Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Chế Diễm Trâm’

Chế Diễm Trâm

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã giã từ dương thế vào sáng ngày 22/11/2020, hưởng thọ 100 tuổi. Đó là đại biểu cuối cùng của Phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Nhắc đến tên nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, bạn đọc sẽ không quên dấu ấn của ông đối với Phong trào Thơ mới nói chung và với nhóm Xuân Thu nhã tập nói riêng – một trong những nhóm thơ lấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng làm tuyên ngôn sáng tác.  

Nhóm Xuân Thuđược tập hợp từ năm 1939, gồm nhiều lĩnh vực. Mảng thơ gồm các tác giả Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ; nhạc có Nguyễn Xuân Khoát; hoạ có Đỗ Cung. Năm 1942, Xuân Thu thư lâu xuất bản một tập sách có tên là Xuân Thu nhã tập. Từ đó tên tập sách thành tên của nhóm. Trong bài Quan niệm in trong tập sách, họ lý giải cái tên của nhóm như sau:

Một biểu tượng đương nhiên, cái nhịp của cuộc sống vô cùng. Sắc xuân và hương thu. Hai mùa quá độ, uyển chuyển trong khoảng cao, trong, nhẹ… Hai mùa thực hiện Đẹp và Thơ. Hai mùa rung động cảm thông Người với Đất Trời, Trời Đất và Người.

Năm 1943, nhà thơ Đoàn Phú Tứ lại nói đến ý nghĩa của cái tên ấy:

Sống theo cái Nhịp của Trời Đất, mà cái biểu tượng đương nhiên và tốt đẹp nhất là hai mùa Xuân và Thu luân chuyển. Nên lấy hai chữ Xuân Thu làm biểu hiện cho cái Nhạc của Vũ trụ” mà “Thơ chính là cái rung động siêu việt trong trẻo, nhịp nhàng của bản nhạc vô cùng ấy([1]).

Trong Xuân Thu nhã tập, ngoài các tiểu luận trước đó đã đăng trên báo Thanh nghị, còn có ba bài thơ của Phạm Văn Hạnh (Thư thơ, Người có nghe, Giọt sương hoa), ba bài thơ của Nguyễn Xuân Sanh (Buồn xưa, Hồn ngàn mùa, Bình tàn thu), một bài thơ của Đoàn Phú Tứ (Màu thời gian), một bản nhạc của Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ và một bức tranh phụ bản của Nguyễn Đỗ Cung vẽ một gốc cây đã bị đốn hết thân cành nhưng trên đó đang bừng nở những chồi biếc khỏe khoắn.

Đó là những sáng tác vừa đóng vai trò thử nghiệm vừa đóng vai trò minh chứng cho những tuyên ngôn lý thuyết đã được trình bày trong các tiểu luận. Số lượng tác phẩm tuy không nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi nhưng nhìn vào đây cũng có thể thấy được rằng những luận điểm tuyên ngôn sáng tạo (đặc biệt trong tiểu luận Thơ) đã được các tác giả triển khai và ứng dụng ngay trên các tác phẩm của họ.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có viết riêng một mục dành cho một tác giả thuộc thi phái Xuân Thu nhã tập là nhà thơ Đoàn Phú Tứ và trích đăng một bài thơ của Đoàn Phú Tứ – bài Màu thời gian. Tuy Nguyễn Xuân Sanh không có một mục riêng nhưng trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca của tập sách nói trên, Hoài Thanh có nhắc đến Nguyễn Xuân Sanh hai lần, và cả hai lần cái tên Nguyễn Xuân Sanh đều đi liền với Bích Khê – một trong những nhà thơ tên tuổi của Trường thơ Loạn:

Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh, muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry.

Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm gìn giữ gì hết. Trong tác phẩm của họ vẫn chừng ấy tiếng ta rất quen, nhưng thảng hoặc ta mới tìm được dấu tích những ý tứ, những tình cảm ta vẫn quen gửi vào đó. Họ chạm trổ rất tỉ mỉ, không phải những rồng những phượng như ngày trước, mà những gì chẳng ai biết tên. Những gì đó đôi khi cũng đẹp. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín, nhưng lời thơ rắc rối quá, dầu sao phần đông chúng ta cũng đành kính nhi viễn chi.

Những nhận định trên của Hoài Thanh cho thấy Nguyễn Xuân Sanh là một trong những cây bút chủ chốt không chỉ của nhóm Xuân Thu mà còn của Phong trào Thơ mới giai đoạn từ năm 1936 trở đi, khi thơ Việt Nam một lần nữa muốn cách tân – chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn sang ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực với tên tuổi của ba nhóm thơ tiêu biểu: Trường thơ Loạn, Xuân Thu nhã tậpDạ đài.

Xuân Thu nhã tập trình bày nhiều quan niệm về thơ, về vũ trụ và nhân sinh, về trí thức, về nhạc, vẽ,… trong đó quan niệm về thơ đáng chú ý hơn cả. Trong tiểu luận Quan niệm, Xuân Thu nhã tập đưa ra nhiều luận điểm về mối quan hệ giữa thơ – nhà thơ – người đọc thơ.

Quan niệm của Xuân Thu nhã tập thể hiện rõ tinh thần canh tân thơ ca dân tộc khi Thơ mới lãng mạn có vẻ đã quá quen. Quan niệm thơ của họ là kết quả của mối lương duyên giữa phương Tây [cụ thể là dòng thơ tượng trưng, siêu thực Pháp] và phương Đông [chất hàm súc của thơ phương Đông và sự thâm trầm của Phật giáo]:

Tìm con đường thực, nối liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về những tính cách riêng của ta, để có thể xuôi chảy trong cái dòng sống thực của ta, không quanh co, lúng túng vì những ảnh hưởng ngoài”.

Mục đích cách tân của Xuân Thu thể hiện trên hai phương diện: không lặp lại cái tôi lãng mạn “dễ dãi” (từ của Baudelaire) và chống lại sự đồng hóa của phương Tây để ngăn cái họa mất gốc. Chủ trương trở về nguồn – ngăn cái họa mất gốc – nhưng Xuân Thu vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học phương Tây, chủ nghĩa tượng trưng trong văn học phương Tây.

Trả lời câu hỏi “Thơ là gì?”, các tác giả Xuân Thu nhã tập phân tích bản chất thơ ở ba cấp độ. Cấp độ thứ nhất, ở tính chất phổ quát: thơ có trong các hiện tượng tự nhiên, đời sống, đặc biệt tập trung trong các trong các loại hình nghệ thuật (văn học, âm nhạc, hội họa…). Rung động là bản chất phổ quát của thơ, rung động của thơ là rung động siêu việt, không thể cắt nghĩa, giải thích. Thơ là “một cái gì” không giải thích được mà cũng không cần giải thích, khi chưa kịp hiểu nó là gì, ta đã bị nó quyến rũ, lôi kéo, xâm chiếm. Thơ được ví như “Giai nhân”, như “Đẹp”, như “Trời”:

Người ta đã thử và chưa từng giải thích được thơ. Như Giai nhân, như Đẹp, như Trời. Người ta cảm thấy một cái gì siêu thoát, ra ngoài ước lệ, ở trên lý trí, nó rung động ta theo nhịp vũ trụ, hồn nhiên, nó hòa hợp Ta trong cái Đẹp và ấp ta trong cái Thật. Vẻ man mác của cái đẹp và ý sâu sắc của cái thật. Do trong trẻo gạn nên… Nó là cái gì không giải thích được, mà cũng không cần giải thích. Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc. Đột nhiên như ta nhào vô lòng mẹ không cần xét suy”.  

Cấp độ thứ hai, chất thơ trong nghệ thuật thơ – thể loại thể hiện tập trung nhất tính thơ – để chỉ ra thơ khác văn xuôi như thế nào. Theo Xuân Thu nhã tập, “Văn có tính cách giãi bày, thuộc lý trí, vụ ích lợi”, “thơ không phải lúc nào cũng để chỉ bảo một cái gì, vì nó không vụ lợi ích thực tế”. Họ nhấn mạnh đặc tính nổi bật của thơ là tính hàm súc, là kết quả của sự rung động trong trẻo và thuần khiết, vốn là đặc trưng thơ phương Đông. “Tính chất của thơ là hàm súc, tĩnh mạc, tổng hợp. Ngôn ngữ, cú pháp Á Đông rất thích hợp cho thơ. Tứ thơ thường đọng lại, cốt gợi hơn là tả… Từ cuối thế kỷ trước, thơ Pháp nhờ dòng tượng trưng đã gặp thơ Á Đông ở chỗ uẩn súc, huyền ảo… Thơ phải chứa nhiều sức khêu gợi, ý ở ngoài lời…

Chính vì vậy, thơ đích thực không dễ hiểu; nói cách khác, khó hiểu là một yếu tính của thơ ca, thậm chí cần xem sự khó hiểu này như một giá trị. Theo họ, “thơ không cần lúc nào cũng rõ nghĩa, không phải lúc nào cũng sáng sủa… Nó giữ phần sâu kín, giữ phần sâu sắc; không phải lúc nào cũng theo lý luận, vì nó chịu sức chi phối của những luật vô hình… Vậy thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu, cái hình ảnh sự khắc khoải bất diệt của muôn vật: cõi Vô Cùng ”.

Ở cấp độ thứ ba, thơ được xem xét trong tư cách là một đơn vị chỉnh thể ngôn ngữ – một bài thơ. “Tiêu chuẩn về hình thức thơ là tính-cách-độc-nhất”, bài thơ là sản phẩm độc đáo duy nhất thể hiện sự hàm súc, khêu gợi đầy bí ẩn của câu chữ, nhạc điệu, hình ảnh… Hình ảnh, ngôn từ, kết cấu, nhạc tính… tất cả được tổ chức chặt chẽ để “đọc xong bài thơ, ta bị y nguyên những câu, những tiếng của toàn bài chi phối. Hình thể, cùng lúc với hồn, sống mãi trong ta. Và ta không thể di dịch một âm thanh, một hình ảnh mà không phản bội và tàn phá”.

Về thiên chức của nhà thơ, Xuân Thu nhã tập nhấn mạnh vai trò tiên phong trong sáng tạo “tìm những cách rung động mới, những lối diễn đạt mới, bao giờ cũng ở hàng tiên phong” và phải xứng đáng với danh hiệu thi sĩ là người tạo nên cái-gì-chỉ-có-một. Do đó, hình ảnh người nghệ sĩ đích thực trong quan niệm của Xuân Thu nhã tập là “gốc cây Ta, đầy nhựa Thơ, hút nhận nhạc của Đất Trời để trổ sinh bao Điệu, thắm tươi những bông hoa Sáng Tạo dâng lên bàn thờ Đạo lý – lẽ sống của Đời”.

Việc tiếp nhận thơ cũng đòi hỏi ở người đọc những tố chất, năng lực thẩm mỹ nhất định. Theo Xuân Thu, những vần thơ đích thực “nó mê hoặc ta ngay và đặt ta vào giữa cõi thơ có thần trợ. Hay nói đúng, một cái gì trên cả âm điệu, không giải được mà chỉ cảm được thôi”. Do đó, họ đề nghị: “Hãy nằm trong thơ, dầm trong nhạc, đừng vội “hiểutrước khi xúc cảm. Rồi ta sẽ hiểu, nhất là sẽ biết, cái biết đầy đủ, trong trẻo, trọn vẹn, nhịp nhàng”. Họ đề cao trực cảm, đề cao những rung động hồn nhiên: “Đừng luận lý với thơ cũng đừng luận lý với người yêu, với giáo điều. Thấu nghĩa từng chữ, rồi những chữ ấy ở cạnh nhau sẽ nảy ra những âm thanh gì, hình ảnh gì, gợi trong trí não một vũ trụ gì tức khắc, mới mẻ”.

Đem tất cả những quan niệm ấy vào thực hành, các cây bút Xuân Thu nhã tập đã coi trọng tính “uẩn súc” của tác phẩm qua việc xây dựng các biểu tượng mang tính tượng trưng. Tính tượng trưng trong thơ của các tác giả Xuân Thu nhã tập được tạo nên bởi nhiều yếu tố mà trước hết là cách xây dựng hình ảnh giàu tính biểu tượng. Họ đặt các những hình ảnh, sự vật xa lạ cạnh nhau, trong nhiều trường hợp đã tạo nên những liên tưởng, cảm nhận đột ngột, bất ngờ.

Bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh qua bao năm tháng, có ai vỗ ngực rằng mình đã hiểu hết? Nhưng khi đã đọc bài thơ thì hầu hết đều yêu thích nó, chí ít cũng đôi câu rất nổi tiếng:

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Bài thơ xuất phát từ cảm hứng nỗi sầu nhân thế khi con người đối diện với “thời gian”, với “nhịp hải hà” miên man, vô tận. Từ “buồn” xuất hiện nhiều lần (6 lần), trong đó nỗi buồn hồi tưởng (“buồn xưa”) là âm hưởng chủ đạo. Bài thơ lấy điểm xuất phát là buổi chiều nay để sống lại một/nhiều chiều thu xưa:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm

Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Buồn hưởng vườn người vai suối tươi

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu

Duyên vàng da lộng trái du người

Ngọc quế buồn nào gội tóc xưa

Hồn xa chĩu sách nhánh say sưa

Hiến dâng

            Hiến dâng quả bồng hường

Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa

Đường tàn xây trái buổi du dương

Thời gian ơi tưới hận chìm tường

Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương.

            Tại thời điểm “chiều” hiện tại, có “quỳnh hoa”, có “nhạc”, khúc “nhài đàn”, có “rượu”, có “lẵng xuân”, có hương “ngọc quế”,… Trong không-thời gian ấy, sao mà không “say sưa”, “du dương” cho được, nhất là bên cạnh có “trầm mi”, “tóc mưa”, “môi gợi”, “da lộng”, “ngón hường”, có “vú đôi thơm”, “quả bồng hường”… dẫn dắt, dẫn dụ?

            Từ thực tại, thực tại “say”-“buồn”-“hận chìm tường” trong “lạnh lẽo”, người ta trôi, trôi dần, trôi hẳn về quá khứ, làm sống dậy một “mùa xưa” có chàng hoàng tử “hồn xanh ngát” trong “cung ướp hương” với “dấu xiêm y”, với ngón đàn “tỳ bà” mang cả một rừng “ngọt ngào” neo lại giữa “du dương” với “say sưa”…

            Càng tìm vui, tìm quên trong quá khứ càng mất phương hướng, cái tôi đành quay lại thực tại để thấy càng sầu mênh mông trong cả hai chiều kích thời gian (“muôn đời”) và không gian (“tự trăm phương”) làm thành nỗi sầu nhân thế đã hiện hữu trong con người từ xưa đến nay:  

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương

            Bài thơ đã trộn lẫn hiện tại – quá khứ – hiện tại làm thành một thế giới nghệ thuật của nỗi u buồn không dứt. Nhà thơ đã lạ hoá từ ngữ, hình ảnh bằng cách chuyển đổi cảm giác liên tục làm nên một thế giới nghệ thuật siêu cảm giác, khó hiểu, không giải thích được như quan niệm của thơ tượng trưng mà nhóm Xuân Thu nhã tập đã dụng tâm, dụng công theo đuổi. Đó là “nhạc trầm mi”, “hồn xanh ngát”, “trái xuân sa”, “lẵng xuân”, “nhài đàn”, “tóc xưa”, “tóc mưa”, “đường tàn”,…

Nhà thơ Buồn xưa cũng phát huy tính nhạc ảo diệu của thơ tượng trưng, trong đó âm giai chính là “du dương”, huyền hồ, buồn buồn thầm kín:

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

            Câu thơ toàn thanh bằng (bình thanh) giống như nhạc điệu của những câu thơ của các nhà Thơ mới Xuân Diệu, Bích Khê:  

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

                        Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ – Xuân Diệu)

            Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông (Tỳ bà – Bích Khê)

            Đó là thứ nhạc thơ mang nghĩa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng – “Thơ là sự dao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Valéry) – một điệu nhạc nhẹ nhẹ, dịu dịu nhưng day dứt, ám ảnh về nỗi sầu buồn của thời đại Thơ mới.  

Toàn tác phẩm có 142 âm tiết [kể cả nhan đề] thì có 89 âm tiết mang thanh bằng (62,67%). Nhạc điệu chủ đạo chuyên chở nỗi sầu sầu, buồn buồn, thương thương, nhớ nhớ… Bởi thế, ba chữ “nhạc trầm mi” được trở đi trở lại trong khổ đầu của bài thơ như một sự nhấn nhá, nhấn mạnh trạng thái vi diệu và mơ hồ của cảm xúc, tâm trạng.

            Bài thơ Hồn ngàn mùa, Nguyễn Xuân Sanh cũng giữ nét nhạc sầu miên man đó qua một điệp khúc (có biến đổi) cuối mỗi khổ thơ:

                        …Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

…Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan
…Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương
…Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông([2])

Còn trong bài thơ Bình tàn thu, tác giả phối vần liên tiếp trong mỗi khổ, và số câu trong mỗi khổ theo quy luật đan xen nhau (2 câu – 3 câu – 2 câu – 3 câu – 2 câu) cũng làm nên một điệu nhạc đặc trưng của Thơ mới – sầu muôn đời-muôn phương:  

 Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi
Chén vàng dâng ướp nhạc lòng đời

Sương mùa lệ héo dặm đường hương
Cung phi dăng bướm buồn Nghê Thường
Sách đàn tay xõa ái tình chương

Cổ mây người nhạc dịu vườn tươi
Da xuân mười tám tuổi buồn người

Mi thơm chanh buổi chĩu buồn da
Rượu tóc loan tháng đượm mùa ngà
Sầu chùm tơ giấy giở mưa hoa

Người ơi người nẻo ngát tường nương
Hồn Tương Giang đàn dựa buồn hường.

Tuy các nhà thơ tượng trưng Xuân Thu nhã tập vẫn tuyên ngôn về một tư duy thơ siêu thức, kín mít, bí hiểm, xoá nhoà mọi liên kết logich, mọi cách hiểu nhưng qua sự liên kết các biểu tượng, và qua cả nhạc thơ, bạn yêu thơ vẫn có thể thấu cảm ý đồ nghệ thuật của họ. Và có bài thơ nào [nhất là thơ hay] mà không có tứ thơ? Vậy nên cái khó hiểu cố tình của thơ họ vẫn có thể giải mã được. Song, vì không dễ lý giải nên những bài thơ của họ có sức hấp dẫn lớn. Từ thế hệ này đến thế hệ khác đều có thể có những liên tưởng khác nhau, làm giàu có, phong phú vẻ đẹp không tới đáy của các thi phẩm. Mà như thế, họ đã thành công! Có lẽ, ở chốn suối vàng, họ đã mỉm cười hài lòng với sinh mệnh bất tử của những đứa con tinh thần của họ.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã đi xa nhưng tác phẩm thì vẫn còn mãi. Nhắc đến ông, chúng ta nghĩ ngay đến nỗ lực cách tân Thơ mới thập niên 40 của thế kỷ XX với vai trò của thi phái tượng trưng mang tên Xuân Thu nhã tập. Nhận định của PGS.TS. Nguyễn Văn Long có lẽ là nhận định công tâm, công bằng nhất cho đóng góp của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trước Cách mạng:

“Nguyễn Xuân Sanh trăn trở tìm tòi để đến với cái đẹp trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cách tân thơ bằng sự phá bỏ tính liên tục và thay bằng tính gián đoạn, gây một âm hưởng mới lạ, có vẻ bí hiểm, làm ngỡ ngàng người đọc đã quen với sự truyền cảm của Thơ mới. Nhưng ông vẫn giữ nguyên vần, khổ, câu và cách ngắt nhịp đơn điệu, nên sự sáng tạo không được triệt để.”([3])  

Đóng góp lớn nhất của Xuân Thu, trong đó có công đầu của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là đã khơi gợi một ý tưởng: thơ có thể khác trước, khác với thứ thơ quen thuộc mà ta vẫn biết, mở ra một hướng đi mới cho thơ: “Nghệ sĩ ngày nay phải chịu trách nhiệm tạo thành những mỹ cảm ngày sau, những xúc động sau, những tuổi sau, những vô biên mới, những vĩnh viễn ngày mai.” Quan niệm của họ đã được hiện thực hóa một cách sinh động trong sáng tác của các nhà thơ viết theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa sau này.

CDT


[1] Theo Wikipedia, Xuân Thu nhã tập

[2] Bài thơ Hồn ngàn mùa (Nguyễn Xuân Sanh) như sau:

            Hy-mã-lạp-sơn buồn thu đây

            Thu

                        Tóc xuân bưng đỉnh chiều đầy

            Quý dâng Hình Nhạc nẻo nghìn mây

            Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

            Hoà hợp màu hương tranh thế gian

            Đất ơi hoa rót chén giời đàn

            Sen tưởng cầu thơm nguôi tiếng van

            Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan

            Đền xanh cửa ngát lạc hoa thương

            Cúi đầu sao khóc bể chán chường

            Quay thuyền Lái Ngọc gửi mươi phương

            Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương

            Hoàng hôn kinh dậy đất mênh mông

            Trái đẹp sau xưa gợn gió bồng

            Vai sầu chín thuở Đức say Bông

            Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông.

[3] Theo Wikipedia, Nguyễn Xuân Sanh

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Xin dành trọn chín mươi buổi chiều xuân
Lặng yên chiêm ngưỡng sắc xuân tháp cổ
Tháp không là sinh thể cô đơn
Bởi đời là cộng sinh của những gì tưởng chừng là trái ngược

Đã đi hết mùa mưa ẩm lạnh
Những mảng rêu mờ xanh bong tróc lần hồi
Đang độ hoa của những cành cỏ chỉ
Bên nhành bồ đề ngơ ngác mấy lá non tơ 

Đó là lúc những hạt cỏ đang cất lên tiếng hát khẽ khàng 
Bên đôi ba lá bồ đề tựa lời kinh vẳng vọng từ Phật viện Đồng Dương
Những hạt cỏ, hạt cây con sẻ nâu kiếm ăn tình cờ để rơi trên bờ gạch
Con sên tình cờ bò qua ôm vào khe gạch ẩn dưới vòm tháp 
Mạch gạch cổ im sâu bao dung tất cả
Một ít đất mủn từ thân gạch 
Cho hạt bám vào 
Những mạch gạch trống 
Thổi gió qua những khe gạch cho hạt cựa mình 
Vượt qua mùa đông lạnh ẩm
Để bất chợt chiều xuân 

Nhành bồ đề vươn vài ba chiếc lá
Như những sinh thể hình giọt nước buông lơi nhẹ êm và thánh thiện 
Những cọng cỏ chỉ thẹn thùa bung hoa lấm tấm
Những bông hoa bé xíu nhưng thì thầm mãnh liệt 
Làm xanh êm thân tháp 
Làm từ bi những mạch gạch Chăm  

Xin dành trọn chín mươi chiều xuân như thế 
Cảm nghe những mạch gạch Chăm tĩnh mặc
Đang say mê bản tụng ca vô ngôn 
Về mạch sống – mạch xuân dịu dàng và tự nhiên nhất…


Read Full Post »

Xương Rồng

Chế Diễm Trâm

XƯƠNG RỒNG

 

Dù không phải cây xương rồng trên cát

Vươn thân gai chống chọi nắng gió khô cằn

Dòng nhựa trắng bật trên vết thương sứt sẹo

Chở che cát bằng màu xanh bi tráng trập trùng (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Trường ca Động hoa vàng được Phạm Thiên Thư sáng tạo năm 1971, trong khi tác giả tạm lánh bụi trần, vô Tu viện Pháp Vân (Sài Gòn) làm tu sĩ gần mười năm (1964 – 1973). Đúng như lời tác giả nói, ông vô chùa để tu theo lối riêng mình. Động hoa vàng là một trong những lối tu riêng ấy: làm Thơ để trình bày Đạo mà người đời gọi là ông “thi hóa kinh Phật”.

Động hoa vàng gồm 100 khổ thơ lục bát, mỗi khổ 4 dòng, tổng cộng 400 dòng. Có khá nhiều dòng thơ được ngắt thành hai, ba, thậm chí bốn chỗ xuống dòng:

                             Chim từ bỏ động hoa thưa

                             người từ

                             tóc biếc đôi bờ

                             hạ

                             đông (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Trong con người Nguyễn Công Trứ, ta thấy hiển thị hai mẫu nhà nho: nhà nho hành đạo và nhà nho hành lạc. Giai đoạn tại triều, Uy Viễn tướng quân là mẫu nhà nho “vẫy vùng” chí anh hùng, chí nam nhi, lập công để lập danh, để khẳng định tài năng và bản lĩnh cá nhân:

Đã mang thân ở trong trời đất

            Phải có danh gì với núi sông.

(Nợ tang bồng)

Năm 1848 (70 tuổi), Nguyễn Công Trứ xin lui về trí sĩ, an hưởng nhàn lạc, xem đó là sự tự thưởng sau khi đã hăng hái sống vì đời. Mười năm cuối đời có thể xem là giai đoạn đấng tài tử sống vì mình. Công danh nam tử đã vẹn thì đây là lúc “ông ngất ngưởng” hưởng lạc với “thơ túi rượu bầu”:

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

                        Không Phật, không tiên, không vướng tục

(Bài ca ngất ngưởng) (more…)

Read Full Post »

 

CHẾ DIỄM TRÂM

          Mãi đừng xa tôi (nguyên tác bằng tiếng Anh: Never let me go, Trần Tiễn Cao Đăng chuyển ngữ) là cuốn tiểu thuyết của nhà văn Anh gốc Nhật Bản Kazuo Ishiguro. Tác phẩm được sáng tác năm 2005, được tạp chí Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn tiểu thuyết Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005, đưa Ishiguro đến vinh quang giải Nobel Văn chương năm 2017.

Tạp chí Time đã nhận định bảo chứng cho cuốn tiểu thuyết này như sau: “vừa hấp dẫn vừa xúc động lòng người… một tiểu thuyết kỳ tài, với sự căng thẳng thắt gút và với nỗi đớn đau chôn chặt”. Lời nhận định nửa kín nửa mở ấy trên bìa gấp cuốn sách gây tò mò cho bạn đọc đến mức không thể không xông pha vào ma trận ngôn từ đầy ẩn ý và biểu tượng của tác phẩm. (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

          

Trong Thi nhân Việt Nam, thi sĩ Bích Khê được Hoài Thanh và Hoài Chân chọn đăng hai bài: Duy tânXuân tượng trưng. Đặc biệt, dưới bài Xuân tượng trưng, tác giả Thi nhân Việt Nam có ghi chú: “Chúng tôi trích bài này vì chiều theo yêu cầu của ông Bích Khê”. Trong lá thư gửi hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân ngày 07/01/1941, Bích Khê nói ba bài ông thích nhất là Duy tân, Nấm mộ Bích Khê, Giờ trút linh hồn. Nhưng bức thư đề ngày 25/10/1941, Bích Khê lại nói ông thích bài Xuân tượng trưng hơn cả(1). Vậy, có thể nói, tác giả Bích Khê đã rất cân nhắc và xem Xuân tượng trưng là bài thơ ông ưa nhất, có thể hiểu theo nghĩa tiêu biểu nhất cho khuynh hướng thơ “duy tân” theo thi phái tượng trưng của mình.

Chủ nghĩa tượng trưng (tiếng Pháp: symbolisme) – trào lưu nghệ thuật, triết mỹ xuất hiện ở Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Baudelaire khởi xướng – được ra đời trên nguyên tắc mỹ học cho rằng giữa vũ trụ huyền bí và con người có những mối liên hệ siêu việt. Thơ cần và phải nắm bắt những tương giao mơ hồ đó bằng sự tương ứng giữa các giác quan, giữa màu sắc, ánh sáng, âm thanh, hương thơm,… Những biểu tượng nghệ thuật được/bị mờ hóa là công cụ hữu hiệu để vươn tới vẻ đẹp siêu nghiệm của thế giới. Cùng với trực giác và biểu tượng, âm nhạc, mà thường là âm giai du dương, là phương tiện đắc lực giúp nhà thơ đến được những ý niệm huyền nhiệm và ý tưởng vô biên.

Phong trào Thơ mới ra đời với ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, thành công siêu tốc với nhiều ngọn cờ phấp phới trên đường tiến: Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, v.v… Nhưng đến nửa cuối thập niên ba mươi, các thi sĩ Thơ mới ý thức cần phải tìm hướng cách tân Thơ mới một lần nữa. Địa hạt thơ tượng trưng, siêu thực nảy mầm hy vọng với Trường thơ Loạn, sau đó là nhóm Xuân thu nhã tậpDạ Đài, trong đó Trường thơ Loạn (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Khai (tức Yến Lan), Bích Khê,…) đóng vai trò chuyển hướng. Tên của thi phái được Hàn Mặc Tử lấy từ chữ “loạn” trong tập Giếng loạn của Yến Lan.

Bích Khê (1916 – 1946) sinh thời chỉ in một tập Tinh huyết năm 1939. Tập thơ in đậm phong vị của lối thơ do Hàn Mặc Tử khởi xướng, đã góp phần đưa Thơ mới (1932 – 1945) từ chủ nghĩa lãng mạn chuyển nhanh sang ảnh hưởng của trường phái thơ tượng trưng. Năm 1941, tác giả Thi nhân Việt Nam sơ kết một chặng đường mười năm của phong trào Thơ mới đã trân trọng nhắc đến Bích Khê: “Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry.”(2)

Khác với Hàn Mặc Tử tuyên ngôn về thơ, về nhà thơ và việc làm thơ, Bích Khê chỉ sáng tác thơ. Nhưng qua thơ, Bích Khê tỏ rõ là “người công dân trung thành của vương quốc” (tức Trường thơ Loạn). Trong lời tựa cho tập Tinh huyết, Hàn Mặc Tử viết: “Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị… Và đem phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau: thơ tượng trưng, thơ huyền diệu và thơ trụy lạc… Sự điên cuồng ấy uyên nguyên ở một phần thiên tài, và ở một phần sự “Đau khổ”.

Bích Khê giống Hàn Mặc Tử ở chỗ cả hai đều mắc căn bệnh nan y: Hàn Mặc Tử bệnh phong, Bích Khê bệnh lao. Vì vậy, bên cạnh những lý thuyết thơ tượng trưng họ theo đuổi, thơ họ không thể không có ảnh hưởng của tâm lý cuồng đau ác bệnh. Thi sĩ Hàn Mặc Tử làm Thơ Điên, Bích Khê có thơ Cuồng. Tuy nhiên, với họ, quan niệm thơ vẫn là sự hòa điệu giữa “tượng trưng” và “huyền diệu”, xứng đáng với những danh hiệu “thế giới kỳ dị” (lời Hoài Thanh về thơ Hàn Mặc Tử), “đóa hoa thần dị” (lời Hàn Mặc Tử trao tặng Bích Khê).

Tập thơ Tinh huyết (1939) được Bích Khê sắp xếp thành bốn phần:

1. Nhạc và lệ tặng Hàn Mặc Tử (người viết tựa)

2. Đẹp và dâm tặng Hoàng Trọng Miên (người viết bạt)

3. Cuồng và ánh sáng tặng hai anh Thoại và Hường

4. Châu

Bài Xuân tượng trưngDuy tân trong bản in lại năm 1995 (NXB Hội Nhà văn) được đưa vào mục Những bài thơ khác.

Đi vào thế giới nghệ thuật Tinh huyết, có thể thấy mùa thu hiện diện khá trội, như trong các bài Duy tân, Tỳ bà, Hoàng hoa, Nghê thường, v.v… trong đó có “những câu thơ [thu] hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”(3):

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

                   Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông!  

                                                          (Tỳ bà)

Bài Xuân tượng trưng chọn không-thời gian nghệ thuật là đêm xuân:

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

– Đêm nay, xuân đã lại

Thuần túy và tượng trưng –

Rừng xuân đêm ấy tắm ánh trăng, đâu đây một thứ âm nhạc huyền diệu đến huyền hồ cất lên mang tới cảm giác nghiêng sang ảo giác:

Nâng lên núm vú đồi

                   Sữa trăng nhi nhỉ giọt 

Nếu thơ Chế Lan Viên mang âm hưởng bí ẩn, tỏ mờ của thành Đồ Bàn (Bình Định) “điêu tàn” thì thơ Bích Khê vốn thường được sáng tác quanh Cổ Lũy cô thôn (Quảng Ngãi) – những miền đất xưa của dân tộc Chiêm Thành – cũng thật “man dại” và huyền bí. Tuy thế, chất “man dại” ấy của thơ Bích Khê cái chính là do quan niệm thơ tượng trưng mang lại.

Bích Khê làm thơ khá sớm (15 tuổi) với các thể Đường luật, từ khúc, hát nói. Nhưng khi Bích Khê đến với phong trào Thơ mới, chỉ trong vòng nửa năm, ông đã bắt kịp tinh thần thơ tượng trưng để có đóng góp xuất thần cho sự thống nhất mà đa dạng của thi phái Trường thơ Loạn bằng tập Tinh huyết và nhiều thi phẩm khác (mà mấy chục năm sau mới được in, gọi là di cảo).

Bích Khê hầu như không tuyên ngôn mà quan niệm được thể hiện qua sáng tác. Tuy vậy, cũng như các thi hữu xứ Bình Định, nhà thơ đất Thu Xà Quảng Ngãi cũng quan niệm thơ là sự tận cùng đau thương đồng thời là tận cùng hoan lạc:

Thơ bay về tắm mát suối âm ty

`                  Xác tôi chết lạnh trôi đi –

                   Lấy ai siêu độ từ bi;

                   Hồn xiêu hồn đến quy y bên nàng!

(Thơ bay)

Theo Bích Khê, thi sĩ có mặt ở trên đời là thực hiện thiên chức đi tìm khoái lạc đến đê mê trong “thuần túy tượng trưng” để bật ra thơ làm cho người khác cũng khoái lạc khi đọc thơ; thi sĩ say mê đến cuồng nhiệt đi tìm cái siêu đẹp để sáng tạo. Điểm độc đáo nhất của quan niệm Bích Khê là cái đẹp ấy có thể đến từ bất cứ nơi đâu dù thanh cao hay kinh dị, miễn là nó gây nên khoái cảm cho thi sĩ. Đi vào thế giới nghệ thuật Tinh huyết, bạn đọc tìm thấy thế giới của cái Đẹp “thuần túy”, dẫu đó là cái “sọ người”:

Ôi khối mộng của hồn thơ chuếnh choáng

Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương

Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!

Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!

(Sọ người)

Huống gì, Xuân tượng trưng là thế giới kỳ diệu, huyền diệu của mùa xuân-nàng xuân:

Hỡi Lời ca man dại,
Ðiệu nhạc thở hơi rừng,
– Ðêm nay xuân đã lại
Thuần tuý là tượng trưng –

Nâng lên núm vú đồi

                   Sữa trăng nhi nhỉ giọt:

                   Bay qua cụm liễu phơi

                   Những cườm tay điểm hột

                   Sương. Phất phơ lau lách

                   Khe uốn mình giai nhân:

                   Đường non khéo điêu khắc

                   Những dáng hình khỏa thân.

                   Lụa mây nẩy vàng chạm,

                   Tía ngọc bén màu ngân.

 

                   Chủ xuân đương triển lãm!

 

                   Lời ca như hạc theo

                   Gió lên. (Tình múa reo

                   Những điệu vàng châu báu

                   Dường có con chim báu

                   Rỉa cánh trên ngai lòng.)

                   Xòe xòe màu lông công

                   Vườn thơm khua sắc mát:

                   Rồng uốn vóc tùng cong

                   Áo bạch mai khoát khoát;

                   Môi đào chờ khoái lạc…

                   Hồn tôi như đỉnh hương

                   Bốc lên mình thánh giá!

                   Ý xuân mát đến xương

                   Ngậm tuyết phun lã chã!(4)

Thi sĩ phát huy tối đa sự cộng hưởng các giác quan, tất cả ngũ giác, cả cảm giác, nhất là trực giác, tạc nên chân dung Nàng Xuân thần thái khiết trong, ngời ngời. Dáng xuân trong thân vóc mỹ nữ với những đường cong tuyệt mỹ của “núm vú đồi”, “khe uốn mình giai nhân”, “đường non dáng hình khỏa thân”, “rồng uốn vóc tùng cong”…

Với dáng vóc ấy, Xuân tượng trưng sở hữu một sắc xuân ưu việt, đọng ghém bao tinh hoa, tinh túy của thế giới mầu nhiệm. Đó là sắc đẹp mềm mại hơn liễu (cụm liễu khơi), đài các hơn châu ngọc (tía ngọc), thướt tha hơn lụa-mây (lụa mây nẩy vàng), điệu đà hơn bộ lông công đang xòe (xòe xòe màu lông công), gợi cảm hơn môi đào hé mở (môi đào chờ khoái lạc)… Một sắc xuân ngời ngợi rời rợi mà mơ mơ hồ hồ!

Nàng Xuân ấy mang sức xuân thanh tân, rạng ngời, tỏa phát, phập phồng nhựa sống qua những động từ, ngữ động từ diễn tả sự khởi đầu nhưng là cái khởi đầu trong mỹ mãn: “nâng lên”, “nẩy”, “bén”, “điểm”, “uốn”, “múa”, “bốc lên”, “ngậm”, “phun”…

Gây ấn tượng nhất là tình xuân nồng nàn, phơi phới, mê man:

Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt

Ðường non khéo điêu khắc
Những dáng hình khoả thân

Ý xuân mát đến xương
Ngậm tuyết phun lã chã!

          Nàng Xuân vi diệu đến ảo diệu ấy là biểu tượng cho thần thái thơ tượng trưng mà tác giả của nó muốn tuyên ngôn, muốn “triển lãm”; “đê mê”, “chới với” như đến với một tín ngưỡng. Không! Hơn cả tín ngưỡng, một tôn giáo:

Hồn tôi như đỉnh hương

Bốc lên mình thánh giá.

Tuy nhiên, con chiên trong “tôn giáo” ấy không ứng xử theo cung cách chiêm bái thông thường mà nhập cuộc đắm say, tận hưởng, hoan lạc. Không phải chỉ một Xuân tượng trưng, thơ Bích Khê nhiều, rất nhiều lần, ran lên khoái lạc như thế:

Thơ lõa thể! – giai nhân tuần trăng mật,

                             Nữ thần ơi! Ta! Nô lệ bên người!

(Duy tân)

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc

                             Vài chút trăng say đọng ở làn môi.

                             Hai vú nàng! hai vú nàng! chao ôi!

                             Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.

                             Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!

                                                          (Tranh lõa thể)                       

Quả là, thế giới thơ tượng trưng của Bích Khê đầy hình bóng giai nhân, với nhiều chi tiết về hình thể, thân thể với vẻ đẹp nhục cảm mà vẫn trắng trong tinh khiết; ham muốn tận hưởng vẻ đẹp nhục thể rất thánh thiện chứ không phải là ham muốn trần tục. Đó là thi pháp thơ Bích Khê, là tư duy thơ mà tác giả gọi tên là “Đẹp và dâm một cách ám thị quan niệm: thi hứng là những nguồn cảm hứng, đột hứng tinh sạch, thơm tho!

Thơ tượng trưng coi trọng tính nhạc: “Âm nhạc trên hết, trên tất cả” (Verlaine), “Thơ là sự dao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Valéry). Và thơ tượng trưng ưa những điệu du dương, buồn buồn. Bích Khê vẫn được nhắc nhỏm đến với tư cách nhà thơ cách tân những điệu nhạc bay bay lơi lơi lả lả bằng những bài thơ toàn vần bằng như Tỳ bà, Hoàng hoa,…

Xuân tượng trưng mang nhạc điệu của hơi thở rừng, của sương phất phơ, của gió lên,… Đó là thứ siêu âm đưa tâm linh đến vũ trụ tinh túy. Ở bài thơ này, Bích Khê chọn lối thơ năm chữ, ngắt nhịp linh hoạt, mà đa phần không ngắt nhịp. Toàn bài 29 câu chỉ có hai câu ngắt nhịp bất thường nhưng thực chất là do lối thơ vắt dòng:

Những cườm tay điểm hột
Sương. Phất phơ lau lách

Lời ca như hạc theo
Gió lên. (Tình múa reo
Những điệu vàng châu báu

như những nốt lặng trên bản giao hưởng du dương. Câu số 15 – câu chính giữa bài thơ: “Chủ xuân đang triển lãm!” – có bản chép tách riêng ra một đoạn, chia bản nhạc thành hai trường đoạn: đoạn một gồm 14 câu chuẩn bị tiết tấu cho “trăng” (ánh sáng) – “lời ca” (cái đẹp) “cuồng” lên, đoạn cuối cũng 14 câu là thi cảm bay bổng khơi vơi đậm đặc “thuần túy và tượng trưng”.

Có thể xem Xuân tượng trưng là thi phẩm tiêu biếu nhất cho Tinh huyết nói riêng, cho thơ Bích Khê nói chung. Một bầu khí quyển mộng mị (đêm trăng xuân), một tâm thế siêu thăng (“lời ca” xuất hiện hai lần), hình tượng thơ giàu tính biểu tượng, nhạc thơ bay bổng. Đó là phút giây đạt đến tận cùng siêu thăng nghệ thuật của “thi sĩ thần linh” trong tình điệu thơ “tượng trưng thuần túy”.

Nếu thơ Hàn Mặc Tử từ “đau thương” vút lên cõi “thanh khí” “sáng láng”, Chế Lan Viên “điêu tàn” trong bóng tối với tháp mờ, hồn ma, yêu tinh, xương tủy,… thì Bích Khê rút “tinh huyết” cho cái đẹp “tượng trưng” chiết ra từ “nhạc và lệ”, “đẹp và dâm”, “cuồng và ánh sáng” để đạt đến sự thăng hoa tột đỉnh trong cõi thực tại.

Trong Trường thơ Loạn, tất cả đều trung thành với “khuynh hướng thơ Baudelaire” nhưng mỗi thi sĩ đều có khát vọng tạo một cách tiếp cận và biểu hiện của riêng mình. “Hàn Mặc Tử chủ trương thơ Điên. Chế Lan Viên làm thơ Loạn […] Bích Khê làm thơ Dâm, hiểu theo nghĩa ông phơi mở và đề cao thân thể người phụ nữ và các hoạt động thân thể mà ông cho là Đẹp, là Thơ.” (Phạm Xuân Nguyên)(5). Gần mười năm, cùng với Hàn thi sĩ và Chế thi sĩ, Bích Khê thi sĩ đã góp những vầng hào quang rực rỡ khác lạ trên thi đàn Thơ mới, góp sức thúc đẩy Thơ mới đi nhanh hơn, tạo tiền đề cho thành tựu của phong trào thơ lộng lẫy này cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra.

CDT

——-

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1), (2), (3), (4) Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Thanh Hóa, 2006.

(5) Phạm Xuân Nguyên, Bích Khê – “thi sĩ thần linh”, thơ “lõa thể”, http://www.bichkhe.org

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm 

Có lẽ không mấy ai không biết câu văn giản dị nhưng thấm thía xúc động mở đầu truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.

Câu văn mở đầu ấy như một bài thơ nho nhỏ, xinh xắn bởi cái tứ hoài niệm bồi hồi, bởi giọng điệu nhẹ nhõm, bay bổng, lâng lâng… Và cái “thi cảm” ấy có được nhờ nhiều yếu tố, như tiết tấu êm êm (nhịp 6 – 5 – 9 – 14), thanh điệu hài hòa (18 âm tiết mang thanh bằng trong tổng số 34 âm tiết), vần điệu uyển chuyển (sự hòa phối thanh bằng – trắc của những âm tiết chỗ ngắt nhịp, “thu” (B) – “nhiều” (B) – “bạc” (T) – “trường” (B). Ngoài ra, chúng ta không thể không chú ý đến ba từ láy: “bàng bạc”, “nao nức”, “mơn man” rất biểu tả và biểu cảm. (more…)

Read Full Post »

Buông

 

Chế Diễm Trâm

Minh vật xuống mê man chừng ba, bốn tiếng.

Khi Minh mở mắt, nền trời đã sang màu tro sậm. Chiếc xe honda ngoài sân dựng lên một khối đen thẫm chơ vơ. May quá, nó vẫn còn đó, không thì khốn khổ, không biết lấy gì bôn ba chuỗi ngày tiếp theo. Nằm nấn ná, đúng hơn là không ngồi dậy nổi để bật ngọn đèn, Minh lắng nghe bên hàng xóm người mẹ trẻ mắng mỏ đứa con nhỏ ngậm miệng với miếng cơm bã ra mà không chịu nuốt. Không biết rồi có cơn quát tháo, đánh đập, khóc lóc như mọi bữa không. May mà Minh chưa thấy đói, không thì không biết làm sao ra tới quán cơm nổi đây.

Minh nằm nghĩ đến Nhàn, không biết giờ này Nhàn ra sao khi bạn bè đã ra về hết. Chắc Nhàn vẫn ngồi trước bàn thờ con bé và tự huyễn hoặc rằng con bé vẫn còn đâu đó trên đất Đức, rằng chiều nay Nhàn chỉ buông thi thể một đứa trẻ nào đó mà người ta đã đưa về cho Nhàn cùng với giấy chứng tử và một lá thư chia buồn. (more…)

Read Full Post »

Chạp yêu

Chế Diễm Trâm

Tranh ĐINH TRƯỜNG CHINH 

Bước qua ngày đầu năm, trời bỗng hửng, mặt trời rạng ra và nắng êm, nhẹ và thơm như một sân rơm mới. Quả là mùa xuân đã chạp vào đâu đó, mơ hồ như khẽ đã khẽ chưa. Nguyên như chưa thoát ra khỏi không khí huyền hoặc của một đêm trăng mười ba ấy.

Buổi chiều hôm ấy gió lạnh thênh thang, mây xám mù trời, thỉnh thoảng mưa giắt màn lưa thưa. Trời cuối đông, Nguyên thấy lòng nặng trĩu. Chợt nhớ đến tin nhắn ba hôm trước của Nguyễn khi Nguyên đang đi công tác: “Em đang ở đâu?”. Chàng Nguyễn thường hài hước, thường dắt người nghe từ tràng cười này đến chuỗi cười khác. Nhẹ nhàng, yêu đời. Giá mà toàn những người bạn như thế cũng chả nhọc nhằn tìm kiếm an vui, Nguyên nghĩ thế.

Một tin nhắn gửi đi: “Anh đang ở đâu?” – dù đoán Nguyễn đang ở trong thành phố nhỏ teo này. (more…)

Read Full Post »

Older Posts »