cải, cà rốt thành những lát mỏng, với vô số hình vuông chủ nhật, hoa, ngôi sao. Rồi phụ mẹ phơi kiệu, lột kiệu, kể cả đứng canh nồi nước mắm đường sôi liu riu đến khi dẽo lại. Ba mươi năm sau, khi tôi có gia đình vào lập nghiệp tít phương Nam, dịp tết, khung cảnh ấy vẫn hiển hiện như mới ngày hôm qua. Con trai tôi, con gái tôi chỉ mới năm bảy tuổi vẫn xúm xít xem và phụ tôi làm dưa món. Chúng bu quanh cái thau men to hau háu nhìn những củ kiệu trắng nõn lẫn trong màu đỏ màu xanh và màu vàng óng ả của đu đủ cà rốt dưa leo củ cải và màu cánh gián của nước mắm nhỉ. Tất cả khi trộn lẫn vào nhau, những thứ nguyên liệu rau củ bình thường hằng ngày ấy bỗng dậy hương và trở thành một mùi vị vô cùng đặc biệt, mùi tết.

Hồi tôi học đại học ở Tp Hồ Chí Minh, thời kỳ bao cấp vô cùng khó khăn. Hai bữa ăn ở căng tin chủ yếu là khoai sắn ghé vài hạt cơm gọi là, kèm thêm ít rau xào cộng tô canh “toàn quốc”. Một hôm gần tết đi bộ ngang qua chợ Trương Minh Giảng, thấy bán ít kiệu Huế, tôi nảy ra ý định làm món dưa món. Miền nam rau củ quả nhiều, tháng 12 nắng oi ả , kiệu chỉ hai ngày là khô hanh. Còn cà rốt củ cải đu đủ thì rẻ ê hề. Duy nước mắm thì không tìm đâu ra. Nghĩ mãi rồi tôi cũng tìm ra công thức muối pha với đường, loại đường vàng tiêu chuẩn nửa kí mỗi tháng dành cho sinh viên. Đường sao vàng trên chảo cháy sem sém rồi đổ nước vào đun thật sôi cũng ra một thứ nước cũng tạm gọi nước mắm. Vậy là thành món dưa món biến tấu. Lũ bạn miền Nam của tôi ăn thử đều khen nức nỡ.

Dưa món tôi làm xong hồi đầu tháng chạp. Đợi dưa ngấu, thơm lừng tôi chắt bớt nước mắm, đóng kỷ trong hộp nhựa, gói vô số lớp bao bì gửi đi Đức theo đường chuyển phát nhanh cho con. Cách vài ngày tôi lại nhắn xem hàng đã đến chưa. Mãi đến sát tết con tôi mới vui mừng báo tin rằng hủ dưa món đã đến Đức sau hơn 20 ngày kèm theo lời phụng phịu ” Ba ơi sao ba gửi ít kiệu vậy ba? “

Tết này đúng trưa 30 khi nhà tôi quay cảnh mâm cổ gia đình với món ăn không thể thiếu là dĩa dưa món thì con tôi cũng chụp cảnh nhà nó chuẩn bị mâm cổ tết cũng với món dưa món gửi từ Việt Nam sang kèm thêm câu nhắn ” Cảm ơn ba mẹ đã gửi dưa món cho con. Có dưa món tự nhiên mới thật sự thấy tết về “

Lê Tâm

Read Full Post »

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Trên khắp thế giới không một đất nước nào chuẩn bị đón Tết như đất nước tôi.., rộn ràng và trang trọng khắp mọi nhà , khắp cùng tổ quốc tôi.

Những ngày cận tết nơi này…Trong trí nhớ già nua của một lão bà ngoài ” Thất thập” …Ngẫm lại chuyện ngày xưa”’

+++Tiếng Pháo vẳng từ xa đã râm ran nổ từ sáng ngày 23 tháng Chạp, những ngày giáp Tết dậy lên từ ngày này, tục lệ này không biết có từ bao đời,

Chiều qua Mẹ tôi đã mua sẵn ba con cá chép rộng sẵn trong chậu, bộ áo giấy cúng”” Ông Táo”, mâm quả, giấy tiền vàng bạc cùng những thứ để nấu xôi chè và một cỗ pháo đỏ, trước khi đi chợ sớm người còn dặn tôi ở nhà đem bánh pháo ra phơi khi nắng lên để chiều nay khi đốt tiễn ông Táo tiếng nổ được kêu hơn.

Buổi chiều khi mâm cỗ được đặt lên chiếc bàn nhỏ đặt riêng giữa nhà, mùi hương bay ngào ngạt,

Mẹ tôi thắp nhang lên bàn thờ ông bà , sau đó đốt một bó nhang lớn và lâm râm khấn vái ..

“Xin ông bà Táo về chầu trời mang theo những ước nguyện của gia đình, xin cho thựợng đế ban cho gia đình này năm tới được những điều tốt đẹp, và nhắn Ông bà táo về trời mang đi những điều xui xẻo, những chuyện không vui của năm qua.

Xin cho ba đứa con gái của con được thành gia lập thất với người ” Ngồi bàn giấy” …( Những lời cầu xin của mẹ hàng năm…ba chị em tôi chưa có đứa nào tìm ra một chàng trai ” ngồi bàn giấy”…để mẹ tôi được an lòng )

Những lời cầu xin tôi chưa từng nghe trọn nhưng tất cả với tấm lòng thành mà mẹ tôi muốn gởi gắm cho ông bà Táo mang đi…hầu như ông bà Táo vẫn làm ngơ…

Sau khi khấn vái xong chờ cháy gần hết bó nhang, Mẹ tôi cho treo phong pháo dài trước cửa, màu đỏ thắm của những chiếc pháo kết xen nhau, điểm kèm những chiếc pháo tống to bằng cổ tay tôi, lủng lẳng trước cửa nhà.

Vẳng bên tai xa xa những tiếng pháo nổ râm ran…giờ phút chờ đợi nhất của bọn trẻ tôi.

Bọn trẻ chúng tôi đã âm thầm thông báo nhau biết nhà nào sắp nổ pháo, chúng tôi chầu chực sẵn bên hông nhà để chờ nhặt những chiếc pháo sót, quang cảnh thật là nhộn nhịp và háo hức.

Khi tiếng pháo bắt đầu rền vang, chúng tôi chen nhau lượm những viên pháo chưa nổ kịp, trộn lẫn trong những xác pháo hồng tung tóe sau tiếng đì đùng, những xác pháo vương vãi trên nền xi măng, những chiếc pháo còn dính chiếc tim màu trắng đục là niềm vui háo hức của bọn trẻ chúng tôi.

Hơi khói cay nồng xộc vào mũi , làm cay mắt, nhưng tất cả thật vui và hoạt náo trong lòng lũ trẻ.

niềm vui chúng tôi nhân lên khi đì đùng ở các nhà lân cận

Sau khi lượm ở nhà mình xong, xếp cứng trong túi áo, chúng tôi lại bương bả chạy sang những nhà khác, lại chen lấn, lại kiếm tìm và vui mừng đem về những chiếc pháo còn mới nguyên và đang hăng hắc mùi thuốc pháo, sau khi đã thu về một số phẩm vật đầu tiên cho mình, bọn trẻ bắt đầu đốt lẻ tẻ những viên pháo vừa nhặt được

.Tuy tìm kiếm và chất đầy hai túi áo nhưng chưa lần nào tôi dám cầm que diêm châm vào ngòi pháo vì sợ cháy tay và sợ tiếng nổ điếc tai, tôi thường chạy tìm thằng Ku , đứa bạn nhỏ xóm bên ( nó nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng gan dạ hơn tôi, vì nó là con trai), hay chạy kiếm các anh họ tôi đốt hộ, và sau khi đã tiêu pha hết chỗ pháo của mình, chúng tôi lại hăm hở đi nhặt ở các nhà đầu làng cuối ngõ.

Rồi đúng mười hai giờ đêm Giao thừa…

Lại một lần nữa tiếng pháo rộn ràng từ khắp mọi nhà nổ vang trong niềm vui rộn rã

+++

Ngày tháng vẫn cứ trôi…

Qua hai lần thế kỷ…và cũng gần “Bảy thập kỷ ” qua rồi…

Sau này khi lớn lên một chút, tôi đã trở thành cô thiếu nữ, biết ngồi phụ mẹ xếp mâm quả, thay mẹ nấu xôi chè, bắt ghế treo phong pháo đỏ trước nhà vào sáng mồng một .

Cái cảm giác nao nao nhớ lại những ngày xưa bé, mới hôm nào còn lượm pháo nhờ bạn đốt, bây giờ chúng tôi là những thanh niên nam nữ, mỗi đứa đi học một trường xa, vào những ngày giáp Tết, trở về nhà nhìn nhau thẹn thò nhớ về những ngày xa cũ cùng chen nhau trước cửa nhà ai lượm hoài những viên pháo sót.

Ôi, những viên pháo sót của tuổi thơ tôi…

Năm tháng …và cuộc đời vẫn cứ trôi, chúng tôi lớn dần theo bao mùa Pháo nổ, mỗi người rồi có một cuộc đời riêng, những ngày cuối năm ở một nơi xa xôi nào đó trên quê hương nhưng ở một thành phố lạ, nhớ quắt quay tiếng pháo buổi chiều xưa, bao công việc cuối năm với bao bộn bề, nhưng tôi cũng cố bương bả trở về nhà trên chuyến tàu đêm.

Trở về đoàn tụ trong căn nhà xưa bên gối mẹ.

Ngồi trên con Tàu lạnh buổi chiều Xuân, nhìn quang cảnh hai bên làng mạc khi con Tàu đi qua, nồi bánh chưng đang đưa hơi khói tỏa trong buổi chiều Xuân, của những mái nhà hai bên khung cửa sổ con tàu.

Những bước chân vội vã của khách bộ hành rảo chân trên đường cái quang rộn rã. ..

.Những mùng mền , chiếu gối đang giặt giũ tất niên trước những mái tôn xiêu

Tiếng gọi nhau rôm rả, bước chân những đứa bé vui rộn rã háo hức chờ đón chúa Xuân

Tất cả mọi nhà đang chuẩn bị chờ.đón giao thừa

Niềm vui của mọi nhà gói ghém trong từng mái ấm

Háo hức cùng nhau đón Xuân sang

Tiếng pháo xa xa nổ rộn ràng

Xáo xác mọi nhà hồng xác pháo

Lặng thầm sau cửa Mẹ chờ mong

+++

Rồi năm tháng vẫn lặng thầm đưa tiễn nhau qua bao mùa Xuân của cuộc đời, Bao thập kỷ qua đi trên mái tóc

Đã bao lần Tết đến mà không thấy người xưa trở về căn nhà cũ…

Bóng mẹ già mỏi mòn bên cánh cửa ngóng trông đứa con xa

Rồi cũng đã bao mùa xuân qua…Không còn nghe tiếng pháo…

Những buổi sáng mồng một trong căn nhà ngày xưa không còn thấy bóng dáng những đứa trẻ chen nhau nhật pháo sót,

Những mùa Xuân không tiếng pháo,..

Cô thiếu nữ ngày nào ra đi biền biệt khi tiếng pháo vu qui nổ vang lần cuối trước sân nhà …ngày xa xưa ấy…

Bóng mẹ già mòn mỏi những buổi chiều Xuân…

Không biết có ai còn nhớ ” Cô gái năm xưa cùng những viên pháo sót được mươn bạn đốt dùm”…

Qui kỳ hà nhật thị

Lão cận cố hương mai

Không biết bao giờ người xưa mới quay trở lại nhà , gốc mai già cỗi chỉ còn lại những bông hoa nở muộn, người con gái năm xưa đã bao năm trường biền biệt,

Từng năm khi Xuân về trên đất Mẹ, vẫn vọng nhớ về những ngày xưa xa lắc mà không sao trở lại bên mái nhà xưa mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp, ngồi sắp xếp mâm giấy tiền đưa ông Táo

Ở một nơi xa …bên kia nửa vòng trái đất xa mờ …

Khi mùa Xuân về trên đất mẹ.

Người con gái năm nao vẫn luôn lặng thầm nhớ hoài và thèm những miếng bánh chưng do chính tay mẹ gói.

Hương vị ấm nồng bên bếp lửa hồng của căn nhà mới sơn còn vương chút vôi mới,

Mấy chị em hăm hở chen chúc nhau trước chợ Hoa chỗ công viên của thành phố Quy Nhơn, trả giá mua cho được mấy chậu Cúc nở kịp ngày xuân, hay một cành mai vàng đúng độ,

Trang trọng giữa nhà , với những tấm thiệp chúc Xuân được viết bằng tay của bạn bè trao nhau ngày ấy…

+++

Những mái đầu xanh của ngày xưa ấy, nay đã thay màu theo tháng năm, những cuộc đời đã lật sang trang sách mới, chỉ nhớ lại tháng năm xưa trong nỗi nhớ lặng thấm, cành Mai cũ và những viên pháo sót.

Bây giờ tất cả chỉ còn là nỗi nhớ tiếc, trong cái lạnh căm của mùa Đông nơi đất khách, chỉ là chút nhớ nhung vọng tưởng mà thôi, ở đây mùa Xuân chỉ thấy những Bông Tuyết trắng lạnh ngập hồn, lạnh thấu tâm can, lạnh khô máu thịt, lạnh cứng tim hồng ,

Ngoài trời chỉ sót lại những cành cây trơ trụi lá và những bông tuyết phủ dầy …

Một người già …bên trong cánh cửa lặng thầm ngắm từng hạt Tuyết rơi…

Hồn lửng lơ… mơ về Xuân quê Mẹ.

Mơ về Tết cũ nơi quê Mẹ

Hoài niệm mà thôi đã ngậm ngùi…

Ở đây

Cũng có bánh chưng xanh

Dưa kiệu, dưa hành cùng bánh mứt

Không chút hương Xuân đến bên mành

Con tim

canh cánh hoài xuân cũ

Nỗi lòng vò võ suốt năm canh

Gởi theo gió thoảng bông hoa tuyết

Tiễn cả xuân qua đã bao niên

Rộn rã

Xuân sang sáng ngập nhà

Như người vừa tỉnh giấc nam kha

Một mình tĩnh lặng ngồi gõ phím

Trãi nỗi lòng đếm ngày mau qua…

Tết này

Ta trở lại quê ta

Bao nhiêu thập kỷ …bàn tay đếm

Lâu quá không còn nhớ bao niên…

Trong tĩnh lặng của mùa Đông tôi chợt nghe vài tiếng pháo vẳng lại từ xa, hình như là tiếng pháo nổ lẹt đẹt, những viên pháo sót tôi đang nhờ đứa bạn nhỏ xóm bên…

Châm ngòi rồi bịt tai chạy trốn trong xó cửa.

Ôi, những ngày Tết quê xưa…

Nhớ hoài những viên pháo sót.

Ngày trở về thành phố cũ..

.Không còn nghe tiếng pháo nổ đì đùng

Chỉ nghe nhịp đập con tim đang loạn nhịp vì nỗi háo hức của kẻ tha phương tìm về bến cũ, mái nhà xưa .

Atlanta ( Những ngày chờ mong một chuyến bay…2026)

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Tản văn Sơn Trần

.

Tháng Chạp bồng bềnh trôi giữa tiết trời se lạnh cùngtừng cơn mưa phùn lất phất, mơn man. Nắng chưa đủ ấm vì không gian còn phủ đầy những áng sương. Mây một chiều ơ hờ giăng tím, cố tình gợi khơi trong tâm hồn người xa xứ sự nhớ nhung và hoài niệm chốn yên bình. Một năm trôi đi quá nhanh, mới khe khẽ chạm thu, lác đác lá vàng rơi, nay mùa đông cũng đã chùng chình rời đi như trong lời bài hát cũ… Tháng Chạp đã về khiến chúng ta ngỡngàng, đôi khi chưa kịp nghĩ lại những gì đã trải, để vững tin bước tiếp trên đường đời. Tạm quên đi những âu lo và nhiều dự định chưa thành, tháng Chạp về cùng những yêu thương…

Tôi đi về phía làng, bờ hoa dại ven mương và hương lúa vào kỳ ngậm đòng từ cánh đồng theo gió nhẹ len vào, ngọt đằm và mê mải. Con đường bao quanh làng sau nhiều năm vẫn vậy, nối làng với đồng, với sông, với chợ, dẫn tôi đi qua những kỉ niệm thuở thiếu thời. Tôi bỗng thấy mình bé dại giữa bao nhiêu sự đổi thay của quê nhà, nhưng lại không hề quên lãng những điều đã khắc khảm trong tim. 

Đây là dòng sông, trong đục hai mùa mưa nắng. Sông oằn mình, cuộn trôi vào mùa mưa lũ, sông thong thả, nhẹ nhàng soi ánh mặt trời mỗi độ hè sang. Sông chảy qua cuộc đời, bồi đắp buồn vui cho những phận người bé nhỏ… Sông là hình ảnh quen thuộc, hình hài được thiên nhiên tác tạo, phần nào biểu hiện cho vẻ đẹp của một vùng đất, để ai đó nếu xa quê, sông luôn chảy tràn trong kí ức…

Đây là cánh đồng, nơi cất giữ tuổi thơ và nuôi dưỡngkhát vọng cho bao thế hệ. Những đụn khói đốt đồng, những sợi rơm vàng vương vãi dọc đường đê, những cụm lúa rài, những mùa nước nổi… Bát cơm ngày giáp hạt, bước chân trâu qua vũng bùn mùa hạn… Tiếng bầy vịt kêu váng lên khi lùa về chuồng, tiếng côn trùng rỉ rả trong góc tối, bụi bờ… Đấy là vị quê, tiếng quê, dễ gì quên được…

Tháng Chạp đã về, cõng nỗi nhớ quê nhà khi cơn mưa bất ngờ đi ngang lúc hoàng hôn. Tôi giật mình, ngước nhìn con đường vừa qua, con đường rợp xanh bóng lá. Để uớt mình trong cơn mưa lạnh, trầm tư điều vừa thoáng nghĩ… Hình như đất trời tháng Chạp có vẻ nồng nàn, quyến dụ hơn. Có điều gì đó tươi mới trong từng hạt mưa rơi nghiêng xuống tóc, len qua vai và đầm đìa lưng áo. Tôi nhìn ngắm vòm cây, lúc này bóng tối đang dần xâm chiếm, lá xạc xào và gió đung đưa. Tôi đi trong mê mải, để kiếm tìm, đúng hơn là để tận hưởng chút hương mùa xuân đang giấu mình trong đợt mưa bất chợt. Tôi đang đi tìm chút kỉ niệm xa xưa?  Sự đồng thoại của hiện tại và quá khứ, của yêu thương và giãi bày vừa cất lên. Cơn mưa ngọt mềm, khe khẽ chạm vào kí ức, bật tung nỗi niềm đã đưa tôi về một miền xưa đầy nhung nhớ, đấy là miền yêu thương của những tháng năm dẫu đã xa nhưng chưa hề vơi cũ. 

Một chiếc lá vàng sấp ngửa, rồi nằm lặng lẽ dưới chân, chùm hoa bên rào ướt mưa rũ mềm dưới ngọn đèn đường hắt bóng. Hoa nở báo xuân về, những bông hoa khiêm nhường tô điểm cho sắc mùa thêm đầy sức sống…Tôi lắng lòng suy nghiệm về đời hoa như cuộc đời mỗi con người, không thể nào thoát ra khỏi quy luật của tạo hóa. Nhưng khi tháng Chạp về, kết thúc một năm, để rồi bắt đầu những tháng ngày nối tiếp đầy mong đợi, cuộc đời con người sẽ đón nhận nhiều niềm vui, và hoa lá cũng đưa mình vào dòng chảy bất tận của thời gian để sinh sôi và dâng hiến.

Hình như mỗi khi tháng Chạp về, cái thời khắc đáng nhớ ấy, luôn đem đến cho con người những suy tư, trảinghiệm. Dải sương trắng mơ hồ, những chiều gió bấc phai dần trong tiết trời se lạnh khiến lòng người chậm lại trong nghĩ suy và nhìn nhận… 

Tôi đã thực sự trở về quê sau nhiều năm ở phố, gom nhặt cho riêng mình những hồi ức đẹp khi tháng Chạp vừa chạm bước. Tôi thấy mình nương theo những tháng ngàyđã cũ thật bình yên để hòa vào những nhớ thương thuở nào trong một buổi ban mai tinh khiết. Tôi nhủ lòng, nghĩ về ai đấy, dù đã xa quê hay còn gắn bó đời mình trên đồng đất quê nhà thì những đẩy xô hiển nhiên của cuộc đời hay sự trôi chảy vô tình của thời gian cũng không thể làm con người lãng quên những niềm thương đã từng  có được. Con người ta có yêu thương thì mới trưởng thành và bao dung, con người ta biết quý trọng những thời khắc trôi qua mới ghi khắc những gì giá trị để cuộc đời thêm ý nghĩa. Và tôi chợt nghiệm ra rằng, tháng Chạp là khoảng thời gian đẹp nhất để chúng ta níu giữ và trân quý từng bước chuyển mình của đất trời để mùa xuân đi qua không lặng thầm và vô ích.

                                                                                      Sơn Trần

Read Full Post »

Mùi cổ tích

Ngô Đình Hải

.

Hẻm nhỏ, lại là hẻm cụt. Nhà cũng nhỏ san sát nhau. Hai nhà đối diện nhau cái lối đi chỉ vừa đủ cho hai người qua lọt. Chỗ ăn ở còn thiếu, kiếm đâu ra cái sân với cổng rào! Đứng nhà bên này qua nhà bên kia, phước từ trước ra sau. Ban ngày còn nhịp đập người qua lại. Chiều tối, người ta kéo nhau ra chật cứng, con nít chơi một chỗ, đàn ông tụm nhau lại lai rai, bàn chuyện …thế sự, đàn bà thì ngồi ngay trước cửa tám chuyện gía cả, chợ búa. Người không rõ mắc bệnh vô nghĩa!

Hẻm lâu đời, dân tứ quê hương về từ hồi non hồi nào, đeo nhau mà sống, rồi ở miết suy ai chịu tới đi. Lâu hai, ba đời thì như nhà thầy giáo Lân. Mới lắm như vợ chồng con Bé Ba cơm tấm cũng có gần hai chiến năm!

Ở lâu, tới số nhà mình “bộ” mấy cũng không ai nhớ. Khách lạ cứ tới đầu hẻm, réo một cái tên, là có người liền kề. Tới cách sống cũng gần như nhau. 

Đàn ông làm đủ thứ nghề, đàn bà thì đu ra cái chợ chồm hổm, gần khu gò mả mà kiếm ăn. Chợ không có tên, nhưng mua thứ gì cũng có. Người mua, người bán quá quen nhau, bữa trưa nào hụt mua thiếu cũng được. Một phần đời của dân trong hẻm gửi ở chợ này. 

Nhà giáo Lân cuối hẻm. Gọi thầy, là trước đây đã dạy, sau “giảm biên chế” về bán vé số, cũng ngay trên chợ, tránh xa sự trợ giúp trong vòng xin vui lòng. Được cái, trong xóm ai cần gì, liên can tới chữ nghĩa, giáo Lân cân tuốt. Viết giùm cái đơn, khai xin cái lý lịch hay chiều tối, dạy thêm cho mấy đứa nhỏ còn đi học trong xóm, giáo Lân đều làm tới nơi tới chốn. Tất cả đều là…miễn phí! Bù lại, chiều nào tan chợ, giáo Lân cũng có tô bún hay rào cơm tấm ế của xóm chợ cho. “Mồ côi” vợ, sống cu ki một mình, coi như cũng tạm ổn. Sống bất cứ ngày nào tính ngày đó. 

Chợ Xóm có cái giờ sống riêng. Tối 8,9 giờ, xóm đã im re, 2,3 giờ sáng mới lục đục lên đèn, những cái bếp lửa tối. Bún riêu, phở, bún bò, cơm tấm, xôi,…mạnh ai ai nấu, để đáp trả mang ra chợ bán. 

Giáo Lân cũng không ngoại lệ. Khuya dậy, nấu ấm nước, pha ly cà phê, bắc cái ngồi trước cửa. Ngồi trong cái vũng tối lấp lánh ánh sáng của một số nhà bên cạnh. Thoải mái nghỉ ngơi. Lẫn trong cái mùi đất, mùi sương còn sớm trên cây cỏ là mùi hương, quế của nhà con lành đang nấu phở, mùi cay nồng của ớt sa tế cho bát bún bò của nhà thằng Tý.

Giáo Lân cho qua hết. Lão chờ cái khác! Một chút nhẹ nhàng hơn, lãng mạn hơn, len lỏi đưa vào mũi. Cái mùi thanh thoát như con gái mười tám. Cái mùi vượt qua những thứ tầm thường, luôn ở trên vị trí của mình. Cái mùi như những chuyến xe đưa quà Lân về thời thơ mộng! Cái mùi nối liền cánh đồng lúa ngút ngàn với con diều của Lân trong những thời kỳ nghỉ hè thuở nhỏ. Cái mùi không thể trộn lẫn ở bất cứ đâu! New new model! Mùi của những hột ngọc nhỏ trắng phau, thơm phức, bốc lên từ cái bếp nấu xôi của bà Bé! Không có mùi hương quyến rũ và gần gũi hơn nó. 

Hãy thở cho no nê cái mùi thanh bạch đó, cho tới khi nó không còn mảnh nào trong không khí nữa. Giáo Lân mới đốt cháy thuốc và thưởng thức ly cà phê đột phá của mình, trong cái tiếc rẻ, như người vừa tỉnh sau cơn mộng đẹp, hay vừa để trượt khỏi tay một phần đời của mình…

Bà Bé bán xôi trên chợ, ở đó mấy căn. Hai đứa con gái lớn sẽ đi may ở Khu Công nghiệp, cuối tuần mới về. Mình bà loay hoay với nếp với đậu. Chỉ có hai thứ xôi duy nhứt. Xôi đậu xanh, đậu đập, ăn với muối mè, đường cát. 

Xôi nấu xong, phê ra hai thúng, hai đầu gánh. Gói mồi nóng đầu tiên, gói bảo hiểm, tặng cho bộ Lân trước, rồi mới phải bó lên chợ. Xôi ghi sổ, năm nửa tháng trả một lần. Giáo Lân lo nợ tiền, còn bà Bé nhớ gói xôi. Hai thứ gói thay đổi, mỗi ngày một gói khác nhau. Vậy mà giáo dục Lân ăn ghiền, ăn không biết chán…

Cái gì lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành thói quen. Nghèo cũng là một thói quen quen thuộc của khu chợ. Người ta chấp nhận tự quên đi nhiều thứ, để bằng lòng với cái mắt trước.

Đã nói là dân tứ xứ mà. Trung,Nam,Bắc có đủ. Đạo gì cũng được, thờ cúng ai cũng có cái gì khác nhau đâu! Đàn ông chỉ cầu mong cho có đủ sức để ra đường kiếm ăn, đàn bà cầu từng buổi chợ đông để ngày mai còn mua bán tiếp. 

Rốt cuộc, nghèo thì đã nghèo rồi, cực cũng đã cực rồi. Dân trong hẻm chỉ như vậy là được.

Dịch cả tháng này, mỗi ngày trên mỗi lan rộng. Ngó đâu cũng được tìm thấy. Người lớn đi về tĩnh lặng. Trẻ con lẩn trốn trong nhà. Hẻm vắng hơn và tiếng ồn ào hơn. Gánh xôi bấp bênh. Bánh chè chao đảo. Ế thì tặng về cả nhà ăn thay cơm, mai lại nấu lại bán. Chợ còn đó, lo gì đói! Lo lắng và sợ hãi là những thứ xa xa, rảnh rỗi mà quan tâm tới nó.

Cho tới bữa sáng có ánh sáng đóng cửa cửa hàng vì có người bị nhiễm bệnh. Thu nhỏ lại, rào kín bưng. Con hẻm tối nay sáng đèn hơn, trùm nền sáng nặng nề thứ nhẹ lên mọi thứ. Y tế mới xuống thử nghiệm, im lặng không ra đường, chờ kết quả. Chưa ai chịu đi ngủ, mà mai có cần dậy sớm đâu? Người ngồi trước nhà, miệng che khẩu trang thì thầm bàn tán. Những tiên đoán chờ đợi và cái nghi hoặc cứ đeo đẳng, tăng dần cho đến muộn.

Đêm Yên Thắng, cái Yên Thắng không bình thường trước lúc cô độc. Giáo Lân không thể ngủ được. Chờ, không biết chờ gì. Lâu dài, có tiếng nhím xe tình thương ngoài đường vọng lại. Ngày mai chắc chắn sẽ là một ngày dài lắm đây. Chợ nghỉ, dậy sớm làm gì? Nhà thằng Tý, con lành, bà Bé dậy sớm làm gì? Không có xôi thì chiên cơm nguội. Nhiêu đó mà thắc mắc, thoải mái, lạ thiệt chứ! Cứ như vậy mà nó hành giáo Lân gần trắng đêm. Cho tới khi mũi lão như nở ra, mắt lão như sáng lên. Lão nằm hít đầy đệm lót kẹp, cái mùi thơm quen thuộc đang len qua khe cửa, chui tọt vào trong mùng. Cái mùi mơ hồ như những câu chuyện cổ tích lão nghe hồi nhỏ. Các mục phù thuỷ, công chúa, hoàng tử theo cái mùi xưa và quyến rũ đó, làm giáo Lân quà đi…

Có tiếng kêu cửa. Giáo Lân bùng nổ. Bà Bé cầm tay cầm Xôi còn bốc khói:

– Bin nay không có bán! Còn ít nếp với đậu tôi nấu cho hết. Thầy Hai ăn đi, Xôi mới nấu xong còn nóng, không có thiết đâu…

Giáo Lân chấm ra. Người ta giang dây kín con hẻm từ ai hồi đáp:

– Cám ơn bà. Bịnh tật có ai muốn đâu. Sống chết có số. Trời kêu ai ai dạ…

Bóng mờ, đã bóng những chiếc áo xanh, áo trắng ngoài đầu hẻm. Giáo Lân kéo ngồi ngồi cứng ra ngoài, bốc tay từng miếng xô đưa lên ngôn thật chậm, như lịch từng ngày trong đời mình. Buồn với vui, nếp với đậu, ngọt ngào như nhau. 

Ngoài hẻm, y tế đang gọi từng người, sắp xếp đồ đồ đi cách ly. Có tên con Lành, bà Bé và hình như có cả tên tuổi. 

Giáo Lân vẫn bốc xôi, vẫn bột đều đều. Lão già rồi, inu vàng gì. Cuối cùng quá già thấy mình như cây tôi già, vỏ bong tróc xì vì mưa nắng trước hẻm. Nó ở đó lâu quá rồi, giờ bứng mang đi nơi khác, chắc chắn có gì sống nổi!

Ngày mai, ngày mờ hay những ngày còn lại, biết đâu…Ừ! Biết đâu cái mùi đã già đi qua biết bao nhiêu phiền muộn không còn nữa. Hay sẽ không tìm thấy lão nữa. Cũng có thể không tìm thấy lão trên cõi đời này, nên trôi dần, trôi dần vào dòng sông xưa xưa. Dòng sông mang cái mùi…Cổ tích!

NĐH

Read Full Post »

Phiên chợ trong ký ức

.Ái Duy

.

Không biết có ai còn nhớ cái chợ bên đường chỉ chuyên bán hàng ăn sáng, họp từ tinh mơ cho tới giữa trưa là tan sạch sẽ, không để lại dấu vết. Chợ nằm ngay ngã tư giữa khu phố thị dân nghèo, tỏa ra bốn hướng, ngay trước cửa các ngôi nhà, ven hàng rào, dưới gốc cây. Có không dưới hai chục hàng ăn uống cố định đủ thể loại để phục vụ cho bữa sáng, chưa kể xe cà rem, xe bong bóng, gánh đậu hũ, hàng bầu cua xóc đĩa lưu động… Hàng gánh mâm thúng bày ra cả hai bên đường, khách ngồi trên những đòn gỗ quanh cái bàn thấp lè tè, san sát đấu lưng vào nhau, xe cộ đi ngang phải len lách. Đi rảo một vòng đầu chợ tới cuối chợ không tới trăm mét đã con mắt, cồn cào cái bụng.

Một phiên chợ chỉ họp buổi sáng

Chợ có bao giờ tôi cũng không rõ, chỉ nhớ hồi 5, 6 tuổi cứ mỗi sáng mở mắt là cầm mấy đồng bạc cắc của má phát cho tự đi ra đó ăn, chỉ cách nhà chừng vài chục mét, góc Bạch Đằng – Mạc Đĩnh Chi khu Xóm Mới Nha Trang. Phía ngoài là gánh hàng xôi, góc này là bà Bắc chuyên xôi bắp, xôi cúc; xéo bên kia đường còn 2 hàng xôi khác nữa. Rồi hàng khoai củ, bắp luộc để trong rổ kê trên một cái ghế thấp. Tiếp đó là bánh căn, bánh xèo, bánh canh, mì Quảng, bún bò, bún riêu, phở, bánh bèo hỏi, cháo, bánh mì, bánh ướt, bánh đúc… Gần như không thiếu món ăn sáng nào vì chợ có đã lâu, người dân tụ lại mua bán, hễ thiếu thứ gì lập tức có gánh hàng mới bổ sung ngay.

Ngã tư Bạch Đằng – Mạc Đĩnh Chi bây giờ. Ảnh: G.C

Còn có thêm hàng bán cơm rượu ngọt lịm ngồi sau lưng cột đèn mới ngộ, nhớ cô bán hàng múc vô chén cho khách mà dè sẻn như đong như đếm, làm cho đứa nhỏ cứ ước sau này có cả thau ăn cho đã. Đứa nhỏ đó chỉ có vài đồng cắc má phát cho mỗi sáng tự đi ăn, đủ cho một món đơn giản nhất như gói xôi hoặc ổ bánh mì chan nước. Nói thêm, bánh mì chan nước là món phổ biến thuở ấy, xẻ ổ bánh ra và chan vào đó thứ nước sốt béo ngậy toàn nước màu lẫn chút tóp mỡ, thêm chút dưa hành. Có khi nó lấy đồng bạc cắc đặt đại vô ô đánh bầu cua thử thời vận rồi ôm bụng đói về nhà, để rồi tự hứa với lòng đời này sẽ không bao giờ thèm chơi đỏ đen nữa. Nó cũng thích nhịn ăn mua bong bóng nhưng không mang về giấu được nên đành chịu.

Bà ngoại tôi có một gánh bánh canh bột gạo cá mối bán mỗi sáng ở dưới gốc cây nhãn khu chợ này. Tối đến, tôi theo ngoại ra Núi Một lấy bột, 4 giờ sáng ngoại nổi lửa bếp củi lách tách, 5 giờ đã gánh ra. Cá mối lành, ăn mát, hợp với trẻ nhỏ, người bệnh, ngoại mua về lọc xương nấu lấy nước, còn phần phi lê giã làm chả. Tiếng chày nện thình thịch trên cối đá mỗi trưa theo tôi vào giấc ngủ suốt thời thơ ấu. Hôm nào bán ế tới 9 giờ còn cũng phải gánh về để kịp đi chợ lấy cá mối bạn hàng để dành, nồi bánh canh bột gạo giờ đó đã nở lềnh ra, lắm khi phải ăn trừ cơm. Người dân trong xóm kêu ngoại là bác Bảy bánh canh, còn có bà Bảy mì Quảng nức tiếng, bà Ba cháo lòng không hề kém cạnh, chị Thơ bèo hỏi, cô Năm bánh căn… Sau ngoại lớn tuổi nên nghỉ bán, chỗ ngồi đó lập tức được người khác tới thay thế chớ không có chuyện sang sạp.

Mỗi buổi sáng lại nhớ một phiên chợ xưa

Chợ hưng thịnh nhất là sau năm 1975 cho tới cuối những năm 90. Chợ nhiều người biết đến hơn chớ không chỉ người dân trong vùng, tính ra cũng thật tiện lợi, ghé vô muốn ăn gì cũng có, không phải băn khoăn suy nghĩ. Tới giai đoạn dọn dẹp lòng lề đường thì khu chợ cũng bắt đầu bị giải tán và dần dần thu hẹp lại, chỉ còn những nhà cho thuê chút mặt tiền đủ cho gánh hàng ăn lùi vào thì còn tồn tại. Lần hồi vắng vẻ thưa thớt, người mua kẻ bán đều buồn thiu, hàng ăn bình dân cầm cự mãi rồi cũng biến mất nhường chỗ cho những cửa hàng mọc lên thay thế. Ngay cái tên khu Xóm Mới bây giờ cũng được gọi bằng tên khu Bàn Cờ.

Thi thoảng gặp người năm cũ vẫn hay nhắc nhớ về cái chợ ăn sáng thân thương này, nhớ món nọ món kia, nhớ người này người nọ. Người mới thì chắc khó hình dung ra chợ gì họp chút buổi sáng, toàn hàng ăn. Bây giờ đi qua đi lại hằng ngày, ngó góc này thấy trong ký ức hiện lên hàng bánh canh, góc kia là mì quảng, bún bò, góc nọ xe kẹo kéo…, thấy cả con bé ngái ngủ cầm đồng bạc cắc trong tay ngơ ngác mà nó cứ tưởng mình thông minh láu lỉnh lắm.

Sáng sáng, mỗi lần phân vân ăn gì, ghé mua ở đâu là lại thấy nhớ cái chợ này quá đỗi.

ÁI DUY

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »