Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trần Bảo Định’

Chuột ly hương

 
Trần Bảo Định
 
1.
Đêm Cần Giuộc.
Chuột Cống co ro trú ẩn nơi gò đất tha ma mộ địa. Ngoài trời, trăng tháng Chạp nhả sương tăm tăm mù mặt nước sông và đâu đó, tiếng ai văng vẳng hát câu đồng dao:
Buồn nào hơn buồn xa xứ
Trăm thứ nhớ, trăm thứ vương, trăm thứ thương, trăm thứ tội…
Người ơi! Em xin hỏi:
Bao giờ người trở lại quê xưa?
 
Chạnh lòng, Chuột Cống tặc lưỡi, thở dài – cái thở dài, ly hương!
Thêm lần nữa, Tết trôi qua… Thêm lần nữa, nó luân lạc xứ người. Bồi hồi – hình như có chút gì đó, ngậm ngùi. Nó hồi tưởng:
Chuột Cống sinh ra ở chốn kinh kỳ – cái kinh kỳ, một thời rực rỡ: Hòn ngọc Viễn Đông! 
Quê hương Chuột Cống từng từng lớp lớp nhà cao cửa rộng, tràn ngập ánh đèn đường đêm phố phường… ; và kỹ năng sống của nó, là đào đất xây thành hang ổ làm sở hữu riêng chẳng chung chạ cùng ai. Song, việc chiếm hữu đất xây hang ổ thì nó hoàn toàn không lạm dụng và tham lam, vì nó muốn con –  cháu –  chắt của nó phải biết sống bằng kỹ năng chớ không lệ thuộc sống vào bản năng. Chuột Cống điêu luyện khi di chuyển, như đi, chạy bằng bốn chưn; đào hang, leo tường trèo vách và nhảy cả hai chưn; bơi qua sông rạch, trượt cầu thang hoặc đu dây những lúc gặp phải cảnh ngộ bất trắc. Nơi chốn quê nhà, ở đất địa cũ, Chuột Cống thường dùng gan bàn chưn để đi lại, hoặc đi bằng bàn tay; chưn tay nó, móng vuốt dài và chắc khỏe –  móng vuốt dài và chắc khỏe đó, nó dùng đào hang ổ và cũng là vũ khí chống quân thù xâm lược, bảo vệ lãnh thổ. Chuột Cống, không giấu giếm mà luôn minh định dứt khoát ranh giới lãnh thổ của mình đối với các chủng loài chuột khác.
– Đại ca! Lãnh thổ của Đại ca từ đâu tới đâu, vậy?
Chuột Mái Nhà, mạnh dạn hỏi.
– Cái thằng Chuột Mái Nhà này, ngu vô số kể. Lãnh thổ của Đại ca từ đây, chạy mút chỉ (1) qua bên kia đường chợ Bình Tây chớ tới đâu mà hỏi với han!
Thình lình ngứa miệng, Chuột Nâu đía vô chuyện.
Sài Gòn se sắt lạnh trong cái nồng nàn ấm, nắng phương Nam.
Chuột Cống liếm mép, nhìn bầu trời xanh, và chậm rãi nói rõ chiều kích ranh giới lãnh thổ thuộc về nó là một trăm mét bán kính, tính từ chỗ hang. Dẫu rằng, nó có tham nhưng không vì tham mà nó lạm chiếm cưỡng đoạt lãnh địa của các loài chuột khác giống.
– Đại ca! Không hiểu sao hồi này, chuột nhà ta – nhứt là Chuột Nâu, ngày càng đông và đông đến đỗi, muốn tràn ngập cả Sài Gòn.
Chuột Mái Nhà thắc mắc, và nói có vẽ báo động.
Cười ngất, Chuột Cống buông lời:
– Dễ hiểu thôi!
– Dễ hiểu, là dễ hiểu sao, Đại ca?
Ngứa tai, Chuột Nâu hỏi miết tới.
– Người đông, thì chuột nhiều. Đó là, lẽ tất nhiên để loài gặm nhấm của ta sanh sôi trong điều kiện có nhiều yếu tố địa lợi, nhân hòa, và chưa kể thuận thiên thời.
Rồi, Chuột Cống nói tiếp:
– Sài Gón thôi chiến tranh, và một Sài Gòn sau ngày mở cửa đón du khách bốn phương tụ về; đồng thời ngườì nhập cư ồ ạt tìm sống nơi “đất lành chim đậu” và người tại chỗ, tăng sanh đẻ rất nhanh – nhanh đến chóng mặt.
Chuột Cống nói chắc cứng:
– Về sanh đẻ, người tại chỗ nếu có thua thì chỉ thua loài chuột chúng ta!
Nghe Chuột Cống kiến giải, Chuột Nâu và Chuột Mái Nhà ngẫm nghĩ: “Người đến và ở đông đúc đã tạo ra hằng hà sa số thức ăn, thức uông dư thừa giúp loài chuột sống. Đó là cái ăn, còn cái ở?”. Như có “thần giao cách cảm”, đột nhiên Chuột Cống nói phong long:
– Chẳng rõ Trời hay người cho chuột ta có cái ăn ngon, và cũng cho luôn cái ở rất đàng hoàng, tươm tất.
Chuột Nâu nói theo:
– Lâu đài, dinh thự lẫn nhà cao chọc trời… Sài Gòn xây trên nền kiến trúc từ thời La Mã cổ đại tới thời hiện đại và hậu hiện đại, đã tạo ra không gian ngầm rất thích hợp và đắc địa để loài chuột ta sanh sống.
Chuột Mái Nhà, cảm nhận những điều vừa nghe đại ca Chuột Cống và Chuột Nâu nói, nó có cái gì đó chưa thật được ổn lắm. Bởi, góc nhín sự việc xuất phát từ tập tính, lối sống của mỗi nòi chuột chẳng giống nhau. Ví như, Chuột Cống thích làm hang dưới đất – mà phải là, dưới đất cặp theo chân từng nhà. Vợ chồng son, hang ngắn hẹp và tới lúc, con bầy cháu đống thì hang nới rộng phình to. Chuột Cống chọn ở cận kề kẻ giàu có, Khu Công nghiệp hoặc Công viên. Hiểu ra, chẳng phải Chuột Cống “tham phú phụ bần” mà là, vì Chuột Cống cần nguồn thức ăn dồi dào, thức uống thừa thải (2) để nuôi thân mỗi ngày. Điều quan trọng, Chuột Cống cần nước như người cần không khí. Mất nước, Chuột Cống chết! Với Chuột Nâu, nó làm hang phía ngoài tường nhà, có khi ngoài hiên hoặc dưới những vỉa hè. Người đời ghét, tìm diệt Chuộc Nâu vì nó là kẻ chuyên đào bới… Ngẫm lại, Chuột Mái Nhà, nghĩ: người Sài Gòn gọi nó là Chuột Đen, có lẽ vì thân lông màu xám đen tới đen, bụng xám vàng tới xám; mũi nhọn, tai rộng, đuôi dài chạm tới mũi và nó, khoái ở mái hiên, tầng áp mái hoặc trên mái nhà và trong điều kiện nào đó, nó cũng có thể ở trên cây hay ở chỗ cao nhứt của căn nhà, nên người ta gọi nó là Chuột Mái Nhà chăng? Hơn nữa, nó rất ưa thích thức ăn từ rau củ, các loại trái cây, các loại hạt… thiên hạ thường gọi đùa: Chuột Mái Nhà, là chuột ăn chay hay chuột ăn kiêng!
Chiều xô dãy phố rớt bóng xuống mặt đường.
Lý thú, Chuột Mái Nhà mỉm cười, khẳng định dứt khoát: “Chuột háo ăn ham uống nhưng chưa bao giờ, vì ham uống háo ăn mà chuột bôi mặt cướp giựt, cắn xé nhau và cũng chưa bao giờ, sát hại đồng loại, diệt anh em để giành nhảy bàn độc”!
2.
Ban mai Sài Gòn, nắng ấm.
Chuột Cống, mân mê từng sợi lông cứng ngã nâu màu ửng đỏ và cái lườn bụng nhạt trắng pha vàng; nó lặng ngắm bóng nó in vách tường cao với cái mũi cùn, tai nhỏ và kín và nhứt là, cái đuôi có vảy mà chẳng có lông trên thân thể vạm vỡ, cường tráng. Sự vạm vỡ, cường tráng này được gắn kết cùng đầu óc tinh quái, Chuột Cống đủ lực đánh trả các đối thủ như rắn, mèo… hoặc các chủng vật khác, bảo vệ lãnh thổ. Và, cũng vì vậy, loài chuột tôn vinh Chuột Cống là đại ca!
Mùa Thu và mùa Xuân, Đại ca sinh sản con bầy đàn. Mùa Hè và mùa Đông, Đại ca đẻ con chỉ là đẻ lắt nhắt chơi. Hỏi ra, Đại ca nói: “Mùa nóng nực và lạnh lẽo, sinh sản con dễ yếu đuối, hèn nhát trước kẻ thù”.
Kết án tử chuột, con người lạm quyền đề quyết: Chuột là kẻ tội đồ phá hoại kinh tế và lây bịnh truyền nhiễm! Điều mà từ rất lâu, loài chuột phản kháng dữ dội. Bởi, loài chuột cho rằng: “Trên cõi trần gian nầy, tất cả chúng sinh đều được quyền sống và không kẻ nào, dù là Thượng đế cũng không được quyền nhân danh quyền sống riêng mình, cướp đi quyền sống của chúng sinh khác!”.
Bức xúc, Chuột Mái Nhà hỏi:
– Chuột nhà ta có trước, hay con người có trước trên trần gian, Đại ca!
– Ta không rõ lắm! Có điều, ta biết rõ là giữa gen chuột và người giồng nhau đến kỳ lạ (3), mà trong cõi nhân gian này, chưa có gen chúng sinh nào giống gen người.
 – Đại ca! Gen người giống gen chuột, sao người giết chuột?
Đường thắp đèn, ánh sáng lung linh phố!
Về đêm, loài chuột sinh hoạt và ráo riết kiếm ăn tìm uống. Chuột Cống, tim thắt lại khi nghe Chuột Mái Nhà hỏi: “Sao người giết chuột?”.
Không vội trả lời, Chuột Cống nhấn mạnh tới việc ăn uống:
– Này, Chuột Nâu! Bạn cẩn thận ăn thức ăn người cho không biếu không.
Chuột Cống, chậm rãi nhắc nhở.
– Có ai cho ai không thứ gì bao giờ!
Thừa gió, Chuột Mái Nhà kêu chít chít, nói đệm theo.
Chẳng đợi Chuột Nâu ý kiến, Chuột Cống nghiêm sắc mặt:
– Ta vừa phát hiện con người đang âm mưu sử dụng “Thập ngũ vong ơn” sát hại loài chuột.
Ngơ ngác, Chuột Nâu và Chuột Mái Nhà ngó nhau không biết ất giáp cái quái quỷ gì “Thập ngũ vong ơn” mà Đại ca vừa nói. Chuột Mái Nhà, đầu óc cứ mãi lởn vởn câu hỏi: “Sao người giết ta?”.
Dưới từng vệt sáng lờ mờ nơi đô thị, Chuột Cống nói rõ và cặn kẽ những chiêu thức con người sử dụng “Thập ngũ vong ơn” (4) để đẩy đuổi và giết loài chuột. Thoáng nghe qua rất đơn giản, nhẹ nhàng; song ngẫm cho thấu đáo thì mới thấy cái đơn giản ẩn giấu cái phức tạp, cái nhẹ nhàng ẩn giấu cái đớn đau,… Được đại ca khai quang điểm nhãn, Chuột Nâu và Chuột Mái Nhà thè lưỡi, lắc đầu!
Nhắc lại câu hỏi gắt của Chuột Mái Nhà: “Gen người giống gen chuột, sao người giết chuột?”, Chuột Cống kiến giải:
– Cõi trần gian, chuột hiện hữu trước người và vì hiện hữu trước người, nên gen người giống gen chuột.
– Đại ca nói vậy, thì bọn đệ nghe vậy. Lấy gì chứng minh?
Chuột Nâu và Chuột Mái Nhà, đồng thanh nói.
–  Xưa nay, sau giống trước chớ nào trước lại giống sau!
Nói xong, Đại ca cười khanh khách.
Mưa lâm thâm qua tường nhà cũ, rêu phong.
Bẩy chuột kéo nhau vào căn nhà hoang. Trời chớp giựt.
Chuột Cống ngồi chò hỏ, chống càm và nói tiếp lời kiến giải:
– Người trách trời oán đất, sao cơ cấu chuột trước người. Nhưng, người đâu biết rằng, trời đất sinh chuột ta trước người là để chuột cứu giúp người…
– Sao chuột phải cứu giúp giống người độc ác đó?
Tức khí, Chuột Nâu đâm lời ngang hông.
– Thì, Chuột Nâu cứ nghe Đại ca nói, cái đã!
Chẳng phân bua, Chuột Cống chỉ nói: “Các bạn không biết đó thôi, người là con ruột Trời – nên có câu: “Thiên tử, Thiên hạ”. Hồi lâu, Chuột Cống mở miệng huỵch toẹt: “Thiên tử là con Trời cấp cao, Thiên hạ là con Trời cấp thấp”.
– Vậy, chuột thì…
– … thì là, thú… vật, thôi!
Chuột Mái Nhà và Chuột Nâu, râu xụi lơ, mặt buồn xo và lòng buồn thiu nghe Chuột Cống kết, khi đã luận.
– Trời chơi kiểu bất công, quá!
Chuột Nâu, than.
– Trời, vốn đã bất công; nhưng là, bất công cần thiết để cân bằng sinh thái cho môi trường sống của chúng sinh muôn loài.
Chuột Cống, đỡ lời than Chuột Nâu.
Mưa ngừng hạt. Cầu vòng năm sắc màu sặc sỡ, vắt lưng trời.
Chuột Cống nói:
– Giết chuột, người ngộ nhận chuột là kẻ thù gây tai họa cho người: phá hoại kinh tế, và lây bịnh truyền nhiễm.
Chuột Cống giải thích:
– Ta vốn động vật có vú nhỏ, và là loài gặm nhấm với hàm răng nhọn chắt, sắc bén và dài ra nhanh thật nhanh rất khó chịu. Nếu ta, không cắn xé bất cứ vật gì mà ta bắt gặp cho răng mòn thì ta, sẽ chết mất bởi cái rất khó chịu của răng dài ra nhanh thật nhanh đó!
Thấm và ngấm điều đã nói, Chuột Cống tỏ vẽ thấu đáo chuyện:
– Trời sinh răng dài, mọc nhanh… khiến ta phá mùa màng, vật dụng của con người. Tại sao vậy?
Chuột Cống tự hỏi, và tự trả lời: “Trời sinh tính người, trời biết tính con của mình hễ no cơm ấm áo thì lười việc nhát làm”.
– Vậy, ta phá nhằm kích hoạt người xây!?
– Đúng rồi đó, Chuột Nâu!
Chuột Cống tán thưởng.
– Trời biết tính người thiện – ác cận kề. Ác có thể lên ngôi, tàn sát chuột – “kẻ phá hoại”. Do vậy, vì vòng đời chuột ngắn nên nó được phép đẻ, đẻ liên tu bất tận, đẻ bất kể chết… cũng là cách, ngăn con người diệt chủng loài chuột.
Chứng minh điều đã nói, Chuột Cống khai trước bàn dân thiên hạ, rằng: “Cặp vợ chồng Chuột Cống, sau một năm ái ân sẽ đẻ ra một bầy con, cháu, chắt áng chừng tám trăm. Và, tám trăm con, cháu, chắt đó sau ba năm sẽ đẻ hơn hai triệu con chuột!”.
– Khủng khiếp!
Đột nhiên, Chuột Mái Nhà, la toáng lên.
– Thì, chúng mầy cũng đẻ có kém gì tụi qua!
Phì cười, Chuột Cống liếng thoáng.
Đắc ý, Chuột Nâu gật gù:
– Chỉ có đẻ vậy, chuột mới có khả năng chống lại nạn diệt chủng của con người.
Chuột Mái Nhà, dợm hỏi: “Căn cớ gì, chuột lây binh truyền nhiễm người?” thì liền đó, Chuột Cống nói luôn:
– Trời cho chuột có trước người, là trời có lý lẽ và chủ đích riêng. Lấy gen chuột, trời nghiên cứu cấu tạo gen người. Để chi? Để một khi người mắc bịnh, thì chuột phải hy sinh làm con vật thí nghiệm tìm ra thuốc trị bịnh cho người.
Hừng chí, Chuột Nâu vỗ đùi đeng đéc: 
– Hiểu rồi! Hiểu rồi!
 Ganh Chuột Nâu, Chuột Mái Nhà nóng mũi, tằng hắng: 
– Hiểu sao? Hiểu là sao?
– Là gen người từ gen chuột, không giống nhau mới lạ!
Rồi, Chuột Nâu thong thả, buông tiếng vừa đủ nghe: “Trời, chơi đáo để!”.
– Đó chưa là cái gì “chơi đáo để” mà cái “chơi đáo để” hơn, là…
– … là sao, Đại ca?
Thiếu kiềm chế, Chuột Mái Nhà nhảy tửng vô đốc họng Chuột Cống.
Chuột Cống chồm mình, nheo mắt khinh bạc:
–  Cái “chơi đáo để” của trời là trời buộc – buộc tự nhiên ràng quán tính – , chuột làm nhiệm vụ lây bịnh truyền nhiễm người; với thâm ý, trời tạo điều kiện cho người tìm phương thuốc trường sinh bất tử qua thí nghiệm chuột!
Đường phố xe cộ đông ken, người nhung nhúc. 
Và, khói bụi đô thị trộn lẫn mùi da thịt người… gây ghiện mùi trần ai!
 
3.
Trời, luôn nghĩ tới người!
Người, thì…
Bâng khuâng, Chuột Cống thấm cái huyền bí của trời mà con người chưa hoặc không thấu hiếu. Vì, con người chưa hoặc không thấu hiểu nên khao khát thay trời trị vì. Họ – ngày đêm, lao tâm khổ trí tìm trăm mưu nghìn kế để phá vỡ tất cả những gì vốn đã được lập trình và cần bằng của trời ban tặng cho cuộc sống. Tiếc rằng, tâm mờ trí đục khiến con người ngạo mạn và vĩ cuồng, bất chấp các quy luật tự nhiên là nguồn cơn tạo vạn sự an lành.
Sài Gòn, giờ vẫn là Sài Gòn của mưa nắng hai mùa thương nhớ nhưng lại là, thương nhớ hai mùa chợt nắng chợt mưa và mỗi khi mưa thì mưa lê thê tầm tả, không như ngày xưa, Sài Gòn mưa vội dứt nhanh.
Nắng, lạ lắm; nắng rát, bụi hung và người thi trùm kin mặt mũi, mình mẩy chỉ vỏn vẹn còn ló đôi mắt thất thần như bóng ma di chuyển trên đường. Nắng Sài Gòn, mất hẳn thứ nắng vàng mật ong, thứ nắng tươi tắn tràn lên phố lên cây quang hợp xanh là, trổ bông, kết trái.
Chuột thích nghi mọi hoàn cảnh mới, dù nó phải lìa hang bỏ ổ dưới đất, trèo lên cao vì triều cường hoặc trời thịnh phẫn nộ, đổ cơn mưa. Sài gòn, ngoài hai mùa mưa nắng có thêm những ngày mùa ngập lụt và chuột, bình thản sống ung dung chung với ngập lụt bằng những nụ cười lí lắc.
Song, chuột phải chết – chết vì, lòng người nham hiểm!
Nhiều đêm Chuột Cống bỏ bữa đi xục xạo kiếm cái ăn ở khu chợ Bến Thành. Chuột Cống cô độc ngồi độc ẩm dưới chưn tượng đài Quách Thị Trang (5) ở Bùng binh Quách Thị Trang; nơi mà trước kia, người Sài Gòn gọi là Công viên Diên Hồng với tượng danh tướng Trần Nguyên Hãn uy nghi. Cũng chốn này, Chuột Cống đã từng chứng kiến và không thể nào quên những hừng đông ngày chưa kịp sáng, máu tử tù lênh láng ngấm sâu hồn đất Sài Gòn tại Pháp trường Cát (6). Ngẫm thế sự nghĩ thân phận, Chuột Cống càng thấm thía về lý lẽ của cái mạnh và cái mạnh, luôn đeo bám cái ác. Âu là, cách dùng ác tạo uy không cần tín. Do đó, người thích nhân danh cái có thể không có để giết người.
Chẳng hiểu hương vị rượu cay nồng, hay vì tâm tư thổn thức mà mắt Chuột Cống rưng rưng. Cố kiềm lòng, Chuột Cống không thể – không thể, bởi vì Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng, chuột vốn có trên dưới mười loài (7). Vậy mà, nay nòi giống chuột chịu cảnh xác xơ, tan rã dưới bàn tay người và tính ra, không còn được mấy loài chuột.
– Bớ… Đại ca! Đại ca ơi, cứu đệ! C…ứu…u…
Tiếng kêu chói lói, hình như là tiếng của Chuột Nâ.
Liệng hủ rượu, Chuột Cống gấp gáp co giò phóng nước đại về hướng phát ra tiếng kêu. Cảnh tượng hãi hùng và khiếp đảm xảy ra trước mắt Chuột Cống: cả bầy Chuột Nâu, mắt trao tráo, trừng trừng; hộc máu mồm, rỉ máu tai…. lăn lộn, giãy giụa trong sân vườn biệt phủ của tên tham quan hay của kẻ trọc phú nào đó. “Vô phương cứu!”, Chuột Cống nghe như tiếng vọng từ âm tỳ địa ngục dội về và nó khóc rống, quỳ xuống ôm xác đồng loại.
Loáng thoáng, mùi thịt ướp vị hương.
– Phải rồi, Đại ca! Chính cái mùi hương thịt ướp vị độc náy đã giết chết cả nhà Chuột Nâu trong cơn đói khát.
Chuột Mái Nhà, vừa chỉ rõ nguồn cơn nguyên cớ, vừa kêu rít rít và vừa khóc thút thít.
Giậm chưn xuống đất, Chuột Cống kêu trời:
– Trời ơi! Thật không ngờ, từ lâu ta cứ tưởng người giỏi giết chuột bằng những chiêu thức “Thập ngũ vô ơn” nào dè người “Túc trí đa mưu” trong từng cách diệt sinh linh…
– Miếng ăn thơm ngon là miếng ăn độc. Người cho không, người cho ăn dễ thì sau khi dễ ăn sẽ phó thác mạng cho người. Đệ đã nói nhiều lần như vậy, với Chuột Nâu!
Giải lý, Chuột Mái Nhà phân bua.
Trên đường về, Chuột Mái Nhà tự tin, nói rằng nó chuyên ăn rau củ, trái cây, thì con người khó mà diệt nó bằng tẩm độc thức ăn động vật. Nghe nói vậy, Chuột Cống dè dặt, khuyên:
– Này đệ! Tự tin nhưng không được chủ quan khinh thường con người.
Ngừng chốc lát, Chuột Cống nói tiếp:
– Họ đã biết tẩm độc vô thức ăn động vật, thì hà cớ gì họ không rành tẩm độc vô thức ăn thực vật!
– Để họ cùng chết sao, Đại ca?
– Trong cái khôn cũng có cái ngu và cái ngu, từ hám lợi lẫn háo danh mà ra. Không có cái ngu nào giống cái ngu nào trong cái khôn con người sở hữu.
Chuột Mái Nhà, lý sự cùn với Đại ca tới khi trời sáng bửng. Lúc sắp chia tay, Chuột Cống vỗ vai Chuột Mái Nhà:
– Này đệ! Gần đây, ta hóng chuyện người dùng hóa chất bảo vệ thực vật. Ta lo cho đệ.
– Lo chi cho mệt, Đại ca!
Liếng thoáng, Chuột Mái Nhà nói thêm:
– Đại ca! Người và đệ, sống chung một nhà. Nếu, đệ ăn thực vật được bảo vệ bằng hóa chất và người cũng ăn như vậy. Đệ ăn phải chết, chắc gì người sống?!
Rồi, chưa tới hai tuần trăng, Chuột Cống nhận hung tin và nỗi buồn rầu được nhơn lên:
“Chuột Mái Nhà, lớp ngộ độc, lớp chết sau khi cả bầy bu ăn mâm trái cây do người cúng ở miếu Thổ thần trong nhiều ngày, trái cây vẫn còn tươi rói!”.
4.
Soi hình qua bóng nước – thứ nước, thừa đục thiếu trong – , Chuột Cống phát hiện hình thù nó quái dị và nó, không là nó của ngày xưa. Mỗi khi thu mình lại, thân Chuột Cống tròn ủm và lông nó chẳng khác nào là gai. Hóa chất do người sáng chế và sử dụng đã giết dòng họ chuột chết rất nhiều, nhưng không là chết hết. May mắn, những con chuột nhờ phước đức ông bà còn sống sót thì lần hồi, nó biến đổi gen và rồi, tế bào chuột từ các loại hóa chất tổng hợp mà thành; đồng thời, thức ăn thức uống của chuột nếu thiếu ướp tẩm hóa chất, nó sẽ không ăn không uống. Và, Chuột Cống dù có tinh ranh, láu lỉnh cỡ não cũng không thể thoát ly sự biến đổi môi trường sống khủng khiếp. Bất lực, Chuột Cống tự nó, biến nó thành cục thịt hóa chất và cục hóa chất đó, di chuyển khắp đô thị nguy nga tráng lệ, gieo rắc mầm bình truyền nhiễm cho người.
Trăng Sài Gòn, ánh vàng trải mặt sông Bến Nghé.
Nhìn trăng, Chuột Cống thẹn lòng và đôi lúc chạnh lòng, nó không muốn tiếp tục hại người dù rằng, cái hại người hôm nay của nó chính là cái của người hại nó hôm qua!
Chuột Cống bỏ đô thị, ra đi.
Lăn tăn sóng, chiếc ghe thương hồ lắc lư, chòng chềnh. Chuột Cống quá giang ghe, những mong về ruộng đồng với hy vọng, tâm hồn hậu tính thiệt thà của người nhà quê cùng thức ăn thức uống ít nhiều còn thanh sạch sẽ giúp tẩy rửa chất độc mà thân thể nó đang mắc phải.
Cung đường thủy trình, bóng chiều lướt thướt.
Mơ màng, Chuột Cống cảm nhận buổi chiều đẹp! Cũng buổi chiều nay – Chiều ly hương, và lần đầu, nhờ nghe cuộc nói chuyện, giữa chủ ghe và gã đi bạn; Chuột Cống mới biết con sông Cần Giuộc mà người đời có lúc gọi là sông Rạch Cát hoặc sông Phước Lộc.
– Sông Cần Giuộc, chỉ là dòng sông nhỏ nhưng lại là dòng sông nhỏ quan trọng.
Lão chủ ghe nói với gã đi bạn, như vậy.
Hồi sau, lão chủ ghe nói cặn kẽ:
– Dòng sông nhỏ Cần Giuộc phát nguồn từ thủy tụ của các kinh rạch Sài Gòn (đoạn ngã ba sông Chợ Đệm tới cầu Ông Thìn, thuộc quận 8 và huyện Bình Chánh) và sau đó, nó chảy vảo địa phận tỉnh Long An (Cần Giuộc, Cần Đước) cho tới lúc, gặp kinh Nước Mặn nối sông Vàm Cỏ thì nó cùng chảy ra sông Soài Rạp về biển.
Gã đi bạn, tỏ vẽ thán phục sự rành mạch đường đi nước bước của Lão chủ ghe.
– Chiều rồi! Chú em mau đi lo bữa cơm chiều đi!
Nhắc lời xong, Lão chủ từ từ bẻ bánh lái ghe tắp mũi vô bờ, dừng nghỉ ăn cơm và đợi con nước cho ghe đi tiếp.
Ngồi chồm hổm, Lão chủ vấn thuốt rê hút.
– Chú em! Mần gì mà “Khói như hun chuột”?
– Dạ! Củi ướt nên khói đặc nghi ngút, cay xè và lan rộng đó, thưa ông chủ!
Gã đi bạn lễ phép, trả lời.
Mùi thịt xào, cá chiên… từ bếp cà ràng, bốc mùi đói quyến rũ theo gió hương chiều. Đã lâu lắm rồi, Chuột Cống và đám chuột đang nằm giấu mình ở mái lá lợp mui ghe, mới có dịp thưởng thức mùi vị thức ăn chân phương ngày cũ. Quên thân phận là kẻ quá giang, Chuột Cống và đám chuột hít hà, kêu rít rít – tiếng kêu hoan hỉ, tưởng đã mất nhưng không ngờ vẫn còn gặp lại.
– Chú em! Chú em, đâu rồi?
Tiếng Lão chủ gọi giựt ngược.
– Dạ! Thưa, tui ở bếp, nè!
– Lũ chuột kêu, chú em có nghe?
– Dạ! Thưa, có nghe!
Lão chủ đứng chống nạnh, trợn mắt phùng mang, hét:
– Có nghe! Sao khộng đập đuổi cái bọn nhơ nhớp, chuyên ăn tàn phá hại?
Chưa đã nư, Lão chủ rống họng: “Cái lũ ‘Làm dơi làm chuột’ (Làm việc mờ ám, không rõ ràng không chính đáng), và lũ nó tưởng ghe của lão là nơi ‘Chuột sa hũ gạo’ (May mắn, gặp được nơi sung sướng một cách tình cờ ngẫu nhiên) chăng?
Giựt nẩy mình, Chuột Cống chẳng thể ngờ lòng người nham hiểm quá độ. Người không những truy sát mạng chuột mà còn tận diệt tinh thần, khiến chuột không đường sống. Người cố tình truyền miệng và dựng bia, cái gì xáu xa nhứt là thuộc về chuột!
Nước ròng rút cạn nước mé sông.
Chuột Cống và bầy chuột mình mẩy bê bết máu, gồng mình hứng trọn từng đòn sào phát ra từ sự cuồng nộ của lão chủ. Gã đi bạn đứng nhìn, chết trâng!
Chiều chầm chậm trôi…
Trời chạng vạng, Chuột Cống dắt bầy chuột nhảy khỏi ghe, chạy trốn.
Đêm Cần Giuộc!
Chuột Cống không trách hành động của Lão chủ ghe mà chỉ tiếc là cuộc đời sẽ ngắn lại, nếu con người vẫn mãi làm hại lẫn nhau!
 …………………………………..
1. Ý nói là xa lắm.
2. Mỗi ngày, Chuột Cống cần lượng thức ăn từ 25 đến 35 gram thực phẩm và thức uống từ 15 đến 30 ml nước.
3. Người và chuột đều có khoảng 30.000 gen, hơn 90% các gen ở người cũng tìm thấy ở chuột. Tế bào người có 23 cặp, tế bào chuột nhắt có 20 cặp, chuột cống có 21 cặp nhiễm sắc thể (chroomsomes). Những mảng AND ở nhiễm sắc thể (NST) số 3 và số 16 của chuột lại lần lượt tìm thấy trong NST số 1-3-4-8-13 và số 3-16-21-22 của người. Phát hiện này cho biết người và chuột có cùng khởi nguồn chung là Eomaia Scansoria, một loài vật cổ xưa nhất, được xem là đại diện cho dòng Eutheria, tổ tiên của loài động vật có vú và nhau. 75 triệu năm trước đây, loài vật này mới tách thành hai chi: chuột và người” (theo DSCKII Bùi Văn Uy).
4. “Thập ngũ vô ơn”, là 15 cách đẩy đuổi và diệt chuột: – Mùi tinh dầu bạc hà – Mùi hăng của tỏi – Khoai tây nghiền thành bột – Nước soda – Bột mì trộn xi măng và muối – Mùi thơm cay nồng của quế – Bột ớt trộn chất tẩy rửa và dầu thực vật – Mù hăng cay nồng bột tiêu – Bộ giặt, xà phòng trộn cơm nguội – Dầu mazut – Mùi hăng amoniac – Mùi của giấm – Phân bò trộn thức ăn – Nhữ chuột ăn phải tóc người – Sóng âm có tần số cao.
5. Quách Thị Trang (1948 – 1963), ngày 25.8.1963, tham gia biểu tình phản đối chính sách bất bình đẳng tôn giáo của chính quyền Sài Gòn. Quách Thị Trang bị bắn chết ngay tại vòng xoay phía trước chợ Bến Thành. Đầu tháng 8.1964, Hội Sinh viên – Học sinh đã tổ chức quyên góp tạc tượng Quách Thị Trang và đúng thời gian 1 năm ngày Quách Thị Trang mất (25.8.1963 – 25.8.1964), tượng dựng lên gần chỗ chị bị bắn chết. Đến 1965, chính quyền Sài Gòn cho xây thêm tượng Trần Nguyên Hãn, danh tướng biểu tượng “Thánh tổ truyền tin” tại Bùng binh Quách Thị Trang. Cuối 2014, cà hai tượng đài đều được di dời để chuẩn bị mặt bằng cho dự án ga tàu điện ngầm tuyến Bến Thành. Tượng quách Thị Trang chuyển đến Công viên Bách Tùng Diệp (Q.1) và tượng Trần Nguyên Hãn chuyển đến Công viên Phú Lâm (Q.6).
6. Pháp trường cát (1965 – 1966), nơi hành quyết công khai nằm phía trái Bùng binh Quách Thị Trang và cạnh tòa nhà Công ty Vận tải Hành khách Đường sắt Sài Gòn (Tòa nhà khánh thành 1914, ban đầu mang tên Bureau du Chemin de fer của Công ty Hỏa xa Đông Dương. Trước 1975, là trụ sở Bộ Giao Thông – Bưu Điện, Sài Gòn). Ngày 29.1.1965, người bị hành quyết đầu tiên là Lê Văn Khuyên (học sinh trường Tư thục Trần Hưng Đạo, có ý kiến cho là sinh viên Đại học Khoa học, Sài Gòn) và tiếp theo, ước độ 182 người bị hành quyết (con số chưa có điều kiện kiểm chứng). Trong đó, Liệt sĩ Trần Văn Đang bị hành quyết ngày 22.6.1965;
thương gia Tạ Vinh bị hành quyết ngày 14.3.1966… Pháp trường cát, trước tháng 9.1965, mỗi lần hành quyết chỉ hành quyết một người nhưng sau thời gian đó, Pháp trường cát nới rộng để đáp ứng việc hành quyết một lần tới ba tử tội.
7. Chuột cống, chuột nâu, chuột đồng lớn, chuột đồng nhỏ,  chuột mái nhà, chuột đàn, chuột bóng, chuột khuy, chuột nhắt, chuột giéc-me (R.ranus germaini).

(more…)

Read Full Post »

Chiều cuối năm

Trần Bảo Định

Tôi ngồi trên cây cầu cây gie ra bến nước, lòng bồi hồi nhớ mẹ.
Dáng mẹ gầy và khô đét, che bởi tấm áo vải thô vá đùm, vá đụp.
Tóc mẹ, sợi đau sợi cực.
Đầu mẹ, đội nón lá chằm đã tưa rách, phai màu.
Bên hông, mẹ đeo cái giỏ đụt. (more…)

Read Full Post »

Hai Lá Tre

Cao Thị Hoàng
1.
Chiều Xuân năm đó, Năm Hạnh cùng tía chèo ghe từ Thông Bình theo sông Cái Cỏ lên Bình Tứ để vừa ăn Tết, vừa chuẩn bị ra Giêng đốt đồng, vỡ đất sạ lúa vượt nước – giống lúa thích nghi với mùa nước nổi Đồng Tháp Mười – nước nổi tới đâu, lúa vượt theo tới đó.
– “Ăn lấy đời, chơi lấy thời”, nha con!
Má Tư nhắc Hai Lá Tre.
Năm Hạnh nghe rất đỗi ngạc nhiên, chẳng rõ má Tư nhắc cô Hai như vậy, nghĩa là sao? Hai Lá Tre xẻn lẻn nói nhỏ: 
– Ý má nói: Ăn suốt đời, ăn tới chết mới thôi; còn chơi thì tùy lúc tùy thời, không cứ lúc nào cũng chơi! 
Nói xong, Hai Lá Tre đỏ mặt, nhảy đùng xuống bến sông tắm chiều… 
Hồi con gái, má Tư xa xứ lấy chồng. Rồi, từ ngày chồng chết, má Tư dắt con rời quê chồng ở kinh Nước Mặn vùng hạ Cần Đước quay trở lại xứ. Xứ má Tư nằm trên nhánh chính thượng lưu sông Vàm Cỏ Tây, nhiều đời người ta gọi sông Cái Cỏ. Hỏi sao gọi là sông Cái Cỏ? Má nói má không biết; chỉ biết hồi ngoại còn sống, ngoại thường dạy con cháu: Cái là Mẹ, Cỏ là Thiên Nhiên và Cỏ chính là chúng sanh trong cõi trời đất hằng hà sa số Phật!? Rồi ngoại nói: “Sông Mẹ Thiên Nhiên phân định ranh giới hai dân tộc, hai đất nước Việt Nam – Campuchia, sống thuận hòa trên tình yêu thương nhơn loại. Bởi, xét cho cùng, tất cả đều là  con Trời!”. Hồi con gái, má Tư theo ông ngoại sống nghề hạ bạc: sáng sông Long Khốt, chiều sông Lò Gạch và mai rạch Cái Rưng thì mốt rạch Bông Súng… Dù ngoại cực muốn chết, nghèo vẫn huờn nghèo. Những đêm thanh vắng, ngoại thường than: “Sông rạch quê mình thiếu nguồn sanh thủy nên kiệt nước mùa khô. Vi vậy, tôm cá bỏ sang sông rạch khác”! Đời má tuy không “Ba chìm bảy nổi”, nhưng thừa linh đinh kiếp nghèo dân luân lạc. Trở về xứ, má khúm tạm căn chòi bên nầy vàm sông Trăng – có người gọi sông Trăn, tương truyền sông có nhiều trăn sinh sống – , bên kia là xóm Tân Lèo của Khrme. Rạch Cái Cỏ phân chia rạch ròi biên giới, song lòng dân Việt – Khrme chẳng có chút chia phân, họ sống nhơn ái và chan hòa nhau thường ngày; họ ngồi sui gia cưới con gả chồng… cháu chắt đùm đề, sum vầy và không những tín ngưỡng hỗn dung, mà lời ăn tiếng nói của họ cũng vậy.
Tháng Chạp thiếu nắng mai, sương đồng dùng dằng không chịu tan sớm. Hai Lá Tre rủ Năm Hạnh đi đào hang bắt rắn:
– Năm nào, đưa Ông Táo về Trời ngày hăm ba tháng Chạp, má tui cũng làm món thịt rắn hầm xả gởi Ông Táo mang theo để có cái ăn dọc đường.
Đứng tần ngần, bụng phân vân; Năm Hạnh đột ngột hỏi Hai Lá Tre:
– Biết rắn ở đâu mà bắt, cô Hai?
– Anh Năm không phải dân vùng nấy nên không biết đó thôi! Hồi Tết năm trước, tui rủ hai đứa bạn Chey và Oum ở xóm Tân Lèo sang phụ bắt rắn cả đục. Má vui vì Ông Táo hài lòng!
Rồi, Hai Lá Tre khoe rằng: “Trọn năm, tui hên thiệt là hên! Nhứt là…”. Lát sau, Hai Lá Tre cười liếng thoắng:
– Nhứt là, có bác trai và có anh tới, vàm sông Trăng đỡ quạnh hiu!
Hai Lá Tre chỉ vẽ: 
– Mỗi tháng, rắn lột da một lần và mỗi lần chuẩn bị lột da, rắn trầm mình dưới nước rồi bò vô hang nhịn đói đôi ngày để sau đó, bò trở ra miệng hang lột da. Thấy da rắn lột bỏ ở đâu, thì việc tìm hang bắt rắn dễ ợt! 
Hai Lá Tre còn nói thêm:
– Tháng Chạp, rắn thường hay bắt cặp thành đôi, bò ra đồng tìm chuột để ăn và chiếm đóng hang. Đây là thời gian và thời cơ vàng cho người đi săn bắt rắn!
– Ý! Không được đâu, cô Hai!
– Sao không được?
Năm Hạnh nói: “Tía dặn không được bắt rắn làm món ăn, dù món ăn đó có ngon cách mấy! Vì, trời sanh chuột thì phải sanh rắn và rắn bắt chuột ăn, là để cân bằng nhau và bảo vệ mùa màng cho con người. Tụi mình tìm bắt rắn, thì cũng có nghĩa giúp chuột sanh sôi nẩy nở… khiến sinh thái mất cân bằng”.
– Cân bằng sinh thái là cái gì, anh Năm?
Hai Lá Tre tinh nghịch chặn họng hỏi.
– Tía tui nói: “Là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ sinh thái”.
Nghe thì nghe vậy, Hai Lá Tre ngớ người chẳng hiểu ất giáp gì. Năm Hạnh ngó bộ dạng Hai Lá Tre, tức cười:
– Mà nầy cô Hai! Thiếu gì vật ăn, ăn chi con rắn?
Năm Hạnh hỏi.
– Tui không biết, chỉ biết má tui nói: “Táo nhà, khoái ăn thịt rắn. Má con mình đãi cái khoái ăn cho Táo, thì chắc là Táo cũng lựa lời tâu với Ngọc Hoàng những điều tốt đẹp cho nhà mình và sang năm, gia đình sẽ hanh thông”!
Hai Lá Tre nói riết, Năm Hạnh xiêu lòng.
Ba cái Tết xa nhà, đủ ba cái Tết má con cô Hai mời tía con Năm Hạnh tới nhà ăn Tết. Đôi lần, Năm Hạnh thầm nghĩ: “Cô Hai có tên hẳn hoi, vậy mà má Tư không gọi chính tên, lại ưa gọi tên tục”. Hỏi má Tư, bà chỉ cười trừ rồi nói tránh sang chuyện khác cho qua chuyện. 
 
2.
Đêm biên cương mới đầu hôm mà Năm Hạnh tưởng chừng như trời đã khuya lơ khuya lắc, và mới đầu hôm mà bầu trời treo trăng lưỡi liềm lẩn giữa muôn trùng sao. Năm Hạnh ngước mặt nhìn sao; càng nhìn sao, những vì sao càng thăm thăm. Anh nghĩ rất lung về hoàn cảnh sống của má con cô Hai Lá Tre, về cảnh ngộ của tía con anh và về bao người cần lao đang sống vật vã mưu sinh trên cánh đồng hoang dã. Họ sẵn lòng nhường cơm chia áo cho nhau khi gặp phải lúc đói lạnh, họ biết “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người chung cảnh ngộ phải thương nhau cùng” (Ca dao dị bản). Điều làm Năm Hạnh dị ứng, khó chịu là họ ưa gọi tên tục, nói tục, đố tục và nhứt là kể chuyện tục… Ngay cô Hai Lá Tre, đẹp người đẹp nết như vậy, mà hễ mở miệng ra là L… C…!? Có lần, Năm Hạnh hỏi tía, hớp ngụm rượu, tía hỏi trỏng: “Tục là sao?”. 
Năm Hạnh ỡm ờ một lúc, học lại chuyện hôm rồi anh cầm bó rơm qua nhà má Tư xin mồi lửa nấu cơm chiều. Hai Lá Tre chặn cửa, cười tinh quái và nói: “Đố anh Năm câu nầy, anh giải được tui cho mồi lửa”. Năm Hạnh chưa kịp phản ứng thì:
 
Chửa chết đã đem đi chôn
Chửa ra tới ngõ vạch l… coi nghe 
(Câu đố dân gian vùng Hưng Điền).
 
Bị cú quá bất ngờ, Năm Hạnh cứng họng và đớ người. Má Tư tay bưng cái nia, từ trong nhà bước ra:
– Hai! Bây giỡn anh Năm của bây chi vậy? Nó ở xa tới sông Trăng lập nghiệp, mới ba con trăng Nguyên Tiêu thì mần sao nó kịp thời gian hòa để hợp với dân bổn xứ.
– Dạ! Thưa má Tư, không có gì!
Năm Hạnh xởi lởi.
– Má binh người ta bỏ con!
Hai Lá Tre tỏ vẽ hờn dỗi, nghuých Năm Hạnh:
– Thấy ai đó cầm bó rơm xin lửa, nên người ta đố câu đố “Người cầm bó rơm đi xin lửa”!
Hai Lá Tre vụt chạy ra sau bếp.
– Thằng Năm! Em nó còn con nít lắm!
Nghe xong chuyện, tía cười trong bụng: “Thằng nầy tồng ngồng lớn xác, nhưng chưa trưởng thành”. Ông chậm rãi cắt nghĩa:
– Đây chỉ là câu đố sinh thực khí dân gian của người mình. Có người nói: “Đố tục giảng thanh”. Như cái gầu sòng tát nước ruộng, họ không nói “Gầu sòng tát nước” mà lại đố:
 
Ba bà mà dạng chưn ra
Một ông đứng giữa mà tra c… vào
 
Rồi, bất ngờ, ông nhấn mạnh:
– Muốn trụ lại sống lâu dài ở đây, con cần “học ăn, học nói, học gói, học mở” và cả tía cũng phải vậy!
– Thưa tía! Nghĩa là…
– Nghĩa là, “Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc, đáo xứ tùy nhân”!
Thấy mình hiểu lầm và có lỗi với Hai Lá Tre, Năm Hạnh tìm gặp và lúc gặp Hai Lá Tre ngồi rọc lá chuối ở bờ mương chuối, anh muốn cầm tay xin lỗi; rốt lại, anh chỉ xin lỗi mà chẳng dám cầm tay Hai Lá Tre. Trên đường về, anh tiếc hùi hụi.
Lần hồi, Năm Hạnh thấm và ngấm cuộc sống nơi đây, bởi hằng ngày anh chung đụng với người địa phương và quen dần nếp quan hệ tính giao cách bày tỏ bằng lời: “Đ… má, Đ… má mầy, hay con c… cái l…”. Tục không tỉu, tưởng quỷ mà trái lại rất Người; chất Người đậm đặc, biểu lộ tương đồng giữa sinh thực khí nam và nữ.
Sau ngày mùa rảnh rỗi việc đồng áng, mấy bà xóm sông Trăng thường ghé nhà má Tư chuyện vãn giải khuây. Thôi thì đủ chuyện trên trời dưới đất, chuyện c…, l… thỏa sức tiếu lâm; rất tự nhiên và cũng rất thích thú, chẳng bà nào gượng mồm gượng miệng. 
– Ê! Thằng Năm, tính đi đâu má đứng xớ rớ đó! Vô thím biểu coi!
Thím Bảy Chờ vừa ngồi chàng hảng vừa nhai trầu.
 
L… già ăn với cà kheo
Lại thêm c… lõ và đèo nắm lông
(Câu đố miếng trầu)
 
Cầm miếng trầu, thím Bảy dí dí lên không.
– Dạ! Cháu chưa biết ăn trầu!
Bỗng dưng, chẳng rõ ai đó cố ý hay vô tình hò:
 
“Ba đồng một miếng trầu cay
Sao anh không đến những ngày còn không”
(Ca dao)
 
Mấy bà cười lên một cái rần! Mặt mày Năm Hạnh sượng ngắt.
– Thằng Năm! Bây ăn cơm chưa? Chưa thì vô bếp ăn với con Hai, kẻo nó đợi.
Má Tư phân bua cùng mấy bà bạn:
– Hai đứa nhỏ rủ nhau đi bắt rắn.
– Trưa trờ trưa trợt rồi, đi bắt rắn gì nữa, chị Tư!
– Nắng gắt bắt rắn dễ.
Có bà nào đó xía vô cà rỡn:
– Mùi càng nặc nồng thì vị càng đậm đà!
Má Tư giải thích:
– Nay, đã là hai mươi tháng Chạp, còn mấy ngày nữa đưa Ông Táo về Trời. Táo nhà tui khoái thịt rắn, tụi nhỏ đi bắt rắn là vậy!
Năm Hạnh bước vội xuống bếp, vừa đi vừa lầm bầm. Tưởng Năm Hạnh cằn nhằn mình, Hai Lá Tre giẫy nẫy:
– Việc nhà bề bề, mình tui mần bỡ hơi tai, mần vai xệ xuống… cực muốn chết!
– Sao không kêu tui?
Hai Lá Tre nín khe.
– Thôi! Cô Hai xê xích ra, tui mần cho.
Trai lực điền mần nhanh gọn, nháy mắt xong việc.
– Hồi nãy, tui lầm bầm do bụng dạ nghĩ: “Mắc mớ gì hễ gặp mặt là ăn? Tía tui cũng từng dặn học ăn trước tất cả những cái học khác; tui nào có cằn nhằn sự chậm trễ của cô Hai”.
Má Tư ở nhà trên trờ xuống nghe lóm thắc mắc của Năm Hạnh, má cười:
– Ngó cách ăn uống của một con người, mình có thể hiểu phần nào nguồn gốc, tánh tình, khí chất và tâm địa của người đó!
Quay qua Hai Lá Tre, má biểu:  “Việc dọn dẹp nhà cửa, bây cứ để cho má”. Rồi, má nhắc:
– Hai đứa liệu mà đi cho sớm, cẩn thận!”.
 
3.
Gió chướng thổi liu riu ru cánh đồng nắng trải cuối năm, Năm Hạnh lần theo dấu rắn lột da và lui cui chặn ngách đào hang mệt lả mồ hôi lưng. Nhưng chẳng dễ dàng gì, cái hang bỏ hoang và chỉ là công cóc. 
– Anh Năm! Thôi nghỉ tay một lát!
Quệt mồ hôi trán, Năm Hạnh vác xà ben lẻo đẻo theo Hai Lá Tre vô gò tre tránh nắng.
– Có lẽ, sau lột da, con rắn bò vô hang nằm dưỡng sức; khi khỏe mạnh, nó rời hang kiếm mồi và mình đã tới chậm một bước.
Hai Lá Tre giải thích.
Hai đứa ngồi bên nhau dưới tán lá bụi tre già, cành cọ cành, vòm tre lắt lay như thể sợ rời nhau. Cả hai im lặng kiệm lời, chẳng phải vì không muốn nói cho nhau nghe những gì muốn nói, mà vì cả hai đang nếm mật ngọt tình yêu đầu đời nên ngại lời nói không chuyển tải trọn vẹn niềm hạnh phúc. 
Hai Lá Tre mơ màng nhớ lại lời má: “Tía con thằng Năm không phải người nhà quê”. Sao má biết? : “Lời ăn tiếng nói, cách chèo ghe, mần ruộng… tất cả đã cho má biết điều đó!”. Và, má thường dặn: “Trong cuộc sống thường ngày, cái gì thằng Năm chưa rõ, bây tận tình chỉ nó”. Anh Năm lớn hơn con, sao con dám chỉ!? Má nói: “Lớn chắc gì hiểu biết hơn nhỏ! Thằng Năm thuộc loại người “Ăn nhai nói nghĩ”, nó hợp và rất đối xứng với bây. Nếu, … thì chi cho bằng!”.
Mắt Năm Hạnh lim dim, bàn tay anh nằm trọn trong tay Hai Lá Tre lúc nào Hai Lá Tre cũng không biết. Thời gian chầm chậm trôi…
– Anh Năm! Bộ anh buồn ngủ hả?
– Tui đâu có buồn ngủ, cô Hai!
Năm Hạnh bẻn lẻn rút bàn tay, Hai Lá Tre tủm tỉm cười mắc cỡ. 
– Cô Hai! Tui hỏi thiệt…
– Anh Năm hỏi thiệt cái gì?
Năm Hạnh ngập ngừng: “Sao cô Hai có cái tên Hai Lá Tre!”.
– Thì, má đặt cho tui cái tên tục.
Lá tre rụng nắng xào xạc, Hai Lá Tre trải lòng: “Má nói đời con gái duy nhứt chỉ có má đẻ và người chồng mới thấu rõ điều tuyệt vời riêng có của con gái và của vợ. Người con gái sở hữu điều tuyệt vời đó cũng không hiểu thấu sự thâm sâu!”.
– Ai mần chồng tui, người đó sẽ rõ ngườn cơn cái tên Hai Lá Tre!
Hai Lá Tre nói nhanh như chiếc lá tre rơi theo chiều gió cuốn.
Trên ngọn tre chót vót, có tiếng cu gáy gọi bầy.
Biết Năm Hạnh bắt rắn chưa rành, Hai Lá Tre nhắc:
– Tuy không tai, không mũi và mắt nhìn kém; nhưng rắn đánh hơi rất nhạy cảm, rất chính xác. Được vậy, là do rắn đánh hơi bằng lưỡi và nhạy cảm bằng bụng. Anh Năm nhớ lấy khi bắt rắn.
Trời thẳm xanh, xanh tre!
Năm Hạnh thả hồn chơi vơi lên cành lá tre trong ý nghĩ háo hức, tò mò cái tên ngộ nghĩnh Hai Lá Tre – cái tên, xanh như xanh màu nhớ!- . Anh nghe tiếng đặng tiếng được lời Hai Lá Tre căn dặn.
– Đi bắt rắn anh Năm! Trời ngã chiều rồi!
Hai Lá Tre thúc giục.
Đã phát hiện hang rắn dưới gốc thân tre dọc bờ cỏ hoang. Hai Lá Tre nhìn kỹ dấu bò in vết trườn, cô biết đó là vết rắn hổ đất.
– Anh Năm, cẩn thận! Rắn hổ đất.
– Mèng đéc! Tui bỏ quên cây xà ben ở gò tre.
Năm Hạnh giựt mình kêu lên.
– Anh Năm ở lại canh hang rắn, tui đi vác cây xà ben cho!
– Cây xà ben bằng sắt nặng, cô Hai cứ để tui.
– Anh Năm biết tui đã bao tuổi chưa?
Rồi, Hai Lá Tre nói một hơi: “Hồi gặp anh, tui tuổi mười bốn và sau ba lần đưa táo về trời, giờ tui đã là tuổi mười bảy! Má nói nói: Trăng mười bảy trải giường chiếutuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu“!? Bất ngờ, Hai Lá Tre vụt chạy, Năm Hạnh không cản kịp.
Năm Hạnh vạch cỏ tìm ngách hang rắn, mắt ngó thân gốc tre và lòng thì vẩn vơ nghĩ: cành tre mọc từ mắt, nhánh tre mọc từ cành, lá tre mọc từ nhánh và lá do bẹ, phiến lá tạo thành. Lá tre thon dài nhỏ hai đầu, không có lông tơ mà chỉ có ba hoặc năm đôi gân mép song song. Năm Hạnh hình như khám phá ra điều kỳ diệu nơi là tre, anh lặng lẽ cười một mình: “Phiến lá, cuống lá, tai lá, lưới lá, bẹ lá… Đó là lá tre, nó dai bền, mềm rắn, chịu đựng mọi thời tiết và càng nhìn, càng hấp dẫn dễ thương…”!
– Trời ơi!
Lớ quớ, Năm Hạnh bị con rắn mái hổ đất đang thời kỳ chữa chạm mu bàn tay và mắt mờ dần, cả bầu trời thối thui vây lấy anh!
 
*
– Bình tĩnh con, đừng hốt hoảng!
Má Tư nói trong lúc Hai Lá Tre vẫn còn cõng Năm Hạnh trên lưng. Tía Năm Hạnh hối hả chạy tới, quên cả việc mặc áo.
– Bây để thằng Năm nằm xuống gốc tre ở đầu hồi nhà.
– Sao không đưa anh Năm vô nhà, hả má?
Có ai đó la lên:
– Rắn chạm, kỵ đưa vô nhà!
Hai Lá Tre bật khóc.
– Bây vô nhà lẹ, thay áo, vú mớm lòi ra đó!
Giờ Hai Lá Tre mới nhớ là đã xé nửa thân áo trước, quấn trọn bàn tay và cột thắt cánh tay ngăn nọc độc rắn dẫn về tim. Tía Năm Hạnh – ông Sáu Thời – chết điếng, chảy nước mắt nhìn con. Gia đình ông bất hạnh từ lúc má thằng Năm bất đắc kỳ tử , nhiều năm nhìn cảnh cũ vắng người xưa, chịu khôn xiết, ông bỏ nghề dạy học và bán nhà đi xứ khác. Luân lạc trên ghe mấy năm, tía con trụ lại xóm sông Trăng với những mong nó lập gia đình, yên bề gia thất. Nay, thì… Ông ngửa mật nhìn trời, kêu trời!
– Hai! Cháu ráng cứu thằng Năm. Nếu chết thế được, qua chết thế!
– Bây xớ rớ hết khóc, lại kê miệng nút máu độc nơi chạm nọc của thằng Năm mần gì? Sao không sanh Tân Lèo cầu cứu mấy đứa bạn Chey, Oum!
Bà bạn Má Tư la toáng, mọi người giựt mình qua cơn kinh động.
– Quýnh quáng mà quên mấy đứa bên xóm Tân Lèo trị rắn chạm bằng sừng trâu cò hay đáo để!
Má Tư trút gánh nặng, mừng ra mặt.
Hai Lá Tre ùm bơi qua sông Cái Cỏ.
Chey biểu Oum mài sừng trâu cò, rồi dùng đũa bếp cạy miệng Năm Hạnh đổ vào và đồng thời, kêu Hai Lá Tre nhai cỏ cứu đắp liên tục nơi vết chạm. Nửa canh giờ hơn, Năm Hạnh tỉnh dần và từ từ mắt mở ra; người đầu tiên anh nhìn thấy là Hai Lá Tre…
– Nguy kịch đã qua, để tụi nhỏ nó tính. Tui mời anh Sáu và bà con chòm xóm vô nhà dùng nước!
Đồng cảm những giọt nước mắt hạnh phúc của Hai Lá Tre, đôi chị em bạn Chey và Oum xin phép ra về. Chiều dùng dằng thời gian không nỡ vội chiều. Im lặng lắng đọng xúc cảm, từng hạt nước mắt Hai Lá Tre rơi ướt mặt Năm Hạnh và anh, ôm chặt Lá Tre như sợ gió cuốn bay đi trong cái tàn phai của buổi chiều tà!
– Tui không là “đàn bà cạn lòng như đỉa”.
– Anh chẳng là “đàn ông bạc nghĩa như vôi”.
Buông ra anh, người ta ngó thấy cười chết!
Năm Hạnh đã khỏe, giả bộ như chưa khỏe và đột ngột ngồi dậy, hôn nhẹ lên má Hai Lá Tre:
– Giờ thì, anh hiểu mang máng vì sao má đặt tên tục của em là Lá Tre!
– Và, cái má cần chọn cho em là Xe Điếu, anh biết không?
Tiếng quang quác con diệc gọi bầy, Hai Lá Tre ù chạy ra sau bếp.
Cuối năm, trời thắp đèn sao!
CTH.

(more…)

Read Full Post »

Chuối trổ buồng

Trần Bảo Định

1.
Má mất trước hòa bình.
Ngày về, tôi nghe chòm xóm kể lại: ”Mảnh đạn pháo ”mồ côi” từ căn cứ Đồng Tâm bắn đã cắt lìa sự sống của má tôi!”. Ngôi nhà ba gian, hai chái lợp lá dừa nước thuộc mấy đời người, giờ chỉ còn lại mớ tro tàn bay tứ tán. Lần hồi, xóm giềng giúp tôi dựng lại ngôi nhà trên nền đất cũ, cái nền đất mơ ước hòa bình, và thấm máu mẹ tôi.
– Bảy! Dựng nhà xong, cháu nhớ trồng chuối lập vườn, nha!
Bác Hai nhắc. Chắc là bác sợ tôi quên.
Tôi nói trả treo:
– Trồng chuối cũng chỉ là cách nuôi ma quỷ. Người ta nói: đêm đêm nó hiện về kêu, tiếng kêu khóc rợn người!
Bác cười sặc sụa, buông thòng một câu:
– Ngày trước, má cháu muốn biến khu đất vườn tạp nầy thành vườn chuối!
Bồi hồi, tôi nhớ lại.
Bến nước nhà tôi ngó qua bên kia là doi đất Hốc Đùn (1) giữa đôi bờ sông Bảo Định. Sanh thời, má tôi thích trồng cây chuối, mặc kệ người ta hay chê bai: trồng chuối là ”trồng chúi nhủi” (!?). Có lần má nói: ”Hòa bình, má sẽ lập vườn trồng chuối, và chuối đó phải mang thương hiệu ‘Chuối Bến Chùa’!
– Chuối có nhiều giống. Vậy, má dự định trồng giống chuối nào?
Tôi hỏi, má chợt cười: ”Giống chuối nào má cũng trồng, không phân biệt”.
Má giải thích:
– Tùy đất chọn giống, không thể tùy giống chọn đất.
Rồi, má nói thòng câu: ”Con người ta thì cũng vậy, thôi! Tùy việc chọn người, không thể tùy người chọn việc”.
Lát sau, má nói chắc cứng:
– Xẻo đất vàm Bến Chùa được bồi lắng bởi phù sa hỗn dung từ hai dòng sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, nên có khả năng giúp các giống chuối nhanh chóng phát triển, tươi tốt.
Giờ thì, tôi thực hiện điều mong ước của má!
Giống chuối cao đòi hỏi không gian, giống chuối lùn thì không. Buổi trưa bóng đứng, tàu lá chuối buồn rũ nắng. Bâng khuâng, tôi nhìn đọt và búp chuối chênh vênh phơi cái noãn nà, khiến kẻ chặt lòng cũng không thể không là khách tình si. Buộc miệng, tôi ngâm nga:

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem (2).

Những bông chuối lay động; tiếng xạc xào nửa như hớ hênh, nửa như khép nép run rẩy rụng cuống hoa. Nhớ và thương má tôi, người trở thành thiếu phụ trong những ngày đầu binh lửa qua làng. Mắc võng dưới tán cây vú sữa, tôi đọc đi đọc lại ”Suối về Hoa Nghiêm” (3), và từ nơi sâu thẳm của đứa con đã lên tuổi lão, tôi trào dâng niềm xúc cảm, bởi:

Mẹ mãi muôn đời mẹ của con
Dù Nam Hải cạn Thái Sơn mòn
Trái tim in bóng THỜI mơ MỘNG
Tuổi ngọc ngà vương nét lệ son

mà thi sĩ Trần Quê Hương đã vắt máu tim mình dệt thành những vầng thơ về Mẹ!
Trong tâm tưởng, tôi nghe tiếng róc rách của suối, tiếng gọi rạt rào về cõi HOA NGHIÊM bằng những trang kinh quý báu cho người. Bỗng dưng, tôi nhớ chuyện nhà:
” – Trời khuya rồi đó, con!
Má nhắc tôi.
– Dạ!
Dòng sông quê bàng bạc trăng sương.
Tôi lững thững bước qua thềm cửa, hình như bóng trăng lẽo đẽo theo sau níu gót chưn. Tôi ngoái lại, trăng xoay mặt về phía vườn chuối, và trăng xoải mình bơi ra vàm rạch Bến Chùa mênh mông nước.
– Con đi ngủ đây, má!
Nói là nói vậy, chớ thiệt ra, tôi nào có ngủ nghê gì được đâu. Bởi lẽ, trong tôi co cụm bao điều trăn trở, và dàn trải những dự phóng tương lai bất định của trai thời loạn: Chiến tranh!
Tiếng pháo gầm xa như tiếng sấm nổ của cơn mưa đầu mùa. Má tôi lụm cụm ngồi dậy.
– Bảy! Ngủ thức, con?
Nằm im, tôi giả đò ngủ.
– Cái thằng nầy, thời giặc giả mà mới đó đã ngủ say rồi!
Má cằn nhằn, sự cằn nhằn pha lẫn tiếng thở dài ngao ngán bom đạn.
– Xuống tảng-xê, nhanh lên, con!
Má lay chưn tôi theo nhịp thúc giục.
Tiếng súng nổ như bắp rang ở hướng cầu Bến Chùa ”.
Hoàn cảnh cũ tuy đã xa lắc xa lơ, nhưng tôi không thể nào quên và cũng không thể nào không nhớ đoạn thơ trong bài thơ ”Mười năm con lớn” của ông:

Con nhớ mỗi lần nghe súng, mõ
Đầu đàn ngoại gọi ”Dậy con ơi!”
Dậy liền xuống đất chun hầm trốn
Lo lắng nằm run…vái Phật Trời

Và, đêm thổ huyết trăng vàng úa, tật nguyền trên quê hương tôi!

2.
Vườn chuối mượt xanh, cây chuối đã ba mùa trổ bông kết trái thành buồng trên mảnh đất từng bị đạn bom chà đi xát lại và nay, vẫn còn phảng phất mùi thuốc súng. Tôi giật mình, ngậm ngùi khi đọc thơ ông:

Nước nhà gặp thuở can qua
Chiến chinh máu lửa chan hòa lệ dân
Vì tình chung gác tình thân
– Em ơi! Hãy nhớ duyên trần trăm năm…

Lời người ra đi dặn dò người ở lại, và người ở lại cũng dặn dò người ra đi: ”Mau về, con khóc đợi chàng đó nghen!” trong ”mắt đẫm châu tràn” tiễn ”người đi tận mù tăm sương ngàn…”. Những câu thơ mang nội hàm bình dị không hẳn là bình dân, rất dung dị đời thường đã rót vào lòng người đọc sự thổn thức không thể cưỡng lại.
Chàng thi sĩ – đứa con yêu dấu của rạch Bến Chùa, vùng đất đã từng nổi tiếng mận Hồng Đào một thuở – đã y bát đi khắp nẻo đường quê hương, và chàng gửi lại ”Suối về Hoa Nghiêm” với hai khúc đoạn: ”Tình ca 25 năm”, ”Cây Tùng – Phương Hồng Cỏ và Biển Khơi”. Tôi thẫn thờ nhìn bông hoa chuối màu tím trước cơn gió dữ tạo tiếng gió xé lòng tử biệt:

Con gái hai mươi thành thiếu phụ
Khóc tình chưa cạn lệ chia ly
Rồi nay lại khóc thân đơn lẻ
Anh hỡi! Sao mà vội sớm đi?

Phận người trong kiếp trầm luân chìm bể khổ, và ông đã ngộ ra từ cái giác nơi trái tim tinh khôi khi bước vào tuổi mười ba. Dưới bầu trời xanh và mây trắng, ông mất cha rồi mất mẹ, thân côi cút nương tựa ngoại… những ngày! Ông tìm về… Về HOA NGHIÊM bằng tất cả tấm chơn tình tận hiến.
Đêm đồng bằng xuống nhanh như cố xua đuổi ngày. Trăng – Trời trong thể trạng Trời – Trăng, và nếu vì một lý do nào đó, Trời – Trăng thiếu Mây – Nước, thì Trời – Trăng kia cũng chẳng còn ý nghĩa gì đối với thế gian. Mẹ tạo con và con thì không thể tạo mẹ. Tôi đã đọc thơ thi sĩ Trần Quê Hương cho bác Hai và bà con trong xóm cùng nghe. Thơ của ông chẳng khác nào ban mai mồi nắng, truyền ấp áp và quang hợp sự sống. Đó là điều cảm nhận không riêng gì bác Hai mà của cả mọi người. Với thiên hạ, chẳng xa lạ gì ông; với người Mỹ Tho dưới mái tịnh xá Ngọc Tường trong chiến tranh hay hòa bình, thì ông mãi mãi vẫn là người thân ruột rà. Người ta trọng ông vì cái nghĩa, mến ông bởi cái tình, thương ông từ cái chất phác, hồn hậu và nhứt là, ông cúi mình xuống nâng mọi người giác ngộ cái cần giác ngộ trong cõi vô thường. Vì vậy, thơ ông không cần dụng công chắc lọc chữ gọi là sang hoặc hàn lâm mà vẫn đi vào lòng người đọc sự nhẹ nhàng, tinh tế như lời ru của mẹ, như câu hò, câu ca dao thấm đượm tình quê.
Tôi nói nhiều về thơ ông, có lẽ do chủ quan và cũng có lẽ do đồng cảm. Song, phải thú nhận rằng, tôi không cầm được nước mắt khi chạm vào thơ ông viết về Mẹ!
Mẹ ông hay mẹ tôi, hoặc bất cứ bà mẹ nào trong thế gian nầy, chắc đều có cùng mẫu số chung là ”banh da xé thịt” đẻ con! Ông bộc bạch tâm tình:

Hỡi ơi! Rêm nhức cùng da thịt
Mẹ lại vì con cam chịu mà

cho tới lúc ông chào đời:

Vừa ra lòng mẹ oe oe khóc
Tiếng khóc con xua hết tủi hờn!

Tự dưng, tôi liên tưởng cây chuối vườn nhà – chỉ là chúng sinh – ; vậy mà nó cũng phải trải qua thời khắc ”banh da xé thịt” để trổ buồng; đồng thời cho ra đời mầm sống mới, gìn giữ giống nòi! Tôi đã nhớ ra, có lần bác Hai chỉ vẽ:
– Chuối chỉ trổ buồng về đêm!
Tôi hỏi: ”Vì sao?”. Thong thả, bác nói chậm rãi:
– Đêm càng sâu, không khí càng lạnh, nhứt là dưới phần gốc chuối và từ đây, cái lạnh truyền khắp thân cây. Thân cây chuối run bần bật và phát tán thanh âm ”nghiến ken két” .
Rồi, bác nói người yếu bóng vía, nghe thanh âm đó giữa đêm khuya khoắt cũng có thể điếng hồn, chết giấc.
Tôi ê răng. Bác cười:
– Đó là, tiếng kêu rên của bẹ bắp chuối đang lúc bung quài chuối non chào đời!
Tôi xẻn lẽn, nhận ra cái ngớ ngẩn:
– Vậy mà, cháu…
– Cháu tưởng rằng: trồng chuối là nuôi ma quỷ!
Bác đỡ và nối lời tôi.
*
Chết ngất đôi giờ cho con mẹ
Lọt lòng ra khỏi bến tình nhau

Câu thơ của ông đã gợi trong tôi hình ảnh chẳng khác gì buồng chuối non bung ra khỏi bẹ bắp, thật kỳ lạ – mà cũng rất kỳ diệu! – mơ hồ tựa người chui ra, và không rõ bắp chuối lấy nước trong vắt ở đâu mà nhễu thành giọt… thành giọt giống như nước ối của mẹ sanh con. Cái ”bến tình nhau” của thi sĩ là mối dây vi diệu cột chặt tình mẫu tử phải đạo làm người. Tôi thương cảm thi sĩ như tôi thương cảm tôi, bởi thi sĩ và tôi, cả hai đều không còn cha mẹ, để:

Đêm đêm thắp ngọn đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con (Ca dao).

Trong vòng đời nghiệt ngã, thi sĩ đã tự giác nhi giác tha:

Phải tự lòng mình trau luyện lấy
Tự mình thức tỉnh trước đời mình
Trăm năm hồ dễ ai còn thấy
– Sinh giả danh hề, tử giả sinh?

Đêm tàn. Trời sáng hửng, và thi sĩ đã:

Giã từ nhân thế trần gian giả
Năm tháng phiêu bồng thoảng tháng năm.

3.
Thực tại, người ta thường ngộ nhận bịnh ”chùn đọt chuối” với bông hoa chuối, nó giống nhau mà không phải nhau. Bông hoa chuối màu tím, thiên hạ hay gọi: ”Màu tím buồn châu thổ” vì thương nhớ mẹ. Cây chuối trổ bông sau hơn nửa năm hoặc cả năm trồng. Bác Hai dặn tôi không được cắt tỉa lá xung quanh bông chuối. Bác nói: ”Dưới ánh nắng mặt trời, lá bảo vệ bông chuối”.
Thiên nhiên tuyệt diệu!
Cái tuyệt diệu của thiên nhiên là: Cây chuối cần nước. Mất nước, cây chuối khô héo, lụn tàn và chết. Nhưng, nếu nước ngập tràn gây úng thì cây chuối không thể sống. Sự cân bằng môi sinh nó quan trọng biết dường nào. Vả lại, cây chuối cần và đủ không gian sống, chất lượng sống trên vùng đất vốn trù phú, phù sa màu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long.
– Đừng tiếc chồi nhỏ dù rất nhiều, cháu hãy mạnh tay chặt bỏ.
Bác Hai khuyến cáo và biểu tôi chọn để lại một chồi vượt trội hơn các chồi khác. Bác nói: ”Đó là cách tốt nhứt giữ cho cây khỏe mạnh và buồng chuối trĩu trái, thơm ngon”!
Quê tôi, thường hay gọi buồng là nải. Thực tế trái chuối ra nải treo, nải treo thành tầng, mỗi tầng gọi là nải, mỗi nải có nhiều trái và các nải gọi chung là buồng chuối. Khi bông chuối thu hẹp cánh, buồng chuối lồ lộ trên quài thì tôi cắt bỏ những phần thừa cây chuối. Có lẽ, một câu thơ, một bài thơ hay tập thơ chắc là cũng vậy thôi, và thi sĩ Trần Quê Hương đã làm được điều đó một cách tinh tuyển hết sức tự nhiên đối với thi phẩm ”Suối về Hoa Nghiêm”!
Bắp chuối, chính là bông đực và bông đực, không khả năng sinh sản nên người ta phế bỏ. Khi lá cây chuối bắt đầu rụng và chóp bông nhỏ trên đầu trái chuối khô héo là lúc thu hoạch trái. Bác Hai chỉ chặt nhát dao giữa thân cây chuối, tôi làm chưa đúng, bác cằn nhằn: ”Đã biểu chặt chéo giữa cây phía đối diện buồng chuối”, và bác nói thêm: ”Uốn cong cây, rồi cắt buồng ”.
– Cháu nhớ giữ lại một chồi cây, nó sẽ thay cây mẹ ở ngày mai!
Bác Hai cẩn thận nhắc chừng tôi.

Đêm quê nhà.
Trăng Vu Lan bồng bềnh, đùn đục sương xứ sở. Nằm nghe tiếng chuối ”nghiến ken két” trở dạ ngoài vườn, tôi bâng khuâng trong nỗi cảm hoài ”Suối về Hoa Nghiêm” qua từng câu thơ thi sĩ Trần Quê Hương, và với tôi, đã quá đủ chất liệu làm nên trang sử thi về Mẹ thuần khiết tâm hồn Việt!
TBĐ.
…………………………………………….
(1) Nay là ấp 5, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
(2) Ba tiêu (cây chuối), Nguyễn Trãi (Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, 1976).
(3) Tuyển tập thơ : Suối về Hoa Nghiêm – Tặng phẩm dâng đời – Tâm hồng mười phương (trích), Trần Quê Hương, Nxb Tổng Hợp, 2015.

(more…)

Read Full Post »

Trần Bảo Định
 
1.
Hai Lượng tỉ mỉ chỉ cho Bảy Đặng cách bầu đất trộn tro trấu, bột xơ dừa để ươm hột măng cụt. 
Trước khi xuống ghe về Tân Thiềng, Hai Lượng căn dặn: 
“Bảy! Em nhớ tưới nước thường xuyên, nếu không, hột nẩy mầm chậm hoặc sẽ không nẩy mầm”. 
“Phải đợi tới bao lâu thì hột măng cụt mới nẩy mầm vậy, anh Hai?”, 
Bảy Đặng thiệt thà hỏi. 
“Độ mươi ngày, có khi tròn một con trăng!”, 
Hai Lượng vuốt mồ hôi lấm tấm mặt, rồi vừa nói vừa đi ra bến nước mở dây cột ghe. 
Từ lâu, Bảy Đặng để ý và hiểu rõ Hai Lượng thầm thương trộm nhớ mình; nhưng nghiệt nỗi, trong con mắt họ hàng và gia đình ba má Bảy Đặng thì Hai Lượng không thuộc hạng “môn đăng hộ đối”. Sự trắc trở đó khó có thể vượt qua, dù rằng đã nhiều lần Bảy Đặng thố lộ tâm tư với má. 
“Con đừng quên, gia đình mình vốn mấy đời thuộc gia đình “môn đăng hộ đối” ở cái làng Vĩnh Thành nầy!!”, bao giờ bà Tư cũng nhắc chừng con gái như vậy! 
Mùa trăng, rồi những mùa trăng nối tiếp… Cây măng cụt lớn được chuyển cây sang bầu lớn, Bảy Đặng nhẹ tay tránh không để tổn thương rễ, vì lẽ rễ măng cụt rất yếu và không có lông hút; nào khác chi mối tình của mình đang trong thời kỳ phôi thai, mong manh.
Bảy Đặng không quên lời Hai Lượng: “Cây măng cụt lớn chậm, rất chậm. Phải đợi hai con nước mùng mười nó mới đâm ra một cặp lá, và buổi đầu đời chỉ một tàng lá chịu gió sương”. Bảy Đặng nhớ đã nói ẩn ý một cách bâng quơ: “Chậm thì đợi, chớ người ta đây nào có thúc bách gì cho cam!”. Thâm tâm Bảy Đặng muốn nói thêm: “Chậm mà chắc vẫn hơn”, nhưng nghĩ sao đó, Bảy Đặng mần thinh. 
Vườn măng cụt ngày một xanh, xanh màu hy vọng; bông măng cụt phảng phất mùi đặc trưng các loài bông trái và cỏ dại ruộng vườn đất cù lao; hương thoang thoảng bông lài lẫn bông huệ, một chút lâng lâng mùi xoài trộn hương bưởi, và ngây ngây mùi lá ướt, cỏ úa… Những ai đã từng hít thở hương quê nơi nầy, sẽ khôn nguôi mùi nhớ! 
Bánh tráng Mỹ Lồng 
Bánh phồng Sơn Đốc 
Măng cụt Hàm Luông
Vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn 
Anh đây nói thiệt, sao em còn so đo… 
Mỗi lần nghe ai đó hò câu hò như xác tín món ngon, trái ngọt quê nhà, Bảy Đặng vừa vui vừa hãnh diện mình là đứa con được sinh ra và lớn lên từ một trong ba cù lao (1) đó, vốn do phù sa sông Cửu Long tạo thành. Tuy vậy, có đôi lúc, Bảy Đặng hờn dỗi, giận lẫy người thương sao trách oan mình. Bởi bụng dạ Bảy Đặng nào có “so đo” hơn thiệt, dù đang phải chịu nghịch cảnh với mối tình không câm nhưng chẳng nói thành tiếng trước đấng sinh thành.
Đêm tình yêu! 
Sau cái đêm tình yêu nơi vườn măng cụt tràn ngập ánh trăng, Bảy Đặng chịu trận đòn nên thân. Ông Tư, ba của Bảy Đặng, vừa đánh con vừa chảy nước mắt. 
Bà Tư tuy không đồng tình việc hư thân của con gái, nhưng bà cũng không nỡ đứng nhìn con gái bị đòn roi. Bà năn nỉ xin ông tha cho con vì trót lỡ dại. 
Rồi bà ôm con vào lòng, cả hai mẹ con cùng khóc! 
Trời trở trăng lưỡi liềm cuối tháng lúc gần sáng. Bà Tư buồn, cái buồn lo ngày mai Bảy Đặng sẽ ra sao? Bà gối tay cho con kê đầu ngủ, hệt thời con còn là con gái. Bà liên tưởng đời người với đời cây, đời con Bảy với đời măng cụt. Từ cây măng cụt té ra tình yêu, một thứ tình yêu mà đời bà không có. Bà lấy chồng theo “môn đăng hộ đối”, con gái bà thì không. Nó có mảnh đời riêng của nó, và nó tự quyết định lấy. 
Biết tánh chồng cứng và chắc ruột, nhứt quyết không là không thừa nhận chuyện “trăng hoa” của con. Thỉnh thoảng, bà cố nài, và cố nói hết tình lý với ông: “Cây măng cụt phải mất gần mười năm hoặc hơn mười năm mới trổ bông ra trái, rồi sau đó có thể sống hằng hà sa số năm với một chiều cao trên hai mươi mét, vậy mà người ta vẫn gọi nó là cây tiểu mộc chớ chẳng ai gọi nó là cây trung mộc hay đại mộc bao giờ. Con Bảy dù đã bằng đó tuổi, lớn tồng ngồng, nhưng nó vẫn còn là đứa “non người non dạ”… Vả dẫu sao thì nó vẫn là con của mình. Mình bao nỡ…”. 
Ông Tư ngồi thừ người ra, mặt buồn xo, tay vấn thuốc, miệng hút liên tục. Thấy vậy, bà lựa lời “rào trước đón sau”: “Lá măng cụt còn có hai mặt: dưới xám xịt, trên lục vàng hơi bóng. Người thì chắc cũng vậy thôi!”. 
Thấy chồng im lặng, bà mừng húm trong bụng vì ngỡ “cá đã cắn câu”, bà giả lả mượn bông măng cụt nói tếu táo: “Những bông đầu tiên mọc thành chùm trên đỉnh nhánh. Bông rộng, dày, và có thể bông đực hay bông lưỡng phái cùng một cây, cuống bông có đốt, lá bắc. Bông lưỡng tính thường mọc đơn lẻ, đôi khi thành cặp trên ngọn nhánh cành non. Cánh bông màu xanh, bên ngoài đốm đỏ, vàng đỏ bên trong… Không cần ai thương, nó vẫn ra trái cho đời… Nhưng, con Bảy nhà mình thì khác, nó trổ mã con gái, thì phải có người thương mới nên vợ nên chồng chớ”
Bà đương nói thao thao, ông đột ngột đứng dậy: 
“Tui không muốn ngó thấy mặt nó!”.
2.
Bà Tư chịu điều tiếng chì chiết, mắng mỏ của chồng, bởi “con hư tại mẹ”. Người dưng, yêu nhau không lấy được nhau, bà còn thương xót huống chi đó lại là con gái của bà. Đêm đêm bà thao thức nghĩ chuyện người, chuyện cây cỏ đất quê. Bà không hiểu vì sao lá măng cụt không rụng dù gặp bão tố, và trái được bao bọc do những đài hoa cánh hình tam giác, màu tím sậm tới tím đỏ, phẳng và láng; thoạt nhìn, chẳng khác bông hồng ngày cô dâu bước xuống thuyền hoa. Có điều bà hiểu rằng, người tự ràng buộc nhau có khi làm khổ cho nhau cả đời, tỉ như việc “môn đăng hộ đối”. Nhưng đối với thiên nhiên thì không, bởi thiên nhiên tự nó đã là sự tự do vượt lên trên cái “tôi tầm thường”, gìn giữ quyền sống hài hòa môi trường, cân bằng sinh thái mà trời đất đặt để. 
Lá măng cụt không bỏ cành, thì sao bà phải bỏ con!? Đời bà trải qua và đau khổ vì “môn đăng hộ đối”, bây giờ bà không muốn con gái của bà đi lại con đường bà đã đi và mang những gì bà đã mang. Rồi bà nghĩ chắc cứng điều thực tế, ruột măng cụt được bảo vệ bằng lớp vỏ dày, mà nếu cắt mặt ngang ai cũng nhận ra màu đỏ, màu tím trắng cùng vị đắng với nhiều mủ vàng ngà, kèm theo dung dịch nước. Chẳng lẽ bà không bì kịp vỏ măng cụt, không bảo vệ được con? 
Nghĩ sao làm vậy! Bà lén chồng nhận Hai Lượng làm con rể. Bà giấu đút đưa con rể đôi bông tai để tặng vợ, như là quà cưới và như là một lời thề của hai đứa nguyện “ăn đời ở kiếp” với nhau. 
Thực ra mọi việc làm của bà, ông Tư đều biết rất rõ. Nhưng ông nín khe, im lặng! Vợ chồng Hai Lượng ở đậu xẻo đất cặp rạch Cái Mơn. 
“Mình ở nhà, nếu chị Chín tới hỏi mua cây giống măng cụt thì mình hẹn chị chờ mươi bữa, nửa tháng”. 
“Sao anh không giao cho chị mớ cây giống ghép còn để ở bên liếp chòi?”, 
Bảy Đặng thắc mắc hỏi chồng. 
Hai Được cắt nghĩa: 
“Cây giống ươm bằng hột măng cụt phát triển từ phôi cái nó sống mạnh, trái to và đặc tính hệt như cây mẹ. Cây giống ghép sống yếu dễ chết, ít trái và trái nhỏ. Mình không nên giao cây giống măng cụt ghép cho chị Chín và cả khách hàng”. 
Hai Lượng bước nhẹ qua lối mòn, sương mai chấp chới trên đầu cỏ. Bảy Đặng xách mo cơm (2) lẽo đẽo đi sau chồng xuống bến ghe. Hai Lượng ngoái cổ, nói với vợ: 
“Mùa sau, vợ chồng mình thôi ghép giống cây măng cụt”. 
Trải qua sóng gió thị phi, hai người thành chồng vợ sau cái đêm thành thân vượt “môn đăng hộ đối”. Vợ chồng sống cảnh nghèo, nhưng thừa tiếng cười hạnh phúc. Vợ ở nhà ươm cây con, chồng chèo ghe bán cây giống khắp sông rạch đồng bằng hạ lưu sông Cửu Long. Ghe chồng theo con nước, không theo thời gian vợ chờ. Thương vợ sáng tối thui thủi một mình nơi vườn ươm măng cụt hiu quạnh, Hai Lượng buông lời: 
Sông Cửu Long chín cửa hai dòng 
Người thương anh vô số 
Nhưng anh chỉ một lòng với em. (Câu hò Cái Mơn).
Những lúc như vậy, Bảy Đặng chỉ biết âu yếm nhìn chồng, rồi bẽn lẽn cười, nụ cười chơn chất đặc sệt phù sa. 
“Trăm tay không bằng tay quen”, việc ươm cây con măng cụt bây giớ Bảy Đặng thành thạo; thành thạo đến cỡ Hai Lượng cũng chẳng thể chê trách chỗ nào. Mỗi lần rảnh tay, nằm nghỉ, Bảy Đặng thường ngó ra bến rạch ngóng mũi ghe của chồng ló dạng rồi nghĩ đâu đâu: “Nếu rạch là con sông nhỏ chảy ra con sông lớn, thì mình tự nguyện làm con rạch chảy ra con sông lớn của chồng”. 
Sau lần bị sẩy thai, Bảy Đặng lo sốt vó vì sợ mình trở thành “đàn bà bị nâng” chẳng còn khả năng “sanh con đẻ cái”. Vợ chồng ước mong sau mùa bán cây giống sẽ có được một mớ tiền kha khá, đủ đi đường lên chùa cầu tự. Mấy lần, Hai Lượng tới đình cầu thần giúp “mua may bán đắt”, khổ nỗi chẳng đâu vào đâu, ế vẫn hoàn ế. Thấy vợ buồn dàu dàu, Hai Lượng vỗ về an ủi: “Mình có con chậm chút thì có sao đâu?”. 
Thương là thương ông ngoại, tuy trước kia lạnh lùng: “Tui không muốn ngó thấy mặt nó!”; nhưng nay ông buồn rầu khi hay tin con gái hư thai. Rõ ràng, với ông: “Giận thì giận, mà thương thì thương”, và giận con thời “nói vậy mà không phải vậy!”. 
Tám năm sau, dù chưa phải đi chùa cầu tự, vợ chồng mừng rỡ vì sau chín tháng mang thai, Bảy Đặng sinh được một thằng bé kháu khỉnh. Có con muộn, muộn như cây măng cụt sinh trái vậy. 
Làm nghề ươm cây, trồng cây, nhứt là cây măng cụt cho ra trái. Hai Lượng bắt đúng mạch trái măng cụt: “Vậy là vậy, ít khi vậy không phải vậy!”. Hễ đầu nhụy trái măng cụt có bao nhiêu cánh, thì ruột trái có bấy nhiêu múi; hiếm khi sai lệch giữa cánh và múi. Măng cụt bên ngoài vỏ dày cứng, bên trong dày xốp; hột trái được bao lớp thịt trắng phau ngọt thơm đến lạ kỳ! Măng cụt thuộc loại trái “nắng ưa, mưa ghét”, thu hoạch măng cụt giữa tháng tư tới cuối tháng sáu, hoặc sang tháng bảy; nghĩa là trước mùa mưa dội trắng vườn. 
Bảy Đặng nhớ hoài câu nói của chồng:
“Trái ngon, nết khó!”.
3.
Mua cây măng cụt giống, khách mua hay hỏi Hai Lượng: 
“Măng cụt từ đâu tới, và vì sao gọi là măng cụt?”. 
Mỗi khi như vậy, Hai Lượng thường trả lời với khách mua bằng bài thuộc lòng học lóm xứ vợ, rằng: 
“Người Hoa, người Thái Lan gọi măng cụt bằng cái tên ‘mạng khud’, Huình Tịnh Của gọi ‘Bứa Xiêm’, và vua chúa ban tặng tên mĩ miều ‘Giáng Châu’. Từ lâu, người ta đinh ninh măng cụt do các nhà truyền giáo đạo Gia-tô di thực vào miền Nam Việt Nam với tên gọi ‘mangouste’!”. 
Rồi Hai Lượng tiếp: 
Nhưng, lời truyền trong dân gian thì lại khác: ‘’Măng cụt và lúa ma (lúa trời) là những cây còn sót lại sau khi Vương quốc Phù Nam bị xâm lược và bị sáp nhập vào Chân Lạp(?!)”. 
Khách hàng tin hay không thì còn tùy! Chuyện biển dâu biết đâu mà mà lần, và nếu có lần thì biết lần đâu cho đúng? Ngay tên Cái Mơn, vùng đất cưu mang măng cụt còn lắm điều tranh cãi về xuất xứ cái tên: “Kha Mân (nghĩa là tổ ong) đọc trại Cái Mơng, hay Cả Mân đọc trại Cái Mơn, hoặc Caiman (Sấu mõm dài) đọc trại thành Cái Mơn…”(?). Đố ai biết? Chỉ biết chắc là ở Cái Mơn tên rạch, tên kinh, tên cầu… tất thảy, đều mang tên người và đối xứng giữa đàn ông, đàn bà: “Kinh Ông Kèo – rạch Bà Bốn, rạch Ông Bái – cầu Bà Ươm, cầu Bà Trùm – kinh Cả Chánh”. Và có lẽ, họ Nguyễn ở rạch Giàn Sấy (sấy cá), họ Lê ở rạch Bà Dung, họ Phan ở rạch Ông Mầu là ba tổ họ tới vùng đất Cái Mơn sớm nhứt (3).
Hai Lượng ngẫm suy, những việc làm lương thiện, hữu ích cho tha nhân; đất và người không quên, lưu lại đời sau tỏ tường. 
Rạch Cái Mơn, thủy trình độc nhứt cho tàu ghe từ sông Hàm Luông sang sông Cổ Chiên hay ngược lại. Dòng nước rạch Cái Mơn không chảy một hướng như bao sông rạch khác, mà trái lại, nó chảy ngược, đối xứng nhau. Khi đôi dòng nước chạm nhau, nó liền chảy trở lại nơi xuất phát. Chỗ gặp nhau, người Cái Mơn gọi đó là “giáp nước”, hoặc “rún Rồng”. 
“Rún Rồng” xoáy nước khiến lòng rạch nới phình ra và rộng phía hai bờ rạch, dân bốn phương tụ về sống quần cư trên bến dưới thuyền; hợp thành chợ mặt đất, chợ nổi mặt nước. 
Sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên đi vào Cái Mơn bằng hai ngõ gọi là Vàm Mơn, Vàm Sả. Ghe Hai Lượng neo đậu Vàm Sả chờ con nước trở về nhà. Chuyến đi nầy dài ngày, ghe qua tới tận miệt Trà Ôn; bù lại, Hai Lượng bán sạch ráo cây con măng cụt, chưa kể nhà vườn họ còn đặt thêm hàng cho chuyến đi sau. 
Ngồi hút thuốc ở mui ghe, Hai Lượng bồi hồi nhớ hôm chống sào lui ghe rời bến, Bảy Đặng đứng chấp chới trên bến cố nói vói theo: “Măng cụt sắp chín rồi. Chuyến nầy, về sớm nha mình!”. 
Anh định nói: 
Bước xuống ghe lòng buồn khắc khoải 
Thương em ở nhà dầu dãi nắng mưa. (Ca dao). 
Chưa kịp nói, gió đã thốc mui chao mũi, ghe dạt ra giữa rạch đương lúc nước ròng, nước chảy xiết. 
Mười năm chồng vợ bên nhau, mười năm vườn măng cụt của vợ chồng mới có trái chiếng đầu mùa. Tình yêu đất cho cây đâm chồi nẩy lộc, trổ bông kết trái. Nếu không có tình yêu đất thì cây lấy gì mọc và sống? Ngược lại, nếu không có tình yêu cây thì đất sẽ khô cằn và đất chết! Ngày nào đó, nếu trần gian không có tình yêu, thì… Bất giác, Hai Được rùng mình… Hai Được không rõ cái rùng mình vì cơn gió lạnh, hay vì nghĩ tới điều chẳng dám nghĩ!? 
Cây măng cụt chịu đèn đất Cái Mơn, và đất Cái Mơn nức tiếng từ cây măng cụt. Việc đó chẳng tự nhiên, mà có lẽ giữa đất và cây đã trao cho nhau một thứ tình yêu thiêng liêng của Thượng đế. Người Cái Mơn dễ gì quên những cái tên như: Vườn Mồ Côi, cồn Cát Tiên (Vũng Tàu 2), xóm Chùa Đốt, xóm 16 mẫu, giồng Nứa, gò Mua, … Và, tên người, như: Đục Bà Hem, giồng Thầy Tám, giồng Ông Kế… Đôi khi mang tên nghề: Cầu Giàn Sấy… Những cái tên thiệt ngộ ngộ, nghe qua tuy lạ tai nhưng chứa chan tình người, hồn đất! Hai Lượng rờ rờ mớ tiền bán cây giống khá bộn đang đựng trong ruột tượng quấn quanh lưng quần. Anh cười hồn nhiên, cái hồn nhiên của người sắp đạt điều ước mong. Anh tin vợ anh sẽ mừng húm khi nghĩ rằng có thêm tiền để nuôi thằng Cu. 
Mỗi lúc trời một tối, và tối đen… Giơ bàn tay chẳng thấy! 
Hai Lượng mồi thêm điếu thuốc, đốm lửa lóe đêm! Tự dưng, Hai Lượng nghe lòng nôn nao, thương vợ khôn cùng. Anh đếm lóng tay tính thời gian xa nhà, và ngày măng cụt chín. 
‘’Bớ người ta! Bơớ…ớ… ng… ư…ơờ…i… cưư…ú… v… ợ… co…on… tu…ii… vơ…ới…’’! 
Tiếng kêu xé lòng. Hai Lượng định thần, tức tốc quay mũi ghe, và chèo cật lực về hướng có tiếng đang la chói lói…
Bình minh! 
Mặt nước bình yên như chưa xảy ra điều gì đêm mù tăm, chết chóc. 
Cứu sống vợ chồng, con cái người bán hàng xén trên sông. Hai Lượng đuối sức, vĩnh viễn nằm lại đáy Vàm Sả. 
Cảm kích tấm lòng thương người, và hành động trượng nghĩa của Hai Lượng, dân thương hồ qua lại Vàm Sả đã cùng dân sở tại lập miễu thờ Hai Lượng như vị thần cứu nạn!
4.
Hàng cây măng cụt say nắng, rũ lá, và hình như đang thiêm thiếp đợi gió. 
Không gian im lìm, im lìm đến đỗi tiếng lá rơi ngoài vườn vẫn nghe rõ nồm nộp. Tám Mọn tỉ mẩn vạch từng chưn sợi tóc dì Bảy Đặng để tìm bắt bọn chí mén đang bám da đầu hút máu. Dì Bảy lim dim đôi mắt, thỉnh thoảng dì hít hà, chẳng hiểu vì đau, hay vì quá đã… ngứa! 
“Tám! Bóng nắng tới đâu rồi, con?”. 
“Dạ! Có lẽ nắng xỏ lỗ tai rồi đó, dì!”.
“Í chết! Chiều muộn…”. 
Bảy Đặng lật đật đứng dậy, quên cả búi lại tóc.
Mỗi ngày, Bảy Đặng canh con nước ra vô, để dì theo con nước đi gặp linh hồn chồng tại nơi chồng đã lâm nạn và chết. Trễ con nước, cũng đồng nghĩa là dì trễ hẹn với người từng”ba sinh hương lửa”! 
Nắng ngả vàng lưng sóng. 
Xuồng xuôi dòng. Bảy Đặng hối hả chèo ra Vàm Sả để còn kịp con nước quay về. 
Nắng hoàng hôn rán vàng mặt nước. 
Nhang khói chờn vờn bay, và những cánh chim trời hối hả qua sông chiều. 
Bảy Đặng ngồi trên thềm miễu, cắt măng cụt mời chồng với tâm thức: Trái Tình Yêu, vĩnh cửu! 
TBĐ.
………………………………………….. 
Chú thích: 
1. Cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. 
2. Mo cau đựng cơm. 


(more…)

Read Full Post »

Bông cà na quê nhà

Trần Bảo Định
 
Một.
Quê tôi bây giờ không còn mùa nước nổi đúng nghĩa nổi như từng nổi nước Đồng Tháp Mười. Và, có lẽ, câu hò ngày cũ:
”Tháp Mười sinh nghiệp phèn chua
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng”
đã lặng lẽ đi vào kho tàng chuyện cổ tích dân gian. Song, người xứ sở ”Mộc Hóa là xứ quê mùa/Bà thăm cháu ngoại cho vùa cà na”, luôn nhớ thuộc lòng đoạn thơ trong bài thơ ”Đồng Tháp Mười” của nhà thơ Nguyễn Bính:
”…Bảy trăm ngàn mẫu đất
Sớt chia bốn tỉnh miền Nam
Khắng khít biên thùy Chùa Tháp
Nằm trong tay trái Cửu Long Giang
Đồng Tháp Mười!
Đồng Tháp Mười!
Bao la bát ngát
Bưng sậy lên hoang
Mùa nắng đất khô cỏ cháy
Mùa mưa nước ngập tràn lan
Cò trắng ngàn năm bay chẳng dứt
Chân trời bốn phía rộng thênh thang! (1949).
Rồi, cái rộng thênh thang đó, người Pháp thời bấy giờ gọi ”Đầm cỏ lác” (Plaine des joncs). Lưu dân tụ về, dân tứ xứ dừng bước giang hồ khai cơ dựng nghiệp. Và, làng xóm lần lượt mọc lên trên ”Đầm cỏ lác” đó!

(more…)

Read Full Post »

Trần Bảo Định
 
 Một.
Nắng trưa hầm hập nóng, chị Hai ngồi đươn rế dưới bóng hàng cây trâm già. Những sợi tre thanh mảnh, qua bàn tay mềm mại của chị, chốc lát biến thành vật dùng làm bếp gia đình. Thằng Út chẻ và vuốt xong bó tre, dợm đứng dậy đi bắt cá rô ngộp nắng ở ngoài lung. Chị Hai ngăn lại:
– Tháng năm đồng khô hạn, cá rô không có thức ăn nên thiếu thịt thừa xương; bắt chi, cậu Út nó!
Trong nhà, má đương tỉ mẫn sửa lại cái sàng gạo để ngày mốt má sàng gạo sạch trấu, tấm…chuẩn bị giỗ tía. Má nói vọng ra:
– Chị Hai của con nói phải đó! Ông bà xưa thường dặn: ”Măng tháng chín thì nhịn cho chồng/ Cá rô tháng năm thì bằm cho chó”.
Vậy là, dự tính của thằng Út bị má và chị cản trở; mặt mày nó buồn xo, xụi lơ cán cuốc.
Chị Hai bèn bỏ ngang việc đươn rế, rủ cậu em đi róc lá dừa nước mần bánh lá ăn trưa cho đỡ buồn miệng.
Nghe nói tới mần bánh lá, thằng Út nhảy cửng lên mừng rơn hơn mừng húm!
Má nhắc chừng, chẳng khác gì phân công:
– Con Hai lo đi róc lá dừa, còn thằng Út chạy ra gò quơ mớ lá thúi địt (1) mang về cho má giã lấy nước cốt nhồi bột.
Nhà nghèo, thường thì buổi ban mai, không có gì ăn dằn bụng; ai nấy đều lo làm lụng công việc, mãi tới lưng chừng trưa, khoảng chín, mười giờ thì má mới dọn cơm cho cả nhà cùng ăn bữa cơm chính trong ngày. Thành thử, đến trưa hoặc xế trưa, bụng dạ thằng Út hay bị kiến bò. Má biết ý nên thường bày mần bánh, khi bánh chuối, lúc bánh lá…Cứ vậy, ngày nầy qua tháng nọ, thằng Út chẳng ngán ăn vì đối với nó, có cái ăn đã là đã lắm rồi!
Bột gạo nặn mỏng dính trên thân lá dừa nước cắt khúc được chị Bảy gắp ra từ nồi hấp cách thủy. Mùi thơm đặc trưng của bánh lá bay lãng đãng theo hơi nước sôi xông thẳng vô mũi thằng Út, khiến nó thèm ăn… muốn chết! Má lật đật cắt bánh cho vào dĩa, chưa kịp chan nước cốt dừa, chan nước mắm thắm, độn thêm dưa leo băm nhuyễn, thì nó đã hấp tấp bóc tay, ăn bánh ngon lành. Má rầy:
– Bây, ăn cái giống gì hồ đồ vậy! Bụng dạ nào chịu xiết!
Miệng thằng Út vừa nhai bánh, vừa hỏi:
– Bụng là sao, dạ là sao, hả má?
– Dạ trên rún, bụng dưới rún. Nhưng rồi, bụng làm thì dạ phải chịu thôi!
Má nói cầu kỳ quá, nó chẳng hiểu; trong lòng nó vẫn thắc mắc, là tại sao phải dùng nước lá thúi địt nhồi bột thì bánh lá mới ngon? Và, bộ hết tên đặt rồi hay sao mà lại đặt cái tên thúi địt, nghe thiệt kỳ cục!
Con Vện sủa trước ngõ cắt gãy dòng suy nghĩ vẩn vơ của thằng Út. Tiếng má nói vội:
– Nhà có khách, nha bây!
Chị Hai chộp úp cái lồng bàn đậy bánh, thằng Út bưng dĩa bánh vừa ăn vừa vọt lẹ ra sau hè cạnh bến nước.
Ngoài sân, con Vện sủa nà, càng lúc càng gắt củ kiệu…
– Vện! V…ệ…n…!
Con Vện nghe tiếng kêu của má liền cụp đuôi ngưng ngang sủa, nhảy phóc về nằm cạnh chưn má như thể  sẵn sàng bảo vệ chủ.
– Xin lỗi, bà kiếm ai?
Má hỏi, khi người đàn bà dợm bước qua ngạch cửa.
– Chị Bảy! Tư Sen nè! Bộ chị quên em rồi sao?
Tư Sen giở nón lá, lột cái khăn rằn bịt tóc, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt hốc hác dọc ngang lằn xếp.
– Mèn đéc ơi! Dì Tư Sen!
Má thảng thốt và mừng rỡ kêu lên! Con Vện mõm giảu, ngoắc ngoắc đuôi như muốn chia sẻ với chủ niềm vui bất ngờ chợt đến.
Dì Tư với má thân quen từ thời còn thiếu nữ, từ cái thời cả xóm nghèo sau chợ bám ga Tân Hiệp, chuyên sống cái nghề bán bưng các loại đồ ăn thức uống – trong đó, có bánh lá dừa ngon nhứt hạng – cho khách lữ hành. Nhà ngoại, má thủ vai chính công việc mần bánh lá dừa giao mối cho bạn hàng, cho Dì Tư chạy tàu bất kể ngày đêm thay phiên nhau bán bánh. Má thường nói: ”Cái nghề nầy, tuy cực thân nhưng không khổ tâm”. Thức khuya dậy sớm riết rồi cũng quen. Hôm nào, đường ray lỡ hư, tàu về trễ chuyến, ai nấy đều trông đứng trông ngồi. Hồi đó, má chỉ tỉ mỉ cách mần bánh lá dừa cho chị Hai, lúc tóc chị còn kẹp chưa búi.
– Xứ mình, không ai không biết mần bánh lá dừa, nhưng để mần cái bánh lá dừa thiệt ngon thì không phải ai cũng biết. Nghề nào cũng có cái mí mửng riêng, chẳng ai chỉ cho ai hết! 
Má thường nói với chị Hai như vậy. Rồi, má dặn:
– Bánh ngon, ngoài việc chọn cà bắp lá dừa nước tỉa vuốt thành hình ống xoắn ốc, nếp mới có vị dẻo, nước cốt dừa béo thơm, nhưn đậu xanh hay chuối, hoặc đậu đen trộn nếp…thì tùy; còn phải tính tới chuyện: bánh khô vì ém nguyên liệu chặt tay, bánh rời vì ém nguyên liệu lỏng tay. Buộc bánh nhớ không buộc chặt cứng, cũng không buộc lỏng quá…chỉ có quen tay, mới có thể buộc được vừa chặt vừa lỏng.
Thong thả, má chậm rãi nói tiếp:
– Từng chùm bánh lá dừa hấp bằng lửa củi dừa trong nồi nước hòa tan chút ít phèn chua, màu bánh chín đẹp tươi hơn và bánh mang hương vị miền Nam đậm đà thêm!
Pháp tái chiếm Mỹ Tho, má Bảy dắt chị Hai, thằng Út và  cả con Vện rời xóm chợ, bỏ lại sau lưng sân ga; hối hả theo dòng người tản cư chạy về hướng Đồng Tháp Mười qua ngả Phú Mỹ. Rồi, cũng từ đó, nghề mần bánh lá dừa của má thất lạc cùng thời cuộc.
 
Hai.
Căn chòi lá giữa rừng, không đủ sức che chắn cái lạnh của rừng đêm. Dì Tư nằm lăn qua trở lại theo tiếng lá rơi lộp độp trên mái tranh, khiến dì nhớ ôi là nhớ… những ngày cũ ở quê nhà. Đất Tân Hiệp nằm cạnh con lộ Đông Dương(2) với những chuyến tàu qua, những chuyến tàu về dừng lại ga Tân Hiệp rồi đi(3). Từng hồi tàu kéo nỗi buồn chia ly lê thê theo đường ray hun hút, thắt lòng người ở lại. 
– Khuya rồi, chưa ngủ sao, dì nó?
Nghe má Bảy hỏi lời tỉnh rụi, chớ không phải lời ngái ngủ, dì đáp lại câu gọn ơ:
– Thì chị, nào đã ngủ đâu!
Cả hai người đàn bà cùng cười, cùng ngồi bật dậy thầm trong tiếng muỗi vo ve thiếu đói. Con Vện nằm ngoài hiên, kêu tiếng kêu ư…ử…như ngầm đánh động rằng: ‘’tui’’ cũng chưa ngủ! Người và vật đang canh thức dưới bầu trời đầy sao!
– Tính ra, tui về tá túc với chị và tụi sắp nhỏ, còn nửa tuần trăng nữa là chẵn hai năm. Tự dưng, đêm nay, tui nhớ nhà quá!
Nói xong, dì thở dài, cái thở dài không hẳn vì mệt mỏi của người đi đường xa, mà vì người đi đường xa chẳng rõ tới lúc nào mình mới dừng chưn lại.
– Bộ dì tưởng tui không nhớ nhà sao?
Con Vện vung vai đứng dậy, chưn quào quào ngạch cửa, như rằng nó không quên chốn cũ; nơi đã cho nó một khung trời đông vui, tự do chạy nhong nhong ra sân ga đón người quen hoặc đứng xớ rớ đâu đó, ngó dì Tư bán từng xâu bánh lá dừa cho khách mỗi chuyến tàu về.
Đêm hồi ức buồn, nhưng là cái buồn đẹp, đầy thơ mộng, xán lạn lòng kẻ ly hương!
Má Bảy nhắc chuyện đại địa chủ họ Đoàn ở Tân Hiệp, mặc dù vợ chùm, con bầy; song đã hiến toàn bộ gia sản, đất đai (4) vì nền Độc Lập nước nhà. Nghe nhắc họ Đoàn, dì Tư nhói lòng liên tưởng tới người bạn học của cậu Năm (5) hồi nẳm: Anh Ba Sài Gòn! Ngày lễ, đôi khi vào cuối tuần hoặc kỳ nghỉ hè, anh Ba Sài Gòn thường theo cậu Năm về chơi. Anh dạo cảnh coi huê, thích ăn nem Tân Hiệp, cắn mận hồng đào Trung Lương, nhưng món khoái miệng nhứt đối với anh, vẫn là bánh lá dừa quê. Chẳng hiểu vì bánh hay vì người, anh thường lân la bắc chuyện với dì; có lắm lúc, thấy dì mồ hôi nhễ nhại, tất bật giao bánh và lu bu thối tiền cho khách; anh chẳng ngại ngần bưng thúng bánh giúp dì…báo hại đám bạn hàng ở sân ga cứ xầm xì, trêu ghẹo, khiến dì đôi lần mắc cỡ muốn chết!
– Chồng không nhớ, nhớ người dưng rồi, phải hôn?
Má Bảy điểm huyệt dì Tư.
– Chồng con gì với thứ người đó, chị ơi!
Rồi, dì kể:
– Đương lấy mối bánh lá dừa của chị bán chạy tàu ngon lành ở ga, tía cho người nhắn tin biểu tui nghỉ bán, quay về nhà sửa soạn đi lấy chồng. Trời đất, lấy chồng chi mà lấy nôn dữ vậy! Tui nấn ná nhiều lần là có ý chờ gặp mặt anh Ba Sài Gòn để giãi bày phân tỏ; bởi lần cuối gặp nhau sau kỳ anh nghỉ hè, lúc chia tay khi tàu sắp chuyển bánh rời ga, anh hò câu hò để lại trong tôi niềm thương mến:
”Đường xa ba bữa, xe lửa chạy cũng thấy gần 
Anh muốn ăn rau đắng trộn với rau cần
Anh muốn về xứ sở đặng gần với em”.
Ngày qua ngày, bao chuyến tàu qua, anh vẫn bặt vô âm  tín và như chị biết đó, tui đành về thôi!
Có tiếng thổn thức khẽ khàng lẫn trong hơi sương khuya.  
– Phải rồi, dì nói chị mới nhớ: sau mấy tháng dì đi lấy chồng, hình như cậu Ba Sài Gòn có theo cậu Năm về lại Tân Hiệp. Cậu ngong ngóng, đứng trơ trọi một mình, giữa sân ga chiều cuối năm…
Má Bảy nói, giọng buồn buồn, chia sẻ nỗi lòng cùng dì Tư.
– Chuyện vỡ lở cũng tại cô Sáu hết thảy. Tuy cô Sáu là em của tía, nhưng mọi chuyện hệ trọng trong gia đình tía đều do cô quyết định, vì xét cho cùng, cô là chỗ cậy nhờ mỗi khi nhà gặp khó khăn tiền bạc.
Dì nói phân bua với má Bảy và cũng là, tự phân bua với chính mình. Một hồi, dì nói tiếp:
– Cô Sáu thuyết phục tía: ”Dù họ Đoàn đại địa chủ vùng đất Tân Hiệp thì cũng chẳng thể bường họ Dương (6) đại địa chủ vùng đất Mỹ An Phú. Bởi, họ Dương không những đại địa chủ mà còn chiếm được long mạch vùng đất thiêng Láng Cò. Chỗ em mai mối cho con Tư là chỗ ở trên cục đất long mạch đó. Tuy khác họ Dương, nhưng họ của người ta cũng có của ăn của để, vẫn hơn họ của mình mạt cọng từ đường!”. Đoán tía đâu dễ một sớm một chiều ưng cái bụng mà giao núm ruột của mình cho người dưng, cô Sáu xoay ngang chơi cái kiểu mưa dầm thấm đất làm tía xiêu lòng. Trấn an tía vững dạ, cô Sáu chắc cứng: ”Rằng, nhà chồng con Tư họ Trịnh không là họ Dương, nhưng ở đậu trên đất họ Dương thì chẳng thể nào, không hưởng được sái phú quý của họ Dương…”. Lo tía trở quẻ vì tự ái ”dựa hơi người”, cô Sáu nói xa nói gần: ”Con Tư nó đã trổ mã mặn mòi rồi đó, anh chị không tính gấp cho nó yên bề gia thất để mai kia mốt nọ, chỗ đàng hoàng không gã lại gã chỗ điếm đàng thì đội quần cả đám, nha anh Năm!”. Sợ lỡ lời tía giận, cô Sáu nói vớt vát: ”Bến tàu là chốn giang hồ, hàng ngày con Tư bán bánh lá dừa chạy tàu, thiệt bụng em không yên dạ chút nào!”.
Chị Hai thằng Út thức giấc nằm im giả đò ngủ để hóng chuyện. 
– Năm đó, trời chớm vào đông, họ hàng đưa tui lên xe ngựa đi lấy chồng…Và rồi, tui khổ sơn trường từ đó!
Có tiếng nấc cục, chẳng biết của dì hay của má.
– Mấy đứa bạn thường nói: ”Có chồng hơn ở giá”, Nhưng, có chồng rồi thì tui mới hiểu ”thà ở giá hơn có chồng” Ngày mần quần quật như trâu, đêm nằm chèo queo ở lẫm lúa với bầy chó giữ ma giữ trộm. Năm thuở mười thì, họa hoằn thằng chồng mới lò dò mò tới chốc lát, gọi là đoái hoài thương tưởng; vì đâu phải một mình tui là vợ, thằng chồng chí những tới ba vợ…
Tiếng má Bảy cắt ngang:
– Ba vợ hay ba đời vợ?
Dì Tư trả lời nhát gừng:
– Có chết vợ nào đâu mà gọi đời!
Rồi, dì nhỏ to nói tiếp:
– Về sau, tui mới rõ: cha mẹ chồng cưới vợ cho con ngoài chuyện sanh con đẻ cái, còn cốt có thêm sức lao động để khai hoang, phục hóa mở rộng đất đai. Cũng thời may, tui chưa có con; chớ nếu có con, chắc là tui khổ tối mày tối mặt!
Lời dì nặng nề khi kể lại cái hôm chồng lặng lẽ cùng cả hai người vợ trước theo gia đình đi tản cư.
– Tui và đám chó giữ lẫm lúa, nào có hay biết trời trăng gì. Tới chừng ngó lên đường làng thấy thiên hạ xôn xao, gánh gồng bồng bế chen lấn nhau đi, chẳng khác chi chạy giặc. Hoảng quá, bầy chó sủa om sòm; tui hớt hơ hớt hải lội ruộng băng đồng về nhà thì tá hỏa…Ơn trời, tui lưu lạc cả năm sau mới gặp được chị ở đây!
Nói tới đó, dì Tư bật khóc!  
Đêm đầm đầm sương, con Vện thỉnh thoảng cất tiếng rên ư…ử…như thấm chuyện người trong cõi đời còn đen hơn mõm chó!
 
Ba.
Hồi đi tản cư, má Bảy không theo dòng người đổ xô về hướng Cai Lậy mà chọn hướng về chợ thầy Yến (7) Phú Mỹ, vì đoạn đường từ Tân Hiệp tới Phú Mỹ chỉ ngót nghét mười cây số; trong khi đó, đường từ Tân Hiệp tới Cai Lậy xa gấp năm bảy lần hơn. Vả lại, má Bảy đinh ninh đi tản cư mươi ngày, nửa tháng là cùng; nào ngờ hai mùa trăng trôi qua, má cũng chưa định được ngày trở lại nhà. Tây đóng đồn ngay tại bến đò Phú Mỹ, khiến cho tuyến đường sông duy nhứt ở phía Tây của Đồng Tháp Mười nối với xóm làng phía Đông lộ Đông Dương, coi như bị thắt gút nơi cuống họng. Việc đi lại mần ăn của dân chúng trong và quanh vùng mỗi ngày một khó khăn; có khi, vì bị Tây nó tình nghi mà chết oan mạng.
Má Bảy và dì Tư bây giờ đã là người cùng cảnh ngộ, cùng ”đỏ mờ con mắt trong lờ”(8) nên cả hai hết lòng đùm bọc nhau. Ở nơi rừng tràm bạt ngàn, đồng lầy ngập nước ”Muỗi lềnh kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tợ bánh canh” trong cảnh trời mênh mông bàng, sậy…thì má và dì chẳng còn lòng dạ nào nghĩ tới chuyện mần bánh lá dừa để sống đắp đỗi qua ngày. Bởi, một điều dễ hiểu là không có nguyên liệu và bánh bán cho ai, rồi ai dám bơi xuồng mang bánh xuống chợ thầy Yến? Một hôm, dì Tư ngồi nhổ tóc sâu cho má Bảy, nhơn dịp dì gợi chuyện:
– Hay là, chị em mình nhổ bàng đươn mê (9) bỏ mối cho ghe trà vải (10). Tui tính vậy, chị Bảy nhắm coi có được không?
Má Bảy ”ừ hén”:
– Sao lâu nay, chị em mình chẳng tính ra!
Má Bảy nhớ hồi còn ở quê, bà ngoại con Hai hay nói: ”Cùng nghề đươn thúng, túng nghề đươn mê” (Tục ngữ). 
– Phải rồi, dì Tư nó! 
Hàng ngày, dì Tư với con Hai chống xuồng vô bưng nhổ cọng bàng mang về phơi giã; rồi cả nhà xúm lại đươn mê. Cực nhưng không khổ, mà lại vui. Đâu chỉ có dì cháu nhổ bàng, nhiều người tứ xứ đi tản cư rồi mắc kẹt ở lại cũng chăm nhổ bàng mần kế sinh nhai.
”Lòng thương con gái Kiến Vàng (11)
Đầu đội neo bàng, tay xách mo cơm” (Ca dao).
Tiếng giã bàng đêm cùm cụp…cùm cụp…nghe sao mà buồn thúi ruột, nhớ nhà!
Thằng Út vô tư bên cạnh con Vện đa đoan việc: Vện giữ nhà, Vện đẩy đuổi chuột, rắn mỗi khi chúng lăm le xâm nhập nơi ăn chốn ở của chủ. Đó là, chưa kể những buổi trưa nắng nóng trên lưng, hầm dưới chưn ven rừng tràm bén mí đông bưng; Vện chạy ộp oạp trên đất sình theo cậu chủ Út hốt ổ cúm núm; lượm trứng cò, diệc, le le, vịt trời…hoặc giả, cắn tha dây dớn (12) cho cậu chủ ngậm mỗi khi khát nước. Vện không từ nan bất cứ việc gì dù nặng hay nhẹ, một khi chủ cần đến.
– Chẳng được đâu dì Tư nó!
Má Bảy gạt phắt ngang ý định của dì Tư gánh mê bàng xuống chợ Phú Mỹ bán, rồi tùng dịp về Tân Hiệp. Má Bảy nói:
– Thằng Tây Taillet có hỗn danh ”Tây Búa” là hung thần man rợ, gieo sự chết chóc kinh hoàng đối với những người dân lương thiện cả vùng Hưng Thạnh, Tân Hòa Thành,Tân Hội Đông, Mỹ An Phú…Mấy tháng trở lại đây, sau những trận mưa giông mồng năm tháng năm, thằng”Tây Búa” hồ nghi Nguyễn Văn Tốt đào đường, phá lộ Cổ Chi nên đã dùng búa chặt đầu đem treo tại cầu Đúc và nó, xẻ thịt ông rao bán ở bến đò (13). Người và ghe xuồng qua lại, nó buộc phải mua. Dân đấm ngực thình thịch , dậm chưn kêu trời như bọng; bởi, Nguyễn Văn Tốt chỉ là người làm ghe, sống đàng hoàng ở Tân Hòa Thành.
Nói xong, má Bảy thở dài ngán ngẫm.
– Mình đàn bà tay yếu chưn mềm, bất quá cũng chỉ là người gánh mê bàng đi bán dạo thì chắc, tụi Tây, tụi theo Tây mần lính kín, chẳng bắt bớ hay gây khó dễ gì đâu.
Dì Tư phân bua với má Bảy và có ý hờn mát:
– Chị khéo lo xa!
Má Bảy không những không để bụng lời nói hờn mát của dì Tư mà ngược lại, càng thấy thấy thương dì nhiều hơn. Má hiểu chữ tình của dì đối với chàng trai Ba Sài Gòn sâu đậm tới mức nào. Và, sự dở dang tình từ cổ chí kim đều đẹp tuyệt! Bán dạo mê bàng chỉ là cái cớ để dì thực hiện nỗi khao khát tìm về sân ga, với mong mỏi tìm lại được bóng người xưa.
– Dì không có cái giấy ”Lách-xê-pát-xê” tức là cái giấy thông hành tạm, thì đừng hòng lọt qua được bến đò, chưa nói tới cái đồn Phú Mỹ tinh quái. 
– Chớ người ta đi, nghe trà vải lui tới hà rầm đó, có sao đâu!
Dì Tư cãi lại má Bảy. Má Bảy nói chậm rãi:
– Người ta khác, mình khác! Thời giặc giã, không thể lấy người mà so với mình.
*
Hai ngày đêm, cả nhà má Bảy nôn nao và nóng lòng, không ai ăn ngủ được. Mọi người ngóng dài cổ trông tin tức dì Tư thông qua con Vện, nhưng rồi con Vện cũng biệt tăm. Má Bảy cằn nhằn một mình suốt ngày:
– Đã nói đừng đi, vậy mà, cứ nằng nặc đòi đi cho bằng được!
Hễ mỗi lần cằn nhằn, má Bảy lại ra sân vái bốn hướng, lạy mười phương cầu nguyện ơn trên phù hộ cho dì Tư dữ ít lành nhiều. Thằng Út tuy tánh tình không được đằm thắm như con Hai, nhưng nó lại là đứa nặng tình trượng nghĩa. Qua nay, có lúc nó khóc, có lúc nó nằm vùi trên cái chõng tre dựa mé hè; phần thương dì, lớp nhớ con Vện – một người bạn chí cốt – chưa bao giờ rời xa nó nửa bước. Vậy mà,…
– Thằng Út đâu rồi?
Phía sau bếp, má Bảy hỏi.
– Dạ! Con đây nè!
– Con rủ con Vện đi với con ra bến sông ngồi chờ ghe trà vải chèo ngang qua, ngoắc vô mua cho má cặp dừa khô.
Rồi,  má dặn:
– Nhớ nói người bán lựa dùm cặp dừa bị dày cơm, nha con!
– Dạ!
Chưa dứt tiếng ”dạ”, thằng Út co giò chạy ra bến sông. Con Vện cũng chẳng vừa gì, phóng theo cậu chủ bén gót.
Má Bảy tính mần bánh lá dừa đãi dì Tư, trước lúc sớm mai dì thử gánh mê bàng xuống chợ bán. Song, giữa Đồng Tháp Mười bốn bề rừng tràm giăng giăng, chẳng có cách nào tìm được cà bắp của cây dừa nước để lấy lá gói bánh, nên đành chuyển qua mần bánh lá nước cốt dừa.
– Út! Con nạo dừa, còn chị Hai con nhồi bột với lá thúi địt cho dì nắn bột hấp bánh.
Dì Tư phân công chị em nó rành rọt.
Má Bảy dùng lá điều thay lá dừa nước nắn bột. Mùi bánh lá có thể có khác, nhưng vị bánh lá chưa chắc đã khác, vì nhờ nước cốt lá thúi địt chận đứng mùi lá điều phá hỏng vị bánh lá.
– Không phải vô cớ mà người đời đặt cho lá cái tên thúi địt. Ăn nó là phải địt, dù người hay thú vật. Hễ địt là phải thúi và hễ thúi, thì chất dơ trong cơ thể mới được tống ra ngoài bằng cách xì hơi, giúp đường ruột khỏe khoắn. Kẻ tham vô độ thường gian manh, tráo trở thì sao biết thưởng thức mùi vị của lá thúi địt. Thiên hạ không ai chịu nín địt, chẳng qua  là chưa phải lúc địt mà thôi!
Thằng Út đang gò lưng, kềm chưn lên bàn nạo, dằn tay nạo cơm dừa…nghe má Bảy nói, nó đã cái lỗ tai.
Vậy mà, giờ đây ”đang khi vui vẻ ra buồn bã”, thử hỏi làm sao nó cầm được nước mắt mà không khóc! Chính nó vỗ về và sai biểu con Vện đưa dì Tư đi tới bến đò rồi hãy quay về, nếu hữu sự thì hết sức giúp đỡ dì Tư. Vện hiểu ý, ngúc ngoắc cái đuôi ra chiều ưng thuận.
Từng đàn cò bay về tổ cắt đứt những vệt nắng còn chần chừ, nấn ná trên cây. Rừng chiều tối sớm hơn cánh đồng bàng!
Con Hai chạy hớt hơ hớt hải từ bến sông lên nhà.
– Má! Má ơi, dì Tư…bị… 
– Dì Tư, bị…bị cái gì?
Tiếng Bảy hốt hoảng. Thằng Út ngồi vụt dậy:
– Chị Hai nói sao? Chị Hai!
– Dì Tư bị…g…i…ế…t…
Ba má con sững sờ ôm nhau ràn rụa nước mắt. Họ cắn nỗi đau nín lặng trong nỗi nhục mất nước!
Tin dì Tư bị giết, con Hai nghe được từ người đàn ông trên ghe trà vải học lại và nó còn nghe, con chó đi theo người đàn bà bị giết đã bị thằng Tây búa bắn gãy cẳng, xém chết! Lúc má Bảy hoàn hồn chạy ra bến thì chiếc ghe đã rời bến lâu rồi.
 
Bốn.
– Má ơi! Má ơi má! Vện đã về, má ơi!
Thằng Út kêu má chói lói trong nỗi mừng vui khôn tả.
Tiếng con Vện sủa gấp gáp bên kia sông.
Con Hai xô cây chống cửa, bước ra sân
– Về tới nhà, sao Vện không bơi qua sông?
– Bộ con quên rằng, Vện bị bắn gãy cẳng sao!
Má Bảy trầm tĩnh nói với con gái.
Tiếng con Vện mỗi lúc mỗi sủa gấp gáp như nhắc nhở, thúc giục chủ không còn kịp thời gian.
Má hiểu chuyện kinh thiên sắp xảy ra cho gia đình qua tiếng sủa của con Vện. Má hối chị em thằng Út quơ đại áo quần rồi nhanh chưn xuống xuồng qua sông.
Biết hai con thắc mắc, má nói:
– Nội trong sáng mai, tụi Tây và tụi theo Tây sẽ tới đây!
Lúc xuồng ra gần giữa sông, má Bảy ngửa mặt lên trời than:
– Xưa, ”Làm người thì khó, làm chó thì dễ”. Nay, ngược lại, thời thế chẳng biết đâu mà lần!./
TBĐ.
……………………………………………………
 (1) Có nơi gọi lá mơ.
(2) Quốc lộ 1A bây giờ. 
(3) Đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho hoạt động từ 1885 đến 1958.
(4) Ông Đoàn Giang (thân phụ nhà văn Đoàn Giỏi) có 3 người vợ, 18 người con. Nhà văn Đoàn Giỏi (Đoàn Văn Hòa) con thứ năm của người vợ cả ông Đoàn Giang, trước Đoàn Giỏi là anh trai và 2 chị gái. (theo lời bà Đoàn Thị Tuyết, em gái nhà văn Đoàn Giỏi).
(5) Nhà văn Đoàn Giỏi (1925-1989) học Trường Collège Mỹ Tho (Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho), đậu bằng thành chung, theo học hội họa Trường Mỹ thuật Gia Định. Trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (hiện nay) là nhà của gia đình ông Đoàn Giang đã hiến khi xưa. (Tài liệu lịch sử Đảng bộ thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
(6) Họ Dương trải qua bốn đời: Dương Văn Bảo, Dương Văn Long, Dương Văn Lâm, Dương Văn Cường…khai phá vùng đất nay gọi là xã An Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Thời nhà Nguyễn, Láng Cò là Tân Hòa Tây thuộc tổng Hưng Long). Gần mộ tổ họ Dương, có hai ngôi mộ Dương Văn Huề tự Mau (1891-1944), Nguyễn Thị Kỷ (1895-1992)là thân phụ và thân mẫu của cựu Tổng thống VNCH, Đại tướng Dương Văn Minh.
(7) Thầy Yến thuộc tầng lớp nho sĩ theo lưu dân tới khai phá và định cư Phú Mỹ (làng Phú Mỹ thành lập năm 1808). Thầy Yến mở trường dạy học và bốc thuốc. Về sau, dân tụ về đông đúc, thầy Yến lập chợ và từ đó, dân gọi chợ thầy Yến. Đến năm 1896, chính quyền thời bấy giờ xây lại chợ mới và cho đặt tên chợ Phú Mỹ, nhưng dân trong vùng vẫn quen gọi chợ thầy Yến. (theo ”Di tích lịch sử tỉnh Tiền Giang).
(8) Lờ là dụng cụ dùng để bắt cá.
(9) Đươn mê là đươn manh đệm.
(10) Ghe trà vải là ghe bán tạp hóa lưu động trên sông.
(11) Tên gọi cũ của xã Hưng Thạnh (nay thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang).

(more…)

Read Full Post »

Older Posts »