Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Trương Văn Dân

.

  Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.  

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.

Tôi như chợt thấy một đời người dồn lại.

Chính vào giây phút đó, tôi ý thức rõ ràng rằng những người tuy đã mất đi nhưng vẫn còn hiện hữu, ở đây, lúc này, tuy vắng mặt mà hiện diện cùng tôi.

 Tất nhiên tôi không thể nhìn thấy họ như bóng dáng xưa. Nhưng nếu hiểu theo lời của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì: “Ngày mai, tôi sẽ tiếp tục hiện diện. Nhưng bạn sẽ phải rất cẩn thận mới có thể nhìn thấy tôi. Tôi sẽ là một bông hoa hay một chiếc lá. Tôi sẽ ở trong những hình dáng đó và vẫn gửi cho bạn một lời chào. Nếu bạn đủ nhận biết, bạn sẽ nhận ra tôi, và bạn có thể mỉm cười với tôi. Tôi sẽ rất hạnh phúc ”.

                                        &

 Năm mươi năm dồn nén như một chiếc lò xo, nhưng khi bung ra thì những  gì xảy ra trong suốt quãng thời gian đó đồng loạt thức dậy. Chập chờn nhảy múa trong một bầu trời đầy sương mù của ký ức.

Chỉ là một tình cờ hay có một sự sắp xếp nào đó của hoá công? Cách đây mấy tháng, một người bạn mất liên lạc hơn 40 năm tình cờ thấy và kết bạn với tôi trên Facebook. Dũng tìm được tôi nhờ đọc một bài báo trên BBC[1] tiếng việt  kể về chuyến bay vào tâm dịch Italia để gặp Elena ngay khi nước này dịch Covid.19 đang bùng phát mãnh liệt mà phần lớn các chuyến bay về Milano đều bị huỷ bỏ.

Mấy tuần sau anh gửi qua email mấy tấm hình mà tôi đã quên đi, không còn nhớ. Đó là bức hình chụp vào sáng ngày 21/12/1971  khi chúng tôi, một nhóm sinh viên 13 người vừa đặt chân đến sân bay quốc tế Fiumicino ở Roma.  

    Đoàn “nai vàng ngơ ngác” đến sân bay Fiumicino, Roma 21.12.1971. Ngày đầu ở Ý.

 Nhìn bức ảnh, cảm xúc trong buổi chiều 50 năm trước như vừa trỗi dậy. Những thanh niên lần đầu xuất ngoại, làm quen, nói cười rối rít, ai cũng cố tỏ ra mình cứng rắn để che giấu những lo âu về con đường trước mặt. Mặt đăm chiêu, ngồi trịnh trọng trên chuyến bay Air Vietnam từ Sài Gòn qua Bangkok. Thế nhưng lớp vỏ mạnh mẽ như lớp sáp tan chảy khi máy bay cất cánh. Tiếng nhạc trong khoang đang mở to lời hát  “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An: “Xin một lần xiết tay nhau một lần cuối cho nhau, Xin một lần vẫy tay chào thôi dòng đời đó cuốn người theo” thì có tiếng thút thít từ các ghế ngồi. Một người, hai người… rồi tất cả đưa mắt nhìn nhau, khuôn mặt nhạt nhoà.

           Chờ cảm xúc lắng xuống, tôi ngồi nghĩ lại. Sau bao năm vật đổi sao dời,  tuy khởi điểm là đi chung một chuyến tàu nhưng dòng đời đã cuốn chúng tôi, mỗi người trôi theo một định mệnh khác nhau.  Ai thuận buồm, ai ngược gió, quay cuồng “như lá úa trong cơn mưa chiều…” thành công hay thất bại gì thì cũng chìm trong bể khổ của đời.

                                            

Bắt đầu từ chuyến bay định mệnh ấy là những ngày tháng xa quê hương, bè bạn và những người thân.  Mọi gian khổ vất vả thì chịu được mà sự cô đơn, trống vắng thì nó mênh mang mà  không biết tỏ bày hay chia sẻ cùng ai.

Niềm an ủi lúc đó là được nghe một giọng nói thân quen, nhưng đó là điều không tưởng. Sinh viên thì nhà làm gì  có điện thoại mà gọi bằng gettone qua điện thoại công cộng, chi phí một cuộc gọi đường dài có khi bằng sinh hoạt cả tháng!

Gettone là đồng xu nhỏ, có một rảnh ở giữa và bỏ lên một khe nằm trên máy điện thoại. Sau khi kết nối nó sẽ rớt vào máy, thời gian rớt được tính bằng khoảng cách từ nơi gọi đến nơi nhận. Gần chậm, xa mau. Khi gọi xa thì tiếng gettone rơi nhanh như nhịp tim người gọi. Khi thời lượng tương ứng với số tiền trả sắp hết máy rung chuông báo, nếu không nạp kịp gettone là cuộc gọi bị ngắt!

 Thập niên 1970 tôi thường gọi Elena bằng cách này. Ngày nào ăn chiều xong chúng tôi cũng nói chuyện với nhau vài phút, nhưng cũng có khi cao hứng, nói với nhau cả nửa tiếng hay nhiều hơn. Vì là điện thoại công cộng nên có nhiều người khác đứng chờ bên ngoài. Có khi sốt ruột họ gõ cửa cabin hối thúc. Đứng bên trong, tôi xoè bàn tay trái đang nắm một mớ gettone, nhìn thấy, họ lắc đầu, miệng làu bàu rồi bỏ đi tìm máy khác!

Những khi nói nhiều, tiếng gettone rơi làm mình chóng mặt mà ở đầu giây bên kia còn  nghe tiếng mẹ Elena mắng: nói gì mà lâu dữ vậy!

Vì gọi điện khó khăn và đắt đỏ như thế nên mỗi khi gọi bạn bè ở xa như Pháp, Đức, Thụy Sĩ… thì chúng tôi xem như mời bạn cà phê, nói lâu hơn là xem như mời bữa ăn trưa, liên lục địa.

Vào năm 1981, lần đầu tiên tôi hẹn hai em Xuân, Minh vừa mới định cư ở Sidney (Úc) đến nhà cô dượng Tàu Năm để chờ nghe điện thoại, giọng chúng tôi run lên vì hơn 10 năm anh em mới nghe được giọng nói của nhau. Người nghe, kẻ nói đều đã chuẩn bị sẵn nội dung, tranh thủ nói nhanh để nói được nhiều!

                                                &

Những bức thư cất giữ trong chừng ấy năm làm tôi nhớ tới một thời đã qua và âm hưởng vẫn còn đọng tới bây giờ. Nó như những chiếc cầu cho tôi nối lại với cuộc đời chìm sâu trong kỷ niệm.  Mỗi khi nhận được thư của ba tôi, có khi viết tay, có khi đánh máy, tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần, dù đó là những bức thư thật dài, có khi hơn 10 trang giấy. Ba tôi đánh máy rất nhanh, còn viết thì thư ông chỉ có tôi là đọc  “ro ro” còn các em tôi thì vừa đọc vừa phải… đoán.

Sau khi buông thư tôi thường nằm dài suy nghĩ. Có khi tôi nghe như từ những bức thư đang thở ra hơi thở của ba tôi và trên sàn nhà đang thầm thì bước chân của ông, rõ ràng đến nỗi tôi suýt buột miệng gọi ông. Có khi tôi chăng nghe mà chỉ thấy những khuôn mặt xa xôi hiện về. Nhạt nhòa, nhưng vẫn thấy ba má và tất cả  các anh em Hiếu, Nga, Nguyệt, Xuân, Minh và tôi đang ngồi chen chúc quanh bàn ăn ấm cúng. Có lúc tôi mơ chân trần bước đi trên cát biển Qui nhơn, thỉnh thoảng ra mé nước nghe sóng vỗ dưới chân. Tuổi thơ của tôi đã trôi như một dòng sông và những lúc lặng lẽ ấy chỉ còn lại những hoài niệm mà thời gian đã mang đi xa lắc.  Đôi lúc tôi thấy tiếc nuối nhưng chỉ một thoáng thôi, vì nhiều nỗi lo toan khi nhìn đến thực tại nơi đất khách.

          Những ngày sau 1975 thời gian rảnh rổi không nhiều vì từ một chàng công tử vô tư tôi phải vừa làm vừa học. Áp lực kinh tế, học hành, tôi phải thanh thủ học trên xe bus lúc đông người mỗi khi đi đến chỗ làm hay lúc về nhà.

          Trong những lúc mềm lòng, tôi rất cần một bàn tay để nắm. Nghe được một giọng nói thân thương, không cần họ làm gì để giúp mà chỉ cần biết có ai đó quan tâm đến mình.

 Nhưng xung quanh nào có ai đâu! Không có sự chọn lựa nào khác là tự bước đi bằng đôi chân, nhận lấy trách nhiệm cho cuộc sống và tương lai của mình.

Hồi đó, trong suốt bao nhiêu năm… tôi mong chờ những bức thư như một bộ hành mơ nguồn nước trong sa mạc. Gửi thư đi, trung bình 3 tháng mới nhận được trả lời. Biết thế, nhưng viết xong thì ngày nào cũng chờ. Mỗi sáng ra khỏi nhà đều nhìn vào hộp thư, dù biết chắc là không có mà lòng vẫn hụt hẫng.

Những bức thư thường làm tôi bâng khuâng, rộn ràng, đầy ắp niềm vui song cũng man mác, bồi hồi.

Vì những điều kiện khách quan nên tôi không được sống gần ba mình. Thế nhưng trong thời gian ít ỏi đó những bài học của ông vẫn theo tôi suốt cuộc đời. Những lời dạy từ  nhỏ vẫn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách cũng như quan niệm về cuộc sống.

Trong thư, ba dặn ra xứ người con sẽ phải hoà nhập vào văn hoá và xã hội mới nhưng đừng để bị làm mờ cái gốc của mình.

Tôi nằm lòng lời căn dặn đó. Sống nhiều năm ở trời Tây, mà khi về Việt Nam ít ai nhận ra tôi là “Việt Kiều” vì  phong cách dân dã chân quê, như bùn đất quê hương vẫn còn bám từ bấy đến nay. Tuy đã từng ngắm tuyết ở trời Âu nhưng cũng đã từng tắm truồng trên dòng sông Côn; Từng ở khách sạn 5 sao lộng lẫy ở nước ngoài nhưng cũng đã từng ăn bát cơm nóng nấu trong nồi đất vào ngày mưa ở Vĩnh Thạnh, nhìn gió núi lùa qua cửa sổ, thấy người thân ở quê ngoại rét run người với chiếc áo phong phanh… bấy nhiêu năm, tuy sống xa nhà mà nề nếp, thói quen, tính cách của ngày xưa vẫn con đậm nét.  Tiếng Việt của tôi vẫn như xưa,  thời gian đầu có chút bỡ ngỡ về vài từ mới nhưng chỉ nghe qua một lần là nhớ, và tuy sống ở nước ngoài 50 năm nhưng tôi chưa bao giờ        “độn” thêm từ ngoại quốc nào trong giao tiếp, tôi nghĩ viết “chúc mừng năm mới” là đủ nghĩa chứ thấy không cần phải viết “happy new year” làm gì.

Có thể nói cái tâm là ba tôi đã dạy cho tôi. Sau 1975, ông biết tôi sẽ gặp khó khăn và những buồn phiền không thể tránh: “Đã làm người, thì con phải chấp nhận gánh vác. Đôi khi còn phải gánh cả những việc oan ức…” “ Nhưng dù thế nào cũng không được thù hận và đánh mất niềm tin vào tính thiện lương của con người ”. “ Nếu có điều kiện thì cứ giúp người, thà bị sai lầm còn hơn là ân hận ”..

             Trong những bức thư ấy có điều tôi hiểu ngay nhưng cũng có những lời dạy, mà mãi nhiều năm sau, quá tuổi 60, nghiệm ra tôi mới hiểu. “Sống là phải làm tốt vai trò và bổn phận của mình trong xã hội, nhưng cố bỏ cái tôi để sống an nhiên và hạnh phúc với chính mình.” “ Tài năng gì cũng chỉ là bọt bèo. Đừng kiêu căng hay đuổi theo ảo ảnh; Danh tiếng, địa vị gì cũng đều phụ thuộc vào lời khen chê của kẻ khác. Đừng để tâm trí mình dao động vì những việc nằm ngoài tầm kiểm soát đó để không bị biến thành con rối của miệng đời.”

          …Rồi biến cố đau buồn.  Vẫn còn trẻ và đẹp nhưng  trái tim ông đã lặng lẽ ngừng đập. Ông chỉ sống vừa đủ lâu để thấy những thay đổi của đất nước và lòng người.

Nhưng ba tôi không mất. Ông chỉ nằm an nghỉ trong trái tim tôi mà thôi.

                                                &

Những bức thư ấy là những nhịp cầu nối liền khoảng cách và kết nối tình thân. Xa bỗng hóa gần.

 Ngày xưa… liên lạc với nhau rất khó! Nhưng hôm nay, với phương tiện sẵn sàng, mọi cuộc gọi đều tức thời và miễn phí nhưng con người lại ít kết nối với nhau! Ai cũng than rằng mình rất “bận”. Là không có thời gian? Nhưng có thực là chúng ta bận đến nỗi  đến không thể gửi một tin nhắn vài phút để hỏi thăm, để biết là mình đang nghĩ đến và chia sẻ với người thân?

 Đúng là cuộc sống hôm nay tất bật, nhưng một cuộc gọi, một tin nhắn để biết rằng đang nghĩ đến nhau là luôn cần thiết.

           Với một khoảng cách quá xa, có khi cách nhau nửa vòng trái đất, thì một tin nhắn có nghĩa là ta vẫn hiện diện khi… đang vắng mặt. Người ở xa cũng không đòi hỏi gì nhiều. Một cuộc gọi ngẫu nhiên, để một thoáng quên đi những bận bịu cơm áo thường ngày hay tạm quên đi những muộn phiền không đáng nhớ. Nghe giọng một người quen ở xa là một niềm an ủi. Biết rằng trên đời này còn có ai đó nhớ đến mình.

           Gọi thăm thôi. Cần chi mục đích? Vì thực ra mục đích quý báu nhất là thăm hỏi mà không có mục đích nào.

          Nhưng dường như mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi cú điện thoại đều vì một điều gì. Không cần, không liên lạc!

 Ngày nay, con người thực dụng nên cân đong đo đếm tình cảm bằng những điều kiện sinh tồn chăng? Đôi lúc vì dửng dưng mà ta làm nhạt nhòa những tình cảm đẹp, đánh mất những hạnh phúc giản đơn.

Với các lý do “gần như” hợp lý, nhiều người biện minh cho sự bận rộn vì nỗi lo cơm áo, mà thực tế là trên mạng xã hội hằng ngày họ vẫn đưa hình khoe con khoe cháu, tiệc tùng ăn uống hay hiện diện ở các địa điểm du lịch đấy thôi.

 Hãy sử dụng tốt thời gian vì không ai biết mình sẽ còn bao lâu nữa.

Hơn hai năm bị mắc kẹt Covid ở Ý, tôi đã nhận ra: có một số người nếu không chủ động tìm, họ chẳng bao giờ hỏi đến. Nhờ thời gian đó mà hiểu ai mới thật sự là người quan tâm đến mình.

May là suốt những ngày bị cách ly ở Milano vì  Covid.19… tôi đã sống toàn tâm toàn ý với tình yêu văn chương. Đọc và viết rất nhiều. Tôi dành trọn ngày đêm để viết những quyển sách của mình, thi thoảng sửa lại một vài truyện ngắn hay dịch vài đoạn văn hay. Trên bàn làm việc luôn có một bình hoa nhỏ đa sắc mà Elena đã trang điểm cho không gian sáng tác. Phòng làm việc có một cửa sổ lớn nhìn ra ngoài, bầu trời có khi xám xịt, có lúc trong sáng tùy theo mùa. Những lúc nghĩ ngợi, tôi thường nhìn cây lê đơm hoa trắng muốt báo  mùa xuân, rồi hoa rụng báo mùa hè, rồi lại lá lại vàng để báo thu sang, sau đó thì trút lá, cành trần trụi trong sương tuyết khi một mùa đông đang đến. Hoa lê trắng còn nở lần thứ hai để mùa xuân khác đến rồi sẽ sớm trôi qua vào mùa hè, mùa thu và mùa đông thứ hai. Thế giới, ký ức về Việt Nam như càng ngày càng xa.

 Thế rồi, đùng một cái, ánh sáng như chói chang rực rỡ hơn từ cái thế giới sáng tạo chiếu vào cái không gian chật hẹp tù túng của những ngày bị cách ly, khi tiểu thuyết Ước Hẹn Cuối Cùng bước vào giai đọan cuối. Nhìn khuôn mặt rạng rỡ của tôi, Elena liền hỏi: anh viết xong rồi hả? Năm mươi năm qua, không cảm xúc nào của tôi mà không bị vợ mình phát hiện.  Suốt hơn hai năm tôi đắm mình cho tiểu thuyết, miệt mài buồn vui hạnh phúc khổ đau cùng nhân vật. Câu chuyện trong tiểu thuyết vô vàn đắm say mà cũng đầy thăng trầm, sầu khổ. Nhưng câu trả lời của tôi là một tràng cười. Điều kỳ lạ là tiếng cười của mình làm tôi kinh ngạc. Cảm tưởng như 50 năm về trước tôi đã nghe chính giọng của mình trong một máy ghi âm trên băng casette. Lúc đầu tôi hoàn toàn không nhận ra, tuy nó đúng là giọng của tôi, nhưng đó là cái giọng mà người khác nghe chứ không phải cái giọng mà bản thân tôi nghe được như máu thịt đến từ bên trong của con người mình.

Suốt hai năm qua tôi âm thầm và im lặng làm bạn cùng nhân vật, hòa mình với những đau thương, chết chóc nên tôi như đã quên đi thực tại. Cười như thế nào? Và bây giờ giống như lần đầu tiên tôi nghe tiếng mình cười.

Lệnh giãn cách lúc này đang nới lỏng và sắp chấm hết. Tôi sẽ được tự do bay về Việt Nam để gặp lại bạn bè và lo việc in ấn tác phẩm tâm huyết của mình. Thế nhưng khi dịch bản thảo ra tiếng Ý- L’ultima promessa- cho hai người  bạn thân thì họ khuyên nên in trước bằng tiếng Ý vì bối cảnh tiểu thuyết ở Milano và những vấn đề liên quan đến văn hóa và luật pháp ở Ý…

 Tôi sẽ làm gì với ánh sáng chói chang của những ngày “tự do” sắp tới? Tôi sẽ làm gì với những thói quen cũ, gặp gỡ bạn bè bị gián đoạn sau một thời gian dài? Một quyển sách sắp in không thể trả lại cho tôi những ngày bị cướp mất vì đại dịch. Nó như một đứa con sắp được sinh ra, cần phải chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, giúp nó tránh những cạm bẫy, những phê phán, đố kỵ hay yêu thương chào đón… tất cả những hệ quả mà mình đã mường tượng trong lúc hình thành câu chữ. Vâng, tôi biết khi sách ra đời, nó cũng không thể nào tránh được những hệ lụy như một con người, cái đề tài mà trước đây tôi đã từng trăn trở khi viết tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần.

Milano 10.2022

https://www.facebook.com/xuan.truong.967/posts/pfbid0FFTLTjRWF37HZZ7whyzECQncZH9cqc2TJEJAjwz4v8YikkQsxPgBSmNcCQjhuEbVl?__cft__%5B0%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__cft__%5B1%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__tn__=%2CO%2CP-R%5D-R  19.6.2023

Xuan Truong cùng với Minh Truong và  8 người khác

Một truyện ngắn hay cho ngày Father’s Day của nhà văn Trương văn Dân.  Xin mời đọc:

BỨC ẢNH VÀ CHỒNG THƯ CŨ.

Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.


[1] https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-52089979?fbclid=IwAR3B-XnOx36srzUb5qkbVbwLumAjeZvl6Uld_e6QJUDnLQrysJazTeANZlw

Read Full Post »

Săn mây

Đinh Lê Vũ

.

Văn phòng My làm việc có chín người. Anh Trân làm trưởng đại diện, quản lý tám nhân viên. Tổng công ty ngoài Hà Nội, năm thì mười họa mới thấy một lần. Chỉ có chín anh em, nên y như trong một gia đình. Anh Trân là ông bố, chị Chi là bà mẹ, đám lau chau còn lại là bầy con. Trong giờ làm cũng như ngoài giờ, đi đâu cũng có nhau.

Minh họa: VĂN TIN
Minh họa: VĂN TIN

Đùng một cái, ông bố về hưu. Không chỉ vậy, anh Trân còn dự định về hưu sẽ sang nước ngoài ở với con. Viễn cảnh xa xôi nghìn trùng hiển hiện trước mắt. Đứa nào cũng buồn, mà không nói ra.

Cả nhóm tính làm một sự kiện gì đó, thiệt long trọng, để chia tay anh Trân. Ban đầu, dự tính sẽ ăn tối với nhau ở một nơi thiệt xịn xò. Nhưng vẫn chưa đủ. Tình cảm dài, mười mấy năm chia ngọt sẻ bùi với nhau, một bữa tối sao đủ. Thêm chuyến đi chơi xa mới thỏa. Để sau này, có cái mà nhớ lại.

Anh Văn hăng hái với ý tưởng đi chơi nhất. Anh nói đi đâu để anh cầm tài tổ chức cho. Măng Đen là hợp lý nhất. Từ Tam Kỳ, chạy vô Quảng Ngãi, rồi rẽ lên Măng Đen. Chừng hai trăm cây số. Gói gọn trong hai ngày cuối tuần.

Sẽ đi ngang qua đèo Vilolak, cảnh tượng vô cùng kỳ vĩ. Nghe qua là thấy thích rồi. Anh Văn lo thuê xe, đặt phòng, lên lịch trình. Chuyến đi là để anh Trân có chút kỷ niệm đẹp với mọi người, trước khi về hưu.

Hào hứng vậy, nhưng gần tới ngày đi, có mấy người thoái thác. Ai cũng có lý do. Cuối cùng, còn lại anh Văn, người cầm tài tổ chức và Loan, Tiến, My là mấy đứa tre trẻ, ham vui. Anh Văn băn khoăn: Ít người quá, mình có đi không? My nói: Chuyến đi là cho anh Trân. Ảnh muốn đi, tụi mình sẽ đi.

Vậy là đi. Chốt lại, còn năm người, tính cả anh Trân, là ba nam hai nữ. Thuê chiếc xe bảy chỗ. Đặt cái phòng dorm ở một homestay trên Măng Đen, mấy anh em ở chung với nhau. Cái homestay là do anh Nam, bạn của anh Văn giới thiệu. Anh Nam là nhiếp ảnh gia tự do sống ở Quảng Ngãi, ảnh ngao du khắp nơi, chỗ nào cũng biết.

Mới đầu, chỉ là anh Văn hỏi anh Nam vài thông tin về Măng Đen, rốt cuộc, anh Nam là thành viên thứ sáu trong đoàn. Anh Văn nói, anh Nam nhiệt tình, lại rành Măng Đen, chắc chắn sẽ đưa mình đến vài chỗ thú vị. Chưa gặp anh Nam mà ai cũng hào hứng.

Anh Nam gợi ý khởi hành sớm, ba giờ sáng lên đường. Để kịp săn mây trên đèo Violak, mùa này mây phủ trên đỉnh đèo rất đẹp. Anh Trân lùng bùng: Đi chơi chi sớm quá, như đi ăn trộm. Nhưng thấy mấy đứa nhỏ háo hức, anh cũng miễn cưỡng xuôi theo. Anh cũng chỉ mới nghe nói, chưa săn mây bao giờ. Dễ chi được đi săn mây.

Xe đến đỉnh đèo Violak gần sáu giờ sáng. Trời chưa sáng hẳn, mây mù giăng kín đỉnh đèo. My tưởng chỉ có mình nhóm My săn mây, ai dè lên tới nơi, cũng thấy kha khá người và xe. Đứng nhẩn nha một lúc thì nắng lên. Lúc này, trời trong vắt, mây gom lại thành cụm lững lờ, hiền hòa. Cảnh tượng như cảnh tiên. Ai cũng tranh thủ tạo dáng chụp ảnh, để lưu lại chút gì đó thật đặc biệt với mây, để khoe lên Facebook.

Chỉ anh Trân là thờ ơ. Anh leo xuống xe, ngó qua, rồi leo lên xe lại, thiêm thiếp ngủ. Anh than: Tau đi xe nhiều không bao giờ say xe, răng đi cái đèo ni, mệt khiếp. Loan đang nghiêng đầu tạo dáng, nghe anh nói, quay lại, nhìn anh thông cảm: Anh chờ tụi em chút xíu, chụp xong tấm ảnh, tụi em lên liền.

Chút xíu của Loan là gần hai tiếng đồng hồ. Không riêng Loan, cả anh Văn, cả Tiến, cả My đều say sưa, tới lúc anh Văn kêu lên xe còn ráng bấm thêm chỗ này một kiểu, chỗ kia một kiểu.

Anh Nam trở thành nhân vật trung tâm, vì anh chụp ảnh đẹp, lại mang theo flycam. Anh chụp ảnh cho mấy đứa bằng flycam, còn tranh thủ quay mấy đoạn phim ngắn cho trang web du lịch anh cộng tác. Đứa nào cũng vui, cũng hí hửng, không đứa nào nhớ tới anh Trân đang chờ trên xe.

Lúc cả bọn quay lại, anh Trân không còn ngủ nữa. Anh ngồi sõng soài, dựa vào lưng ghế, nhìn xa xăm. Anh hỏi đúng một câu: Đi được chưa, mà đứa nào nghe cũng nem nép, không biết anh có chi không vui mà tự nhiên kiệm lời quá.

Cả nhóm rồi cũng tới được Măng Đen đúng ngọ, sau khi dừng lại ăn mì gói, uống cà phê quấy quá ở cái quán nhỏ trên đỉnh đèo. Anh Nam đưa cả nhóm đến ăn trưa ở quán lẩu, có nhiều món đặc sắc, đặc biệt là món lẩu xuyên tiêu, nước cay sè.

Cả bọn húp nước lẩu sì soạt, khen ngon tới tấp, anh Trân chỉ nhấm nháp chiếu lệ, anh không ăn cay được. Ở văn phòng, mỗi lần đi ăn ở đâu, chị Chi hay dặn chủ quán làm suất ăn không cay cho anh, lên Măng Đen thì không đứa nào nhớ chuyện đó.

Bước ra khỏi quán lẩu, đứa nào cũng hồ hởi: no quá, ngon quá, mà không nghe anh Trân nói gì. Anh Nam hỏi: Ăn ngon không anh, anh trả lời uể oải: Cũng tạm. Hỏi vặn thêm thì anh nói chả cá ngon, măng trộn thì hơi tệ. Anh không nói chi tới món lẩu.

Chỉ có My là thấy anh có vẻ trầm ngâm, nhưng ý nghĩ này cũng thoáng qua trong đầu My, rất nhanh. Còn cả một buổi chiều, rồi sáng mai với nhiều tiết mục hấp dẫn. My phải chợp mắt một chút để buổi chiều, mặt tươi tỉnh mà chụp hình.

Buổi chiều, cả nhóm đi tham quan khu nhà cây, lòng vòng ở dãy chợ phiên cuối tuần, đứa nào cũng vui một cách bận rộn, tận dụng từng khoảnh khắc. Bỏ lại không khí văn phòng sau lưng, không còn sếp, không còn nhân viên, chuyến đi này là để anh em vui với nhau, nên phải hết mình.

Nhảy sạp, kéo nhau ghé mấy quầy hàng trong khu chợ phiên thử hết các món đặc sản… tụi nhỏ làm anh Trân theo đuối đơ. Anh đã đến tuổi bắt đầu chậm chạp rồi. Thâm tâm, anh muốn chuyến đi này là dịp để anh em ngồi sum vầy, tâm sự. Để anh hiểu mấy đứa hơn, mấy đứa hiểu anh hơn. Làm việc chung với nhau, không phải lúc nào anh cũng thoải mái, mở lòng được.

Anh tưởng chuyến đi sẽ rất gắn kết, cởi mở, nhưng nó không được vậy. Có điều gì đó rất khác, trong cách mà mấy đứa nhỏ đối với anh. Tụi nó vẫn quý anh, nhưng không còn cái trang trọng, chừng mực như ở văn phòng, nơi mà nhất cử nhất động của anh đều được quan tâm, mọi ý kiến của anh đều được lắng nghe. Anh thấy ngậm ngùi, rõ ràng là không thể không thấy ngậm ngùi, hụt hẫng.

Đêm ở núi rất sâu. Càng về đêm trời càng lạnh. Ngồi uống rượu với cả nhóm trong căn nhà gỗ của homestay, có lúc, My còn nghe được tiếng lá rơi khẽ khàng, tiếng gió đuổi nhau ngoài kia xao xác.

Anh Nam mượn ở đâu cây guitar mang ra đàn hát tặng mọi người, giọng anh ngọt và ấm: Rồi mai đây, khi mình xa nhau, nhớ đến nhau hoài.. (*). My thấy mình như say chếnh choáng, không biết là say đêm, say rượu, hay say giọng hát.

Tàn cuộc rượu thì đã quá mười hai giờ đêm. Mọi người nhìn quanh, lúc này mới nhận ra anh Trân đã không còn ngồi ở đó nữa. Mấy đứa rón rén vô phòng, đi thật nhẹ, không ngờ cũng làm anh Trân thức giấc.

Anh hỏi: Giờ này mấy đứa mới đi ngủ à? Anh Nam, có lẽ thấy áy náy, buột miệng rủ: Sáng mai, em đi săn mây, cách homestay mình ở chưa tới ba cây số. Mọi người đi với em đi, không đi thì tiếc lắm.

Loan, là đứa cả ngày nay chụp ảnh nhiều nhất, chơi nhiệt tình nhất, lên tiếng hỏi: Mấy giờ mình đi, anh Nam? Nam cười: Sáu giờ sáng. Anh Văn với Tiến gật đầu: Tụi này ok. Anh Trân lừ khừ: Tính sau đi. My lắc đầu: Em không đi, mệt lắm, em ở nhà ngủ.

Buổi sáng, anh Trân là người dậy sớm nhất, chừng bốn giờ sáng đã dậy rồi. Lúc mọi người xôn xao gọi nhau, ảnh đã ngồi thiền xong. Nam hỏi: Đi không anh? Ảnh ngần ngừ nhìn quanh, thấy My vẫn đang ngủ, ảnh nói: Thôi, để anh ở nhà với My.

Mấy đứa rời homestay đi săn mây. Tưởng là chỉ đi chừng một tiếng đồng hồ thôi, ai dè cảnh đẹp quá, mây trắng quá nên mấy đứa quên cả giờ giấc, lúc về, Nam lại phát hiện bỏ quên đồ, phải quay lại tìm.

Mấy đứa đi với Nam quay lại tìm đồ, hứng lên đi ăn sáng luôn, mặc anh Trân với My ở nhà chóc ngóc chờ. Tề tựu tới homestay thì đã gần mười giờ sáng, thấy anh Trân với My đang ngồi thu lu, mỗi người mỗi góc, mấy đứa biết là có chuyện rồi. Nên líu ríu dọn đồ, líu ríu kéo ra xe.

Mọi thứ trôi qua có vẻ bình thường, lịch sự, nhưng vì lịch sự quá nên ai cũng cảm nhận rõ ràng là đã có chuyện. Mà chuyện gì ta? Lẽ ra, chương trình của ngày thứ hai sẽ đi cà phê ngắm hoa hồng, ghé chùa Khánh Lâm, rồi ăn trưa, ghé tắm suối trên đường về.

Nhưng lúc lên xe, nhìn vẻ nghiêm nghị khác thường của anh Trân, không ai dám nhắc tới cà phê, tắm suối. Tới khi đi dạo trong khuôn viên chùa Khánh Lâm, anh Nam mới rón rén hỏi anh Trân: Mình ghé tắm suối không anh? Anh Trân lắc đầu: Chạy về thẳng Tam Kỳ đi!

Suốt chặng đường về, không khí trên xe rón rén một cách lạ kỳ. Nam nói chuyện điện thoại liên tục như để khỏa lấp cái im ắng khó chịu. Văn, Tiến cắm cúi lướt Facebook. Loan giả bộ ngủ gà ngủ gật. Cả Văn, cả Tiến, cả Loan đều bồn chồn, mong xe nhanh về tới Tam Kỳ, để tách My ra hỏi: Có chuyện gì vậy?

Về tới nhà rồi My mới nói: Có chuyện gì đâu, anh Trân ảnh buồn. Nói là rủ ảnh đi chơi chia tay, mà tụi mình cứ đu theo ông Nam săn mây, mấy cũng anh Nam này, anh Nam nọ. Không phút giây mô tụi mình dành cho anh Trân, ngồi với ảnh, tâm sự với ảnh. Anh Nam đi chuyến này là kết hợp đi làm, chớ đâu phải dẫn mình đi chơi. Ảnh có quen biết chi với anh Trân đâu mà nhiệt tình dẫn đi, chia tay với tiễn biệt.

(*) Lời ca khúc “Rồi mai đây”, nhạc ngoại quốc, lời Việt của Trường Kỳ.

.

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Sáng hôm nay mặt trời lên sớm hơn mọi bữa , bóng nắng bao trùm vườn sau sân

trước, mấy con chim trốn lạnh đã chấp chới bay lượn trên dãy hàng thông sau nhà

Mới ngày hôm qua …cơn bão tuyết dự đoán sẽ đổ vào thành phố này cuồng nộ…

Mọi người chuẩn bị bao nhiêu là thực phẩm trong mấy ngày, chợ búa xáo xác những người chen nhau mua tất cả mọi thứ cho gia đình …

Bỗng những hạt mưa…trong nắng , rớt xuống, vội vàng, óng ánh như dãi

lụa được pha màu đan xen, bóng mượt và óng ả….hạt nào cũng to như hạt cườm trong suốt…

Là một cơn mưa đá dai dẳng , âm thầm rơi xuống thành phố Atlanta vào ngày thứ Bày.

Sáng chủ Nhật không có nắng ấm để làm tan chảy những hạt đá nhỏ li ti, đọng lại trên bờ cây ngọn cỏ như những hạt kim cương lóng lánh khắp đó đây…

Sáng thứ Hai …lại một ngày nắng đẹp, trường học đóng cửa, học sinh được ở nhà cuộn tròn trong chăn ấm…Hảng xưởng đóng cửa, phố xá lại bình yên .

Buổi trưa ngày thứ hai gia đình các con tôi, các cháu tôi lại cùng nhau “Kéo ghế” ở một nhà hàng Tàu mới mở gần nhà

Nắng vàng đang rộn rã khắp nơi

Hàng cây bên hai bên đường vẫn còn vương vãi những sợi nước trong veo kết chùm.

Bên kia cao ốc loang loáng những hạt nắng về …ẩn lấp lánh sợi tuyết tan nhấp nhô như giang tay hứng lấy từng hạt mưa giăng còn rơi rớt

+++

Ngày mai …

Hai bên đường , nhất là đọan đường ra các xa lộ, những bông hoa dại được thành phố gieo

trồng một lần cho đẹp bức tranh thành phố, cùng nở rộ như những tấm thảm hoa,

Mỗi lần đi qua những rừng hoa ấy tôi thường lái thật chậm để thỏa thê ngắm nhìn,

Đôi khi dừng lại ghi vài tấm hình , xa xa cũng có một số người xuống xe vào giữa rừng hoa đủ màu

Cùng nhau ghi hình kỷ niệm cùng mùa Xuân mới trở lại cùng đất trời.

.

Tôi bước ra khoảng trống của trời cao xám đục, ngửa mặt hứng những hạt

mưa tung vãi…hơi lạnh còn lẩn khuất đâu đây, mùa đông vẫn còn âm ỉ đó đây.

Mưa như thấm vào chân tóc…ủ ê nỗi buồn tôi tan loãng vào cõi hư vô…

Tôi đưa tay vuốt nhẹ cánh tay trần loang loáng những hạt mưa…nhớ vạt

áo ngày nào của một thời xa cũ…

Hạt mưa quê tôi sẽ âm ỉ từ ngày qua ngày khác

Những cơn mưa ở đây chỉ lóang lóang từng vùng rồi trơn tuột vào cõi hư vô,

Bóng nắng sẽ phủ đầy sau cơn mưa bất chợt, đôi khi chỉ một đọan đường mà tôi

mới vừa qua, bên kia thì ráo hỏanh khô queo, đúng là cơn mưa xứ người ta .

Đúng là thượng đế vẫn ưu tiên cho đất nước này hơn xứ sở nghèo nàn của

dân tộc tôi: Bão tuyết hay Mưa giông ở đây chỉ là tưới giúp những cây trồng thêm sắc thắm tươi, những con đường không hề ngập ngụa, nước không dâng cao ngập úng những con đường khó khăn lưu thông xe cộ…

Những trận mưa quê tôi dai dẳng suốt bao ngày, nước tràn đồng gây bao cơn bão lũ…

Nước tràn đồng, gây khổ cho đám dân nghèo cơ cực lại thêm muôn phần cơ cực,

Thành thị sau những trận mưa , nước ngập khắp phố phường, bế tắc mọi giao thông.

Trách ông trời cao đổ bao khổ hận xuống các vùng quê nghèo hay nơi phố phường đô hội

cũng bị tan tác vì những cơn mưa hay trách kẻ chức trọng quyền cao cướp đi sự bình yên của mọi

người vì chỉ biết gom cho hầu bao thật đầy mà quên đi việc phải làm cho quốc gia đại sự…

(Là những công trình bảo vệ môi trường và chống ngập quê nghèo cho đám dân nghèo quê tôi…)

+++

Mưa ơi, mưa cứ rơi hoài…rơi mãi nhé.

Chiều ơi, chiều cứ buông….cùng tiếng gió thì thầm

Gió ơi, gió cứ hòa cùng mưa…tạo nên những âm hưởng ngậm ngùi, tan

hoang… gió nhé….

Sấm sét vẫn chập chùng soi sáng niềm riêng và cháy bùng một góc trời

và tâm hồn cháy bỏng những ưu phiền.

Đất và trời mãi cách xa nhau quá làm sao thấu hết vạn nguồn cơn…

Tôi ngồi bên trong khung cửa …chờ mong thời khắc qua mau …Để được lên một chuyến bay xa…

,Ngoài kia vẫn còn xôn xao ánh nắng vàng lung linh trong giá lạnh buổi tàn đông…

Tôi bàng hoàng nhìn thấy nỗi buồn từng giọt…

Rơi xuống mắt môi tôi trống trãi

Hạt mưa vương tóc ướt

Thấm da thịt dỗi hờn

Run run môi mím chặt

Giá buốt nhòa đáy tim.

Ôi chao, những hạt mưa phơn phớt cuối mùa của buổi chiều nơi này.

Bất chợt…

Khuấy lên trong riêng tư của đáy tâm hồn những ưu tư thầm

lặng, của nỗi sầu không tuổi không tên, không kể lể, không thốt câu

tâm sự…

Những ngón tay bâng quơ, khép vội,

Tôi rùng mình khẽ khàng quay lại…

Ngoài kia….những hạt mưa vẫn đơn côi lướt vội

Tôi thèm chạy ra giữa Parking trống trơn, ngửa mặt hứng mưa tuôn như những

ngày bé dại thật xa…

Một mình băng mình ra ngoài phố xá …

Những con đường thật xa

mờ trong ký ức một đời tôi,

Những con đường làng quê tôi , con đường làng

ngày xưa tôi đã sống suốt tuổi thơ ở đó.

Một mình băng qua những con đường quen thuộc của những tháng năm xa…

Nơi thành phố Quy Nhơn …sau lưng tôi bỏ lại

Những con đường của thành phố Quy nhơn trong tôi còn nhớ mãi… . Con

đường Võ Tánh, Trần Cao Vân, Gia Long, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ, Nguyễn Thái học, Cường Đễ …( Đó là những con đường mà tôi còn nhớ được)

Trở về lối cũ vào nhà tôi …với áo dính da , tóc rối mù vì những

giọt mưa không hò hẹn, những hạt mưa làm tím môi, nhói lạnh tim hồng.

Mưa rơi,hạt xuống lòng tôi

Mưa rơi ướt tóc…Ướt đôi vai gầy

Chiều nay, mưa rớt nơi đây

Chiều mưa bên ấy…còn ai ngóng chờ???

Bây giờ, tôi muốn một mình ruổi rong trên những lối đi ướt cơn

mưa…những con đường lớn rộng che chắn bỡi những tán cây ủ rũ, che

phủ cả trời mây…

Những chiếc xe phóng nhanh lướt vội, những cái đầu

nhoài ra cảm thông và thúc hối…

Người… là một kẻ bất hạnh lỡ xe, một lữ khách xa nhà không biết luật lệ

xứ người, một kẻ khốn cùng với chiếc xe cà tàng chết máy…đó là trong

tâm ý của những kẻ qua đường…

Tôi chính là kẻ mơ màng giữa cơn mưa, một tâm hồn mỏng manh bé mọn,

chợt buồn, chợt vui, chợt thương, thoáng nhớ…mộng tưởng những chuyện

không bến không bờ, tất cả cũng chỉ là hư vô không thực…

Tôi chui mình vào xe…lướt qua những con đường mới quen

Những vũng nước mưa còn đọng trên lối đi trước mặt, nhẹ chân ga và xua

đuổi những bến mơ…

Chỉ những lúc tâm hồn tĩnh lặng tôi mới thả hồn

theo tay lái đi qua hết con đường mới quen Pleasant Hill Thành phố Lawreceville … rộng lớn với những xe cộ ngập tràn.

Không định hướng mà vết xe lăn mãi ruổi rong vào con đường rộng

mở…lối vào nhà tôi.

Chỗ của tôi

Con đường trở về nhà

Những hàng cây đang rộn rã nở những chùm hoa trắng đục của cây mận cây đào

cây Lê, cây táo, và những mầm non đang nhú trong những chậu đất mà mấy tháng qua, che chắn những giá rét trời đông,

tôi đã ươm trồng,

Mai này khi lìa xa nơi này, chúng sẽ nhu nhú những chồi non mơn mởn…chờ đón tôi trở lại nhà sau một thời gian dài tung tăng nơi thành phố cũ…

Đây mới là chỗ của tôi,…Con mèo nhỏ có biết rộn ràng chào mừng chủ nhân trở về ngôi nhà ấm áp.

Chiều chưa xuống tôi sẽ ra vườn sửa sang lại những hoang hóa của dư âm mùa đông giá.

Chuẩn bị cho khu vườn mùa Xuân khi tôi trở lại chốn này.

Những hạt mưa ngày hôm qua …

Đã giúp cho những

bông hoa trong vườn thêm sức sống cho ngày mai khi tôi trở lại

+++

Chỉ còn mấy chục giờ phù du..

.Tôi sẽ lên chuyến bay xa… cách quê hương tôi hơn nửa vòng trái đất…

Một cách diệu kỳ tôi sẽ từng bước dạo khắp vùng trời dấu yêu xưa…

Tôi đành đoạn ra đi…Nay tìm lại

Tôi cũng còn có một chỗ để đi về.

Xin chào Việt Nam …Là đất nước, là quê hương tôi đó

Xin chào thành phố Quy nhơn…Là trái tim hồng tôi bỏ lại.

Xin chào tất cả gia đình, bà con tôi, bạn bè tôi, những học trò cũ thân yêu của tôi….

Xin chào tất cả…

Một người già Tha phương nay tìm lại

.Tôi cũng còn có một chỗ để tìm về…

Tôi cũng có một quê hương để mà thương mà nhớ.

Atlanta Ngày 27 tháng Giêng năm 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Hồn ma

âu thị phục an

.

Khuya.

Không gian ẩm lạnh rơi trên tóc, trên vai tôi.

Ánh trăng yếu ớt soi những cành lá rung rinh trong bóng tối im lìm.

Cánh tay Phùng vẫn quàng nặng qua vai tôi, vẫn im lìm từ khi tôi rấm rức khóc.

Nước mắt có nói lên được gì, có xóa được gì của ngần ấy tháng năm chồng chất lên đời người, có giúp tôi tuôn trào được mọi u uất trong tim?

Khó quá. Khó quá. Tôi bất lực lúc lắc đầu. Tôi chà qua chà lại khuôn mặt mình trên hai cánh tay đang ôm lấy đầu gối. Bàn tay Phùng vỗ về nhè nhẹ.

Bóng tối như đồng lõa với hai con người đang đau đớn.

Cơn mưa buổi chiều còn để lại cái ươn ướt trên những ngọn cỏ mà chúng tôi đang giẫm lên. Mây đen chờn vờn che khuất mặt trăng đêm rằm, những tia sáng lờ mờ soi không rỏ tấm ảnh trên bia của ngôi mộ mà chúng tôi đang ngồi cạnh.

Hơi thở nóng của người đàn ông phủ ấm vùng gáy làm tôi rờn rợn. Tôi lại cọ quậy và Phùng lại vỗ vỗ trên vai tôi, “Nín đi em.” Nghe vậy tôi lại khóc hung. Phùng nói “ Khi nào em có thể thì kể anh nghe nha.”

Đến đây thì tôi không còn chịu nổi nữa, tôi vùng ngẩng đầu lên và quay sang nhìn Phùng, tia mắt chúng tôi chạm nhau, và tia mắt Phùng vội né. Cơn tức trào lên ngực tôi, khao- khát- cũng- trào- lên- ngực-tôi, răng nanh tôi mọc dài ra, và tôi cắn ngập lên cổ Phùng. Máu người đàn ông ngọt lịm.

Ánh trăng bị mây che khiến cho đêm khuya chợt tối sầm khi tôi nằm đè lên Phùng, tôi cười khoái chí khi Phùng cố ngồi lên và đẩy tôi ra. Tôi thở hào hển vì phấn khích. Khi quá yêu một người nào đó thì chỉ còn một cách là giết chết người đó đi thôi. Tôi quơ tay cầm lấy con dao nhọn và đâm phập lên tim Phùng.

Mà không, tôi vẫn còn thút thít khóc một cách hiền lành trong tay Phùng khi ánh trăng ló ra.

Tôi yêu anh từ năm mười lăm tuổi, khi hàng đêm, trong mùng, chị Hai  tôi thì thào kể về anh cho tôi nghe. Chị kể tới đâu tôi mơ màng tới đó, nhất là lúc Phùng hôn chị lần đầu dưới gốc dừa sau nhà. Chị kể lúc Phùng ôm siết chị vào lòng và môi tìm môi ra sao, và bàn tay anh xoa nắn vú chị như thế nào, khi đó tôi cũng rùng mình ngất ngây theo chị. Và cũng từ đó, mỗi khi Phùng ghé nhà xách theo cây đàn cùng chị Hai dợt văn nghệ cho trường thì tôi hay núp trong buồng lặng lẽ ngồi nghe say đắm tiếng đàn và tiếng hát của Phùng. Tim tôi thường run lên khi có lúc nào đó, Phùng vô tình nhìn lướt qua tôi, hoặc có khi anh mỉm cười chào tôi, tôi muốn ngất.

“Kể cho anh nghe đi, vì sao chị Hai của em chết?” Phùng thì thào qua tóc tôi.

Chuyện đó quá lâu rồi, gần bốn mươi năm có lẽ, một người chết non và một người thì biền biệt không biết đi về đâu. Tôi thì lặn ngụp trong dâu bể cuộc đời. Nghe Phùng hỏi, tôi lại thấy cay đắng, cùng lúc, nỗi hờn giận dâng tràn trong tôi.

Nhiều năm tháng tôi và chị Hai như hòa nhập vào nhau khi cùng yêu một người đàn ông. Chị vui là tôi vui. Chị khóc là tôi khóc. Ngày hay tin Phùng cưới vợ chị run lẩy bẩy và khóc suốt, tôi thì nghe lạnh buốt toàn thân trong nỗi mất mát vì không còn được nhìn thấy anh nữa. Sau đó, chị tôi thường hay nôn ọe. Phát hiện chị có thai, ba tôi đánh đập chị tàn nhẫn, những lúc đó, đôi mắt chị nhìn tôi lạc đi như một đôi mắt chết. Mỗi khi ba tôi quất roi lên cơ thể chị, tôi cũng oằn oại như chị, tôi khóc, nhưng chị thì không khóc. Chị bặm môi nhăn mặt chịu đau, chỉ có đôi mắt to là cứ nhìn xoáy vào tôi chừng như ứa đầy nước mắt.

Cái đêm Phùng và chị quấn lấy nhau sau vườn, tôi ngồi canh ở bụi chuối gần đó. Tôi nín thở khi nghe tiếng chị Hai rên rỉ kêu đau rồi khóc rưng rức. Tôi nghe tiếng Phùng vỗ về nho nhỏ. Rồi lại nghe chị rên rỉ. Những tiếng động lạ lùng. Những tiếng thở. Tôi cứng người khi nghĩ đến đôi môi của Phùng và những ngón tay dài ngoằng của anh đang lướt trên thân thể chị. Tôi nhắm mắt. Tay Phùng cũng lướt trên tôi.Tôi lịm người trong bóng tối. 

Chị Hai không đi đâu xa. Đúng vào ngày cúng bốn mươi chín, chị nhập vào tôi nói cười khúc khích rồi hờn dỗi khóc lóc làm cho cả nhà sững sốt và sợ hãi. Nhưng riết rồi cũng quen, tính chị hiền lành nên chị cũng là con ma hiền, không ai sợ mỗi khi chị về nữa. Chỉ có điều tôi không còn được trò chuyện với chị, tôi chỉ gặp chị trong những giấc mơ buồn thảm. Có lần chị dắt một bé gái và khóc với tôi nói ráng tìm ba của nó.

Phùng vén tóc tôi. Những ngón tay lạnh ngắt chạm vào má tôi. Tôi biết mình khao khát như thế nào khi muốn ngậm những ngón tay ấy. Mắt anh long lanh dưới ánh trăng mờ nhạt. Tôi nói: “Sau khi anh lấy vợ thì chị Hai phát hiện có thai. Ba đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Em đã tiễn chị tới bờ sông, em đòi đi theo nhưng chị không cho, sau đó vài ngày xác chị nổi lên ở đầu cầu chợ.”

Phùng há hốc nhìn tôi. Cơ thể anh run lên. Cùng lúc đó một cơn gió lạnh thổi qua khiến tôi rùng mình ôm chặt lấy anh. Chưa bao giờ tôi thấy hạnh phúc như lúc nầy, bên Phùng, sau quá nhiều năm tháng nhớ mong.

Phùng khóc. Anh gục đầu lên tấm bia mộ chị Hai.

Trong tấm ảnh, mái tóc đen huyền của chị chợt dài ra vươn về phía người tình cũ, như một quấn quít không rời.

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

 

       ( Nguyên tác : Un istante di liberta’)

          Bản dịch của Trương Văn Dân

.

 “ Kính chào bà tiến sĩ De Rossi”

          Tôi vừa bước ra thang máy thì một trong các cô thư ký đã mang đến tách cà phê đầu tiên trong ngày. Tôi nói đầu tiên vì sau đó hãy còn nhiều tách nữa, không biết là bao.

          Một cô thư ký khác vội chạy đến giúp tôi cởi chiếc áo choàng, còn tôi, bó mình trong chiếc tailleur cực kỳ sang trọng, đi vòng qua phía sau vị trí điều hành, đặt chiếc cặp da có đựng notebook lên bàn làm việc.

 Biết bao kẻ muốn được mó tay vào chiếc máy tính cá nhân này! Chỉ cần nhấn vài nút bấm là tất cả những áp phe quan trọng của các công ty lớn, những chuyển dịch hằng triệu đô la  trên sàn chứng khoán sẽ tuần tự hiện lên bằng các mã số, để đảm bảo an toàn.

Một cú nhắp chuột… thế là tất cả những kế hoạch chi tiết và toàn bộ hồ sơ tuyệt mật của công ty Intracodex sẽ nằm gọn trong tay tôi. Định bật máy và liếc mắt vào công việc …nhưng mùi cà phê thơm phức đang kích động khứu giác làm tôi dừng lại.

Cầm tách cà phê nóng, tôi bước đến cạnh bức tường và nhìn xuống dòng đời từ tầng thứ 23! Ở trên đây không bao giờ nghe thấy tiếng ồn đô thị và dường như trong không gian luôn có một lớp sương mù nên quang cảnh trông có vẻ lãng đãng, giống như nhìn từ một giấc mơ.

 Rồi trong lúc áp môi lên tách cà phê lên tôi bất chợt nhìn thấy bóng mình phản chiếu lên tấm kính.

Tôi đang đứng đối diện với tòa nhà bằng kính. Mái tóc đen và dài, chiếc tailleur  trang nhã bó sát người, như thể người thợ may khéo léo ướm xấp vải vào thân mình trước khi đo cắt. Đôi chân khỏe và dài, còn được kéo dài thêm với đôi giày son cao gót. Chuyên nghiệp, quyền hành và nữ tính. Tất cả những vũ khí tối cần cho thế giới này. Thế giới của tôi.

Nhưng nét xanh xao tái nhợt trên khuôn mặt dường như tương phản với đường viền bằng son đỏ trên môi. Hai bờ môi thẳng nếp, mỏng manh mà sắc bén như một lưỡi lam, lạnh lùng như cái nhìn khinh mạn khi tôi quắc mắt. Bỗng dưng tôi không thể nhấm tiếp mùi vị cà phê. Hình như lúc này nó có vị chát của acit.

Phản chiếu trên tấm kính tôi nhìn thấy sau lưng mình cô ba cô thư ký tay cầm xấp hồ sơ đang chờ tôi ký. Cả ba căng thẳng đi qua đi lại sau lưng, hồi hộp chờ tôi quay mặt để trình bày công việc, báo cáo những cú điện thoại, nhắc nhở các cuộc hẹn và chờ tôi ra lệnh…nhưng tôi không thể tách đôi mắt đang nhìn bóng mình trên kính. Tôi không còn nhận ra mình nữa… sao mà tôi có thể biến thành một con người khô cứng và lạnh lùng đến thế?

Mười năm trôi qua như một ánh chớp… và bất thình lình tôi cảm thấy chúng đè nặng lên vai, một con mụ già cáu gắt. A! đúng rồi, đây chính là cái tôi đang nhìn thấy trên kính, một mụ đàn bà khô khốc, khó tính và cáu kỉnh. 

Tất cả bắt đầu như một phản ứng.

“ Con sẽ không bao giờ giống mẹ! ” tôi nghe vọng lại tiếng mình hét vào mặt mẹ. Bà yếu đuối, vâng lời, cam chịu, thụ động và chấp nhận mọi thứ… không bao giờ dám phản ứng, ngay cả những lúc ba tôi đối xử với bà bằng bạo lực, trước khi ruồng bỏ. Thế mà bà vẫn nhẫn nhục và chịu đựng. Rồi, không thèm nói một lời, ông lặng lẽ bỏ đi. Bỏ lại bà một thân một mình với nhiều món nợ. Gồm cả giấy cầm cố căn nhà.

Và chỉ vài ngày sau đó mẹ con tôi phải dọn đi.

Và thế là tôi không thể sống giống mẹ mình. Tôi không cần trái tim. Tôi không còn tình cảm. Chỉ lao đầu vào việc học, làm mọi thứ để tích lũy kinh nghiệm, dẫm đạp lên mọi thứ và mọi người. Tôi là mẫu người đàn bà của sự nghiệp, hay đúng hơn là một gã đàn ông trong thân xác một con đàn bà. Bởi vì tôi không còn giới tính, không có tình yêu; dĩ nhiên tôi vẫn có đàn ông, nhưng họ chỉ là những công cụ để tôi sử dụng rồi quên ngay, vì họ không cho tôi được gì mà tôi cũng chẳng để lại cho họ chút gì.

Cho đến lúc ấy tôi chưa bao giờ dừng lại để nhìn thấy mình đã trở thành người như thế nào. Chắc rồi…tôi đang đứng trên đỉnh cao của danh vọng, vị trí cao ngất mà mọi người thèm muốn… nhưng đó thực ra là thứ danh vọng gì? Bao nhiêu người đang cho rằng tôi đang thành đạt.

Đúng rồi, mà “đạt” được gì? Đã bốn mươi tuổi mà tôi không có một mái gia đình, không có một đứa con, chẳng có một ai đó thỉnh thoảng hỏi tôi có khỏe không và quan tâm đến việc tôi có vui vì những công việc của mình không. Không ai cả. Gia đình, thậm chí một người bạn.

Chậm rãi, tôi xoay lưng lại, thật khó nhọc rời hình ảnh của mình trên kiếng. Bàn tay tôi run rẩy khi đặt tách cà phê lên bàn. Bỗng dưng tôi cảm thấy như có một cơn nôn mửa đang trồi lên từ phía dưới.

Tôi đã không muốn sống như mẹ mình, nhẫn nhục, cam chịu…nhưng vì thế mà tôi đã trở thành một bản sao của ba tôi. Tôi hận ông! Thế nhưng bây giờ tôi thấy mình giống ổng, tôi đã cư xử với mọi người giống ổng, có khi còn tệ hơn.

Đối với tôi không còn ai cả, không một người nào, chẳng chút tình cảm…và tiền bạc thực ra chỉ là một phương tiện để tiếp tục dẫm đạp lên người khác.

Lạnh lùng và minh mẫn, tôi mạnh mẽ bước đến chiếc ghế bành bọc da và chễm chệ thả người lên đó trong lúc ba đôi mắt đang hồi hộp nhìn tôi từ phía bên kia bàn giấy.

“Mấy cô nhìn cái gì? Đặt mọi thứ lên bàn đi. Một lát nữa tôi sẽ gọi!”

Tôi nói to, làm cả bọn giật mình.

Ngay lúc đó tôi cũng chẳng nhớ tên của bọn họ là gì. Tôi chỉ muốn ngồi lại, một mình. Tôi mệt mỏi lắm rồi! Trong lúc ấp đầu vào giữa hai tay, bàn tay áp chặt vào mắt để khỏi phải nhìn thấy sự thật đang phản chiếu từ khung kính. Hằng ngàn khuôn mặt, tất cả đều là những góc cạnh của chính mình. Tất cả để cuối cùng chỉ còn lại một mình. Cô độc. Cô độc trong công việc. Cô độc giữa đám đông. Hoàn toàn cô độc. Cố tình cô độc. Rồi, như bất thình lình, cơn nôn mửa vụt biến thành cơn giận dữ, và bằng tất cả  sức mạnh, tôi cầm lấy chiếc tách cà phê, ném thẳng vào mặt kính.

Vô ích!

Mặt kính chỉ hơi rạn một chút chứ chẳng hề hấn gì. Đó chỉ là hành động vô ích nhằm giải thoát cơn giận. Thôi, đủ rồi! Tôi thấy mình ngạt thở. Tôi không thể nào tiếp tục ngồi đây.

  Phủ vội chiếc áo khoác lên người, tôi cầm chiếc túi xách rồi chạy ào ra thang máy.

Bàn tay run rẩy, tôi nhấn nút đi xuống, im lặng chờ xuống mặt đất, luồn lách giữa dòng người vô danh mà chưa bao giờ tôi muốn thân quen. Ra ngoài thôi, hít chút không khí giữa đất trời mở rộng.

Ánh nắng ngoài đường làm tôi lóa mắt. Một tay che mắt, còn tay kia  nắm chặt bâu áo khoác để che cơn gió lạnh vừa ập đến lúc bước ra khỏi cửa. Cho đến lúc đó, đối với tôi chưa bao giờ có nắng, có mưa, có ánh đỏ hoàng hôn hay tiếng cười, giọng khóc.

Máy bay, điện thoại di động, bàn giấy, máy tính…tất cả khô khan, vô cảm…tôi luôn luôn chạy đua với thời gian mà chẳng biết mình đi đâu, ngược lại, hình như chỉ để rời xa thêm cái cuộc đời mà tôi muốn có mà chỉ lúc này tôi mới biết là mình đã đánh mất. Tôi đã sinh ra mà chưa từng sống và lúc này mới đau đớn nhận ra là cả cuộc đời mình trống rỗng và vô ích.

Thiếu chút nữa là tôi bị một chiếc xe hơi đụng phải. Tôi ngơ ngác không biết mình đang làm gì và cứ băng qua đường mà không nhận biết. Nhưng không phải phản xạ đã giúp tôi tránh được tai nạn… mà có một  bàn tay vừa nắm cánh tay tôi, giật mạnh. Tôi xoay người theo bản năng để nhìn xem đó là ai.

Một đôi mắt màu hạt dẻ là cái đầu tiên mà tôi nhìn thấy. Nhưng nó không xa lạ với tôi. Đó là  đôi mắt của một trong ba cô thư ký…

Sao lại có thể như vậy được?

“ Tôi đây, Lidia đây mà, thưa bà tiến sĩ. Bà theo tôi… chúng ta đến chỗ kia ngồi một lát nhé!”

Như đứa bé, tôi để cô gái kéo mình đến một chiếc băng dài, tâm trạng gần như vui thích vì có một ai đó để ý và quan tâm đến mình.

“ Đây rồi, bà đã đỡ chưa? Có chút nắng nữa. Sau mấy ngày mưa mặt trời sẽ sưởi ấm chúng ta.”   Có lẽ tôi chẳng nghe cô ấy nói gì nhưng tôi bắt đầu thấy mình bình tĩnh lại, giọng nói của cô gái làm tôi an tâm.

Cô ta tiếp tục mà dường như tôi không hiểu hết những gì cô ta nói. Điều bất ngờ là những giọt nước mắt bỗng dưng lăn dài xuống má, chảy xuống cằm và tôi phải dùng bàn tay để lau. Lidia vội lấy khăn giấy và nhẹ nhàng chặm mắt cho tôi. “ Bà cứ để tôi lau cho, còn mấy vết đen nằm dưới mắt nữa kìa!”. Lâu lắm rồi chẳng còn ai  để ý và chăm sóc tôi. “ Bây giờ đỡ rồi đấy. Đi! Chúng ta phải về lại văn phòng …”  

Tôi vùng vẫy, cố gỡ bàn tay của cô gái đang nắm chặt lấy cánh tay mình.

Cô ta giữ lại trong khi tôi cố vùng ra để trốn chạy, thật xa cái tòa tháp mạ vàng lâu nay cứ làm mình ngộp thở.

“ Mình đi lên nhé… còn bao nhiêu việc phải làm. Bao nhiêu hồ sơ đang chờ bà ký….Bà chưa thể  bỏ đi được đâu…”

Bàn tay thép của cô gái như đang siết chặt hơn. Lidia kéo tôi, và từng bước chúng tôi bước vào cửa tháp, bên trong những bức tường bằng kính và tôi như không còn sinh lực, cứ để mặc cho cô ta kéo mình vào bên trong nhà ngục.

Read Full Post »

Bi kịch vàng

                                                                    

    Truyện ngắn của Nguyễn Trí

.

     Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

       –  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

        Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

       Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

     Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

       Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

     Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

     Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:

  • May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

     Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:

  • May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

   Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

     Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.   

                                                                                    ***

    Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

     Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.  

     Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

       –  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

    Sau bữa tiệc cha tôi nói:

  • Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

    Nhưng Văn nói với tôi:

       –  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lảnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cái tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

       –  Nó nói gì?

        –  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?

  • Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
  • Ừ…

     Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật giáo. Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:

  • Lên chùa để tâm được tỉnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

         Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

     Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:

  • Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
  • Anh em cả mà. Có gì mà giận?
  • Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
  • Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.  

    Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:

  • Để chú động viên nó vào.

   Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:

  • Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.

   Và đời không đơn giản.

                                                                               ***

        Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:

  • Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.

     Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:

  • Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

       Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn. Mơ cái gì nhỉ? Tôi chắc trăm phần trăm rằng do miếng ăn mà ra cả. Người ta mơ về một thừa mứa vật chất ở xứ sở mà người thất nghiệp có nhà nước cung cấp cho cái ăn cái mặc. Và khẳng định rằng xứ ấy là thiên đường.  

     Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

     Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

     Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

      –  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

       –  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

     Văn cũng mày mi tau tớ:

       –   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

    Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

     Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.  

      Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:

  • Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

   Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

       Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

       May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

                                                                            ***  

      Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:

  • Ra sao rồi?
  • Nói chung là ổn.
  • Vợ con sao?
  • Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
  • Giờ muốn gì nữa không?
  • Muốn khi chết được chôn trên đất này.
  • Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
  • Tha phương nhớ nhà lắm.

   Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

  • Sao mà như nước với lửa vậy?

      –   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

    Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

      Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

      Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

    Nhưng.

    Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

                                                                       ***

     Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

     Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

    Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

    Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

                                                                                                    Nguyễn Trí

1 – thơ Nguyên Sa

Read Full Post »

Không uổng công má!

Truyện ngắn Trần Bảo Định

.

Nắng quái thường xảy ra vào lúc chiều hôm. Chiều hôm trên cục đất “Khổng tước nguyên” thì lạ lắm! Cái lạ đó trải dọc theo bờ sông Tiền từ Đông sang Tây. Má cậu Hai Thoại(1) ngồi mạng lại tấm áo cho con trong bóng nắng sắp sụp mí chiều.

– Má ơi! Ngừng tay đi má, kẻo mờ mắt!

Tiếng nhắc má của cậu Hai mang trọn cả cái tình mẫu tử được nuôi dưỡng từ những lời ru của mẹ. Lúc theo chồng về mần dâu họ Đỗ, má Năm vừa bước qua tuổi mười lăm. Dòng họ Đỗ đâm chồi nhảy ba nhánh: Đỗ Trình, Đỗ Tường, Đỗ Kiến… đã chịu đời không thấu bọn cường hào ở quê nhà, nên đành gạt nước mắt bỏ xứ Quảng Ngãi dong buồm vô Nam. Nhánh Đỗ Tường, Đỗ Kiến men theo sông Vàm Cỏ Tây tới đất Thanh Phú thì trụ lại(2); còn nhánh Đỗ Trình rẽ ngả sông Rạch Tra bám đất Hòa Bình. Má cậu Hai dồn hết sức mình mưu sinh để nuôi dưỡng tương lai cho con. Cậu Hai trì chí “sôi kinh nấu sử”, tất cả cho kỳ thi khoa Quý Mão (1843) trường Hương Gia Định. Má Năm thuộc lớp người con nhà nho, được cha khai tâm từ nhỏ. Dẫu không “‘trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” thì cũng là người hiểu biết chút chữ “thánh hiền”.

Nhà văn Trần Bảo Định

Má Năm thường nói:

“Trong cõi trời đất, chẳng có chi tự nhiên nẩy sinh, Khổng tước nguyên cũng vậy. Đâu tự nhiên mà có con công, mà có cái gò để thiên hạ gọi Gò Công! Biết bao máu mắt, xương tàn cốt rụi của người đi trước khai hoang, lập điền mở cõi…”.

Cậu Hai học ở má Năm những điều đã chắc gì nơi “cửa Khổng sân Trình” giảng dạy.

Những buổi chiều tàn, lúc rảnh rỗi, má con hay quét lá vàng khô un chiều bằng những sợi khói. Nhìn những sợi khói bay về phương vô định, má nghĩ đời người đừng như sợi khói bay; phải định cái phương mình đang sống để đủ độ yêu thương mà sống chết với nó.

– Đất nổi mặt đất thì gọi gò, đất nổi mặt nước sông thì gọi cồn (cù lao). Trấn Định Tường có gò, có cồn… tất có đủ điều kiện và tư cách gìn giữ nguyên khí đất Nam Kỳ.

Lời má Năm nói chắc cứng, cậu Hai liên tưởng:

“Đầu nước Việt ở phía Bắc, với đôi mắt là hai rặng núi Đông Triều và Hoàng Liên Sơn nhìn xương sống Trường Sơn xòe như nan quạt chồm ra biển Đông, đuôi gối lên những móng chưn núi Chứa Chan, núi Mây Tầu(3) ở phía Đông; núi Bà Rá, núi Đồng Long, núi Bà Đen(4) ở phía Tây, trước khi đuôi bất thình lình dựng đứng tạo Thất Sơn… biểu tượng Rồng Việt!?”.

Rồi, cậu Hai hình dung cái nơi cậu sinh ra và lớn lên: “Sông Vàm Cỏ Tây phía Bắc, sông Tiền phía Nam, sông Bảo Định phía Tây, biển Đông phía Đông; thiệt đúng là chốn nguyên khí tụ. Mai nầy đất nước hữu sự, nơi nầy chắc là nơi khởi sự cứu nguy!”. Đôi lần thấy con chểnh mảng việc học, má rầy cậu Hai: – Má nuôi con ăn học không vì muốn con kiếm đôi ba chữ thánh hiền để làm người. Nếu phải học làm người, thì con học trường đời hà tất học trường Hương Gia Định!

Má dằn từng tiếng:

– Đã học, thì phải đỗ đạt! Năm rồi, Phú Kiết đã có cử nhơn(5). Năm nay, Yên Luông trông cậy vào con, đừng để bà con quê mình thất vọng!

Cậu chưa kịp thưa lời, má nói nhẹ nhàng:

– Vì việc học của con, má cực nhưng không khổ. Má chỉ khổ, khi con lười biếng việc học hành!

Qua mùa trăng thu năm sau, bà con thôn Yên Luông dù nghèo khó hay khá giả thảy đều ngưng việc đồng áng, cùng nhau ăn mừng cậu Hai vừa đỗ đạt(6) và hôm đó, ngay cả tổng Khởi, tổng Hòa Bình cũng có mặt từ sáng sớm để nghinh đón tân khoa!

Mười sáu năm sau! Cậu Hai thôn Yên Luông ngày xưa, giờ đã là tri huyện Tân Hòa, xứ sở nơi ông cất tiếng khóc chào đời.

– Lạy má! Con trẻ không giữ tròn đạo trung với vua…

Huyện Thoại quỳ lạy mẹ.

Gió Gò Công thổi rạp thân dừa nước, xé lá tưa cành.

– Con là tri huyện, khác gì “phụ mẫu dân”. Cướp vô nhà, há lẽ phụ mẫu bó gối ngồi nhìn bọn cướp? Huống hồ, lũ giặc Tây dương xâm lấn bờ cõi Nam Kỳ, đánh chiếm thành Gia Định; quan quân án binh bất động chờ lịnh triều đình?

Má ngưng nói, ngắt thêm thuốc xỉa.

Ngoài bìa rừng dừa, gió mỗi lúc một mạnh và hình như, trời sắp nổi cơn thịnh nộ bão giông.

– Đánh là nghịch ý chỉ vua. Thà nghịch ý chỉ vua, vẫn hơn “thúc thủ quy hàng” để lũ giặc ngông cuồng sát hại dân, tàn phá làng mạc!

Tiếng Sáu Sanh(7) rõ mồn một ngoài hàng ba hiên nhà.

Từ lúc chồng vắn số, người quen Sáu Sanh chuyển cách xưng hô: gọi cô thay gọi bà.

– Chết! Chết! Cô Sáu quá bước ghé chơi, má con tôi không kịp đón tiếp chu đáo. Thiệt thất lễ… thất lễ!

– Người nhà cả, thím Năm nói quá!

Cô Sáu nói gần như muốn giải tỏa cái đạo trung quân của Nho gia đang chế ngự đầu óc kẻ sĩ:

– Trước đây, “trung quân ái quốc” nhưng tình thế bây giờ “ái quốc thương dân”. Nếu mất nước, mất dân thì vua còn đâu “sơn hà xã tắc” để mần vua?

Má con Huyện Thoại chưa kịp rót nước mời khách. Cô Sáu nói luôn:

– Việc vua bãi chức tri huyện của cậu Hai đã thể hiện sự bất lực của vua, cái lúng túng như gà mắc tóc trước kẻ thù xâm lược của triều đình. Quản Định (8) nói: “Huyện Thoại là trang tuấn kiệt thời loạn đất Tân Hòa. Dám làm và làm đúng theo tiếng gọi của lương tri “cứu dân, cứu nước trước khi trung với vua!”. Tui tới đây là để trao thơ của Trương Quản cơ gởi cậu Hai.

Huyện Thoại tiếp thơ, lật đật mở:

“… Đã hèn thì phải hạ mình, đã nhát thì cái gan hư hỏng. Người xưa nói hèn nhát là vậy! Ta hoàn toàn tin huyện quan là đấng trượng phu, bậc anh hùng sẵn sàng cứu dân cứu nước. Hẹn nhau ở đất Gia Thuận…”.

Hình như, ngoài bến nước sông Tra có tiếng quốc kêu gọi bạn!

Hai.

– Ông bà gọi thảo điền, là có ý chỉ vùng đất trũng nhiều bàng sậy, ngập bùn sình nằm giữa các giồng đất. Tháng nắng, đất khô nứt nẻ; tháng mưa, đất lầy lội. Nếu không là nông dân bổn địa thì không thể có kinh nghiệm cày trâu vỡ đất…

Cô Sáu bàn bạc việc quân với Huyện Thoại mà nghe như chừng chẳng hề đá động gì tới việc quân.

Lúc nầy, Trung tá Desvaux chỉ huy quân thủy bộ vào thành Mỹ Tho và cùng lúc đó, liên quân Pháp – Y Pha Nho (Tây Ban Nha) cũng đã đánh chiếm xong Gò Công(9) và chúng gấp rút lập đồn Gò Công.

Huyện Thoại trầm ngâm.

Cô Sáu nói tiếp:

– Đất lầy bã hèm, người ta dùng trâu đực cày đất vì trâu đực móng chưn cao khó mắc lầy. Trâu cái, móng chưn thấp ngắn dùng vào việc kéo rơm rạ sau ngày mùa… Người Gò Công có câu: “Đực trực đồng, cái trực dạ”. Hỏi ra, mới biết đó là câu thành ngữ của người đàng cựu dặn người đời sau, rằng: “Trai phá lũy đạp thành, gái lo hậu cần nuôi chí cả!”.

Cô Sáu ra về khá lâu, nhưng lời cô nói khiến đầu óc Huyện Thoại còn suy nghĩ lung lắm. Bên tách trà sen đậm đặc hương quê nhà, chuyện cũ hiện ra chầm chậm trong tâm trí của ông: Trần Thiện Chánh đậu cử nhơn trước ông một khoa(10) đã không màng tới chức tước và cũng không chờ lịnh triều đình, ông cùng Lê Huy mộ dân binh đánh phủ đầu quân xâm lược Pháp, ngay khi chúng vừa đặt chưn lên đất Gia Định…

Thấy sắc mặt con dàu dàu, má Năm biết tâm tư của con đang trong cơn chấn động. Má nói nhẹ nhàng:

– Con là người có học, là kẻ sĩ mà lại là kẻ sĩ khoa bảng; giống như cây mọc trong vườn thượng uyển. Chả lẽ, con của má, chẳng bằng loài cây mọc nơi bờ ruộng mương vườn?

Nghiêm sắc mặt, má nói tiếp:

– Người xưa thường khuyên: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”, có nghĩa buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật. Buông hay không buông dao đồ tể là quyền tự do lựa chọn của con, chớ không ai có quyền bắt con phải lựa chọn.

Rồi, má nhấn mạnh:

– Thương nước, thương dân thì đánh bọn xâm lược. Quay lưng với xứ sở, với đồng bào thì hàng quân xâm lược. Cái đó, tùy con!

Dường như thấy lời mình mạnh mẽ, má Năm khẽ nhắc:

– Lúc nầy, tại đây, nếu con chần chờ không dám hành động là có lỗi với bà con làng xóm, là có tội với liệt tổ liệt tông kiến họ Đỗ nhà ta!

Những lời khuyên nhủ của má, những việc đã và đang làm của cô Sáu, khiến Huyện Thoại thôi nản lòng vì bị vua bãi quan và thôi nản chí vì Đại đồn Chí Hòa thất thủ(11). Ông chủ động bắt mối liên lạc với các nghĩa sĩ trong vùng, nhứt là với ngài Phó Quản cơ Trương Định.

Trống cầm canh rớt sang canh khuya buồn sương phụ!

Sáu Sanh thao thức ngó lên bàn thờ chồng, rồi ngó xuống giường bên, ngắm nghía đứa con gái có khuôn mặt giống cha như đúc. Mắt Sáu ngân ngấn và có lẽ, lòng thầm trách chồng: “Sao mình nỡ đi vội để tui thui thủi một mình giữa cảnh nhà tan, nước mất”.

Từ hôm nhận được mật thơ của chị Hai(12) ngoài Huế gởi về, dặn rằng: “Phải… Phải… như vầy… như vầy… Việc nước là hệ trọng, tùy thời mà thủ tiết… Và, tập trung tiền của góp sức vào việc đánh đuổi kẻ thù chung!”, cô Sáu mất ăn mất ngủ, đứng ngồi không yên. Nhiều đêm, cô bồi hồi nhớ lại: Năm mười chín tuổi đi lấy chồng, hai mươi mốt năm sau chịu đời góa bụa. Vợ chồng duyên thắm tình nồng được chín mặt con, thì chỉ còn một đứa gái(13)… Giờ đây, “Trai vì nước quên thân, gái vì nước quên thủ tiết”, nhứt thời làm sao cô tránh khỏi băn khoăn nghĩ ngợi. Má cô thương chị Hai mồ côi mẹ nên dắt chị về nuôi từ nhỏ. Má cô dạy chị công, dung, ngôn, hạnh. Cha cô dạy chị chữ thánh hiền. Năm cô lên bốn, chị đã là mười bốn và rồi chị em xa nhau bởi chị theo cha ra Huế. Sau đó, chị được tiến cung và trở thành Gia phi Từ Dụ của vua Thiệu Trị. Bây giờ, chị là Thái hậu Từ Dụ…

Sáu Sanh xin chị Hai cho thời gian huỡn đãi, thủng thẳng sẽ thực thi chuyện bước đi bước nữa với Trương tướng quân. Còn giờ đây, việc cần kíp là hỗ trợ tiền bạc nuôi quân, khí tài chiến đấu cho Huyện Thoại đánh giặc ngay trên quê hương mình. Cô Sáu là người đàn bà giàu nứt vách đổ tường không những ở Gò Công mà kể cả toàn xứ Nam Kỳ Lục tỉnh. Nhưng, giàu nứt vách đổ tường mần chi, khi xứ sở đang sinh linh đồ thán! Cô Sáu thường trút nỗi lòng mình với Huyện Thoại như vậy!

Minh Mạng lấy vợ họ Hồ ở Thủ Đức, Thiệu Trị lấy vợ họ Phạm ở Gò Công(14). Cả hai đầu Nam-Bắc Gia Định đã cột ràng triều Nguyễn. Tự Đức nhớ quê ngoại cho đắp “con đường sứ”, nối giồng Sơn Quy lên Gia Định(15). Huyện Thoại âm thầm đi thực địa “con đường sứ” nhằm tính kế nghi binh. Đồng thời, cử Đội Lực dò ngả lộ me qua Cầu Huyện để tập kết quân. Ông cũng không quên cảnh giác tàu Pháp có thể từ Mỹ Tho xuống tiếp viện Gò Công, một khi đồn Gò Công bị nghĩa binh tấn công. Và, nếu vậy, tàu chiến của chúng chỉ có một thủy trình duy nhứt là theo sông Cửa Tiểu vô Vàm Giồng, đến vàm Vểnh Lợi rồi tiếp tới rạch Gò Công… Nghĩa binh của ông đủ sức ngăn chặn chúng!

Ba.

Lẽ thường, người phụ nữ sẽ mất họ tên, thứ bậc của riêng mình sau khi đi lấy chồng. Đằng nầy, cô Sáu không hẳn như vậy. Người quen biết cũ ở xứ Gò Công vẫn kêu Sáu Sanh là cô Sáu, chớ không kêu bà Bá hộ Bổn dù đã hai mươi năm sống cùng chồng. Cô Sáu ưa nói với người thân:

“Cái mạng còn chưa chắc đã giữ được, thì tiền của chắc gì mà giữ được. Nếu phải vì việc nghĩa, ta chẳng tiếc chi cái mạng”. Huyện Thoại hoàn toàn tin ở cô Sáu, người tạo mọi điều kiện cho nghĩa binh chuẩn bị tập kích quân Pháp vừa đặt chưn lên đất Gò Công. Tin mật báo cho hay, quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha sẽ chọn một trong ba ngả đường sông: Rạch Chanh, Kinh Trạm tức sông Bảo Định và sông Cửa Tiểu từ biển thọc vào để đánh chiếm Định Tường. Huyện Thoại cùng bộ tham mưu đánh giá tình hình: “Giặc không thể sử dụng Rạch Chanh vì rạch cạn, hoang vu sẽ cản trở tàu chiến. Chắc chắn giặc tập kết quân tại vàm Vũng Gù (Tân An), dùng pháo hạm phá vỡ các đập cản trên sông Bảo Định dù chúng phải trả giá thiệt đắt…”. Tuy vậy, Huyện Thoại vẫn quả quyết: “Giặc sẽ chơi trò ‘thanh Đông kích Tây’ trong tam thập lục kế của Tôn Tử”.

Rồi, ông liên tưởng tới chuyện Khổng Minh ra lịnh cho quân nổi lửa hẻm Hoa Dung, vốn tính đa nghi nên Tào Tháo cho rằng Lưu Bị dùng kế dương Đông kích Tây bèn chọn chính hẻm Hoa Dung đành sụp bẫy của quân Quan Vũ… Là người Nho học, lại là một cử nhơn đất Gia Định, thì cái bọn giặc Tây dương kia làm sao che nổi được mắt ông! Huyện Thoại mỉm cười… Ông tiên liệu và định việc:

– Đường tiến quân của giặc ở sông Bảo Định chỉ là diện, đường tiến quân của giặc từ hướng biển vô sông Cửa Tiểu mới là chính điểm. Thành Mỹ Tho sẽ hoảng loạn và thất thủ nhanh chóng bởi đường tiến quân nầy. Có khi, giặc chưa đánh mà tướng giữ thành đã bỏ chạy.

Hồi lâu, Huyện Thoại càu nhàu, cau có một mình: “Dẫu rằng biết vậy, nhưng với võ khí thô sơ làm sao đánh pháo hạm, tàu chiến giặc ngay “chính điểm Cửa Tiểu” để cứu thành Mỹ Tho?”. Đúng như dự đoán của Huyện Thoại, cả ba pháo hạm1 từ biển tiến vào Cửa Tiểu phá đập ngăn sông tại vàm Cửa Tiểu (Gò Công), vàm Kỳ Hôn (Chợ Gạo) và đồng thời, chúng đánh tan hai đồn binh giữ đập ngay trong buổi sáng, đến xế trưa cùng ngày, mũi quân đi đường biển vô Cửa Tiểu chiếm thành Mỹ Tho theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành”. Ba pháo hạm Fussées, Lily, Sham Rock do Chuẩn Đề đốc Page chỉ huy. Ngày 12.4.1861, khoảng 13 giờ 30 phút trưa, Chuẩn Đề đốc Page cùng đoàn quân vào thành Mỹ Tho không gặp phải một sự kháng cự nào từ phía quân triều đình. Trong lúc đó, mũi quân đi đường sông Bảo Định phải chịu tổn thất nặng và hai hôm sau, mới tới thành Mỹ Tho mang theo xác Trung tá Bourdais.

***

Gò Công thất thủ!

Dân tình nhốn nháo nhưng không bất ngờ, bởi họ hiểu “cái gì đến tất sẽ đến” sau khi Đại đồn Chí Hòa vỡ trận. Cô Sáu tìm gặp Huyện Thoại ngay trong đêm đầu tiên bọn xâm lược liên quân Pháp – Tây Ban Nha ngả lưng lên mặt đất Gò Công.

– Chậm gì thì chậm, nhưng không thể chậm hơn hai tháng nữa, khoảng Tết Đoan Ngọ… Thoại nầy sẽ ra tay!

Tiếng côn trùng kêu rả rích từng chập từng hồi ngoài ruộng, sau cơn mưa chiều ngập nước trắng đồng. Đêm vắng lặng và hy vọng. Thỉnh thoảng có tiếng súng nổ vu vơ của bọn lính viễn chinh, có lẽ nhớ nhà hoặc giả sợ ma nơi đất lạ!

– Cô Sáu yên tâm! Cô Sáu giúp ta và nghĩa quân theo đúng kế hoạch vừa vạch ra… Chỉ cần nhiêu đó là đủ!

Mặt trời đỏ ối buổi rạng đông!

Trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bổn xứ sự vụ Gò Công, đứng trên bờ thành đất, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ đôn đốc dân phu cắm cọc, dựng rào cặp theo mé hào sâu bảo vệ đồn.

Tháng nay, từ ngày bọn Tây chiếm đất, Tư Nhạn người em kết nghĩa ruột rà với cô Sáu, cầm đầu nhóm con gái xứ Tân Hòa lân la bọn Tây, phục vụ chúng những món ăn đặc sản của miền quê ngoại vua Tự Đức. Riết rồi quen dần và thân thiện. Vả lại, “gái nào đẹp cho bằng gái Gò Công” thì bọn lính viễn chinh làm sao “bình chưn như vại”!?

– Mời quan hai(16) ngưng tay, uống nước dừa xiêm, ăn mộng dừa của em, nè!

Viên Trung úy nghe “của em, nè!” kèm hai tiếng “mộng dừa” của Tư, đôi mắt sáng rỡ. Bởi, cả tháng nay, hắn quen ăn mộng dừa, một món ăn dân dã nơi vùng đất hắn chiếm đóng mà ở trời Âu, nơi quê nhà của hắn chưa từng nghe, nói chi thấy. Hắn đút tay vô túi quần, rút khăn mu-soa (mouchoir) lau mồ hôi lấm tấm trên cái bản mặt dài sọc, thoạt ngó giống như mặt ngựa. Dân phu xây đồn gọi hắn là “quan hai mặt ngựa” hoặc để kêu cho gọn, dân phu gọi “Tây mặt ngựa”. Hắn nhai ngấu nghiến một hơi hết sạch ba cái mộng dừa. Hình như, hắn “khoái chí tử” rằng, mộng dừa là mộng đẹp gì đó, thì phải!

Nhiều lần qua tên thông ngôn, Tư giải thích cho hắn hiểu cái mộng dừa mà hắn thèm ăn chết mê chết mệt!

– Trái dừa khô lên mầm, trổ cây. Thường do để ở kẹt nhà hoặc chỗ mấy cái lu nước ẩm ướt, sau thời gian ngắn, nó lên mộng nứt da. Mộng dừa chính là cái phần mầm nở bự trắng nõn nà phía trong trái dừa. Mộng dừa thoang thoảng hương thơm đồng quê, khi nhai nghe sực sực, xốp xốp… kích thích miệng và đỡ khát cổ họng.

Mọi diễn biến tiếp cận và vẽ họa đồ đồn Gò Công, Tư làm rất tốt.

Tháng Năm, theo con trăng, trời thường nắng sớm mưa chiều và đêm chưa nằm đã sáng. Huyện Thoại tính toán kỹ về thời gian, thích hợp với thiên văn để đánh vỗ mặt quân thù và nhổ đồn Gò Công.

Cô Sáu dặn dò Tư Nhạn kín đáo và khéo léo rắc bột thuốc tiêu chảy lên từng cái mộng dừa theo đúng dự kiến của kế hoạch Huyện Thoại.

Huyện Thoại không sử dụng lực lượng mấy trăm nghĩa binh đang tập kết, ém quân ở Lộ Me vì không thể đánh cường tập vào đồn Gò Công bằng võ khí thô sơ giáo mác, búa chày… chống võ khí tối tân súng đạn. Chờ thuốc tiêu chảy kích hoạt bụng dạ bọn Tây ăn mộng dừa, Huyện Thoại trực tiếp dẫn hai mươi dũng sĩ đất Gò Công xông thẳng vô đồn đánh cận chiến, giải quyết chiến trường nhanh, gọn trước lúc bình minh ló dạng.

Cơn mưa chiều tạnh từ rất lâu.

Trời trở đêm sang khuya, sương mù dày đặc!

Trung úy Trưởng đồn và đám lính chột bụng đi đại tiện liên tục khiến thân thể phờ phạc, mất sức. Thình lình, phía “con đường sứ” lửa cháy xé toạc màn đêm. Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đạp chướng ngại vật, mở toang cửa đồn tràn vào như cơn lốc sóng thần. Bọn lính Tây trở tay không kịp, thất kinh hồn vía chạy tán loạn.

Đêm tối mịt(17), chỉ thấy nhau qua ánh chớp ngoằn ngoèo của sấm sét nổ um trời. Huyện Thoại túm tóc Trung úy đâm mạnh một phát về hướng cổ họng, nó vùng mạnh, lưỡi mác xượt xéo bả vai. Nó rống lên tiếng rống như heo bị thọc huyết! Thế trận bắt đầu giằng co, tụi Tây lần hồi hoàn hồn và mỗi lúc sự bất lợi nghiêng hẳn về phía nghĩa binh. Huyện Thoại bị dính đạn trọng thương.

Bầu trời tỏ dần, từng cụm mây trắng tản ra, nhùng nhằng kéo dài như những dải khăn sô viền quanh mặt trời từ từ nhô lên khỏi mặt nước biển tụ màu đỏ ối, đỏ hơn máu!

Bốn.

Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đất Gò Công, không một ai còn sống sót để quay về!

Hôm đưa xác con về chôn cất ở đất nhà (18), má Năm cầm nắm đất buông xuống huyệt:

– Thoại ơi! Không uổng công má nuôi con ăn học thành người!

TRẦN BẢO ĐỊNH

_______________

  1. Đỗ Trình Thoại (1815(?)-22.6.1861) người thôn Yên Luông, tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường (nay là ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
  2. Nay là xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (xưa thuộc huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Phiên An và sau đó là tỉnh Gia Định).
  3. Núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy, nay là Hàm Tân).
  4. Núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Bà Đen (Tây Ninh).
  5. Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân) người thôn Phú Kiết (Định Tường), đỗ cử nhơn thứ 9 khoa Nhâm Dần, 1842.
  6. Đỗ Trình Thoại đỗ cử nhơn khoa Quý Mão (1843).
  7. Trần Thị Sanh (1820-1882) vợ thứ của Trương Định. Bà là con thứ sáu của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng (bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cô ruột bà Phạm Thị Hằng tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức). Như vậy, Thái hậu Từ Dụ với bà Trần Thị Sanh là chị em cô cậu ruột.
  8. Trương Định (1852) làm Phó Quản cơ đồn điền, và từ năm 1862, bà Trần Thị Sanh là nguồn hậu cần của nghĩa binh Trương Định cho tới ngày 20.8.1864, Trương Định hy sinh.
  9. Ngày 14.4.1961.
  10. Trần Thiện Chánh (1822-1874), người thôn Tân Thới Tây, tổng Long Tuy Thượng, huyện Bình Long, tỉnh Gia Định (nay là ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp.HCM). Ông đậu cử nhơn thứ tư, khoa Nhâm Dần (1842), đồng khoa với Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân).
  11. Ngày 25.2.1861.
  12. Bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị, tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức (15).
  13. Bà Trần Thị Sanh có đời chồng trước là Bá hộ Dương Tấn Bổn (mất năm 1860), sinh được chín người con (mất 8 còn 1 là gái tên Dương Thị Hương). Sau nầy, bà Hương lấy chồng là ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển (người đã giao Nam Kỳ lữ điếm cho ông Trần Chánh Chiếu làm trụ sở phong trào Minh Tân ở Mỹ Tho; đồng thời, cũng là người góp phần lo hậu sự khi cụ Phan Châu Trinh mãn phần lúc 21 giờ 30 phút ngày 24.3.1926) và tang lễ được cử hành tại Bá Huê lầu, 54 đường Pellerin, Sài Gòn (cơ sở của Huỳnh Đình Điển).
  14. Phạm Thị Hằng là con dâu bà Hồ Thị Hoa.
  15. Năm 1848, vua Tự Đức cho khởi công đắp “con đường sứ”, còn gọi “con đường Trạm” (sau nầy gọi đường cây dương hoặc lộ dương). Nay là Quốc lộ 50 (Tp.HCM đi thị xã Gò Công).
  16. Cách gọi theo số thứ tự cấp bực sĩ quan Pháp của dân gian (thiếu úy là quan một, trung úy là quan hai… tới đại tá là quan sáu).
  17. Tức đêm 21 rạng 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu).
  18. Mộ Đỗ Trình Thoại, hiện nay ở ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Read Full Post »

Từ giã mù sương.

Đặng Phú Phong

.

Cường gặp Quyên trong một buổi chiều muộn ở Đà Lạt, khi thành phố chìm trong lớp sương mỏng như một nhúm khói ai quên dập. Quyên đang ngồi một mình bên cửa sổ quán cà phê Tùng, tay vuốt nhẹ trang giấy nơi nàng vừa viết dở một bài thơ.

Nàng đội chiếc nón len màu tro, gương mặt đẹp kiểu đàn bà từng trải nhưng vẫn giữ nét thanh khiết như sương đêm. Ánh mắt nàng biết lắng lại, nhưng không bao giờ dừng — luôn như đang đi tìm một câu thơ vừa chạy mất.

Cường bị hút lấy từ khoảnh khắc ấy.

Anh hỏi, giọng đàng hoàng, không chút bởn cợt:

– Hình như cô đang làm thơ?

— Thơ viết tôi thì đúng hơn. — Quyên mỉm cười, hơi ngả đầu, giọng nhẹ như một thánh ca đứt quãng. Sự tự tin hiện rõ trên khuôn mặt lạnh.

Họ nói với nhau suốt hai giờ, như thể quen nhau rất lâu rồi. Cường không ngạc nhiên khi nghe nàng kể về cuộc đời cũ ở Sài Gòn:

Chủ một công ty quảng cáo thành công, những buổi họp dồn dập, những chiến dịch triệu đô… rồi một cuộc ly dị khiến tất cả như hóa khói.

— Em lên Đà Lạt vì mệt quá. — Quyên nhìn ra trời sương — Và vì em cần một nơi mà hạnh phúc không phải chứng minh.

— Còn hôn nhân?

— Em kết hôn vì thích cái không khí tịch mịch gần như… siêu hình của giáo đường. Vì anh ta có đạo. Tiếc là siêu hình thì đẹp, còn đời sống thì không phải thế.

Cường nhìn nàng, thấy một người đàn bà vừa mềm vừa thép — đẹp như ánh nến, nhưng cháy bằng thứ dầu của cô độc.

Chỉ một tháng sau, anh và nàng dọn về căn biệt thự nhỏ trên đường Hùng Vương — một ngôi nhà ngập thông, tường đá rêu phong, cửa sổ gỗ mở ra thung lũng.

Ban ngày, họ lang thang qua những quán cà phê có nhạc jazz cũ:

Tùng, Boho, Escape…

Quyên hay ngồi xoay muỗng cà phê và hỏi những câu tưởng đơn giản nhưng đâm rất sâu:

— Anh yêu phụ nữ hay yêu cái cảm giác được ở trong một cuộc tình?

— Cả hai. Em thì sao?

— Em yêu người nào chịu được bóng tối của em.

Cường cười, nhưng trong lòng hơi gai gai. Anh nhủ thầm – Bóng tối của em đặc quánh như hắc ín làm sao anh bước vào được.

Những tối Đà Lạt lạnh cắt, họ trở về biệt thự, đốt lò sưởi, đốt nến thơm mùi tuyết thông, nghe nhạc và uống rượu.

Họ nói chuyện văn học nghệ thuật

Anh lắng nghe nàng, đôi khi không hiểu hết, nhưng say mê chất lãng mạn lãng đãng của nàng.

— Hai đứa mình giống nhau ở điểm nguy hiểm nhất, — Quyên nói — ai cũng nghĩ mình hiểu đời và hiểu tình yêu hơn người còn lại.

Cường cười, không phản đối

Khoảng một năm sau, sự mâu thuẫn giống như những trận sương dày của thành phố này, không phải đến vì bão, mà đến âm thầm và mãnh liệt.

Một tối, trong lúc chỉnh lại giá vẽ, Quyên nói:

— Anh lúc nào cũng muốn em theo nhịp của anh.

— Còn em?

— Em cũng muốn anh theo nhịp của em.

Họ nhìn nhau, cả hai cùng bật cười. Nhưng đó là nụ cười của người nhận ra trước mặt là vực sâu mà không biết làm sao lùi lại.

Những cuộc trò chuyện vốn đầy thi ca bắt đầu có những đường nứt không nhỏ:

— Tại sao anh hay lơ đãng?

— Em quá để tâm vào cảm xúc của mình mà quên mất anh đang hiện diện bên em.

— Còn anh thì trôi như mây, không chịu ở lâu với điều gì.

— Ở lâu thì dễ buồn.

— Buồn mới là chỗ thật của con người, Cường!

Đêm nọ, Quyên ném quyển sổ tay xuống bàn.

— Tình yêu với anh giống như một bản nhạc chỉ có đoạn mở đầu. Lúc nào cũng đẹp nhất ở những nốt đầu tiên.

Cường im lặng trước sự thông minh của nàng. Và anh chợt nhận ra những cá tính đặc biệt cũng như sự thông minh ấy như một cái thòng lọng ngày càng siết cổ anh.

Nàng tiếp, giọng run nhẹ:

— Em với anh giống nhau quá. Ai cũng nghĩ mình yêu nhiều hơn, hiểu hơn, nên không ai chịu buông cái tôi xuống. Hai người như tụi mình yêu nhau… là một giấc mơ vừa đẹp vừa sai.

Cường muốn ôm nàng, nhưng Quyên lùi một bước.

Giáng sinh năm đó, trời Đà Lạt lạnh bất thường. Những dải đèn vàng treo trước Nhà thờ Con Gà hắt xuống sương như những ngôi sao rơi bị kẹt nửa chừng.

Cường và Quyên đứng cạnh nhau, nhưng khoảng cách giữa họ dày hơn cả hơi lạnh.

Tiếng chuông nhà thờ vang lên. Quyên kéo chiếc khăn choàng lại, mắt không rời tháp chuông.

— Cường… mình dừng lại đi.

— Em nói chơi?

— Không. Chúng ta yêu nhau bằng cùng một sự kiêu hãnh. Và chính điều đó giết tình yêu.

Sương bay qua, làm tóc nàng ướt nhẹ.

Cường muốn nói “Anh yêu em”, nhưng cổ họng như bị gió siết lại.

— Anh sẽ nhớ em. — anh thì thầm.

— Em biết. Nhưng anh sẽ không nhớ nếu ở gần em. Chỉ khi xa, em mới là thơ trong mắt anh.

Một câu nói đẹp. Và tàn nhẫn.

Quyên quay đi.

Trước khi bước xuống bậc thềm nhà thờ, nàng ngoái lại:

— Em mong một ngày anh học được cách yêu mà không đứng soi mình trong tình yêu đó.

Nàng bước vào màn sương trắng mỏng. Ánh đèn đường nuốt lấy bóng nàng rất nhanh, như thể Đà Lạt biết che giấu những cuộc chia ly đẹp nhất.

Cường đứng lại rất lâu. Gió lạnh quất vào mặt anh. Chuông nhà thờ vẫn vang lên mà lòng anh thì rỗng toang như ngôi giáo đường đã gỡ hết tượng thánh.

Đêm đó, anh biết,

đây không phải là cuộc chia tay của hai người. Mà là cuộc chia tay giữa anh và cái ảo tưởng rằng anh biết yêu.

Read Full Post »

Chợ thiệp

Không tính tới lúc Terry Jacks hát “Season in the sun” (1974). Trước đó, Sài Gòn đã có rất nhiều bài hát, Tây Ta có đủ, về “mùa nắng đẹp” Giáng Sinh. Cái mùa mà Sài Gòn hơi se lạnh vào những buổi sớm mai. Những chàng trai, cô gái Sài Gòn cũng điệu đàng hơn một chút, với chiếc áo khoác mỏng nhiều màu sắc bên ngoài chiếc áo chemise, hay áo dài, khi ra phố buổi tối.

Nhạc “Giáng sinh” thì tuỳ, bạn có thể thích thì nghe, không thì thôi! Nhưng có những chỗ bạn phải ghé ít nhất một vài lần trong năm. Nó thuộc về thói quen, về lối sống và văn hóa của người Sài Gòn cũ.

Nó nằm rải rác trong nhà sách, trên hè phố, hay trước dãy tường bên hông những Nhà thờ. Nhiều nhất và cũng đông vui nhất là những con đường nằm cạnh Bưu điện Sàigòn.

Nơi đó bán duy nhất một thứ quen thuộc, quen tới mức không cần tìm hiểu nó có từ đâu và từ hồi nào. Những tấm thiệp. Thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới. Một tờ giấy cứng gấp đôi, bên ngoài in hay vẽ những hình ảnh tuyệt đẹp, nhiều màu sắc, tượng trưng cho một mùa. Phần giấy trắng bên trong là để ghi những lời chúc lành cho nhau.

Người Sài Gòn có thói quen gửi thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới cho bạn bè, người thân. Gần thì trao tay, xa thì nhờ Bưu điện. Cánh thiệp là cách biểu hiện tình thân, là cách kết nối và quan tâm lẫn nhau. Nó như một nhắc nhở, một cách gián tiếp nói rằng tôi vẫn bình an và tôi đang nhớ tới bạn. Những lời cầu chúc tốt đẹp tôi viết gửi trong tấm thiệp là tấm lòng của tôi gửi cho bạn. Nó đáng quý biết chừng nào.

Những tấm thiệp sẽ được cất kỷ trong ngăn kéo, hoặc sẽ được treo lên cây thông Noel, hay cây mai cây đào ngày Tết. Nó vừa để trang trí, vừa để nói lên rằng bạn đang có mặt ở đây, đang cùng với gia đình chúng tôi đón một mùa Giáng Sinh, một Năm mới an lành và hạnh phúc.

Những năm tháng còn đi học, lang thang đi lựa mua thiệp là một cái thú. Người nhận khác nhau, những tấm thiệp và lời chúc bên trong cũng khác nhau. Nhất là gửi thiệp cho người con gái mình yêu thích. Với tôi là thứ khó khăn vô cùng. Phải cân nhắc, phải thận trọng khi viết từng câu, từng chữ. Tới lúc đưa, lúc gửi thiệp cũng hồi hộp. Và rồi nhận lại cũng…hồi hộp!

Cũng không chỉ có thiệp, thân tình hơn, người ta tặng cho nhau những món quà nhỏ. Những món quà mang ý nghĩa riêng tư của người cho và nhận. Sài Gòn không có mùa Đông, mùa Đông ở trong lòng người! Những món quà làm xích lại gần nhau hơn, làm ấm lại cái tình trong chút gió lạnh đầu Đông!…

Giờ thì nhanh gọn hơn nhiều. Có nhớ tới nhau, người ta chỉ cần mở máy vi tính, tìm một cái tên, tìm một tấm hình với lời chúc có sẵn rồi bấm gửi, thế là xong!

Quá tiện lợi và dễ dàng. Dễ tới mức như trả nợ. Người gửi cho có, người nhận thờ ơ.

Chẳng ai quan tâm tới cái đẹp vô hồn của tấm thiệp và những lời chúc sáo ngữ trong đó. Tất cả chỉ còn mang tính hình thức.

Để rồi, nếu như tình cờ nghe được mấy câu hát:

“Mong ước ngày sau như là ngày trước

Tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”*, mới thấy nhớ, thấy tiếc!…

Cái tiện dụng làm mất đi sự rung động, làm tê liệt những cảm xúc. Làm giết chết một thói quen đẹp. Làm mất đi một thứ văn hóa đáng yêu và đầy thi vị…

Chỗ bán thiệp cũng không còn nhiều. Không sao! Tôi sẽ tự đãi mình một bữa tiệc Giáng Sinh, bằng cách xuống phố, tìm mua vài tấm thiệp. Một cái để tặng mình và những cái còn lại dành tặng cho…kỷ niệm!

Vài cái thiệp hình cây thông hay ông già Noel “Merry Christmas And Happy New Year”. Vài cái thiệp tràn ngập những cánh mai vàng rực rỡ, hay hình ảnh: “Có cô con gái nhà ai – Mẹ cho mặc chiếc áo dài đón Xuân…”!

Cũng đáng để làm trong một ngày nắng đẹp, trong đầy rẫy những bất trắc và âu lo thường nhật…

Và nếu như tình cờ, bạn nhận được một tấm thiệp vào dịp Giáng Sinh, Tết… Có nghĩa là ở một nơi nào đó, có người luôn nhớ tới bạn và những câu chữ trong đó là những yêu quý rất thực!…Hãy ôm giữ và trân trọng cái hạnh phúc đó, bạn nhé!

Read Full Post »

                                      

Truyện của Nguyễn Trí

.

             Nguyễn Sông là con thứ năm trong một gia đình gồm mười anh chị em. Thường gọi Năm Sông. Thực ra là Xông với nghĩa xông pha chứ không phải là dòng hay con sông. Nguyễn Ngạn – chồng và cha – của bầu đoàn thê tử dài thòng lòng bảo rằng lỗi tại thằng làm khai sanh. Nó đánh máy nhầm xông pha ra sông hồ. Nhưng mà sông hay xông cũng chẳng chết ông chết cha chi với nghèo túng và đông con. Thực ra cái tên quan trọng lắm với đời một con người. Ông cha có câu “xem mặt đặt tên”. Lịch sử văn học Việt Nam viết rằng, thi rớt nên Trần Tế Xương đổi chứ lót là Tế thành Cao. Vẫn rớt nên ông than rằng: “ Tế đổi thanh Cao nên sự thế. Kiện trông ra Tiệp hỡi giời ôi”. Đó là mới chữ lót, đằng nầy cả cái tên là hệ lắm chứ chẳng chơi. Bằng chứng là đời của Năm Sông đúng là ba chìm bảy nỗi mười một cái linh đinh chứ chín chả bì được.

         Học hành được một dúm chữ, lại dỡ ẹc. Ông Ngạn nói với Sông rằng mày có học bao nhiêu cũng chặt củi đốt than chứ, chả khá được khi cha mày là lính đánh thuê. Nghe vậy Sông lao ra sân ga bến tàu sống đời chợ búa. Theo chúng bạn vượt biên vượt biển chi đó bị lao cải hết hai mươi bốn tháng. Về đời được ba tháng lại bị thộp về tội phá đoản nhập nha. Đúng là ngựa quen đường cũ không tù là không được. Sau bảy năm cả tù cả lao cải Sông làm lại đời bằng cách lấy vợ. Vợ của Sông cũng đầu bờ cuối bãi có cái kém nhưng cũng có cái hơn Sông. Sông vượt biển bị thộp chứ cô thì thành công mỹ mãn. Cô có chồng, lúc bầu bì thằng khốn kiếp bỏ cô chạy theo con khác. Cha má cô nghèo chết ông bà cố tổ nhưng sĩ diện lắm. Họ không chấp nhận con gái bỏ cha bỏ mẹ đi theo tiếng gọi tình yêu. Cô vượt biển một mình, nuôi con một mình. Giang hồ tên Sông một ngày nọ gặp sương phụ bèn nói rằng thương ai cũng vậy thương anh anh cám ơn.

      Vậy là ra một cặp.

      Họ sống với nhau cho đến ngày Sông chầu trời vì bứt mạch máu não. Có với nhau ba đứa con chưa kể thằng con mà cô vợ vượt biển một mình. Đi qua tám tỉnh thành, mỗi lần đi là mỗi lần mua bán một căn nhà. Lưu lạc vậy nên nói Năm Sông chín linh đinh là phải quá. Lần cuối cùng nhà của Sông cao tốc chạy qua trụm lùm lụm. Vậy là được đền bù một mớ kha khá và một lô thổ trên tái định cư. Những tưởng thoát được cảnh “Cuối năm rót rượu ngay hẻm cụt. Nhà của ai chắn cuối đường đi…” ngờ đâu định mệnh của – những dòng sông – là muốn ra được biển xanh bát ngát phải qua thác qua ghềnh qua cheo leo khấp khểnh.

       Định mệnh của Năm Sông là của những dòng sông.

       Năm hai mươi tám tuổi thằng Bon – con riêng của Huệ – bà xã Sông, đem lòng đắm say một ngọc nữ. Dùng chữ ngọc nữ là bởi cô đẹp ơi là đẹp. Mặt đẹp và duyên thì chớ thể hình của cô cũng trên cả tuyệt vời. Trai theo cô gái tên Hạnh Thảo nầy cả một sư đoàn nhưng cô chỉ thích một anh Bon. Cặp kè được với người mình yêu là hạnh phúc. Đúng không? Chưa chắc đâu. Yêu và được yêu là môt chuyện còn hạnh phúc là chuyện khác. Để có được hạnh phúc phải hội tụ nhiều yếu tố. Hai yêu tố quan trọng vào bậc nhất là tiền và tình. Chả có hạnh phúc nào trong lều tranh với hai quả tim vàng đâu mà ham. Tình ở đây thì yêu là nhỏ. Giường chiếu mới lớn. Thằng đàn ông mà chưa tới chợ đã hết tiền thì hạnh phúc là cái con có tên “thôi rồi”.

        Bon là thằng người như vậy.

        Trước đó giang hồ lão luyện Năm Sông đã cảnh báo với Bon rằng con bé Hạnh Thảo có đôi mắt bén như dao cau, cặp giò mà “tướng mạo khảo lục” của Vũ Tài Lục bảo rằng “Trường túc bất tri lao” chân mày như thế thì “đa mi tắc đa mao” cái eo của nó dạng “tiểu yêu âm hộ đại” thì mày ba bảy hai mươi chứ không được hai mốt ngày đâu con.

        Y như rằng.

        Ở với Bon được ba tháng Hạnh Thảo tếch một hơi theo bồ cũ. Cô để lại cho Bon một lá thư tuyệt tình rằng “duyên trăm năm chẳng đặng, vương vấn làm chi cho mệt… quên em đi anh”. Bon ôm lá thư vào lòng khóc sướt mướt như Chúc Anh Đài nghe tin Lương Sơn Bá bị hộc máu. Khóc xong Bon ngồi ôn kỷ niệm bên chai ba xị. Nhìn thằng đàn ông sức có hạn, vai hẹp té đứng trước giai nhân chỉ ngắm chứ rán không nổi uống rượu ngâm thơ thấy mà tội. Bon thơ rằng: “Vòng tay hụt hẫng vòng tay. Rã rời đôi cánh, mỏi ngày, tháng, năm. Bóng và bóng, bóng âm thầm. Chờ người từ cõi trăm năm trở về… “ Mẹ cha ơi… chắc thằng nầy chết vì thất tình quá.

        Vùi đầu trong rượu và thơ được hai tháng Bon tỉnh hồn khi nghe tin Hạnh Thảo trở về. Ra là thằng bồ cũ sau khi, lăn lóc đá mê mẫn đời cái sự chơi, nó phủi một cái không thương tiếc. Bon ta đúng là thiên hạ đệ nhứt si tình, nó ba chưn bốn cẳng chạy xuống nhà vợ. Sau đó ba chưn bốn cẳng về nhỏ to với má. Bà Huệ lại nhỏ to với chồng. Năm Sông bảo rằng cho nó về lại cái nhà nầy hả? Còn khuya. Nó đi được một lần thì sẽ có lần thứ hai. Tin tao đi.

      Nhưng rồi Năm Sông buộc phải chấp nhận cho Bon đưa vợ về nhà bởi, sáu tháng sau thằng con nói ba ơi vợ con bầu được ba tháng rồi. Trên lô đất một sào tây Sông thượng lên một cái chòi lợp lá dừa nước cho đôi trẻ. Trong cái chòi ấy cô con dâu tên Hạnh Thảo cho ra đời một thằng cu giống… Năm Sông y tạc. Cũng đầu mình tứ chi trên đầu có tóc và trong đầu chắc chắn có não không giống mà được sao? Hai vợ chồng trẻ gửi con cho ông bà nội để làm ăn. Cô vợ xinh đẹp thuê nhà mở một quán cà phê sân vườn có võng. Năm thằng cháu nội được ba tuổi thì cao tốc chạy qua lô đất một sào. Năm Sông lại đùm túm lên tái định cư.

       Cũng năm ấy Bon quả tang vợ cùng một trẻ trai trong nhà nghỉ Nhị Kiều.

       Buồn tình buồn đời Năm Sông lăn ra chết vì cao máu.

                                                                  ***

       Ca dao rằng “ Trèo lên cây trắc, ngắt ngọn Đinh Lăng. Nhớ trong sách xưa có chữ rằng: bần cư náo thị vô nhân vấn…” sao mà đúng quá, ít nhất là trong trong trường hợp của Năm Sông. Sau giải tỏa đền bù. Khố rách áo ôm kiếm ăn bằng sức chỉ duy nhất một hộ Nguyễn Sông là cư dân của tái định cư, những hộ khác bán thổ cư của mình từ trước khi bốc thăm nhận đất. Tái định cư kiểu mẫu ai cho phép anh cất nhà tranh vách lá, chí ít cũng cấp bốn tường tô kiểu cọ hoa lá cành. Bán mẹ nó cho rồi, kiếm chút đĩnh mua chỗ re rẻ làm cái nhà xoàng xoàng dư chút vốn làm ăn. Nghèo thì phải biết liệu cơm gắp mắm chớ. Đúng không?

      Sông khác. Lô thổ ba trăm mét vuông Sông bán một nửa. Vậy là đủ tiền lên lầu một căn khá ngon cơm. Đằng trước nhà bà xã Sông làm một quán cà phê cóc kiếm ngày lon gạo và con khô đù một nắng. Hai vợ chồng ăn sáng một gói mì tôm chứ không hơn. Con cái đã lớn nên mạnh ai nấy lo. Cháu nội thì có cha má, vợ chồng Sông có phận thương và giữ giúp là tốt rồi. Cà phê cóc của Sông kiếm ngày con khô và lon gạo là chính xác trăm phần trăm. Vì sao. Vì cư dân của tái định cư toàn đại gia. Nhà của họ ngoài tường cao là hào sâu và cửa cổng trừ camêra còn có chuông oe oe báo trộm. Sang cả ai lại quan hệ giao lưu với cóc ổi mía ghim. May mà đại gia trừ nhà cao cửa rộng còn có cả trọ triệc cho công nhân thuê mướn nên, Sông mới có cơ hội mà kiếm con khô một nắng.

         Vậy nên khi cái xác chết vì cao máu về nhà, lèo tèo dăm mạng đến chia buồn. May mà thời hội nhập phát triển nên, bọn chuyên ăn thịt người chết lo tất tần tật các cái từ, hàng họ đến tụng tiệc đưa hồn ngươi chết về nát bàn,  huyệt mộ đều có người lo miễn có tiền. Sông chết ở bệnh viện nên bọn bán hòm nghe nói dân tái định cư tưởng Sông giàu. Đến lúc đưa xác và hòm về nhà chủ trại hòm mới dài mặt hối hận. Chả là lúc lấy cái xác lạnh như nước đá ra khỏi nhà vĩnh biệt – Hùng – con trai út của Năm Sông ra cổng bịnh viện kêu xe đưa cha về nhà nhưng chẳng một bác tài nào dám. Em út của chủ trại hàng nói để chị hai lo, em lo chi cho mệt. Hùng nói nhà em nghèo lắm chị ơi. Em tính đưa ba về xin cái hòm của chữ thập đỏ… nói gì nói chị hai vẫn ngang nhiên ra tay. Thường trú ở tái định cư thì phúng điếu dư để tang ma. Ngờ đâu trong kiểu mẫu cũng có khố rách.

      Rầu nhứt là trong cái mớ lèo tèo đến uống rượu chia buồn có cả bọn đòi nợ thuê. Vợ chồng trưởng nam của người chết trong tang phục ra tiếp khách. Chúng nó bảo xong đám ma là trả nợ cho chị hai nghe. Không trả là tao xin tụi mày nhiều luôn chứ một tí huyết không đủ làm tiết canh. Bon và Hạnh Thảo dạ dạ dạ em biết rồi. Ổng chết nhà nầy em chủ chứ ai vô. Mấy anh yên tâm. Ra là cặp đôi nầy thuê nhà mở quán cà phê sân vườn có võng là vay mượn của xã hội đen. Thế có chết không?

         Nghe chuyện ba đứa em cùng mẹ khác cha ra miệng:

  • Ê… đợt trước ông lấy sổ đỏ đi cầm, ba chị em tui phải bỏ công bỏ của đi chuộc. Ông không còn cái khỉ mẹ gì trong cái nhà này đâu mà chủ với tớ…

  Thằng Hùng nói với bọn đòi nợ thuê:

  • Mấy ông có gì cứ níu áo hai ngươi nầy. Của cải trong căn nhà nầy họ không còn chi hết.

   Đó rồi nó vào phòng lấy cái cặp táp lôi ra một tờ giấy cam kết có công chứng với con dấu đỏ như máu. Tờ giấy xác nhận rằng cái nhà chia làm năm phần. Nguyễn Bon và vợ là Trần Thị Hạnh Thảo đã lấy cái phần của mình… Đọc xong bọn đòi nợ thuê vỗ bàn dằn mặt:

  • Chuyện nhà anh em mày bọn tao đẻo cần biết. Xong đám mà vợ chồng mày không trả tao rạch mặt mày nghe con đĩ chó…

    Hạnh Thảo lớn giọng:

  • Yên tâm đi. Cai nhà nầy hôm nay trị giá những năm tỷ. Hồi đo vợ chồng tui chỉ lấy một trăm triệu. Không chia lại là không ổn với tui…

     Ba đứa con của Sông và bà Huệ thì Hùng là du côn có số. Nó văng tục:

  • Bà vừa mới bị ông Bon quả tang trai trên gái dưới ở Nhị Kiều. Đĩ chó như bà còn có tư cách gì mà chia lại vơi chia đi.

     Bà Huệ bước ra:

  • Trời ơi… yên cho cha bây tĩnh chút được không. Mấy chú về đi… để tui đưa ông nhà ra nghĩa địa rồi tính.
  • Tính cái gì ? Bà chỉ cần hứa sau đám trả nợ cho con trai và con dâu bà là bọn tui về liền. Còn không bọn tui đòi cho đến khi mở cửa mả.

   Hùng lên tiếng:

  • Mắc mớ chi đến má tui. Oan có đầu nợ có chủ. Mấy ông không có quyền ép má tui trả nợ.
  • Mày ngu chết mẹ. Con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Biết chưa thằng ngu. Cà chớn tao đâm chết mẹ mày bây giờ. Với tao ba năm tù như một giấc ngủ trưa nghe mậy.

    Đúng lúc đó hai chiếc xe hơi loại bảy chỗ dừng trước nhà Năm Sông. Cửa xe mở và những mười hai người rất trang trọng lịch sự. Họ mơ cốp xe lây ra hay vòng hoa phúng điếu. Vòng hoa dựng lên. Thiên hạ ngỡ ngàng khi đọc dòng chữ trên một vòng hoa: Hội văn nhọc nghẹ thuật tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông. Dòng chữ trên vòng hoa còn lại là: Ủy ban nhân dân tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông.

     Ra Sông là nghệ sĩ cơ đấy.

     Ở tái định cư kiểu cọ nầy thiên hạ đi ăn sáng bằng xe hơi là nhỏ. Nhưng chuyện hai chiếc bảy chỗ chềnh ềnh trước đám táng nhà Sông là lạ. Hôm ấy nhằm chủ nhật nên bọn công nhân – khách cà phê của quán Sông – tụ lại coi chơi cho biết một đám ma có điếu văn. Mẹ cha ơi… thường, Sông quần đùi áo áo thun ba lỗ cóc cách trên chiếc xe đạp cà là mèng mỗi khi vợ sai vặt. Nay điếu rằng vô cùng thương tiếc nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông đã một đời cống hiến cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung… Ra cái lão quần đùi áo cánh là hội viên cấp quốc gia mới ghê và giải này giải nọ nghe mà mắc mệt.

         Chuyện Sông là nghệ sĩ hóa khói bay khắp nơi trong tái định cư. Là dân làm ăn lớn, nghe nói có người của ủy ban cấp tỉnh dự đám ma, kính thưa các đại gia liền kéo đến. Đúng là “thớt có tanh tao ruồi đậu đến, gan không mật mở kiến bò chi”. Ông thông tin văn hóa huyện cũng có mặt thì ông xã là tất nhiên. Đám tang Sông bổng nhiên long trọng. Ông Nguyễn Huy Thiệp nói rằng “người ta xếp nhà văn cao trên ăn mày một bậc, nhà văn đứng đầu trong đám thảo dân, đứng cuối trong các phẩm trật triều đình. Giàu không ai viết văn cả (vì giàu thì hỗn, mà viết văn đòi hỏi khiêm tốn). Ở đây trừ vài “người điên thiên tài” thực sự như Tào Tuyết Cần, Bồ Tùng Linh, Lev Tolstoy… là những trường hợp đặc biệt từ người giầu có do viết văn họ lại hóa ra nghèo. Nghèo thì cũng không ai đi viết văn cả (vì nghèo thì hèn, mà viết văn lại cần dũng khí, khi cần thì họ nhảy vèo xuống nước giống như Khuất Nguyên, thế là cả một nền chính trị đương thời bị mang tiếng). Nhà văn là người biết sống trung dung, phong lưu, tri túc, “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm”. Không dễ gì tổ chức được một cuộc đời như thế. Rất khó, khó nhất không phải chỉ là tiền bạc, cũng khó nhất không phải chỉ là tri thức – mà khó nhất lại là đạo đức! Các cụ ngày xưa nói “có đức không đủ sức mà ăn” là vô cùng sâu sắc, vô cùng tế nhị.

          Không có phẩm trật và chỉ cao hơn ăn mày một bậc mà đám táng có quan chức tham dự thì quá xá là ghê gớm.

          Và xưa nay nghĩa tử là nghĩ tận. Oán tận tủy mà khi kẻ thù chết người ta còn đến để vuốt mắt lọ là Sông lành như đất. Mà đám ma là phải phúng. Bọn ở trọ phong bì còn trăm ngàn thì đại gia dăm bảy trăm một triệu có đáng là bao. Ây da… cái thùng phúng điếu có ổ khóa phải hơn một lần rinh vô phòng bà quả phụ Huệ chứ không nhét vô được bởi cái sự đầy ặp. Chắc chắn cái công lớn lao nhất đời làm chồng làm cha của Nguyên Sông là lúc nầy. Ông đã để lại cho vợ con kếch sù một gia tài. Đúng là số giàu đem đến dưng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.

      Tiếc là Sông chết mất rồi.

      Nhà chùa cũng có mặt theo lời mời của chủ tịch ủy ban nhân dân xã nơi Sông cư ngụ. Đại hòa thượng với mũ bình thiên và tràng hạt trên cổ, trên tay, sau lưng ngài trên hai mươi sư ông sư bà trong cà sa đi chung quanh cổ áo quan, và lời kinh tiếng kệ vang lên đảm bảo, linh hồn nghệ sĩ Sông – nếu có – chắc chắc lên cõi nát bàn ở cùng hằng hà sa số phật. Đại hòa thượng có vẻ tinh thông lẽ nhiệm mầu của trời đất. Trong thời gian nghỉ, ngài ngồi trên bồ đoàn, một tay lần tràng hạt, một tay dùng ngón cái đếm đốt ngón tay của bàn tay rồi phán:

  • Theo quẻ nầy thì không thể hỏa thiêu theo yêu cầu khi con sống của Nguyễn Sông. Sông cầm tinh con khỉ. Khỉ là vượn mà vượn thì “con vượn bồng con lên non hái trái. Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi” Kẻ trên cao sống đời bay nhảy không thể đốt được. Phải chôn.

    Vậy là chôn. Nhân bảo còn như thần bảo lọ là đại hòa thượng khi đã phán.

    Một dàn nhạc đám ma kéo đến theo chỉ thị của chủ trại hàng. Thôi thì tân cổ nhạc tha hồ phát huy. Ca sĩ đám ma hát hò nhảy múa không thua lai sô của nghệ sĩ thời thượng một lai nào. Lúc nầy mơi là lúc ca kính thưa các đại gia củá định cư phát huy sở trường xài tiền. Họ gặp em xy và yêu cầu vừa hát vừa múa bài Tình Cha. Lòng mẹ cũng chơi luôn bởi anh bo sộp.

      Cứ thế và cứ thế đám ma của Nguyễn Sông vui cho đến ngày ra nghĩa địa.

     Thằng chủ xe hủ tíu gõ, sáng nào cũng bán cho Nguyễn Sông một tô nhiều nước lèo bởi Sông nói tao mua thêm ổ bánh mì để hai vợ chồng cùng ăn. Gã nói:

  • Móa nó… còn sống thì đẻo có ăn, đến khi chết xuống thì văn tế ruồi.

     Lại nói thêm:

  • Sống thì đẻo có thằng náo viếng. Chết thì cả một sư đoàn. Nhưng mà cha Sông chết không dễ chi mà yên được. Tiền phúng nhiều quá bầy con giả chia chác cũng khó.
  • Ừ… nhứt là con vợ thằng Bon. Tha hồ có tiền điều hành tiếp cà phê sân vườn có võng và… nuôi trai. Mẹ cha nó thằng yếu sinh lý Bon.
  • Còn cái nhà nữa mới mệt chớ…

   Yên nghỉ mà được sao hả Nguyễn Sông?

        Nguyễn Trí

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »