Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trần Bảo Định’

Trần Bảo Định
 
1.
Hai Lượng tỉ mỉ chỉ cho Bảy Đặng cách bầu đất trộn tro trấu, bột xơ dừa để ươm hột măng cụt. 
Trước khi xuống ghe về Tân Thiềng, Hai Lượng căn dặn: 
“Bảy! Em nhớ tưới nước thường xuyên, nếu không, hột nẩy mầm chậm hoặc sẽ không nẩy mầm”. 
“Phải đợi tới bao lâu thì hột măng cụt mới nẩy mầm vậy, anh Hai?”, 
Bảy Đặng thiệt thà hỏi. 
“Độ mươi ngày, có khi tròn một con trăng!”, 
Hai Lượng vuốt mồ hôi lấm tấm mặt, rồi vừa nói vừa đi ra bến nước mở dây cột ghe. 
Từ lâu, Bảy Đặng để ý và hiểu rõ Hai Lượng thầm thương trộm nhớ mình; nhưng nghiệt nỗi, trong con mắt họ hàng và gia đình ba má Bảy Đặng thì Hai Lượng không thuộc hạng “môn đăng hộ đối”. Sự trắc trở đó khó có thể vượt qua, dù rằng đã nhiều lần Bảy Đặng thố lộ tâm tư với má. 
“Con đừng quên, gia đình mình vốn mấy đời thuộc gia đình “môn đăng hộ đối” ở cái làng Vĩnh Thành nầy!!”, bao giờ bà Tư cũng nhắc chừng con gái như vậy! 
Mùa trăng, rồi những mùa trăng nối tiếp… Cây măng cụt lớn được chuyển cây sang bầu lớn, Bảy Đặng nhẹ tay tránh không để tổn thương rễ, vì lẽ rễ măng cụt rất yếu và không có lông hút; nào khác chi mối tình của mình đang trong thời kỳ phôi thai, mong manh.
Bảy Đặng không quên lời Hai Lượng: “Cây măng cụt lớn chậm, rất chậm. Phải đợi hai con nước mùng mười nó mới đâm ra một cặp lá, và buổi đầu đời chỉ một tàng lá chịu gió sương”. Bảy Đặng nhớ đã nói ẩn ý một cách bâng quơ: “Chậm thì đợi, chớ người ta đây nào có thúc bách gì cho cam!”. Thâm tâm Bảy Đặng muốn nói thêm: “Chậm mà chắc vẫn hơn”, nhưng nghĩ sao đó, Bảy Đặng mần thinh. 
Vườn măng cụt ngày một xanh, xanh màu hy vọng; bông măng cụt phảng phất mùi đặc trưng các loài bông trái và cỏ dại ruộng vườn đất cù lao; hương thoang thoảng bông lài lẫn bông huệ, một chút lâng lâng mùi xoài trộn hương bưởi, và ngây ngây mùi lá ướt, cỏ úa… Những ai đã từng hít thở hương quê nơi nầy, sẽ khôn nguôi mùi nhớ! 
Bánh tráng Mỹ Lồng 
Bánh phồng Sơn Đốc 
Măng cụt Hàm Luông
Vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn 
Anh đây nói thiệt, sao em còn so đo… 
Mỗi lần nghe ai đó hò câu hò như xác tín món ngon, trái ngọt quê nhà, Bảy Đặng vừa vui vừa hãnh diện mình là đứa con được sinh ra và lớn lên từ một trong ba cù lao (1) đó, vốn do phù sa sông Cửu Long tạo thành. Tuy vậy, có đôi lúc, Bảy Đặng hờn dỗi, giận lẫy người thương sao trách oan mình. Bởi bụng dạ Bảy Đặng nào có “so đo” hơn thiệt, dù đang phải chịu nghịch cảnh với mối tình không câm nhưng chẳng nói thành tiếng trước đấng sinh thành.
Đêm tình yêu! 
Sau cái đêm tình yêu nơi vườn măng cụt tràn ngập ánh trăng, Bảy Đặng chịu trận đòn nên thân. Ông Tư, ba của Bảy Đặng, vừa đánh con vừa chảy nước mắt. 
Bà Tư tuy không đồng tình việc hư thân của con gái, nhưng bà cũng không nỡ đứng nhìn con gái bị đòn roi. Bà năn nỉ xin ông tha cho con vì trót lỡ dại. 
Rồi bà ôm con vào lòng, cả hai mẹ con cùng khóc! 
Trời trở trăng lưỡi liềm cuối tháng lúc gần sáng. Bà Tư buồn, cái buồn lo ngày mai Bảy Đặng sẽ ra sao? Bà gối tay cho con kê đầu ngủ, hệt thời con còn là con gái. Bà liên tưởng đời người với đời cây, đời con Bảy với đời măng cụt. Từ cây măng cụt té ra tình yêu, một thứ tình yêu mà đời bà không có. Bà lấy chồng theo “môn đăng hộ đối”, con gái bà thì không. Nó có mảnh đời riêng của nó, và nó tự quyết định lấy. 
Biết tánh chồng cứng và chắc ruột, nhứt quyết không là không thừa nhận chuyện “trăng hoa” của con. Thỉnh thoảng, bà cố nài, và cố nói hết tình lý với ông: “Cây măng cụt phải mất gần mười năm hoặc hơn mười năm mới trổ bông ra trái, rồi sau đó có thể sống hằng hà sa số năm với một chiều cao trên hai mươi mét, vậy mà người ta vẫn gọi nó là cây tiểu mộc chớ chẳng ai gọi nó là cây trung mộc hay đại mộc bao giờ. Con Bảy dù đã bằng đó tuổi, lớn tồng ngồng, nhưng nó vẫn còn là đứa “non người non dạ”… Vả dẫu sao thì nó vẫn là con của mình. Mình bao nỡ…”. 
Ông Tư ngồi thừ người ra, mặt buồn xo, tay vấn thuốc, miệng hút liên tục. Thấy vậy, bà lựa lời “rào trước đón sau”: “Lá măng cụt còn có hai mặt: dưới xám xịt, trên lục vàng hơi bóng. Người thì chắc cũng vậy thôi!”. 
Thấy chồng im lặng, bà mừng húm trong bụng vì ngỡ “cá đã cắn câu”, bà giả lả mượn bông măng cụt nói tếu táo: “Những bông đầu tiên mọc thành chùm trên đỉnh nhánh. Bông rộng, dày, và có thể bông đực hay bông lưỡng phái cùng một cây, cuống bông có đốt, lá bắc. Bông lưỡng tính thường mọc đơn lẻ, đôi khi thành cặp trên ngọn nhánh cành non. Cánh bông màu xanh, bên ngoài đốm đỏ, vàng đỏ bên trong… Không cần ai thương, nó vẫn ra trái cho đời… Nhưng, con Bảy nhà mình thì khác, nó trổ mã con gái, thì phải có người thương mới nên vợ nên chồng chớ”
Bà đương nói thao thao, ông đột ngột đứng dậy: 
“Tui không muốn ngó thấy mặt nó!”.
2.
Bà Tư chịu điều tiếng chì chiết, mắng mỏ của chồng, bởi “con hư tại mẹ”. Người dưng, yêu nhau không lấy được nhau, bà còn thương xót huống chi đó lại là con gái của bà. Đêm đêm bà thao thức nghĩ chuyện người, chuyện cây cỏ đất quê. Bà không hiểu vì sao lá măng cụt không rụng dù gặp bão tố, và trái được bao bọc do những đài hoa cánh hình tam giác, màu tím sậm tới tím đỏ, phẳng và láng; thoạt nhìn, chẳng khác bông hồng ngày cô dâu bước xuống thuyền hoa. Có điều bà hiểu rằng, người tự ràng buộc nhau có khi làm khổ cho nhau cả đời, tỉ như việc “môn đăng hộ đối”. Nhưng đối với thiên nhiên thì không, bởi thiên nhiên tự nó đã là sự tự do vượt lên trên cái “tôi tầm thường”, gìn giữ quyền sống hài hòa môi trường, cân bằng sinh thái mà trời đất đặt để. 
Lá măng cụt không bỏ cành, thì sao bà phải bỏ con!? Đời bà trải qua và đau khổ vì “môn đăng hộ đối”, bây giờ bà không muốn con gái của bà đi lại con đường bà đã đi và mang những gì bà đã mang. Rồi bà nghĩ chắc cứng điều thực tế, ruột măng cụt được bảo vệ bằng lớp vỏ dày, mà nếu cắt mặt ngang ai cũng nhận ra màu đỏ, màu tím trắng cùng vị đắng với nhiều mủ vàng ngà, kèm theo dung dịch nước. Chẳng lẽ bà không bì kịp vỏ măng cụt, không bảo vệ được con? 
Nghĩ sao làm vậy! Bà lén chồng nhận Hai Lượng làm con rể. Bà giấu đút đưa con rể đôi bông tai để tặng vợ, như là quà cưới và như là một lời thề của hai đứa nguyện “ăn đời ở kiếp” với nhau. 
Thực ra mọi việc làm của bà, ông Tư đều biết rất rõ. Nhưng ông nín khe, im lặng! Vợ chồng Hai Lượng ở đậu xẻo đất cặp rạch Cái Mơn. 
“Mình ở nhà, nếu chị Chín tới hỏi mua cây giống măng cụt thì mình hẹn chị chờ mươi bữa, nửa tháng”. 
“Sao anh không giao cho chị mớ cây giống ghép còn để ở bên liếp chòi?”, 
Bảy Đặng thắc mắc hỏi chồng. 
Hai Được cắt nghĩa: 
“Cây giống ươm bằng hột măng cụt phát triển từ phôi cái nó sống mạnh, trái to và đặc tính hệt như cây mẹ. Cây giống ghép sống yếu dễ chết, ít trái và trái nhỏ. Mình không nên giao cây giống măng cụt ghép cho chị Chín và cả khách hàng”. 
Hai Lượng bước nhẹ qua lối mòn, sương mai chấp chới trên đầu cỏ. Bảy Đặng xách mo cơm (2) lẽo đẽo đi sau chồng xuống bến ghe. Hai Lượng ngoái cổ, nói với vợ: 
“Mùa sau, vợ chồng mình thôi ghép giống cây măng cụt”. 
Trải qua sóng gió thị phi, hai người thành chồng vợ sau cái đêm thành thân vượt “môn đăng hộ đối”. Vợ chồng sống cảnh nghèo, nhưng thừa tiếng cười hạnh phúc. Vợ ở nhà ươm cây con, chồng chèo ghe bán cây giống khắp sông rạch đồng bằng hạ lưu sông Cửu Long. Ghe chồng theo con nước, không theo thời gian vợ chờ. Thương vợ sáng tối thui thủi một mình nơi vườn ươm măng cụt hiu quạnh, Hai Lượng buông lời: 
Sông Cửu Long chín cửa hai dòng 
Người thương anh vô số 
Nhưng anh chỉ một lòng với em. (Câu hò Cái Mơn).
Những lúc như vậy, Bảy Đặng chỉ biết âu yếm nhìn chồng, rồi bẽn lẽn cười, nụ cười chơn chất đặc sệt phù sa. 
“Trăm tay không bằng tay quen”, việc ươm cây con măng cụt bây giớ Bảy Đặng thành thạo; thành thạo đến cỡ Hai Lượng cũng chẳng thể chê trách chỗ nào. Mỗi lần rảnh tay, nằm nghỉ, Bảy Đặng thường ngó ra bến rạch ngóng mũi ghe của chồng ló dạng rồi nghĩ đâu đâu: “Nếu rạch là con sông nhỏ chảy ra con sông lớn, thì mình tự nguyện làm con rạch chảy ra con sông lớn của chồng”. 
Sau lần bị sẩy thai, Bảy Đặng lo sốt vó vì sợ mình trở thành “đàn bà bị nâng” chẳng còn khả năng “sanh con đẻ cái”. Vợ chồng ước mong sau mùa bán cây giống sẽ có được một mớ tiền kha khá, đủ đi đường lên chùa cầu tự. Mấy lần, Hai Lượng tới đình cầu thần giúp “mua may bán đắt”, khổ nỗi chẳng đâu vào đâu, ế vẫn hoàn ế. Thấy vợ buồn dàu dàu, Hai Lượng vỗ về an ủi: “Mình có con chậm chút thì có sao đâu?”. 
Thương là thương ông ngoại, tuy trước kia lạnh lùng: “Tui không muốn ngó thấy mặt nó!”; nhưng nay ông buồn rầu khi hay tin con gái hư thai. Rõ ràng, với ông: “Giận thì giận, mà thương thì thương”, và giận con thời “nói vậy mà không phải vậy!”. 
Tám năm sau, dù chưa phải đi chùa cầu tự, vợ chồng mừng rỡ vì sau chín tháng mang thai, Bảy Đặng sinh được một thằng bé kháu khỉnh. Có con muộn, muộn như cây măng cụt sinh trái vậy. 
Làm nghề ươm cây, trồng cây, nhứt là cây măng cụt cho ra trái. Hai Lượng bắt đúng mạch trái măng cụt: “Vậy là vậy, ít khi vậy không phải vậy!”. Hễ đầu nhụy trái măng cụt có bao nhiêu cánh, thì ruột trái có bấy nhiêu múi; hiếm khi sai lệch giữa cánh và múi. Măng cụt bên ngoài vỏ dày cứng, bên trong dày xốp; hột trái được bao lớp thịt trắng phau ngọt thơm đến lạ kỳ! Măng cụt thuộc loại trái “nắng ưa, mưa ghét”, thu hoạch măng cụt giữa tháng tư tới cuối tháng sáu, hoặc sang tháng bảy; nghĩa là trước mùa mưa dội trắng vườn. 
Bảy Đặng nhớ hoài câu nói của chồng:
“Trái ngon, nết khó!”.
3.
Mua cây măng cụt giống, khách mua hay hỏi Hai Lượng: 
“Măng cụt từ đâu tới, và vì sao gọi là măng cụt?”. 
Mỗi khi như vậy, Hai Lượng thường trả lời với khách mua bằng bài thuộc lòng học lóm xứ vợ, rằng: 
“Người Hoa, người Thái Lan gọi măng cụt bằng cái tên ‘mạng khud’, Huình Tịnh Của gọi ‘Bứa Xiêm’, và vua chúa ban tặng tên mĩ miều ‘Giáng Châu’. Từ lâu, người ta đinh ninh măng cụt do các nhà truyền giáo đạo Gia-tô di thực vào miền Nam Việt Nam với tên gọi ‘mangouste’!”. 
Rồi Hai Lượng tiếp: 
Nhưng, lời truyền trong dân gian thì lại khác: ‘’Măng cụt và lúa ma (lúa trời) là những cây còn sót lại sau khi Vương quốc Phù Nam bị xâm lược và bị sáp nhập vào Chân Lạp(?!)”. 
Khách hàng tin hay không thì còn tùy! Chuyện biển dâu biết đâu mà mà lần, và nếu có lần thì biết lần đâu cho đúng? Ngay tên Cái Mơn, vùng đất cưu mang măng cụt còn lắm điều tranh cãi về xuất xứ cái tên: “Kha Mân (nghĩa là tổ ong) đọc trại Cái Mơng, hay Cả Mân đọc trại Cái Mơn, hoặc Caiman (Sấu mõm dài) đọc trại thành Cái Mơn…”(?). Đố ai biết? Chỉ biết chắc là ở Cái Mơn tên rạch, tên kinh, tên cầu… tất thảy, đều mang tên người và đối xứng giữa đàn ông, đàn bà: “Kinh Ông Kèo – rạch Bà Bốn, rạch Ông Bái – cầu Bà Ươm, cầu Bà Trùm – kinh Cả Chánh”. Và có lẽ, họ Nguyễn ở rạch Giàn Sấy (sấy cá), họ Lê ở rạch Bà Dung, họ Phan ở rạch Ông Mầu là ba tổ họ tới vùng đất Cái Mơn sớm nhứt (3).
Hai Lượng ngẫm suy, những việc làm lương thiện, hữu ích cho tha nhân; đất và người không quên, lưu lại đời sau tỏ tường. 
Rạch Cái Mơn, thủy trình độc nhứt cho tàu ghe từ sông Hàm Luông sang sông Cổ Chiên hay ngược lại. Dòng nước rạch Cái Mơn không chảy một hướng như bao sông rạch khác, mà trái lại, nó chảy ngược, đối xứng nhau. Khi đôi dòng nước chạm nhau, nó liền chảy trở lại nơi xuất phát. Chỗ gặp nhau, người Cái Mơn gọi đó là “giáp nước”, hoặc “rún Rồng”. 
“Rún Rồng” xoáy nước khiến lòng rạch nới phình ra và rộng phía hai bờ rạch, dân bốn phương tụ về sống quần cư trên bến dưới thuyền; hợp thành chợ mặt đất, chợ nổi mặt nước. 
Sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên đi vào Cái Mơn bằng hai ngõ gọi là Vàm Mơn, Vàm Sả. Ghe Hai Lượng neo đậu Vàm Sả chờ con nước trở về nhà. Chuyến đi nầy dài ngày, ghe qua tới tận miệt Trà Ôn; bù lại, Hai Lượng bán sạch ráo cây con măng cụt, chưa kể nhà vườn họ còn đặt thêm hàng cho chuyến đi sau. 
Ngồi hút thuốc ở mui ghe, Hai Lượng bồi hồi nhớ hôm chống sào lui ghe rời bến, Bảy Đặng đứng chấp chới trên bến cố nói vói theo: “Măng cụt sắp chín rồi. Chuyến nầy, về sớm nha mình!”. 
Anh định nói: 
Bước xuống ghe lòng buồn khắc khoải 
Thương em ở nhà dầu dãi nắng mưa. (Ca dao). 
Chưa kịp nói, gió đã thốc mui chao mũi, ghe dạt ra giữa rạch đương lúc nước ròng, nước chảy xiết. 
Mười năm chồng vợ bên nhau, mười năm vườn măng cụt của vợ chồng mới có trái chiếng đầu mùa. Tình yêu đất cho cây đâm chồi nẩy lộc, trổ bông kết trái. Nếu không có tình yêu đất thì cây lấy gì mọc và sống? Ngược lại, nếu không có tình yêu cây thì đất sẽ khô cằn và đất chết! Ngày nào đó, nếu trần gian không có tình yêu, thì… Bất giác, Hai Được rùng mình… Hai Được không rõ cái rùng mình vì cơn gió lạnh, hay vì nghĩ tới điều chẳng dám nghĩ!? 
Cây măng cụt chịu đèn đất Cái Mơn, và đất Cái Mơn nức tiếng từ cây măng cụt. Việc đó chẳng tự nhiên, mà có lẽ giữa đất và cây đã trao cho nhau một thứ tình yêu thiêng liêng của Thượng đế. Người Cái Mơn dễ gì quên những cái tên như: Vườn Mồ Côi, cồn Cát Tiên (Vũng Tàu 2), xóm Chùa Đốt, xóm 16 mẫu, giồng Nứa, gò Mua, … Và, tên người, như: Đục Bà Hem, giồng Thầy Tám, giồng Ông Kế… Đôi khi mang tên nghề: Cầu Giàn Sấy… Những cái tên thiệt ngộ ngộ, nghe qua tuy lạ tai nhưng chứa chan tình người, hồn đất! Hai Lượng rờ rờ mớ tiền bán cây giống khá bộn đang đựng trong ruột tượng quấn quanh lưng quần. Anh cười hồn nhiên, cái hồn nhiên của người sắp đạt điều ước mong. Anh tin vợ anh sẽ mừng húm khi nghĩ rằng có thêm tiền để nuôi thằng Cu. 
Mỗi lúc trời một tối, và tối đen… Giơ bàn tay chẳng thấy! 
Hai Lượng mồi thêm điếu thuốc, đốm lửa lóe đêm! Tự dưng, Hai Lượng nghe lòng nôn nao, thương vợ khôn cùng. Anh đếm lóng tay tính thời gian xa nhà, và ngày măng cụt chín. 
‘’Bớ người ta! Bơớ…ớ… ng… ư…ơờ…i… cưư…ú… v… ợ… co…on… tu…ii… vơ…ới…’’! 
Tiếng kêu xé lòng. Hai Lượng định thần, tức tốc quay mũi ghe, và chèo cật lực về hướng có tiếng đang la chói lói…
Bình minh! 
Mặt nước bình yên như chưa xảy ra điều gì đêm mù tăm, chết chóc. 
Cứu sống vợ chồng, con cái người bán hàng xén trên sông. Hai Lượng đuối sức, vĩnh viễn nằm lại đáy Vàm Sả. 
Cảm kích tấm lòng thương người, và hành động trượng nghĩa của Hai Lượng, dân thương hồ qua lại Vàm Sả đã cùng dân sở tại lập miễu thờ Hai Lượng như vị thần cứu nạn!
4.
Hàng cây măng cụt say nắng, rũ lá, và hình như đang thiêm thiếp đợi gió. 
Không gian im lìm, im lìm đến đỗi tiếng lá rơi ngoài vườn vẫn nghe rõ nồm nộp. Tám Mọn tỉ mẩn vạch từng chưn sợi tóc dì Bảy Đặng để tìm bắt bọn chí mén đang bám da đầu hút máu. Dì Bảy lim dim đôi mắt, thỉnh thoảng dì hít hà, chẳng hiểu vì đau, hay vì quá đã… ngứa! 
“Tám! Bóng nắng tới đâu rồi, con?”. 
“Dạ! Có lẽ nắng xỏ lỗ tai rồi đó, dì!”.
“Í chết! Chiều muộn…”. 
Bảy Đặng lật đật đứng dậy, quên cả búi lại tóc.
Mỗi ngày, Bảy Đặng canh con nước ra vô, để dì theo con nước đi gặp linh hồn chồng tại nơi chồng đã lâm nạn và chết. Trễ con nước, cũng đồng nghĩa là dì trễ hẹn với người từng”ba sinh hương lửa”! 
Nắng ngả vàng lưng sóng. 
Xuồng xuôi dòng. Bảy Đặng hối hả chèo ra Vàm Sả để còn kịp con nước quay về. 
Nắng hoàng hôn rán vàng mặt nước. 
Nhang khói chờn vờn bay, và những cánh chim trời hối hả qua sông chiều. 
Bảy Đặng ngồi trên thềm miễu, cắt măng cụt mời chồng với tâm thức: Trái Tình Yêu, vĩnh cửu! 
TBĐ.
………………………………………….. 
Chú thích: 
1. Cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. 
2. Mo cau đựng cơm. 


(more…)

Advertisements

Read Full Post »

Bông cà na quê nhà

Trần Bảo Định
 
Một.
Quê tôi bây giờ không còn mùa nước nổi đúng nghĩa nổi như từng nổi nước Đồng Tháp Mười. Và, có lẽ, câu hò ngày cũ:
”Tháp Mười sinh nghiệp phèn chua
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng”
đã lặng lẽ đi vào kho tàng chuyện cổ tích dân gian. Song, người xứ sở ”Mộc Hóa là xứ quê mùa/Bà thăm cháu ngoại cho vùa cà na”, luôn nhớ thuộc lòng đoạn thơ trong bài thơ ”Đồng Tháp Mười” của nhà thơ Nguyễn Bính:
”…Bảy trăm ngàn mẫu đất
Sớt chia bốn tỉnh miền Nam
Khắng khít biên thùy Chùa Tháp
Nằm trong tay trái Cửu Long Giang
Đồng Tháp Mười!
Đồng Tháp Mười!
Bao la bát ngát
Bưng sậy lên hoang
Mùa nắng đất khô cỏ cháy
Mùa mưa nước ngập tràn lan
Cò trắng ngàn năm bay chẳng dứt
Chân trời bốn phía rộng thênh thang! (1949).
Rồi, cái rộng thênh thang đó, người Pháp thời bấy giờ gọi ”Đầm cỏ lác” (Plaine des joncs). Lưu dân tụ về, dân tứ xứ dừng bước giang hồ khai cơ dựng nghiệp. Và, làng xóm lần lượt mọc lên trên ”Đầm cỏ lác” đó!

(more…)

Read Full Post »

Trần Bảo Định
 
 Một.
Nắng trưa hầm hập nóng, chị Hai ngồi đươn rế dưới bóng hàng cây trâm già. Những sợi tre thanh mảnh, qua bàn tay mềm mại của chị, chốc lát biến thành vật dùng làm bếp gia đình. Thằng Út chẻ và vuốt xong bó tre, dợm đứng dậy đi bắt cá rô ngộp nắng ở ngoài lung. Chị Hai ngăn lại:
– Tháng năm đồng khô hạn, cá rô không có thức ăn nên thiếu thịt thừa xương; bắt chi, cậu Út nó!
Trong nhà, má đương tỉ mẫn sửa lại cái sàng gạo để ngày mốt má sàng gạo sạch trấu, tấm…chuẩn bị giỗ tía. Má nói vọng ra:
– Chị Hai của con nói phải đó! Ông bà xưa thường dặn: ”Măng tháng chín thì nhịn cho chồng/ Cá rô tháng năm thì bằm cho chó”.
Vậy là, dự tính của thằng Út bị má và chị cản trở; mặt mày nó buồn xo, xụi lơ cán cuốc.
Chị Hai bèn bỏ ngang việc đươn rế, rủ cậu em đi róc lá dừa nước mần bánh lá ăn trưa cho đỡ buồn miệng.
Nghe nói tới mần bánh lá, thằng Út nhảy cửng lên mừng rơn hơn mừng húm!
Má nhắc chừng, chẳng khác gì phân công:
– Con Hai lo đi róc lá dừa, còn thằng Út chạy ra gò quơ mớ lá thúi địt (1) mang về cho má giã lấy nước cốt nhồi bột.
Nhà nghèo, thường thì buổi ban mai, không có gì ăn dằn bụng; ai nấy đều lo làm lụng công việc, mãi tới lưng chừng trưa, khoảng chín, mười giờ thì má mới dọn cơm cho cả nhà cùng ăn bữa cơm chính trong ngày. Thành thử, đến trưa hoặc xế trưa, bụng dạ thằng Út hay bị kiến bò. Má biết ý nên thường bày mần bánh, khi bánh chuối, lúc bánh lá…Cứ vậy, ngày nầy qua tháng nọ, thằng Út chẳng ngán ăn vì đối với nó, có cái ăn đã là đã lắm rồi!
Bột gạo nặn mỏng dính trên thân lá dừa nước cắt khúc được chị Bảy gắp ra từ nồi hấp cách thủy. Mùi thơm đặc trưng của bánh lá bay lãng đãng theo hơi nước sôi xông thẳng vô mũi thằng Út, khiến nó thèm ăn… muốn chết! Má lật đật cắt bánh cho vào dĩa, chưa kịp chan nước cốt dừa, chan nước mắm thắm, độn thêm dưa leo băm nhuyễn, thì nó đã hấp tấp bóc tay, ăn bánh ngon lành. Má rầy:
– Bây, ăn cái giống gì hồ đồ vậy! Bụng dạ nào chịu xiết!
Miệng thằng Út vừa nhai bánh, vừa hỏi:
– Bụng là sao, dạ là sao, hả má?
– Dạ trên rún, bụng dưới rún. Nhưng rồi, bụng làm thì dạ phải chịu thôi!
Má nói cầu kỳ quá, nó chẳng hiểu; trong lòng nó vẫn thắc mắc, là tại sao phải dùng nước lá thúi địt nhồi bột thì bánh lá mới ngon? Và, bộ hết tên đặt rồi hay sao mà lại đặt cái tên thúi địt, nghe thiệt kỳ cục!
Con Vện sủa trước ngõ cắt gãy dòng suy nghĩ vẩn vơ của thằng Út. Tiếng má nói vội:
– Nhà có khách, nha bây!
Chị Hai chộp úp cái lồng bàn đậy bánh, thằng Út bưng dĩa bánh vừa ăn vừa vọt lẹ ra sau hè cạnh bến nước.
Ngoài sân, con Vện sủa nà, càng lúc càng gắt củ kiệu…
– Vện! V…ệ…n…!
Con Vện nghe tiếng kêu của má liền cụp đuôi ngưng ngang sủa, nhảy phóc về nằm cạnh chưn má như thể  sẵn sàng bảo vệ chủ.
– Xin lỗi, bà kiếm ai?
Má hỏi, khi người đàn bà dợm bước qua ngạch cửa.
– Chị Bảy! Tư Sen nè! Bộ chị quên em rồi sao?
Tư Sen giở nón lá, lột cái khăn rằn bịt tóc, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt hốc hác dọc ngang lằn xếp.
– Mèn đéc ơi! Dì Tư Sen!
Má thảng thốt và mừng rỡ kêu lên! Con Vện mõm giảu, ngoắc ngoắc đuôi như muốn chia sẻ với chủ niềm vui bất ngờ chợt đến.
Dì Tư với má thân quen từ thời còn thiếu nữ, từ cái thời cả xóm nghèo sau chợ bám ga Tân Hiệp, chuyên sống cái nghề bán bưng các loại đồ ăn thức uống – trong đó, có bánh lá dừa ngon nhứt hạng – cho khách lữ hành. Nhà ngoại, má thủ vai chính công việc mần bánh lá dừa giao mối cho bạn hàng, cho Dì Tư chạy tàu bất kể ngày đêm thay phiên nhau bán bánh. Má thường nói: ”Cái nghề nầy, tuy cực thân nhưng không khổ tâm”. Thức khuya dậy sớm riết rồi cũng quen. Hôm nào, đường ray lỡ hư, tàu về trễ chuyến, ai nấy đều trông đứng trông ngồi. Hồi đó, má chỉ tỉ mỉ cách mần bánh lá dừa cho chị Hai, lúc tóc chị còn kẹp chưa búi.
– Xứ mình, không ai không biết mần bánh lá dừa, nhưng để mần cái bánh lá dừa thiệt ngon thì không phải ai cũng biết. Nghề nào cũng có cái mí mửng riêng, chẳng ai chỉ cho ai hết! 
Má thường nói với chị Hai như vậy. Rồi, má dặn:
– Bánh ngon, ngoài việc chọn cà bắp lá dừa nước tỉa vuốt thành hình ống xoắn ốc, nếp mới có vị dẻo, nước cốt dừa béo thơm, nhưn đậu xanh hay chuối, hoặc đậu đen trộn nếp…thì tùy; còn phải tính tới chuyện: bánh khô vì ém nguyên liệu chặt tay, bánh rời vì ém nguyên liệu lỏng tay. Buộc bánh nhớ không buộc chặt cứng, cũng không buộc lỏng quá…chỉ có quen tay, mới có thể buộc được vừa chặt vừa lỏng.
Thong thả, má chậm rãi nói tiếp:
– Từng chùm bánh lá dừa hấp bằng lửa củi dừa trong nồi nước hòa tan chút ít phèn chua, màu bánh chín đẹp tươi hơn và bánh mang hương vị miền Nam đậm đà thêm!
Pháp tái chiếm Mỹ Tho, má Bảy dắt chị Hai, thằng Út và  cả con Vện rời xóm chợ, bỏ lại sau lưng sân ga; hối hả theo dòng người tản cư chạy về hướng Đồng Tháp Mười qua ngả Phú Mỹ. Rồi, cũng từ đó, nghề mần bánh lá dừa của má thất lạc cùng thời cuộc.
 
Hai.
Căn chòi lá giữa rừng, không đủ sức che chắn cái lạnh của rừng đêm. Dì Tư nằm lăn qua trở lại theo tiếng lá rơi lộp độp trên mái tranh, khiến dì nhớ ôi là nhớ… những ngày cũ ở quê nhà. Đất Tân Hiệp nằm cạnh con lộ Đông Dương(2) với những chuyến tàu qua, những chuyến tàu về dừng lại ga Tân Hiệp rồi đi(3). Từng hồi tàu kéo nỗi buồn chia ly lê thê theo đường ray hun hút, thắt lòng người ở lại. 
– Khuya rồi, chưa ngủ sao, dì nó?
Nghe má Bảy hỏi lời tỉnh rụi, chớ không phải lời ngái ngủ, dì đáp lại câu gọn ơ:
– Thì chị, nào đã ngủ đâu!
Cả hai người đàn bà cùng cười, cùng ngồi bật dậy thầm trong tiếng muỗi vo ve thiếu đói. Con Vện nằm ngoài hiên, kêu tiếng kêu ư…ử…như ngầm đánh động rằng: ‘’tui’’ cũng chưa ngủ! Người và vật đang canh thức dưới bầu trời đầy sao!
– Tính ra, tui về tá túc với chị và tụi sắp nhỏ, còn nửa tuần trăng nữa là chẵn hai năm. Tự dưng, đêm nay, tui nhớ nhà quá!
Nói xong, dì thở dài, cái thở dài không hẳn vì mệt mỏi của người đi đường xa, mà vì người đi đường xa chẳng rõ tới lúc nào mình mới dừng chưn lại.
– Bộ dì tưởng tui không nhớ nhà sao?
Con Vện vung vai đứng dậy, chưn quào quào ngạch cửa, như rằng nó không quên chốn cũ; nơi đã cho nó một khung trời đông vui, tự do chạy nhong nhong ra sân ga đón người quen hoặc đứng xớ rớ đâu đó, ngó dì Tư bán từng xâu bánh lá dừa cho khách mỗi chuyến tàu về.
Đêm hồi ức buồn, nhưng là cái buồn đẹp, đầy thơ mộng, xán lạn lòng kẻ ly hương!
Má Bảy nhắc chuyện đại địa chủ họ Đoàn ở Tân Hiệp, mặc dù vợ chùm, con bầy; song đã hiến toàn bộ gia sản, đất đai (4) vì nền Độc Lập nước nhà. Nghe nhắc họ Đoàn, dì Tư nhói lòng liên tưởng tới người bạn học của cậu Năm (5) hồi nẳm: Anh Ba Sài Gòn! Ngày lễ, đôi khi vào cuối tuần hoặc kỳ nghỉ hè, anh Ba Sài Gòn thường theo cậu Năm về chơi. Anh dạo cảnh coi huê, thích ăn nem Tân Hiệp, cắn mận hồng đào Trung Lương, nhưng món khoái miệng nhứt đối với anh, vẫn là bánh lá dừa quê. Chẳng hiểu vì bánh hay vì người, anh thường lân la bắc chuyện với dì; có lắm lúc, thấy dì mồ hôi nhễ nhại, tất bật giao bánh và lu bu thối tiền cho khách; anh chẳng ngại ngần bưng thúng bánh giúp dì…báo hại đám bạn hàng ở sân ga cứ xầm xì, trêu ghẹo, khiến dì đôi lần mắc cỡ muốn chết!
– Chồng không nhớ, nhớ người dưng rồi, phải hôn?
Má Bảy điểm huyệt dì Tư.
– Chồng con gì với thứ người đó, chị ơi!
Rồi, dì kể:
– Đương lấy mối bánh lá dừa của chị bán chạy tàu ngon lành ở ga, tía cho người nhắn tin biểu tui nghỉ bán, quay về nhà sửa soạn đi lấy chồng. Trời đất, lấy chồng chi mà lấy nôn dữ vậy! Tui nấn ná nhiều lần là có ý chờ gặp mặt anh Ba Sài Gòn để giãi bày phân tỏ; bởi lần cuối gặp nhau sau kỳ anh nghỉ hè, lúc chia tay khi tàu sắp chuyển bánh rời ga, anh hò câu hò để lại trong tôi niềm thương mến:
”Đường xa ba bữa, xe lửa chạy cũng thấy gần 
Anh muốn ăn rau đắng trộn với rau cần
Anh muốn về xứ sở đặng gần với em”.
Ngày qua ngày, bao chuyến tàu qua, anh vẫn bặt vô âm  tín và như chị biết đó, tui đành về thôi!
Có tiếng thổn thức khẽ khàng lẫn trong hơi sương khuya.  
– Phải rồi, dì nói chị mới nhớ: sau mấy tháng dì đi lấy chồng, hình như cậu Ba Sài Gòn có theo cậu Năm về lại Tân Hiệp. Cậu ngong ngóng, đứng trơ trọi một mình, giữa sân ga chiều cuối năm…
Má Bảy nói, giọng buồn buồn, chia sẻ nỗi lòng cùng dì Tư.
– Chuyện vỡ lở cũng tại cô Sáu hết thảy. Tuy cô Sáu là em của tía, nhưng mọi chuyện hệ trọng trong gia đình tía đều do cô quyết định, vì xét cho cùng, cô là chỗ cậy nhờ mỗi khi nhà gặp khó khăn tiền bạc.
Dì nói phân bua với má Bảy và cũng là, tự phân bua với chính mình. Một hồi, dì nói tiếp:
– Cô Sáu thuyết phục tía: ”Dù họ Đoàn đại địa chủ vùng đất Tân Hiệp thì cũng chẳng thể bường họ Dương (6) đại địa chủ vùng đất Mỹ An Phú. Bởi, họ Dương không những đại địa chủ mà còn chiếm được long mạch vùng đất thiêng Láng Cò. Chỗ em mai mối cho con Tư là chỗ ở trên cục đất long mạch đó. Tuy khác họ Dương, nhưng họ của người ta cũng có của ăn của để, vẫn hơn họ của mình mạt cọng từ đường!”. Đoán tía đâu dễ một sớm một chiều ưng cái bụng mà giao núm ruột của mình cho người dưng, cô Sáu xoay ngang chơi cái kiểu mưa dầm thấm đất làm tía xiêu lòng. Trấn an tía vững dạ, cô Sáu chắc cứng: ”Rằng, nhà chồng con Tư họ Trịnh không là họ Dương, nhưng ở đậu trên đất họ Dương thì chẳng thể nào, không hưởng được sái phú quý của họ Dương…”. Lo tía trở quẻ vì tự ái ”dựa hơi người”, cô Sáu nói xa nói gần: ”Con Tư nó đã trổ mã mặn mòi rồi đó, anh chị không tính gấp cho nó yên bề gia thất để mai kia mốt nọ, chỗ đàng hoàng không gã lại gã chỗ điếm đàng thì đội quần cả đám, nha anh Năm!”. Sợ lỡ lời tía giận, cô Sáu nói vớt vát: ”Bến tàu là chốn giang hồ, hàng ngày con Tư bán bánh lá dừa chạy tàu, thiệt bụng em không yên dạ chút nào!”.
Chị Hai thằng Út thức giấc nằm im giả đò ngủ để hóng chuyện. 
– Năm đó, trời chớm vào đông, họ hàng đưa tui lên xe ngựa đi lấy chồng…Và rồi, tui khổ sơn trường từ đó!
Có tiếng nấc cục, chẳng biết của dì hay của má.
– Mấy đứa bạn thường nói: ”Có chồng hơn ở giá”, Nhưng, có chồng rồi thì tui mới hiểu ”thà ở giá hơn có chồng” Ngày mần quần quật như trâu, đêm nằm chèo queo ở lẫm lúa với bầy chó giữ ma giữ trộm. Năm thuở mười thì, họa hoằn thằng chồng mới lò dò mò tới chốc lát, gọi là đoái hoài thương tưởng; vì đâu phải một mình tui là vợ, thằng chồng chí những tới ba vợ…
Tiếng má Bảy cắt ngang:
– Ba vợ hay ba đời vợ?
Dì Tư trả lời nhát gừng:
– Có chết vợ nào đâu mà gọi đời!
Rồi, dì nhỏ to nói tiếp:
– Về sau, tui mới rõ: cha mẹ chồng cưới vợ cho con ngoài chuyện sanh con đẻ cái, còn cốt có thêm sức lao động để khai hoang, phục hóa mở rộng đất đai. Cũng thời may, tui chưa có con; chớ nếu có con, chắc là tui khổ tối mày tối mặt!
Lời dì nặng nề khi kể lại cái hôm chồng lặng lẽ cùng cả hai người vợ trước theo gia đình đi tản cư.
– Tui và đám chó giữ lẫm lúa, nào có hay biết trời trăng gì. Tới chừng ngó lên đường làng thấy thiên hạ xôn xao, gánh gồng bồng bế chen lấn nhau đi, chẳng khác chi chạy giặc. Hoảng quá, bầy chó sủa om sòm; tui hớt hơ hớt hải lội ruộng băng đồng về nhà thì tá hỏa…Ơn trời, tui lưu lạc cả năm sau mới gặp được chị ở đây!
Nói tới đó, dì Tư bật khóc!  
Đêm đầm đầm sương, con Vện thỉnh thoảng cất tiếng rên ư…ử…như thấm chuyện người trong cõi đời còn đen hơn mõm chó!
 
Ba.
Hồi đi tản cư, má Bảy không theo dòng người đổ xô về hướng Cai Lậy mà chọn hướng về chợ thầy Yến (7) Phú Mỹ, vì đoạn đường từ Tân Hiệp tới Phú Mỹ chỉ ngót nghét mười cây số; trong khi đó, đường từ Tân Hiệp tới Cai Lậy xa gấp năm bảy lần hơn. Vả lại, má Bảy đinh ninh đi tản cư mươi ngày, nửa tháng là cùng; nào ngờ hai mùa trăng trôi qua, má cũng chưa định được ngày trở lại nhà. Tây đóng đồn ngay tại bến đò Phú Mỹ, khiến cho tuyến đường sông duy nhứt ở phía Tây của Đồng Tháp Mười nối với xóm làng phía Đông lộ Đông Dương, coi như bị thắt gút nơi cuống họng. Việc đi lại mần ăn của dân chúng trong và quanh vùng mỗi ngày một khó khăn; có khi, vì bị Tây nó tình nghi mà chết oan mạng.
Má Bảy và dì Tư bây giờ đã là người cùng cảnh ngộ, cùng ”đỏ mờ con mắt trong lờ”(8) nên cả hai hết lòng đùm bọc nhau. Ở nơi rừng tràm bạt ngàn, đồng lầy ngập nước ”Muỗi lềnh kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tợ bánh canh” trong cảnh trời mênh mông bàng, sậy…thì má và dì chẳng còn lòng dạ nào nghĩ tới chuyện mần bánh lá dừa để sống đắp đỗi qua ngày. Bởi, một điều dễ hiểu là không có nguyên liệu và bánh bán cho ai, rồi ai dám bơi xuồng mang bánh xuống chợ thầy Yến? Một hôm, dì Tư ngồi nhổ tóc sâu cho má Bảy, nhơn dịp dì gợi chuyện:
– Hay là, chị em mình nhổ bàng đươn mê (9) bỏ mối cho ghe trà vải (10). Tui tính vậy, chị Bảy nhắm coi có được không?
Má Bảy ”ừ hén”:
– Sao lâu nay, chị em mình chẳng tính ra!
Má Bảy nhớ hồi còn ở quê, bà ngoại con Hai hay nói: ”Cùng nghề đươn thúng, túng nghề đươn mê” (Tục ngữ). 
– Phải rồi, dì Tư nó! 
Hàng ngày, dì Tư với con Hai chống xuồng vô bưng nhổ cọng bàng mang về phơi giã; rồi cả nhà xúm lại đươn mê. Cực nhưng không khổ, mà lại vui. Đâu chỉ có dì cháu nhổ bàng, nhiều người tứ xứ đi tản cư rồi mắc kẹt ở lại cũng chăm nhổ bàng mần kế sinh nhai.
”Lòng thương con gái Kiến Vàng (11)
Đầu đội neo bàng, tay xách mo cơm” (Ca dao).
Tiếng giã bàng đêm cùm cụp…cùm cụp…nghe sao mà buồn thúi ruột, nhớ nhà!
Thằng Út vô tư bên cạnh con Vện đa đoan việc: Vện giữ nhà, Vện đẩy đuổi chuột, rắn mỗi khi chúng lăm le xâm nhập nơi ăn chốn ở của chủ. Đó là, chưa kể những buổi trưa nắng nóng trên lưng, hầm dưới chưn ven rừng tràm bén mí đông bưng; Vện chạy ộp oạp trên đất sình theo cậu chủ Út hốt ổ cúm núm; lượm trứng cò, diệc, le le, vịt trời…hoặc giả, cắn tha dây dớn (12) cho cậu chủ ngậm mỗi khi khát nước. Vện không từ nan bất cứ việc gì dù nặng hay nhẹ, một khi chủ cần đến.
– Chẳng được đâu dì Tư nó!
Má Bảy gạt phắt ngang ý định của dì Tư gánh mê bàng xuống chợ Phú Mỹ bán, rồi tùng dịp về Tân Hiệp. Má Bảy nói:
– Thằng Tây Taillet có hỗn danh ”Tây Búa” là hung thần man rợ, gieo sự chết chóc kinh hoàng đối với những người dân lương thiện cả vùng Hưng Thạnh, Tân Hòa Thành,Tân Hội Đông, Mỹ An Phú…Mấy tháng trở lại đây, sau những trận mưa giông mồng năm tháng năm, thằng”Tây Búa” hồ nghi Nguyễn Văn Tốt đào đường, phá lộ Cổ Chi nên đã dùng búa chặt đầu đem treo tại cầu Đúc và nó, xẻ thịt ông rao bán ở bến đò (13). Người và ghe xuồng qua lại, nó buộc phải mua. Dân đấm ngực thình thịch , dậm chưn kêu trời như bọng; bởi, Nguyễn Văn Tốt chỉ là người làm ghe, sống đàng hoàng ở Tân Hòa Thành.
Nói xong, má Bảy thở dài ngán ngẫm.
– Mình đàn bà tay yếu chưn mềm, bất quá cũng chỉ là người gánh mê bàng đi bán dạo thì chắc, tụi Tây, tụi theo Tây mần lính kín, chẳng bắt bớ hay gây khó dễ gì đâu.
Dì Tư phân bua với má Bảy và có ý hờn mát:
– Chị khéo lo xa!
Má Bảy không những không để bụng lời nói hờn mát của dì Tư mà ngược lại, càng thấy thấy thương dì nhiều hơn. Má hiểu chữ tình của dì đối với chàng trai Ba Sài Gòn sâu đậm tới mức nào. Và, sự dở dang tình từ cổ chí kim đều đẹp tuyệt! Bán dạo mê bàng chỉ là cái cớ để dì thực hiện nỗi khao khát tìm về sân ga, với mong mỏi tìm lại được bóng người xưa.
– Dì không có cái giấy ”Lách-xê-pát-xê” tức là cái giấy thông hành tạm, thì đừng hòng lọt qua được bến đò, chưa nói tới cái đồn Phú Mỹ tinh quái. 
– Chớ người ta đi, nghe trà vải lui tới hà rầm đó, có sao đâu!
Dì Tư cãi lại má Bảy. Má Bảy nói chậm rãi:
– Người ta khác, mình khác! Thời giặc giã, không thể lấy người mà so với mình.
*
Hai ngày đêm, cả nhà má Bảy nôn nao và nóng lòng, không ai ăn ngủ được. Mọi người ngóng dài cổ trông tin tức dì Tư thông qua con Vện, nhưng rồi con Vện cũng biệt tăm. Má Bảy cằn nhằn một mình suốt ngày:
– Đã nói đừng đi, vậy mà, cứ nằng nặc đòi đi cho bằng được!
Hễ mỗi lần cằn nhằn, má Bảy lại ra sân vái bốn hướng, lạy mười phương cầu nguyện ơn trên phù hộ cho dì Tư dữ ít lành nhiều. Thằng Út tuy tánh tình không được đằm thắm như con Hai, nhưng nó lại là đứa nặng tình trượng nghĩa. Qua nay, có lúc nó khóc, có lúc nó nằm vùi trên cái chõng tre dựa mé hè; phần thương dì, lớp nhớ con Vện – một người bạn chí cốt – chưa bao giờ rời xa nó nửa bước. Vậy mà,…
– Thằng Út đâu rồi?
Phía sau bếp, má Bảy hỏi.
– Dạ! Con đây nè!
– Con rủ con Vện đi với con ra bến sông ngồi chờ ghe trà vải chèo ngang qua, ngoắc vô mua cho má cặp dừa khô.
Rồi,  má dặn:
– Nhớ nói người bán lựa dùm cặp dừa bị dày cơm, nha con!
– Dạ!
Chưa dứt tiếng ”dạ”, thằng Út co giò chạy ra bến sông. Con Vện cũng chẳng vừa gì, phóng theo cậu chủ bén gót.
Má Bảy tính mần bánh lá dừa đãi dì Tư, trước lúc sớm mai dì thử gánh mê bàng xuống chợ bán. Song, giữa Đồng Tháp Mười bốn bề rừng tràm giăng giăng, chẳng có cách nào tìm được cà bắp của cây dừa nước để lấy lá gói bánh, nên đành chuyển qua mần bánh lá nước cốt dừa.
– Út! Con nạo dừa, còn chị Hai con nhồi bột với lá thúi địt cho dì nắn bột hấp bánh.
Dì Tư phân công chị em nó rành rọt.
Má Bảy dùng lá điều thay lá dừa nước nắn bột. Mùi bánh lá có thể có khác, nhưng vị bánh lá chưa chắc đã khác, vì nhờ nước cốt lá thúi địt chận đứng mùi lá điều phá hỏng vị bánh lá.
– Không phải vô cớ mà người đời đặt cho lá cái tên thúi địt. Ăn nó là phải địt, dù người hay thú vật. Hễ địt là phải thúi và hễ thúi, thì chất dơ trong cơ thể mới được tống ra ngoài bằng cách xì hơi, giúp đường ruột khỏe khoắn. Kẻ tham vô độ thường gian manh, tráo trở thì sao biết thưởng thức mùi vị của lá thúi địt. Thiên hạ không ai chịu nín địt, chẳng qua  là chưa phải lúc địt mà thôi!
Thằng Út đang gò lưng, kềm chưn lên bàn nạo, dằn tay nạo cơm dừa…nghe má Bảy nói, nó đã cái lỗ tai.
Vậy mà, giờ đây ”đang khi vui vẻ ra buồn bã”, thử hỏi làm sao nó cầm được nước mắt mà không khóc! Chính nó vỗ về và sai biểu con Vện đưa dì Tư đi tới bến đò rồi hãy quay về, nếu hữu sự thì hết sức giúp đỡ dì Tư. Vện hiểu ý, ngúc ngoắc cái đuôi ra chiều ưng thuận.
Từng đàn cò bay về tổ cắt đứt những vệt nắng còn chần chừ, nấn ná trên cây. Rừng chiều tối sớm hơn cánh đồng bàng!
Con Hai chạy hớt hơ hớt hải từ bến sông lên nhà.
– Má! Má ơi, dì Tư…bị… 
– Dì Tư, bị…bị cái gì?
Tiếng Bảy hốt hoảng. Thằng Út ngồi vụt dậy:
– Chị Hai nói sao? Chị Hai!
– Dì Tư bị…g…i…ế…t…
Ba má con sững sờ ôm nhau ràn rụa nước mắt. Họ cắn nỗi đau nín lặng trong nỗi nhục mất nước!
Tin dì Tư bị giết, con Hai nghe được từ người đàn ông trên ghe trà vải học lại và nó còn nghe, con chó đi theo người đàn bà bị giết đã bị thằng Tây búa bắn gãy cẳng, xém chết! Lúc má Bảy hoàn hồn chạy ra bến thì chiếc ghe đã rời bến lâu rồi.
 
Bốn.
– Má ơi! Má ơi má! Vện đã về, má ơi!
Thằng Út kêu má chói lói trong nỗi mừng vui khôn tả.
Tiếng con Vện sủa gấp gáp bên kia sông.
Con Hai xô cây chống cửa, bước ra sân
– Về tới nhà, sao Vện không bơi qua sông?
– Bộ con quên rằng, Vện bị bắn gãy cẳng sao!
Má Bảy trầm tĩnh nói với con gái.
Tiếng con Vện mỗi lúc mỗi sủa gấp gáp như nhắc nhở, thúc giục chủ không còn kịp thời gian.
Má hiểu chuyện kinh thiên sắp xảy ra cho gia đình qua tiếng sủa của con Vện. Má hối chị em thằng Út quơ đại áo quần rồi nhanh chưn xuống xuồng qua sông.
Biết hai con thắc mắc, má nói:
– Nội trong sáng mai, tụi Tây và tụi theo Tây sẽ tới đây!
Lúc xuồng ra gần giữa sông, má Bảy ngửa mặt lên trời than:
– Xưa, ”Làm người thì khó, làm chó thì dễ”. Nay, ngược lại, thời thế chẳng biết đâu mà lần!./
TBĐ.
……………………………………………………
 (1) Có nơi gọi lá mơ.
(2) Quốc lộ 1A bây giờ. 
(3) Đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho hoạt động từ 1885 đến 1958.
(4) Ông Đoàn Giang (thân phụ nhà văn Đoàn Giỏi) có 3 người vợ, 18 người con. Nhà văn Đoàn Giỏi (Đoàn Văn Hòa) con thứ năm của người vợ cả ông Đoàn Giang, trước Đoàn Giỏi là anh trai và 2 chị gái. (theo lời bà Đoàn Thị Tuyết, em gái nhà văn Đoàn Giỏi).
(5) Nhà văn Đoàn Giỏi (1925-1989) học Trường Collège Mỹ Tho (Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho), đậu bằng thành chung, theo học hội họa Trường Mỹ thuật Gia Định. Trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (hiện nay) là nhà của gia đình ông Đoàn Giang đã hiến khi xưa. (Tài liệu lịch sử Đảng bộ thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
(6) Họ Dương trải qua bốn đời: Dương Văn Bảo, Dương Văn Long, Dương Văn Lâm, Dương Văn Cường…khai phá vùng đất nay gọi là xã An Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Thời nhà Nguyễn, Láng Cò là Tân Hòa Tây thuộc tổng Hưng Long). Gần mộ tổ họ Dương, có hai ngôi mộ Dương Văn Huề tự Mau (1891-1944), Nguyễn Thị Kỷ (1895-1992)là thân phụ và thân mẫu của cựu Tổng thống VNCH, Đại tướng Dương Văn Minh.
(7) Thầy Yến thuộc tầng lớp nho sĩ theo lưu dân tới khai phá và định cư Phú Mỹ (làng Phú Mỹ thành lập năm 1808). Thầy Yến mở trường dạy học và bốc thuốc. Về sau, dân tụ về đông đúc, thầy Yến lập chợ và từ đó, dân gọi chợ thầy Yến. Đến năm 1896, chính quyền thời bấy giờ xây lại chợ mới và cho đặt tên chợ Phú Mỹ, nhưng dân trong vùng vẫn quen gọi chợ thầy Yến. (theo ”Di tích lịch sử tỉnh Tiền Giang).
(8) Lờ là dụng cụ dùng để bắt cá.
(9) Đươn mê là đươn manh đệm.
(10) Ghe trà vải là ghe bán tạp hóa lưu động trên sông.
(11) Tên gọi cũ của xã Hưng Thạnh (nay thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang).

(more…)

Read Full Post »

 

trong khói lam chiều hai chín tết
hồn Thơ dờ dật bóng quê xưa
Hầm Hô in dấu chân thằng Phế (1)
Buôn Triết (2) hằn sâu bước gió mưa

mười năm khốn khó thân nghèo khó
vất vã mưu sinh giữa chợ đời
mượn tiếng cười khan vui giấu khổ
”Vỡ màu ký ức” cuộc đầy vơi

xuân nầy vắng bạn, ta buồn bã
ngơ ngẩn vào ra nhớ Ngọc Thơ
thắp nén hương lòng đau đáu dạ
sinh ly tử biệt mấy ai ngờ!
trần bảo định
(1) Tục danh hồi nhỏ.
(2) Nơi Nguyễn Ngọc Thơ đi ”cưỡng bức lao động”.
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,

Tưởng niệm Nguyễn Ngọc Thơ, “Vỡ Màu Ký Ức”
Phan Cát Tường

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Ngọc Thơ trong quán cà phê Lọ Lem trên đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận. Lúc đó, nhà văn Nhật Chiêu đang nói chuyện với tôi về ấn bản Hương Thiền số mới nhất, và trong câu chuyện có gọi tên tôi (Cát Tường). Lát sau, một người khách trung niên ngồi bàn bên cạnh, gương mặt khá hiền lành dễ mến, đứng dậy và bắt tay tôi: “Chào anh Tường, hôm nay em hân hạnh được biết anh!”. Tôi cười: “Chào bạn, xin lỗi, sao tôi thấy bạn quen lắm…”. Người ấy nói: “Em là Nguyễn Ngọc Thơ, nhiều lần có nhờ nhà văn Trần Bảo Định chuyển thơ cho anh Tường đăng trên Hương Thiền đó!”. Tôi kéo Thơ ngồi xuống ghế bên cạnh: “Rất vui được biết Nguyễn Ngọc Thơ. Mình tệ quá, đăng bài tác giả mà chưa lần nào hội kiến. Hôm nay cũng là duyên lành đó, Thơ ơi!”
Chúng tôi ngồi cạnh nhau khá lâu và nói về tác phẩm đầu tay của anh, tập thơ “Vỡ Màu Ký Ức”. Trước đây, anh có nhờ nhà văn Trần Bảo Định gửi tặng tôi, còn nhớ trang bìa có dòng chữ màu xanh viết rất nắn nót: “Kính tặng anh Phan Cát Tường, Sài – Gòn 15/01/2015 – Nguyễn Ngọc Thơ”.
“Vỡ Màu Ký Ức”, 140 trang (Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ, 2015) là tuyển tập gồm 75 bài thơ, tuy là tập thơ chú trọng đến kỷ niệm gia đình và tình cảm quê hương, nhưng cũng không ít bài mang đậm hơi thở Thiền, như: Chú tiểu say hoa, Sắc giao mùa, Lạy vô song, Quán không,… Đặc biệt, trong tập thơ có phần họa của Trần Bảo Định và Nguyễn Đồng Hoang bài thơ nổi tiếng Buổi chiều xanh rêu của tác giả Trần Ngọc Châu.
Giở từng trang ký ức với Nguyễn Ngọc Thơ, chúng tôi cũng không thể nào quên được những lần họp mặt nhóm mà chúng tôi gọi cho vui “Tứ hữu Bông Sao” (Trần Bảo Định, Nguyễn Hoàng Đông, Nguyễn Ngọc Thơ và Phan Cát Tường) ở cà phê Hoài sau mỗi lần Hương Thiền phát hành số mới. Những lần như thế, tôi vẫn rất ấn tượng về các góp ý chân tình cho Hương Thiền và giọng cười như “chẻ tre” của Thơ. Anh ít nói, nhưng hay cười mỗi khi ai nói điều gì đó đắc ý, hay chạm đến niềm vui kín đáo của anh.  (more…)

Read Full Post »

Ngô Đình Hải

file-page1 (1)

Trời xanh mây trắng lang thang
Tôi ngồi tôi nhớ thương làng quê tôi
                  ( THƯƠNG LÀNG QUÊ )
 

(more…)

Read Full Post »

Lục bát Trần Bảo Định

b9dec51d76567e60e25af94784d7e07a

1.
TIẾNG TRỐNG ĐÌNH
.
       Gửi em Tâm-cõi xa
.
trống đình làng thúc bách tôi
băng đồng lội ruộng về coi hát chầu
cằn nhằn em bước theo sau
lầm bầm em hỏi sao lâu tới đình?
.

(more…)

Read Full Post »

 

Trần Bảo Định
hqdefault
1.
ĐỜI NGHỆ SỸ
.
   Gửi Nhạc sỹ Trúc Phương
.
Vượt biên anh vượt ba lần
Ba lần lực bất tòng tâm ba lần
Quay về quê cũ nương thân
Mẹ già, cháu dại, thiếu ăn mỗi ngày
.
Sông hồ rài đó mai đây
Bàn tay nghệ sỹ giờ chai sạm rồi
Tiếng đàn như thể hụt hơi
Tiếng hò ai thấu đất trời cùng ai!
.
Mắt mờ, hen siễng, nghểnh tai
Bụi đời đã dập vùi tài hoa xưa
Phổi sưng từ độ nắng mưa
Thân lây lất sống, đời chưa chịu tàn
.
Nhiều khi buồn nhớ họ hàng
Nhớ cha mẹ, nhớ Cầu Ngang quê nhà
Đêm chia tay làng Mỹ Hòa
Bước chân lãng tử qua phà Cổ Chiên
.
Rồi đời từ ấy truân chuyên
Chốn phồn hoa có bình yên bao giờ?
.
Saigon,1992
.
2.
NHỚ TRÚC PHƯƠNG
.
     Đốt nén hương lòng dâng Trúc Phương
.
1.
Tôi đưa anh về Lái Thiêu
Thôi anh, yên ngủ quên điều thị phi
Lợi danh nào có ra chi
Sài Gòn tháng chín mưa thì thầm mưa
.
Mến anh từ những ngày xưa
Thuở Thanh Thúy hát tôi vừa chớm yêu
Nhạc anh tôi thuộc cũng nhiều
Như niềm an ủi những chiều cô đơn
.
Bây giờ tuổi đã cao hơn
Nghe Thanh Thúy hát vẫn buồn tái tê
Tình cờ hôm ấy tôi về
Gặp anh quán cốc đường Lê Đại Hành
.
2.
Mắt kính nhòa nước mắt anh
Nụ cười buồn rớt xuống manh chiếu đời
Co ro thân lạnh run người
Bơ vơ anh tiếc nuối thời vàng son
.
Bolero điệu tâm hồn
Đã theo đôi dép đứt mòn gót chân
Đêm ra Xa Cảng trú thân
Ngày lo bương chảy kiếm ăn nhọc nhằn
.
Nhả tơ là phận kiếp tằm
Kiếp tằm thì vẫn là tằm nhả tơ
Trăng khuya sông Hậu đôi bờ
Mái chèo xuồng nhảy sóng hò quê hương
.
3.
Mấy ai còn nhớ Trúc Phương
Tài hoa cũng lắm, tang thương cũng nhiều
Cuối đời cuộc sống hẫm hiu
Lang thang trên góc phố chiều thành đô
.
Sài Gòn thất lạc bao giờ
Mà người năm cũ hửng hờ cố nhân?
.
trần bảo định
Sài Gòn,
tháng 9.1996

(more…)

Read Full Post »

Older Posts »