Chiều nhập nhoạng. Hoàng hôn chiếu những tia nắng cuối cùng giát vàng lên ngọn núi Kim Sơn lấp lánh cả một vùng núi cao như bừng lên sức sống cuối cùng của ngày tàn. Người xưa đã đặt tên cho ngọn núi thật thực tế. Núi vàng trong buổi chiều tà. Mây trắng lởn vởn bay bên núi. Mây với núi, vẫn giống như ngàn năm, như đang tâm sự điều gì. Dưới núi là con sông Kim Sơn êm đềm trôi về phía Đông. Chỉ lát nữa thôi là cả núi, cả sông, cả mây trời và cảnh vật xung quanh đều sẽ đi vào tĩnh mịch. Sự vận chuyển này của cảnh vật cũng giống như ở quê ông Hoà, nhưng ông vẫn cứ trầm ngâm tư lự. Đây là buổi chiều hoàng hôn đầu tiên ông ở nơi xa lạ. Ở đây, buổi tàn đông trời có chút ít se lạnh hơn sơn cũng là vùng núi, nhưng núi An Tượng quê ông, dù cao chất ngất khí hậu vẫn ít lạnh hơn nơi này. Từ những ngày còn học trung học ông Hòa đã được cha gửi đến nơi này học võ tuần hai buổi với thầy dạy võ vốn là bạn nối khố của cha ông từ hồi còn nhỏ. Thầy dạy võ ông Hòa là một người có tính khí điềm đạm. Ông học hết Trung học rồi trốn lính trôi dạt đến vùng đất này. Ông rất giỏi võ đặc biệt là là ngọn roi Thuận Truyền gia truyền của ông đã tiếp tục nổi tiếng các vùng đất võ rộng lớn. Dù là bạn của cha nhưng ông Hòa để được thầy võ nhận dạy thật là khó khăn ông đã tiếp xúc với ông Hòa nhiều lần để nhìn tướng mạo, để chuyện trò cho hỏi han xem người học trò này có đặc điểm sát khí không rồi sau đó mới nhận dạy. Mỗi thứ bảy chủ nhật cha ông Hòa chở con vượt hơn hai mươi cây số đường xa, thả con xuống với thầy, đi đâu đó loanh quanh chờ con học xong chở về. Ròng rã ba năm như vậy. Ông Hòa thời trai trẻ đã học được những thế võ rất chắc. Từ những ngày đầu tiên học học đứng tấn đến những bộ thảo, miêu tả diện, ngọc trản thần Công… ông Hòa đều tiến bộ rất nhanh có lẽ ngay từ thời tiểu học ở thành phố biển ông Hòa đã từng học qua Vovinam nên đã tiếp thu nhanh hơn các đồng môn khác. Việc học tập văn hóa cũng vậy, nhờ cha nghiêm khắc kèm cặp động viên, ông Hòa cũng đã học hành đầu xuôi đuôi lọt. Đậu Tú Tài bán, đậu Tú Tài Toàn, rồi đậu luôn Đại học Sư phạm. Những năm tháng ấy sống trong lòng chế độ Sài Gòn cũ, nếu chỉ cần rớt 1 năm là lập tức có giấy gọi nhập ngũ, với các mảnh bằng tú tài thì hoặc sĩ quan Thủ Đức hoặc sĩ quan Đà Lạt, ra khỏi quân trường là lao ngay vào các mặt trận, trên ve áo là quai chảo, hoặc bông mai. Cha ông Hòa khuyên con tuyệt đối không nên chọn kiểu sống một là xanh cỏ hai là đỏ ngực như vậy được. Ông Hòa học sắp xong đại học sư phạm thì miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất. Lúc bấy giờ ngành giáo dục mới sắp xếp lại các trường học các cấp học trên khắp miền Nam. Thầy cô quá thiếu ông Hòa được điều ngay ra giảng dạy ở quê nhà. Ông chọn dạy một trường trung học phổ thông bên vùng núi An Tượng, phía hữu ngạn sông Côn là nơi công tác và sinh sống suốt cuộc đời mình. Khi công việc dạy học ổn định, bằng cấp Đại học Sư phạm mới cũng ổn định, ông Hòa theo yêu cầu của nhiều người dân địa phương, ông đã mở thêm lò dạy võ vào các buổi tối. Ông chỉ nhận năm đến bảy học trò và cũng giống như thầy mình ông chọn mặt và nhận học rất kỹ chủ yếu học trò học phải lấy đạo đức làm đầu. Ông không chủ trương học trò học võ thành tài là để đi thi đấu đài này, đài nọ dù lúc này nhằm khôi phục tinh hoa võ thuật cổ truyền, tỉnh có cho phép các cuộc thi đấu võ đài ở các địa phương trong tỉnh. Quan điểm của ông được nhiều phụ huynh võ sinh nhất trí. Công việc dạy học văn hóa và dạy võ chiếm thời gian của ông khá nhiều, nhưng lúc nào ông cũng thấy mình nhanh nhẹn khỏe khoắn. Nhiều người khen ông làm thầy nào cũng tốt. Ở công việc dạy học từ giáo viên ông đã lên dần đến phó hiệu trưởng, rồi hiệu trưởng. Ông Hòa là một giáo viên dạy giỏi, mẫn cán trong giảng dạy và trong quản lý. Cứ như vậy cho đến khi tròn sáu mươi tuổi, ông Hòa về hưu với biết bao thế hệ học trò trọng vọng. Thế mà chỉ trong một tích tắc ngắn ngủi của một buổi chớm sáng, ông đã làm người phạm tội và ông đã rơi vào vòng lao lý.
Buổi sớm sáng hôm ấy cách nay chưa xa, như thường lệ khi chuông chiếc đồng đồng hồ ông đổ đến bốn tiếng là lúc ông Hòa thức dậy đánh răng súc miệng rồi xỏ giày đi tập thể dục. Ông đi bộ vòng quanh mấy con đường bê tông của địa phương độ nom một tiếng thì về. Sáng ấy khi về đến cổng nhà thì thấy có một thanh niên lạ đội mũ bảo hiểm đeo khẩu trang đang với hai tay đỡ lấy một cái bao gì đó từ người bên trong cổng nhà ông đưa ra trên những cọc sắc nhọn tròn lởm chởm của cánh cổng vẫn đang khóa kín im ỉm. Hai chiếc Honda dựa trên bệ cỏ sát hai bên trụ cổng. Lúc bấy giờ là 5 giờ, nhưng trời mùa đông nên vẫn chưa sáng hẳn. Hình như cái bao gì đó từ trong sân nhà ông chuyển ra nặng quá người thanh niên bên ngoài cổng đỡ không nổi nên rơi xuống thềm bê tông và trong bao là tiếng chó sủa vùng vẫy. Ông Hòa đã kịp nhận ra là chuyện gì. Té ra đây là thủ phạm trộm chó. Con vện là một con chó ông Hòa nhặt được từ đống rác cuối xã từ khi nó mới vài tuần tuổi. Nó gầy nhom đói khát bới rác tìm thức ăn. Động lòng thương, ông Hòa đã đem nó về nuôi đã hơn hai năm nay rồi. Ông Hòa có hai con học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, ra trường xong chúng có chồng, có vợ, có nhà, có cửa, rồi ở tịt trong đó với cháu của ông. Nhiều lần các con ông năn nỉ ông vào sống với con cháu ở nơi đất phương nam ấy, nhưng ông chỉ vào thăm chơi một tuần, nửa tháng thì về. Từ khi nghỉ dạy học, ông cũng thôi dạy võ và hàng ngày chăm sóc mảnh vườn nhỏ trồng rau, trồng cây cảnh và một ít cây thuốc. Con Vện đối với ông là một niềm vui, niềm an ủi khi tuổi già cô đơn. Vợ ông, cũng là một một giáo viên đã chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn giao thông do hai thanh niên say xỉn lái xe Honda tông trên đường đi dạy học về cách hơn mười năm. Hình như con Vện biết ông là người đã cứu nó, đã cưu mang nó, nên nó rất quyến luyến với ông và làm tròn bổn phận canh giữ nhà mà ông giao cho nó. Ông chích ngừa dại cho nó theo yêu cầu của thú y và không thả nó ra ngoài đường. Ông đi đâu xa về nhà, nó vẫy đuôi mừng ăng ẳng trong nhà, sân trước vườn sau nó cắn chết nhiều con chuột. Vậy là nhà ông sạch chuột. Con Vện cũng như loài chó nói chung là những con vật có nghĩa rất trung thành với chủ. Nhưng sáng nay thì, nó đang vùng vẫy ăng ẳng trong cái bao kia. Ông Hòa vừa lên tiếng hỏi người thanh niên tại sao lại bắt chó trộm, thì lập tức kẻ trộm tấn công ông ngay. Cây dùi cui điện, một vật dụng chỉ công an mới được dùng, không ngờ nó cũng có cái dùi cui quất sát rạt vào ông Hòa, ông đã lạn người để tránh được. Thằng thanh niên trong sân nhà ông nghe động cũng trèo ra cổng. Tình thế cấp bách đã khiến ông Hòa lách ra sát cột trụ cổng phía trái vừa né đòn vừa vọt lại giật cây roi cài hờ sát mép cổng sắt và trụ cổng. Đó là một cây roi tre đặc tròn bằng cổ tay, dài tầm một mét hai. Khi có cây roi trong tay ông yên chí phần nào. Ông đảo một vòng bộ pháp thông thường thủ thế. Lúc này thằng thanh niên thứ hai đã trèo được ra khỏi cổng và lấy ra từ trong cái bao treo ở xe Honda một con dao nhọn. Cả hai cùng tấn công ông… Lúc đầu khi có một đứa ông Hòa còn lạn đánh cầm chừng, chủ yếu là tránh né đòn. Nhưng khi cả hai cùng tấn công ông thì ông thấy hơi nguy hiểm. Hai tên trộm đều to lớn đang ra sức áp đặt đối thủ để kịp tẩu thoát cùng với con mồi nên chúng đánh rất sát, toàn những đòn sát khí. Ông Hòa vừa né tránh được lưỡi dao vụt sát mặt ông thì bả vai ông bị một dùi cui phang đau điếng. Không nhẹ được nữa, đòn roi chiến hiểm ông đã tung ra. Các đốc roi giựt thốc vào ngực một địch thủ, tên trộm cầm dao đã ngã bịch xuống nền bê tông, miệng ộc đầy máu. Tên trộm còn lại chưa hoàn hồn cũng bị một đốc roi của ông thụt vào bụng ngã vật ra, miệng la ới ới xin tha tội. Biết chủ có mặt gần bên, nên con chó trong bao càng vùng vẫy ăng ẳng hơn. Ông Hòa nhìn hai tên trộm nằm im trên đất mà hối hận về việc mình đã ra đòn độc. Ông Hòa thả cây roi bên cổng rồi đi lại phía người thanh niên miệng đầy máu, đưa tay sờ mũi, không thở được nữa rồi. Mình đã giết người rồi! Ông Hoà ngồi bệt xuống vệ cỏ đưa tay vào túi sau mở nút lấy điện thoại gọi công an. “ Vâng tôi Hòa… nhà ở… tôi đã đánh chết người trước cổng nhà tôi: Tôi đã gây tội ác, mời các anh tới bắt tôi”. Chỉ vài phút sau là công an xã và sau đó là công an huyện có mặt ngay. Người đi đường cũng tập trung đến khá đông. Công an phong tỏa giữ nguyên hiện trường, chụp hình lập biên bản. Lúc bấy giờ hai người thanh niên tỉnh lại, lăn lộn kêu la. Té ra chưa có người nào chết cả, Ông Hòa nói với công an cho mình được gọi người quen gần đây đưa xe đến chở hai nạn nhân đi bệnh viện cấp cứu. Hai nạn nhân được đưa lên xe. Ông Hòa và một công an cùng theo đi xe về phía thành phố. Hai công an được bố trí ở lại giữ hiện trường. Hai chiếc xe của kẻ gian với những vật dụng bắt trộm chó, cái dùi cui, con dao công an thu giữ. Con chó được mở bao thả ra, cổng nhà ông Hòa cũng được mở. Qua khoảng sân nhỏ là cửa nhà ông Hòa vẫn còn khóa im ỉm. Công an quan sát kỹ cửa trước, cửa sau vẫn khóa kín như vậy đây chỉ là là vụ việc trộm chó chứ không trộm thứ gì khác… mãi cho đến lúc nắng sáng hẳn lên công an làm xong mọi thủ tục hiện trường xong, cổng nhà ông Hòa được khóa lại thì công an và mọi người xem mới lục tục ra về. Tang vật trộm được đưa về đồn .Ở bệnh viện tỉnh một tên trộm bị gãy hai sườn trái, tên còn lại phải nẹp và băng bột khoảng mười ngày nửa tháng thì có thể xuất viện. Tên trộm còn lại bị nhẹ hơn nhưng cũng phải cắt một phần lá lách chỉ mười ngày là có thể xuất viện. Ông Hòa ứng hết toàn bộ tiền viện phí cho hai người bị hại. Thì ra hai bị hại cũng đều là người của thành phố biển này. Do lêu lổng, ăn chơi, cờ bạc không nghề ngỗng gì nên hai thanh niên này đã chọn nghề bắt chó trộm mỗi đêm. Giống như nhiều đạo chích khác cùng nghề, đêm đêm chúng thường đi nhóm hai người lùng sục các hang cùng ngõ hẻm và bắt chó rất thiện nghệ. Khi phát hiện chúng dùng cái kẹp dài kẹp vào cổ chó và cho vào bao ngay. Mỗi đêm hai đứa bắt vài con chó là chuyện thường, bán cũng hơn bạc triệu; các quán Cờ Tây, Nai Đồng Quê mua ngay trong đêm, nhốt lại giết thịt dần. Trường hợp mua được nhiều thì chuyển cho đại lý đưa lên xe tải chuyển ra miền Bắc tiêu thụ. Chó là vật nuôi có nghĩa trung thành với chủ nên được chủ thương yêu. Vì vậy nên một khi chó bị trộm các chủ vật nuôi rất căm tức đã có nhiều vụ án kẻ trộm chó bị nhiều người dân đánh chết và tất nhiên theo luật pháp người sát nhân phải bị tù. Những tên trộm chó nếu chỉ bị bắt thôi không bị hành hung thì chỉ bị phạt tiền cảnh cáo rồi thả, vì vật trộm thường chỉ dưới 2 triệu. Ông Hòa biết rất rõ điều ấy. Nhưng việc ông không tự kiềm chế được mình, ông đã đánh người suýt nữa không còn toàn mạng. Ông rất xứng đáng phải đi tù. Học trò ông, con ông có thể bảo lãnh cho ông được tại ngoại. Nhưng cái tính chất trượng phu của của con nhà võ buộc ông tự nguyện xin được ở tù để răn mình, để làm gương cho người khác. Việc đánh hai tên trộm chó là việc tự vệ chính đáng, ông có thể tự bào chữa cho mình như vậy. Nhưng lương tâm ông Hòa vẫn cứ bị cắn rứt bởi trên hết mình là một người hành võ trên miền đất võ nổi tiếng khắp cả nước này.
Ở tù một thời gian không ngắn, cũng không dài, đủ để ông Hòa nhận ra cuộc sống bên cạnh những thuận lợi phát triển, vẫn luôn tiềm ẩn những khó khăn phức tạp. Sống chân chính với tất cả mọi người. Có như vậy tâm mình mới yên: Ông Hòa được giảm án nhờ biết cách sống tốt trong phận tù nhân.
Về với vùng quê yên ả của mình bên cạnh sông Côn, lúc này ông Hòa đã tròn tuổi bảy mươi tuổi thất thập cổ lai hy nhưng ông Hòa vẫn thể dục đều đặn, vẫn làm vườn, vẫn luyện võ và thăm hỏi bà con mỗi ngày. Học trò ông xa gần ghé thăm ông. Một buổi sáng, vừa xong một giờ thể dục bên bờ sông Côn, ông đang trầm ngâm nhìn dòng sông hiền hòa chảy như từ bao đời, thì hai thanh niên to khỏe đến trước mặt cung tay “ Kính thầy, thầy có nhớ chúng con không?” trong ngoài nhìn kỹ vẫn không nhận ra hai môn sinh này mình dạy từ lúc nào. Cái kiểu cúi mình cung tay đó đúng là con nhà võ nhưng ông Hòa đành chịu, cố nhớ vẫn không nhớ ra được. Ông Hòa lắc đầu xác thực điều đó. Hai thanh niên khúm núm nhỏ nhẹ với ông Hòa “ Thưa thầy. Hai đứa con là hai tên trộm chó nhà thầy ngày nào, mới mà thầy đã quên. Xin cảm ơn thầy đã cho chúng con một bài học. Chúng con ăn năn hối hận giờ trở thành người tốt rồi thưa thầy…”!
Sáng 28.9.21 thấy trên FB của nhà thơ Đoàn Văn Khánh có bài Kinh Nguyện An Lành và Chú Đại Bi lòng tôi bỗng bất an.Gọi anh Khánh không được, thấy Nguyên Cẩn online nhưng gọi mãi đến lần thứ 4 mới liên lạc được. Anh cho biết là đang nhờ các chùa cầu an cho anh Thạch vượt qua nguy hiểm.
Báo tin cho Elena rồi tôi gọi điện cho chị Náo. Chị cho biết hai vợ chồng bị nhiễm covid, đã xuất viện về nhà nhưng anh Thạch còn yếu lắm và gần đây phải thở oxy. Hôm nay anh đã hấp hối 2 lần.
Rồi chị quay màn hình và nói với anh: anh chị Dân Elena từ Ý gọi về thăm. Đang nằm thở oxy anh Thạch nghiêng qua, bàn tay phải vẫy 2,3 lần để chào. Lúc chị cúp máy tôi có nghe 1 tiếng nấc nhẹ bên kia đường dây.
– Không, anh sẽ vượt qua thôi!
Đang ngồi, Elena vội đứnglên đi thắp nhang trước bàn thờ Phật. Lời lẽ cứng cỏi nhưng chắc em cũng biết cái vẫy tay yếu ớt qua màn hình đó là lời chào cuối cùng.“Vượt qua” chỉ là mong ước, mong manh,nhưng trong lòng chúng tôi vẫn còn chút hy vọng..
Nhưng chiếc lâu đài mà hai đứa bé cẩn thận đổ cát xây lên đã bị sóng thuỷ triều lướt qua, đổập.Chúng hụt hẫng nhìnđống cát ướt nằm chỏng chơ trên bờ biển.
Anh đã đi, sau cuộc gọi củachúng tôi chỉ mấy giờ!
Khuya hôm ấy chắc cũng có nhiều bạn thao thức chờ đợi một phép màu!
*
Là giảng viên văn học nhưng khi đến với Quán Văn anh mang theocây đàn và tiếng hát, góp một phần rất lớn để tạo nên không khí sinh động cho những buổi ra mắt. Đến từ số 20, nay 83, hơn 60 số báo anh là một phần không thể thiếu. Có lẽ linh tính là mình sẽ không còn tham dự được với bạn bè nên những ngày cuối anh gọi điện cho Hoàng Kim Oanh để nhờ chị chuyểnlời nhắn “mọi người mạnh khỏe nghe, tôi mệt”!
Những năm qua vợ chồng anh Thạch chị Náo thường tham gia sinh hoạt cùng tập san Quán Văn, họ như như 1 cặp đôi hoàn hảo về sự thân thiện và nhân cách và chiếc đàn theo anh chị và bạn bè đi đây đó khơi dậy tình tự dân tộc qua những tình khúc, trường ca hoặc những bài hát do anh sáng tác.
Còn nhớtrong chuyến đi Phú Quốc, vừa lên xe ở Kiên Giang thì mưa gió bão bùng… Ngồi trên xe mọi người nhìn nhau ngao ngán. Tiếng mưa đập vào thùng xe bôm bốp nhưng bỗng nhiên từ cuối xe vọng lên “Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến…” mọi người nhìn xuống thấy anh đang cầm đàn và tất cả đều hát theo anh. Tiếng hát át tiếng mưa, khí thế hừng hực. Lòng ái quốc như sống dậy trong hồn mọi người.
Điều tình cờ kỳ lạ là khi xe vừa đếnkhách sạn hay quán ăn thì mưa tạnh. Mấy lần như thế nên Mỹ Lệ “hùng hồn tuyên bố” là mình đã nhắn tin cho ông Trời, được mưa chừng ấy thôi để anh chị em QV khỏi ướt.
Những kỷ niệm với anh có nhiều nên từ naytrong lòng mọi người sẽ cảm thấy trống vắng.
Anh Thạch còn là đồng hương nênkhi gặp nhau chúngtôi cũng thường nhắc lại một vài kỷ niệm ở quê nhà. Thời gian đầu anh cũng hỏi tôi về các truyện ngắn hay về sự hình thành tiểu thuyết“Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Được trải lòng với anh tôi thấy vui như đứa em chia sẻ vơi anh mình.Còn chị Náo chân thành nói mỗi khi mua QV về là “tìm bài của Elena đọc trước.Sao mà cô dâu Ý này viết văn với một tâm hồn Việt Nam?”
Anh Thạch ra đi trong mùa Covid nên tất cả các bạn chỉ có thể viếng tang online. Một buổi chiều buồn cuốitháng chínđêm trước ngày di quan chị Náo đã gọi video cho tất cả bạn bè.. Nguyên Tâm, Nguyên Cẩn, Ban Mai, Tịnh Thy, Trúc Hạ .v.v… để mọi người được anh từ biệt…Ai cũng nghẹn ngào không nói nên lời. Đứt ruột. Thương anh chị quá!
Mọi lời phân ưu đều cần thiết nhưng, đối với những mất mát quá lớn ấy chỉ có thời gian mới đủ sức xoa dịu. Tôi và Elena chỉ lặng nhìn chịvà nói bằng ánh mắt ngấn lệ.
Trước lúc ra đi anh còn hỏi chị Náo sinh nhật 10 năm Quán Văn ngày nào?
&
Mười năm!Từ một nhóm nhỏ chỉ vài người, cóngười chắc chắn là chỉ vài số báo rồi chết yểu như các nổ lực của các nhóm yêu văn trước đó, không ai ngờ là Quán Văn đến giờ có tuổi thọ 10 năm! Đã 83 số báo! Lời hứa sẽ cố gắng đến số 100 đã đi hơn 4/5 chặng đường. Nhưng niềm vui là tập san ngày càng mở rộng. Bạn văn, bạn đọc khắp nơi từ Nam ra Bắc, miền Trung miền Tây và vượt qua biên giới để đến Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Nhiều thế hệ yêu văn chương khắp mọi miền đã tìm đến nhau…Có những người đến, xẹt qua bầu trời văn học rồi đi nhưng cũng có nhiều người ở lại. Cùng các bạn trẻ, nhiều “cụ” tuổi trên 80 mà vẫn góp mặt, xem văn chương như niềm đam mê bất tận nhưng cũng có người không còn viết nữa, ghé vườn văn khoe dáng 1 chút rồi đi theo con đường khác, tuy thỉnh thoảng có đến, ghé mắt,bàng quan như cỡi ngựa xem hoa.
Nhưng những ai còn lại, tâm huyết, vô tư, hồn nhiên hết mình cho 1 tờ tạp chí khiêm tốn nhưng mang nặng tình người, chung tay vun đắp cho ngôi nhà văn chương mà không so đo toan tính cá nhân.
Mười năm, hơn 80 số báo. Thông điệp của QV vẫn đơn giản và không hề thay đổi, là cuộc đời ngắn lắm trong cáichu kỹ vũ trụ mênh mông,phận người chỉ là một bóng phù du, như con thiêu thân chưa chờ đến ngày mai thì đã hoá thành tro bụi. Tham làm gì. Ác làm gì. Cuộc đời sống mà biết yêu thương nhau không phải tốtđẹp hơn sao?
Trong những ngày này, nhìn những đoàn người tứ tán bỏ chạy trên những con đường từ Nam ra Bắc tôi chợt nhớ đến bài Con đường cái quan mà anh Thạch thường hát.Được nhạc sĩ Phạm Duy khởi soạn vào năm 1954 lúc đất nước vừa bị chia đôi bằng hiệp định Geneve. Tuy là người chối từ chính trị nhưng nhạc sĩ vẫn thường dùng văn nghệ để bày tỏ thái độ.Trường ca này được Phạm Duy hoàn tất phần đầu,như một sự phản kháng, khi đang du học tại Paris.
Nhưng nếu Con đường cái quan nói về một lữ khách đi trên con đường từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mau, đi trong lịch sử và lòng dân từ ngày lập quốc cho tới khi hoàn thành xứ sở, tới đâu cũng có tiếng dân chúng ca hát chúc tụng nối được lòng người,chiến thắng thiên nhiên… thì những ngày đại dịch từng đoàn người đã rời bỏ Sài Gòn bất chấp mọi nguy cơ về giao thông, về những bất trắc gặp trên đường như bệnh hoạn, đẻ rớt, đột tử…Đường xa vạn dặm…và cuộc trở về căng thẳng trong bão bùng mưa gió vẫn không ngăn nổi sức mạnh của lòng tuyệt vọng, khi người dân không còn khả năng trụ lại.
Giấc mộngđổi đời đã làm bao người phải rời quê chen vào Sài Gòn kiếm sống, giờ đây Covid đã biến thành ác mộng.Trải chiếc khăn trên lề đường, vắt 2 tay sau gáy họ sẽ ngẫm nghĩ gì về cái nghèo, cái đói cái khổ sở trong cuộc đời cơ cực của mình? Về, sẽ làm gì và bao giờ quay lại? Trong số hàng chục ngàn người về quê bằng xe máy có rất nhiều trẻ em. Và đây sẽ là những ký ức kinh hoàng khó quên trong đời chúng.
Tôi bỗng nhớ đến bức tranh“sự vô hình của nghèo đói!” của hoạ sĩ Kevin Lee:
Trong đại dịch Covid nhiều người đã ra đi. Nhưng nếu không có dịch thì xưa nay từ đế vương đến thảo dân, ngay cả chúng ta đang tay bắt mặt mừng hôm nay ai rồi cũng đến lúc phải rời cõi tạm. để lại trong lòng những ai còn sống những vết thương không bao giờ lành và nỗi tiếc thương không thể nàonguôi.
Vì thế khi ngồi chờ đại dịch đi qua…để có được sự “bình thường mới” tâm trạng tôi rất giống nhà thơChu Trầm Nguyên Minh khi chờ “Năm mới” [1]:
Hãy đốt giùm anh nén hương
Gọi hồn những người đã khuất
Những người đã bỏ anh lại một mình
Với đời mồ côi lệ đắng
Với nỗi chua cay nát lòng…
Tiếng đàn thiết tha hay hùng tráng của Đoàn Đình Thạchgiờ đây tuy đã tắt nhưng dáng dấp hiền hoà, giọng nói nhẹ nhàng và nụ cười ấm áp trong những lần họp mặt, trong những chuyến đi lên rừng, xuống biển với QV vẫn còn đó trong tim mọi người.
Xin ghi lại những tiếng vọng từ các bạn Quán Văn, nói như Hoàng Kim Oanh,thắp một nén hương bái vọng gửi theo anh…như gửi chút yêu thương ấm áp của tình thân và niềm tưởng nhớ của bao người. Nó là tiếng vọng của yêu thương của tình bạn của đồng cảm và chia sẻ, của “Gia đình Quán Văn”.
-Đặng Châu Long: “Những bài ca anh hát là những bài hát tôi vẫn nghêu ngao từ Trường ca Con đường Cái Quan, Trường ca Mẹ Việt Nam đến những bài ca rời tình ca, du ca hào hùng một thuở…Chúng tôi sẽ luôn nhớ về anh như luôn nhớ những bài ca anh hát. Lời hát đó không chìm mất trong vũ trụ bao la mà sẽ ngân vang mãi trong lòng những người bạn quý mến anh.
-Nguyên Cẩn “ Câu thơ này thay tiếng khóc tiễn đưa anh .
– Anh đã đi mang tiếng hát lên trời
Cả tài hoa với một đời âm nhạc
Đêm qua mau anh chẳng nói nên lời
Chào từ biệt thân tình trong cuộc sống
Trong gió khuya nghe lá rụng sau vườn
– Anh uống cạn chén tình vui trần thế
Mai vắng anh trong những cuộc sum vầy
Cung cầm gẫy tiếng đàn đêm vẫn vọng
Những chuyến đi bao thương nhớ vơi đầy
– Lưu Hồng Diễm, chủ nhân chiếc du thuyền King Yacht, nơi cuối cùng nhóm Quán Văn gặp mặt cùng anh chị: “Chú Thạch ơi!!! Con còn chưa được hát nữa mà!!!! Con đang khóc đây! Thế là từ nay vĩnh viễn con không còn được chú đàn cho hát nữa rồi! Vĩnh biệt chú.”
-Hoài Huyền Thanh:Tiếng đàn tiếng hát đâu đó vẫn nhặt khoan
“đồi núi cao nghe gió vi vu” trên đường ta đi tới
trên dặm đường trường mai sau còn ai lĩnh xướng
Đường Cái Quan nhớ quá giọng hò khoan.
-Nguyên Tâm:… Tiếng đàn
giờ đã tắt rồi
Buồn vui gửi lại,
luân hồi… biệt ly
…
Ôm đàn, về cõi xa xôi
Anh đi thanh thản. Phai phôi kiếp người!
Tiễn anh về cõi nghìn trùng.
-Nguyễn Thị Tịnh Thy, từ thành phố Huế : “Tôi đã từng chảy nước mắt khi nhạc sĩ Đoàn Đình Thạch ôm cây đàn ghi ta và cất lời lĩnh xướng những bài Tình ca, Con đường cái quan của Phạm Duy. Mấy chục anh chị em của tạp chí Quán Văn già có trẻ có hoà cùng giọng anh. Chúng tôi không phải nhả từng chữ, mà đang nuốt từng lời, đang uống từng hơi hồn thiêng sông núi, để tim mình đầy lên, căng trào và bật ra không chỉ là tiếng hát mà còn là tiếng khóc yêu thương, tiếng nghẹn ngào có giai điệu của hạnh phúc”.
– Và Hoàng Kim Oanh nghẹn ngào chuyển cho các bạn lời cuối: “ChịNáo đưa máy. Bảo bật camera. Anh cừời nhẹ: “Chào cô Oanh” và “Chúc cô cùng gia đình bình an mạnh khỏe! Mọi người mạnh khỏe nghe. Tôi mệt!”
Có lẽ còn nhiều, nhiều nữa…
Và chắc chắn rồi đây, mỗi khinghe tiếng hát.. của những lần sinh hoạt QV thì hồi ức về anh không thể phai mờ, vì tiếng ngân của nó còn đọng lai trong lòng những ai yêu thương anh sẽ vọng lại không nguôi.
Như hơi lé một xíu, cô bác nói, con nhỏ đó có con mắt lé kim trông duyên hết biết luôn. Như lại hơi móm móm, vụ này cũng duyên luôn. Thêm cái dáng ơi là mi nhon nên cả chục anh theo xin xách dép. Như chọn anh Dũng. Anh bô trai, tóc tai bồng bềnh và tướng tá rất là nghệ sĩ. Người vậy theo mình, mình không gật là ngu bà cố. Như nhẹ dạ non lòng nghe anh hứa cưới xong sẽ đi trăng mật ở Đà-nẵng cho Như biết cáp treo Bà-nà như thế nào. Vậy là Như cho. Được rồi Dũng đưa Thi, bạn thân của Như lên Sài gòn vi vũ vi vu. Bà nội cha thằng họ sở – Như chửi – sẽ có một ngày tao cho mày biết thế nào là lễ độ.
Nói xong cô lên xe giường nằm cao cấp đi một hơi lên Miền Đông. Cái miền mà một bạn – cũng thân – của Như đang làm ăn. Nhỏ bạn tên Thanh. Sau một ngày ăn ngủ trong một phòng trọ hết sức là sang cả và lịch sự. Trọ mà triệu rưởi một tháng là quá xá sang. Thanh nói:
– Ở với tao chia đôi nhà trọ điện nước. Một mình tao oải quá.
– Ô kê.
Sau đó Thanh dẫn Như đến Mat-xa thư giãn ra mắt bà chủ Hoàng Trinh. Ông tên Hoàng bà tên Trinh. Sau một lần nhìn lén bạn Thanh phục vụ khách mát xa qua tấm kính gắn ở cửa, Như rành nghề không cần học. Công việc cực kỳ đơn giản nên không có lương. Phục vụ viên hưởng tiền “bo” từ khách tùy vào cái gọi là “biết”thư giãn. Biết nhiều bo nhiều biết ít bo ít. Khách hầu hết là vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa, muốn được bo nhiều thì, tiếp viên nếu, không bảy không ba thì, ít nhất cũng một rưởi cái vụ vành ngoài vành trong.
Trên đời này chả có cái chi, dù khó đến đâu mà thiên hạ làm được ta lại không. Như cũng vậy. Thanh làm được Như làm được. Với lại yêu đương với Dũng, gì chứ, vụ xoa bóp tay chân lưng cổ Như rành. Đấp bóp hả? Dễ ẹc. Với lại khách đến để thư giãn là chính chứ chân yếu tay mềm tẩm quất ra cái ôn chi. Thư giãn là chi? Xin thưa là vào tai anh – sao cho – đêm qua rủ rỉ rù rì, tiếng nặng bằng bấc tiếng chì bằng bông. Phải êm như mơ và ngọt như mía lùi. Cho anh ôm một phát lâu lâu được không cưng? Anh sáu mươi ôm em mười tám tên Như lót chữ Quỳnh sướng chết mẹ thì vài trăm bạc nghĩa lý chi. Như đã mới keng xà beng ở mat-xa thư giãn Hoàng Trinh lại dịu dàng nên ai cũng “con Như nghe… Nó bận hả? Tui chờ”. Khách nói vậy với chủ Hoàng Trinh. Nên chi Như kiếm ngày vài triệu là nùi nụi cái sự chắc.
Có một khách trẻ trung như cành hoa hồng và hồn nhiên ánh lửa tuần nào cũng đến Hoàng Trinh hai lần và yêu cầu Như phục vụ. Đấm lưng và vỗ đầu cho anh khỏe lắm bởi anh cạo trọc. Anh có vẻ mê Như. Anh ôm Như tha thiết lắm. Vụ ôm mà tha thiết Như rành bởi Dũng từng ôm cô rất chi thiết tha:
– Anh ở đâu? – Như hỏi.
– Ở xứ nầy luôn cưng.
Đó rồi anh hỏi quê quán gia đình chồng con Như ra sao. Có sao Như nói vậy. Chuyện bị tình đá bổng đá bỏ Như kể luôn. Rồi Như thút thít thiệt ơi là thiệt. Ba cái vụ nước mắt này là Thanh dạy cho Như. Dạy rằng:
– Nước mắt đóng đinh vào tâm bọn háu gái tơ lắm mày ơi. Nhứt là bọn có tuổi. Ở nhà chúng chán con vợ già đã dơ còn hôi nên mày chớ có ngu mà nói tục với bọn nó nghe.
Anh đầu trọc trẻ nhưng cũng bị nước mắt Như đóng đinh. Có lần anh cho Như cả triệu. Ngon ơi là ngon.
Làm ăn được nên rằm nào, mồng một nào Thanh và Như cũng đi chùa để cầu xin ơn trên phù hộ. Phải vậy chớ. Chả phải trên trần gian ô trọc lóc nầy cái gì cũng được tối cao thiêng liêng xếp đặt cả đấy sao – và – dân gian có câu có khấn có thiêng có kiêng có lành. Lại rằng “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng…” vậy nên ngoại trừ bỏ tiền vào mấy cái thùng công đức trong chùa, Thanh và Như còn mua chim mua cá phóng sanh. Cho ăn mày là đương nhiên thì quý vị sư ông, sư cô trong áo vàng đi khất thực lại càng đương nhiên gấp bốn lần.
Một hôm nọ:
– Tao nhớ ông sư này quen quen. – Nhìn một khất thực Như nói.
– Có cha trọc đầu nào yêu cầu mày phục vụ thư giãn hem mà nhớ? Vụ thư giãn nầy thập loại chúng sanh có hết à nha.
Sỡ dĩ Như nói quen quen là bởi khi thư giãn, đèn trong phòngrất là mờ mờ. Phục vụ và khách một lần đến xem như khỏi biết. Nhưng ba bốn dăm bảy lần thì không nhớ mà được sao. Đi qua được mấy bước Như gọi:
– Anh Hùng… – Hùng là tên của anh đầu trọc.
Như chăm chú quan sát và cô biết. Trăm phần trăm khất thực áo vàng là Hùng bởi y thoáng giật mình. Thiệt là tình. Thanh nói thập loại có đủ trong matxa thư giãn sao mà đúng quá. Và ngay lúc ấy Như mong gặp khách chơi đầu trọc tên Hùng xiết bao. Gặp để làm chi chả cần biết nhưng cứ gặp cái đã.
Chủ nhật ấy anh trọc đến.
***
Nhưng Hùng Trọc phải chờ Như những tiếng đồng hồ mới gặp được nường. Ai từng matxa thư giãn chắc biết quy luật cho một lần xông hơi, sau đó là đá hay chân cho cái gọi là mát miết nầy. Một tiếng một phi vụ và quá giờ là phải chi thêm tiền. Giả dụ tiếng đầu một trăm bốp thì tiếng sau thêm năm chục.Với dân chơi thì ngoài trăm bạc cho một lần cũng chả là nghĩa địa gì. Nhưng chờ đợi tình nương thì chả ông nội nào không“Gớm sao mà nhớ thế…” và, đừng hòng được bập phà thuốc lá như trong thơ Hồ Dzếnh đâu mà ham. Máy lạnh mà hút thuốc cho chết vì ô nhiễm à? Được một anh giai chờ cả tiếng thì người đẹp hành “nghiệp” nầy ngón nghề phải dữ lắm. Nhưng, dân chơi bảo rằng thư giãn thì chỉ là thư giãn mà thôi, còn muốn cạn tàu hay cạn tình – a lê hấp – anh chị đi nơi khác sau khi ngã giá. Ta bà mới hỏi rằng thư giãn chỉ là thư giãn mà thôi là cái nghĩa lý gì? Nghĩa là – dân chơi trả lời – phục vụ viên chỉ được đứng xoa bóp cho khách chứ không được nằm.
Cảm cái tình chàng trọc đầu đã chờ mình cả tiếng đồng hồ, Quỳnh Như bèn xoa cái đầu trọc của anh mà rằng:
Cám ơn con lừa trọc của em.
Hùng rất khoái ba từ con lừa trọc. Chàng hỏi nàng:
Em moi đâu ra ba từ nầy vậy?
Hì hì hì… trongphim Thủy Hử đó anh? Ba từ nầy là trại chủ Đặng Long gọi Lỗ Trí Thâm đó.
Vậy ha… anh đâu biết…
Em hỏi thiệt anh nghe.
Hỏi đi?
Bộ anh tu hả?
Trước có nay hết rồi.
Hết sao vẫn còn bình bát áo vàng đi ăn xin.
Anh hành nghề khất thực chứ không phải ăn xin.
Là sao? Có gì khác nhau đâu?
Khác chứ. Khất thực không xin. Ai cho thì bỏ vào bình bát chứ không xin.
Quỳnh Như gật gật đầu… à ra thế, ra là thế… rồi cô cười khắc khắc khắc:
Trước anh tu ở đâu mà sao phải tu?
Nhà anh nghèo em út đông nên, năm tám tuổi lại là con riêng, ở không được vơi ông dượng nên má gửi anh vô tịnh xá gọi là tu tập nhưng thực ra để bớt miệng ăn thôi cưng.
Nhưng sao không tu nữa?
Trầm ngâm một lát con lừa trọc thú thiệt:
Ở tịnh xá lúc mới vào, ban ngày anh theo mấy sư ông đi khất thực. Đêm về thì tụng niệm, bốn giờ sáng là công phu khuya… mệt mỏi lắm em.
Tôi nghiệp con lừa trọc của em. Rồi sao nữa?
Để kể cho nghe… đêm đó mệt quá anh ngủ luôn trên chánh điện. Chừng hai giờ sáng giật mình tỉnh giấc thì thấy một sư ông đang chôm tiền.
Chôm? Tiền đâu mà chôm?
Trong thùng công đức chớ đâu.
Sao chôm được?
Sư ông dùng một thanh tre thiệt mõng, mõng như lá lúa vậy đó. Một đầu que sư ông dán băng keo hai mặt rồi thọc vào thùng. Vậy là giấy bạc cứ thế vô túi. Em hiểu rồi chớ?
Ghê thiệt há anh? Rồi anh bắt chước và bị bắt đúng không?
Ừ… sau đó anh rời tịnh xá tiếp tục nghề khất thực. Nghề này ngó vậy mà nhiều tiền lắm nghe cưng. Có ngày kiếm trên triệu luôn đó.
Nhưng mà mưa gió thì làm sao hả cưng?
Anh là thợ tụng chính cho trại hàng X.
Thợ tụng là sao?
Người chết Công Giáo thì thôi chứPhật Giáo hay thờ cúng ông bà ai cũng mong linh hồn hồn ngươi chết siêu thoát nên cần thợ tụng lắm cưng. Làm nghề tụng phải sành kinh kệ là một, biết tụng là hai. Anh ở tịnh xá cả chục năm nên sành hơn cả điệu.
Con lừa trọc của em giỏi ghê. Tụng vậy một ngày được bao nhiêu hả anh?
Không tụng ngày mà tụng họ. Mỗi họ ba ngày hai đêm. Sáng trưa chiều tối mỗi buổi tụng một thời kinh Địa Tạng. Giá mỗi họ vào thời điểm nầy là một triệu rưởi. Anh một triệu còn trại hàng năm trăm.
Vậy suy ra mỗi ngày chỉ ba trăm?
Có ngày anh tụng hai đám, cá biệt ba đám luôn đó cưng. Nhứt là mùa mưa mấy ông già bà cả tha hồ cưỡi hạc về trời. Thợ tụng có giá lắm.
Vậy không khi nào anh hết việc?
Cũng có… nhưng mà chủ trại hàng có chiêu thức của họ.
Là sao hả con lừa trọc?
Ba từ con lừa trọc tuôn ra từ miệng hoa nghe ngọt như mía Thanh Diệu đem lùi nên anh trai lại khai:
Em biết nghề ngủ thuê không?
Không. Là sao?
Ngủ thuê là khi trại hàng ế ẩm họ thuê người đến ngủ trong hòm.
Bà mẹ ơi… nghề chi nghe ớn vậy cưng?
Vậy chứ ngon tiền hơn anh luôn có đó cưng. Một đêm triệu bạc luôn đó. Nhưng mà cũng có điều kiện đi kèm.
Điều kiện gì?
Phải là con gái chưa chồng.
Là còn zin đó hả? Thời này kiếm đâu cho ra hả con lừa trọc?
Zin hay không chả biết miễn chưa chồng và trang điểm cho thiệt đẹp. Ngủ một giấc sáng ra là ẳm một triệu ngon ơ.
Ớn thiệt há? Đàn bà con gái ngủ trong hòm là gan cùng mình.
Cái gì rồi cũng quen hết cưng.
Chuyện cứ thế mà tới nên hết giờ âu cũng phải. Khi con lừa trọc nằm yên cho Quỳnh Như tẩm quất đã qua giờ kế tiếp. Tiền đối với lừa trọc chả là cái đinh gì nhưng, ôm gái matxa và tâm sự lâu vậy là hơn cả thích đúng không thưa cô bác? Lúc cao điểm anh trọc ôm Như chặt khừ mà rằng:
Anh yêu em lắm Như ơi.
Thiệt hem?
Thiệt. Anh yêu em thiệt mờ…
Vậy ha? Vậy lấy em làm vợ đi.
Em nói thiệt nghe. Làm vợ anh nghe.
Thiệt mà… làm cái nghề như em chán lắm. Khách xem ngữ em như món hàng phá phách cho vui chứ chả ra ôn gì. Dẫn em về nhà đi anh. Em làm vợ hiền nấu cơm giặt đồ cho anh.
Anh chưa có nhà. Em ở phòng trọ được không?
Nơi Như ở hiện tại tuy trọ nhưng không hề là trọ. Đó là phòng mà chủ matxa dành chokẻ làm ra tiền cho họ. Một thiếu gia muốn đáp tại trận thì giá cả phải cao ngất trời xanh lơ, nên phòng phải sang cả như khách sạn ba sao. Có máy lạnh, giường đệm Kimdan, bàn trang điểm cao cấp… ngon vậy mới giữ được phục vụ bởi, chỉ cần làm rau xanh là quý vị đại gia bụng bự thuê nhà có sân có vườn cho Như liền. Như đi nhà trọ ư? Ngu chắc.
Nhưng con lừa trọc tha thiết rằng anh yêu em anh yêu em lắm lắm… hôm nay ta chui rúc trong chật hẹp và hổ lốn tả pí lù của trọ nhưng mai sẽ khác đi nêu ta quyết. Em nghĩ đúng không? Như nghĩ đi nghĩ lại thấy vậy mà đúng. Nghề của cô lấy thần Bạch My làm tiên sư khách nó xem như đồ chơi nay có ngươi yêu mình vì mình chả thích lăm ru? Như mới báo với ông bà chủ về quê một tuần. Ông bà chủ rằng một tuan thôi nha gái. Lâu quá là không được à? Như theo con lừa trọc về chỗ trọ của anh và đúng một tuần cô quay về vơi matxa thư giãn Hoàng Trinh như đã hẹn.
Mẹ cha ơi… đâu có muốn là được như ai đó dạy. Trọ của trọc đầu khất thực không bèo bọt hai mươi mét vuông với cái gác lửng mươi vuông mà diện tích cả nền cả sàn là năm chục, bếp và toi-let riêng. Làm có tiền ngu sao ở chật. Hai ngươi một phong Như chịu liền – kẹt cái – phong của cô và con lừa trọc kề bên phòng của những bốn anh trai. Bốn anh nhìn Như ngờ ngợ. Như cũng ngờ ngợ… à… Như đã nói ở trên là ở matxa thư gián Hoàng Trinh ngày như kiếm hai triệu là như bỡn, trong khi đó một xuất khách bo cho Như ba trăm. Vậy một ngày Như đấm lưng và để cho khách ôm mà ngấu véo ít từ dăm đến bảy anh. Các anh đều tha phương làm đủ thức ngành nghề kiêm sống. Độc đinh độc bộ các anh ghe thư giãn tẩy trần là tất yếu. Nhìn Như các anh ngờ ngợ cũng là tất yêu luôn.
Và… than ôi mới thiệt là than ôi… khi Như đem chứng minh thư đến để khai báo thì cô không ngờ hay ngợ nữa mà dại gia nhà trọ nầy đã từng ngủ vơi cô trongw phòng đặc biệt ở Hoàng Trinh. Vậy nên cô lui về nơi cư ngụ cũ âu cũng là phải quá. Như biêt rằng minh không thể sinh con đẻ cháu làm mẹ làm bà như con lừa trọc của cô mơ ước. Và, một giả sư khất thực thì tương lai chỉ có ma chứ làm chi có Phật trong cái bình bát. Mà Phật là gì để làm chi Như nào có biết.
Cô bỏ sim điện thoại đang xài. Con lừa trọcgọi mãi mà cứ ò í e thuê bao quý khách…. nên thân chinhđến Hoàng Trinh thư giãn và yêu cầu Như phục vụ. Quản lý bảo cô ấy không còn làm ở đây. Hùng buồn. Buồn lắm. Như – may quá –chả yêu thương chi con lừa trọc nên chả chi phiền não. Cô quên Hùng cái vù như quên bao gã trai khác từ thư giãn đến tình một đêm. Một ngày rất lâu sau cái ngày Như rời phòng trọ mà Hùng trú ngụ -nghĩa là đủ để – con lừa trọc quên cô luôn rồi, Như và bạn Thanh- người đưa cô vào nghề mát-xa- ngoạn du đến một ngoi chùa. Chùa có tên rất lạ là Linh Quy Xà. Chùa thờ ông Chơn Võ đâị tiên. Tích rằng ông Chơn Võ thu phục hai con yêu một rùa một một rắn. Chàu mà thờ rắn ràu ăt là lạ hơn thờ tien phạt thánh thần nên hai cô xin váo gặp trụ trì.
Một đạo sĩ tay cầm phất trần xú quẻ bằng mu rùa rồi phán:
Mỗi người một nghiệp khác nhau…
Nghiệp là sao hả thầy?
Là cái duyên từ tiền kiếp. Cai nhân tốt hay xấu ta đã tạo ra từ trước trả không hết nên lấn sang kiếp này.
Có nghề là sao hả thầy?
Nghề là vinh là nhục là giàu là nghèo. Thành công thì vinh thất bại là nhục. Vậy đấy. Con làm nghề gì?
Thầy biết matxa thư giãn không? Matxa là nghiệp hay nghề hả thầy?
Thầy có vẻ rành:
Nghìn vàng khôn đổi được mình. Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?Đưa người cửa trước rước người cửa sau là nghiệp chứ không phải nghề. Muốn hóa giải phải buông bỏ và tu mới đặng.
Nhớ tới còn lừa trọc Như lại hỏi:
Còn ôm bình bát khất thực là nghề hay nghiệp hả thầy?
Khất sĩ là những người tu hành con ạ.
Con không nó giới tăng lữ mà là những người đứng ở ngã ba ngã tư đèn đỏ hay trong chợ mặc áo vàng áo nâu tay ôm bình bát kiếm tiền…
Hồi ức DỌC ĐƯỜNG VĂN NGHỆ ( Phần 60)NGÔ ĐÌNH HẢI,NHÀ VĂN RẤT SÀI GÒN
Ngô Đình Hải tốt nghiệp bằng kỹ sư Nông Nghiệp nhưng quên hỏi kỷ là anh đã thực hiện bao nhiêu công trình trên thực địa.? Mà thôi, là chuyện… nhỏ của những kỹ sư nông nghiệp .Nhưng tôi thấy Hải đã làm “thuỷ lợi” trên cánh đồng văn chương một cách cần mẫn với cả trí tuệ, trái tim… khi viết lên tâm tư mình rất người, rất đời và rất Sài Gòn bằng văn phong “tỉnh rụi” của riêng mình, có sức lôi cuốn người đọc đến lạ lùng.Giọng điệu ấy, buộc người đọc phải đọc đi đọc lại nhiều lần không chỉ truyện ngắn, truyện dài, tản văn mà kể cả thơ nữa.Anh chàng này đã từng đọc,sống và đi nhiều nên lối viết rất hiện thực, hiện sinh song không thiếu chất trữ tình, lãng mạn…của một mẫu người có tính cách như Jean-Pall Sartre, Guillaume Apollinaire và Gabri Garcia Marquez cộng lại.
Được biết trước đây, chàng từng là một thanh niên ham học và cũng “quậy” tới bến lúc biết làm thơ tặng nữ sinh.Đã từng là một Hippy Sài Gòn qua cách ăn mặc theo phong trào của thập niên 60.Có lắm nàng “mê tơi “nhưng chàng cũng có nhiều lúc thất thế trong tình trường để chìm trong men rượu…Năm 1968 Hải và Bùi Chí Vinh thành lập nhóm Hồn Trẻ -nơi quy tụ những cây viết đam mê văn nghệ của SG và lục tỉnh Nam Kỳ.Sau năm 75, chàng kỹ sư nông nghiệp trở thành giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn về mua bán xe hơi.Hoạt động thường thường nên Hải không phải là tay giàu có gì.Vả lại,trong người chàng luôn có máu của họ Lục( Lục Vân Tiên )” Giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha” nên chưa sạt nghiệp là may…
Tôi ưa tính bộc trực,thẳng thắn của Hải nên hay ghé 81 hay 64 Trần Quốc Thảo làm vài cốc bia hơi( thập niên 90, thời gian này 81 là nơi tụ hội anh hùng hảo hán văn nghệ thật và cũng đầy văn nghệ dỏm)Ngô Đình Hải thường giao du với các anh em: Vũ Ngọc Giao,Nguyễn Liên Châu,Châu Đăng Khoa,TuấnPolo, Thuỷ , tôi và một số anh chị em khác khi có dịp về SG.Hơn một năm qua không còn dịp gặp Hải và anh em nơi quán cà phê SàiGòn Phố nhưng trong lòng tôi luôn náo nức những buồi sum vầy như thế để ngồi nhắc nhớ ai còn ai mất sau đại dịch quái ác.Tuy vậy, tôi cũng hay liên lạc với Hải qua điện thoại và biết chàng đang viết truyện dài.Mừng thay!Chắc bạn đọc đang chờ đọc tác phẩm của Ngô Đình Hải-người rất Sài-Gòn? Xin giới thiệu truyện ngắn NGỬA dưới đây mà tôi ưa lắm.
NGỬA
Truyện ngắn Ngô Đình Hải
Đoạn đường ban đêm tối và vắng. Tối tới mức gần như đe dọa, bởi những thứ tồi tệ, nghi ngờ, được che đậy bên trong. Bóng tối khoan nhượng và không phân định tốt xấu!
Không ai thấy gì ở bóng tối. Người ta lo lắng, sợ hãi những thứ không thấy đó! Thường là vậy. Nỗi lo sợ với cái thấy được và cái không thấy, hoàn toàn khác nhau. Ở cái không thấy, sự sợ hãi mơ hồ, nhưng lan rộng, bao trùm lên mọi thứ! Nó làm người ta quên, hoặc cố tình quên, là chỉ cần một đốm lửa nhỏ, một chút sáng, soi vào đó, là bóng tối tan biến. Kẻ nhát gan không dám làm. Kẻ gian manh lợi dụng. Bóng tối, tối thêm. Con đường càng lúc càng vắng. Gian trá mãi, lợi dụng cũng cạn kiệt, bóng tối hao mòn. Người ta mới sực nhớ ra, đem trồng một ở đó một cây đèn đường. Có đèn, con đường tự nhiên bớt âm u. Xe cộ bắt đầu qua lại.
Cột đèn non trẻ tự hào vì điều này. Hắn thấy mình như đang thay mặt thượng đế, ban phát ánh sáng cho nhân loại. Như một thứ cứu tinh cho cái sự sống ban đêm của con đường. Ban ngày, khi mặt trời lên, hắn tự cho phép mình nghỉ ngơi, ngủ một giấc dài, mặc kệ thiên hạ. Thế giới của hắn là về đêm. Hắn thích thú, cố đứng thẳng và rọi thật xa. Chỗ nào có sự chiếu cố, ban phát của hắn, chỗ đó mang một hình ảnh khác. Ánh sáng của hắn có sức mạnh của một đạo quân, quét sạch đám âm binh lẩn quẩn. Hắn ngạo nghễ nhìn dòng người, hắn muốn đọc sự biết ơn trên mặt họ. Nhưng ngày qua ngày, điều này không xảy ra. Người ta theo cái vùng sáng của hắn, chui vào và thoát ra thật nhanh. Ai cũng hối hả, không ai để ý, không ai nhớ lại trước đây, khi chưa có hắn. Không ai dừng lại để ngắm, hay hỏi thăm hắn một câu. Có người còn chẳng quan tâm cái ánh sáng từ đâu ra, nói gì tới hắn.
Hắn bắt đầu thấy buồn và cô đơn. Hắn tự nhủ, không cần cái loại qua đường này, chúng thường là những kẻ vong ơn. Hắn dành thời gian để mắt tới những người ở gần hắn nhiều hơn. Những người mà hằng đêm, đi và về, luôn phải nhờ đến sự tận tâm của hắn. Hắn gồng mình chiếu sáng về phía những căn nhà. Như để gửi lời chào, tới những cánh cổng khép mở mỗi ngày và từng con người bên trong đó.
Mãi mê với những thứ này. Cây cột đèn quên mất, cái phía ngay dưới chân mình. Quên rằng hắn có thể thắp sáng cho nhiều thứ trừ… chính hắn. Chỗ chung quanh thân hắn nhập nhoạng. Vẫn còn hiện diện của bóng tối ở đây. Hắn hy vọng họ sẽ nhìn thấy sự hy sinh của hắn, thấy cái thiệt thòi và chịu đựng của hắn. Và khi những thứ hắn tưởng đó, chưa đi tới đâu, thì từ trong cái tối mập mờ chung quanh hắn. Một cặp trai gái còn rất trẻ dừng xe lại. Họ ngồi yên trên đó, thì thầm to nhỏ. Rồi họ hôn nhau, những cái hôn chặt và lâu. Hắn thích thú với vai trò che chắn của mình. Một lát sau, họ rời nhau. Người con gái đi bộ về phía trước. Chắc nhà cô ở gần đâu đây, và cô không muốn người nhà biết chuyện hẹn hò của mình. Chàng trai nhìn theo ngơ ngẩn, đến khi cô đi khuất mới đi. Được vài tối như vậy, rồi thôi. Hắn không gặp lại họ nữa.
Đêm khác, đúng lúc cây cột đèn không ngờ, không chờ đợi. Một gã say lò mò tới, tay vịn vào người hắn, tay kia tuột dây kéo quần, mùi xú uế lẫn mùi rượu bốc lên nồng nặc. Hắn rùng mình, một bên người ướt sũng. Hắn ngạc nhiên, hắn tức tối. Hắn không tin gã say có thể làm điều này với mình. Chưa hết, gã thuận tay ném luôn tờ báo đang cầm, xuống vũng nước vừa xả ra, rồi mới chịu bỏ đi. Thứ nước khai rình ngấm vào trang báo mở sẵn, làm mực nhòe đi và chữ theo đó tan dần…, tan dần. Nhiều người biết gã này. Có người chào gã là nhà thơ. Thì ra vậy. Tối nào gã cũng từ cái quán nhậu bình dân ở đầu đường, về qua đây. Cây cột đèn cũng có cảm tình với cái tướng đi chệnh choạng, bất cần đời của gã. Nhưng làm quen với nhau kiểu này thì tệ quá!
Gã nhà thơ đi khỏi được một lát. Từ bên trong những căn nhà gần đó. Một, rồi hai, ba người đàn bà thò ra, thay phiên nhau. Rất nhẹ nhàng, đặt dưới chân hắn mấy…bịch rác. Một thứ mùi hỗn hợp mau chóng lan ra trong không khí. Người đi đường tránh xa hắn thêm. Vài con chó hoang, ghé qua kiếm miếng ăn, tiện thể cũng xoạc chân, xả thẳng vào hắn không thương tiếc.
Người hắn bong tróc, ngứa ngáy và hôi hám tới mức hắn chỉ dám nhìn ra xa, chứ không dám nhìn lại mình.
Rồi nắng, rồi mưa, rồi năm tháng chất chồng. Cây cột đèn ngày càng tàn tạ. Hắn mơ hồ nhận ra một phần giá trị thực của mình.
Một tối, chàng trai trẻ ghé lại. Một mình. Chàng tần ngần ngó hắn, rồi ngóng về phía con đường lúc trước. Không có cái lưng áo phất phơ. Không còn tiếng bước chân hối hả. Chàng trai nhặt một miếng gạch bể gần đó, rồi bằng tất cả những chất chứa trong lòng, chàng mài lên hắn chữ HẬN. Cơn đau trong người chàng trai trút lên hắn. Cái chữ ám lên thân hắn. Cái chữ đầu tiên hắn mang trong đời. Cái chữ gây ngộ nhận và làm thành một cái tên, lại chẳng mảy may liên can gì đến hắn. Từ đó, người ta nói chuyện về hắn rất thản nhiên: qua khỏi cột đèn HẬN là tới…Kế bên cột đèn HẬN..
.Cái tên vận vào hắn. Giấc mơ về một sự thay đổi lớn dần. Hắn mệt mỏi và chán chường với công việc. Hắn luôn tự hỏi không biết mình còn đứng được bao lâu nữa!
Hắn chỉ còn trông chờ vào một phép lạ. Và rồi cô gái xuất hiện, với cái nhan sắc cũng bầm dập như hắn. Cô như một nhánh cây khô đã lâu không được tưới nước. Cô trôi dạt từ đâu lại không biết. Hắn chỉ nhớ cái buổi chạng vạng sau cơn mưa chiều, những vũng nước còn đọng lại dưới đường. Hắn vừa lên đèn, thì cô đã đứng tựa người vào hắn, lục tìm thỏi son trong chiếc túi nhỏ bên người, bôi lên đôi môi nhợt nhạt. Cô chải lại mái tóc, kéo chiếc áo cho hở thêm bộ ngực nhão nhoét, rồi ngóng ra đường. Cứ chiếc xe nào đi rề rề ngang, cô lại nhoài người ra đón, mời chào như gặp người thân. Không ai dừng hỏi han, cô lại lủi thủi quay vào nép sau lưng hắn. Thì ra cô làm điếm. Hắn đoán già, đoán non, chắc cô làm nghề này cũng khá lâu, trước không biết sao, chứ giờ chắc cùng đường mạt lộ, mới tới kiếm ăn chỗ này…
Vậy mà từ ngày có cô bầu bạn hắn vui. Hắn thấy mình gần với loài người hơn. Hắn chú ý đến sinh hoạt của cô nhiều hơn. Đêm nào cô ra trể, hay bắt được khách, dắt nhau vào cái nhà trọ rẻ tiền nào đó. Hắn bồn chồn, hắn trông ngóng cô trở lại. Hắn thèm được nhìn thấy nụ cười méo xệch và hiếm hoi của cô khi đếm mấy đồng tiền nhàu nát, hay khi cô cúi gằm đầu ăn tô mì gõ, rồi hắt phần nước lèo còn sót vào chân hắn. Từ ngày có cô, những túi rác tự động dời đi nơi khác. Cũng không còn ai ghé xả lên người hắn. Hắn trở lại vững chãi và tự tin hơn. Hắn thầm cảm ơn cô, vì tất cả những thứ cô mang lại, và cầu mong mọi thứ cứ mãi như thế…
Mùa mưa năm đó, có cơn bão lớn vào thành phố, mưa dầm dề từ sáng. Mặt trời lấp ló, mặt trời âm u và mặt trời tắt sớm. Gió ào ào thổi, hàng dây điện chằng chịt trên đầu hắn chao đảo, chạm vào nhau kêu í ới, lửa nhoáng lên từng chập. Hàng dây níu vào hắn, lôi hắn theo. Đất dưới chân hắn rung lên, nứt rạn. Hắn cố hết sức đứng cho khỏi ngã. Nhưng khó quá, lần đầu tiên hắn cảm thấy rõ rệt nhất, sự già nua của mình.
Cơn gió chợt dừng lại, mưa nhẹ hơn rồi dứt. Người hắn nghiêng hẵn về một bên. Chung quanh hắn tối lại, hắn cũng không còn chút ánh sáng nào để phát ra. Hắn như tê liệt. Cứ thế hắn đỗ xuống từ từ. Không biết ngày mai người ta có dựng hắn dậy, hay sẽ mang hắn đi vứt bỏ ở một nơi nào khác. Mặc kệ, đằng nào thì hắn cũng sắp chết. Hắn ngửa mặt lên nhìn bầu trời, mây đen đã tan, mặt trăng sớm còn ở xa, chiếu chút sáng vàng vọt xuống. Hắn thấy trăng đẹp vô cùng. Hắn bắt đầu cầu nguyện. Lòng thành của hắn được chứng. Nàng đang đi về phía hắn. Không ai ra ngoài vào giờ này. Chỉ có cái đói lôi kéo. Nàng nhìn hắn ái ngại, rồi nhìn ra đoạn đường vắng hoe. Hắn nghe tiếng thở dài của nàng. Ông trời chắc cũng nghe. Gã thi sĩ say rượu ngày thường đi ngang là đi một nước. Bữa nay gã chợt dừng lại, ngó nàng đăm đăm. Cô gái lên tiếng trước: “đi không?” Gã gật gật: “…mà bao nhiêu?” “Bao nhiêu cũng được”. Nàng vừa nói vừa kéo gã lại gần. Gã thọc tay vào túi quần, lôi hết mấy đồng tiền trong đó đặt vào tay nàng: “ở đây hả?”. Cả hai sát vào nhau, nhấp nhô. Nàng tựa lưng vào cây cột đèn, nửa đứng nửa ngồi. Gã say trút hết sức lực, hì hục thở. Cây cột đèn trân mình chịu đựng. Mặt trăng trốn mất dạng. Hai cái bóng dính chặt. Rồi cũng xong. Một tay kéo quần, một tay vẫn nắm chặt tiền, nàng nói: “đi…tui mời anh tô mì…” Gã say xua xua tay, rồi gập người ói thốc, ói tháo lên người hắn. Cô gái điếm vỗ vỗ lên cây cột đèn, không biết để cảm ơn hay chào từ biệt, rồi đi thẳng. Gã say ráng đứng dậy, loạng choạng đi theo sau.
Trong đống thức ăn nhầy nhụa gã vừa ói, những thứ thực sự của chính gã vừa trào ra không kiểm soát, cứ nhấp nháy những dòng chữ, thứ chữ không giống chút nào, với cái chữ trên tờ báo, trong vũng nước đái hôm nọ.May mà gã còn ói được..
NĐH
……
Và thơ chàng:THƠ NGÔ ĐÌNH HẢI
,
DỤ DỖ
hay là mình cứ yêu nhau đi em
để có khóc thì khóc chung một lúc
có giông bão còn nắm tay nhau được
chứ cuốn trôi rồi ai nói ai nghe
hay là mình cứ ở chung đi em
cho năm tháng cạn có nơi nương tựa
cho những đoạn đời cháy trong bếp lửa
biết đâu còn hơi ấm một nồi cơm
hay là mình cứ ngủ chung đi em
nhà còn mái che đâu mà e ngại
hong cây lá ướt cho nhau cùng sưởi
mơ thấy bên ngoài bóng một quê hương
hay là mình cứ đi chung thôi em
xa thật khuất chỗ ta đang mắc cạn
về sông cũ làm lục bình trôi dạt
hoa nở tím buồn cũng bớt cô đơn…
NHANG KHÓI
cuối năm nhớ quá , lên chùa cũ
tìm bóng em ngồi tụng Pháp Hoa
sư hỏi : ” sao không vào mà lễ ?
“thưa : ” thiếu tiếng ai kia niệm Di Đà ! “
chỗ ấy còn thơm hương Bồ Tát
mà , giang hồ bụi cứ theo chân
sợ vô tình chạm tan đi mất
lỡ một hồi kinh với mõ chuông
nam mô , tình dẫu coi như nghiệp
cũng có cho mình được chút duyên
xin gửi khói nhang trong chánh điện
người ở bên ngoài đỡ nhớ thêm .
.BỮA NHẬU GÓP
Đám bạn cũ gặp nhau rủ nhậu
Đứa nào có gì góp nấy
Một tên chìa ra chai rượu gạo
– Tao góp “nước mắt quê hương” cho nó mau say
Cho quên đi cái trống rỗng của tháng ngày
Ly rượu nhỏ lọt thỏm trong lòng bàn tay
– Tao góp mấy tiếng cười
Cho những giấc mơ thấy đường về trong đêm tối
Tên khác dốc cạn ly không nói
Lặng thinh đếm coi còn thiếu mấy chỗ ngồi
– Tao góp thời tuổi trẻ xa xô
iChiến tranh đã qua lâu mà mất mát còn hoài
– Tao góp bằng Tú Tài đôi
Công ăn học đem ra đứng chợ trời
– Tao góp những cuộc tình ngây dại
Yêu mà sợ chiếc khăn sô trên đầu người con gái
Tên khác cúi mặt không nhìn ai
Lẩm bẩm góp câu
– Lũ chúng mình sinh nhầm thời!
Tên nữa móc túi đặt lên bàn mấy tờ tiền giấy
– Tụi mày đừng ngại, trong đó toàn nước mắt và mồ hôi
Tên còn lại cho tao góp với
Cái thứ thèm uống cho trôi
Thứ không thuộc về mình lâu rồi
Thứ người ta định nghĩa là…Cuộc đời!
Có mỗi chai rượu mà chừng đó mồi Phải say thôi!..
.*TIỂU SỬ NGÔ ĐÌNH HẢIKỹ sư Canh Nông, Bắc di cư, sinh Hải Phòng, sống và lớn lên ở Sài Gòn. Nhóm thơ Hồn Trẻ với BCVinh (1968). Viết tự do. Đã xuất bản: Nhỏ ơi(thơ), Đời ơi (thơ), Ngửa (tập truyện ngắn), Còn&Mất (truyện dài).Đang in: Tôi ơi (thơ), Nghiệt (tập truyện), Phù Hư (tập truyện), Giang hồ khô nước mắt (tiểu thuyết).Tôi nghĩ và hy vọng Ngô Đình Hải còn mãi tư duy để đi,sống và viết như câu nói nổi tiếng của nhà hiền triết Descartes: Tôi tư duy nên tôi tồn tại( I think,therefore I am).Trần Dzạ Lữ( Xuyên Mộc 16.10.2021)Hình : Nhà văn NĐH