Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Cao Thị Hoàng’

 
Cao Thị Hoàng
 
1.
Quê tôi, xóm vạn chài nằm bên con sông Đồng Nai nhiều huyền tích và cũng lắm kỳ bí. Chiều tà rơi trên sông hay đêm trăng trải sáng cánh rừng, trời đất mang mang những câu hò đối đáp của người hạ bạc hoặc kẻ thương hồ đi ngược về xuôi. Những đứa trẻ lớn lên từ xóm vạn chài, không có đứa nào không tắm sông, không đã từng hát bài đồng dao:
Con cá lóc nằm trên bụi sặt
Con cò mắc giò mà chết
Con quạ mua nếp làm chay
Con cu đánh trống ba ngày,
Con ngỗng thức dậy dọn bày mâm ra
Cồng cộc ăn cá nghi nga (1)
Con chim cà cưỡng phải ra ăn mày.
Bài đồng dao vẽ bức tranh quê đầy sinh động. Tâm hồn tôi, chìm đắm trong bức tranh quê!
Nhà ngoại sát mé sông, phía bên kia sông là cánh đồng nhỏ chạy tới mí rừng. Ngoại nuôi ngỗng giữ nhà, giữ bến sông.
Tôi hỏi:
”Sao ngoại không nuôi chó?”.
Ngoại nói:
”Chó không bì được ngỗng, vì ngỗng trung thành và tinh tường hơn chó”.
Rồi ngoại nhấn mạnh:
”Chó theo cái bỏ chủ, ngỗng thì không!”.
Tiếng ngỗng kêu đêm có khi gởi thông điệp đến từ vô thức tạo giấc mơ. Một giấc mơ đẹp về tình yêu, bởi màu lông trắng phau của loài ngỗng tượng trưng sự thuần khiết. Khi nằm mơ thấy loài ngỗng dù một con hay cả bầy, thì người nằm mơ đó đang sống trong tình yêu thơ mộng và mãnh liệt.
Những buổi chiều, mỗi lần đám trẻ xóm vạn chài tắm sông, nghêu ngao hát khúc đồng dao; cặp ngỗng nhà ngoại cùng hưởng ứng nghển cổ cất cao giọng kêu tiếng kêu chẳng khác tiếng đàn… Cũng có đôi khi, tôi nhìn thấy con ngỗng đực nhà ngoại vỗ cánh bay, rồi thì con ngỗng cái vội vã bay theo và hình như, động tác vỗ cánh của ngỗng đực đã truyền lực đẩy giúp cho ngỗng cái bay phía sau giảm hao sức lực. Tôi chỉ ngoại hình ảnh đó, ngoại cười.
– Ít khi, nếu không muốn nói là không có loài ngỗng nào bay riêng lẻ, hoặc sống đơn độc.
Ngoại nói tiếp:
– Đó là ngỗng nhà đã thuần chủng, còn ngỗng trời ngoài thiên nhiên thì chúng sống hợp đàn và bay thành bầy hình mũi tên giữa bầu trời bao la. Con dẫn bầy mỏi cánh thì nhường vị trí cho con khác trong bầy thay thế. Tiếp tục như vậy cho tới khi cả bầy đến nơi cần đến.
Có lần tôi nghe lóm ai đó trong xóm vạn chài, nói:
– Con ngỗng đương bay cùng bầy nếu rủi ro bị thương hay bị bịnh rơi rớt đất thì ngay lập tức, một hai con ngỗng khỏe mạnh cùng đáp xuống cứu giúp, nó không làm ngơ hay bỏ đồng loại bao giờ!…
Và, người nói đã khẳng định:
– Con ngỗng sống có đôi, nếu chẳng may một con chết thì con còn lại trước sau gì rồi cũng chết!
Chuyện nghe lóm, tôi đem học lại ngoại. Ngoại nói:
– Chó sủa ma, ngỗng đuổi tà!
Thấy tôi đứng xớ rớ, chưa hiểu lời ngoại. Ngoại hứa:
– Để lúc rảnh rỗi, ngoại kể chuyện đời xưa cho cháu nghe!
2.
Thuyền về bến!
Cơm nước xong, ngoại ngồi nhắc chuyện xưa tích cũ về ngôi miếu thờ đôi ngỗng, nằm giữa vàm Cây Qui và cầu Đồng Tròn. Tôi chợt nhớ ra, cũng có đôi lần ngồi thuyền theo ngoại tới ngôi miếu thắp nhang cúng vái. Đầu cù lao Đôi, làng Long Sơn đột ngột phình rộng do dòng chảy sông Đồng Nai từ chợ Biên Hòa đổ xuống Gành, qua Tân Vạn tạo nên.
Ngoại kể, rằng:
Trong những cánh buồm xuôi Nam, có cánh buồm của đôi vợ chồng son Khanh, Mai rời đất Thuận Hóa vô xứ Đồng Nai khẩn hoang, lập điền. Đến nơi, còn chưn ướt chưn ráo chưa ổn định cuộc sống, thì họ gặp ngay lão trại chủ người đồng hương ăn ở thất đức. Lão tên Mùi, thứ năm; lưu dân gọi lão là Năm Dê. Năm Dê không phải lưu dân thứ thiệt bởi lão giàu có từ ngoài quê, mang tiền của đầu tư vùng đất mới để mở rộng và gầy dựng thêm sản nghiệp. Lão mướn đám lưu dân bạch đinh khẩn đất lập trại ruộng và vợ chồng Khanh là một trong những tá điền trại ruộng của lão. Một hôm, lão sai gia nhân gọi Khanh lên gặp lão.
– Từ lâu, ta để ý thấy vợ chồng chú em làm lụng cật lực, hết lòng với ta. Vợ chồng chú em đúng là hạng người mà bấy lâu ta cố tìm nhưng không gặp, nay gặp rồi, ta ưng cái bụng lắm!
Khanh đứng dựa cột nghe lão nói, không biết lão muốn cái gì?
Lão khệnh khạng, vận lại mối quần sắp tuột.
– Vợ chồng chú em, đúng là ”Ăn cây nào rào cây nấy”!
Ngưng giây lát, lão nói tiếp:
– Thương tình cảnh vợ chồng chú em, vợ chú em khỏi phải ra rẫy cuốc đất trồng khoai…
Khanh ngơ ngác, lỏ mắt nhìn lão. Lão chẳng thèm để ý tới Khanh.
– Từ đây về sau, vợ chú em ở lại doanh trại giúp ta việc bếp núc!
Nghĩ tới vợ tránh được cảnh dầm mưa dãi nắng, Khanh mừng khấp khởi.
Mai im lặng nghe chồng học lại những gì lão Năm Dê đã nói. Với Khanh, đó là ”tâm ý tốt’‘ mà trại chủ ban cho; nhưng với Mai, đó là cái ”bẫy tăm tối” của kẻ háo sắc. Đôi lần, lão sai Khanh đi cùng gia đinh ra bìa rừng canh gác đêm giữ rẫy và đôi lần đó, lão lò mò dưới ánh trăng méo tới chòi vợ chồng Khanh. Bởi, lão cứ tưởng Mai là cây so đũa… sẵn sàng cho lá để ăn. Lão đã lầm, Mai buộc chặt cửa lòng bằng sợi dây tình chung thủy. Nhiều lần, Mai định kể chuyện lão ”thả dê” cho chồng nghe, nhưng sợ nghe rồi chồng buồn nên do dự lại thôi. Giờ, nếu thuận theo sự sắp đặt của lão, Mai cứ sợ chẳng sớm thì muộn cũng bị lão làm nhục; chi bằng ”cao chạy xa bay”!
Mai bàn bạc với chồng, bỏ nghề tá điền chuyển sang nghề hạ bạc trên sông Đồng Nai. Thương vợ, Khanh buông cuốc cày không luyến tiếc!
*
Hoàng Tấn, phó tướng của Dương Ngạn Địch đã tạo phản, và sát hại Dương Ngạn Địch ở cửa Tiểu sông Mỹ Tho vào tháng 6 năm Mậu Thìn (1688), sau chín năm sống lưu vong trên đất Việt. Tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1689), Thống suất Mai Vạn Long kéo quân tới đóng ở Rạch Gầm (2) chiêu dụ Hoàng Tấn và sau đó, Hoàng Tấn  chạy thoát ra cửa biển Lôi Lạp (3). Vợ con Hoàng Tấn bị giết.
Thời cuộc rối ren trên vùng đất ổn định kỷ cương phép nước. Nhơn dịp, tàn quân Hoàng Tấn chạy trốn tới Trấn Biên, lão Năm Dê sực nhớ mối hận tình đã để vuột mất con mồi mượt hơn ánh trăng, thơm hơn mùi mít rừng Đồng Nai. Lão âm thầm bỏ tiền lo lót bọn sai nha thực hiện mưu bẩn, kế hiểm đối với vợ chồng Khanh đang sống trong cảnh túng thiếu, nghèo khó; nhưng thừa hạnh phúc, ngày đêm làm bạn sông nước, gió trăng!
Bụm tay vốc nước Đồng Nai vị ngọt thấm lòng, Mai nhớ khôn nguôi nước sông Bồ nơi quê nhà ngày cũ. Mai nhớ buổi chiều cuối cùng trên quê hương, lúc thuyền giương buồm no gió xuôi Nam; Khanh ôm vợ vào lòng, thì thầm: ”Đôi ta như đôi ngỗng” dù có phải chết cũng không thể rời nhau, dù có phải xa con sông Bồ, rời Quán Cửa…Rồi sẽ có một ngày mình quay về cố quận!”.
Trời xa chớp bể mưa nguồn, mắt vợ chồng Khanh ngân ngấn.
3.
Bình minh trên sông Đồng Nai.
Thình lình quan quân Trấn Biên ập đến bắt Khanh khi chóp chài đầu tiên trong ngày chưa kịp buông. Theo lịnh bắt, thì Khanh thuộc đồng đảng  Hoàng Tấn do có thơ tố cáo nặc danh của kẻ giấu mặt trong làng.
 Khánh bị bắt vài ngày, lão Năm Dê lân la tới gặp Mai.
– Nàng có muốn ta cứu chồng nàng không?
Lão Năm Dê xề đít lên phản, nhích dần tới… Mai.
Không thèm đếm xỉa gì tới sự bất ngờ có mặt của lão, Mai chỉ nói bâng quơ: ”Trời cao có mắt!”.
Lão Năm Dê cười ”Hè hè…!”, Mai nghe âm giọng như là ”Be he…!”. Tự dưng, Mai mắc cười. Lão tưởng ”Nai đã chịu đèn”! Không để lỡ cơ hội  ngàn vàng, lão chồm người nhào tới.
– Chuyện thằng Khanh, qua sẽ lo. Miễn là… Miễn là…
Vùng đứng dậy, Mai xô lão té bật ngửa, la lớn:
– Bộ trại chủ muốn ăn luôn cái ”quần què” (4), sao?
Không biết bầy ngỗng trời từ phương nào bay đến đáp nước, nước bắn tung tóe mặt sông. Chúng kêu rân trời dậy sóng ngoài bến.
Hoảng quá! Lão nắm mối vận lưng quần, lồm cồm bò qua khỏi ngạch cửa chòi, rồi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng trong sương chiều.
*
 Hai mùa trăng, thân Mai ”phòng không chiếc bóng” đợi chờ chồng! Hai mùa trăng, Khanh chịu cảnh ”Cá chậu chim lồng”!
Đêm nhà lao. ”Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại”, Khanh không còn hy vọng ngày về, và đã không còn hy vọng ngày về thì tại sao mình buộc người vợ trẻ chờ mong? Khanh nếm trải những trận đòn ”kinh thiên động địa”, những cực hình ”quỷ khốc thần kinh”; nếu không có tấm lòng nhơn hậu của cai tù Lê Sáu, thì có lẽ Khanh đã hóa ra người thiên cổ. Thương vợ, Khanh không nỡ nhìn tuổi xuân thì của vợ tàn phai theo năm tháng chốn lao tù của kẻ tòng nghịch triều đình. Cảm kích hành động trượng phu của cai tù Lê Sáu, Khanh muốn trả nghĩa và xin vợ thay mình trả nghĩa cho người.
Đồng Nai mùa Đông.
Gió bấc thổi rừng se sắt lạnh đất trời, lạnh cả lòng người!
Mai đọc xong bức thơ chồng gởi, đôi vai gầy thiếu phụ rung động. Bỗng dưng, nàng bật khóc và kêu: ”Chàng ơi!…
”Đạo nào bằng đạo phu thê
Tay ấp, má kề, sanh tử có nhau” (Ca dao).
Thiếp không thể ”phu thê với Lê Sáu” để thay chàng trả nghĩa, vì năm xưa mình lấy nhau đã thề nguyền trước lúc ly hương:
”Thương nhau gặp khúc sông vơi
Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung” (Ca dao).
Đêm mù, ánh đèn leo lét không đủ sáng soi những dòng chữ tuyệt mạng gởi lại người chồng yêu dấu đang chịu hàm oan nơi chốn lao tù. Cuối thơ, Mai nhắc lại những ngày yêu thương đẹp nhứt, ngày chàng thì thầm:  ”Đôi ta như đôi ngỗng” dù có phải chết cũng không thể rời nhau, dù có phải xa con sông Bồ, rời Quán Cửa…Rồi sẽ có một ngày mình quay về cố quận”! Hỡi chàng! Ngày đó… , bao giờ!?
”Ai kêu, ai hú bên sông
Tôi đang sắm sửa cho chồng xuồng ghe
Chồng xuống ghe, quạt che tay ngoắt
Cất mái chèo, ruột thắt từng cơn…” (Ca dao).
Vậy mà, giờ đây… Vĩnh biệt chàng! Thiếp xin được đi trước để giữ lời thề!
Mai quyên sinh, cai tù Lê Sáu rúng động tâm can!
Lê Sáu giấu Khanh chuyện nhà đã xảy ra thương tâm và kể từ đó, người cai tù âm thầm điều tra manh mối để minh oan Khanh. Trăng thu năm sau, Khanh được Lê Sáu giải oan và quan Trấn Biên minh xét, chuẩn thuận tha Khanh về sum hợp gia đình.
Lê Sáu dìu Khanh trở về mái chòi xưa.
– Hiền thê! Hiền thê ơi… Hiền thê đâu rồi? Ta đã về…
Tiếng gọi của chàng mất hút vào không gian chiều rừng thê lương lá rụng.
Căn chòi đầm ấm khi xưa, giờ đây trống hoác, lạnh ngắt. Bấy giờ, người cai tù run rẩy trao lại lá thơ tuyệt mạng của Mai cho Khanh.
Khanh cắm đầu chạy ra bến sông cù lao Đôi, ngay vàm Tham Mạng, rồi nhảy xuống dòng nước xoáy nơi mà ngày trước Mai đã trầm hà quyên sinh. Bầy ngỗng ở đâu đó, cất tiếng kêu buồn!
4.
Trên khúc sông oan nghiệt, mỗi khi có sóng to gió cả thường xuất hiện đôi ngỗng trắng, xòe cánh chặn sóng ngăn gió, giữ bình yên cho thuyền, ghe đi qua. Và, không biết tự nhiên hay có điều gì linh thiêng, hằng năm vào cuối thu đầu đông, hàng trăm con ngỗng trời từ phương trời xa bay về… Người làng cùng thuyền, ghe thương hồ qua lại khúc sông đã chung tay dựng ngôi miếu thờ đôi ngỗng ân tình.
Ngoại nhắc nhở con cháu: ”Có thể câu chuyện ngoại kể là ngoa truyền, do người xưa từ đời nầy sang đời khác truyền lại”. Rồi ngoại nói: ”Cho dù ngoa truyền hay thực truyền đều không quan trọng, điều quan trọng là con người cần ngẫm suy về sự trung thành và thủy chung của loài ngỗng”.
Đêm dần khuya, xóm vạn chài im lìm. Nhưng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng ngỗng nhà ngoại kêu inh ỏi ngoài bến sông.
CTH.
…………………………………………
(1) Nghi nga: Thả sức, tha hồ (có bản chép: ”Cồng cộc ăn cá thả ga”)
(2) Rạch Gầm thuộc thôn Kim Sơn, huyện Kiến Đăng, trấn Định Tường (nay xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
(3) Nhà văn Sơn Nam cho biết quân chúa Nguyễn đã truy đuổi và giết chết viên phó tướng nầy ( Gia Định xưa, Nxb TP.HCM, 1984, tr.30).
(4) Quần què: Nghĩa đen, quần lưng chừng đùi. Nghĩa bóng, quần hoa hòe và nó cũng ám chỉ gián tiếp tên một loài hoa có tác dụng cầm máu, trị băng huyết, rong kinh của phụ nữ.

(more…)

Advertisements

Read Full Post »

Thắt thẻo chiều quê

Cao Thị Hoàng
Một.
Mùi bùn non từ cửa sông theo gió chướng cuối năm lộng về khiến tôi ngây ngây mùi nhớ! Cái mùi nhớ đôi lúc bâng khuâng  và cũng lắm khi rịt chặt tâm hồn kẻ hậu sinh với tiền nhân thuở trước. Tôi quay lại Huế. Chiều nghiêng Cố đô! Từng sợi nắng đan xen se chỉ như tấm bình phong che giấu sẹo kinh thành, nơi từng trải qua bao dâu bể. Tôi lần khân tựa lan can cầu Phú Thứ, nhìn ba con sông Như Ý, Lợi Nông, Đại Giang hợp cùng rồi chia xa… Mỗi sông đi về mỗi hướng; và mỗi hướng đó tưởng đối nghịch nhưng lại thuận dòng mang phù sa bồi đất, giữ nước vững bền.
Người kinh kỳ muốn tới Phú Đa phải qua cầu Phú Thứ, đi tiếp ngót nghét hơn cây số sẽ gặp thôn Nam Châu. Có thể nói đây là vùng đất ngụ cư duy nhứt của người Nam Bộ ở xứ Huế (1) . Nơi chốn đó, ngoại thường nhắc nhở con cháu rằng có một phần máu thịt của dòng họ ngoại đã nhiều đời thấm sâu lòng đất khách, nhưng lại là quê mình!
Huế những ngày Chạp cuối năm, những ngày cúc Bãi Dâu, huệ Nguyệt Biều, mai Dương Xuân, thược dược Phú Thượng… thầm kín ẩn tàng háo hức tạo dáng, khoe nhan sắc Huế yêu… Huế rất yêu! Rồi, ai yêu rất Huế? Hỏi ngoại, ngoại trầm ngâm cả buổi chiều quê!
Huế! Một tiếng vút không gian hay một tiếng gõ thời gian? Sông Hương, núi Ngự… Sông núi nếu phải là biểu tượng quê hương thì những ai nặng tình non nước làm sao tránh khỏi bùi ngùi khi nghĩ tới nơi mình đang sống đã bén rễ thành gốc.
Sông núi có hồn thiêng! Hồn thiêng sông núi khắc vào tâm khảm của mỗi người con Việt một thứ tình yêu bất diệt, đó là tình yêu đất nước! Ngoại nói: “Núi dù lớn nhưng nếu xa sông trơ trọi một mình, thì núi thiếu hồn; và nếu có thiêng thì cũng chỉ là thiêng với đất. Sông dù dài ngắn hay rộng hẹp thì sông vẫn có hồn, và cái hồn đó chính là long mạch của đất”. Rồi, ngoại cắt nghĩa: “Sông thuộc Âm, núi thuộc Dương, và Thủy dưỡng Mộc nên là nơi chốn sinh ra mọi sự sống”. Nương theo lời ngoại, tôi thầm nghiệm: “Vậy thì nữ là sông còn nam là núi?”. Trong các triều đại Việt, hiếm có – nếu không muốn nói chẳng có – sự kiện bề tôi kết thông gia cả trai lẫn gái với cùng một vị vua, như trường hợp ngài Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng kết thông gia với vua Minh Mạng(2) . Có thể nói rằng Đức Quốc công nắm trong tay cả Âm lẫn Dương, tức hội đủ “Sông-Núi” để tất nhiên có được đất Nam Châu, nơi chốn đi về.
Đêm Nam Châu xốn xang không vì xa nguồn Nam Bộ vốn là đất cũ Phù Nam, mà xốn xang vì bươi mớ tro tàn quá khứ Thuận Hóa (Phú Xuân) một thời từng là Kinh đô, đi từ “Nhà” tới “Triều”, đi từ sáng tới tối… đầy rẫy tiếng cười, ngập tràn tiếng khóc!
Hai.
Ngoại ngồi tự lự trên thềm lạnh tàn đông, tôi khẽ khàng: “Ngoại cũng họ Phạm, vậy họ Phạm của ngoại có dính dáng gì tới họ Phạm của Đức Quốc công?”.
Gió phá Tam Giang thổi qua miền đất bạch sa, ngoại chạnh lòng: “Phạm Đăng gốc Gò Công, Phạm Hữu gốc Bến Lức, Long An (3) … Ngoại họ Phạm, nhưng là Phạm Kế gốc Tân An (Long An)”.
Ngoại bồi hồi kể tiếp: “Tuy Phạm Kế nhà mình không cùng huyết thống Phạm Đăng, nhưng nếu nói không dính dàng gì với nhau thì không đúng. Chẳng những cả hai họ đồng triều, mà trong thời loạn lúc lâm nguy, đã “chung lưng đấu cật” phò chúa. Ông nội của ngoại là Phạm Kế Tiết, về hưu được sắc phong Hàn lâm viện Thị độc, Phụng Thành đại phu. Dù vậy, ông không cam tâm hưởng nhàn khi đâu đó những người đồng hương Gia Định, hay nói rộng ra là người miền Nam, vẫn còn sống rải rác nơi xứ Thần kinh chưa hội tụ chung cùng. Ông tiếp tay Nam Châu hội quán, trực tiếp khẩn hoang lập ấp, và khai hoang vỡ đất”.
Lời ngoại nói, tôi rung cảm. Tôi hiểu rằng: “Đất sanh quê, Người sanh nhà”. Hai tiếng “Quê-Nhà” hợp thành “dây tơ rễ má” thắt lòng bao người con xa xứ!
Mưa Huế, nắng Thừa Thiên!
Mưa nắng đó, là mưa nắng Thuận Hóa. Trong mưa có nước mắt, trong nắng có mồ hôi của lưu dân bốn đợt (4)  nhập cư mở cõi. Và bốn đợt nhập cư đó đã có lần gián đoạn trên trăm năm, kể từ sau 1672, khi Trịnh – Nguyễn lấy sông Gianh làm giới tuyến tạm thời chia cắt đất nước. Vận nước gắn liền thân phận dân đen như vậy thì đành vậy! Mãi tới lúc thời xoay thế chuyển, vua Quang Trung-Nguyễn Huệ đánh tan quân Trịnh, nối đôi bờ Nam-Bắc sông Gianh (1786), dân tiếp tục nhập cư và đợt nầy, chẳng những dân từ phía Bắc đổ vô vùng Thuận Hóa, còn có cả dân Nam-Bình-Ngãi-Phú vốn là thân nhân chiến binh của đoàn quân Nguyễn Huệ.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, những công thần và tướng sĩ đem gia đình từ đất Gia Định ra Phú Xuân định cư lập nghiệp. Thuận Hóa đùm túm lưu dân bằng tấm chơn tình ủ men Huế! Dân ngụ cư với dân cư cùng “đồng cam cộng khổ”, chung cuộc thăng trầm. Và rồi, thế sự thuận nghịch, đổi dời; họ đều ở trong con thuyền trôi theo dòng lịch sử… Huế tất cả!
Một lần, ngoại nhắc lời Hoàng Thái hậu Từ Dụ dạy: “Người miền Nam ra Kinh đô phục vụ triều đình, định cư miền Trung. Vì vậy, gọi là Nam Trung”(?).
Tôi thoáng nghĩ khác; hay là “Người miền Nam (Gia Định) trung với vua!?”.
Không rầy, ngoại chậm rãi nói: Ba cửa sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương hình thành Tam Giang. Nghe đâu vua Minh Mang đổi Hạt Hải, có nghĩa biển cạn thành Tam Giang “Nước sông sâu, gió bất trắc, thuyền bè dễ gặp nạn”. Và phá, bởi một bộ phận nước bị ngăn hoặc bị chặn lại do dãy đá, có khi là rặng san hô vòng. Nam Trung là một địa danh; và địa danh đó nếu hàm ý là người miền Nam trung với vua cũng không sai, nhưng chưa hẳn đúng. Nam Trung vốn xưa là Nam Châu,  có nghĩa: “Người miền Nam lập thôn nơi bãi đất”, và vì được bao bọc bởi sông Đại Giang, phá Tam Giang nên người đời thường gọi “xứ cát”.
Hình như tia mắt ngoại chồng lên tia nắng chiều bát ngát mặt nước phá nhấp nhô sóng.
“Người miền Nam trung với vua, điều đó thì không cần tranh cãi; nhưng người miền Nam yêu vua không bằng yêu đất nước. Vua có thể mất, nước thời không”.
Rồi ngoại nói chắc cứng: “Nước trên vua, vua mần sao trên nước? Người ta giữ nước chớ bao thuở giữ vua, nếu vua chỉ là thứ hôn quân vô đạo!”.
“Đó có phải là tánh cách trượng nghĩa của người Nam Kỳ không, ngoại?”.
Không trả lời câu hỏi của thằng cháu hay hỏi, ngoại nói thơ điệu Lục Vân Tiên:
“Mai sau chi sá ai còn mất
 Vạn đại giang sơn, vạn đại vui”.(5).
 
Ba.
Mười năm, ngoại đã là sương khói nơi sóng nước phá Tam Giang.
Với tôi, Nam Châu là quê nhà!  Với tôi, những câu chuyện “Làng Nam Bộ trong lòng xứ Huế” mà lúc sanh thời, ngoại chầm chậm kể suốt bao chiều trôi lênh đênh trên dòng thời gian phôi phai ký ức. Tôi nhớ ngoại nói: “Chín họ tộc còn gọi ‘Cửu tộc’, bản quán người miền Nam tụ về làng Nam Trung…”.
“Chắc là ngoại đã quên?”, tôi ướm lời.
Ngoại cười như là tín hiệu “rành cái tánh tinh nghịch của thằng cháu”. Ngoại kể vanh vách: “Chín họ tộc: Phạm Đăng, Phạm Hữu, Phạm Kế, Đinh, Lê, Trần, Phan, Đoàn, Đặng Ngọc (6) . “Đất lành chim đậu”, sau nầy có thêm các họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Trung, Hoàng Trọng…”.
Rồi,đột ngột ngoại nói nhanh: “Người miền Nam ra Huế phục vụ triều đình ắt tìm đồng hương chung sống, nếu không muốn sống lẻ loi”.
Tôi ngẫm nghĩ: “Ngôi làng quan, mọc lên giữa lòng thứ dân. Vì sao có thể yên ổn và thân thiện? Hạng quý tộc, vì sao có thể trong ấm ngoài êm trước cảnh lầm than và sự đói lạnh của dân lành?”. Tôi im lặng. Tự đáy lòng, tôi khao khát có một Thái Tông hoàng đế đi du thuyền dạo chơi phá Tam Giang, chợt thấy lũ sóng yêu hại thuyền dân chúng, ngài nổi giần bèn sai quan binh đem đại pháo ra bắn, “trúng được hai ngọn sóng máu phun ra đỏ dòng nước, còn một sóng chạy ra biển cả trốn mất…”.
Ngoại như đọc được tâm trí tôi: “Cần chi tới thiên tử như Thái Tông hoàng đế, hả cháu? Người miền Nam có tiếng trượng nghĩa khinh tài, tính cách bộc trực, khí phách, hào sảng; bản chất hồn hậu, thương người… Cứ coi truyện Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu thì sẽ rõ. Và, với họ thì “Đừng ham hốt bạc ghe chài – Cột buồm cao bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi” (7) .
Cuộc sống giúp tôi nhận ra “Làng quan”  ngày đó được dân che chở lúc biển động, sóng to; được dân tin yêu những khi trái gió, trở trời… Vì như ngoại thường nói: “Hồi nẳm, mần quan không đồng nghĩa mần giàu; kẻ có quyền chưa chắc đã có lực… Tất cả buộc ràng bởi kỷ cương phép nước; bởi lòng tự trọng và biết hổ ngươi của quan lẫn dân”.
“Vậy họ mần quan để làm gì, hả ngoại?”.
“Để phò vua, cứu nước, giúp dân…”.
Có lẽ biết mình nói theo quán tính của thời còn là “khuê nữ đài các” con quan; một lát sau, ngoại nhỏ nhẹ: “Phải có danh gì với núi sông. Họ mần quan để thi thố tài năng, thỏa chí kẻ sĩ, và nhứt là làm rạng danh dòng tộc, quê nhà. Tất nhiên, cũng có những kẻ chẳng ra gì”.
Trời khuất mình Đại Giang.
Dường như ngoại nói khẽ:
“May mà làng Nam Trung không có những kẻ như thế đó!”.
Tư.
Người làng Nam Trung sống chan hòa tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau. Bằng tấm chơn tình người miền Nam, họ đã mở toang cánh cửa “tính cách Huế”!  Đồng thời, họ khắc cốt ghi tâm công đức những bậc tiền hiền: Phạm Đăng Hưng, Phạm Kế Tiết, Phan Thanh Giản, Trần Đạo Tế, Trần Trạm, Đặng Ngọc Oánh, Phạm Hữu Văn, Nguyễn Trọng Tịnh… đã góp sức lập làng nhưng không “chôn nhau cắt rún” ở làng. Đó là chưa kể những “công dân danh dự” của làng như Trương Vĩnh Ký, Luật sư Diệp Văn Kỳ, Hiệp tá Hồ Phú Viên… đóng vai trò không nhỏ trong công cuộc phát triển làng Nam Trung (8) .
 Chiều cuối năm, tôi đứng nhìn những cánh chim trời bay về cố xứ. Hồn đất nước hòa quyện tình người, hương vị nồng nàn yêu thương sông núi. Tiếc cho những ai vì “miếng đỉnh chung” hay vì lợi ích trước mắt của cá nhân, bè nhóm… hoặc vì mục đích khác khiến tâm u tối, đành đoạn cắt núi lấp sông tàn phá “long mạch giang sơn gấm vóc”. Hỏi “long mạch” đó ở đâu, ngoại tôi nói: “Ở lòng người”!
Huế dỗ dành làng Nam Bộ trong lòng Huế bằng tiếng ru của người mẹ, bất kể lúc nắng lúc mưa!
Nam Châu hay làng Nam Trung thân thương! Mảnh đất hoá thân của Đất phương Nam ngày cũ! 
CTH.
(tạp chí Sông Hương, số Đặc biệt tháng 3.2018)
………………………………………………………………………………..
Chú thích:
1. Năm 1904, vua Thành Thái cấp đất và cho lập thôn Nam Châu (Nam Trung) thuộc làng Phú Đa, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, giúp các dòng họ gốc Nam Bộ có nơi thờ cúng, tế tự. Trước 1975, vẫn là thôn Nam Trung (xã Phú Đa, quận Phú Thứ (tỉnh Thừa Thiên). Sau 1975, lấy lại tên thôn buổi đầu là  Nam Châu, thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
2. Vua Minh Mạng gả Công chúa Nguyễn Phước Vĩnh Trinh (con gái thứ 18) cho Phạm Đăng Thuật là con trai của Phạm Đăng Hưng; vua cũng cho Thái tử Miên Tông kết hôn với Phạm Thị Hằng là con gái của Phạm Đăng Hưng. Khi Thái tử Miên Tông lên ngôi lấy hiệu Thiệu Trị thì bà Phạm Thị Hằng được phong làm Chính thất Quý phi, sanh ra Hoàng tử Hồng Nhậm, sau này là vua Tự Đức. Do đó, bà Phạm Thị Hằng được phong làm Hoàng thái hậu Từ Dụ.
3. Bố chính tỉnh Thanh Hoá là Phạm Hữu Văn (1882-1946), đậu tiến sĩ khoa Quý Sửu (1913), lưu danh tại văn bia Tiến sĩ ở Văn Thánh, Huế; lúc về hưu được thăng hàm Thượng thư; vốn là người gốc Bến Lức (Long An). Con trai của Phạm Hữu Văn có bác sĩ Phạm Biểu Tâm (1913-1999), sanh tại làng Nam Trung, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
4. Nhập cư đợt thứ nhất, thời Trần – Hồ (1307-1428). Nhập cư đợt thứ 2, thời Lê – Mạc (1428-1558). Nhập cư đợt 3, thời Trịnh – Nguyễn (1558-1786). Nhập cư đợt 4, thời Tây Sơn – Triều Nguyễn (1786-1945).
5. Thơ Nguyễn Khắc Dương.
6. Cửu tộc gồm các họ Phạm Hữu, họ Phan, họ Trần, họ Nguyễn Trọng, họ Nguyễn Trung, họ Đoàn, họ Lê, họ Đặng Ngọc, họ Đinh; về sau có thêm họ Hoàng Trọng (“Về nguồn”, Đinh Khắc Thiện).
7. Ca dao.
8. Theo Đinh Khắc Thiện, Nam Trung có lớp hậu duệ tộc họ làm nên tên tuổi làng, như họ Phạm Đăng có họa sĩ Phạm Đăng Trí nổi tiếng xứ Huế; họ Phan Thanh có nhà thơ Phan Thanh Phước, nhà giáo Phan Thanh Hy; họ Đoàn có nhà nghiên cứu tuồng Đoàn Nẫm, Đoàn Nông; họ Đặng Ngọc có chủ rạp hát bội Ba Tuần ở Huế, Đặng Ngọc Hùng (Năm Hùng) khai sanh ngành kịch nói; họ Đinh có Đinh Văn Sum chủ nhà in ở Gia Hội, họa sĩ Đinh Cường nổi tiếng tranh trừu tượng…

(more…)

Read Full Post »

Nồi canh chua lá giang

Cao Thị Hoàng
 
Một.
Cày đứng buổi, đôi trâu sùi bọt mép. Tư Rõ trật ách thả trâu, nắng tháng hai như đổ lửa xuống cánh đồng đốt dây ruộng gò ngổn ngang đất lật phơi ải. Tay cặp nách roi cày, tay cầm ngửa cái nón lá rách quạt xành xạch, Tư cố rứt hơi nóng ra khỏi mình mẩy nhễ nhại mồ hôi. Lúc dợm chưn bước lên bờ về nhà, Tư sực nhớ cô Hai con bà Sáu Đủ nhờ anh kiếm mớ lá giang để ngày mai nấu canh chua cua kình giỗ tía.
Mùa nầy, cây lá giang không thể sống nổi trên những gò cao bởi đất khô khốc, nứt nẽ. Tư mang cái bụng đói đang đòi cơm, đi men theo lối mòn ven rạch Bà Lý quơ dây lá giang. Chợt Tư bần thần trong cái bâng khuâng đầy xúc cảm bởi, tiếng à ơ ru em của ai đó thấu hiểu nỗi lòng anh.
”Thương em chẳng lọ xấu, xinh
Lá giang nấu với cua kình cũng ngon” (Ca dao).

(more…)

Read Full Post »

Chuồn Chuồn điểm nước

Cao Thị Hoàng
.
69b120315kptin10
Chuồn Chuồn bay thấp thì mưa
                           Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm!
                                                            (ca dao)
                         Nắng vàng vọt cuối năm.
                         Tiểu Tử đứng một chân trên đầu bông cây Lác mọc ven đìa, mắt ngong ngóng về bờ Nam chờ Chuồn Tím. Chợt Tiểu Tử nghe tiếng trẻ con đùa giỡn, la hét vang dội ở góc đìa. Hình như chúng rượt đuổi bắt chuồn chuồn. Bằng mắt kép với 3 vạn con mắt nhỏ tụ thành, Tiểu Tử nhận ra Chuồn Tím sắp thọ nạn. Nhanh hơn gió, Tiểu Tử sử dụng thủ pháp Bích hổ du tường,lượn mình bay dựng đứng qua rào cứu bậu. Nhờ cánh trước, cánh sau có thể cùng lúc hoạt động độc lập, Tiểu Tử cụp đuôi xuống cho Chuồn Tím bấu vào, rồi thình lình quạt cánh bay ngược về phía sau; lũ trẻ lỡ trớn trố mắt nhìn theo ngơ ngác!
          Chuồn Tím thút thít:
         – Bậu coi, chiều nào bọn trẻ trong xóm cũng kéo nhau ra bắt chuồn chuồn, xỏ đít bằng cọng rơm, bằng cọng cỏ chỉ… thả cho bay và mang theo những thứ khủng khiếp ấy, để chúng coi hứng chí vỗ tay. Sau đó, chuồn chuồn chết! Hồi nảy, bậu cứu không kịp, em sụm bà chè rồi chớ chẳng chơi.
          Mặt đìa nước lăn tăn, gió lao xao rừng Lác. Bầy chuồn chuồn đầy màu sắc bay đến hỏi han, đồng thời báo tin dữ:
         – Bọn trẻ rình tóm được một số anh chị bay không kịp, chúng bắt từng cặp cụng nhau lỗ đầu, sứt trán; gãy cánh, rớt đuôi…banh xác! Một số còn lại, chúng đè đầu bắt cắn lỗ rốn – cái lỗ rốn sâu quắm đen ngòm, bốc mùi nghẹt thở. Trẻ kháo nhau:”Chuồn Chuồn cắn rốn mau biết bơi?”.
          Chuồn Đỏ Tía đang thao thao kể chuyện, Chuồn Tím cắt ngang, hỏi:
         – Mầy nói thiệt hả! Sao lạ vậy?
          Tiểu Tử chen vào:
         – Bậu không biết đó thôi, gây một hành động có thật: ”Chuồn Chuồn cắn rốn” nhằm tạo điều không có thật:”mau biết bơi”. Kết quả, hễ trẻ con hoặc ai đã trải qua ”Chuồn Chuồn cắn rốn” thì đương nhiên ”mau biết bơi”. Cách xây dựng niềm tin cho người nhát nước khi lần đầu xuống nước tập bơi.
           Chuồn Đỏ Tía thốt lên:
          – Con người ghê gớm thiệt!
           Tiểu Tử tiếp lời như giải thích:
          – Không ghê gớm sao gọi con người? Song, chuồn có cánh, người thời không. Ông bà ông vãi tự ngàn xưa, căn dặn ta né tránh con người bằng biện pháp cảnh giác:”Chuồn Chuồn có cánh thì bay / Có thằng nho nhỏ thò tay bắt chuồn”. (ca dao).
                                                   *
                                               *       *
                 Động vật trên toàn thế giới, đều bái chuồn chuồn đực là”sư phụ cưỡng dâm”. Vì vậy, ông Trời cấu tạo bộ phận sinh dục nằm ở giữa ngực chuồn chuồn cái; hẳn là ngăn chặn phần nào sự cưỡng dâm ấy. Có lẽ cũng phải thôi, bởi quỷ thời gian sống của chuồn chuồn quá ngắn ngủi, sau ba bốn năm làm thân con Cơm Nguội trên mặt nước và phải trải qua đớn đau chí ít trên 10 lần lột xác; con Cơm Nguội mới biến thành Chuồn Chuồn trưởng thành.Thế mà, trời không thương chỉ cho chuồn chuồn ngót nghét sống chưa đầy 2 tháng; hỏi sao nó chẳng gấp gáp ”yêu đi em, chiều hôm tối rồi!”.
               Thật tình, chuồn chuồn cái dâm đãng hơn bội lần chuồn chuồn đực. Sợi chỉ xỏ qua lỗ kim, nếu lỗ kim nhút nhít thì sợi chỉ mần sao xỏ? Chuồn Chuồn cái không thuận lòng, đố cha chuồn chuồn đực nào cưỡng dâm được. Cớ sự là vậy, thiên hạ xấu mồm xấu miệng gieo tiếng ác nói nó cưỡng dâm. Đôi khi, ngược lại thì có.
                          Chuồn Tím lồ lộ phơi bày 10 đốt chạy theo đuôi, mỗi đốt có lỗ khí ửng hồng  khiêu khích. Tiểu Tử lao tới, Chuồn Tím uốn cong thân bụng và ưởn ngực vế phía trước, bộ phận sinh dục nở rộng để cơ quan giao cấu của Tiểu Tử đút sâu vào bên trong. Tiếng vo ve phát ra theo đường bay lượn lên xuống mùi mẫn. Thời điểm đạt đỉnh, thân bụng Chuồn Tím cong như cánh cung; đôi cánh trước, đôi cánh sau căng cứng; những lỗ khí phát hơi như làn sương mỏng, cũng là lúc Chuồn Tím nhận dòng tinh từ túi tinhTiểu Tử bắn cực mạnh vào tận chốn thâm cung, toàn thân run rẫy chao nghiêng và cả hai dìu nhau sà xuống mặt đìa điểm nước. Cú điểm nước ấy, Chuồn Tím đẻ trứng. Vòng đời chuồn chuồn con bắt đầu: Trứng – Ấu trùng (con Cơm Nguội) – Chuồn chuồn trưởng thành!
                          Sau lần ân ái đó, Chuồn Tím thỏ thẻ kể chuyện cho bạn nghe. Chuồn Đỏ Tía bảo:
                          – Được Tiểu Tử lấy, mầy hạnh phúc hơn tau. Số tau toàn gặp cảnh mây mưa hội đồng, cả bầy vây lấy, cả bầy tranh cuộc. Lần nào tau cũng hụt hơi, dập ngực. Tức muốn ói máu!
                          – Chắc là tại thân hình mảnh mai duyên dáng và cái màu cánh đỏ tía vừa bắt ghét, vừa bắt yêu, rất hấp dẫn của mầy.
                          Chuồn Tím nói lời giải thích an ủi bạn. Rồi, nửa đùa nửa thật với bạn: Hay là, một ngày nào đó, tau cho mầy mượn chàng Tiểu Tử của tau xài tạm. Mình xài chung nhau cũng đặng cơ mà! Đời chị em mình ngắn ngủi phù du: Kiếp chuồn chuồn! Điểm nước, đã là xong nhiệm vụ truyền nòi giống theo lập trình sẵn có của ông Trới. Tình dục cũng chỉ nằm trong cải vòng kiểm soát của Thượng Đế, một Tiểu Tử hay một bầy Tiểu Tử có khác gì nhau khi làm chuyện ấy? Khác nhau, có lẽ là sự mệt lã; nhưng sự mệt lã nào không đem đến nguồn khoái cảm tuyệt cùng! Tau cũng vậy, nhiều lúc Tiểu Tử quần tau nhừ tử, điểm nước xong, tau nằm sải cánh lên cỏ và bất biết trời đất.
                           Chuồn Đỏ Tía giựt mình:
                           – Chết! Chết! Nghe mầy nói tau hoảng quá! Có ngày bọn trẻ nó rình gặp thì đời mầy tiêu.
                           Chuồn Tím thở dài:
                            – Biết sao bây giờ? Bọn mình chỉ sống theo bản năng trong cái khung thời gian định sẳn. Chẳng hiểu ”cái ta và cái không phải ta” là cái quỷ quái gì, thì hiện tượng của khách quan kia cũng chỉ là hư ngụy. Phật nói thương chúng sinh vạn vật, trong đó có bọn mình; nhưng thương mần sao mà vòng đời bọn mình chưa đầy 2 tháng? Thương mần sao mà để bọn mình quên mất”bản lai diện mục?”.
                      – Bọn mình gắng tu nhiều kiếp, có thể đến muôn kiếp – tùy duyên – mới họa hoằng thành người. Thành người, trời mới ban cho trí tuệ, có trí tuệ thì có suy nghĩ và  ý thức về cuộc sồng. Nói đi cũng phải nói lại: Kẻ có trí tuệ mà rời xa thực tế, kẻ đó không thể sáng suốt. Tau với mầy thuộc về con vật không phải con người, đừng rờ mó váo cái hoàn toàn thuộc về Thượng Đế. Chơi cái đã, mầy nói cho tau mượn và tạm xài Tiểu Tử, nhớ nha!
                             Chuồn Đỏ Tía cất cánh bay đi, buông tiếng cười khanh khách!
                                                   *
                                               *       *
                             Trời gom nắng un khói để chuyển chiều.
                             Chuồn Tím đong đưa trên cành lá cỏ chờ Tiểu Tử. Thình lình, một bầy chuồn chuồn không biết từ đâu ập tới vây kín Chuồn Tím và luân phiên nhau cưỡng dâm. Chuồn Tím lên xuống điểm nước liên hồi, điểm nước đến lúc trời chiều dứt nắng và bầy chuồn chuồn thỏa sức bay đi. Chuồn Tím bơ phờ, nằm sải lai trên lưng cỏ trong cơn mê buồn ngủ.
                             Gió đồng nội thổi liu riu, Chuồn Tím thức giấc và nằm nướng. Cánh mỏi và ngực ê ẩm, rang nhức như muốn vỡ ra. Chợt có tiếng người ru con văng vẳng: ”Chuồn chuồn bay thấp thì mưa / Bay cao thì nắng, bày vừa thì râm”. Chuồn Tím nghe lòng ấm lại. Hóa ra, chuồn ta sống trong cõi nhân gian nầy không phải là loại vô tích sự. Chuồn chuồn dự báo thời tiết giúp con người và tất nhiên, giữa trời với chuồn chuồn có sự giao cảm liên thông nhất định nào đó. Chỉ dấu mưa nắng của trời đất từ cánh bay chuồn chuồn. Nhưng chẳng thiếu những điều trái khuấy, khi kẻ nghèo khó ít đi buôn, người đời thường gọi vốn chuồn chuồn; nhà nào sinh toàn con gái, gọi rằng tổ chuồn chuồn. Thật ra, chuồn chuồn đâu có tổ – chuồn chuồn thích du tử, rài đây mai đó khắp bốn phương. Đời chỉ có thế: ngắn ngủi, cần chi xây tổ để buộc ràng? Chuồn chuồn gần gủi với người, tự coi mình bạn thân tuổi thơ của trẻ. Ở miền quê, có trẻ con nào chẳng gắn tuổi thơ êm đềm của mình với chuồn chuồn. Vậy mà, con người – nhất là trẻ thơ, đối xử với chuồn chuồn nhẫn tâm. độc ác. Nghịch lý ấy mãi mãi tồn tại, chẳng ai lý giải và quan tâm.
                               Rồi Chuồn Tím nhớ liệt tổ khi xưa truyền lại: Hình dáng chuồn chuồn giúp con người nghĩ ra mũ cánh chuồntrong định chế xiêm y triều phục thời phong kiến, nhằm phân biệt văn quan võ quan. Mũ cánh chuồn thuộc về quan văn từ thời nhà Tống bên Tàu, thuộc thời nhà Đinh khoảng 1059 đất Việt. Còn vì sao con người chọn cánh chuồn chuồn làm biểu tượng mũ cánh chuồn, thì liệt tổ không nói. Có lẽ, để giữ một lời nguyền gì đó với con người cũng nên?
                              Về sau, con người dùng trí tuệ trời ban, tiến hành nghiên cứu hình dáng và đặc tính của chuồn chuồn và đã thành công trong việc ứng dụng công nghệ chế tạo máy bay hạng nhẹ – vinh danh máy bay chuồn chuồn – sản xuất ra các thiết bị do thám trong dân sự và quân sự; cứu người và giết người. Trị vì khó mà dễ, cai trị dễ mà khó. Từ chuồn chuồn phát minh và ứng dụng công nghệ khó mà dễ, sử dụng ứng dụng công nghệ ấy nhằm mục đích gì, cho ai? Dễ mà khó! Bản năng con người vốn vô cùng phức tạp, trí tuệ con người càng vô cùng phức tạp hơn. Con người ỷ mình có trí tuệ mà vạn vật không có, đã vĩ cuồng phá và thay đổi quy luật sinh thái, tạo biến đổi khí hậu từ hiệu ứng nhà kín…Khát vọng muốn nội soi, banh trời để tìm hiểu. Một số việc muốn thay trời cai trị trần gian. Một số loài biến mất, sắp biến mất…trong đó có chuồn chuồn, do bàn tay con người!
                              Chuồn biểu tượng cho sự bình yên, cho không gian đa sắc màu vũ trụ, chứ chẳng phải chuồn theo kiểu ”Tam thập lục kế…”. Hỏi rằng trên hành tinh nầy, có nơi nào hình thành được cái làng Chuồn độc đáo, cái đầm Chuồn mênh mông và thơ mộng? Chỉ có Huế của Việt Nam. Chẳng biết từ lúc nào, một bộ phận dòng tộc chuồn chuồn đã tụ về sinh sống trong cái đầm thuộc quần thể phá Tam Giang. Người thấy dễ ăn dễ ở, dắt díu nhau theo gót chuồn chuồn đến đây lập làng. Từ đó, làng Chuồn – tên chữ An Truyền – nổi tiếng họ Đoàn, triều Nguyễn gọi ”Đoàn giặc” , ý ám chỉ cuộc nổi dậy của Đoàn Trưng, Đoàn Trực. Và, họ Hồ Đắc đã nở sắc khai hương lan tỏa khỏi làng. Điều thích thú về ẩm không chi bằng ”Rượu làng Chuồn” mà hương vị làm mê lòng bao đấng mày râu. Đầm Chuồn ngoài vẻ đẹp thiên nhiên điền dã, người khoái khẩu về thực không chi bằng món cá Kình cá Chuồnthịt thơm lừng…Chuồn là vậy, Chuồn của chuồn chuồn hữu ích cho người vô số kể. Bạn chưa tin? Thử một lần đến Huế, rồi một sớm rời Huế khoảng hơn 10 cây số, đi qua Quốc lộ 49 rẽ về hướng An Truyền, hẳn bạn sẽ rõ và tin Chuồn Tím chẳng xạo sự chút nào.
                             Nhớ có lần theo Chuồn Đỏ Tiá sang gặp Chuồn Ớt, nhờ coi mấy cái mục ruồi mắc dịch mọc lùm xùm trong mình. Chuồn Tim chăm chú nghe Chuồn Ớt giảng giải: Mục ruồi mọc ra như núi mọc cây cỏ, đất nổi gò. Nếu núi đẹp, ắt sẽ mọc cây cỏ đẹp. Nếu đất xấu, ắt mọc gò đồi xấu. Có chi mà băn khoăn lo lắng? Rồi Chuồn Ớt dặn dò kỹ lưỡng, rằng mục ruồi son ẩn quý tướng, nhưng phải là son đỏ như chu sa thì mới tốt; nếu không sẽ là ngược lại. Mục ruồi đen nếu lồ lộ là hung, nếu ẩn nơi kín là kiết, nhưng phải là đen nhánh, đen tuyền; nhược bằng chẳng được vậy, ắt gặp tai ương.Chuồn Tím đâm rầu, vì ở thành mép chỗ bộ phận sinh dục của mình có mọc một mục ruồi to tổ bố màu xám tro. Trên đường bay về đìa, Chuồn Đỏ Tía thấy Chuồn Tím đăm chiêu nên nói: Mầy để bụng chi những điều bá láp; coi là coi vậy thôi, chứ thiên cơ bất khả lậu.
                             Dẫu rằng bạn nói cứng, nhưng Chuồn Tím vẫn đắn đo: Nào tự nhiên, đâu ngẫu nhiên mà mục ruồi mọc chỗ nầy không mọc chỗ khác. Như chuồn chuồn Bạc, ba con mắt đơn và ba mắt hình lục giác tụ thành con mắt kép; trong lòng mắt kép mọc mục ruồi thì y như rằng, tình duyên lao đao lận đận. kẻ thứ 3 chen vào tan nát ”hôn nhân”. Bạn mình nhóc đứa thay ”người yêu” như thay áo.Nhìn kỹ, đứa nào đứa nấy đều có mục ruồi mọc ở vành tai… Thật ra, mọi sự vật, mọi động hoặc tịnh trong trần gian đều có ứng chứng; cái ứng chứng đó gọi là ”điềm”; cái ”điềm” ấy gần như là hiện tương báo hiệu. Bọn con nít, bắt chuồn chuồn thường dùng các ngón tay chúm lại, tõe ra. Người sắp chết, các ngón tay tõe ra chúm lại, bàn dân thiên hạ gọi ”bắt chuồn chuồn”. Sự đời, thôi thì ”Có cúng có thiêng, có kiêng có lành” vậy!
                  Miên man nằm nghĩ lung tung, Chuồn Tím không để ý bọn trẻ đang rình và rắp tâm chúm ngón tay bắt bất ngờ. Chuồn Tím thúc thủ và đành thân ”chim lồng, cá chậu”, chờ sáng mai  bọn trẻ hành hạ bằng những trò chơi chúng thích.
                  Tiểu Tử và Chuồn Đỏ Tía bay trong tâm trạng thản thốt, cố moi mọi ngõ nghách tìm Chuồn Tím trước khi trời sụp tối. Sương là đà khắp mặt đầm, những con  Cơm Nguội nhai ngầu nghiến Bọ Gậy, âm thanh phát ra rào rạo. Cả hai bay gần rã rời cánh, vẫn không tim được dấu vết của Chuồn Tím.
                                                   *
                                               *      *
                                        Những tia nắng ban mai xuyên qua chuồng trâu ngã màu vàng lốm đốm mặt sân. Bọn trẻ đứa ngồi chồm hổm, đứa đứng chỏng khu đít, vỗ tay hò reo kích động giúp Chuồn Tím cụng lộn với Chuồn Lửa. Tiểu Tử và Chuồn Đỏ Tía đậu trên chái lá, mấy lận định nhào xuống cứu Chuồn Tím nhưng không thành. Cả hai rơi nước mắt và  bất lực nhìn Chuồn Tím đuối dần giữa đấu trường nghiệt ngã và sinh tử. Bọn trẻ nhìn thấy hai con chuồn chuồn đa sắc màu rực rỡ, vội lấy vợt chụp lên chái lá. Cả hai hú hồn bay trối chết. Khi quay lại, Tiểu Tử và Chuồn Đỏ Tía thấy con gà mái dầu đang mổ xác ăn Chuồn Tím và Chuồn Lửa. Than ôi! kẻ thắng, người bại, đều chết thảm như nhau!
                              Ba hôm sau, người ta rút bọng tháo đìa bắt cá. Nước cạn dần và đìa chắt khô nước. Một cú đánh chí tử vào đới sống của chuồn chuồn. Bởi, nước là nguồn sống, là nơi sản sinh và nuôi dưỡng Cơm Nguội lớn lên và trưởng thành chuồn chuồn.
                                Chuồn Đỏ Tía ôm Tiểu Tử vào lòng , lẩm nhẩm:
                              – Chuồn Tím ơi! Tau mượn và xài tạm Tiểu Tử một lần, duy nhất một lần – Lần đầu cũng là cuối!
                                Cái bụng thon dài của Chuồn Đỏ Tía rướn cong như vành thúng, đón nhận bộ phận sinh dục Tiểu Tử thọc lút cán vào lỗ huyệt giữa ngực. Toàn thân Chuồn Đỏ tía run bắn lên. Cả hai móc sát nhau, đảo mấy vòng trên thành đìa, như nuối tiếc bầu trời trong xanh và mây trắng bay lang thang về nơi vô định. Chợt Chuồn Đỏ Tía dùng toàn lực còn lại, đẩy Tiểu Tử lên cao rồi bổ nhào xuống mặt đìa điểm nước đẻ trứng. Nhưng nước cạn đìa không còn mặt.Cả hai ôm nhau rơi tự do và câm phập xuống đáy đìa giẫy chết trong bùn sình.
                                 Không còn nước để điểm, chuồn chuồn tiêu vong!
CAO THỊ HOÀNG
Tháng 2 năm 2014

Read Full Post »

Đời Bọ Hung

(more…)

Read Full Post »

Chim vịt kêu chiều

       Cao Thị Hoàng  
134215_1377584482
         Vẳng nghe chim vịt kêu chiều
         Thương quê, nhớ mẹ, chín chiều ruột đau!
                                                  (ca dao)
          Một.
 .
                 Gà và Vịt đôi bạn thân, tuy dòng giống có khác nhau, nhưng cùng loài gia súc của nhà Mụ Sáu. Có điều, Vịt bơi dưới nước cũng đặng, đi bộ trên đất cũng xong. Gà thì bay nhảy mặt đất, té nước coi như toi mạng. Mỗi chiều, thường khi Gà, Vịt gặp nhau trao đổi vài ba câu chuyện trong nhà, ngoài ngõ; rồi mạnh ai nấy kiếm chỗ ngủ. Một hôm, Gà ra chiều bí mật, gọi Vịt:
                 – Hồi trưa, lui cui lượm cơm đổ qua khe bộ ván, tui nghe Mụ Sáu biểu con Hai lo đồ cúng tam sanh vào lúc trời chạng vạng tối nay.
                   Vịt kêu cạc…cạc…mấy tiếng, vừa ỏng ẹo, vừa thắc mắc:
                 – Cúng tam sanh là cúng mần sao? Cúng nơi đâu, hỡi anh Gà trống – có bộ bộ sắc màu quyến rũ?
                   Gà trống được Vịt Xiêm mái khen, cái mồng đỏ chót dựng ngược, chưn phải cào xuống đất:
                 – Cúng tam sanh tại ngã ba bờ, còn cúng mần sao thời tui hổng biết. Muốn biết, tụi mình rình coi cho biết.
                 Gà trống vươn vai, bước chưn mạnh mẽ, vỗ cánh bay lên cành tre mắt hướng về ngã ba bờ. Trong lúc đó, Vịt Xiêm mái chưn đi hai hàng, đít sà sà, thân lạch bạch và dừng lại mép ruộng trong nắng chiều nhờn nhợt trên ngọn tre.
                 Con Hai khệ nệ mang phẩm vật ra ngã ba bờ cùng Mụ Sáu cúng tam sanh. Tàu lá chuối xé đôi, trãi ngay ngắn, phẩm vật gồm có: Một trứng hột vịt, một miếng thịt ba rọi, một con tôm. Tất cả được luộc chín, vì sợ phảm vật sống sít thần ăn chọt bụng. Cúng vái xong, hai má con ngoe ngoải trở vô nhà.
                 Mù sương bắt đầu giăng qua cánh đồng tháng chạp. Trời nhá nhen tối. Vịt Xiêm mái bất chợt rùng mình rớt xuống mương ruộng, khi nghe tiếng cười khanh khách của Thổ thần. Ngài đã đến. Ngài ngồi chễm chệ, mắt đờ đẫn, miệng nhai ngấu nghiến lễ vật.
                 – Đứa nào lúp ló đó bây, đến ta biểu coi.
                  Tiếng của Ngài vang như tiếng trống đình, Gà trống sợ quíu đít, buông cánh rời cành tre, rớt xuống đất nghe một cái bịch, dông mất. Vịt Xiêm mái chưn run cầm cập, leo lên bờ.
                   Thổ thần vừa ăn tôm luộc, vừa phủ dụ Vịt Xiêm mái:
                  – Đừng sợ! Đừng sợ! Ta không hại mi đâu. Gà trống rủ mi đi coi cúng tam sanh, lúc có chuyện bỏ mi chạy lấy thân. Bằng hữu như thế, người đời họ gọi là Gà rót. Mi gặp ta cũng là cái duyên, có điều chi muốn xin, cứ nói.
                  Vịt Xiêm mái rút cổ, mọp đầu, nhắm mắt, không dám ngước lên nhìn Thổ thần. Thấy thế, Thổ thần bảo: Ta nào phải Trời mà cấm ngó dung nhan, có dung nhan để muôn loài ngắm, muôn loài không ngắm thì có dung nhan để mần chi? Chẳng qua, vì gieo nghiệp ác, sợ muôn loài biết rõ dung nhan, sẽ nhớ thù, báo oán? Thôi, thời khắc sắp hết, mi xin chi, nói!:
                  – Dạ! Con chẳng xin chi. Mọi thứ trong cuộc sống, con muốn tự mình lao động. Có điều con muốn biết: Tam sanh là cái gì mà con người lễ cúng? Tại sao, Trời chọn gà vào 12 con giáp tiêu biểu, còn chúng con thời không? Tình yêu ở chúng con ra sao giữa thế gian đầy bất trắc?
                   – Mi hỏi nhiều, ta không đủ thì giờ giải đáp. Cho phép mi mở mắt ngó ta, mi sẽ hiểu.
                   Vịt Xiêm mái mở mắt, một luồn khói xanh bay lên không trung. Bốn bề vắng ngắt!

(more…)

Read Full Post »

Cao Thị Hoàng
ca-ho-quocte-giaoduc.net.vn3
           1.
                 Mây khói đèn sụp mí trời, Hô trống dìu vợ đang thời kỳ bụng mang dạ chữa ra khỏi hốc đáy sông Vàm Nao. Chồng đẩy vợ trừng lên mặt nước, không gian chiều mênh mông trải dài theo tiếng sóng. Đôi vợ chồng cá Hô vừa thong thả bơi, vừa nói chuyện.
                 – Mình ơi, tui có điều chưa rõ
                 – Điều gì chưa rõ, em?

(more…)

Read Full Post »

Older Posts »