Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Xà bông Con Vịt

Trần Bảo Định

.

Một.

Hổm rày(1), tin tức ”Dân dậy” chống thuế từ Huế đổ dồn vô Nam(2). Rằng, quan hỏi: ”Ai cho phép dân đi?”, dân đáp trả: ”Cái bụng đói bắt đi”…Dù đang tại chức cai quản tổng Lợi Trường, nhưng Cai Tuất nghe thiên hạ truyền tai nhau cũng đã con ráy. Nói cai tổng là một cách nói, chớ đúng ra phải gọi chánh tổng. Vì, từ thời Đồng Khánh đã đổi cai thành chánh do kỵ húy cha mình là Hồng Cai tức Kiên Thái Vương.

– Thưa thầy cai, tui tới chơi!

Con Mực sủa át tiếng chủ điền Dương, một người thừa của ăn của để ở làng Kim Sơn miệt Sầm Giang.

– Hắc cẩu! Chỗ giao tình…

Mực nín sủa, ngửi ngửi ống quần, vẫy vẫy đuôi như xin lỗi và tỏ ý thân thiện với khách.

– Mời ông chủ ngồi!

– Dạ! Không dám! Thầy cai kêu tui ông chủ, thì tui sẽ tổn thọ.

Cai Tuất cười ngất.

– Xưa Tri huyện, nay Quận trưởng gật thì mần cai cho nó sai. Ngược lại, nó lắc thì mần dân, chẳng cơm ăn. Rốt cuộc, mần tá điền cho chủ điền. Gọi chú em ông chủ là qua lo cho cái ngày sau của qua!

Chủ điền Dương nhấp trà sen, cười trấn an:

– Làm gì có chuyện ”cái ngày sau” đó, thưa thầy cai!

Thầy cai đăm chiêu, đi đi lại lại trong gian phòng khách rộng thênh thang.

– Cai tổng là cái chức do bề trên cho, còn điền chủ là điền sản của mình. Của người cho sao bì đặng của mình có!

Chả hiểu sao hôm nay, Cai Tuất nói năng có vẻ chán chường như vậy, hay là lão ta thử lòng mình.? Điền chủ Dương tự hỏi, bởi thời cuộc bây giờ nhiễu nhương lắm.

– Thưa thầy cai! Cai tổng hay điền chủ trong cái xứ sở thuộc địa Nam Kỳ nầy, có gì là chắc chắn!

– Thôi! Qua và chú em bỏ phức ba mớ chuyện xà quần đó đi!

Cai Tuất trở lại thư thái điềm tĩnh.

– Nầy, qua hỏi thiệt, chú em quá bước sang đây chơi hay muốn qua gả chó giữ nhà?

Cả vùng Sầm Giang mấy ai không bái phục tài lựa chọn chó tốt của Cai Tuất. Vả lại, ông ta chẳng những không giấu nghề mà còn phổ biến cho xóm giềng cùng biết. Thường thì, ông nhắc nếu chọn chó khôn cần lưu ý: ”Mắt to, phía trên chưn mày điểm sậm màu hơn lông (còn gọi là chó bốn mắt), tai vểnh thẳng, lưỡi có bớt đen, ‘móng đeo’ bốn chưn trước sau…”. Lúc ”Trà dư tửu hậu”, Cai Tuất cao hứng đọc thiệu: ”Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt. Bỏ đuôi bên trái thì nuôi, bỏ đuôi bên phải thì thịt…”. Nói vậy, chớ chẳng ai can đởm ăn thịt chó, con vật mang biểu tượng trung thành với chủ; và cả thịt trâu, con vật mang biểu tượng bạn nhà nông.

Rồi, ông hãnh diện về con chó mực nhà ông mà ông thích gọi ”Hắc cẩu”, bởi toàn thân nó phủ một màu đen tuyền; dân gian truyền tụng chó mực mắt thấy được ma quái và ma quái cũng chỉ khiếp sợ loại chó mực.

– Thưa thầy cai! Tui tới gặp thầy cai là mần theo ý của ông Gilbert Chiếu (3).

Để khỏi mất thì giờ, điền chủ Dương nói luôn:

– Gilbert Chiếu nhờ tui nhắc lại với thầy cai câu ca dao ở xứ mình: ”Tham chi đồng bạc con cò (4)/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang sa”!

Cai Tuất chưng hửng và câu chuyện về chó đang hồi cao trào cũng bị xẹp lép. Gilbert Chiếu, một cái tên mà từ lâu ông hằng ngưỡng mộ và thời gian gần đây, trong giới trí thức, điền chủ, hương chức…ra6mran bàn luận và tham gia phong trào Minh Tân ngày càng đông ngay trên đất Mỹ Tho, vốn là thủ phủ thương mại của Hoa kiều với cái tên ”Đại phố Mỹ Tho” từ Dương Ngạn Địch. Một việc làm hi hữu và táo bạo kể từ khi Nam Kỳ thuộc Pháp.

Hai.

– Bẩm quan! Tuất nầy xin trả cái chức cai tổng lại cho quan. Quan coi ai đó, giao người ta đặng kiếm chút tiền xài vặt.

Quận trưởng(5) quận Cai Lậy dằn tay xuống mặt bàn, đứng dậy đá ghế.

– Cai muốn giỡn quận, sao?

Cả gian phòng im ắng, nặng chình chịch, nghe rõ mồn một tiếng tích tắc của dái đồng hồ treo tường lắc qua lắc lại. Con chó Berger của viên Quận trưởng cao to gấp ba bốn lần con Mực của Cai Tuất, định chồm tới uy hiếp con Mực. Nhưng, chẳng hiểu sao nó chựng lại, hai chưn trước hơi run. Có lẽ nào, chó Berger bị ”khớp đèn” trước ánh mắt của chó Mực!?

Tay Quận trưởng giở giọng đe nẹt:

– Gần đây, ta được mật báo có đám người ”vong ơn bạc nghĩa”, vô quốc tịch Tây lập hội ”Minh tân, Minh cựu…” gì đó, mưu phản Tây. Bọn khác tự xưng ”Đông cung Thái tử” lập ”Hội kín” đánh Tây, kể cả cái bọn ”khố rách áo ôm” ngoài Huế cũng tụ tập biểu tình chống thuế muốn làm loạn. Vậy, bổn chức hỏi Cai, đứa nào xúi Cai trả Cai lại cho ta?

Cai Tuất thoáng nghĩ, Mực không sợ Berger; chả lẽ ta lại thua con chó Mực! Bởi vậy, dù giọng gầm gừ, mặt hầm hừ thì hắn cũng chẳng bắt nạt được Cai Tuất.

– Bẩm quan! Không có đứa nào xúi hay giục Cai Tuất nầy cả! Chẳng là, tui mê nuôi chó, thích gả chó và biết đâu tới cái ngày kia, ham đua chó nữa cũng nên. Quan chưa chơi chó nên không biết đó thôi!

Quan quận chưa kịp phản ứng, Cai Tuất thưa tiếp:

– Hội Minh Tân, Hội kín…Hội chi chi đó, tui không biết mà chỉ biết: ”Chó cùng rứt giậu”. Nhựt trình Pháp đăng rùm cái vụ dân Huế xin thuế ”bắt trói tên Phó quản và bọn quan lại phủ huyện gánh tới Tòa Khâm và Phủ Doãn Thừa Thiên…”.

Hình như, nét mặt viên quận có vẻ xìu. Con Berger lảng đi chỗ khác.

Đột nhiên, quan quận trừng đôi mắt trắng dã, trợn ngược:

– Cai tổng muốn làm loạn, à!

Hắn để tay lên bao súng đang nịt ngang hông.

– Đồ chó má!

Cả Tuất cười thầm, nghĩ bụng: ”Chẳng biết thằng nào chó, thằng nào má!”.

Sự căng thẳng bắt đầu như người đánh đàn bắt đầu lên dây đàn, Cai Tuất móc túi quần lấy ra xấp tiền mới cáo cạnh vừa rút ở nhà băng đặt lên bàn quan quận. Hình mụ đầm xòe in trên tờ giấy bạc như nhảy múa làm sáng mắt tay chủ quận. Hắn nuốt nước bọt, sửa bâu áo, trở giọng:

– Cai cả gan dám đút lót bổn quan bằng tiền mẫu quốc?

– Thôi mà quan! Mình người nhà, có lạ lẫm gì nhau.

Mặc dù Cai Tuất đã trả cái chức cai tổng cho chủ quận Cai Lậy từ lâu, nhưng dân trong tổng hoặc người thân vẫn quen miệng gọi Hai Tuất là Cai Tuất. Một hôm, Cai Tuất ngồi nói chuyện với vợ.

– Tui tính như vầy, bà nó coi có được không, nha!

– Thì, ông nói thử cho tui nghe.

Cai Tuất khẽ dộng đầu điếu thuốc lá ”Con ngựa bay” xuống cạnh bàn, mồi lửa hút.

– Mấy tháng nay, cậu Út rủ tui gom tiền hùn vô ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” (6) để làm xà bông hiệu ”Con Vịt” đem bán cho bà con mình xài vừa tốt, giá rẻ. Tui định nói với bà, tháng sau tới kỳ hạn tiền gửi nhà băng thì bà rút hết tiền đưa cho cậu Út…

Vợ Cai Tuất chặn ngang.

– Làm savon là làm cái gì? Sao lại là hiệu ”Con Vịt”?

Thú thiệt, Cai Tuất không nắm được rành cho lắm. Chỉ là, học lóm lời cậu Út nói mà thôi, nhưng chả lẽ mần thinh; thà mình nói dù nói chưa được rành mạch mấy.

– Thì là, làm xà bông đó! Hiệu ”Con Vịt” là biểu tượng niềm vui, sự an lành và nó cũng là, con vật linh dùng để cúng Bà Cậu miền sông nước. Cậu Út nói: ”Con Vịt” kêu tiếng kêu chuyển mình của người Nam Kỳ đi vào lãnh vực công nghệ!

– Tui thì, tui thấy gửi tiền nhà băng lấy đồng lời cho chắc ăn. Mần đôi khi, có mần mà không có ăn. Vả lại, làm sao cạnh tranh nổi với hãng xưởng Hoa kiều, hãng xưởng người Pháp.

Nghe vợ nói, Cai Tuất bối rối không biết dùng lời lẽ gì để ứng phó, thuyết phục. Nếu, không ứng phó, thuyết phục được vợ thì không thể lấy chìa khóa mở rương tiền.

Làn khói thuốc bay vẩn vơ. Mực ho hục hặc mấy tiếng, dường như nó nghẹn cổ vì đồng cảm với chủ.

Cai Tuất thấm thía sự thất thế của mình trước vợ. Ông mần cật lực tạo ra tiền để vợ có tiền mà giữ, nhưng lúc nào vợ ông cũng nghĩ xấu về ông; khác gì chó dù có trí thông minh, thính giác, khứu giác siêu phàm phân biệt người quen kẻ lạ, siêng năng giữ nhà và nhứt là, trung thành tuyệt đối với chủ…Vậy mà, người đời sử dụng cái nặng tình qua ca dao, cái nặng lý qua tục ngữ nhằm bêu xấu chó. Không vì ham làm giàu, ông nhảy vô lãnh vực công nghệ hoàn toàn mới mẻ đối với ông; chẳng qua vì lòng tự ái dân tộc, ông muốn làm ra sản phẩm cho người mình xài cái người mình có.

– Ông ơi! Vô ăn cơm. Chiều rồi, đó!

– Bà ăn trước đi, tui chưa thấy đói!.

Biết ông hờn mát bà từ cái bữa bàn chuyện nhập hội làm xà bông ”Con Vịt” tới nay, nhưng bà mần bộ lảng coi như không biết. Chớ thiệt bụng, bà muốn ông sớm bỏ nghề nuôi chó, gả chó cho người. Mình không ăn thịt chó, người ta ăn thì sao? Thất đức, chết! Bà thường nghĩ: ”Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Bà vốn người làng Lương Hòa Lạc, có ngôi chợ nằm cạnh dòng sông Bảo Định hiền hòa. Ông nội và bên nội của bà, từng theo Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân chống Tây hơn ba mươi năm về trước. Cậu Út của bà, ông Lê Văn Cửu, một trong số tám người gốc gác dân Mỹ Tho, là sáng lập viên Công ty Cổ phần ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” (7). Hơn nữa, ông Huỳnh Đình Điển, chủ khách sạn Nam Kỳ (😎 chẳng tiếc gì của cải, dám giao khách sạn cho ông Trần Chánh Chiếu mượn làm trụ sở Minh Tân, thì hỏi sao bà không tin, không tham gia. Bà chần chừ bởi hiểu rằng: ”Minh Tân là phong trào yêu nước, kết nối giữa phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Mục đích cuối cùng là đánh đuổi thực dân Pháp, giàng Độc Lập, Tự Do cho Tổ quốc”. Chẳng biết ông nhà có cái gan mần việc lớn hay không? Có khi phải đem cái mạng mà đền nợ nước! Hay ông chỉ chí thú mần ăn hoặc do hứng khởi nhứt thời vì ham mần ra tiền. Với bà, việc nầy là việc hệ trọng không vì tiền bạc mà vì, tấm lòng nghĩ tới nước, tới dân hiện đang sống trong tủi nhục mất nước.

– Thì, ông vô ăn cơm cùng tui đi cái đã! Rồi, tui nói chuyện nầy hay lắm cho ông nghe!

Ba.

Cai Tuất cặm cụi dán ”Bố cáo di dời mồ mả” trên sở đất mà Công ty đã mua để xây dựng cơ sở sản xuất xà bông hiệu ”Con Vịt” (9). Với tinh thần ”Người Việt xài hàng Việt” nên những thân nhân có mồ mả đang nằm trên sở đất của Công ty đã cấp tập di dời. Hạn di dời mồ mả ba tháng, nhưng chưa tới một tháng, Công ty đã có thể xây dựng lò sản xuất xà bông. Vợ Cai Tuất, vợ điền chủ Dương trực tiếp đứng ra thu mua dừa khô từ nhiều nơi đổ về giao mối. Nhiều nhứt và chất lượng dầu dừa tốt nhứt, vẫn là trái dừa xiêm khô Bến Tre có vỏ màu nâu sậm, cầm trái dừa cảm giác chắc tay. Trên bến, dưới thuyền; bầu không khí vui như hội, chẳng những đối với người trong Công ty mà còn cả với người xung quanh.

– Chào thầy cai tổng!

– Giờ nầy, còn thầy với bà gì nữa, chú em! Cai với tổng, cái con khỉ!

Cả hai cùng cười vang, rung khói lò nấu dầu dừa.

Điền chủ Dương neo ghe, nhảy lên bờ ôm vai Cai Tuất. Mực ”gâu, gâu…” mấy tiếng, chồm lên chưn mừng người quen.

– Sao? Từ ngày chú em vô ”Minh Tân túc mễ tổng cuộc”, đi buôn lúa gạo có khá hơn đi thu thuế ruộng tá điền không?

Cai Tuất hỏi thăm người anh em cùng tổng hồi trước.

Điền chủ Dương giờ đã là chủ nhà máy xay xát gạo lớn bậc nhứt ở Long Hưng, sau khi bán hết ruộng vườn cho Trần Bá Thọ. Chủ nhà máy Dương cười sảng khoái.

– Giờ nghe ai gọi Chủ nhà máy, tui vừa sướng vừa đã hơn nghe ai kêu Điền chủ!

Chủ nhà máy Dương tâm tư:

– Suy cho cùng, mần chủ nhà máy còn làm ra sản phẩm. Mần địa chủ chỉ quen thói đè đầu, bóp họng tá điền nhả tiền ra chớ xã hội chẳng có được thêm vật chất, của cải. Một thằng làm giàu, trăm họ điêu đứng,tạo nên sự bất công, nỗi phẫn uất!

Rồi, chủ nhà máy Dương kết luận:

– Chủ nhà máy giàu, thì xã hội có thêm sản phẩm. Còn điền chủ giàu, thì xã hội chỉ có thêm tá điền đói khát!

Cả hai nhâm nhi men rượu nghĩa tình, mừng cuộc hội ngộ cùng đi chung con đường canh tân đất nước. Sống trên đất của mình, há lẽ chịu bó tay lệ thuộc vào hàng hóa của tư bản Pháp và của đám Thanh thương!? (10). Chứng minh điều suy nghĩ của mình, chủ nhà máy Dương bước lên đòn ghe trở xuống ghe lấy tờ nhựt trình, đặng cho Cai Tuất coi cái tin ”Nam Kỳ thương cuộc” do ông Trần Văn Thạnh ở Chợ Gạo thành lập: ”…lập sở nhà máy xay lúa, lập hãng ăn lúa gạo ( để trực tiếp xuất khẩu) hoặc là lựa con dân đứa nào thông thái thì cho nó qua bên Tây học bác vật…”. (Lục tỉnh tân văn).

Mấy dòng ngắn ngủn của bản tin, đủ sức củng cố niềm tin xán lạn hàng hóa Việt; trong đó, có sản phẩm xà bông hiệu ”Con Vịt”.

Bóng chiều khuất tầm rặng mù u. Chủ nhà máy Dương kiếu từ Cai Tuất để kịp con nước sang thăm vợ đang ở chành thu mua dừa khô nơi bến Tắm Ngựa. Trước lúc xuống ghe, chủ nhà máy Dương kề tai Cai Tuất, nói nhỏ:

– Minh Tân hội vừa có thêm thành viên mới!

– Vậy là quá tốt! Thêm người thêm sức mạnh. Nhưng mà ai đó, chú em?

Cai Tuất sửng sốt gần như hốt hoảng khi nghe chủ nhà máy Dương trả lời.

– Chết! Chết! Sao lại là Trần Bá Thọ!? (11).

Gió sông Tiền hiu hiu ru chiều Mỹ Tho sụp mí tối!

*

Mẻ xà bông hiệu ”Con Vịt” đầu tiên ra lò. Cai Tuất và toàn bộ anh chị em công nhân mừng chảy nước mắt. Mùi xà bông thoang thoảng hương dầu dừa thơm tình quê. Trong tâm trí Cai Tuất, mường tượng đàn vịt đang chạy đồng rộng bao la trên vùng đất Nam Kỳ. Tự nhiên, Cai Tuất cười một mình như người nằm mơ vừa bắt được giấc mơ.

Hôm Hội nghị cổ đông, Tổng lý Trần Chánh Chiếu giới thiệu Cai Tuất với mọi người: ” Nguyễn Văn Tuất tự Cai Tuất, người bỏ cai rời tổng đi vào sản xuất ích nước lợi nhà, người buông nghề nuôi chó gả chó để nắm lấy kỹ thuật và làm ra xà bông cho người mình có cái mà xài, giảm bớt sự lệ thuộc sản phẩm ngoại lai”. Cai Tuất chẳng còn nhớ hôm đó ông nói cái gì, chỉ nhớ là ông có hứa: ”Cố gắng cùng anh chị em công nhân làm hết sức mình và sống chết bám hãng xà bông hiệu ‘Con Vịt’. Vì phát triển của Nam Kỳ, vì tồn vong của đất nước, ông nhứt định không để thua chó đối với chủ…”. Ông nhớ trước lúc hội nghị sắp bế mạc, Tổng lý sai ông đem xà bông hiệu ”Con Vịt” tặng mỗi đại biểu bốn cục xà bông về xài thử và có điều gì cần góp ý, nhắc nhở, thì trực tiếp với hãng.

Ai nấy cùng nghĩ: ”Vạn sự khởi đầu nan”, nhưng với lòng tự trọng, tính cần cù, sự chung tay…”Con Vịt” hình ảnh thân quen của quê nhà sẽ được người mình giang tay đón nhận, dù buổi đầu chất lượng có kém đôi chút so với người đi chăng nữa(12).

Giữa lúc mọi người đón tin vui: ”…Từ ngày có savon Minh Tân ló ra bán giá rẻ, thì savon của Khách (Hoa kiều) cũng hạ giá theo, nên nay công ty hạ giá bán cho các đại lý hơn, hoặc ai mua từ 100 kilos sắp lên cũng nhờ được” (13), thì điềm dữ bắt đầu manh nha bởi tên Trần Bá Thọ làm chỉ điểm cho thực dân Pháp. Rồi, chỉ ít lâu sau, tên Chủ tỉnh Mỹ Tho phát lịnh từ tòa Bố (14) đàn áp, bắt bớ và tịch thu các cơ sở của Minh Tân.

Tư.

Còn năm tiếng đồng hồ nữa là hết hạn giao hãng xưởng sản xuất xà bông hiệu ”Con Vịt” cho chánh quyền sở tại, theo ”tối hậu thư” của tên Chủ tỉnh Mỹ Tho. Cai Tuất điềm tĩnh, cho công nhân chất dầu xung quanh hãng như một chiến lũy và ra lịnh phá máy móc, hủy các lò; đồng thời, cho công nhân mang lấy tất cả thành phẩm xà bông, nhanh chưn rời khỏi nhà xưởng. Một số công nhân bịn rịn, tỏ ý muốn ở lại hãng cùng ông. Ông nghiêm cấm!

Mực không sủa, lặng lẽ chạy theo anh chị em công nhân ra tới tận cổng rào. Rồi, điềm nhiên quay vô nằm cạnh chưn của chủ. Cai Tuất cúi xuống, ôm nó vào lòng và thì thầm điều chi đó. Nó bật vùng dậy, bốn cẳng đứng thẳng thớm, ngửa mặt nhìn trời và nghếch cái mõm tru lên tiếng tru kéo dài nghe rờn rợn da mọc gai. Cai Tuất hiểu rằng, Mực từ chối xa ông.

Ngồi uống rượu một mình giữa không gian bình yên chờ đợi bão tố. Tấm phù điêu hình ”Con Vịt” treo trên tường, thỉnh thoảng chao động không biết vì gió hay vì chia sẻ sự kiện định ở lại của ông, của con Mực (!?). Tự nhiên, ông thèm nghe tiếng vịt gọi đàn, thèm nghe tiếng vịt kêu chiều nhớ nhà, nhớ chốn. Ông hiểu tấm lòng của bà đối với ông, ngày đó, bà chần chừ quyết định vô hội Minh Tân, vì bà sợ những năm tháng làm cai tổng và dù ông đã tự lột trả lại cái chức cai tổng cho Chủ quận Cai Lậy, nhưng có chắc gì tâm hồn ông còn được sáng trong! Giờ thì, ở một nơi ẩn náu nào đó, hẳn nhiên bà thấu hiểu bụng dạ của chồng: ”Nhứt định không để thua chó đối với chủ”. Và, trong cái thời gian đếm từng phút nầy, ông muốn nói với người vợ hiền: ”Tui thà làm con chó, dù phải chết cũng không làm con má. Bởi, con chó không ăn thịt đồng loại, còn con má thì ăn chẳng từ thứ nào! Hồi nẳm, thằng Chủ quận Cai Lậy chửi tui ‘Đồ chó má!’, cũng có nghĩa là tui chó, nó má”. Ông chợt phì cười do ý nghĩ vừa thoáng qua.

Chén rượu cuối cùng ông vừa uống cạn, chưa kịp quơ tay chùi mép thì ngoài cổng hãng lao xao tiếng chưn người.

– Cai Tuất! Nghe đây…

Chẳng chờ tiếng loa phát trọn lời, Cai Tuất thản nhiên bước ra mở cổng. Khi đoàn người lọt vô căn phòng treo phù điêu ”Con Vịt”, ông lạnh lùng châm lửa đốt những thùng dầu bao quanh thành chiến lũy! Rừng lửa trùm mất hút bọn thực dân Pháp và lũ tay sai. Tiếng la hét, kêu khóc động trời dậy đất! Và, người ta nghe rất rõ, con Mực tru tiếng tru vĩnh biệt ”Con Vịt” trong thời khắc sinh tử.

Từng làn khói trắng nương gió kết tụ thành mây, trôi lang thang trên nền trời xanh thẳm quê nhà!

(Trích tập truyện ngắn Khói un chiều, Nxb Đà Nẵng, 2017).

……………………………………………………………………

(*) Sử dụng tài liệu báo Lục tỉnh tân văn. (Báo Lục tỉnh tân văn do Trần Nhật Thăng, một trong những bút danh của ông Trần Chánh Chiếu và ông làm Chủ bút từ ngày 15.11.1907 tới ngày 29.10.1908 được 50 số, thì đình bản).

(1) Tháng 4 năm 1908.

(2) Nhân dân Công Lương đã bắt tri huyện nhốt vào cũi tre, áp giải đến dinh khâm sứ Leveque. Cuộc nổi dậy của nhân dân Thừa Thiên Huế đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ thành một đợt sóng mới của lòng yêu nước” (Theo tác giả H.V.T, nguồn Tạp chí Sông Hương, số 228, tháng 2. 2008).

(3) Trần Chánh Chiếu (1867-1919), sinh tại làng Vân Tập (Vĩnh Thanh Vân), tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang). Ông xuất thân đại điền chủ, quốc tịch Pháp, thường gọi Gilbert Chiếu hoặc Phủ Chiếu (hàm tri phủ). Ông là nhà trí thức yêu nước, nhà doanh nghiệp dân tộc, nhà văn, nhà báo, nhà cải cách; đồng thời, là Chủ soái phong trào Minh Tân (Minh đức Tân dân) ở Mỹ Tho. Ngày 29.10.1908, tại Sài Gòn, thực dân Pháp bắt Trần Chánh Chiếu cùng 91 người khác, rồi di lý tất cả về Mỹ Tho. Sau đó, tiến hành khám xét và tịch thu, đánh phá các cơ sở trực thuộc Nam Kỳ Minh Tân.

(4) Đồng bạc con cò (còn gọi điếu ngân), mặt trước có hình chim, mặt sau có hình chiếc nón tỏa hào quang,nhìn chẳng khác gì bông hoa đang xòe.

(5) Pháp lập quận Cai Lậy (1904) thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm có 6 tổng; trong đó, tổng Lợi Trường gồm 12 làng. Đứng đầu quận là Quận trưởng.

(6) Trần Chánh Chiếu thành lập Công ty Cổ phân ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” , trụ sở đặt tại Minh Tân khách sạn (Mỹ Tho).Có điều lệ, có vốn cố định 1.000 đồng Đông Dương (tương đương 25.000 frans, theo thời giá năm 1908).

(7) Trần Văn Bình, Lê Văn Cửu (Lương Hòa Lạc,Chợ Gạo), Trần Quan Xuân (Bình Cách, Chợ Gạo), Đinh Văn An (Bình Hài,Chợ Gạo), Nguyễn Tử Thức (Đồng Sơn, Gò Công), Lê Văn Chức (Bình Thạnh Đông, Gò Công), Lê Văn Thiền (Kim Sơn, Châu Thành), Huỳnh Đình Điển (Gò Công).

(😎 Khách sạn Nam Kỳ ( Minh Tân khách sạn) đối diện ga xe lửa và bến tàu lục tỉnh ( Vườn hoa Lạc Hồng, nay là công viên Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân).

(9) Sở đất nằm ngang rạp hát Tư Lài, gần cầu sắt Mỹ Tho. Nội dung Bố cáo di dời mồ mả được đăng tải trên báo Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 23.7.1908.

(10) Thương gia Hoa kiều (có lúc gọi là Thanh khách).

(11) Con của Trần Bá Lộc. Hai em của Trần Bá Thọ là Trần Bá Tường làm huyện ở Cai Lậy và Nicolas Trần Bá Hữu làm huyện ở Long Thành.

(12) Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 10.9.1908, đăng quảng cáo (trên hai trang khổ lớn) về xà bông hiệu “Con Vịt”.

(13) Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 22.10.1908.

(14) Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi chức Tham biện thành Chủ tỉnh (Chef de la province hay Chef – province), tòa Tham biện thành tòa Bố.

Có thể là hình ảnh về nước hoa và văn bản cho biết 'SECRET SECFEI COCO'

Tất cả cảm xúc:

Read Full Post »

Ngày cuối năm

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Hôm nay là ngày cuối cùng của năm 2025…

Mới đó mà gia đình tôi đã hiện diện trên vùng đất này ngòai ba mươi năm, Ba mươi năm quả không phải là quá dài với một đời người nhưng với thân phận của kẻ ly hương với biết bao khốn cực từ những ngày mới đến thật quả là không quá ngắn….

Những thước phim dài tiếp nối những khốn cực của một đời người , bẽ bàng và mỏi mệt qua từng chặng dài rối rắm, cho mãi đến bây giờ tôi mới được thở phào nhẹ nhỏm trút hết mọi sầu lo. quang gánh cuộc đời hầu như đã trang trải xong..

.Trước mặt, bây giờ là những tháng năm trống trãi và dư thừa thời gian mỗi ngày bên trong căn nhà mới dọn đến.

Ngày cuối của một năm…,nhìn lại bản thân mình, những được thua cũng đã rũ hết cùng cuộc đời và tha nhân.

Những biến cố xảy ra trong cuộc đời , nhiều khi người ta không còn muốn nhắc hay gợi nhớ trong những khỏanh khắc bình yên, nhưng trong những lúc trà dư tửu hậu hay một mình chơi vơi giữa không gian tĩnh lặng riêng mình ..

.Cảm xúc tự do tự tại và một khi nhận biết rằng phải quên đi những chuyện đau buồn là cố làm những việc khác để không còn nghĩ đến một chút buồn vu vơ , sợ hãi …Nhưng không hề hối tiếc những gì đã làm .

Những cảm giác sợ hãi , lo lắng, bất an, khủng khiếp luôn chập chờn trong từng giấc ngủ , hay những buổi sáng tinh khôi một mình bên tách cà phê nóng, lặng thầm trong chỗ ngồi cố hữu của mình…

Chỗ ngồi này, chiếc ly sành thân quen và những giọt đen sóng sánh, những giọt đắng thân quen đã làm nhân chứng cho những nỗi buồn cô đặc lại với những thân quen mỗi thời khắc đi qua, căn nhà tĩnh lặng và những đồ vật thân quen bất di bất dịch theo năm tháng.

Cuộc sống tôi đã được định vị theo đơn vị thời gian là những năm tháng của buỗi hòang hôn.

Những buổi sáng tỉnh thức, trễ tràng trong chăn ấm, thời gian này không còn lo toan, bộn bề cùng công việc..

Tôi cứ muốn nằm mãi trong cõi riêng của mình, “‘biết còn tỉnh thức tức là mình còn sống”, bước xuống giường bước ra ngòai cõi nhân gian…cõi người , ở đó còn có sự hiện hữu của mình ta

Chân bước về phía trước

Có sương sớm

Có ánh ban mai

Có nắng trưa cháy bỏng

Có nắng chiều vàng ươm

Có gió đêm …có cõi riêng

Có thân phận cuộc đời

Có sự hiện diện của mình trong cõi nhân gian

Những tháng năm qua… thời gian tưởng chùng như vô tận, sống trong nỗi cô đơn và công việc, tưởng như không thể nào thóat ra khỏi những dằn vặt, tự trách, ôm trọn những khắc khỏai rối rắm cho riêng mình,..

Cuộc thăng trầm của cuộc đời …đã khiến con người ta phải dùng lí trí để đối nhân xử thế…vượt qua những tình cảm mà “lí trí ” bảo cho rằng ‘không thể”

Thời gian cũng phôi pha, mọi rối rắm cũng được mở ra , thóat ra khỏi hiện tại và trở về với “cõi riêng ” của riêng mình, ở đó chỉ có riêng một mình và chỉ một mình tôi với không kẻ chờ người đợi, tâm trạng lửng lơ bơi giữa bể nước trong xanh, ngất ngưởng ngửa mặt nhìn mảng trời trong xanh êm dịu,

Mỗi buổi sáng trầm mình giữa hồ bơi với muôn lời huyên náo của tha nhân, ở đó không có sự hiện diện của niềm đau, niềm khắc khỏai, niềm vui và cuộc sống bình an trở về mảnh liệt và vô ưu…đó mới chính là cõi riêng .

Ở không gian mới …Những con phố, những con đường lạ lẫm chưa quen , nhưng bể nước trong xanh thì không còn lạ lẫm gì với tôi bây giờ

Đã từ rất lâu, không cần bờ vai nương tựa, không cần có bàn tay ai để nắm, không vội vội vàng vàng trở về nhà lo bữa ăn kẻo tối, không hề hãi sợ nỗi cô đơn, không hụt hẩng khi đêm về trở giấc. sự mạnh mẽ trở về cùng cuộc sống, bất cần đời và không hãi sợ vu vơ.

Cuộc sống này,,, ở một thời gian đã qua trong quá khứ tôi rất hãi sợ, nỗi cô đơn khi bóng đêm trở về …khi tường in vách một bóng đơn côi…thì nay chính là những phút “tĩnh lặng huyền bí ” của cuộc sống.

Vẳng bên tai tôi bài hát nào vang vọng…

Ngày mai rồi cũng già…

Không thể níu lại nữa

Ngày xưa như mới hôm qua

Một cánh hoa trong cơn phong ba

( Nhạc V. T. A)

Trong những tháng ngày lăn lộn cùng cơm áo gạo tiền, nỗi lo toan chỉ hướng về công việc và trách nhiệm, phải đem mọi tiện nghi vật chất cho bản thân và cho người thân yêu đang cần sự giúp đỡ, quên bản thân, quên niềm vui, quên hận tủi, quên thân phận …chỉ làm việc và hòan thành nhiệm vụ phải làm.

Đến thời điểm mọi trách nhiệm đã đủ đầy, một mình trong căn nhà hoang vắng, giật mình tỉnh thức …chợt rưng rưng nghe vang vọng tiếng còi tàu, nỗi cô đơn và nỗi buồn bùng cháy, trong bao nhiêu năm trường xa cách cõi người ta…lang thang trên thế giới ảo mông và không thực.

Mang niềm đau và nỗi cô đơn, qua từng đêm trường hụt hẩng, tôi không còn sự lựa chọn nào, trong cái thành phố nhỏ mà bấy lâu đã tách rời,

Đôi lần đến những nơi gặp gỡ bạn bè, đồng hương ngày xưa cũ…họ cũng giới thiệu cho nhau những người bạn khác phái…đồng cảnh ngộ…

Sau những lần chuyện trò qua điện thoại hay vài lần gặp gỡ…Chỉ còn lại là sự chán chường và bất lực vì sự vô cảm của tâm hồn…Trở về nhà trăn trở cùng gối chăn, hỏi lại lòng mình…Hỏi trời hỏi đất???

Hỏi đông…Chỉ có gió xao

Mang bao lá úa đã tan tác cành

Hỏi mưa…đời có tình không ???

Chỉ nghe tiếng sấm thinh không vọng về.

Chia xa… không lí do …Vì thực chất những người già khi tìm nhau luôn có những tính toán …Họ cũng chỉ muốn nương tựa nhau…đại khái là họ muốn tìm đến ” tá túc trong một nơi yên ổn”

Họ muốn ” có đôi có cặp” có người chăm chút từng bữa ăn, ra đường ngửa mặt nhìn đời rạng rỡ vì đã có nửa bên kia lành lặn và phủ phê cùng nhân thế

Lòng ai buồn hơn ai, khi quyết định không thể làm cây cao cho nhánh chùm gởi leo thân bám cành theo năm tháng.

, Cõi này chợt rộng thênh thang, chỗ ngồi còn đó, nơi này vẫn từng ngày bỏ trống

Vẫn từng ngày…buổi đi về chở nỗi sầu man mác…chuyện qua rồi sẽ cho là kỷ niệm, vui hay buồn cũng là chuyện hôm qua.

Thời gian trôi đi êm êm, những buổi chiều về một mình trời giăng mưa khắp lối, một mình lặng thầm trở về căn nhà thân thuộc.buồn , vui …chỉ còn lại chút bình an cho tâm hồn .

Ngày qua ngày những cánh bướm vàng gãy cánh, những bông hoa tàn rụng theo bóng trăng tà, vẩn vơ trôi như cuộc đời một chiếc thuyền nan trên dòng sông nhỏ.

Những chiều tà nhớ về chiếc thuyền năm nào nơi quê cũ, chiếc thuyền xưa trôi như mảnh trăng tà không còn bến đợi, không bến nhớ bến thương, bến mộng mị, bến cũ, bến nao…

.Con thuyền đã tiêu hao mục nát, úp trên bến sông xưa,

Chỉ hoang hóa vào buổi hòang hôn tĩnh lặng

Ngày mai…rồi mình cũng già

Thân thế này sẽ tàn úa

Được thua thì cũng thế thôi…( Nhạc V T A)

Sáng nay nghe lại bài hát này …lòng miên man muốn trao gởi lại lời cuối của một năm

Bây giờ mình đã già

Bình yên ở nơi đây…

Bao chặng dài gian khó

,

Hãy vô tình như gió.

Bao năm tháng lướt qua

Bao truông đời khổ nạn

Vượt qua…chắp cánh xa…

Bây giờ ta đã già

Nhớ chi chuyện ngày qua

Đùa vui bên sóng nước

Bàn phím chờ đợi ta…

Atlanta Ngày 31 Tháng 12 năm 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

.

i

Read Full Post »

Không biết!

Ngô Đình Hải

.

Mưa mấy bữa nay. Mưa từ sáng tới tối. Trời âm u miết. Mưa rừng dai dẳng. Mưa thúi trời thúi đất. Nước chui qua lớp lá rụng, qua đất, đất nhão nhoét. Nước từ chỗ cao dồn xuống thấp, làm thành vũng lớn, như cái bẩy. Kiểu này vô phương ló đầu ra ngoài. Mà ra thì đi đâu? Đạp chưn xuống, cái nào cái nấy lún tới mắt cá, giỡ khỏi lên, lấy gì đi. Kiến rừng bể tổ, gom thành từng giề trôi lều bều, thứ đó mà bám vô được bắp chuối, chun vô quần mà cắn là kêu trời không thấu! Rắn, rít ướt chèm nhẹp, leo lên cây nằm thở, thấy động đậy đớp sãng là chuyện thường! Khỏi đi là cái chắc…

Buổi chiều xuống lẹ, mới đó mà muốn tối. Tiếng mưa, tiếng côn trùng rĩ rã, tiếng cây lá rì rào, buồn muốn đứt ruột. Khác xa với thường ngày, tiếng máy cưa, tiếng turbo hú của mấy chiếc reo nhì kéo gỗ, tiếng gọi nhau dậy một góc rừng, giờ im re. Hắn đứng trong chòi, ngó ra bãi gỗ tròn đầy cứng, kéo dài mút mắt. Cây xếp lỗn nhỗn lên nhau, chẳng ra cái đám ôn gì. Xe lão Hoạch chứ không ai. Với hắn, lão Hoạch như một người anh, một người thầy. Lão Hoạch vui tánh, tốt bụng, nhưng ẩu cũng vô can. Chỗ nào ngon nhứt, tiện nhứt, là lão đổ cây xuống đó. Lúc trước còn Phương trâu đi lơ, nó chịu khó, cây xuống tới đất, còn ra vô cáp tới ngay tưng mới chịu thôi. Giờ thì lão bỏ mặc vậy đó! Anh em cằn nhằn thì lão tỉnh bơ:

– Xe tao…già rồi, theo tụi mày có mà đứt hơi, chừa cho tao một cửa sống với…

Rồi cũng thôi! Anh em mà! Xe nào mà chẳng tính chuyện ăn dầu. Ở rừng, cực như thú! Ngó qua ngó lại có chừng đó mặt, thương nhau không hết nói gì tới chuyện khác. Cái chòi của hắn là cái chợ, cái sòng bài, cái quán nhậu kiêm luôn cái nhà trọ! Tất cả đều miễn phí! Thậm chí đồ gì của hắn trong chòi cũng là của chùa, xài thoải mái!…

Đứng một chập thấy chán, hắn quay vô chòi đốt đèn, nhúm lửa bắc ấm nước trước. Có cái bếp dầu, nhưng hắn thích đốt củi. Củi rừng minh thiên, đốt chừng nào hết! Mùi củi cháy và tiếng nồ lẹt đẹt của cây, làm hắn thấy dễ chịu và bớt lạnh lẽo hơn.

Thiệt ra hồi đầu ở đây tới 3 đứa. Rồi một đứa chịu không nỗi cái không khí của rừng, tự động đua mất. Còn lại hắn với Thanh Phe! Thanh Phe hồi nhỏ ở nhà dòng, dân tu xuất, đờn ca hát xướng thứ gì cũng rành, mà uống rượu cũng thầy chạy! Tháng trước Thanh dính cái tai nạn lãng òm. Thợ cưa ngó ngọn cây, canh hướng gió, mở miệng cưa ngon lành, tới chừng cây ngã, tự nhiên gió đổi chiều, mà gió mạnh. Thanh Phe đứng tuốt luốt ở xa, không hiểu sao lại dính cái cành nhỏ xíu, chui cái rẹt qua đùi ngon ơ! Thanh la như bò rống! Mấy lúc có chuyện như vầy, mới thấy bản lĩnh của lão Hoạch. Lão cưa ngang nhánh cây, để nguyên cái cành ở trong đùi, xé áo băng lại. Nhờ chiếc lô-bồi tháo cái thớt, lấy mỗi đầu kéo, thay cho xe cứu thương, chở Thanh phe đi bịnh viện. Thấy anh em căng thẳng, Lão Hoạch cười:

– Vẫn còn hên, xỉa lên phía trên chút nữa, là nó hết lấy vợ!…

Thanh Phe đi rồi, chỉ còn mình hắn cu- ki trong cái chòi giữa rừng tới nay. Hắn đứng dậy, đi lấy chai rượu làm một ly cho ấm bụng. Gió từ ngoài cửa lùa vô, lưng hắn lạnh toát. Vừa kịp hắn quay lại thì gặp khách đứng lù lù ngay cửa. Một người đàn bà, hắn biết nhờ mái tóc dài loà xoà trước mặt. Trời này mà khách mặc chỉ mỗi cái áo thun xám và cái quần jean mới lạ. Cái áo thun, đúng rồi! Cái áo của hắn, cái áo dính nhựa thông làm thành từng đốm như vẽ bông trước ngực, lầm sao được! Cái áo hắn bỏ quên ngày rời bịnh viện. Giờ cái áo lại trùm lên một vóc dáng quen thuộc, đã ám ảnh hắn nhiều đêm. Hắn kêu lên thảng thốt:

– Chị…Chị…Hạnh!…

Không kịp suy nghĩ, hắn nhào ra cửa. Chị vẫn đứng yên đó, chờ đợi! Hắn chụp lấy tay. Bàn tay lạnh ngắt, chắc tại ở ngoài mưa lâu. Chị nghiêng đầu nhìn hắn và…cười. Nụ cười luôn làm hắn ngây ngất. Có quá nhiều cảm giác đan xen, không biết phải bắt đầu từ đâu. Hắn hỏi dồn, vừa hỏi vừa kéo:

– Sao…Sao chị vô đây được? Sao biết tui ở đây mà kiếm? Lão Hoạch nói hả? Vô nhà đi, vô…

Hắn lôi, chị ngoan ngoản đi theo, không nói tiếng nào. Hắn đưa chị tới ngồi trên khúc gỗ, bên cạnh bếp. Tới lúc này, hắn mới có dịp ngó chị rõ hơn. Mặt chị xanh mét. Cái áo thun ướt sũng, dính sát lên hai bầu vú lồ lộ, phập phồng. Bên ngoài trời đã tối. Từng cơn gió lùa vào mang theo những giọt nước mưa lất phất. Hắn lính quýnh. Chạy ra hạ cái phên che cửa trước. Chạy lại, ấm nước đang sôi. Hắn rót nước nóng ra cái chén, đặt trước mặt chị. Lật đật lục tung trong ba lô, lôi ra cái áo khoác màu đỏ, lấy thêm bộ đồ khô. Hắn đưa hết các thứ cho chị, nhắc:

– Uống nước nóng, thay đồ đi cho khỏi lạnh, nói chuyện sau…

Chị đưa tay đón, nhìn hắn rồi…cười. Nụ cười đã hai năm hắn chưa đước nhìn lại, vẫn không có gì thay đổi, vẫn ngọt ngào, vẫn quyến rũ như ngày nào. Hắn mê nụ cười đó quá! Hắn quay mặt đi để cho chị thay đồ. Hắn nhìn cái bóng chị chập chờn trên vách, lẩm bẩm:

– Hai năm…Hai năm rồi!…

Hơn hai năm trước, đói quá, hắn xin theo phụ lão Hoạch, vô rừng kiếm ít củi về bán. Xe đã có Phương Trâu đi lơ, lão Hoạch vẫn cưu mang thêm hắn. Tiền bán củi được đồng nào, lão cho hắn hết. Không tính toán, không so đo. Lão Hoạch dân xe, không vợ không con, sống qua hai chế độ, lại đi rừng lâu năm nên cứng nghề lắm. Lão chỉ dạy Phương Trâu với hắn rất tận tình. Thậm chí, ăn nhậu cở nào đi nữa, tháng tháng lão cũng bỏ ống chút đỉnh, chừng nào gom đủ tiền thì lo cho Phương Trâu vô trường lái, đặng có cái bằng mà lên tài với người ta, chứ đi lơ biết ngày nào khá. Lão cũng hứa, sau Phương là lo tới hắn. Nhưng chắc tại cái số hắn ăn mày, nên mới đi cây được mấy chục chuyến, tay kéo cáp chưa kịp chai, thì hắn dính sốt rét rừng. Dính nặng!

Nhờ lão Hoạch quen biết, xin xỏ, hắn được vô nằm bịnh viện Tỉnh, tiêu chuẩn công nhân viên. Phòng sốt rét nằm tuốt phía sau, gần dãy nhà xác, vắng hoe!

Sáng, được ăn tô cháo thịt, xong chờ y tá tới độp cho một mũi ký-ninh vô mông. Thứ này khó tan, rút cây kim ra là nổi cục u cứng ngắt, tê buốt nguyên một bên chưn, chiều đổi qua mông kia, độp tiếp mũi nữa, liên tiếp chừng một tuần là hai chưn hắn muốn xụi, đi hết nỗi, mà sốt vẫn hoàn sốt!

Phòng hắn nằm có 2 giường, giường bên kia có một tay người Thượng, vô sau hắn 3 ngày, trụ thêm được 3 ngày nữa, là đi thẳng ra ngõ sau luôn! Trước đây hắn nghe đồn, người Thượng biết nhiều thứ lá cây rừng, đem ngâm rượu uống, khỏi bị sốt rét! Giờ vô đây, hắn mới biết trật lất. Ở rừng mà không bị rét hiếm lắm, nhưng hên xui thôi! Dính rét ác tính như tay người Thượng là đi chắc, có mạnh như trâu, rét vật cũng chết. Còn dính rét như hắn, lai rai ngày có ngày nghỉ, cách ngày hắn lại làm một cử. Một, hai lần đầu chưa biết, tới lần thứ ba là hắn lo thủ trước. Chập tối, nghe ơn ớn lạnh, hắn gom hết mùng mền, trùm lên người, rồi ngồi chịu trận. Lạnh từ trong xương lạnh ra, lạnh tới hai hàm răng đánh bò cạp, người hắn run từng chập, lạnh run không kềm được. Tới chừng hết lạnh qua nóng, nóng dữ dội. Lột hết đồ ra vẫn nóng, mồ hôi mẹ, mồ hôi con tuôn dầm dề! Chịu xong một cử sốt rét, là hắn xuôi tay như thằng chết rồi, hết còn biết gì nữa, mặc kệ cha đời tới đâu thì tới!

Ở bịnh viện, hình như có tới hai y tá trực đêm. Một tay nam ghé qua rất sớm, chủ yếu là ngó coi hắn còn sống không, rồi biến mất. Người nữ y tá thì ghé trể hơn, có khi rất trể. Chị thường ở lại lâu hơn. Dọn giùm hắn cái cà-mên cơm ban chiều, kê lại cho hắn cái gối, kéo lại cho hắn cái áo, cái quần, tả tơi sau cơn rét. Gặp bữa hắn chưa ngủ, mở mắt ra thấy chị, chưa kịp mở miệng thì chị đã cười cười như cảm thông, rồi khoát tay đi mất!

Bữa tự nhiên hắn lên cơn rét trể. Tới tối mới nghe lạnh. Lạnh dã man, lạnh hết biết. Hắn cuộn tròn lại mà run. Lơ mơ thấy chị ngồi bên cạnh, ôm chặt lấy hắn như chuyền thêm hơi ấm! Người hắn run lên từng chập trong tay chị, đầu hắn gục vào trong ngực chị mà thở, cho tới hết cử rét. Hắn bắt đầu nóng hầm hập. Chị đở hắn nằm xuống, cởi bớt đồ, rồi nhẹ nhàng lau mồ hôi trên mặt, trên người hắn, như một người mẹ chăm sóc con đang bịnh. Lần này thì hắn không bỏ lỡ cơ hội, hắn thều thào:

– Cảm ơn chị. Chị trực đêm hả? Chị…

Chị chỉ tay lên ngực áo, có cái tên trên đó:

– Chị…Hạnh…Tui qua được rồi…Tui…

Chi đặt một ngón tay lên miệng hắn như không cho nói, rồi chị cười. Trời ơi! Khi chị cười, mắt, mũi cũng như cười theo. Nụ cười thánh thiện, bao dung và ấm áp biết chừng nào. Nụ cười đẹp nhứt trên đời!

Bất chợt chị cúi xuống, hôn lên khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi của hắn. Đầu óc choáng váng tay chân rã rời sau cơn sốt, hắn muốn nhấc tay lên ôm lấy chị mà không dám. Đành nằm yên đưa mắt nhìn chị đi khuất, rồi mang nụ cười của chị vào trong giấc ngủ…

Chiều hôm sau, lão Hoạch ghé, đem cho ổ bánh mì thịt, ly cà phê đá và gói thuốc Vàm cỏ. Ngồi coi hắn ăn, lão hỏi:

– Cắt sốt chưa?

Hắn vừa nhai vừa lắc đầu. Lão Hoạch nhìn quanh thấy không có ai, lôi trong túi áo ra gói giấy nhỏ đặt lên giường:

– Tao gửi về Sài Gòn, mua cho mày một liều Fansidar. Thứ này hồi trước lính Mỹ uống. Giờ hiếm lắm. Chơi luôn một lần ba viên là chắc ăn…

Lão ngắm nghía hắn một lát, tiếp:

– Coi bộ mày tệ quá! Kham nỗi không? Chứ Mỹ thằng nào cũng cả tạ, còn mày…

Hắn cầm gói thuốc, trút hết vô miệng, rót nước uống liền, rồi nằm vật xuống giường. Có gì đâu mà suy nghĩ, cửa nào cũng chết!

Một lát, ngực hắn nghẹn lại, người như hỗng khỏi giường. Hắn còn thấy lão Hoạch ngồi đó, nhìn hắn đăm đăm, và hắn lịm đi! Hắn lơ mơ bay bổng, qua con sông, qua cánh đồng, theo mấy con diều đi…đi…Rồi hắn thấy mình nhỏ lại…nhỏ lại…giữa những hàng cây. Toàn cây và cây. Cây mênh mông. Cây làm thành rừng, cây vây lấy hắn. Cây che chỡ, cây đe doạ…Cây ngã xuống ầm ầm. Người hắn như có ai níu lại, kéo xuống…

Hắn mở mắt. Cái hắn nhìn thấy trước tiên là…nụ cười! Chị Hạnh ngồi bên, hai tay chị giữ chặt lấy hắn mà lắc. Gặp nụ cười đó, hắn biết mình còn sống. Hắn cười lại với chị, rồi thiếp đi tiếp…

Hôm ra viện, lão Hoạch nói với hắn:

– Mày cần dưỡng sức. Quên xe cộ đi. Tao xin được cho mày về bãi gỗ tròn của Công ty rồi. Vô đó mà sống, mà làm quen với rừng. Rừng chịu nuôi mày đã. Khoẻ lại tính sau…

Thế là hắn về cái chòi này. Ở yên được mấy tháng. Gom được ít tiền làm củi. Hắn lên thị trấn, ghé chợ mua cái áo khoác màu đỏ làm quà, rồi chờ tới tối, vô bịnh viện thăm chị Hạnh. Tay bảo vệ già nghe hỏi, ngó hắn lom khom, lắc đầu quay đi. Hắn nằn nì:

– Chị Hạnh y tá, làm ca đêm ở Khoa lây!…

Thấy hắn khẩn khoản thiệt tình, tay bảo vệ thở dài:

– Ừ có, lâu rồi! Mà…mà… hết làm rồi!

– Tui mới nằm đây mấy tháng trước, còn gặp chỉ…

– Đã nói…hết rồi! Hết rồi!

– Biết chỉ ở đâu không?

– Sao tui biết! Trong đó không có ai! Không tin cứ vô coi!

Vô chứ! Vô gấp! Không có ai thiệt! Cả một dãy hành lang vắng lặng, căn phòng hắn nằm trống trơ… Hắn cầm cái áo khoác đỏ trong tay, đứng ngẩn ngơ cho tới khi sương đêm dầy đặc mới chịu về…

Hắn chịu đựng chuyện này đã hai năm. Hắn lên xuống cái bịnh viện nhiều lần và chỉ nhận được những cái lắc đầu! Hắn mang cái thắc mắc suốt hai năm dài và giờ chị lại ở đây, như một phép lạ! Hắn chết trân khi quay lại. Bộ đồ ướt đã trút bỏ xuống chân. Chị trần truồng, chỉ mỗi cái áo đỏ khoác hờ lên người. Chị nhìn hắn cười, nụ cười mời mọc. Ánh lửa đong đưa, ngực chị căng cứng trước mắt hắn thách thức! Hắn nuốt nước miếng, tim hắn đập mạnh. Quá sức chịu đựng của một thằng đàn ông. Hắn gần như bồng lấy chị quăng lên giường, hôn tới tấp lên nụ cười thần thánh trên mặt chị. Chị quấn chặt lấy hắn, thở dồn dập…Bên ngoài mưa vẫn rơi!

Nửa đêm hắn giật mình dậy, chị đang say ngủ. Hắn đốt điếu thuốc, bỏ thêm mấy cây củi vào đống lửa. Ánh sáng bừng lên. Hắn lượm bộ đồ của chị, tính hong cho khô. Cái quần jean ướt mèm, nhưng hai gấu quần không dính một miếng đất! Lạ thiệt chứ! Hắn ngồi lại xuống giường, biết bao nhiêu cái ấm ức, muốn hỏi, nhưng nhìn gương mặt mãn nguyện của chị trong giấc ngủ, hắn lại không đành đánh thức, thôi để sáng vậy…

Sáng nay hắn dậy trể, điều hoàn toàn trái ngược với thói hằng ngày của hắn. Quơ tay qua bên cạnh không thấy chị, cái áo khoác đỏ đưa cho chị, giờ đắp trên người hắn, mùi da thịt của chị còn phảng phất đâu đây! Hắn nhổm dậy hốt hoảng, nhìn quanh chòi cũng không có. Bộ quần áo phơi trên bếp còn nguyên. Hắn dựng tấm phên cửa lên. Mưa đã dứt, mặt trời lấp ló, nắng đã bắt đầu chui qua kẽ lá. Chung quanh hoàn toàn yên ắng. Chị đã đi mất. Đi không mang theo một thứ gì, ngoài con tim của hắn…

Lão Hoạch ực xong ly rượu, rồi nói:

– Vô lý! Tao có biết Hạnh nào đâu mà chỉ đường! Mưa cở đó, đường nào mà vô đây?

– Không biết!…

– Rồi tới hồi ra đi cách nào, đi đâu?

– Không biết!…

– Tao nghi không phải người…

Dám là…là…Mà sao lại là mày? Sao…

Hắn cầm ly rượu, nụ cười của chị hiện lên trong đó sóng sánh, cặp mông tròn và hai đùi kẹp chặt lấy hắn, người chị ưởn lên, co duỗi từng chập. Hắn rùng mình:

– Không biết!…

NĐH

Read Full Post »

Giọt mưa quen

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Tí tách…tí tách…tí …tách

Âm thanh đều đều …thánh thót nhẹ tâng như tiếng đập nhẹ của con tim, âm thanh ấy rơi vào tai tôi biết bao buổi sáng khi giật mình tỉnh giấc, thân quen rơi vào không gian tĩnh lặng như một điệp khúc du dương mờ nhạt .

Thời gian này tôi thật là rảnh rang trong ” Chỗ của tôi”…

Gần ba thập kỷ qua …miệt mài bên công việc, bương bả bên ” cơm áo gạo tiền”…mỗi buổi sáng tinh mơ được thảnh thơi cuộn mình trong chăn ấm, không lo toan sắp xếp biết bao công việc cho một ngày mới…Bây giờ tôi thực sự là ” Một tỉ phú của thời gian”…

Ngoài kia …Những giọt mưa đang thánh thót ngoài cánh cửa ngôi nhà mới dọn đến…

Những giọt mưa từ mái nhà chảy vào ống máng và thánh thót chảy xuôi vào cái thùng phuy lớn để giữ nước tưới vườn rau sau nhà, vườn rau đủ loại mà hàng ngày tôi chăm chút, di dời từ nơi này sang nơi khác, vun xới , tỉa tót từng cây non, lá úa ; và cũng chính là niềm vui duy nhất của tôi trong thời gian sắp tới

Ôi những lá rau lang non mướt, những lá húng thơm, lá rau chua mượt mà và những tía tô tím thẫm, rau răm, rau quế, ngò gai, hành hẹ, ớt xanh, ớt vàng, ớt tím…

Còn nhiều thứ khác mà bắt đầu từ cuối tháng ba …Sáng đầu tháng tư, khi từ Việt nam trở lại nhà.

Khi tiết trời bớt lạnh tôi , đeo bao tay, giang mình đào xới trên mảnh đất vẫn còn chút hơi lạnh của những ngày tháng đông giá chưa qua.

Vẳng bên tai tôi bây giờ… Không giống những giọt mưa ào ạt rơi , ồn ào trên mái tôn, lao xao chảy tứ tung vào những kẽ hở, những lỗ đinh hở hang của mái tôn xiêu trong những căn nhà mái tôn tạm bợ, bỡi chỉ là những vách mượn của nhà kế bên..

.Khi cơn mưa xuống , nước chảy vào nhà không mời gọi, sau một trận mưa cả nhà thu dọn tàn cuộc mất hết cả nửa ngày, những mái tôn ngày ấy đã từng che mưa nắng cho cuộc đời đã qua của mẹ con tôi trong những ngày xa xưa ấy…

Cũng là những giọt mưa …nhưng giọt mưa bây giờ làm mát mẻ những cây lá khu vườn nhà tôi bây giờ, giọt mưa rơi bây giờ chỉ làm cho người nghe cái cảm giác gợi nhớ, chỉ làm người nghe trở mình lười biếng muốn nằm thêm , không muốn di dời thân xác bên trong chiếc mền còn ấm hơi người qua một chặng dài được ấp ủ…

Lơ mơ nhìn lại quãng thời gian qua…rồi chợt buồn, chợt mãn nguyện hay chợt vui sao với chỗ của mình, tôi đã bằng lòng với chỗ của mình khi những giọt mưa bây giờ gợi nhớ chuyện năm xưa.

Cũng chỉ là những giọt mưa …những giọt nước từ trên trời đổ xuống nhưng những âm hưởng và lợi ích khác nhau qua bao nhiêu chặng đường dài của một kiếp làm người, những mơ ước không thành, những mơ ước lãng quên…

Những kiếp đời khổ ải cũng chỉ vì những cơn mưa .

Sự trông đợi, sự cam chịu hay sự hờ hững không mong đợi ngóng chờ cũng chỉ là do tâm trạng và cuộc đời của mỗi con người cảm nhận và qua bao chặng thời gian và không gian trong cuộc đời mà ta không nhìn thấy .

Mưa luôn đi với nỗi buồn…

Mưa đến rồi đi, rơi rơi rồi tạnh..

Còn nỗi buồn thì luôn quắt quay ở lại bên mình,

gậm nhấm nỗi riêng tư, tái tê, ủ ê và phiền não.

Nỗi buồn luôn dấy lên trong những lúc một mình nghe mưa rơi tí tách, đó là tâm trạng của rất nhiều người, nhất là với những người già sống đơn độc như tôi.

Mưa còn làm muôn sinh vật trở mình xanh tốt, đem lại cho khung cảnh quanh ta một màu xanh tươi sáng lạn…nhưng đôi lúc cũng làm ngập úng mọi nơi đem nước tràn bờ và nỗi đau mất mác, Những trận mưa dai dẳng từ ngày này sang ngày khác mang bao khổ lụy cho những người dân nghèo không chỗ nương thân, những mái nhà xiêu đổ và những tàn phá vì mưa rủ theo bão táp phong ba

.Ôi những trận mưa dai dẳng nơi mảnh đất miền Trung khốn cực nơi chốn sinh ra tôi.

Ngày còn ở quê nhà mỗi lần nhìn mưa rơi nặng hạt trên mái tôn xiêu, hay những lần chạy mưa thôi làm ướt chiếu giường trong căn nhà ẩm thấp, dùng chậu thau hứng những giọt nước vô tình chảy xuống căn phòng, lúc ấy những giọt mưa không mời gọi đã làm khổ một quãng đời tôi.

Hay những lần đợi mưa trở lại để chực chờ hứng lấy những giọt nước trời ban , đủ dùng cho mọi sinh hoạt trong gia đình thay cho những thùng nước cáu bẩn múc từ mé sông tạp nhạp những vật thãi bẩn thỉu …

Thời gian gia đình tôi còn sinh sống tại miền Tây thuộc tỉnh Hậu Giang vào thập niên tám mươi.

Mưa đem lại hy vọng và sức mạnh cho mẹ con tôi ngày ấy

Thời gian này mỗi lần nằm nghe cơn mưa đổ …lòng eo sèo “mơ ước chuyện tương lai”…

Mơ sao có được căn nhà đúc hai ba mê, khi cơn mưa đến không thon thót lo ướt giường thấm chiếu…

Mơ nhà mình có nước máy chảy phủ phê, chỉ cần đưa tay vặn là ngập tràn nước mát, không dùng thau , chum, can ,cóng

Chực chờ hứng giọt nước trời ban…

Mơ sao những đứa con tôi không “bụng ỏng đít beo” vì uống vào cơ thể những bợn nhơ bẩn thỉu..

.Chỉ giọt nước của trời mới tinh khiết cho muôn người, cho đám con tôi được sởn sơ như cây xanh chóng lớn.

Và còn biết bao điều mơ ước khi con người ta gặp cảnh khốn cùng chỉ biết than thở cùng trời cao, tỉ tê cùng mưa bão.

Đôi lúc hận mình, hận nỗi gian truân, giọt nước mắt hòa vào giọt nước mưa rơi xuống, tinh khiết và chen phần não nuột, những giọt nước mắt buồn thương cho thân phận cũng đã bao lần hòa chung giọt mưa bao bận, mà mưa vẫn là nhân chứng cho tiếng nói tận con tim.

Bây giờ mỗi sáng giật mình tỉnh thức nghe giọt mưa tí tách bên tai mà không sợ ướt chỗ nằm, không sợ thiếu nước dùng khi thức dậy, bây giờ những ước mơ đã thành tựu, giọt nước mưa đã làm chứng nhân bầu bạn, chính những giọt mưa cho tôi nhận biết sự bằng lòng với những gì mình có được…( bỡi lòng tham của con người là vô hạn, được mấy người nhận biết mình đã hoàn thành những ước mơ…)

Uớc mơ bé nhỏ của những ngày mới lớn với ông xanh: Tôi chỉ cầu xin trời thôi mưa… chóng nắng cho mẹ tôi được buôn may bán đắt sau buổi chợ về không bị ướt cơn mưa…

Ước mơ sao cho chỗ nằm của mấy mẹ con tôi không bị sũng nước vì những lỗ đinh trên mái tôn tuôn đổ lấm ướt cả chiếu giường cho giấc ngủ được bình yên…

Ngày hôm sau tôi khỏi phải thu dọn tàn cuộc bỡi cơn mưa trong nỗi buồn lấm ướt…

Ước mơ cơn mưa xuống giữa ban ngày cho mẹ con tôi hứng được nhiều nước mưa đủ dùng cho những ngày kế tiếp, cho nguồn nước tinh khiết không đem bệnh tật đến cho đám con thơ.

Những ước mơ bé mọn theo tháng năm lớn dần theo bánh xe quay đều nhịp, tôi lăn xả vào cõi người với muôn vạn đắng cay khổ ải, quên mất những ước mơ bé mọn ngày nào, quên đi bao nỗi lo toan và những điều hằng mơ ước.

Những ước mơ lớn dần và trở thành vô tận, những tham vọng trở mình,..nếu không nhờ những giọt mưa thánh thót rơi tí tách bên tai khi giật mình trở giấc vào chặng đời của tuổi ngoài thất thập,, gợi nhớ trong tôi những mơ ước đã thành hình, khi tóc xanh đã đổi màu thì mới chập choạng nhận ra.

Bây giờ dẫu cơn mưa kéo dài bất tận, rả rích từ ngày này sang đêm nọ…tôi cũng chỉ đứng sau rèm nhìn ngắm giọt mưa rơi…mỉm cười không chút buồn lo.

_ Hôm nay tôi dậy sớm ngồi viết chuyện năm xưa..

_ Hôm nay mình sẽ gọi các con về ăn món bánh xèo chiên…vì là ngày mưa …phải vậy.

_ Hôm nay mình sẽ cám ơn những giọt mưa đã làm chứng nhân cho những mơ ước mình đã vuông tròn.

_ Cám ơn những giọt mưa bây giờ trút xuống làm tươi rói những cánh hồng mới nhú trong vườn nhà tôi bên kia khung cửa kính, làm đẹp căn nhà tôi và tươi tắn nụ cười tôi.

_ Cám ơn những giọt mưa ngày mai sẽ trút xuống làm tươi rói những bông hoa trên mộ chí mà người thân và bạn bè trao tặng tôi buổi giã từ.

_ Cám ơn những giọt mưa tắm mát tuổi thơ tôi

Làm chứng nhân cuộc đời tôi

Ngày mai tắm mát xác thân tôi

khi tôi giã từ mưa nằm xuống …

Vẳng bên tai …tiếng mưa rơi tí tách

Ước mơ thành và hiện tại bình an.

Cám ơn giọt mưa đã theo tôi

Tí tách, tí tách…hay tràn sân mưa đổ

Vẫn bình yên …gọi thầm giọt mưa đêm

Mưa tí tách…

những đêm đông lạnh giá

Thấy bình yên

trong chỗ chỉ mình ta

Ta quay về

những ước mơ ngày cũ

Lòng ngậm ngùi

ngóng đợi giọt mưa quen.

Sáng hôm nay…sau trận mưa quen…tôi sẽ cùng người bạn già chung xóm đến một hội trường của ” Hội cao niên” thuộc thành phố nơi tôi ở, tai nghe các cụ già ca hát những khúc nhạc ngày xưa, nhìn những bước chân xiêu vẹo của những bạn già cùng thời tôi…họ vui chơi, ca hát , dìu nhau bằng những bước chân xiêu…

Ở đó…tôi gặp lại một số bạn cũ…là những phụ huynh học sinh của tôi ngày xưa…cách đây gần 4 thập kỷ…bây giờ gặp lại…Một số chị đã không còn nguyên vẹn thân xác cũ.

Thời gian và tuổi tác đã tìm tới với họ…Họ không nhận ra tôi…nhưng chính tôi …một nhân chứng của thời gian…Tôi nhận ra họ là những người bạn thân quen ngày cũ…

Đêm về…nghe thầm thì bên tai ”’Những giọt mưa quen”…

Những giọt mưa quen…hay giọt nước mắt của một người già đơn độc là tôi…đang rớt xuống khi nhìn lại những bạn bè tôi bây giờ…

Những giọt mưa quen hòa chung nỗi nhớ trong tôi…Bây giờ gặp lại.

Tháng mười hai …giọt mưa quen rơi vãi

Tí tách ngoài song, lạnh giá nỗi niềm

Thạch sùng râm ran, dõi mắt kiếm tìm

Đêm cô tịch, gió lùa ngoài cánh cửa

Lòng thổn thức…như lần đầu lỗi hẹn

Chiếc lá rơi…hoang hóa nỗi buồn căm

Hỏi mưa. quen…bao lần ta được mất ??/

Suốt chặng đời…Luôn lỡ chuyến đò qua…

Atlanta Những ngày cuối năm 2025

Nguyên Hạ_ lê Nguyễn

Read Full Post »

Một ngọn núi đi lạc

Truyện ngắn của Ái Duy

.

 Ông hỏi gì ạ? – Ngọn núi, tôi tìm một ngọn núi…

– Đây làm gì có núi nào? Giữa phố xá mà? Toàn là hàng quán xe với người, không có chỗ chen nữa thì núi đâu ra.

Một ngọn núi đi lạc - Truyện ngắn của Ái Duy- Ảnh 1.

– Có, có một ngọn núi chỗ này, từ hướng nhà thờ Núi ngó tới đó. Hồi đó kêu là núi Côi có hình giống như con rùa vậy nè. Đâu mất rồi?

– Ạ… hay ông hỏi núi có nhà thờ? Thì đó, đi ngược lại thôi, nhà thờ nằm trên núi đó.

– Không phải đâu… nhà thờ chỉ nằm ở cái phần đầu rùa, cổ rùa bị chặt ngang để mở đường nè, hòn núi Côi là mai rùa, nó phải ở chỗ này. Còn cái hồ nước ở dưới nữa, là cái hồ đá… đâu rồi cà.

– Nhớ lộn rồi ông ơi.

Người bị hỏi lắc đầu khoát tay, vẻ thương hại rồi bỏ đi nhanh. Người đi ngang hóng chuyện cũng chép miệng, mình ở đây bốn mươi năm rồi núi đâu mà núi, cái bóng còn không thấy. Người thờ ơ nghe không hết câu cũng quay lưng đi nhanh như sợ liên lụy. Ông già 80 tuổi quắc thước ăn mặc bảnh bao lững thững chống gậy đi tìm ngọn núi thở dài, tôi mới rời xa nơi này có 60 năm chớ bao nhiêu đâu sao mà quên được. Hai bên là nhà cao tầng ngước nhìn muốn trật ót, đường phố bốn làn thẳng tắp tấp nập người xe lao vun vút chỉ chực va vào nhau, ông đứng khựng lại bên lề. Cứ như là ở một vũ trụ khác. Một cậu trai trẻ hớt hải chạy tới vồ lấy ông, “Ông ngoại, ông ngoại đây rồi, sao ông bỏ đi một mình không kêu con?”. “Kêu làm gì, ông tự đi được có sao đâu. Mà sao con biết ông ở đây?”. “Thì đó, may là con nhớ ông có nói tới nhà thờ Núi nên mới nghĩ là chỉ ở quanh đây. Má con dặn không được rời ông một bước, có hai ông cháu ở đây à, lỡ lạc thì sao”. “Làm gì dữ vậy, sao mà lạc được chớ, ông đã nói ông sẽ tìm về núi Côi mà, ông là dân núi Côi đó con, 60 năm chớ 100 năm ông cũng tìm ra”. “Vậy giờ núi Côi đâu mà ông đứng đây?”. Cậu trai mở smartphone định vị, ngơ ngác chỉ vào bản đồ, “Khu vực này toàn nhà là nhà ông ạ, chẳng có rẻo núi nào hết. Thôi về lại hotel nghỉ đi để con dò hỏi cho may ra, à mà núi đâu ở đây chớ vô lý”.

Trời, bây giờ núi Côi đâu? Ông già thầm nghĩ tuyệt vọng nhìn quanh, xóm cũ biến mất theo thời cuộc đã đành, người cũng rời bỏ tan tác, nhưng núi nào lại có chân đi?

***

60 năm trước ông già chỉ mới 20 là lúc rời đi từ đây, còn thực ra ông đã được sinh ra và lớn lên ngay ở mảnh đất này. Khi đó chỉ là một xóm nhà lá không tên chừng hơn mươi căn quây quần bên động cát thông thống nhìn ra biển, núi Côi đã sừng sững ở đó tự đời nào rồi. Biển trước mặt chạy ù một hơi là tới còn núi thì ở ngay bên cạnh xanh rì rậm rạp bí ẩn. Ai cũng gọi là núi Côi vì nó chỉ có một ngọn chơ vơ tròn trịa như một con rùa nằm úp mai nhô cao, có thêm cái cổ rùa thấp và vươn về phía Tây nơi có rừng dương ken dày. Ông cũng đã chứng kiến cảnh nổ mìn phá đá cái cổ rùa này để có một con đường mới, còn phía đầu rùa thì được san ra để xây nhà thờ bên trên. Ngày ấy dưới bụng con rùa đá khổng lồ này là một hồ đá nhỏ chứa đầy nước trong vắt mát lạnh từ các mạch trên núi ngày đêm rỉ rả xuống. Trên đỉnh lại có một ngôi tháp cổ bỏ hoang trống trơ lạnh lẽo. Dù với lắm lời đồn đại hoang đường rằng có một đôi mãng xà khổng lồ canh giữ hồ nước, có chúa sơn lâm thỉnh thoảng gầm lên thị uy, có cả ba họ nhà khỉ tinh ranh như ma chiếm lĩnh cả ngọn núi, có tiếng hú nơi ngọn tháp cổ giữa đêm trăng… thì bọn trẻ xóm nhà lá vẫn coi núi Côi là vương quốc của chúng. Ông già từ bé đã theo người lớn lên đây mót củi, hái lá thuốc vặt trái rừng, săn bắt thú. Lớn thêm một chút thì cùng với chúng bạn lên núi bày đủ trò vui tự do như chim trời cá nước chẳng sợ ai la rầy. Lúc này xóm nhà lá đã mở mang ra tận chân núi, thú rừng bị đuổi riết nên di cư lần hồi, rừng cũng thôi rậm, núi chỉ còn lại đá và những bụi cây khô.

Rồi ông già cũng có người yêu, nàng trong đám trẻ cùng chơi, cùng phá, cùng đói khát và lớn lên với ông từ xóm nhà lá bên chân ngọn núi Côi này. Mối tình đầu, mối tình suốt đời không quên.

***

Có lần đứa con gái hỏi ông, câu hỏi mà hầu như đứa trẻ nào cũng từng thắc mắc, “Vì sao ba ưng mẹ con vậy?”. “Con nghĩ sao?”. Con bé hỏi câu này từ năm lên 10, khi mẹ nó bỏ gia đình đi theo duyên mới. “Mẹ không thương con”. “Mẹ vẫn liên lạc và thăm con mà, chỉ là không ở chung nhà thôi”. “Mẹ xấu, con ghét mẹ”. “Khi nào lớn con hết giận mẹ sẽ không thấy mẹ xấu đâu, thực ra mẹ muốn mang con theo nhưng sao con không chịu?”. “Vì con thích ở với ba, ba tốt hơn mẹ”. Ông mà là người cha tốt sao, hay là con bé đọc được tâm tư thầm kín của ba mình, biết rằng ông không thể nối duyên với ai được nữa nên cần người thân kề cận.

Mấy chục năm sau con gái mới hỏi lại câu đó khi ông quyết định quay về quê cũ, có điều dài dòng và trực diện hơn, “Vì sao hồi đó ba ưng mẹ con vậy, hai người chẳng có điểm gì hợp nhau cả. Chẳng lẽ chỉ vì nơi đất khách quê người không còn lựa chọn khác?”. Ông già 80 chẳng còn gì để tránh né, “Đúng rồi con”. “Ba cũng chẳng có vẻ gì thất vọng hay đau khổ khi không còn mẹ bên cạnh nữa, con giới thiệu cho ba bao cô mà cũng chẳng xong”. “Thì ba vẫn thấy ổn mà, đâu cần”. “Ba biết xóm nhà lá quê cũ nay không còn dấu tích gì nữa cũng chẳng còn người thân thích, 60 năm rồi đó ba, mà ba vẫn muốn về ư?”. “Ừ, ba muốn quay về, 60 năm chỉ như một cái chớp mắt”.

***

Đứa cháu ngoại chạy về khách sạn tìm ông vẻ mừng rỡ, “Ông ngoại ơi có núi Côi rồi, đúng là núi Côi thiệt rồi…”. “Đâu đâu, núi Côi đâu, thấy chưa con, nó phải ở đây chứ làm sao lạc đi đâu được?”. “Đúng rồi, ông ngoại nhớ đúng rồi, từ nhà thờ Núi đi thẳng tới về hướng đông, chính là núi Côi đó, chỗ ông ngoại đứng hồi sáng nay đó”. “Nhưng… có ngọn núi nào ở đó đâu, hỏi bao người qua lại sao không ai biết gì hết”. “Vậy mới ly kỳ chớ, con đã đi vô từng nhà từng nhà một để hỏi, cuối cùng, thật tuyệt vời không thể nói hết được”. “Đi liền, mình đi gặp núi bây giờ luôn đi”.

***

Hai ông cháu đứng trước một cửa tiệm bán đồ thời trang cao cấp đối diện nhà thờ Núi, cửa gương sáng loáng hết cả mặt tiền. Có vẻ chỉ mới về mấy ngày mà cậu cháu ngoại của ông già đã kịp trở thành khách VIP ở đây, căn cứ vào thái độ vồn vã của cô chủ tiệm.

“Cháu chào ông, nghe cậu đây nói ông đang đi tìm núi Côi ạ?”.

“Phải, cô là người ở đây sao, cô biết núi Côi thật à, phải vậy chớ”.

“Không ạ, cháu chỉ thuê mặt bằng nơi này mở tiệm thôi. Người chủ căn nhà này có lần giải thích về kết cấu của nó và cháu loáng thoáng nghe nhắc tới núi Côi”.

“Ôi trời. Vậy người chủ nhà hiện nay ở đâu cho tôi gặp đi”.

“Dạ họ ở nước ngoài rồi, nửa năm mới về nhà một lần”.

“Chị ơi, thôi chị cứ chỉ núi Côi cho ông ngoại em đi rồi nói chuyện sau”.

“À phải, xin lỗi ông. Mời ông và em theo cháu”.

Ông già ngơ ngẩn chưa kịp hiểu ra chuyện gì khi cô gái chủ tiệm ra dấu ngoắc ông đi theo vào trong, may có cậu cháu đi cùng.

Phía trong là căn phòng ngủ hẹp, tối, và khá bề bộn, hóa ra mặt tiền phía trước ngó rộng rãi làm nơi trưng bày kinh doanh chứ cả căn nhà lại rất nông, sâu chưa đầy sáu mét.

“Núi Côi, núi Côi đâu…?”.

Cô gái đẩy cánh cửa sắt kéo ở bức vách trong cùng, và kéo cái rèm qua một bên. Vẫn rất tối không nhìn thấy gì, không hề có tia sáng nào xuyên vào mà chỉ có một luồng hơi mát lạnh len lỏi phả tới. Cô gái bật công tắc, ánh sáng đèn LED chói lòa.

“Đó, đó ông ngoại”.

“Núi Côi của tôi…”.

Ông già lập cập đi tới, chầm chậm đưa tay ra ngoài khung cửa. Bàn tay run run chạm lấy vách đá xám gồ ghề ươn ướt, không có một kẽ hở nào, không một âm thanh hồi đáp trừ tiếng giọt nước thánh thót rơi đâu đó vọng lại.

“Nghe bác chủ nhà nói là từ những năm 1960 sau khi mở đường người ta đã tràn tới đây cất nhà, ban đầu cất dưới chân núi, sau dần dần thì kín luôn ở phía trên. Mạnh ai nấy san ủi phá đá lấy mặt bằng. Ngay chủ căn nhà này cũng phải tốn rất nhiều công của để lấn thêm vô vách núi đó ông”.

“Tất cả căn nhà chung quanh đều như vậy sao?”.

“Dạ, họ ồ ạt làm lúc đó, chỉ vài năm là bạt hết ngọn núi, giờ thì nhà cửa kín hết cả rồi, toàn nhà lầu kiên cố. Chủ nhà nào cũng qua mấy đời nên chẳng ai còn nhớ, may bác chủ cũ ở đây có lần kể nên khi cậu em hỏi núi Côi là cháu nhớ ngay”.

“Vậy là hết”. Tim ông già như bị khoét mất một lỗ.

“Nghe nói vẫn còn đường lên đỉnh núi đó ông, đâu như ở phía sau dãy phố này mà phải đi vòng lại hơi xa”.

“Cái gì?”, ông già bất thần hồi tỉnh.

“Dạ nghe đâu còn có nhà nào trên đó á, mà cháu cũng không biết sao họ ở được nữa hay ghê. Đường lên thì bị bít, điện nước gì cũng không tới”.

***

Cậu cháu ngoại rền rĩ khi thấy ông già chống gậy lần từng bước khó khăn lên con dốc đá vốn là khe núi ngoằn ngoèo trơn trượt, nhiều chỗ tối và hẹp phải hạ thấp người băng qua. “Đã nói để con đi trước coi sao rồi về dẫn đi mà không chịu”. “Làm sao ông đợi nổi, tới ngay đây rồi chẳng lẽ bó chân chờ”. “Hay thiệt, ai mà dè vẫn còn đường đi lên núi hả ông, mình mà không hỏi thăm từ dưới lên là bỏ qua cái ngách đầu tiên rồi, cứ tưởng lối đi riêng nhà họ. Chắc chỉ còn mấy cái nền nhà chớ người nào sống ở đó”. “Có người ở trên đó con à”. “Sao ông biết?”. “Mấy cái bậc đá này là làm lại cho dễ đi nè, chân người qua lại bắt mòn luôn con không thấy sao”. “Ồ chắc đúng rồi, có lối rẽ nè ông, lên đây thoáng quá”. Ông già thở hổn hển, “Núi Côi xưa không cao lắm, chừng non 100 m, có khi mình sắp lên tới đỉnh núi rồi”.

Quả là như vậy, qua hết cái ngách ngắn cuối cùng này là một thế giới mới mở òa ra trước mắt, nắng chói chang, bầu trời trong xanh kia, vầng mây trắng đang sà xuống thấp kia, tiếng gió vi vu, tiếng ve ca chim hót rộn ràng. Mình đang ở đâu đây? Cảnh vật trước mắt ông già bỗng dưng nhòa đi, ông tháo kính ra lau. “Ông khóc à?”. “Ông hoa mắt thôi, cứ như là đang nhìn thấy một bầy con nít đang chơi đùa lăn lóc ở đây vậy”. “Ồ, đúng là có nhà nè ông, cửa nẻo đàng hoàng ghê”.

Một căn nhà nhỏ bằng gỗ bất chợt hiện ra, đơn sơ và khép kín nhưng lại đầy mời gọi. Thấp thoáng bóng người qua khung cửa sổ đang mở có tấm rèm màu tím nhạt đang tung bay lất phất. Trước nhà có một khoảnh đất nhỏ được rào cẩn thận như bảo vệ cái gì.

Cậu trai trẻ hớn hở gọi người bên trong để hỏi thăm còn ông già thì lê từng bước lại gần và chết sững khi nhìn thấy báu vật được bảo vệ trong khoảnh đất ấy. Trong đầu ông bây giờ là những thước phim tua ngược lại về vùng ký ức của hơn 60 năm về trước với tốc độ ánh sáng. “Mình chưa quên gì cả, ơn trời”.

“Ông ngoại ơi, con vừa nói chuyện với bà cụ chủ nhà đây, hóa ra bà là một cư sĩ tu tại gia nên mới chọn chỗ thanh tịnh này. Thưa bà, đây là ông ngoại con, ông con từ xa về chỉ với một nguyện vọng là tìm lại núi Côi thôi bà ạ, thật là may mắn quá”.

Bà cụ chắc cũng ngang lứa tuổi của ông già, tóc bạc trắng lún phún sát da đầu, bộ đồ lam sạch sẽ thẳng thớm, nhẹ nhàng tiến lại. Dường như có mùi hoa ngọc lan quen thuộc thoang thoảng đâu đây cùng với tiếng chuông ngân nga xa xăm.

Ông già bối rối hướng mắt về báu vật, đó là một khối kiến trúc bằng gạch nung cổ đã bị sứt mẻ khá nhiều được xây theo dạng bảo tháp rỗng nhiều tầng hình tròn, cao hơn hai mét với đường kính khoảng một mét đặt trên một khối đá vuông vức bằng phẳng. Dưới chân tháp là hương án, dấu nhang đèn còn mới. “Tôi không tin vào mắt mình nữa, chẳng lẽ đây là ngọn tháp cổ ngày xưa trên đỉnh núi Côi, ngay chỗ này…”.

Bà già mỉm cười, “Tháp cổ vẫn vững chãi ở đó từ xưa giờ mà. Ông đúng là dân núi Côi rồi. Ông là ai vậy?”.

“Tôi là… tôi là tôi cứ tưởng núi Côi đã bị san bằng, thật xúc động. Không ngờ vẫn giữ được cổ tháp thiêng liêng này”.

“Ai dám động vào cổ tháp?”, bà già dịu dàng.

“Thì ra vậy”, cậu cháu trai gật gù, “cũng còn may khi người ta vẫn tin vào chuyện tâm linh. Bà ở lại đây để bảo vệ đúng không?”.

“Phần nào thôi, cũng còn nhiều người nhớ tới và lên thăm viếng như ông đây. Không có tôi thì sẽ có người khác nhang khói. Tôi sống ở đây cũng gần hết đời rồi”.

Ông già dường như vẫn chưa qua cơn xúc động, “Không giấu gì bà, tôi ở đây từ bé, ngay xóm nhà lá dưới chân núi, năm hai mươi tuổi mới rời đi”.

“Rồi ông đi luôn một hơi?”, bà già ngó ông chăm chú.

“Dạ đúng đó bà, nên khi quay lại không thấy núi Côi đâu, ông ngoại con cứ tưởng là lạc mất rồi”.

“Núi nào mà đi lạc, kể cả khi tan hoang. Chỉ có ông thôi, sao bây giờ ông mới về?”.

“Bà biết tôi sao?”.

“Ông là một ông già đi lạc, quá lâu rồi”, bà già nói trong nước mắt.

Chàng trai sửng sốt hết nhìn bà già rồi chuyển qua ông già. Họ không để ý tới chuyện gì nữa, họ đang mải nhìn nhau.

….

thanhnien.vn


Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

                                                ( Nguyên tác : l’ultimo calore )

   Bản dịch của Trương Văn Dân

.

            May quá, tôi đã chạy thoát …

Đã từ lâu tôi đã nghĩ đến chuyện trốn chạy vì không thể trải qua một mùa Giáng Sinh nữa trong hoàn cảnh này. Ngay từ lúc đặt chân đến bệnh viện hoành tráng ấy, ý tưởng duy nhất  trong đầu tôi là bỏ trốn. Chạy, thật xa nơi chốn ấy..

Đi chân trần để khỏi gây tiếng  động, một tay tôi cầm đôi giày còn tay kia cầm chiếc gậy và một túi ny-lon, tôi mệt nhọc dò dẫm trong bóng tối của màn đêm.. Chẳng có ai nhìn thấy…. Mấy cô y tá đang bận xem TV hay ăn uống, còn các chú bảo vệ thì đang dúi đầu vào màn hình điện thoại để vi vu trên Facebook… Họ chỉ có thể phát hiện vào sáng mai, khi cô y tá bước vào phòng để đánh thức tôi và khám phá ra là dưới chiếc mền trùm kín, chỉ có hai chiếc gối nằm dưới tấm drap, xếp đặt như một người đang nằm ngủ.


            Bây giờ thì tôi có thể mang đôi giày vào chân và từng bước, từng bước rời xa cái nơi chốn khốn nạn này. Tôi muốn chạy đến khu rừng thông mà hằng ngày thường nhìn thấy qua khung cửa sổ. Chắc chẳng xa gì lắm.

Thời còn trẻ tôi đi khá nhanh, cứ tưởng mình có thể nắm bắt thế giới này trong bàn tay…nhưng giờ đây tôi chỉ là một ông lão già nua. Bệnh tật và cô độc.

Tôi phải làm bất cứ điều gì có thể để có thể trốn khỏi cái bệnh viện, mà thực chất là một nhà ngục nạm vàng. Còn căn nhà của các con thì đúng là địa ngục.

Dĩ nhiên trước đây tôi chưa bao giờ ngờ tới.

Tất cả được bắt đầu sau đám tang của em, em yêu ạ. Trở về nhà, anh chỉ muốn xa cách với tất cả bọn người cứ luôn mồm cười nói, ngồi một mình để ngẫm nghĩ về những gì sẽ xảy đến với mình. Trong anh vẫn còn lòng ham sống nhưng ý nghĩ là em không còn trên đời này nữa làm anh đau đớn. Đau không chịu nổi! Dĩ nhiên anh cũng có thể tự mình nấu ăn, dành thời gian để đọc, để viết, nhưng anh chợt nhận ra là mình không thể nào bước vào căn phòng ngủ, nằm trên chiếc giường mà mình đã từng ôm nhau rồi chìm sâu vào giấc ngủ và thức giấc bằng một nụ hôn. Biết bao lần bàn tay của em sờ soạng nắm lấy tay anh rồi ngủ tiếp, như vừa được  trấn an vì có anh nằm bên cạnh. Bao nhiêu niềm vui và đam mê đã được thắp sáng trong trái tim chúng mình, thay vì suy giảm, chúng lại được tăng lên cùng năm tháng, trong một tình yêu ngày càng khắn khít, thơm ngon như hương vị của một thứ rượu vang được ủ lâu năm trong thùng gỗ quý.

Vì những hoài niệm đau buồn đó nên anh quyết định đóng kín căn phòng bằng ổ khóa. Và ngay từ lúc ấy anh biết mình đang bắt đầu đi vào cõi chết.

Em yêu ơi, em có biết sự cô đơn là một căn bệnh trầm kha? 

Dần dà, mọi người cố gắng thuyết phục anh về sống ở nhà đứa con trai. Và đây chính là bước đầu tiên để anh bị giam trong tù. Anh ngu ngốc quá!

Em yêu ơi, lúc em còn sống, anh chỉ biết đến công việc nhưng chỉ cần nghĩ đời mình có em là anh đã vui rồi. Sau này các con mới xuất hiện, và anh từng nghĩ là chúng sẽ lớn lên như mơ ước của chúng mình. Chỉ đến bây giờ anh mới hiểu là điều đó không bao giờ có. Dù chúng ta đã gieo những hạt mầm đúng đắn, đã cố gắng truyền đạt những giá trị quan trọng về cuộc đời, dạy chúng biết thế nào là lòng bác ái, về tình người và tâm từ bi. Em ơi, anh vừa mới nhận ra là mình đang nói chuyện với em dù biết em không còn trên đời này nữa.

Nhưng có lẽ là em đã may mắn  hơn anh, vì sớm từ giã cõi đời ô trọc này để khỏi phải chứng kiến sự lãnh đạm, sự khinh thường và bạc bẽo của các con. Tất cả mọi đứa, không chừa đứa nào. Ngay cả con gái út cũng không chứng tỏ là trong lòng nó còn chút tình cảm nào.

Tôi đi, như chạy. Mệt lắm, nhưng chắc cũng sắp đến nơi. Tôi bắt đầu nhìn thấy những chóp đỉnh của hàng thông được chiếu sáng bởi một mảnh trăng non. Tiếng rì rào của biển cũng dường như đang vọng tới. Tôi còn nghe được một vị mặn đậm đà của đại dương hòa lẫn với mùi của rừng thông.

Còn nhớ không em, đêm đó, bên bờ biển, chúng mình đã ẩn mình giữa những chiếc thuyền đánh cá để nồng ấm yêu nhau? Bao nhiêu vì sao đang lấp lánh trên bầu trời và mùi thơm của biển cứ hòa trộn vào vị mặn của môi nhau.

Bây giờ thì cũng có những vì sao lấp lánh trên đầu anh, lúc anh ngồi tựa lưng vào một cây thông và hai bàn tay ve vuốt hàng cỏ ướt. Có một bầy đom đóm đang bay giữa những lùm cây. Có phải là em đã mời chúng đến đây, để anh khỏi cô đơn trong buổi tối cuối cùng?

Chính sự cô đơn là điều làm anh đau khổ nhất. Anh liên tục nhìn thấy em bên cạnh mình. Anh kể lể với em về mọi chuyện. Anh thấy thiếu vắng vì không được chạm vào em, cảm nhận được bàn tay mềm mại và êm ái của em thường dịu dàng ve vuốt khuôn mặt anh, nụ hôn của em mỗi sớm mai thức giấc, những chuyện vặt vãnh trong ngày mà chúng mình thường cười đùa như hai kẻ đồng lõa.

Anh không thể tưởng tượng là em sẽ đau đớn như thế nào khi nhìn thấy những đứa con cười chế diễu khi nhìn những bức hình của chúng mình âu yếm bên nhau, chứng kiến những quyển sách yêu thích bị ném đi tung tóe. Chúng đã vứt đi mọi thứ, như loại bỏ mình, bởi vì sự hiện hữu của chúng mình lúc tuổi già đang làm phiền chúng.

Nhưng chỉ còn vài giờ nữa thôi. Anh cũng sẽ không còn nữa. Anh sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự phiền hà.

    Đủ rồi! Anh không muốn phung phí những giây phút cuối cùng này để nghĩ đến những kẻ vô tình bạc nghĩa.

    Khô khốc và tham lam, đấy chính là những thứ mà các con đã trở thành.

Anh như vừa nghe lại buổi tranh cãi cuối cùng của chúng :

  • Bác sĩ nói cần cho ổng nhập viện…
  • Vậy là phí bao nhiêu tiền của.
  • Thì dùng tiền mà ổng bả để dành đó…
  • Thế thì còn gì cho bọn mình? Một mớ tiền lẻ à?   Biết đâu thằng cha già vô dụng này chưa chịu chết…và thế là hết sạch…
  • Câm mồm đi. Chính mầy đã bán căn nhà của ổng và còn đang giữ tiền…

         Bao nhiêu điều xấu xa và kinh tởm mà anh đã phải nghe! Thế nhưng anh câm lặng, giả bộ như chẳng hay biết gì. Nhưng đêm đó, vì quá đau đớn mà sức khỏe của anh bị một cơn suy sụp.

  • Bây giờ mình phải làm gì đây? Nếu tao phải mang lão đến bệnh viện thì làm sao có thể tham dự đám cưới của sếp…Thôi, cứ bỏ mặc lão. Nếu lão chết thì càng tốt. Mình tiết kiệm được tiền bạc và thời gian.

            Anh không thể nào chịu nổi sự khốn nạn kinh tởm này. Anh ngồi bật dậy và to giọng nguyền rủa chúng, là anh không muốn ở với chúng thêm một phút nào.

Bọn chúng chỉ khó chịu chứ không có ai giật mình vì phản ứng đột ngột của anh. Một đứa chở anh vào bệnh viện. Và anh biết là định mệnh của mình đã được an bài. Trước hoặc sau gì cũng có một cú đột quỵ, sau đó có thể là bán thân bất toại hay tệ hơn, không thở được, anh sẽ bị đút các loại ống linh tinh để sau đó chết trong đau đớn.

Nhưng nỗi đau lớn nhất vẫn là bị bao vây bởi đám diều hâu tham ác này, chúng đang chờ đợi và thèm rõ dãi đoạn kết đời anh để thừa hưởng gia tài, rồi sau đó còn lớn tiếng rêu rao là đã ở kề cận cha mình cho đến phút lâm chung!

Bọn khốn kiếp! Giả nhân giả nghĩa! 

            Đủ rồi! Đủ rồi! Đã bao lần tôi hét lên như thế, không muốn nghĩ đến, nhưng lại chẳng thể quên. Tôi bắt đầu cầm lấy chai nước và lọ thuốc nằm trong bao nylon. Mình giỏi thật, đã tính toán chi ly mọi thứ từ lâu. Mỗi ngày tôi đều để dành một viên thuốc ngủ, giả bộ như vừa mới uống, ngoan ngoãn thực hành lời căn dặn của các y tá.

Một nắm thuốc trong lòng bàn tay. Một ngụm nước. Môt ngụm nữa. Một cơn ho rồi vận sức nuốt xuống. Được rồi. Bấy nhiêu đó là quá đủ để trái tim già này ngưng đập.

Đêm nay không lạnh lắm. Chỉ có vài cơn gió nhẹ và anh dường như vừa nhìn thấy ánh hồng ở phương Đông.

            Thế nhưng anh muốn tìm một chút hơi ấm. Muốn cảm nhận rằng em đang nằm gọn trong vòng tay anh, giống như bữa chúng mình đi hái cherri, trái chín, mọng đỏ như môi em. Anh vừa ăn, vừa hôn em, nép mình dưới bóng mát những cành cây trĩu quả.

Anh chợt sờ lấy môi mình như thể muốn tìm lại cảm giác đó, nghe lại mùi vị của môi em mềm mại và đỏ mọng…ôi, anh yêu em nhiều lắm… và anh thấy trống vắng làm sao!

            Anh bắt đầu nghe một cảm giác rất lạ trong cơ thể mình. Như một cơn buồn ngủ. Bình minh cũng vừa ló dạng. Ngày đang ửng sáng. Và những vì sao dường như cũng tắt dần. Bỗng anh thấy lạnh. Vội nép mình vào gốc cây để tránh gió. Một cơn rùng mình rất khẽ. Một cảm giác thật lạ lăn trên má, chạy xuống môi. Rồi một hơi ấm ở đâu tràn tới, như thể anh đang nằm giữa vòng tay của ai.  A, hiểu rồi, là em, người yêu quý nhất của anh.

            Cảm ơn em đã không để anh chết một mình. Tìm lại nhau, hạnh phúc biết bao! Và giờ đây, mãi mãi bên nhau.

Read Full Post »

Lá Sầu

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Năm tháng nào đã đi qua trong cuộc đời của mỗi con người cũng bằng nhau với từng ấy phút giây quay tròn trên mặt kim đồng hồ…Nhưng với một người đa sầu, đa cảm…

Một tâm hồn luôn quắt quay với nỗi nhớ về những ngày tháng cũ…

Thì như là mới xảy ra hôm qua, đó là những điều báo trước cho ta biết “Đó là tuổi già” đang gõ cửa nhà mình rồi đó,

Từ lúc mà ta bỗng dưng đối diện với “Cuộc sống và sự chết”, từ lúc mà ta biết cần phải dọn dẹp cho mình một con đường đi thanh thản đến cõi bình yên của tâm hồn…

Tất cả những chuyện xưa xa lơ xa lắc bỗng hồn nhiên trở về và bỗng dưng ta muốn nhìn lại những nơi chốn cũ, dấu tích xưa.

Thực vậy, những kỷ niệm thật xa xưa, từ những ngày bé dại hay những ngày mới lớn của tuổi trăng tròn hay hơn một chút nữa…Luôn hiện ra trong tâm trí tôi như mới xảy ra hôm qua, hôm kia hay tháng trước, năm trước…

Nhưng thực tế cũng đã hơn bốn , năm thập kỷ đã qua trong cuộc đời.

Từ sau lần dịch bệnh của thế kỷ…Gia đình tôi và các con tôi đều bị nhiễm căn bệnh thế kỷ và tất cả đều qua khỏi nạn tai…

Những nỗi kinh hoàng khi những người hàng xóm nhiễm bệnh như gia đình tôi và đã lặng lẽ ra đi không thốt cùng nhau lời chia biệt…

Họ là những người láng giềng, những người khách hàng thân quen của tôi…

Họ mãi mãi ra đi không trở lại nhà, một mình lạnh lẽo trong những lò thiêu xa vắng….

.

Hồi ức đớn đau , thống hối. và tôi đã dọn mình, làm tất cả những gì cần làm cho một kẻ “sắp đi xa”…

.Sau một tuần lễ năm trên giường bệnh,… bình yên trở về nhà tôi bỗng muốn trở về nơi chốn cũ, thành phố cũ đã nuôi nấng tôi qua bao năm tuổi thơ, nhìn thấy tôi lớn lên và giã biệt tôi khi tôi đành đoạn ra đi…

Tôi trở lại thăm Qui nhơn khi xác thân còn nguyên vẹn và hứa sẽ trở về nằm bên quê hương khi nhắm mắt xuôi tay.

Và tôi đã trở về với quê tôi, gặp lại những người thân , những bạn bè, những con đường, những góc phố, những cát biển, những thông xanh…

.Tất cả những dấu yêu xưa mà tưởng chừng như tôi sẽ không bao giờ gặp lại, tôi đã nói lời cám ơn tất cả, cám ơn chỗ ngồi bây giờ vẫn còn nguyên vẹn cho tôi ngồi viết lại những hồi ức này trong hạnh phúc và niềm thương cùng hai tiếng “tạ ơn”.

****

Cuộc sống đã đi qua với từng ấy những vui buồn, hối hả , những bương ba khổ hận, những bất chợt bâng quơ…

vẫn luôn sống lại trong tâm trí tôi vào những lúc trà dư tửu hậu, và sau những cơn đau thể xác thập tử nhất sanh, hôm nay bên ly cà phê nóng một mình trong chút không gian trầm mặc và tĩnh lặng của riêng tôi, nó gần gũi và giàn trãi trong tâm trí như một khúc phim quay chậm…

Triệu chứng của tuổi già đang hiện hữu vì rằng :” người già hay lui về quá khứ”và có đối diện với phút từ ly mới biết quí phút giây hội ngộ.

Ở đó…

Trở về thành phố cũ đã một thời ghi dấu chân tôi.nơi đã in bao kỷ niệm tôi.

Quy nhơn của tôi đó: Thành phố mà tôi lớn lên với cát khô, gió biển, thành phố có bãi biển chạy dài bao bọc xung quanh, ở đó biển và cát đã nhìn thấy tôi lớn lên qua bao mùa Xuân- Hạ -Thu -Đông,

Thành phố đã cho tôi những ngày đầu tiên biết buồn khi mùa thu đến, thành phố đã có trong tôi những xao động buổi yêu đầu, những mối tình học trò, những mắt liếc môi cười của một thời con gái.Ở đó có ngôi trường Trinh Vương đã nhận mặt ra tôi từ lúc tôi bước chân vào trường trung học và ở đó đã cho tôi nhiều bạn bè dấu yêu xinh đẹp và bây giờ các bạn bè tôi cũng đã là những người con gái tài ba bay xa khắp bầu trời sánh vai cùng nhân loại.

Ở đó tôi đã từng có những lần nhận thư tình của các chàng trao thư hò hẹn, những lần đón đưa với nỗi thập thò ngượng nghịu làm duyên, và những vụng dại đầu đời thật ngây thơ vô tội.,

Thương yêu lắm, tôi đã nén cơn đau xác thân để trở về nhìn lại.

Những con đường ngày xưa đếm bước

Những ngã đến trường…in dấu chân theo

Gốc phượng cũ ngày xưa …ai lẽo đẽo

Vẫn dài tay khi bóng ngã hoàng hôn.

Thương thương lắm những con đường ngày xưa mình đã đi qua, thương biết bao con phố ngắn ngày xưa mình sánh bước, vẫn thập thò sợ bạn bè nhìn thấy mình đi bên nhau, và mong mỏi cho ngày mau qua cho cánh phượng hồng mau biến mất cho ngày khai trường rộn rã những ngày vui, cho ngày tháng ươm hồng trang sách mới và cho những chiều anh nối bước theo ai dưới vành nón che nghiêng cho dù bóng nắng chiều không còn lung linh trên tóc xỏa.

Thương thương lắm những gốc thông già rung rinh trước gió, những chiếc lá thông khô rơi rụng dưới gốc phủ đầy tay hai đứa , cho chúng mình biết rằng trời đã sang thu,

Mùa thu cho mình những mộng mơ lớn dần khi gió thu se se hơi gió thoáng lạnh vai em, cho bàn tay anh phủ vai ve vuốt và cầu mong cho vai anh đủ che chắn cuộc đời em, cho những mơ ước ngày sau tròn chung một lối…

.

Những con đường ngày xưa diệu vợi

Dáng cũ tình xưa…dấu tích còn

Kỷ niệm một thời, lạc bước hoang

Nay trở lại…. Chỉ hoàng hôn soi bóng ngã

.

Bây giờ một mình em trở lại với Qui nhơn.

Hàng cây ủ rũ …hoài năm tháng

Ướt đẫn sương thu …phố thay tên

Đã qua bao mùa lá rụng, bao năm tháng chất chồng , những mùa gió chướng đã đi qua, những thăng trầm của cuộc đời đã chia lìa đôi ngã,

Rồi cuộc tình ngắn ngủi của tuổi học trò… mấy khi tròn ước nguyện sau những mùa thi, mình đã cách xa nhau, chia xa và ly biệt vẫn là đề tài kết thúc những cuộc tình đầu của buổi đầu tiên, mỗi người mỗi ngã, những chuyến đò ngang làm chia cách mộng lứa đôi…để suốt đời vẫn nhớ về nhau như một bông hoa đẹp của một cành phượng vĩ còn sót lại trên trang lưu bút cũ.

Vẫn nhớ lắm ngày xưa…bên sách vở

Áo dài bay trắng cả lối đi về

Chẳng duyên nhau , câu chuyện của tình quê.

Bao bến nước đục trong…chia đôi ngã

Câu chuyện vẫn có từ ngàn xưa cho đến ngày nay : “Phận gái mười

hai bến nước, trong nhờ đục chịu”

Làm thân con gái ở vào thời đại của ngày xưa…mọi quyết định là do mẹ cha định liệu, những bến trong bến đục cũng chỉ do “số phận “, bến trong hay bến đục là chuyện của ngày sau, những chuyến đò ngang đến sớm hay trễ tràng cũng do ở phần số của mỗi con người…

Lòng muốn lắm mà không làm sao thay đổi , sự chia xa của cuộc tình và những cuộc đời cách biệt, chỉ còn lại trong nhau niềm thương nỗi nhớ khi bóng ngã chiều tà.

Khi người xưa trở về chốn cũ thì thuyền đã tách bến sông xưa, người cũ chỉ biết thẫn thờ đứng nhìn hàng cây năm cũ mà than thầm cho duyên tình đã mất, người con gái ấy đã xuống đò tách bến sông xưa.

Nhớ nhung quay quắt dáng xưa

Hàng cây đứng đợi người xưa trở về

Sang ngang …bỏ lại ước thề

Hàng cây năm cũ vẫn chờ gió đưa

Những hàng cây ngày xưa còn xanh lá,

chứng kiến cho cuộc tình đầu đầy mộng mơ…

Bây giờ đã qua bao mùa thay lá, sự luân lưu của đất trời đã làm thay đổi những cảnh vật của những tháng năm xưa…nhưng những ngọn gió heo may thổi tung vạt áo trắng bay và chao xô bờ tóc xanh năm cũ với bàn tay vuốt nhẹ bờ vai ngày nào…

Bây giờ ngày trở lại…

Vẫn bờ cây ngày cũ,

vẫn chút gió heo may chao nghiêng bờ tóc rối đã điểm màu pha sương, cuộc đời mỗi người là một lối rẽ với trách nhiệm nặng mang và hai cuộc sống khác biệt nghìn trùng.’

Cuộc đời hai lối rẽ

Chiếc lá trôi ngàn Phương

Biết bao giờ đứng lại

Nghoảnh lại bất chợt nhau

Bàng hoàng …con mắt ướt

Xót xa …thì ra nhau.

Bây giờ gặp lại mà còn nhận ra nhau, cũng như còn nhận ra những con đường xưa cũ trong trí nhớ mù mờ của một tâm hồn già nua , gối mỏi…

Hạnh phúc đến bất chợt rồi lại bỗng bay xa…tất cả cũng chỉ là hoài niệm.

Bỗng chút gió thu về se lạnh , nhớ làm sao ngọn gió thu xưa se se bờ vai cũ, nhớ quắt quay bàn tay ấm áp ngày nào …nhưng chỉ là ngọn gió thu xưa trở về trong buổi chiều nay…

Chân bước hụt mà không bàn tay choàng vai che ấm lạnh….

kỷ niệm còn …đủ để ấm lòng và thõa chút niềm riêng.

Đi trên những con đường mới mở

Dưới hàng cây ngập nắng hoàng hôn

Hai vai lạnh giá …hương thu cũ

Những lá thu rơi… phải lá sầu

Atlanta, Mùa Tạ ơn 2023

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

Lại một chuyến đi khác, điểm đến : biển Vũng Tàu.

          Chỉ vài ngày để sống cùng cảm xúc và chọn những niềm vui. Ý định ban đầu là vậy, chương trình đã được sắp xếp nhưng sau đó cũng có một vài thay đổi.

          Phải nói là trong mọi cuộc phiêu lưu, anh em Quán Văn đều vui vẻ vì được sống gần nhau: Những trận cười bất tận, những câu nói trêu ghẹo bạn bè, câu này bất ngờ tiếp theo câu khác… và cuộc chơi chữ nghĩa  thường biến thành một trận bóng bàn thú vị giữa những người yêu văn thơ.

Điều mang lại hương vị cho cuộc chơi chính là sự dí dỏm và trí thông minh ngôn ngữ, của những câu chữ đa nghĩa được tung ra để khiêu khích và chờ đợi câu trả lời, và sau đó là một trận cười  giòn giã.

          Thực ra, là bạn cũng có nghĩa là có chung một thứ ngôn ngữ và chỉ qua một ánh nhìn là có thể hiểu nhau. Một nhóm có thể rất nhỏ hay nới rộng ra nhiều người, và đìều quan trọng chính là sự nối kết giữa những thành viên.

          Nhóm Quán Văn cùng với thời gian đã được mở rộng: Các nhà văn, những nhà thơ, nhà báo, họa sĩ hay nhiếp ảnh, độc giả và cộng tác viên… mỗi người đều tự hòa mình và góp phần chung vui, dưới cái nhìn thân thiện và  minh triết của nhà văn Nguyên Minh.

          Mỗi lần họp mặt đều vui như một truyện cổ tích, tuy nhiên cũng có lúc nỗi buồn hiện lên nét mặt mọi người khi có ai nhắc về một vài người bạn đã không còn nữa. Cuộc sống vẫn tiếp tục đi tới nhưng nhiều khi quá khứ cũng quay lại gây nhiều buồn khổ, còn bây giờ nỗi buồn ấy tuy đã lắng đọng nhưng vẫn còn đấy những tiếc thương. Chỉ cần ai nhắc đến những người bạn ở Pháp, ở Virginia hay ở một địa phương nào khác là trên mắt mọi người đều ươn ướt. Nhưng nỗi buồn rồi cũng vượt qua khi nhớ lại những tiếng cười. Đúng rồi, con người ta hay nhớ về những trận cười, và những khoảng lặng.

Sự yên lặng có thể có nhiều ý nghĩa và có khi đó cũng là những  diễn ngôn sâu sắc.  Nó giúp chúng ta hiểu nhau bằng ánh mắt và bằng cả trái tim.

Đó là tất cả những gì mà tôi suy nghĩ trong suốt chuyến đi và cuối cùng chúng tôi đã đến Vũng Tàu.

 Biển rất đẹp!

Chúng tôi đến vào lúc hoàng hôn và tất cả cùng rời phòng để ra ngồi ở một quán cà phê trên bãi biển để uống một thứ gì. Gió mang mùi biển phả lên người chúng tôi. Bờ biển vắng, chỉ có mấy người đi dọc theo mé nước.

          Một giờ ngồi bên nhau để trò chuyện và thư giãn cho đến khi bóng chiều đổ dài và màn đêm buông xuống. Cũng chính thứ ánh sáng mập mờ và mùi vị của biển như thế này đã đánh thức trí nhớ tôi về một buổi chiều trên bãi biển… rất nhiều năm về trước.

          Chúng tôi hai người cùng nắm tay đi dạo, thỉnh thoảng trao cho nhau những nụ hôn, rồi sau đó nằm nép mình trên vũng cát nhỏ giữa những chiếc thuyền được kéo lên bờ dưới bầu trời đầy sao. Cả hai đều im lặng, lắng nghe tiếng rì rào của biển. Một  giây phút ngắn ngủi nhưng đẹp tuyệt. Và  còn đẹp hơn vì cho đến giờ này chúng tôi vẫn còn sống bên nhau để nhắc về những kỷ niệm. Nhưng lần này chúng tôi không chỉ có nhau mà xung quanh còn có rất nhiều bạn bè thân thiết, có lúc nó cho tôi cảm giác là mình đang sống thật đơn giản nhưng với thật nhiều cảm xúc, như những trẻ em được thầy cô dắt đi du ngoạn.

Buổi sáng chúng tôi thức dậy thật sớm và gần như tất cả đều ra biển để ngắm bình minh. Giữa những đám mây dày, đây rồi, một khối cầu lửa đang từ từ từ xuất hiện, làm bầu trời ửng vàng rồi chiếu xuống mặt biển ở cuối chân trời.

Như những đứa bé, vài người chúng tôi vừa reo hò vừa chạy ào, nhảy ùm xuống biển; Những người khác đang mải miết chụp hình bầu trời màu vàng cam nhờ ánh sáng của bình minh. Trong những lúc đó có nhiều trận cười mà cũng có những khoảng lặng. Nhưng đứng trước sự mênh mông, vào lúc bắt đầu một ngày mới tâm hồn đâu có thể dửng dưng.

Riêng với tôi có lẽ còn hơn thế nữa, vì chúng tôi đang cùng sống lại những giây phút đẹp đẽ và sâu lắng bên nhau, giống như một buổi tối nhiều năm trước dưới bầu trời đầy sao.

          Anh Nguyên Minh ơi, bao giờ Quán Văn chúng ta lại bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới nữa?

Sài Gòn 03/05/2016

                   (Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác  tiếng Ý: L’alba dorata sul mare)

Read Full Post »

Đứa con của Desiree

Kate Chopin

Hiếu Tân dịch

*

Nói đến Mỹ, người ta nghĩ ngay đến một giống người luôn khát khao tự do và công lý, và sớm hơn ai hết, họ đã từng hiện thực hóa nó dưới ánh mặt trời này. Nhưng đó chỉ là mặt sáng, mặt dương, mà nhiều người đã biết. Còn một mặt khác, mặt tối, mặt âm mà không phải ai cũng biết. Nó đây.

Truyện viết năm 1892 nhưng ngán thay, ở thời điểm này nó vẫn không hề là chuyện cũ.

HT

*

1.

Một ngày đẹp trời, Madame Valmonde tới L’Abri thăm Desiree và đứa con mới sinh của cô. Cứ nghĩ đến Desiree với đứa bé mới sinh là bà lại buồn cười. Như chỉ mới hôm qua, cái ngày ông nhà chạy xe qua cổng nhà Valmonde nhìn thấy nó đang nằm ngủ dưới bóng cây cột đá to, nó còn nhỏ hơn một bé sơ sinh. Con bé thức dậy trong tay ông và kêu “dada”. Đấy là tất cả những gì nó có thể làm, hoặc nói. Có người nghĩ con bé có lẽ đi lạc ở đó, vì nó mới ở tuổi chập chững biết đi. Phần đông tin rằng nó bị một đám người Texas cố ý bỏ rơi, chiếc xe mui bạt của họ lúc cuối ngày còn qua phà Coton Mais, bên dưới đồn điền. Madame Valmonde bỏ qua mọi suy đoán, chỉ nghĩ rằng Chúa lòng lành đã gửi Desiree đến làm đứa con yêu thương của bà vì biết bà không có con đẻ. Con bé lớn lên xinh đẹp và hiền dịu, trìu mến chân thành, được Valmonde hết mực thương yêu. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cậu Armand nhà Aubigny chạy xe qua thấy cô nàng đứng đó, tựa lưng vào cây cột mà cách đây 18 năm cô đã nằm ngủ dưới chân, đã đem lòng yêu ngay. Đó là cách yêu của đám đàn ông con trai nhà Aubigny – như thể bị đốn ngã bởi một phát súng lục. Điều đáng ngạc nhiên là trước đó cậu chưa hề yêu cô, dù cậu đã biết cô từ năm lên 8 khi cha cậu đem cậu từ Paris về, sau cái chết của mẹ cậu. Tình yêu cuồng nhiệt bừng dậy trong cậu hôm đó, hôm cậu thấy cô đứng ở cổng, cuốn đi như một trận tuyết lở, hay như một đám cháy trên cánh đồng, hay như bất cứ thứ gì chúi đầu lao đi băng qua mọi trở ngại. Ông Valmonde trở nên thực tế và muốn mọi sự phải được xem xét kỹ: đó là, nguồn gốc mờ tối của cô gái. Armand nhìn sâu vào mắt nàng và khôg quan tâm. Cậu được nhắc rằng cô áy không có một cái tên. Một cái tên thì hệ trọng gì khi cậu có thể cho cô một cái họ lâu đời nhất và danh giá nhất ở Louisiana. Cậu đặt mua một giỏ đồ sinh lễ từ Paris, và cố nén cơn nóng lòng chờ nó đến; rồi hôn lễ được cử hành.

2.

Đã bốn tuần rồi Madame Valmonde chưa thăm lại Desiree và đứa bé. Lúc đến gần Abri, lần nào cũng thế bà rùng mình khi thoạt nhìn thấy nó. Nhìn nơi này người ta thấy buồn thảm, vì nhiều năm rồi không có bóng dáng dịu dàng của một bà chủ. Ông già Aubigny đã cưới và chôn bà vợ của mình ở Pháp, và bà ấy yêu mảnh đất của bà đến nỗi không nỡ rời bỏ nó. Mái nhà dốc xuôi xuống và đen như một chiếc khăn thầy tu, trùm ra ngoài những hành lang rộng bao quanh ngôi nhà trát vữa stucco vàng. Những cây sồi lớn, thâm nghiêm mọc gần nhà, và những cành dầy lá, vươn xa của chúng che bóng như một tấm vải phủ quan tài. Cậu Aubigny cũng có quy tắc của cậu, dưới quy tắc ấy những người da đen của cậu đã quên thế nào là vui vẻ, như thời ông chủ cũ dễ tính và thoải mái còn sống. Người mẹ trẻ phục hồi chậm chạp, nằm duỗi dài trên chiếc đivăng, trong bộ đồ mutxơlin trắng và những đăng ten. Đứa bé nằm cạnh nàng, gối lên cánh tay nàng và áp vào ngực nàng ngủ. Bà vú người da vàng ngồi cạnh cửa sổ tự quạt cho mình. Madame Valmonde nghiêng thân hình đẫy đà của bà trên nàng và hôn nàng, trong giây lát âu yếm bà ôm nàng trong tay. Rồi bà quay sang đứa bé. “Thằng bé này mà là mới đẻ đây à!” bà kêu lên bằng một giọng làm giật mình. Tiếng Pháp là thứ tiếng được nói ở Valmonde ngày ấy. “Con biết là nhất định má phải ngạc nhiên”, Desiree cười, “thấy nó lớn nhanh thế. Đúng là con lợn sữa. Má nhìn chân nó này, tay nó, và cả những móng tay nữa – những móng tay thật sự. Zandrine vừa mới phải cắt cho nó sáng nay. Không đúng à, Zandrine?” Người đàn bà cúi mái đầu quấn khăn một cách kính cẩn. “Dạ đúng, thưa bà”. “Và cái cách nó gào” Desiree tiếp tục “Thật điếc tai. Hôm kia Armand từ mãi nhà La Blanche cũng nghe thấy nó.” Madame Valmonde không lúc nào rời mắt khỏi thằng bé. Bà bế nó lên và đi ra gần cửa sổ, chỗ sáng nhất. Bà xem xét kỹ thằng bé, rồi nhìn Zandrine vẻ dò hỏi, bà này đang quay mặt đi, mắt nhìn chăm chăm phía cánh đồng. “Phải, thằng bé đã lớn lên, đã thay đổi”. Madame Valmonde nói chậm rãi khi bà đưa trả thằng bé về chỗ cũ. “Armand nói gì?” Mặt nàng đỏ ửng, nóng bừng vì hạnh phúc.

3

“Ôi, con nghĩ Armand phải là ông bố hãnh diện nhất giáo khu, chủ yếu vì nó là con trai để mang họ anh ấy, dù anh ấy không nói – anh bảo rằng con gái anh ấy cũng yêu. Nhưng con biết là không đúng. Con biết anh ấy nói thế chỉ để con vui. Và, má ơi” nàng kéo đầu Madame Valmonde lại gần mình, thầm thì nói thêm, “anh ấy không trừng phạt người nào trong bọn họ – không một ai – từ ngày sinh thằng bé. Ngay cả Negrillon, nó giả vờ bị bỏng ở chân để trốn việc – anh ấy chỉ cười và bảo Negrillon là thằng đểu. Ôi má ơi, con hạnh phúc quá, đến nỗi phát sợ.” Những điều Desiree nói đều đúng. Việc lấy vợ và sau đó có con đã làm cho bản tính hống hách, độc đoán và quá quắt của Armand Aubigny dịu đi rất nhiều. Đấy là điều khiến Desiree hiền dịu hết sức vui mừng, vì nàng yêu gã vô cùng. Khi gã cau mày là nàng run lên, nhưng vẫn yêu. Khi gã mỉm cười, nàng cảm thấy không cần cầu xin Chúa ân sủng gì hơn nữa. Nhưng từ ngày yêu nàng, khuôn mặt âm u, điển trai của Armand không thường xuyên cau có nữa, Lúc thằng bé được khoảng ba tháng tuổi, một đêm Desiree thức dậy và tin chắc rằng có cái gì đó trong không trung đe dọa sự yên bình của nàng. Lúc đầu nó quá mơ hồ không nắm bắt được. Chỉ là một chút lo âu; một vẻ gì bí mật trong số những người da đen, những cuộc viếng thăm không chờ đợi từ những người láng giềng xa không nói được lí do thăm viếng. Rồi một sự thay đổi lạ lùng, đáng sợ trong tính khí của chồng nàng, mà nàng không dám đòi gã giải thích. Khi nói với nàng, đôi mắt gã lảng tránh, trong đó ánh sáng yêu thương ngày trước dường như đã tắt ngấm. Hắn luôn vắng nhà, và khi về, tránh sự có mặt của nàng và đứa con, mà không hề giải thích. Và dường như chính linh hồn quỷ Satan đã nhập vào cách hắn đối xử với những người nô lệ. Desiree đau khổ tưởng chết. Một buổi chiều nóng nực, nàng ngồi trong phòng, trong chiếc áo choàng tắm, thẫn thờ luồn ngón tay qua những lọn tóc nâu dài óng mượt. Thằng bé mình trần nằm ngủ trên chiếc phản gỗ của nàng như trên ngai vàng lộng lẫy với tấm màn bằng xa tanh nhăn nheo của nó. Một trong những thằng bé lai một phần tư đen của nhà La Blanche – cũng ở trần – đứng quạt chầm chậm cho thằng bé bằng một chiếc quạt lông công. Đôi mắt Desiree trống rỗng và buồn bã dán chặt vào đứa con, trong khi nàng cố sức xuyên qua màn sương dày đặc mà nàng cảm thấy đang bọc kín nàng. Nàng nhìn hết từ đứa con đến thằng bé đứng bên, nhìn đi nhìn lại. “Á” một tiếng kêu nàng không thể kìm khỏi phát ra một cách vô thức. Máu như đông lại trong huyết quản nàng, một chất sền sệt lạnh ẩm tràn trên mặt nàng.

4.

Nàng cố nói với thằng bé lai, nhưng lúc đầu không thốt nên lời. Khi nghe gọi đến tên mình, nó ngẩng nhìn lên và thấy bà chủ chỉ tay ra cửa. Nó bỏ chiếc quạt to mềm xuống, vâng lời lẻn đi, nhón chân trên sàn nhà bóng loáng. Nàng vẫn ngồi bất động, mắt dán chặt vào đứa con, sắc mặt lộ rõ vẻ sợ hãi. Ngay lúc đó chồng nàng bước vào phòng, không nhìn đến nàng, đi thẳng đến chiếc bàn và bắt đầu lục lọi giấy tờ. “Armand” nàng gọi gã bằng một giọng lẽ ra phải khiến gã đau nhói, nếu gã là một con người. Nhưng gã không để ý. “Armand” nàng lại gọi. Rồi nàng đứng lên và lảo đảo bước về phía gã. Nàng nắm chặt cánh ta gã, hổn hển lần nữa, “Armand, anh nhìn con của chúng ta đi. Điều này có nghĩa gì? Nói cho em đi” Gã lạnh lùng nhưng nhẹ nhàng gỡ những ngón tay nàng khỏi cánh tay gã, hất bàn tay nàng ra. “Nói cho em biết điều ấy có nghĩa là gì,” nàng gào lên tuyệt vọng. “Nó có nghĩa là,” gã trả lời nhẹ nhàng, “đứa bé không phải là da trắng, nó có nghĩa là cô không phải da trắng”. Nhận thức chớp nhoáng về lời kết tội này có ý nghĩa gì đối với nàng đã cho nàng một can đảm phi thường để chối bỏ nó. “Đó là nói dối, không phải sự thật. Em là da trắng, Hãy nhìn tóc em, nó màu nâu, và mắt em màu xám. Armand, anh biết nó màu xám. Và da em trắng,” nàng nắm lấy cổ tay gã, “Hãy nhìn tay em, nó trắng hơn tay anh, Armand,” nàng cười điên dại. “Trắng như bọn La Blanche,” gã trở lại dữ dằn, và bỏ đi để mặc nàng một mình với dứa con của hai người. Khi đã có thể cầm được một cây bút trong tay, nàng gửi một bức thư tuyệt vọng cho Madame Valmonde. “Má ơi, họ bảo rằng con không phải là da trắng. Armand đã nói với con rằng con không phải da trắng. Vì Chúa má hãy nói với họ rằng điều đó không đúng đi. Chắc chắn má phải biết rằng điều đó không đúng. Con sẽ chết. Con phải chết. Con không thể đau đớn đến thế, mà vẫn sống.” Thư trả lời đến, ngắn gọn “Desiree con yêu của má: Về nhà đi, về với Valmonde; về với má của con luôn yêu con. Đưa con của con về.” Khi lá thư đến tay Desiree nàng cầm nó sang phòng làm việc của chồng, đặt nó mở trên bàn làm việc nơi gã vẫn ngồi. Nàng trông giống như một tượng đá: im lặng, trắng toát, bất động sau khi nàng dặt nó ở đấy.

5.

Gã im lặng lướt mắt qua những dòng chữ viết. Gã không nói gì. “Em phải đi à, anh Armand?” nàng hỏi với giọng sắc nhọn trong chờ đợi đau đớn. “Phải. Đi.” “Anh muốn em đi à?” “Phải. Tôi muốn cô đi.” Gã nghĩ Đức Chúa Toàn năng đã xử độc ác và bất công với gã, và dù sao gã cũng đáp trả ngài đúng như thế khi gã đâm một nhát vào linh hồn vợ gã. Hơn nữa gã không còn yêu vợ nữa vì vết thương vô thức nàng đã gây ra cho nhà gã và tên tuổi gã. Nàng quay đi như bị giáng một đòn choáng váng, bước chậm chạp về phía của, hi vọng gã có thể gọi nàng quay lại. “Tạm biệt, Armand,” nàng nức nở. Gã không tra lời. Đó là đòn cuối cùng của gã giáng vào số phận nàng. Desiree đi tìm con nàng. Zandrine đang bế nó đi dọc hành lang mờ tối. Nàng đỡ lấy đứa con từ tay nguòi vú mà không lời giải thích, rồi bước xuống các bậc tam cấp, bước đi dưới những cành cây sồi sống. Đó là một buổi chiều tháng Mười, mặt trời vừa lặn. Trên những cánh đồng lặng lẽ những người da đen đang hái bông. Desiree chưa thay bộ quần áo trắng mỏng và đôi dep nàng đang đi. Nàng để đầu trần và những tia mặt trời rọi một ánh vàng lên mái tóc màu nâu của nàng. Nàng không đi theo con đường lớn bằng đất nện dẫn đến đồn điền ở xa của Valmonde. Nàng bước qua cánh đồng hoang nơi những gốc rạ sắc cứa bàn chân thanh mảnh của nàng, và xé toạc váy nàng. Nàng mất hút trong đám sậy và liễu mọc dày dọc hai bên bờ nhánh sông sâu lờ đờ chảy, và nàng không xuất hiện trở lại.

Vài tuần sau, một cảnh tượng quái đản diễn ra ở L’Abri. Ở giữa một sân sau được quét dọn sạch sẽ có một đống lửa lớn. Armand Aubigny ngồi trong một hành lang rộng nhìn bao quát toàn bộ quang cảnh; chính gã phân phát cho một đám nửa tá da đen những vật liệu giữ cho ngọn lửa cháy sáng. Một chiếc nôi xinh xắn đan bằng cành liễu được trang trí thanh nhã đặt trên giàn thiêu ấy, bên trong chất đầy những tã lót đắt tiền. Rồi có những áo dài lụa, nhung và xa tanh, người ta bỏ thêm vào đó cả đăng ten, đồ thêu; những mũ và găng tay phụ nữ, vì giỏ đồ sinh lễ ấy thuộc loại thượng hảo hạng.

6.

Món đồ cuối cùng phải thiêu là bó nhỏ những lá thư, những nét chữ ngây thơ vô tội mà Desiree gửi cho gã trong những ngày vợ chồng nồng ấm. Dưới đáy cái ngăn kéo mà gã lấy bó thư này ra, có một tàn tích nữa. Nhưng đó không phải của Desiree, nó là một phần thư từ mà mẹ gã gửi cho cha gã. Gã đọc. Bà cảm ơn Chúa vì tình yêu của người chồng là phúc lành mà Chúa ban cho bà – “Nhưng trên hết mọi điều,” bà viết, “ngày và đêm em cảm ơn Chúa đã sắp xếp cuộc sống của chúng ta để Armand thân yêu sẽ không bao giờ biết rằng mẹ nó, người hết lòng thương yêu nó, thuộc về một chủng tộc chịu số phận khốn khổ phải mang cái nhãn nô lệ.”

10.11.2025

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

( Nguyên tác : Un dolce sogno d’autunno)

  Bản dịch của Trương Văn Dân

.

Tất cả trắng toát và lạnh lẽo xung quanh tôi. 

Những bức tường  trắng và ngay cả thành giường bằng thép để tôi khỏi ngã.

            Có lẽ vì thế mà tôi rất thích cái cây phong nằm bên ngoài cửa sổ, vật duy nhất cho tôi hay là thời gian vẫn đang trôi. Bên ngoài mọi thứ đang đổi mới và đổi thay.

Có một điều gì đó cũng đang thay đổi trong tôi, nhưng từ từ…chậm rãi, không đau đớn.

Tôi nhớ là khi mình vừa mới đến, căn phòng liền ngập đầy bác sĩ và y tá; tất cả đều rộn ràng chuẩn bị để tấn công căn bệnh một cách quyết liệt, không khoan nhượng.

Nhưng thực ra là cuộc chiến không khoan nhượng đó đang nhắm vào tôi… Không ai hỏi tôi muốn gì. Họ đến vào buổi sáng, viết lên bệnh án cái gì đó, bảo y tá truyền nước biển cho tôi, rồi đi.

Ngày hôm sau cũng thế. Mà thực ra tôi có gì khác nữa đâu để mà chọn lựa.

Từ mấy hôm nay có một người nào đó đến vào buổi sáng… sau đó thì tôi ngủ. Tôi ngủ càng lúc càng nhiều và tôi không thích điều đó.

Không thích vì tôi muốn tưởng tượng hay nhớ về một điều gì, nhưng tôi lại nằm mơ.

Tôi mơ thấy mình bơi lội trong làn nước biển xanh trong mát mẻ, có những tia nắng vàng phản chiếu với những giọt nước mặn trên làn da sạm nắng. Tôi mơ thấy mình đi xe đạp ở miền quê, giữa những cánh đồng lúa xanh rì.

Tôi mơ nhiều thứ, mà rồi khi thức giấc, đôi mắt chỉ nhìn thấy bức tường trắng trước mặt.

Thế là tôi xoay người hướng về phía cửa sổ và nhìn thấy bạn tôi. Đó là người duy nhất có thể hiểu những gì mà tôi cảm nhận. Tôi quan sát đôi bướm đang bay lượn như hai kẻ yêu nhau đang nhảy điệu luân vũ xung quanh bạn ấy. Đúng rồi, tôi muốn mơ thấy mình nhảy múa. Tôi muốn mơ thấy mình ôm hôn một ai đó, say đắm chứ không phải phớt qua như các bạn ở trường. Tôi muốn yêu, dù cũng chẳng biết thế nào là tình yêu. Tôi đã không có thời gian và chắc cũng sẽ không bao giờ có.

Những bác sĩ bước vào phòng tôi, càng ngày họ càng dừng lại ít thời gian, gần như là tôi có thể làm họ bị nhiễm hoặc có khi họ nghĩ, nếu không nhìn thấy tôi  thì cũng giống như chẳng gặp phải vấn đề.

Tôi là một vấn đề! Điều mà không ai có thể chấp nhận. Nếu chết già là một niềm hy vọng thì cái chết của tôi khi chưa tròn 16 tuổi là một sự thật tàn nhẫn, không thể nào chấp nhận.

Nhưng có lẽ nhiều người không hiểu rằng tôi không hề sợ sệt. Người ta có thể dễ dàng chấp nhận khi biết mình sẽ chết. Chỉ khi nào còn hy vọng sống mới làm người ta hoảng sợ. Vì để sống, cần phải phấn đấu, một cách tuyệt vọng và liên tục. Còn tôi thì không muốn phấn đấu nữa rồi.

Tình cảm duy nhất có trong tôi chỉ là  sự cay đắng, bởi vì đối với tôi đáng lý phải là mùa xuân, mùa của hoa hồng, của tình yêu đầu đời, của những điều vô tư và hồn nhiên nhưng thay vào đó chỉ là một cuộc tăng tốc để sớm vào đông. Tôi đã nhìn thấy những chiếc lá nhiều màu trên cành của bạn tôi. Hằng ngày tôi nhìn những chiếc lá thay đổi màu sắc dưới ánh nắng mặt trời càng ngày càng nhạt, hay có khi sáng bóng sau cơn mưa hoặc khẽ lay động vì những cơn gió càng lúc càng lạnh dần.

Lạnh lẽo và băng giá như căn phòng mà họ đang bỏ mặc tôi, một mình.

Bây giờ thì tôi mệt lắm, chỉ muốn ngủ, và mơ.

Mơ thấy mình đang ôm và siết chặt trong vòng tay một đứa bé, rồi đong đưa nó. Mơ thấy mình cẩn thận nắm tay bé, dạy bé chập chững bước đi, từng bước, từng bước hướng về phía cuộc sống.

Mơ thấy mình nằm, ngước mặt lên, nhìn thấy một bầy chim én bay lượn giữa bầu trời ấm áp, xoay tròn trên đỉnh đầu, miệng kêu ríu rít như thể muốn mời tôi nhập bọn, bay theo chúng  trong cuộc hành trình.

Mơ thấy mình nằm dài trên một đống lá khô giòn, những chiếc lá phong của ông bạn ngoài kia, đủ màu sắc từ vàng, đỏ tươi, chuyển sang tím… rồi cuốn người lăn tròn cho đến khi mỏi mệt và nằm dài dưới bóng cây có những cành trơ trọi nhưng luôn sống động.

Nếu có ai đó hỏi thì tôi sẽ trả lời rằng mình chỉ muốn nằm nghỉ dưới bóng của bạn mà thôi. Người duy nhất hiểu được những nỗi sợ hãi của mình. Người duy nhất đã không bỏ rơi tôi.

Có lẽ đấy là cái cách mà tôi sống lại.

            Như thế tôi mơ là mình không thể chết.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »