Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Cao Thị Hoàng’

Mùa tát đìa cuối cùng

Cao Thị Hoàng

tải xuống

 

.
       Ở cái làng Vĩnh Đại nầy, ai lạ lẫm gì ông Bảy Củ, một tay thầy đìa nổi tiếng khắp vùng Đồng Tháp Mười. Những lúc rượu vào lời ra, đủ độ cao hứng, ông nhịp đùi:
   – Cá ăn móng như nước cơm sôi trên mặt đìa, chưa hẳn đìa nhiều cá.Tiếng cá táp ”oàm oạp”  vang đìa  nghe nôn ruột, chưa hẳn  cá lóc lớn, mà đó chỉ  là lũ trào cửng,chưa bằng cổ tay con nít, muốn  khoe và chứng tỏ mình vĩ đại.Con cá lóc lớn khi táp mồi chỉ nghe một cái ”cụp” rất êm, rất nhẹ, rồi thôi!  Mỗi lần nói xong, ông thường cười khà khà.
      Ngẫm nghĩ cũng thấy ngồ ngộ, loài cá rất mẫn cảm, biết tung tăng ra đi tự do tìm mồi khi vào mùa nước nổi, biết quay về chốn cũ khi nước rọt dần. Bảy Củ nhớ như in
bài học vở lòng  về cách phân biệt cá lóc lớn, cá lóc nhỏ;  đìa nhiều cá,  đìa ít cá của thầy Tư Xong Xuôi truyền dạy. Ăn tiền chủ đìa là chỗ đó. Thường bờ đìa cỏ hoang mọc um tùm, dày đặc. Thầy đìa nằm sấp ôm cứng bờ, dùng tay rờ qua rờ lại phía dưới mép nước, coi thành và gân bờ có láng o không. Nếu gân và thành bờ láng o, đìa nhiều cá.  Ngược lại, cá chẳng đáng là bao.

        Má con ông Bảy Củ dắt díu nhau về tá túc nơi vàm nước Cái Rưng – Bông Súng lúc tuổi ông vừa nhú qua 15. Mẹ vá con mồ côi, má ông cất cái chòi lợp rơm vách đất
sống tạm trên cánh đồng hoang , ngó ngút mắt, sông nước lênh láng. Hiếm người hiểu rành rọt về đời tư, cảnh riêng của mẹ con ông. Thật ra, ai cũng  khổ như ai, đều bỏ xứ ra đi, đồng cảnh ngộ. Qúa khứ đã qua,tương lai chưa đến, họ hết lòng nhau cho hiện tại.  Bởi, chiến tranh mà!  Má ông chèo đò mướn, ông đi bạn nhà Trưởng ấpTư Xong Xuôi. Gọi biệt danh Tư Điệt là Tư Xong Xuôi, vì hễ mở miệng thì y như rằng, Tư Điệt nói hai tiếng ”xong xuôi”,  rồi nói tiếp theo cái gì thì nói Lấy công tâm mà xét, Tư Điệt làm Trưởng ấp hai mặt, đêm theo tối trời, ngày theo sáng trời. Cũng phải thôi, ở cái vùng Vĩnh Đại nầy, Trưởng ấp đứng một giò dù bên nào cũng bị thịt, đứng hai giò họa hoằng mới có thể tạm sống sót qua ngày.
Tư Xong Xuôi có biệt tài về coi đìa, chỉ cần ngó thế sông, thế nước, hướng gió…là định được khẩu đìa đắc lợi tôm cá hay không. Các chủ đìa trong vùng  tôn ông là thầy đìa.  Bảy Củ  nghèo,  độc nhất chỉ có  bộ đồ vá  đùm vá đụp  dính da, dốt chữ  nhưng sáng dạ, siêng năng, cần mẫn, không từ chối hoặc nề hà những công việc cực nhọc. Lâu ngày chầy tháng,Tư Xong Xuôi cảm mến, tin tưởng và quyết truyền nghề coi đìa cho Bảy Củ. Ông chỉ dẫn từng ly, từng tý,  bí quyết đào và mở miệng đìa:
– Xong xuôi,đào đìa cần nhắm hướng mặt trời đi qua. Mở miệng đìa giữa vạt lung để tháng giêng khi dứt mùa gặt, nước ruộng rọt dần xuống lung, từ lung nước rọt dần xuống đìa. Cá sống  nhờ nước, nước về đâu cá về đó. Đìa sâu, rộng  lại ấm, cá tôm thích hợp, rũ nhau tựu hội và ăn dầm ở dề.
Mỗi lần nghe ôngTư Xong Xuôi nói vậy, Bảy Củ liên tưởng đến sự đời: Cá chết vì  chốn”đìa sâu, rộng lại ấm”. Người chết vì chốn ” phồn hoa đô hội”. Nơi tưởng hạnh  phúc nhất, chính là nơi đau khổ nhất. Rành rành ra đó, chắc gì ai cũng hiểu. Bởi, ai cũng đổ xô giành cái lợi trước mắt, bắt cái gần buông cái xa. Quên bẵng điều ông bàtừng dạy, người nhìn xa, ma nhìn gần. Có lẽ, tình cảnh bây giờ ma nhiều, người ít?

Buổi trưa ngổi giữ đìa giữa đồng, Bảy Củ thèm chạy về bến nước Cái Rưng – Bông Súng thăm má.  Bảy thương má, nhớ má khôn kể. Đời má là chuỗi  ngày dài  đẫm đầy nước mắt, hẫm hiu. Hết khóc chồng rồi lại khóc con. Hết ôm xác chị Hai, anh Ba du kích xã, bị bắn chết nằm vắt võng tòn ten bên hàng rào kẽm gai Ấp Chiến Lược,  đến lượm và gom thịt anh Năm lính Cộng Hòa dính trái  ở bờ đập Cây Bần. Má già trước tuổi. Hốc mắt má  lõm sâu, không còn khóc nổi nữa.

                Làng lính ngày càng rún ép.  Nhiều đêm. má ôm Bảy Củ vào lòng, má thì  thầm:  Má phải sống,  thằng con má phải sống. Tránh  những  câp mắt  cú vọ rập rình , má cắn răng bước đi bước nữa. Rồi người dìu má đi bước nữa, mất tích trongtết Mậu Thân, khi chở ghe lúa lên Sài Gòn.Ở quê nhà, má chịu đời chẳng thấu, nửa
đêm dắt con trốn biệt xứ.
Chiều trải  nắng dài qua cánh đồng Móp Xanh, xiên mặt đìa và kéo theo tiết trời  se lạnh.Tiếng cá ngớp táp ”ùn ục” như tiếng nước cơm sôi. Bảy Củ giương vai đứng dậy, bầy cá đìa giật mình, âm thanh dội xa mấy dây ruộng nằm trơ gốc rạ.2.
Tất cả vật dụng, công cụ cần thiết cho tát đìa, như: thùng, gàu dai, lu, bũ, khạp, muối…Bác Tám chủ đìa đã lo tươm tất. Tối nay, khi trăng mồng mười chếch hàng  cây trâm bầu thì khởi sự tát đìa.
Tục khai đìa, chủ đìa phải cúng thổ thần thủy thần, thỉnh người khuất mặt khuất mày, mời các chiến sĩ  trận vong,  bất kể  nón tai bèo  hay nón sắt, cùng về chung  hưởng cá lóc nướng trui, uống ly rượu nghĩa của người sống.
Bảy Củ lựa cá lóc nhảy hầm dưới một ký, cẩn thận chặt đuôi, để khi nướng bụng cá chín, xương lưng cá không còn ứa máu. Dùng thanh tre tươi vót nhọn, xỏ từ miệng cá đến đuôi, cắm xuống xuống đất, miệng cá cách mặt đất khoảng 1 tấc. Đang lui cui công việc, Ông Tám chủ đìa vỗ vai hỏi Bảy Củ:
– Nè! thằng cháu thạo nướng không? Nếu không, Qua kêu đứa khác. Kẻo trớt he!
Bảy Củ tay làm, miệng nói:
– Dạ, cháu mần được.
Ông Tám mồi thuốc đưa Bảy Củ.
– Mần được, thằng cháu mần sao?
Cắm cá xuống đất xong, Bảy Củ lom khom vừa chất rơm, vừa trả lời:
– Dạ, ông Tư Xong Xuôi dặn đi dặn lại cháu canh đủ lượng rơm nướng cá.Lửa vừa tàn, cá vừa chín. Rơm dư, cá chín quá cỡ sẽ khét mất ngọt. Rơm thiếu, thịt cá nhão sẽ tanh mất ngon. Thêm rơm, nướng lại, kể như cá lóc nướng trui ”rồi chùa!”.
– Thằng cháu nầy, đích thực đệ tử chân truyền của thầy đìa Tư Xong Xuôi.
Nói xong, Ông Tám cười ngất.

Bảy Củ mần ” hết sẩy” cá lóc nương trui, thì Sáu – con gái Ông Tám chủ đìa – cũng vừa mần xong trải đệm, sắp xếp và dọn đồ bổi còn tươi rói: lá sen non, đọt xoài, đọt vừng, đọt mọt, lá điều non, húng lủi, quế vị, chuối chát, khế chua…đặt lên mặt những  tàu lá chuối xanh mượt. Bánh tráng, mắm nêm, muối ớt… quyện vào hương vị cá lóc nướng trui, tạo thành chất men đồng quê kích thích nước bọt ứa ra trong miệng mọi người không kiềm hãm được. Sáu vẽ dọc lưng cá lóc nướng, chăm chút gắp từng lọn  thịt cá trắng phau bỏ vào lá sen non cuốn lại, để trên vĩ than hồng, mùi thơm bát ngát. Cắn nửa cuốn lá sen non gói thịt cá lóc nướng trui còn bốc khói, uống nửa cái xây chừng rượu đế Tuyên Bình, khà vang một tiếng”mát trời ông địa”, giữa buổi chiều tà nơi điền dã, mới thấu cảm tình yêu quê hương của người Nam Bộ.
Họ yêu đất, yêu người. Họ thương nghèo, thương khó. Họ mang khổ, mang đau. Họ bằng lòng vui sống bao thứ ấy, trong môi trường thiên nhiên ưu đãi những bàu,những lung, những trấp…người cần cù, chí thú mần ăn, đều có thể đào đìa lớn, đìa nhỏ, đìa chiếc, đìa đôi… thêm vào đó, bom Pháp, Bom Mỹ,  cũng đua nhau đào đìa giúp bạn nghèo quanh năm , suốt tháng,”bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, nơi cái xứ sở ”muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh”.
Thiệt tình mà nói, nhờ vậy, mỗi nhà dù ở lút chét trong cậy Đồng Tháp Mười, chí ítcũng có một vài khẩu đìa để tới mùa đìa có cái ăn, cái biếu, cái mần mắm, xẻ khô…
Bảy Củ ngồi ăn, nhìn ánh trăng non chưa đủ tuổi đang mờ nhạt lẫn sương chiều. Bất giác chép miệng:
– Ông Trời giỏi thiệt!
Sáu ngồi sát bên, cãi lại:
– Anh Bảy nói ông trời giỏi thiệt, còn con người giỏi giả sao?
Không để Bảy Củ kịp phản vệ, Sáu chơi thẳng một mạch, chẳng kỵ vãi kỵ vi:
– Ông bà mình tính ngày mùa sít sao. Dứt lúa tới đìa, dứt đìa tới ruộng…Tháng giêng là tháng ăn chơi! Đúng là tháng ăn chơi. Tát đìa cũng chính là thú ăn chơi, vui hơn tết! Mùa tát đìa quê mình từ tháng chạp qua hết tháng giêng, có năm ló chút đỉnh sang tháng hai. Đàn ông đàn bà, con trai con gái, già trẻ…đều bỏ nhà bỏ cửa bu ra  đìa, tự do hít thở không khí sôi động, hứng khởi, cười nói rân trời, không bị ràng buộc bởi bất cứ một thứ đạo lý lệ thuộc nào. Mọi xích mích, đố kỵ nhỏ nhen…thói hư, tật xấu, được mọi người đồng lòng vứt bỏ xuống đìa, rồi chung tay phụ giúp tát đìa, chia tôm cá cùng ăn. Ngày trước, dẫu cá nhiều đến mức cộ cá bằng trâu, nhưng chẳng chủ đìa nào chịu bán cá đìa. Như một lời nguyền không văn tự, cá đìa còn gọi ”cá xưa”.
Bảy Củ trở bộ ngồi xếp bằng, Sáu rót thêm rượu, gắp lá sen cuốn cá lóc nướng trui bỏ vô chén Bảy.
– Tui nói vậy, anh thấy sao?
Bảy Củ lúng ta lúng túng. Thấy vậy, Sáu đốp luôn một phát:
– Nè, Anh uống đi , rồi nói!
Bảy Củ đưa ly xây chừng lên miệng uống một cái ”ực”, nghe đã cái mình. Rượu giúp
Bảy can đởm hơn:
– Tát đìa như ngày hội, tui thích lắm, không muốn mất nó. Quê tui không có mùa tát đìa, nên chẳng bao giờ được hưởng bầu không khí đầy ấp tình người như vầy.  Thú thiệt, mùa tát đìa vui hơn lệ cúng Kỳ Yên ở đình làng tui. Gió tháng giêng thổi thốc vạt áo bà ba nẩy ngược lên,Sáu kéo vạt áo xuống:
– Có ông nhà văn, nhà báo gì đó. À, tui nhớ rồi, ông Sơn Nam bảo rằng  ”Văn hóa đìa”. Tui lo, một ngày nào đó, đìa mất, tình người nhà nông cũng từ đó  mất dần, sự kết dính giữa người với người ăn rã, sự vô cảm biết đâu sẽ thống trị.
Bảy Củ tự tin:
– Làm gì có chuyện đìa mất? Có chăng, ngày nào đó mình mần cho mất đìa!
Sáu đứng dậy, thêm rau, bánh tráng và xớt mắm nêm vào chén mọi người. Lúc ngồi xuống, Sáu nói vừa đủ Bảy Củ nghe:
– Có những chuyện mới nghe qua, mình tưởng chuyện tầm xàm, bá láp, nhưng rồi thời gian và sự việc giúp mình sáng ra, thấm đau và nhớ mãi.
Ông Tám để ý thấy Sáu cứ rót rượu ép thằng Bảy uống miết, sợ nó say, lát nữa  không tát đìa nổi. Ông Tám rầy con:
– Cái con nhỏ sạo sự nầy, để yên cho thằng Bảy nó ăn no, tối tát trắng đêm đó!
Bà Tám đang chụm củi nấu nồi cháo cá, chen vô:
– Thằng Bảy, con lo ăn no đi, nó nói gì thây kệ nó.
Rồi Bà lầm bầm: Đúng là, ma cũ ăn hiếp ma mới.
Sáu giẫy nẩy, phản pháo:
– Con ăn, không hiếp. Anh Bảy hiếp, không ăn.
Tía má Sáu ngạc nhiên, mọi người ngồi chung mâm đệm trố mắt. ÔngTám hỏi:
– Bây nói sao?
Sáu cười cười, ngước nhìn Bảy Củ.
– Thì nói sao nữa, tui rành 6 câu, biết ” tỏng tòng tông” cái mánh ca nhận lớp, ca nuốt chữ của ảnh.
Như thể phân trần, Sáu lật ngữa bài:
– Tửu lượng anh Bảy đạt đến đỉnh thượng thừa, quỷ khóc thần sầu chứ chẳngchơi. Hôm tát đìa nhà Chú Tư Ló, mình ảnh chơi đứt 5 xị đế, vẫn tát ngon cơm.
Ông Tám cắt ngang:
– Đêm đó tao rõ rành rạnh,vì sỉn rượu nên thằng Bảy tát gàu chưa hết chớn thứ ba đã chúi nhủi té xuống đìa, thở rống hơn trâu đực cổ bị ong lổ đánh.
Nghe tía nói, Sáu cười sặc sụa:
– Tía và mọi người đêm đó bị lầm rồi, Tía ơi!
Ông Tư Xong Xuôi cầm cái xây chừng để xuống, thắc mắc:
– Xong xuôi, bây nói Tía bây lầm, mà lầm mần sao?
Bảy Củ chuyển bộ ngồi sếp bằng qua thế ngồi chòm hỏm, tay gảy đầu, mắt ngó Sáu lom lom, như nài nỉ: Sáu ơi, ngưng quay dây thiều, tắt đĩa hát đi…đừng kể.Sáu nào phải tay vừa, bị tức cái bụng anh ách từ đêm ấy…cái đêm Bảy bỏ Sáu đi bắt cặp tát đìa với Chín Hồng – con gái út chủ đìa Chú Tư Ló – Đây là dịp để Sáu xổ cái tức vào Bảy Củ.
– Anh Bảy bắt cặp với Chín Hồng và ra kèo: ai đứng gàu không đổi tay liên tục 3 hiệp – mỗi hiệp áng chừng nửa tiếng đồng hồ – người đó sẻ thắng. Người thắng có quyền bắt xác kẻ thua. Có tiếng xì xào râm ran quanh mâm đệm, tiếng ai đó nói: động trời nha! Rồi tiếng  cãi lại: hết sẩy, tuyệt cú mèo! Hấp dẫn, tiếp đi Sáu…tiếp đi Sáu! Rồi sao nữa?
– Anh Bảy ỷ sức vóc vạm vỡ, hùng hùng, hổ hổ, giương oai diễu võ. khoe cơ bắp gân guốc giựt gàu ”lấy le” Chín Hồng. Trong lúc đó, Chín Hồng điềm đạm đứng tấn chữ đinh, giữ hơi thở đều hòa theo nhịp hạ gàu lấy nước thì khom lưng vừa phải, gàu múc nước thì nhẹ nhàng thả dây đít, cất gàu lên kéo dây miệng căng vừa đủ. Đôi tay Chín Hồng lã lướt dưới ánh trăng, mới nom như  đang thong thả chải tóc. Mặt Bảy Củ đỏ rần, không biết đỏ vì rượu hay vì mắc cỡ.
Sáu nói tiếp:
– Cuối hiệp 2, anh Bảy nín thinh, không còn nói ”cà rỡn” với Chín Hồng. Có lẽ, giờ thì anh hùng thấm mệt, mồ hôi ướt mặt ướt áo như tắm, thở hả họng..Vào hiệp 3, anh Bảy cấm đầu chúi nhủi, té xuống đìa.
Sáu luận rằng, anh Bảy cấm đầu chúi nhủi, té xuống đìa bởi không nắm rành rẽ bíquyết tát đìa, chứ không phải bởi rượu. Cương chẳng thể thắng nhu trong trường hợp nầy, và anh cũng chẳng thể đủ sức bắt xác Chín Hồng, cành thảo hoa của vùng  đất Đồng Tháp Mười hoang dã.
Mọi người – kể cả tía má Sáu – buông đũa, cười bò lăn bò ngửa . Bảy Củ không giận Sáu, vì biết chắc rằng Sáu ghen đâm ra tức.

3.

Sau ngày xóm làng yên tiếng súng, má con Bảy Củ trở về quê. Những lúc buồn, Sáu thường ra sau đìa ngó qua bến nước Cái Rưng – Bông Súng trống huơ trống hoác.
Sáu nhớ, không rõ vì sao nhớ?  Cả xóm bây giờ, đám con nít không còn chạy giỡn như trước, nhà ai nấy ở và ít qua lại, chó biếng sủa, gà vắng gáy…không gian im ắng ngột ngạt, mọi thứ quay quắc thay đổi,chẳng như người ta tưởng.
Ông Tám họp ở xã về, ngồi bệt xuống ngạch cửa, cầm cái nón lá rách quạt phành phạch cho đỡ mệt.
Bà Tám ra  lu mái vú, múc tô nước mưa đưa chồng.
– Họp, mấy ổng nói gì, tía con Sáu?
Ông Tám ực một hơi cạn tô nước, xả cơn tức. Rồi thở dài, tiếng thở dài buông xuôi.
– Họ bảo, công hữu hóa tư liệu sản xuất là linh hồn Hợp Tác Xã, nên từ rày về sau, tư liệu sản xuất không còn thuộc riêng của mình nữa.
Bà Tám nghe mấy chữ ”công hữu”, ”tư liệu sản xuất”…điếc con rái, thắc mắc:
– Mấy ổng bảo vậy, nghĩa là sao?
Sáu ngồi vót tre, nói hớt:
– Thì 4 mẫu ruộng, 5 cái đìa, 7 cái lung trấp, hai con trâu đực cổ…cuốc, xẻng, xà beng…
tất tất phải đưa vô Hợp Tác Xã và thuộc của chung.
Bà Sáu cự cãi con Sáu:
– Mầy giỏi nói tầm bậy tầm bạ. Ai mần ăn bất nhơn? Cái gì của tao là của tao, đổ mồ hôi xót con mắt chớ cướp giựt ai, thì sao gọi của chung? Tía mầy cày, tao dắt mũi trâu. Vậy, cái mình tao cũng thuộc của chung Hợp Tác Xã, à!  Hỏi tía mầy chịu hôn? Ngay 5 cái đìa nhà nầy, đâu phải từ trên trời rớt xuống, tao với tía mầy mướn thêm bạn, đào ngày đào đêm, cực thấy ông thấy cha mới có.Tao chống tới bến!
Sáu biết má giận nên nói xởi lởi và nhắc khéo:
– Nhà mình thuộc diện tử sĩ chớ không liệt sĩ, nha má!
Bà Sáu mặt đỏ phừng phừng:
– Thằng Hai, anh mầy, nó đi lính đồn Long Khốt là do Chú Năm Binh Vận tổ chức để làm nội tuyến. Đêm đánh đồn, chẳng biết mần ăn ra sao, thằng nhỏ chết ngắt. Gần ba năm, chưa ai chịu xác nhận. Thiệt tình!
Ông Tám đứng dậy, vừa đi vô nhà, vừa nói:
– Tui đang mệt, má con bà mần tui mệt thêm. Chuyện qua rồi, thôi đừng nhắc. Mần
dân, người ta sao mình vậy. Hồi chiến tranh, ngày Quốc Gia đêm Việt Cộng, mình chịu miết rồi cũng quen.
Ông quay lại nói với vợ:
– Sáng nay, tui nói chắc nịch với xã, muốn gì thì muốn, còn gần tháng nữa tới
mùa đìa, tát đìa xong rồi hẳn tính.
Bảy Củ, con em gia đình liệt sĩ, được nhận vào Công An xã nhà.  Má Bảy Củ, mẹ liệt sĩ, được người trong làng trong xóm kính nễ . Lúc bận việc hay khi rảnh rỗi, Bảy Củ luôn nhớ nơi mình một thời tá túc, một thời nương nhờ. Nhớ bến đò Cái Rưng – Bông Súng đã nuôi sống má con ngày khói lửa, nhớ tình đất, tình người thầy đìa Tư Xong Xuôi, Ông Bà Tám…Đặc biệt là Sáu, có xa nhau mới thấu hiểu nỗi nhớ khôn nguôi thế nào! Mấy lần, Bảy Củ định về Vĩnh Đại thăm những người thân, nhưng công việc cứ dồn nên chưa rứt ra đi được.
Một hôm, qua người quen, Bảy Củ nhận tin Sáu nhắn về Vĩnh Đại tát đìa.  Nghe hai tiếng tát đìa, Bảy Củ mừng quýnh quáng trong bụng, nhờ chị Tư  hàng xóm chăm sóc dùm má, xin tổ chức đi tìm bốc mộ ba. Sắp xếp xong, Bảy Củ nhảy tàu đò, vọt lên Vĩnh Đại.

– Sáu ơi, tui bị dính rồi!
Bảy Củ ôm bàn tay trái đội lên đầu, mặt nhăn nhó đau nhức. Sáu biết Bảy Củ bị ngạnh cá trê trắng chém, trườn mình lên bùn đến bên Bảy Củ.
– Anh đau lắm không? Đưa em coi.
Một dòng máu lẫn bùn rịn ra, xót ruột xót gan Sáu.
– Thôi anh lên đi, để em bắt thêm vài con cá lóc.
– Tui lên không được.
– Sao anh lên không được? Lên lẹ đi anh!
Sáu thúc giục Bảy Củ.
Bảy Củ ngồi lỳ dưới bùn, tiếp tục nắm bàn tay trái đội đầu và rên nhức. Cầm lòng không đặng, Sáu trườn bùn đến sát mình Bảy Củ. Thất thần, Sáu giạt ra:
– Quần anh đâu? Sao ở truồng?
Nói xong, hai gò má của Sáu ửng hồng dưới nắng sớm mai, trố mắt ngó Bảy Củ.
– Quần tui tuột theo bùn hồi nào không biết. Mần sao lên được?
Đìa rộng mênh mông, bùn non nhão nhẹt, biết quần tuột chỗ nào mà tìm với kiếm? Sáu lột đại cái khăn rằn quấn đầu, đưa cho Bảy Củ vận mình lên bờ.
– Nhức quá Sáu ơi!
– Em nghe má nói, bị dính thì ráng chờ nước lớn sẽ hết nhức.
– Chắc nhức chết, chờ sao nổi Sáu?
Sáu thương Bảy Củ, ái ngại hỏi:
– Em biết phải mần sao?
Bảy Củ rụt rè nói lắp bắp, rằng ở xứ anh, mấy thằng bạn bí mật mách nước: khi bị dính, mau ba chân bốn cẵng chạy tìm chị em cứu giúp, cứ đưa nơi dính quẹt quẹt
vào chỗ ấy…hơi ấm chỗ ấy sẽ  làm dịu cơn đau và hết nhức.
Sáu nghe Bảy Củ nói bán tín bán nghi, đôi gò má từ ửng hồng chuyển sang đỏ gất. Bảy Củ lần bùn nắm tay Sáu.
– Sáu, em cho tui quẹt quẹt chỗ ấy… nha!
Sáu nửa muốn rụt tay ra, nửa muốn để yên cho Bảy Củ nắm. Sáu giựt mình  nghe Bảy Củ lập lại:
– Sáu, em cho tui quẹt quẹt chỗ ấy… nha!
– Ý đâu có được, chỗ ấy… ai mần chồng em mới có quyền quẹt quẹt.
Sáu cương quyết, dứt khoát. Bảy Củ xoay ngang người, bất ngờ chụp ôm Sáu vào lòng.
– Tui xin được mần chồng em, Sáu ơi!
Đôi cu gáy đang gù nhau trên vòm tre bờ đìa buổi sớm.

Sau mùa đìa ấy, toàn bộ ruộng đất, đìa bàu trấp và kể cả đôi trâu đực cổ, mà Ông Bà Tám mần cật lực 6 mùa lúa mới sắm được, thuộc về Hợp Tác Xã nông nghiệp Vĩnh Đại quản lý. Ông Tám trầm ngâm và trở nên ít nói, Bà Tám mỗi lần nhớ trâu, nhớ  ruộng, nhớ đìa… mỗi lần bức rức tiếc công, tiếc của…lại khóc. Nhiều đêm bà nghĩ lung lắm, có được một sản nghiệp như ngày nay là cả một quá trình lao động trối chết, chớ có thò tay lấy của ai hột lúa hột gạo nào. Có nụ thì mới ra hoa, có ra hoa thì mới đậu trái. Mấy cha nội nầy, muốn ăn tắt đón đầu bẽ trái, không cần nụ ra hoa. Trong tình yêu trai gái, đi tắt đón đầu như vậy, chẳng khác thằng hiếp dâm!
Ông Bà Tám cho Sáu đi học may, đề sau nầy nuôi tấm thân, nghề ruộng nương  đến đây coi như đứt nọc. Đêm ngày, Sáu lóng ngóng trông đứng trông ngồi Bảy Củ.

Trao đổi với Bảy Củ về chuyện xin cưới Sáu, tổ chức đơn vị dứt khoát không chấp thuận, vì vi phạm nguyên tắc ngành. Sáu có người anh đi lính chết trận đồn Long
Khốt, ba Sáu từng tham gia phòng vệ dân sự ấp.
Bảy Củ mất ngủ nhiều đêm, vì sự giằng co giữa truyền thống gia đình và  tình yêu Sáu. Bảy Củ dốt chữ nhưng không nuốt lời, nhớ những gì đã làm và đã hứa
với Sáu. Má Bảy Củ biết con mình đang lâm vào thế ” tiến thối lưỡng nan”, Bà im lặng cốt để con tự do chọn lựa.
Cây vông bên ao làng bắt đầu trổ hoa, nắng hè rát mặt. Bà đang nằm trên võng sau vườn, Bảy Củ bước rón rén tới gần má. Bà hỏi:
– Bộ bữa nay nghĩ việc sao con?
– Dạ!
Nghe tiếng dạ rất khẽ, khác hoàn toàn tính khí thường ngày của Bảy Củ, bà ngồi dậy:
– Có chuyện gì, con cứ nói.
Bảy Củ bật khóc, con bỏ truyền thông gia đình, bỏ ngành, để lấy Sáu làm vợ. Một tội  tày trời, chưa bao giờ dám nghĩ tới. Lạy má tha tội. Bà dịu dàng nắm tay đứa con trai cuối cùng của dòng họ chồng.
– Con đã nộp đơn nghỉ việc chưa?
– Dạ rồi, má!
Bà mắng yêu Bảy Củ:
– Con trai gì mà yếu mềm, khóc lóc! Chẳng giống Ba, giống anh Hai, chị Ba của con  chút nào hết. Mạnh dạn lên, dũng cảm nhận trách nhiệm sự lựa chọn của mình.
Rồi bà giải thích cho Bảy Củ hiểu:
– Truyền thống gia đình là truyền thống gia đình, ngành là ngành. Hai cái đó, chẳng  ăn nhập gì nhau. Truyền thống gia đình là cái không thay đổi, còn ngành sẽ thay đổi,
nay quy định vầy, mai quy định khác, hơi sức đâu con để ý mệt thân.Sống tử tế, chính là con đã giữ truyền thống gia đình. Còn ngành, không làm ngành nầy thì làm ngành khác.
Mặt Bảy Củ dãn dần ra, miệng cười nụ. Bà rầy, cười nụ là cười nịnh.Cười nịnh má thì được, cười nịnh người ngoài sẽ xấu hổ tông chi họ hàng!
Hai má con đi từng bước trên đường dừa đầy đốm nắng. Chợt bà nhớ mấy chục năm về trước, cũng trên đường dừa nầy, bà đưa chồng đi theo kháng chiến.
– Má ưng cái bụng khi con chọn cưới Sáu. Đó là, phẩm chất của con người.

Bảy Củ giữ lời hứa, đám cưới nghèo của đôi vợ chồng trẻ diễn ra thật vui, thật hạnh phúc, trong thời ngăn sông cấm chợ.
Mấy năm sau, Hợp Tác Xã nông nghiệp Vĩnh Đại tự rã. Bảy Củ thay Tư Xong Xuôi mần nghề thầy đìa. Lần hồi, đìa bàu chẳng còn dưới cơn lốc khai hoang Đồng Tháp Mười, chuyển một vụ lúa vượt nước bấp bênh, thành 2 vụ lúa ngắn ngày ăn chắc.

              Khi có được 3 đứa cháu nội trai gái, Má Bảy Củ mất, mang theo nỗi buồn cay  đắng, vì người ta gác lại chuyện phong tặng danh hiệu  ”Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho bà, với lý do, bà đã đi tái giá!
Giờ đây, Bảy Củ thành ”lão nông tri điền”, một huyền thoại thầy đìa cho lớp  nông dân trẻ muốn tìm hiểu chuyện xưa Vĩnh Đại. Với vợ chồng Bảy Củ, chuyển tâm
không chuyển cảnh, chẳng coi ai là bạn, là thù. Suy cho cùng, tất cả đều là con người.
Mùa tát đìa cuối cùng năm ấy đã đi qua khá lâu, mà dư vị ngọt bùi, cay đắng, vẫn còn động mãi trong lòng vợ chồng Bảy Củ.

 

 

Read Full Post »

Ăn Nằm

Cao Thị Hoàng

chuot

Lời tác giả :
Đây là một chuyện viết vui , hoàn toàn hư cấu .
Nếu có sự trùng hợp nào đó ngoài đời , ngoài
ý muốn của tác giả . Xin miễn chấp .
Cao Thị Hoàng
Một .
Rắn có nhiều kẻ thù .
Kẻ thù đáng sợ nhất của Rắn là Bìm Bịp . Có lẽ , Thượng Đế tạo ra Bìm Bịp
để trừ khử loài Rắn độc , bảo vệ các loài sinh vật khác .
Một hôm , Rắn Chúa triệu tập mở hội nghị bàn về biện pháp ngăn và chống
Bìm Bịp , giữ an toàn cho nòi giống .
Rắn Hổ Đất , phát pháo :
– Chúng ta cần khẳng định : Bìm Bịp là kẻ thù lâu dài . Trong hội nghị nầy ,
bàn vô không bàn ra , bàn tiến không bàn lùi .
Rắn Ráo tiếp lời :
– Chẳng những thế , mà phải nhận dạng , nắm chắc đặc tính , quy luật từng
thời kỳ của chúng , để ta có kế sách phù hợp và hiệu quả .

(more…)

Read Full Post »

Chuyện nhà Hai Vững

Cao Thị Hoàng
anh_9

Hồi nẵm , ông nội của Hai Vững tham gia phong trào hội kín Nguyễn An Ninh ở miệt 18 thôn vườn trầu Hốc Môn – Bà Điểm .Bễ bạc , ông cậy nhờ tía Bảy Bọ là Cai Tổng Chuột cứu giúp .Thầy Cai đồng ý với điều kiện : ông cải họ Nguyễn sang họ Ôn và đi bạn cho gia đình thầy Cai .

Năm đàng thổ dậy , chúng đốt ghe và chém ông chết .

Ôn Văn Dịch – đứa con trai duy nhất – của ông , sống côi cút một mình . Thương tình , thầy Cai che chỡ và đưa vào phục dịch nhà làng . Một lần , nhân ngày nghỉ chúa nhật , Ôn Văn Dịch tranh thủ qua nhà bà Chín Thiệt cưa và chẻ củi mướn . Trong lúc nghỉ tay xả hơi uống nước , bà Chín Thiệt tâm sự :
– Hồi trước , đất của bà rộng lên tới đầu doi rạch Bà Lý , nhưng rồi , thầy Cai Chuột lấn chiếm lần hồi mất gần hết đất . Giờ còn lại nhiêu đây , sát nách thầy Cai , chẳng biết lúc nào mất sạch .
Bà Chín than , Ôn Văn Dịch mủi lòng !
– Chắc không sao đâu bà !
– ” Dò sông dò biển dễ dò , mấy ai lấy thước mà đo lòng người ”
Bà đứng dậy , chậm rãi bước vô nhà . Ôn Văn Dịch tiếp tục lui cui cưa khúc củi .
Cuối buổi chiều , bà nói nhỏ với Ôn Văn Dịch :
– Thấy con mồ côi , bà thương . Hay là như vầy , bà cũng đơn chiếc , bà muốn gả khu đất vườn nầy lại cho vợ chồng con .
Ôn Văn Dịch không để cho bà nói dứt lời , cắt ngang :
– Nghe bà nói , con mừng lắm ! Nhưng chắc là vợ chồng con không đủ tiền mua , bà ơi !
Bà Chín trấn an :
– Bà biết , nên bà gả rẽ cho .
– Bao nhiêu bà ?
Bà Chín chắc giá : hai mươi đồng bạc Đông Dương .

Ôn Văn Dịch thưa chuyện với thầy Cai về việc mua khu vườn đất của bà chín và vợ chồng xin phép ra riêng . Thầy Cai nằm trên võng lim dim đôi mắt , trầm ngâm . Tức trong bụng nhưng không nói , bởi từ lâu thầy tính kế cướp sạch phần đất còn lại của bà Chín .
Thằng quỷ nhỏ ” kỳ đà cản mũi ” , phá hỏng kế hoạch .
– Tiền đâu hai đứa bây mua ?
Thầy Cai hỏi gặng .
Vợ Ôn Văn Dịch rón rén thốt :
– Dạ ! không dám dấu thầy Cai , tụi con chắt chiu dành dụm mấy năm nay được 8 đồng 7 cắc . Phần thiếu 12 đồng 3 cắc , ông Cả thương hoàn cảnh tụi con , đồng ý lấy quỹ làng cho mượn và trừ dần vào tiền lương của chồng con .
Thầy Cai ngồi bật dậy :
– Cả thương tụi bây , chứ Qua không thương sao ? Vợ chồng bây tệ  thiệt . Không mượn Qua , đi mượn quỹ làng để bọn nó cười Qua .
Thầy Cai đóng kịch trách móc , vợ chồng Ôn Văn Dịch sợ xanh mặt .
Hôm vợ chồng Ôn Văn Dịch tổ chức ăn mừng mua được khu đất của bà Chín và ra riêng về nhà mới . Thầy Cai nói nửa chơi , nửa thiệt  trong lúc rượu ngà ngà say : rồi đất bên nầy ranh giới cũng là của Qua !

Năm ấy , Ôn Văn Dịch bước vào tuổi 23 , có vợ 4 năm , chẳng thấy tăm hơi đường con cái .

 

 

Thời gian êm đềm , lặng lẽ trôi qua !

Ôn Văn Dịch tuy một chữ lận lưng chẳng có , bù lại được cái tính siêng năng , cần mẫn . Nhất là , tin tuyệt đối Cai Tổng Chuột . Sáu Chơi – vợ Ôn Văn Dịch – người phụ nữ có thân hình thon thả , chắc da , chắc thịt , đẹp người … chăm chỉ làm ăn .Sáng chồng đi , có khi tối mịt chồng mới về . Chưa kể những khi Ôn Văn Dịch nhậu ” quắc cần câu ” ngủ bờ , ngủ bụi . Sáu Chơi lắm lúc thui thủi ở nhà một mình , chằm cốp lá dừa nước bỏ mối bán . Trong thâm tâm ,Sáu Chơi thèm có được mụm con để sớm hôm hủ hỉ . Bốn năm trôi qua ,cứ trầy trật hoài chẳng có .

Thỉnh thoảng , lão Cai Tổng Chuột sang nhà nhờ Sáu Chơi nhổ tóc ngứa .Buổi đầu , Sáu Chơi e dè , lo ngại – nhà vắng xa xóm – muốn từ chối ,

sợ mích lòng , không dám . Bằng lòng , rủi bất chợt có ai dòm ngó , thì sao ?Và , nếu lão …

Như nắm được dòng suy nghĩ của Sáu , lão cười hềnh hệch :

– Nè ! Sáu nghĩ Qua bậy bạ phải không ?

Sáu sợ , chối bây bẩy .Lão đến gần Sáu . Sáu run , mồ hôi rịn trán . Lão lấy tay vỗ đầu Sáu .

– Đời Qua không khi nào ăn ở thất đức , tía chồng Sáu , chồng Sáu ,Qua một lòng giúp đỡ . Nhiêu đó , chưa đủ độ Sáu tin Qua ?

Sáu đứng chết trân như trời trồng , toàn thân mất cảm giác .

– Thôi Qua về nha Sáu !

Quýnh quáng , Sáu chạy theo ra sân , nắm tay thầy Cai .

– Thầy trở vô , tui nhổ tóc ngứa cho thầy !

Trước còn giữ ý , giữ tứ . Sau nhiều lượt , nhiều ngày , thầy Cai không tỏ thái độ sàm sỡ , rất tử tế , rất vui … Sáu tự nhiên và dạn dĩ .

Sáu đem chuyện nói cho chồng biết , Ôn Văn Dịch chẳng những không đắn đo , không rầy , mà còn phấn khởi mừng ra mặt .

– Thầy Cai người quân tử , được thầy đến chơi và nhờ mình nhổ tóc ngứa là phúc ba đời nhà ta . Vả lại , tui một họ với thầy , mình đừng dại dột làm trái những gì thầy Cai muốn , hư việc lớn giữa hai gia đình .

Dường như lo vợ chưa hiểu , Ôn Văn Dịch nói tiếp :

– Người ta ngọc ngà , mình thua cục đất . Có đáng gì . Cả làng Trung Hòa ,thầy Cai có bước tới nhà ai đâu ? Mình nhớ chìu chuộng , để tui còn được cất nhắc , nhảy lên ông nầy , bà nọ ; cho bằng chị , bằng em .

Được chồng cởi mở tấm lòng . Từ đó , Sáu vững bụng , yên tâm .Sáu nhổ tóc ngứa bằng hột lúa và lấy ngón tay quào quào lên chỗ nhổ khiến lão phê phê vì đã ngứa . Mỗi lần như vậy , lão thường kể chuyện đời xưa , đời nay ; chuyện trên trời , dưới đất ; chuyện tiếu lâm … mắc cỡ muốn chết , cười cũng muốn chết . Riết rồi , Sáu Chơi đâm ra ghiền nghe chuyện và nhớ cái hơi hướm của lão . Thật ra , có lão cũng đỡ buồn , có tiếng cười hết cỡ của Sáu Chơi và của lão cũng ấm nhà , ấm cửa . Đôi ba ngày lão không sang , Sáu Chơi tự dưng nóng ruột , trông đứng , trông ngồi …

 

 

Cai Tổng Chuột đang sử dụng ” tâm công ” kết hợp ” kế quỷ ” , để cưỡng đoạt khu vườn mà trước đây , Ôn Văn Dịch đã mua của bà chín Thiệt . Muốn vậy , lão phải ” lao tâm , khổ tứ ” thực hiện cho được âm mưu ” quà quạ nuôi con tu hú ” .

Cái bụng Sáu Chơi là phương tiện giúp lão đạt cứu cánh . Lão thừa hiểu , tất cả đều quy về một mối : niềm tin !

Muốn có niềm tin vô hạn , phải triệt tiêu trí tuệ , đẩy mạnh bản năng ,dùng bản năng đánh sập trí tuệ , dùng duy cảm trấn áp duy lý … Và , một lập trình xảy ra : niềm tin – đức tin – cuồng tín thì con người hy sinh , dâng hiến – kể cả mạng sống của mình –  Lão tự kềm chế dục tính , lời lúc nào cũng như mật rót vào tai , lão chăm sóc và cho tiền Sáu mua sắm đồ đạt trong nhà … không điều kiện .

Lão biết Sáu như cá đã cắn câu , sau một năm cận kề , gần gủi nhổ tóc ngứa cho lão . Lão chậm rãi , từ từ không vội giựt cá . nhợ buông lõng , cá nuốt mồi lẫn lưỡi câu càng sâu thì hậu quả về sau lưỡi câu càng phá nát tâm can , nội tạng của cá .

Y như rằng , nhiều đêm Sáu nằm bên chồng mà cứ nghĩ đến lão .

Nhà Sáu nghèo , khi đi lấy chồng không có của hồi môn . Từ nhỏ tới lớn , không ai tốt với Sáu bằng lão , cái gì Sáu thiếu , Sáu muốn ,lão sẵn sàng giúp . Ơn sâu , nghĩa nặng , lấy chi đền đáp ? Mà có chi đáng giá  đền đáp  ? Sáu muốn làm vừa lòng cho lão vui ,nhưng chẳng biết làm sao để lão vừa lòng ? Chưa bao giờ lão cọ quẹt , đụng chạm thân thể Sáu – dù vô tình – lão đường hoàng hơn những người đường hoàng . Sáu hoàn toàn tin cậy lão .Suy đi , nghĩ lại , chỉ có tấm thân Sáu là đáng giá . Hay là …

 

– Nầy Sáu ! Qua hỏi thiệt sáu nha !

Sáu dừng tay nhổ tóc ngứa .

– Dạ ! Thầy Cai hỏi con chuyện gì ?

Thầy Cai tằng hắng , lấy giọng :

– Qua nghe nói tháng sau , thằng Dịch nó đưa Sáu lên chùa Bảy Núi để cầu tự phải không ?

Sáu đem nỗi lòng mình tâm sự cùng lão và không biết từ lúc nào , Sáu nằm gọn trong vòng tay ấm áp của lão .

– Sáu , em muốn có con với Qua không ?

Hai gò má Sáu đỏ bừng , toàn thân nóng hừng hực  .

– Dạ … c…on … em muốn lắm …

Cái khoảnh khắc cảm giác thăng hoa , cứ thênh thang sải bước vào tận đáy tâm hồn Sáu !

– Sáu ơi ! Đây là đứa con cầu tự , nhớ nha em !

 

 

Trời hanh nắng vàng trải trên đầu ngọn lúa , sau cơn mưa chiều .Sáu chưng diện bảnh , mái tóc láng mướt thơm phức dầu dừa ,mặt mày tươi rói .

– Thầy Cai ơi ! tui có thai .

Lão không mấy ngạc nhiên , đầu lão gối lên bắp đùi , mặt úp vào bụng Sáu và cười rúc rích :

– Thì Qua đã nói rồi , chỉ có Qua mới đủ sức giúp Sáu thỏa mãn  và toại nguyện . Mình có con với nhau , đó là ý trời !

Hai tay lão quàng lưng ôm eo ếch Sáu .

– Em thưởng Qua cái gì nào ?

Sáu cuối xuống hôn chùn chụt trên môi lão

– Thầy Cai của em quỷ thiệt  !

 

Biết vợ mang bầu , Ôn Văn Dịch vui như tết , chạy qua

Cai Tổng Chuột báo tin :

– Thầy Cai ơi ! tui sắp được làm … tía !

Lão nhướng đôi mày , cười như bí hiểm .

– Chúc mừng ! Qua chúc mừng !

Như sực nhớ điều gì , lão quay vào nhà , rồi trở ra .

– Mà nầy , Qua nghe nói vợ chồng bây lên Bảy Núi cầu tự . Nay có kết quả , chú mầy cũng liệu đưa vợ trở lại chùa để bái tạ Phật Trời .

Rồi lão hạ thấp giọng , nói vừa đủ nghe :

– Linh thật ! linh thật !

Ôn Văn Dịch gật gù đồng thuận :

– Linh thật ! linh thật !

Lão vỗ vai và nhét tiền vào túi Ôn Văn Dịch . Dặn đi , dặn lại :

– Nhớ dùng tiền Qua cho làm lộ phí và lên chùa cúng dường .

Tội nghiệp , Ôn Văn Dịch không biết mình đang nuôi con Tu Hú !

 

 

Chiến tranh về làng Trung Hòa .

Sáu đi chợ sớm giao mối lá chằm , đạp nhầm lựu đạn do lính đồn Cây Quéo gài chưa kịp gỡ . Sáu chết khi thằng Hai Vững mới 3 tuổi .Ôn Văn Dịch gà trống nuôi con !

Phong trào Việt Minh chống Pháp nổi lên khắp nơi .
Cai Tổng Chuột bị dân trong làng bắt và giết . Hai tía con Ôn Văn Dịch bồng bế nhau tản cư . Sau Hiệp Định đình chiến , dắt díu  trở về khu vườn cũ .
Thằng Hai Vững ngủ mớ , trở mình . Ông thức dậy , vấn thuốc rê hút .Đầu óc dãn ra , nghĩ xa , nghĩ gần , sợ rằng : vật đổi sao dời … Biết đâu một lúc nào đó , họ Ôn dùng tiền bạc và thế lực xâm lấn và cưỡng chiếm vườn đất của mình thì sao ? Mình có chết đã đành , tội thằng Hai Vững ở lại sẽ không có cục đất chọi chim . Tuổi càng cao ,
ông càng hiểu rõ bản chất cướp đất với ” mưu ma , chước quỷ ” của  tía con Cai Tổng Chuột .
Ông quyết định đào kinh phân định ranh giới đất .

2.

Ôn Văn Bọ – con trai  – của Cai Tổng Chuột , được ban hội tề và cấp trên cất nhắc lên chức Xã Trưởng . Đồng thời , là người thừa kế toàn bộ điền sản của dòng họ Ôn .
Nghe xong kế hoạch đào kinh phân ranh đất của Ôn Văn Dịch ,Xã Trưởng Bọ trong bụng như mở cờ . Từ lâu ,  Bọ muốn trồng cây  lấn ranh chiếm đất , nhưng không có cớ trồng một cách hợp lý , hợp tình để ngày sau hợp pháp hóa . Bây giờ , Ôn Văn Dịch dẫn xác tới , đúng là ” ma đưa lối , quỷ dẫn đường ” .
Xã Trưởng Bọ làm bộ mặt hầm hầm giận dữ , đứng dậy vỗ bàn :
– Việt Cộng xúi làm loạn , phải không ?
Nghe mấy tiếng ” Việt Cộng xúi làm loạn ” , Ôn Văn Dịch sợ ” xanh đít khỉ , muốn té đái trong quần .
– Dạ thưa ông Xã Trưởng hỏng có , hỏng có !
Ôn Văn Dịch chưa hoàn hồn , Xã Trưởng Bọ dịu giọng :
– Nói  thì nói vậy thôi , tui không giúp anh thì giúp ai . Ông già lúc còn sanh tiền , thường dặn dò tất cả anh em nhà tui phải hết long với anh . Mình cùng một họ Ôn mà !
Ôn Văn Dịch nghe bùi và đã cái lỗ tai .
Xã Trưởng Bọ ân cần mời trà , mời thuốc Ôn Văn Dịch  . Hai anh lúc đăm chiêu , lúc cười tâm đắc . Cuối cùng cả hai đi đến nhất trí :  Bọ đồng ý cho Ôn Văn Dịch đào kinh phân định ranh đất kéo ra nối rạch Bà Lý . Đổi lại , Ôn Văn Dịch đồng ý cho Ôn Văn Bọ trồng cây dừa nước suốt tuyến kinh để chống sạt lỡ . Xác định ranh giới là cây dừa nước . Đồng thời , ở trên bộ – đường ranh đất – tiếp
giáp phía Tây , Ôn Văn Dịch phải cho Ôn Văn Bọ trồng tre . Xác định ranh giới là hàng tre .
Vì từ đời cha đến đời con lệ thuộc  – thâm căn cố đế – và
hiện tại hoàn toàn yếu thế , Ôn Văn Dịch ngậm bồ hòn làm vui  ,nhân nhượng và chịu thiệt .
Mọi việc được Ôn Văn Bọ viết ra giấy trắng , mực đen , thành tờ giao kèo đôi bên cam kết . Dốt chữ , Ôn Văn Dịch điểm chỉ vân tay làm bằng .

Hai gia đình từ đó , giữ hòa khí , hữu hảo như xưa .
Một hôm , thằng con trai lớn – Hai Sâu – của  Bọ , hỏi tía :
– Tiá trồng dừa nước , trồng tre chi mà tối om cả vườn nhà mình ? Đốn bỏ bớt đi tía .
Nghe thằng Hai Sâu hỏi , Bọ mỉm cười :
– Đó chẳng qua là ý nguyện ông nội của con , tía thực hiện theo thôi .Sau nầy , khi tía mất đi , con mới hiểu vì sao ?
Bọ không quên nhắc nhỡ thằng con :
– Đừng ăn hiếp và chơi kèo trên với thằng Vững nha ! Nó một giống ,một dòng cùng con đó !
Để tre nẩy măng qua đất Ôn Văn Dịch , Xã Trưởng Bọ cho đào đường mương sâu phía bên đất nhà  . Thời gian chính là yếu tố  quyết định cho kế sách ” tre nẩy măng ” .
Tre ngày càng phát triển , măng ngày càng nẩy ra .Xã trưởng Bọ cắt măng đem cho khắp xóm .
Cây dừa nước phát triển nhanh . Chưa tới 20 năm , mà nó de ra hơn nửa mặt kinh , xuồng ghe qua lại rất khó .
Dân nghèo trong xóm , trong làng , sử dụng toàn bộ cây dừa nước : xé lá hoặc chằm cốp lợp nhà , bập dừa chẽ làm lạt và giúp sắp nhỏ tập bơi . Trái dừa nước tách lấy cơm dừa ăn tươi , làm rau câu hay nấu chè cúng Phật .
Bà con lối xóm ăn măng tre , tận dụng cây lá dừa nước trở thành thói quen và gần như đó là , một nguồn lợi được Xã Trưởng Bọ ban phát .
Trước tình hình phức tạp , nhiều lần Ôn Văn Dịch trao đổi và xin Bọ cho đốn phần tre , phần cây dừa nước lấn kinh , lấn đất . Lần nào , Bọ cũng đem cái nghĩa cùng họ , cái tình ý ” môi hở răng lạnh ” , ” bán bà con xa , mua láng giềng gần ” … khéo léo từ chối .
Cũng có lúc hai gia đình ” cơm không lành , canh không ngọt ” , Bọ lu loa , kể lễ hơn Tào Tháo : nào là đời trước chí tình cưu mang giúp đỡ , đời sau đùm bộc hết lòng . Đến cái họ hiện tại của Ôn Văn Dịch cũng là họ dòng tộc nhà mình ban cho … Những lần như vậy ,Ôn Văn Dịch như nuốt phải gân gà Dương Tu , nhả không xong ,nuốt không xong , lủi thủi bỏ về lặng lẽ .
Rồi tre nẩy măng cứ nẩy , dừa nước de ra kinh cứ de .Một bộ phận bà con trong xóm  được hưởng lợi từ măng tre , cây dừa nước , nên im lặng hoặc hùa theo Bọ .
Trong gia đình Ôn Văn Dịch , không thống nhất quan điểm trước sự kiện đất bị xâm lấn . Người kiên quyết đấu tranh , kẻ ” dĩ hòa vi quí ” và thậm chí có ý kiến rằng : nếu nhượng một chút ít đất cho  Bọ , để đổi  giữ hòa hiếu giữa hai gia đình như xưa thì cũng được lắm chứ !
Làm căng nhau , chỉ có lợi bọn xấu bên ngoài ( ? )
Xét cho cùng , cũng là họ Ôn cả .
Ôn Văn Dịch nuốt uất ức vào lòng . Bởi ông biết dòng tộc mình chẳng phải họ Ôn và cái âm mưu chết tiệt kia , có từ thời Cai Tổng Chuột .

Đời người như áng mây trôi ! Theo thời gian , Ôn Văn Dịch và Ôn Văn Bọ lần lượt về với ông bà .
Và , việc tranh chấp ranh đất vẫn còn nằm chình ình ra đó .

3.

Hòa bình !
Từng hộ gia đình tiến hành kê khai và đăng lại diện tích đất đai , điền thổ , theo thông cáo của chính quyền mới .
Ôn Văn Sâu – tên gọi Hai Sâu – con trai Xã Trưởng Bọ , ngồi rung đùi uống rượu một mình . Hai Sâu tắm tắc khen thầm , ông già lúc sinh thời – coi lù khù – vậy mà độc thiệt . Có lẽ , trong cuộc đấu tranh sinh tồn , người ta lấy cái thâm làm phương tiện  thực hiện cái ác và cái ác , giúp đạt được mục đích chiếm hữu vạn vật ?
Bề ngoài dòng họ Ôn sống duy cảm , đạo đức để dấu những mưu  mô , xảo quyệt bên trong . Ông nội và tía thường dạy : cái áo không làm nên thầy tu , nhưng nó có thể làm mù thiên hạ !
” Kê khai và đăng ký lại đất đai , điền thổ ” …Hai Sâu cười khanh khách :
– Cái ta mong , không cần chạy rong cũng đến . Đây là thời cơ có một không hai , giúp ta cưỡng chiếm một phần đất … mà cũng có thể , thâu tóm luôn khu vườn đất của Ôn Văn Vững , quy về một mối .
Hai Sâu ngã lưng ra sau ghế , rít một hơi thuốc lá thật sâu , nhả khói bay vòng tròn chữ O , cuộn tròn … cuộn tròn … như cuộn tài sản người khác về tay mình .
– Tuyệt ! tuyệt !

Hai Sâu tự sướng !

Ở nhà quê , tháng mười chưa cười đã tối . Hai Vững nằm trên chiếc chõng tre , lăn qua lộn lại không ngủ được . Hai nghĩ : trăm cái lýkhông bằng một tí cái tình , dù gì thì mình với Hai Sâu và gia đình cũng là chỗ thân tình nhiều đời , cùng họ , sống cận kề nhau , nên năm lần bảy lượt , Hai chịu nhục , nhịn nhường để giữ hòa khí đôi
bên . Càng chịu nhục , càng nhịn nhường , Hai Sâu càng lấn tới , càng ngang ngược .
Nhớ hôm đám tang của tía – Ôn Văn Dịch – thay vì Hai Sâu đến chia buồn và thắp nén hương tiễn người quá cố . Đằng nầy , Hai Sâu đến gây sự và làm áp lực việc tranh chấp ranh đất . Hai Vững nan nỉ thiếu điều muốn lạy , Hai Sâu mới chịu ra về .
Nguy hiểm hơn , đến nước nầy , vợ con Hai Vững xào xáo , tranh cãi và chia rẽ trầm trọng . Bà vợ trách ông :
– Tui cảnh báo lâu rồi , ông có nghe đâu . Nước tới chưn mới nhảy .
Thằng Bạo – trai trưởng – té nước theo má :
– Giờ thì nước tới háng mới nhảy !
Nghe má và anh Hai xỉa xói tía , Út Hén buông rỗ rau đang hái dỡ ,nhảy vô bênh tía :
– Nước tới háng mới nhảy , nhưng tía sẽ nhảy cú đẹp .
Thằng Cúi – trai thứ ba – mặt lỳ lịch , da tai tái , nói chầm chậm :
– Khi nhà mình cần thứ gì đều nhờ cậy chú Hai Sâu . Rắc rối trong
nhà ngoài ngõ cũng xin ý kiến chú Hai … Bây giờ đụng chạm quyền lợi một tí , cả nhà muốn ” phản thùng ” coi sao được .
Im lặng . Không gian buổi chiều như nghẹt thở . Thằng Cúi nói tiếp :
– Theo tui , chẳng có gì mà làm ầm ỷ ! Chuyện tranh chấp ranh đất đã xảy ra từ thời ông nội , không có gì mới (?) . Chỉ cần cả nhà ngoan ngoãn nghe lời  của chú Hai Sâu , mọi chuyện sẽ ” êm ru bà rù ”.
Một họ Ôn với nhau , chút ranh đất thấm tháp gì ? Cần thì , ta giao luôn đất đai cho chú Hai quản , miễn chú bảo bộc và nuôi gia đình mình là được rồi .
Út Hén lắng nghe anh Ba nói mà sôi trong bụng . Tại sao anh nỡ buông những lời phản trắc , độc địa như vậy ? Hay là …Út Hén không dám nghĩ tới …
Ông Hai Vững , thừa biết lòng dạ từng đứa con của mình !

Đêm về khuya , trời se lạnh . Tía má và Út Hén còn ngồi bàn bạc chuyện nhà . Đánh âm mưu lấn chiếm đất của Hai Sâu , bây giờ hoặc không bao giờ .
Ông Hai Vững kể toàn bộ sự việc gia đình từ thời ông cố , ông nội đến bản thân ông cho vợ và con gái biết . Rồi ông thở dài :
– Ông cố , ông nội con Út , đích thị họ Nguyễn . Thời cuộc tao loạn và nhiễu nhương , nên phải dựa họ Ôn thay tên , đổi họ mà sống .
Ông nghẹn lời , dừng giây lát . Út nóng ruột :
– Tía thì sao ?
– Tía chính thức họ Ôn , không họ Nguyễn . Tía con Tu Hú chứ chẳng phải con của Qùa Qụa . Tội nghiệp ông nội Ôn Văn Dịch !
Út Hén chen vào :
– Tội nghiệp bà nội nữa chứ tía !
Má Út Hén nghe qua câu chuyện , như người trên trời rớt xuống :
– Ở với mình mấy chục năm , đẻ cho mình 3 đứa con , tui có biết gì đâu . Thương dòng họ mình quá !
Được vợ con đồng cảm , ông huỵch tẹt việc Ôn Văn Sâu khống chế và rún ép trong vấn đề tranh chấp ranh đất . Hai Vững bị Hai Sâu bắt bài : má Vững lấy ông nội Hai Sâu đẻ ra Vững – theo vai vế – Hai Vững là chú ruột Hai Sâu , em cùng cha khác mẹ với tía Hai Sâu .
Có lần Hai Sâu nói thẳng với Hai Vững :
– Chẳng lẽ chú , cháu đập đầu nhau giành đất ? Hay chú muốn cháu lật bài tẩy thân thế chú trước bàn dân thiên hạ ?
Má Út Hén chép miệng :
– Thật là , oan gia nghiệp chướng ! Trời Phật , Thánh Thần đâu không
cứu khổ , cứu nạn người ngay ?
Út Hén rót cho tía tách nước trà , nói như giảng giải :
– Ông Trời , ông Phật cho người ta phần tâm hồn , phần xác thì bỏ mặc .Phần xác mới là phần cực kỳ quan trọng . Yêu thương nhau cho cái ăn , cái mặc ; không cho cái ăn , cái mặc , sao gọi yêu thương ?
Má Út Hén  đâm ngang :
– Thì đó , ông bà thường nói : miếng ăn là miếng tồi tàn , mất ăn một miếng lộn gan lên đầu !
Út Hén nói tiếp :
– Thần , Thánh ? Thần thì nhiều , Thánh hiếm hoi ! Đức cao trọng vọng mới mong được Thánh , người đời gọi Thánh Đức . Thần cần có ít  nhiều phù phép , người đời gọi Thần thông . Mà tía ơi , Trời Phật hay Thánh đức , Thần thông , cũng không ngăn nổi cái gien họ Ôn đi cướp
đất thiên hạ . Chỉ có tía mới cứu được tía và dòng tộc họ Nguyễn thoát Ôn , trở về cội nguồn và giữ đất của ông cha để lại .
– Nhưng tía lo sợ …
– Tía sợ cái gì ? Sự thật hoàn toàn thuộc về tía và sự thật ấy , tự nó chống lại âm mưu , hành động lấn ranh , chiếm đất của dòng họ Ôn  từ xa xưa , chứ  đâu đợi đến bây giờ .
Má Út Hén chen vô :
– Con nó nói phải đó ông !
Nghe vợ nói , ông quay sang con gái út :
– Thiệt tình , tía  chẳng biết tính sao để đối phó với Hai Sâu .
Út Hén bày kế :
– Sáng mai , tía họp anh Hai Bạo , anh Ba Cúi , nói rõ sự thật và những uẩn khúc giữa dòng tộc mình với dòng tộc họ Ôn , giữa ranh giới đất hai bên và âm mưu thâm độc của Hai Sâu trong vấn đề xâm lấn đất . Gia đình mình phải đoàn kết , thống nhất , tránh tình trạng” trống đánh xuôi , kèn thổi ngược ” .
Tía Út Hén băn khoăn :
– Anh Hai mầy thì được rồi , tía chỉ ngại anh Ba mầy.Không khéo nó thông tin cho thằng Hai Sâu biết , rắc rối to .
Út Hén giọng tin tưởng :
– Tía đừng ngại . Nói cho cùng , anh Ba cũng là xương thịt do tía má tạo ra , tận đáy lòng của anh ấy , vẫn lắng đọng hình bóng tía má .
Anh Ba ngã theo Hai Sâu , vì Hai Sâu mua chuộc và cho anh ngậm bồ hòn . Nhả bồ hòn , tự khắc anh quay về gia đình . Điều đó , chắc chắn Hai Sâu không nghĩ tới .Sương đêm là đà  ngọn cây trong vườn , bất giác Hai Vững rùng mình .Út Hén say sưa nói :

Bà con lối xóm họ bảo với con : ai mà không biết họ Ôn trồng tre nẩy măng , trồng dừa nước lấp mặt kinh để ngày sau chiếm đất . Nghiệt là tía bây họ Ôn , thằng Hai Sâu họ Ôn , dòng họ tranh giành , người ngoài cớ gì xía vô . Tía mầy phải la làng thì làng mới cứu . Sao không lôi cổ nó ra tòa , chí ít thì cũng phải đưa ra đoàn thể phân định đúng sai và hòa giải .

Má Út Hén ủng hộ ý kiến con gái :
– Nước đến háng rồi ông ! Hãy dũng cảm nhảy cú đẹp cho chòm xóm và má con tui coi !

Tiếng gà gáy rộ trong xóm . Trời sắp sáng .
Như ngộ ra điều gì , Hai Vững cười phá tan đêm tối :
– Vứt mẹ cái họ Ôn vào sọt rác  !

(more…)

Read Full Post »

Dì Bảy Tím

Cao Thị Hoàng

Dì Bảy Tím

 

Nhà dì Bảy Tím thuộc diện nghèo dưới mạt , trong cái xóm mạt dưới nghèo của vùng biên  Việt – Miên . Hai cuộc chiến đi qua , cái buồn đau ở lại . Và , nó cứ dai dẵng ở lại lòng người . Thế mới ác ! (more…)

Read Full Post »

Cao Thị Hoàng

2

Ven sông rạch vùng hạ Cần Giuộc , trên những bãi  đất bồi sình lầy  mọc đầy cây bần , vẹt , lá dừa nước… là quê hương yêu dấu của loài còng Vôi , còng Quều , còng Lửa sinh sôi , nảy nở từ đời này sang đời khác và giúp bạn nghèo khi thắt ngặt cái ăn . (more…)

Read Full Post »

Con ba khía quê nhà

 Cao Thị Hoàng
BaKhia-2
.
Ở miệt Tân Ân , không ai không biết đôi vợ chồng “lệch đũa” sống bên nhau tràn đầy hạnh phúc , dù quá khứ của họ có lúc như cặc bần sóng đánh.Thường thì , mỗi lúc chiều về chòm xóm lại nghe tiếng ru con của người vợ trẻ: (more…)

Read Full Post »

TẢN MẠN XÓM MÙ U

 Cao Thị Hoàng
Rung U Minh - Claycut
.
Xóm Mù U thuộc làng Tân Đông , nằm ven bờ nam sông Vàm Cỏ Tây , đối diện bờ bắc làng Mỹ Lạc . Thời xa xưa , thiên hạ đã bảo nhau : ” muốn nghèo về Mỹ Lạc , muốn mạt về Tân Đông ” . Bởi không còn cách nào để sống , cụ Hai Cử dẫn vợ con chạy trốn về Tân Đông , dù mạt vẫn tốt hơn ở đợ hội đồng Nhái . (more…)

Read Full Post »

Thằng Mẫm Đực (P2)

Cao Thị Hoàng

2012-06-14.11.33.21-hoang-hon-o-ca-mau0

2 .
Địch họa , thiên tai và nhân tai đã đẩy dân nghèo vào sự cùng cực sau ngày đất nước hòa bình .
Giặc Pốt đánh lấn chiếm và tàn phá vùng biên giới . (more…)

Read Full Post »

Thằng Mẫm Đực

Cao Thị Hoàng

351cbe64b732d1.img

Đêm giữ rẫy .
Hân lui cui thổi lửa , nhóm hơi ấm xua cái lạnh lập đông , cái lạnh của nhữnggái chưa chồng trên miền đất nghèo khó Vĩnh Hưng . Dì Tiết ngồi chòm hõm ,tay cầm que tràm vạch than tro , lùi từng củ khoai mì vừa mới nhổ  đất còn bám . Mùi khoai mì nướng quyện lẫn hương đồng , gió nội tháng chạp , khiếnngười nhà quê chộn rộn tết về . (more…)

Read Full Post »

Chuyện người

Cao Thị Hoàng
.
ca-mau-2
Saigon 1976
Đêm nay , đêm cuối cùng của đô thành Saigon .
Ngày mai , 2.7 đô thành Saigon chính thức là thành phố Hồ Chí Minh .
Đêm nay , đêm cuối cùng của Huy còn hít thở không khí đô thành và
ngồi trên thềm cũ nhà mình .

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »