Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Lê Trọng Nghĩa’

Lê Trọng Nghĩa 

.

Tôi cũng đã đi qua một phần đời đắm sâu với thơ và chữ nghĩa. Nhưng ở đây, tôi chỉ có thể nói từ chỗ của mình, chỗ của một người làm nghệ thuật thị giác. Tôi không muốn định nghĩa thay nhà văn. Càng không muốn đứng ngoài mà phán quyết văn chương phải là gì, nên là gì, hay được phép dùng công cụ nào. Tôi chỉ muốn nhìn câu chuyện hôm nay bằng kinh nghiệm của thân thể, của xưởng, của vật liệu, và của những biến động mà nghệ thuật tạo hình từng đi qua.

Tôi từng tin phẩm giá của điêu khắc nằm ở mồ hôi đổ xuống vật liệu. Nằm ở những ngày đứng lì trước đá, trước gỗ, trước sắt thép. Nằm ở việc học nghe tiếng thớ gỗ, độ câm lặng của đá, mùi khét của mối hàn như một phần kéo dài của cơ thể mình. Tôi từng nghĩ chính sự vật lộn trực tiếp ấy mới làm nên tư cách của người làm điêu khắc. Rằng phải có tay, có sức, có va đập, có bụi, có lửa, có những sai lệch rất nhỏ của cơ thể in lên bề mặt vật chất, thì hình khối mới thật sự mang linh hồn của người làm ra nó.

Bởi vậy, khi công nghệ số và in 3D bắt đầu đi vào xưởng, tôi không thể nói mình không bị chạm tự ái. Tôi biết có những nhà điêu khắc ngày nay không còn trực tiếp chạm vào vật liệu theo cách cũ. Họ phác thảo, dựng hình trên máy, thử nhiều phiên bản, chọn một phương án, rồi giao phần thi công cho bàn tay khác. Đứng trước điều ấy, tôi buộc phải tự hỏi, nếu máy có thể gánh bớt phần thi công, nếu bàn tay không còn là nơi duy nhất quyết định hình khối, vậy thì phần phẩm giá mà tôi từng ký thác vào mồ hôi, vào sức tay, vào sự chịu đựng vật liệu ấy nằm ở đâu.

Phải mất một thời gian tôi mới nghĩ khác đi. Tôi nhớ lại khoảng ba mươi năm trước, khi nghệ thuật sắp đặt và nghệ thuật ý niệm vừa ló vào đời sống mỹ thuật Việt Nam. Khi ấy, không ít họa sĩ gạo cội đã mỉa mai khá nặng lời. Đó mà cũng là nghệ thuật sao, chẳng qua là trò bày biện của những người không biết vẽ. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy mỗi lần nghệ thuật bị chạm bởi một hình thức mới, một công cụ mới, hay một quan niệm mới, phản ứng đầu tiên thường vẫn là thế. Người ta nghi ngờ, chế giễu, phủ nhận. Không hẳn chỉ vì cái mới dở, mà còn vì cái cũ trong mình đang bị lung lay.

Đi qua một quãng như thế, tôi mới hiểu rằng mồ hôi của điêu khắc không chỉ nằm trên bề mặt vật liệu. Nó còn nằm trong những đêm thức trắng với bản vẽ, trong những lần xóa đi làm lại, trong sự do dự kéo dài trước một quyết định cuối cùng. Có những thứ người ngoài không thấy. Nhưng người làm nghề biết. Công cụ có thể hỗ trợ bàn tay, nhưng không thể quyết định thay cái nhìn.

Vì thế, không thể chỉ vài câu lệnh rồi đem ra in 3D, hoặc thuê người khác đúc hợp kim, đục đẽo, triển khai, mà thành một tác phẩm điêu khắc. Cái hiện ra trước mắt có thể là một vật thể tạm ổn, một hình thức đủ chỉn chu để đứng đó. Nhưng tác phẩm nghệ thuật không chỉ là một hình thức đẹp được làm ra. Nó còn phải mang dấu vết của một tiến trình, gần như một câu chuyện dài của người nghệ sĩ với vật liệu và hình khối ấy. Nó phải là thứ đã đi qua thời gian, lao động, những lần sai, những lần bỏ, những lần quay lại, những lần tự bác bỏ chính mình để đi tới một quyết định sau cùng.

Bởi vậy, tôi không còn nghĩ giá trị chỉ nằm ở chỗ thủ công hay máy móc. Thủ công tự nó không bảo đảm chiều sâu. Máy móc tự nó cũng không triệt tiêu giá trị. Bởi rất có thể người nghệ sĩ đã đổ xuống đó một quãng mồ hôi rất dài từ trước khi chạm vào máy móc. Điều đáng nói là một hình khối có thực sự đi qua thời gian của suy nghĩ, của lựa chọn, của mồ hôi hay không. Dù là thủ công hay qua công cụ, thứ gì đã thật sự đi qua thời gian và lao động của một ý thức sống, thứ đó vẫn có thể có giá trị.

Trong lịch sử nghệ thuật tạo hình, trước khi máy ảnh ra đời, hội họa hiện thực từng gắn chặt phẩm giá của mình với khả năng tái hiện thế giới. Danh giá của người họa sĩ được chứng thực qua bàn tay mô tả giống thực. Khi máy ảnh xuất hiện, cú sốc không chỉ là kỹ thuật. Với một phần giới họa sĩ, đó còn là một sự xúc phạm tinh thần đau đớn. Điều họ mất hàng chục năm khổ luyện, từ hình họa, giải phẫu đến viễn cận, một chiếc máy lại có thể làm trong một cú bấm. Và đi cùng cú sốc ấy, không ít phản ứng mang màu sắc đạo lý cũng xuất hiện. Tranh mới là nghệ thuật. Ảnh chỉ là cơ khí. Hội họa mới có linh hồn. Máy ảnh chỉ sao chép.

Nhưng lịch sử không đi theo cách đơn giản như thế. Máy ảnh không giết chết hội họa. Nó chỉ lấy khỏi hội họa một đặc quyền cũ, và cũng vì vậy buộc hội họa phải đi tìm một phẩm giá sâu hơn. Monet không còn chỉ vẽ sự vật, ông vẽ ánh sáng đang đổi trên sự vật. Van Gogh không giữ hình thể trong trạng thái cân bằng, ông để phong cảnh và đồ vật rung lên theo cường độ nội tâm. Cézanne bắt đầu dựng lại thế giới bằng tương quan hình khối và mặt phẳng màu, như thể hội họa không còn sao chép cái thấy mà đang nghĩ lại chính cách nhìn. Điều máy ảnh gây ra không phải cái chết của hội họa, mà là một cuộc đau buộc nó phải rời khỏi chỗ trú cũ.

Từ kinh nghiệm ấy, tôi nhìn sang văn chương hôm nay với một cảm giác vừa dè dặt vừa chia sẻ. Dè dặt vì tôi không đau theo cách của những người đã định danh đời mình bằng con chữ, bằng nghề viết. Tôi không sống trọn số phận mình trong ngôn ngữ như họ. Nhưng tôi vẫn chia sẻ, vì tôi nhận ra ở đó những tương đồng sâu sắc với cú chấn động mà nghệ thuật tạo hình đã từng đi qua, khi một công cụ mới chạm tới phần mà người làm nghề từng tin là đặc quyền sâu nhất của mình.

Quanh câu chuyện AI, giới văn chương đang có nhiều phản ứng rất mạnh. Có người khước từ ngay từ đầu. Có người đón nhận một cách dè chừng. Có người rất nhanh đã dùng nó để sản xuất tác phẩm, đem đi dự thi, thậm chí giành giải thưởng. Có người xem việc dùng AI như một sự phản bội. Có người cho rằng một khi máy đã can dự, con chữ không còn thuần khiết nữa. Và rồi người ta mải miết soi xem trong một sáng tác có AI hay không, từ đó mà tranh cãi, mà kết án nhau.

Tôi không đứng về phía cực đoan nào, cũng không thần thánh hóa công nghệ. Tôi chỉ thấy rằng khi một năng lực từng rất hiếm bỗng bị san phẳng, điều bị lung lay không chỉ là kỹ năng, mà là niềm tin rằng mình có chỗ đứng vì mình đã đi qua một con đường khó. Nếu đặt mình vào chỗ của một người đã sống hàng chục năm bằng chữ, đã đổ vào câu văn toàn bộ tự trọng nghề nghiệp, cô độc, kiên nhẫn, và cả phần đời riêng khó nói, thì cú chạm này hẳn không hề nhẹ. Có khi nó còn rất cay đắng và bẽ bàng. Tôi nghĩ điều đó dễ hiểu. Bị chạm vào chỗ từng xem là thiêng thì khó ai bình tĩnh được. Đằng sau nhiều lời phủ nhận gay gắt, đôi khi không chỉ là một lập trường thẩm mỹ, mà còn là nỗi đau của một căn cước, thậm chí một bản thể, đang bị chạm tới.

Nhìn từ nghệ thuật tạo hình, tôi nghĩ biến cố này đối với nhà văn có khi còn đau đớn hơn. Bởi cái bị chạm tới ở đây không chỉ là một kỹ thuật hay một thao tác, mà là chính vùng người ta từng xem như nơi trú ngụ sâu nhất của mình. Nhưng cũng như máy ảnh đã không biến mất vì họa sĩ phẫn nộ, in 3D đã không biến mất vì người làm điêu khắc thấy mình bị xúc phạm, AI có lẽ rồi cũng vậy. Công nghệ không lùi lại chỉ vì lòng tự trọng của người làm nghề bị tổn thương.

Thừa nhận thực tại ấy, tuy nhiên, không có nghĩa là dễ dãi thừa nhận giá trị nghệ thuật của mọi thứ công nghệ làm ra. Tôi không tin có thứ văn chương nào chỉ sinh ra từ vài câu lệnh. Nhưng cũng sẽ có thứ văn chương mà người viết đã dằn vặt rất lâu, đã tiêu tốn thời gian, đã đổ mồ hôi ngay trong những thao tác tưởng như lạnh của máy. Bởi vậy, nếu chỉ neo toàn bộ phẩm giá của mình vào một hình thức lao động cũ, nghệ sĩ rất dễ bị đẩy vào một phẫn nộ kéo dài. Điều ấy có thể hiểu được, nhưng có lẽ không đủ để cứu nghệ thuật. Phẫn nộ kéo dài hiếm khi sinh ra giá trị mới. Phần nhiều, nó chỉ sinh ra cay đắng.

Chữ nghĩa rồi đây có thể sẽ đi vào một tình thế giống hình ảnh sau nhiếp ảnh, nghĩa là trở nên tràn ngập. Chính sự tràn ngập ấy sẽ khiến việc nhận ra giá trị thật trở nên khó hơn, và vì thế cái thực sự có giá trị càng hiếm hơn. Khi việc tạo ra văn bản ngày càng dễ dàng, phương tiện tự nó sẽ không còn bảo chứng cho bất cứ phẩm giá nào nữa. Phẩm giá không nằm sẵn trong chữ. Nó chỉ xuất hiện khi chữ nghĩa ấy đi qua một ý thức sống, một nhãn quan, một lựa chọn có trách nhiệm.

Trong một thế giới ngôn ngữ tràn ngập như thế, có lẽ sự đọc và sự chọn sẽ dần trở nên quan trọng không kém sự viết. Người viết khi ấy có lẽ không chỉ còn là người tạo ra câu chữ, mà còn là người biết giữ lại gì, lược bỏ gì, đặt nó vào đâu, và dừng ở đâu để một hình thức thật sự có trọng lượng. Nhưng sự chọn ấy chỉ có ý nghĩa khi nó đi ra từ một kinh nghiệm sống, một ý thức thẩm mỹ và một trách nhiệm tinh thần thật, chứ không phải chỉ từ sự tiện lợi của việc có sẵn chữ nghĩa sau vài câu lệnh. Theo nghĩa đó, một phần công việc của người viết có khi sẽ gần với công việc của nghệ sĩ nhiếp ảnh hay nghệ sĩ sắp đặt hơn. Không chỉ làm ra, mà còn phải chọn, đặt, cắt, giữ, và chịu trách nhiệm đến cùng với hình thức sau cùng mình đưa vào thế giới.

Từ tư cách một người làm nghệ thuật thị giác, tôi chỉ có thể nghiêng về một suy nghĩ như thế khi nhìn sang văn chương. Bảo vệ sự thuần khiết trong sáng tạo là một phẩm chất đẹp. Nhưng tự nó, phẩm chất ấy vẫn chưa đủ để làm nên giá trị của tác phẩm. Rồi cũng sẽ đến lúc người ta phải đặt tác phẩm của mình bên cạnh những tác phẩm có sự can dự của công nghệ mà tự hỏi, điều gì ở đây mới thật sự đáng kể. Điều đáng bảo vệ nhất có lẽ không phải là sự thuần khiết mang tính nghi lễ của thao tác, mà là sự hiện diện không thể thay thế của chủ thể. Cái giả, nếu có, có lẽ không nằm đơn giản ở việc dùng hay không dùng công cụ, mà ở sự vắng mặt của một ý thức sống, ở chỗ chủ thể rút lui và để cho công cụ chiếm lĩnh phần nhìn, phần nghĩ và phần lựa chọn vốn làm nên chiều sâu của hành vi sáng tạo.

Người ta hay nói chữ là máu thịt. Tôi nghĩ mỗi người viết sẽ tự biết máu thịt ấy nằm ở đâu. Nhưng từ phía mình, tôi hiểu một điều tương tự trong điêu khắc. Mồ hôi không chỉ nằm trên vật liệu, mà còn nằm trong những đêm trắng với bản vẽ, trong những do dự kéo dài, trong cảm giác phải đi tới hình thức ấy mà không thể khác. Nếu văn chương cũng có một thứ mồ hôi như vậy, thì tôi nghĩ nó hẳn không chỉ nằm ở thao tác gõ từng chữ, mà còn nằm trong quãng đường nội tâm dẫn người ta đến chỗ phải viết.

Có lẽ AI đang gây ra một cuộc đau không nhỏ trong văn chương, buộc văn chương phải tự định nghĩa lại mình và đi vào phần sâu hơn của chính nó, đồng thời khiến con người bớt đi những ảo tưởng về các giá trị mà trước đó họ từng nghĩ là bất biến.

Nói tới đây, tôi lại nghĩ đến Duchamp. Cái quyết liệt ở ông không nằm ở chuyện mang một cái bồn tiểu đặt vào không gian nghệ thuật, mà ở chỗ ông dám đặt lại tận gốc những câu hỏi. Nghệ thuật là gì, tác phẩm là gì, và ai có quyền quyết định giá trị của nó. Ông không chỉ gạt bỏ một vài tiêu chuẩn thẩm mỹ cũ, mà còn làm lung lay cả nền tảng từng chống đỡ cho chúng.

Tôi nghĩ văn chương rồi cũng sẽ phải đi qua một thử thách như thế. Và biết đâu trong những năm tới, văn chương cũng sẽ cần một “Duchamp” của riêng mình, không phải để phủ nhận ngôn ngữ, mà để buộc văn chương quay lại hỏi điều gì trong nó mới thật sự là cốt lõi cuối cùng. Khi kỹ thuật câu chữ không còn là nơi trú ẩn an toàn, cái gì sẽ còn lại? Giọng nói, lựa chọn, ý thức, trách nhiệm, hay một cách hiện diện khác của con người trong văn bản.

Rồi có thể sẽ đến lúc người ta bớt dừng lại ở chuyện tác phẩm có AI hay không, để quay về câu hỏi cốt lõi hơn là tác phẩm ấy có bao nhiêu độ sống, độ nhìn và sức nặng tinh thần. Ít nhất, lịch sử nghệ thuật cho thấy rằng sau những cú sốc ban đầu, câu hỏi quyết định thường không dừng ở công cụ, mà quay về tác phẩm, xem nó thực sự mang vào thế giới được điều gì.

Mồ hôi đáng quý, bàn tay đáng quý, thao tác đáng quý. Nhưng cái làm nên phẩm giá sâu nhất của nghệ thuật có lẽ không chỉ là dấu vết của lao động trên bề mặt tác phẩm. Nó còn là cái giá tinh thần mà một con người đã trả để đi tới quyết định cuối cùng. Công cụ có thể giúp ta làm nhanh hơn. Nhưng không công cụ nào có thể sống thay phần ấy.

Và có lẽ, trong mọi nghệ thuật, đó vẫn là nơi khó bị thay thế nhất.

Read Full Post »

Lê Trọng Nghĩa 

.

Tôi từng cư trú

trong một hình dáng không có tên

không phải người

không phải gió

nhưng biết cào xước tâm trí tôi bằng những vuốt ve mộng mị.

.

Nó không đến qua cửa

mà mọc trong xương

thở bằng nhịp thở của những điều chưa từng nói

tôi đã sống vì nó

giống như một ngọn nến biết ơn đêm.

.

Giờ đây

cái hình dáng ấy

đã rơi mất ký ức về tôi

sống nhẹ

như chưa từng giữ một cơn đau trong lồng ngực.

.

Mọi thứ vẫn còn

ghế, rèm, và tôi

nhưng không còn là tôi nữa

tôi viết một câu

nó đứng đó

như thân thể chưa từng có bóng trong ánh sáng.

.

Tôi đọc một bài thơ

của một người từng chạm vào cùng một vầng soi rọi như tôi…

cố tìm mình trong đó

dù chỉ một giọt

một buổi sáng vỡ ra hình dáng cũ

một mảnh tên rơi lại giữa khoảng lặng.

.

Nhưng không

không một lời gọi

không một hình dung, dù là sai

không một giọt nhớ nhỏ rơi về phía tôi như từng rơi.

.

Tôi không tôi.

Tôi ngồi nhìn bóng mình in lên mặt hồ lạnh

cái bóng không chớp mắt

không phản chiếu đau.

Mùa đã tự tử

bằng cách xóa tôi khỏi giấc nhớ

và tôi

chỉ còn lại

những vệt đen cựa động chưa kịp tan.

Có thể là tác phẩm nghệ thuật về 1 người

Tất cả cảm xúc:

Read Full Post »

Những vệt đen biết thở

Lê Trọng Nghĩa

“Có những vết nứt không bao giờ là vết thương. Chúng là cánh cửa, là ký ức, là tiếng thở nhỏ nhoi của điều đã sống – và chưa từng được gọi tên.”

Những vệt đen biết thở - ảnh 1

Tôi đặt tay lên bức tường đá của ngôi tháp cổ. Đá lạnh, nhưng đó không phải cái lạnh của vật chất, mà là cái lạnh của thời gian – của những thế kỷ đã trôi qua, lặng lẽ đọng lại trong từng thớ gạch, từng khe nứt, từng đường vân bị bào mòn. Ngón tay tôi như chạm vào một tầng ký ức đã hóa thể, kết tinh thành im lặng.

Giữa khe nứt mảnh như vết dao khắc vào da thịt đất đá, có một vệt đen. Nó không đứng yên. Tôi cảm nhận nó đang chuyển động, như dòng chảy vô hình, ẩn mình dưới lớp thời gian.

Vệt đen ấy bò quanh mép gạch, men theo rãnh đá, rồi lẩn khuất vào những chùm rêu lặng lẽ bám bên tường. Dưới ánh sáng xiên qua tán cây già, vệt đen ấy bỗng lóng lánh, không rực rỡ mà nhức nhối – như ánh nhìn cuối cùng của một người sắp rời đi.

Tôi nghĩ về một vương triều đã sụp đổ – Chămpa, những thành quách nhuốm màu đất đỏ, những vì thần và những câu chuyện tình yêu bỏ quên trong tro bụi.

Có thể, nơi này từng có một người con gái Chăm đi chân trần trên bậc thềm đá lạnh, tay ôm đàn đá, mắt ngóng về cánh rừng, chờ một người không bao giờ trở lại.

Khi chiến mã kéo về chân tháp, khi lửa thiêu sáng cả triều đại, tình yêu ấy vẫn còn, nhỏ như hạt bụi, nhưng bền bỉ như vết đen kia – không bao giờ biến mất.

Tôi đứng đó, giữa tàn tích im lặng, thấy vệt đen ấy như một sinh thể đang sống – một dòng mực ký ức chảy ngang qua lịch sử, viết tiếp những điều chưa từng được gọi tên.

Những vệt đen ngoằn ngoèo quanh các hốc gạch, rồi hòa mình trong những rễ cây, len lỏi xuống lòng đá, như dòng suối ngầm không bao giờ cạn. Không ai thực sự thấy chúng, nhưng ai cũng đã từng cảm nhận được sự có mặt của chúng, như tiếng thì thầm trong lòng, rất khẽ, nhưng không thể làm ngơ.

Những vệt đen biết thở - ảnh 2

Bầu trời phía trên vòm tháp như cũng trĩu nặng. Một cánh chim thần từ cánh tháp bất ngờ xao xác lướt qua, không phải âm thanh của cánh bay, mà là tiếng chạm mỏng tang giữa trời và ký ức. Âm thanh ấy làm không gian chao đảo, để lại dư vang như sợi chỉ vô hình nối liền quá khứ và hiện tại, giữa linh hồn và hình thể.

Ở góc tường, những ngón tay của phù điêu cổ vươn lên, động đậy dưới ánh chiều tà – như cố níu lấy điều gì đang tan ra. Tôi nghe tiếng gió rít qua các vòm trống, như tiếng Shiva vừa thức giấc.

Em – không rõ từ đâu đến – đứng bên tôi, ánh nhìn mờ xa như đã qua nhiều kiếp. Tôi chạm tay em, chỉ chạm vào lớp khói mỏng, thơm hương trầm. Em là hiện thân của những người từng yêu trong im lặng, từng đợi trong mù sương, từng tan vào đá.

Tôi cảm nhận như từ sâu trong lòng tháp có một trái tim già nua, nứt chảy ra những vệt đen – không phải của nỗi buồn, mà là dấu ấn của những câu chuyện chưa kể, những khát khao chưa được thấu hiểu.

Tình yêu trong tôi lúc đó không có tên, không có lời hứa, nhưng có hình: hình một vệt đen lặng lẽ bám vào tường đá cổ. Tôi không biết tình yêu ấy bắt đầu từ ai, kết thúc ở đâu, nhưng nó tồn tại – không cần người chứng, không cần lễ nghi.

Nó là thứ âm nhạc không vang thành tiếng, chỉ rung lên trong lồng ngực mỗi khi ta chạm vào một điều từng thiêng liêng.

Tường đá lúc này không còn là vật thể. Nó là bản nhạc chưa có người diễn. Mỗi vết nứt, mỗi vệt đen là một dòng ký âm trầm. Khi ánh sáng tan qua lớp rêu, tôi nhìn thấy: không chỉ là vết sẹo thời gian, mà là linh hồn còn đọng lại. Và trên những vệt rêu lóng lánh bất chợt nhìn thấy những đóa hoa xanh bung nở.

Tôi áp tay vào đá lần nữa, không để tìm hiểu, mà để im lặng cùng. Và trong sự im lặng ấy, tôi nghe được một nhịp thở, không phải từ ngôi đền, mà từ bên trong chính tôi.

Một phần sâu xa mà tôi đã từng đánh mất – giờ đây, đang trở về, cùng với em, cùng những vệt đen lóng lánh trên nền cổ xưa.

Chúng tôi, và tình yêu ấy, đã hòa vào mênh mông.

Read Full Post »

.Lê Trọng Nghĩa

Tôi là bóng mờ

Lạc giữa khe hở đất và mây

Những cung đường quanh co Tây Bắc.

.

Rừng núi không chỉ là đất

Không chỉ là đá, hay cây

Mà là hình hài tuổi đôi mươi

Vùi trong công trình, bom đạn.

.

Những linh hồn khuất đâu đó trong sương

Mang ước mơ chưa chạm tới

Chúng ta tìm, nhưng chẳng thấy.

.

Cánh hoa ban thở hơi thở những tầng sâu

Mang lời thì thầm của cha ông.

Hoa không chỉ là hoa

Mà là ký ức vỡ vụn bay trong gió

Im lặng, không nở, không tàn.

.

Tôi vớt ngụm sương từ ngực núi

Gói vào cơn lạnh phố hoa ban

Không phải để giữ, mà để thấu hiểu

Vì sao những mảnh vụn lại đẹp đến vậy.

.

Và tôi, như cánh hoa ấy

Lặng lẽ trôi giữa Tây Bắc vắng lặng

Chỉ tìm thấy mình, bồng bềnh trong mất mát.

Read Full Post »

Lê Trọng Nghĩa

.

Một buổi chiều yên ả, tôi ngồi trước giá vẽ, tay cầm bút cọ, cảm nhận sự tĩnh lặng của không gian xung quanh. Ánh sáng nhạt nhòa từ ô cửa sổ len lỏi qua rèm, chiếu vào bể cá, tạo nên những vệt sáng lấp lánh trên mặt nước. Trong góc phòng, con mèo ngồi im lặng, đôi mắt vàng chăm chú dõi theo những chú cá lượn lờ. Chúng tự do bơi lội, không hề hay biết về ánh mắt đầy khao khát từ phía sau tấm kính. Con mèo như bị mắc kẹt giữa bản năng săn mồi và thực tại không thể vươn tới, đôi chân của nó cứng đờ trước rào cản vô hình.

Khung cảnh ấy khiến tôi liên tưởng đến bức tranh The Listening Room của René Magritte, nơi một quả táo khổng lồ bị giam cầm trong không gian chật hẹp. Quả táo, tuy chiếm trọn căn phòng, lại bị giam cầm bởi sự hiện diện của chính nó. Cũng như con mèo, nó cảm nhận sự gần gũi nhưng xa vời, giữa khao khát và thực tại. Chúng ta cũng vậy, nhiều lúc nhìn thấy những điều mong muốn ngay trước mắt, nhưng không bao giờ thực sự chạm tới.

Giữa sự tĩnh lặng, tiếng chim hót bất ngờ vang lên từ ngoài cửa sổ. Âm thanh ấy vang xa, không bị bất kỳ giới hạn nào ngăn cản. Nó làm tôi nhớ đến Twittering Machine của Paul Klee, những con chim cơ học phát ra âm thanh mỏng manh nhưng không bao giờ dứt, như tiếng vọng của khát vọng tự do. Tiếng chim hót ngoài kia cũng thế -biểu tượng cho một tự do không bị giam cầm, vượt qua mọi rào cản.

Trong không gian ấy, tôi vẫn ngồi vẽ, từng nét cọ trôi đi theo cảm xúc. Con mèo không ngừng dõi theo những chú cá, nhưng tiếng chim vang vọng lại khiến tôi nghĩ đến một sự tự do khác. Tiếng chim, không bị cản trở bởi tấm kính nào, là biểu tượng của sự tự do thực sự – một tự do mà con mèo, dù có cố gắng đến đâu, cũng không bao giờ đạt được. Con cá bơi lội trong bể của nó, con mèo có thể ngắm nhìn, nhưng chỉ có tiếng chim là hoàn toàn tự do – vượt qua mọi giới hạn của không gian.

Điều này khiến tôi nhớ đến Room in New York của Edward Hopper, nơi khoảng cách giữa những con người trong cùng một không gian tạo nên sự cô đơn vô hình. Cũng như giữa con mèo và bể cá, một tấm kính trong suốt nhưng không thể phá vỡ ngăn cách giữa khao khát và thực tại. Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta cũng thường giống như con mèo, bị giam cầm sau tấm kính của những kỳ vọng, định kiến xã hội, và những giới hạn mà chính chúng ta tự đặt ra. Chúng ta nhìn thấy những gì mình khao khát, nhưng liệu có bao giờ thực sự chạm đến?

Salvador Dalí, trong The Elephants, đã vẽ những con voi khổng lồ đứng trên đôi chân mảnh khảnh đến nực cười. Cũng như sự tự do mà chúng ta tưởng mình có trong cuộc sống, mọi thứ đều mong manh và dễ vỡ. Con mèo trong căn phòng này, dù có cố gắng thế nào, vẫn không thể vượt qua tấm kính mỏng manh để chạm vào thế giới của những chú cá, giống như chúng ta khao khát một điều gì đó nhưng lại bị ngăn cách bởi những giới hạn vô hình của cuộc đời.

Trong cuộc sống, có bao nhiêu lần chúng ta tưởng chừng đã gần đạt được điều mình muốn, nhưng rồi lại thấy nó trượt khỏi tay? Mỗi chúng ta đều giống như con mèo, bị mắc kẹt phía sau tấm kính vô hình của mạng xã hội, của kỳ vọng xã hội, và của chính những ước mơ chưa thể chạm tới. Giống như quả táo trong tranh Magritte, chúng ta bị giam cầm trong chính không gian của mình, mặc dù tưởng chừng như mọi thứ đều ở ngay trước mắt. Như trong tranh Hopper, khoảng cách vô hình giữa người và người tạo nên một cảm giác cô đơn không thể diễn tả.

Và rồi, tiếng chim hót lại vang lên, nhắc nhở rằng tự do thực sự không đến từ việc chinh phục những gì ngoài tầm với, mà từ việc chấp nhận và buông bỏ. Tiếng chim ấy nhắc chúng ta rằng có những thứ không thể bị trói buộc, vượt qua mọi rào cản, và khi ta học cách buông bỏ, tự do mới thực sự hiện hữu.

Khi tôi ngồi trước giá vẽ, con mèo vẫn dõi theo những chú cá, căn phòng vẫn tĩnh lặng như lúc ban đầu. Nhưng tiếng chim hót thì vẫn ngân vang, như một lời nhắc nhở về sự tự do không bị giới hạn. René Magritte từng nói: “Mọi thứ chúng ta thấy đều che giấu một điều khác. Chúng ta luôn muốn thấy điều giấu sau cái thấy.” Để nhìn thấy điều ấy, ta phải học cách buông bỏ những gì không thể sở hữu và nhận ra rằng tự do không nằm ở việc kiểm soát, mà ở việc hiểu và chấp nhận.

Người nghệ sĩ trước khung tranh cũng vậy, mang trong mình tinh thần tự do không thua kém gì tiếng chim hót. Bức tranh là khung trời của họ, nơi họ không bị giới hạn bởi bất kỳ tấm kính nào hay bất kỳ quy chuẩn nào. Tự do của người nghệ sĩ không đến từ việc vẽ những điều hoàn hảo, mà từ việc dám vẽ những gì mình cảm nhận, dù là những hình ảnh vặn vẹo hay sắc màu không trọn vẹn. Trong thế giới của khung tranh, họ như tiếng chim ngoài kia – tự do bay xa, vượt qua mọi rào cản, để tạo nên một thế giới mới, nơi không còn giới hạn nào tồn tại.

Read Full Post »

Đời lá là của lá.

Lê Trọng Nghĩa 

.

Có những chiếc lá rơi xuống mà chẳng một lần ngoái lại

Chúng để gió dẫnđường, để trời xanh làm điểm hẹn

Chẳng hỏi: “Mình sẽ đi đâu?”

Chẳng bận lòng về những gì bỏ lại sau lưng.

.

Lá sinh ra để bay

Và khi đến lúc

Lá chỉ đơn giản là buông.

.

Nhưng đâu phải lá nào cũng có một chuyến đi nhẹ nhàng?

Có những chiếc lá bị bão vùi dập

Cuốn xoay trong cuồng phong

Trầy xước, rách nát, nhàu nhĩ…

Nhưng cũng nhờ cơn bão ấy

Lá bay xa hơn, xa khỏi những vùng trời quen thuộc.

.

Còn đá thì không

Đá nằm yên

Đá không thể bay

Đá giữ những gì nó nghĩ là của mình

Một chút tiếc nuối, một chút giận hờn, một chút không cam lòng.

.

Giữ càng lâu, đá càng nặng

Mà càng nặng, càng chẳng thể bay

.

Thế mà, có những người lòng đầy đá

Lại muốn nhập vai thành lá

Họ khao khát gió, họ mơ về một ngày tự do

Họ nghĩ rằng chỉ cần rời đi, chỉ cần bước tiếp, chỉ cần cố gắng…

Là có thể nhẹ bỗng như lá, là có thể hóa thành gió.

Nhưng họ quên mất một điều

Càng đi, lòng càng trĩu xuống

Càng bước, càng mang theo nhiều gánh nặng hơn

Những gì chưa thể buông, những gì chưa dám thả

Hóa thành từng viên đá, chồng lên nhau, kéo họ xuống.

.

Lá không cần cố gắng để bay

Lá chỉ cần buông

.

Vậy mà có những người muốn làm gió

Họ chìa tay ra, phát nguyện nâng đỡ

Họ nói rằng họ sẽ dìu lá qua bão giông

Họ nghĩ rằng họ mạnh mẽ như cơn cuồng phong

Nhưng họ quên mất một điều

Lòng họ cũng đầy đá.

.

Làm sao một kẻ còn trĩu nặng có thể nâng đỡ kẻ khác?

Làm sao đá có thể giúp lá bay?

Làm sao một người chưa thể buông

Lại có thể giúp người khác nhẹ?

.

Đá, vì không thể bay, cũng chẳng thể hiểu được lá

Không hiểu vì sao lá có thể buông mình mà rơi

Không hiểu vì sao lá không tiếc nuối những gì đã qua

Không hiểu vì sao lá không chờ ai, không cần ai giữ.

Lòng đá thì không thể hiểu gì về lá

Thì lại càng không nên trách lá.

.

Đời lá là của lá.

Đời đá là của đá.

.

Lá sinh ra để bay

Gió sinh ra để cuốn đi

Ai đủ nhẹ, người ấy tự khắc bay

Ai còn nặng, cứ nằm yên mà tự vấn

.

Không ai giữ ai

Không ai nâng ai

Chỉ có gió

Chỉ có những kẻ dám buông

Bầu trời vẫn xanh như hôm qua

.

Nhưng có lẽ hôm nay, ta hiểu

Muốn bay, phải học cách buông.

——-****—–

Read Full Post »