Nguyệt Phạm Em đã qua những mùa ngẩn ngơ nổi gió Bão đã qua từ lâu Chỉ còn hoang tàn trú lại trên cây Những buổi chiều tỉnh táo đi qua những tàn cây lại nẩy mầm và những chú chim theo thói quen lại về bâu đen vòm nhỏ.
Ngày chỉ còn lại là những túi nhỏ vay mượn Những câu chuyện có đầu có cuối nhưng đôi khi chằng đi tới đâu. Rồi thì, dần quen Kêu ca dần thành giai điệu thân thuộc.
Em thuộc về một nơi nào khác khác mình khác người Chỉ còn là một khái niệm Em đang nói gì Đôi khi còn không hiểu
Những mộng mơ xa như chưa từng đi qua Chỉ là thoáng trong cơn mơ của một người khác Em viết tên mình lên những khóc cười sân khấu Dạọ quanh ngày vội vã đến vỡ hơi.
Một bài hát chỉ còn trong tưởng tượng Chia ly nỗi nhớ bằng những sóng âm…
Thời gian gần đây, những lúc nhức mỏi, tâm trạng không được thăng bằng cho lắm, tôi thường tìm đến thơ Nguyễn Văn Gia, và đọc văn Elena Pucillo. Lời văn tự sự của chị như một liều Aspirin xoa dịu nỗi nhức nhối trong lòng người vậy. Có thể nói, Elena Pucillo là một hiện tượng đặc biệt trên diễn đàn văn chương Việt trong những năm gần đây. Sự đặc biệt ấy, không hẳn bởi tài văn, mà là sự nhào trộn, hoà tan cái văn hóa Ý- Việt vào những trang sách của chị. Đọc văn Elena Pucillo (qua bản dịch của Trương Văn Dân) nếu không biết trước, có lẽ ai cũng nghĩ, tác giả phải là người Việt. Bởi, bối cảnh, tâm lý, hồn cốt nhân vật như đã được Việt hóa hoàn toàn vậy. Có lẽ, cái món văn hóa spaghetti tan chảy vào cái văn hóa nước mắm chăng? Chẳng vậy, có lần ngồi khật khừ với Nguyễn Đức Minh ở Bischofswerda, người rất thân thiết với vợ chồng Elena Pucillo-Trương Văn Dân, chẳng biết đùa hay thật gã bảo: Làm bất cứ loại Spaghettisoßen nào (nước sốt mì Ý) Elena cũng cho nước mắm cá cơm Bình Định nguyên chất vào. Tôi không tin như vậy. Nhưng mấy năm trước Elena sang thăm tôi, bún mắm tôm cứ thấy chị đả đều đều.
Nhà văn Elena Pucillo người Italia, là tiến sĩ ngôn ngữ và văn học nước ngoài. Chị đã từng là giảng viên Đại học Milano, và Đại học âm nhạc, cũng như Đại học khoa học xã hội, nhân văn Saigon. Nghiên cứu và tiếp xúc với văn chương từ rất sớm, nhưng Elena viết văn muộn. Và chị chỉ viết khi cảm xúc ùa đến bất chợt, buộc phải cầm bút, do vậy văn của chị rất sinh động và chắt lọc. Và nếu không có sự cổ vũ, dịch chuyển sang Việt ngữ của người chồng, nhà văn Trương Văn Dân, thì có lẽ, văn chương của Elena không được nhiều người biết đến như hiện nay. Thật vậy, những tác phẩm: Bóng của ngày, Một phút tự do, Vàng trên biển đá đen, Cùng Bay về Tâm dịch đã xuất bản, và Hạt bụi lênh đênh, cùng Nỗi đau ngọt ngào sắp xuất bản của chị đã được Trương Văn Dân dịch nguyên bản từ tiếng Ý một cách sinh động và tinh tế.
Văn chương Elena gồm hai mảng chính: Truyện ngắn, và tùy bút, tạp văn. Tự sự là nghệ thuật xuyên suốt những trang viết của Elena. Và khi đi sâu vào đọc, ta có thể thấy, Elena là một nhà văn có tài khám phá, miêu tả diễn biến nội tâm, hay mượn cảnh vật thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng nhân vật. Nếu được phép tuyển chọn, với tôi Vàng Trên Biển Đá Đen là tập truyện hay và tiêu biểu nhất về nội dung, cũng như thi pháp (hình thức nghệ thuật) sáng tạo này của Elena.
*Tính chân thực, với cái nhìn nhân bản.
Có thể nói, ngay từ những ngày đầu nghiên cứu ở Đại học Milano, Elena đã bén duyên với viết lách, nhưng chỉ đến khi về sống và giảng dạy ở các trường Đại học Saigon thì tài năng văn chương của chị mới được phát tiết. Có lẽ, đất và con người nơi đây đã cho chị những cảm xúc đặc biệt chăng? Có được những trang văn chân thực, làm rung động mọi tầng lớp người đọc như vậy, ngoài bút lực, ta có thể thấy, tình yêu, tình người của Elena sâu đậm biết nhường nào. Để có được những cảm xúc ấy, Elena đã đi vào khám phá nội tâm tư tưởng, hồn vía con người nơi đây, từ đó có một sự đồng cảm sâu sắc. Và “Con chim nhỏ trong lồng” là một truyện ngắn như vậy của chị. Nhà văn đã chọc thẳng ngòi bút vào cái vô cảm, sự mâu thuẫn gia đình, xã hội mà bấy lâu nay dường như đã bị chìm lấp. Lời văn tự sự, hay là tiếng kêu bất lực vọng lên từ những mẹ, người già cô đơn, hiu quạnh trước sự thờ ơ, ghẻ lạnh của con cái, gia đình và xã hội: “Bị giam hãm giữa bốn bức tường, tôi như chết từng ngày, lặng lẽ ngồi cô đơn trên thành giường mà chẳng có căn phòng riêng nào để trú ẩn. Những tiếng động bên kia bức tường là của những người xa lạ, của những người hàng xóm không quen, lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của tôi.”. (Con chim nhỏ trong lồng)
Nỗi đau, sự tuyệt vọng ấy, đã đẩy người mẹ đến đường cùng, ngõ cụt. Tự kết thúc cuộc sống là lối thoát duy nhất của bà. Thân phận con người cùng tâm trạng đó đã được nhà văn Elena lồng vào sự vần vũ của đất trời, thiên nhiên. Sự miêu tả độc đáo, cùng những hình ảnh so sánh, với phép ẩn dụ này, dường như nhà văn muốn làm giảm đi nỗi đau của bi kịch đó, và bật lên tấm lòng vị tha của con người, cũng như của chính tác giả chăng? Tuy vậy, từ cái hiện thực đó ta vẫn nhận thấy cái rẻ mạt của tình người, và nhân cách. Và cái luân lý, đạo đức đã bị đảo lộn tùng phèo trong gia đình, xã hội đương thời, gây nhức nhối cho người đọc. Đoạn kết của thiên truyện: Con chim nhỏ trong lồng (dưới đây), tuy rất buồn, nhưng có lời văn nhẹ nhàng, và tuyệt đẹp. Nó không chỉ cho ta thấy rõ những điều đó, mà còn chứng minh tài năng sử dụng biện pháp tu từ của nhà văn Elena:
“Đêm nay có một vầng trăng tuyệt đẹp trên bầu trời, chỉ có một phần rất nhỏ bị che bởi một sợi mây. Tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi, và từ cửa sổ tôi nhìn xuống thành phố đang ngái ngủ. Tia mắt tôi dõi theo ánh đèn màu đỏ của một chiếc xe hơi dọc theo hàng trụ đèn đường. Yên lặng quá. Từ trên cao ánh sáng chiếu xuống mềm mại như bông làm tôi có cảm giác như mình cũng đang đứng trên một cụm mây. Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác”.
Từ yêu người, dẫn đến tình yêu mảnh đất nơi đây, làm cho Elena gắn bó chặt chẽ với nó. Sự đi lại tìm tòi, khám phá với cái nhìn, quan sát tỉ mỉ cùng sự sẻ chia, cảm thông sâu sắc, như vốn sống để nhà văn viết nên truyện ngắn: Vàng trên biển đá đen, được in trong tập sách cùng tên. Tình tiết đơn giản, lời văn mộc mạc, song đây là một trong những truyện ngắn cảm động, và hay nhất của Elena. Gieo mầm một động từ, hay là hình ảnh, một phép tu từ so sánh: (gieo hạt, và gieo chữ) làm nên cái tứ của thiên truyện. Cái khát khao sống, buộc con người phải vượt qua khắc nghiệt của thiên nhiên. Và cái tình người (gieo chữ, bồi đắp linh hồn) ấy, nhà văn đã mở ra lối thoát cho đất và người nơi cao nguyên núi đá khô cằn:
“Một hạt giống không thể nẩy mầm nếu không có đất, và trên núi đá không phù hợp nên họ đào một cái rãnh và đem đất từ nơi khác lấp vào. Một điều đơn giản, mà từ thời nguyên thủy con người đã chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn. Gieo hạt để nẩy mầm! Công việc của tôi cũng vậy. Bây giờ tôi hiểu là mình cũng đang gieo hạt và tìm cách giúp các cậu học trò nảy mầm cho cuộc sống mới…” (Vàng trên biển đá đen)
Đọc Elena, ta có thể thấy tình yêu, tình người không chỉ dừng lại ở hai người mẹ Việt-Ý, mà sự ấm áp đó của nhà văn làm tan đi giá lạnh của bà cụ cô đơn, hay một bé gái bán vé số… Thật vậy, đọc: Mèo con lạc lõng, và Cho nhau một chút an lành (trong tập truyện Hạt bụi lênh đênh, sắp phát hành) rồi quay lại đọc Thư viết cho mẹ (trong tập Vàng trên biển đen, in năm 2018) tôi bị xúc động mạnh. Cảm xúc tuy khác nhau, song có thể nói, tình yêu, lòng nhân ái ấy làm cho người đọc xa quê, xa tổ quốc gần bốn chục năm như tôi ấm lại. Và hơi ấm đó, dường như xuyên suốt những trang văn Elena. Mỗi truyện ngắn, một tản văn của chị như một bài học luân lý vậy. Nếu đọc Con chim nhỏ trong lồng, ta thấy cái luân lý, đạo đức gia đình, xã hội bị đảo lộn, thì đến Thư viết cho mẹ, Elena đã trả cái luân lý, đạo đức ấy về đúng vị trí của nó. Đọc Elena một cách có hệ thống, ta có thể thấy, dù chị dẫn dắt người đọc đến đâu, và đi đâu chăng nữa, thì cái đích cuối cùng vẫn quay về với chân thiện mỹ.
Cũng như tác phẩm Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình của nhà văn Trần Hoài Thư (đã đọc trước đây) Thư viết cho mẹ của Elena (đọc gần đây), khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi chưa biết để ở mục truyện ngắn, tùy bút, hay một trang thư. Và cho đây là một bức thư, thì có lẽ, đây là lá thư thứ hai hay nhất mà tôi đã được đọc. Nếu Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình như một sự tiếc nuối tình yêu của cái thuở ban đầu, thì Thư viết cho mẹ là tình yêu, lời tự sự về mẹ của Elena. Đằng sau lời tự sự ấy là câu chuyện thật cảm động về những người mẹ. Thư viết cho mẹ gây cho tôi cảm xúc đặc biệt, không hẳn bởi nội dung, mà do thủ thuật dẫn dắt truyện của tác giả. Thủ thuật kết nối từ một người mẹ (đẻ) sang người mẹ (chồng) một cách bất ngờ ấy của Elena làm tôi nhớ đến cái qui tắc bắc cầu trong toán học, từ cái thuở còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây cũng là một trong những truyện tiêu biểu về tính chân, thiện của Elena. Và đọc nó, dường như ta thấy, văn chương cũng như con người chị đang đến gần hơn với tư tưởng, triết lý nhà Phật:
“Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: Hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội” (Thư viết cho mẹ)
Có thể nói, truyện ngắn nào của Elena cũng đầy ắp hình ảnh, tình tiết so sánh, liên tưởng. Cùng với lời văn nhẹ nhàng, tinh tế như vậy, hiển nhiên chị đã mang đến người đọc sự rung động và cảm thông sâu sắc.
*Tùy bút, tạp văn…với những nét đặc trưng.
Như có lần phân tích tác phẩm Miền Ấu Thơ của Vũ Thư Hiên và Sông Lam của Trần Mạnh Hảo, tôi đã viết: Có người cho rằng, chỉ có các nhà thơ, nhà văn viết về chính quê hương của mình mới có những tác phẩm hay, và chân thực. Song đi sâu vào văn học sử, cho tôi suy nghĩ ngược lại: Thường những mảnh đất, đồng quê xa lạ mới là đề tài để các nhà văn, thi sĩ đẻ ra những tác phẩm hay. Thật vậy, nếu không có cái nhìn xa lạ, tò mò khám phá của cậu bé đến từ nơi phố thị, thì sau này Vũ Thư Hiên khó có thể viết được tác phẩm Miền Ấu Thơ về đồng quê hay, đặc sắc có sức sống bền bỉ và lâu dài. Hay nếu sinh ra, và lớn lên ở Nghệ Tĩnh, chưa chắc Trần Mạnh Hảo đã viết được Sông Lam, với những hình tượng mới lạ, sâu sắc làm rung động không chỉ người đọc nơi xứ Nghệ. Và nhà văn Elena Pucillo cũng vậy. Đến từ Italia, khi Elena viết về Hà Nội hay Trà Sư, hoặc một vùng đất Việt nào đó sẽ khách quan, mang tính khám phá, sinh động hơn. Nó gây cho người đọc cảm giác thú vị như được tìm hiểu, khám phá vùng quê ấy cùng nhà văn. Hà Nội, nét đẹp bí ẩn là một tùy bút như vậy của Elena. Từ một tiếng rao đêm, hay một gánh đậu hũ non nóng giữa phố thị, hoặc những hàng trái cây bên đường, dưới lăng kính của mình, Elena cho người đọc cùng liên tưởng đến hình tượng (so sánh) thật độc đáo và mới lạ: “Tôi kinh ngạc nhìn các kim tự tháp bằng trái cây đặt trước các cửa hàng bên lề đường, trái nọ chồng lên trái kia, màu sắc chen nhau, như thách thức quy luật thăng bằng.”. Là tiến sĩ văn học Pháp, do vậy Elena đọc, nghiên khá rõ về văn hóa của các nước thuộc địa ở những năm đầu thế kỷ 20. Có được sự đồng cảm và tình yêu ấy, dường như Elena muốn bộc lộ cái tư tưởng, ước vọng của mình. Trở về cái thuở ban sơ của thành phố, như một cánh chim tự do muốn thoát ra khỏi những rào sắt vô tình đó. Vâng, đó cũng là khát khao, ước muốn không chỉ riêng của nhà văn. Một tiệm thuốc, hay nơi bán đồ lưu niệm ở góc phố, hoặc quán bia nơi vỉa hè cũng gây Elena một ấn tượng, một cảm xúc để chị đặt lên trang viết của mình. Có thể nói, Elena Pucillo là một nhà văn giầu trí tưởng tượng, có lời văn nhẹ nhàng, sâu sắc, ngữ nghĩa đa tầng. Và có lẽ, không chỉ tôi mà nhiều người sinh trưởng, gắn bó với Hà Nội đọc trang văn này, ít nhiều sẽ được hiểu biết thêm về nó:
“Giống như một giấc mơ giữa ban ngày, tôi tưởng mình đang cưỡi rồng bay trên thành phố, luớt qua khu biệt thự Pháp và những căn nhà thời thuộc địa được che chắn bởi những hàng rào và cổng vào bằng sắt trang trí theo kiểu Liberty của đầu thế kỷ 20. Tôi muốn mình được bay như một cánh chim vừa thoát khỏi lồng, lơ lửng trên những con đường thuốc, với những dụng cụ chưng cất đang hâm nóng bát thuốc trường sinh hay cỡi trên lưng một con cá vàng bơi dọc theo sông Hồng.” (Hà Nội, nét đẹp bí ẩn)
Mượn cảnh vật thiên nhiên để miêu tả nội tâm nhân vật là nghệ thuật không hề mới, gần đây được nhiều nhà văn quay lại sử dụng. Tuy nhiên, không phải ai cũng thành công ở loại hình nghệ thuật này. Đọc Một đêm huyền diệu của Elena chợt làm tôi nhớ đến cái tài, lấy động tả tĩnh trong Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến“Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Hay ngược lại, mượn cái tĩnh của căn phòng tả tâm trạng động trong “Hộ Chiếu Buồn Những Biên Cương” của Thế Dũng. Và khi đến thăm nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, Elena đã mượn đồ vật, cảnh trí trong căn phòng dường như để miêu tả, khắc sâu cuộc sống, tính cách cũng như tâm hồn gia chủ. Thật vậy, với sự liên tưởng độc đáo ấy của Elena, nhà văn Paul Đức (Nguyễn Hoàng Đức) hiện lên lịch lãm như một triết gia, nghệ sĩ, hay hình ảnh chiến binh của Phong trào khai sáng Tây Âu ở thế kỷ 18 vậy. Trích đoạn có lời văn tinh tế dưới đây, không chỉ thấy rõ điều đó, mà còn cho ta thấy tài năng, cũng như sự quan sát tỉ mỉ của nhà văn Elena:
“Tôi có cảm giác như không phải mình đang ở trong một căn nhà ở Hà Nội, Việt Nam. Tôi tưởng mình là cô bé Alice đang đứng trước chiếc gương thần để khám phá ra một thế giới khác. Tôi tưởng mình đang ở Paris, trên tầng nhà áp mái của một họa sĩ, một nghệ nhân Bohémien, đang ở vùng Montmartre hay ở khu Quartier Latin. Tôi đứng ngây người nhìn những bức tranh treo trên tường. Những tủ sách, ôi chao cơ man là sách, nhiều lắm và những bản nhạc mở rộng đặt trên chiếc dương cầm, như thể chàng nghệ sĩ vừa dạo đàn trước đó và trong không gian vẫn còn vang vang những nốt nhạc du dương của Beethoven, của Liszt hay Chopin… Tôi không thể nào rời mắt khỏi những thứ đồ vật vây xung quanh mình. Trên một bức tượng bán thân có phảng phất nét mặt của Paul Đức, được lập lại trong một bức chân dung được phóng cọ theo phong cách hiện đại, anh xuất hiện như một chiến binh tân thời.” (Một đêm huyền diệu)
Nếu truyện ngắn Elena sắc lạnh, thì tùy bút, chân dung của chị mềm mại, ấm áp. Tình bạn, tình người ủ ấm những trang viết của chị. Tùy bút, tạp văn Elena thường là những ký ức nhỏ, hay cảm xúc bất chợt từ một bạn văn, một nhà sư, một em bé bán vé số, hoặc về một miền quê nào đó…mà chị đã bắt gặp, trải qua. Thật vậy, mỗi (một) người bạn đều cho Elena cảm hứng viết. Và cái hơi ấm tình bạn, tình người ấy, với chị: “thật bình an và sảng khoái, hơn hẳn các loại thuốc hay liệu pháp trị liệu nhóm nào hiện hữu trên thế giới” (Trị liệu nhóm). Tuy nhiên, đọc tùy bút Elena, tôi khoái nhất những trang viết về chân quê, cùng những hình ảnh thân thuộc dưới góc nhìn của chị. Vâng, hình ảnh bà cụ, với tiếng gà kêu quang quác dưới cái lạnh của mưa gió như kéo hồn vía chúng tôi về với đất mẹ vậy. Cái mộc mạc và chân thực ấy, Elena làm cho lòng tôi ấm lại, khi ngồi viết những dòng chữ này, bởi cái tình người còn sót lại:
“trời mưa lất phất, nên chúng tôi phải nép vào một mái hiên của một căn nhà nhỏ. Bỗng tôi nghe có tiếng lục đục rồi có một bà cụ bước ra mời chúng tôi vào trong nhà nghỉ ngơi cho ấm. Lát sau tôi nghe có tiếng gà đập cánh và kêu lên quang quác. Con gà có thể là của để dành của bà, nhưng bà cụ đem ra nấu cháo mời chúng tôi mà chẳng chút đắn đo. Cho đến hôm nay, tôi vẫn còn nhớ như in bóng dáng bà nhỏ con, chiếc áo bà ba màu nâu phủ lên một thân hình mảnh khảnh và nhất là nụ cười hiền hậu, thương quá, hai khóe miệng còn thẫm đỏ màu trầu.” (Một đêm huyền diệu)
Không biết Elena có phải là một Phật tử hay không, song đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy Phật giáo, hình ảnh, đức tin thấm đẫm những trang văn của chị. Với cái tư tưởng này, Elena luôn hướng nhân vật hành động, ứng xử nhân hậu, nhìn nhận con người, sự việc ở mặt tích cực, hay mở ra một lối thoát cho họ và xã hội. Khi đọc: Hạt bụi lênh đênh, trong tập truyện cùng tên, sắp in của Elena, càng cho tôi những cảm nhận hơn nữa: Cái chánh tin ấy của chị không chỉ trong sinh hoạt thường nhật, mà ngay cả những lúc ốm đau sinh tử. Sự bình tâm, thanh thản từ nơi Đức Phật chính liều thuốc đã giúp con người vượt qua những đớn đau, ưu phiền đó. Thật vậy, đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tùy bút, văn xuôi của Elena:
“Tôi biết là mình đang ngầy ngật vì thuốc. Có lúc tôi cảm thấy như mình đang lơ lửng trong một cái bong bóng đang tan biến. Điều lạ lùng là nằm trong đó tôi không còn nghe đau đớn, chỉ có bình an. Tôi giật mình thức giấc vì bất ngờ có ai đó ngồi bên cạnh mình. Tôi nghe một bàn tay đang đặt lên trái tim và cùng lúc đó cũng có một bàn tay khác đang nắm lấy cổ tay mình. Tôi mở mắt một cách khó nhọc và trời ơi, trước mặt tôi là ánh mắt sáng rỡ của nhà sư mà mình đã gặp trên chuyến bay. Nhà sư nhìn tôi mỉm cười và bàn tay ông dời từ trái tim để đặt lên trán tôi. Ông không nói gì, nhưng sự hiện diện của ông ở nơi đây đã ban tặng cho tôi một sự bình yên không thể nào nói được nên lời” (Hạt bụi lênh đênh)
Có thể nói, mỗi truyện ngắn, tùy bút của Elena Pucillo là một lát cắt của cuộc sống. Cái ác, và sự giả dối, chị vẫn đặt lên trang văn một cách sâu đậm, như để răn mình, răn đời vậy. Và tính nhân văn, khát vọng sống, khát vọng tự do đã làm nên văn chương, tên tuổi Elena Pucillo. Tuy nhiên, văn tự sự, độc thoại nội tâm, dù sâu sắc, nhưng ít đối thoại làm lời văn chậm, cho ta cảm giác mệt mỏi khi đọc. Đây cũng là nhược điểm của loại hình nghệ thuật này.
Bây giờ con người cô đơn. Cô đơn ngay giữa đám đông. Ngồi sát bên nhau mỗi người một cái điện thoại lướt zalo, viber, facebook, xem những hình ảnh lạ, xem những video hot, đọc tin tức giật gân, tìm mua hàng hóa… trên cái màn hình nhỏ xíu đó cái gỉ cái gi cái gì cũng có, ảo/thật hiển hiện. Đôi khi muốn quay sang khều khều, nói một câu gì đó để kết nối nhưng thấy ai cũng chăm chắm vào cái màn hình xanh lét, thế là lặng im, thế là lại chúi mặt vào cái màn hình xanh lét lướt và lướt như một kẻ tự kỉ.
Ở nhà, 7 phòng. Phòng khách rộng thênh, bàn ghế bày biện sang trọng, ti vi màn hình phẳng 32inch nhưng chẳng mấy khi cả gia đình ngồi đủ 4 người. Có ngồi thì chồng xem tivi, vợ cắm mặt vào ipad, con trai lớn cắm mặt vào ipad, con trai nhỏ chơi với mèo trên thảm. Chẳng ai nói với ai. Mùi nhang thơm thầm lặng lan tỏa khắp không gian, Phật ngồi trên ban thờ cao cao hiền từ nhìn 4 con người. Ông bà tổ tiên ngồi trên ban thờ cao cao hiền từ ngó lũ con cháu im lặng với những thú vui riêng của mình. Căn phòng yên tĩnh quá, chỉ có tiếng grừ grừ của con mèo Anh lông ngắn trắng muốt. Mấy chục phút ngồi thế rồi ai tản về phòng người đấy. Chồng hoặc nàng lại bật tivi phòng ngủ xem film trên các kênh Movies, HBO, HTV, VTV, GTV. Phim nước ngoài Á, Âu đủ loại, đủ trò hấp dẫn. Xem chán rồi ngủ, ti vi cứ nói oang oang. Ngày trước nàng hay bày các trò để nối kết các thành viên gia đình, bây giờ nàng cũng bận rối. Nàng đi làm về, phóng xe vào phòng tập yoga, giờ tập kết thúc muộn, nàng ăn kiêng giữ dáng nên chồng và các con cứ tự ăn tối trước. Cả ngày chỉ còn mỗi bữa tối là đủ mặt, giờ thiếu nàng. Rồi những tiệc tùng gặp gỡ làm ăn, đối ngoại, bạn bè sinh nhật, họp lớp các cấp của chồng, của nàng… Nàng thấy cô đơn giữa bao điều ồn ã náo nhiệt, hân hoan. Nàng thấy cô đơn giữa đông đúc bao người thân/sơ. Nỗi cô đơn làm lạnh mọi giác quan, làm tê liệt cảm xúc. Nỗi cô đơn khiến nàng thờ ơ với mọi vui buồn, đua tranh thế gian.
Hôm nay, anh đi công trình ngoài tỉnh. Hôm nay, nàng đọc một cuốn sách. Đề từ có câu “Chim thú có rừng, cá tôm có biển còn em có anh”. Nàng chợt xúc động. Câu nói chạm vào tim nàng, đúng tâm tư nàng. Chỉ có những xa vắng như bây giờ nàng mới thấm thía nàng cần anh… Xa rồi gần. Gần rồi xa. Cảm giác của những thời điểm đó nàng hiểu rõ nhưng vẫn chới với khi đối diện. Khoảng cách có giá trị đo lòng người. Nàng chưa bao giờ quen được cảm giác phải xa cách. Khi người ta trẻ người ta dễ quên hơn những nỗi buồn, sự thất vọng, thất bại và khó tha thứ cho những lỗi lầm người khác gây ra cho mình. Ngược lại khi người ta già, người ta luôn ghim chặt nỗi buồn vào tim, day dứt về sự thất bại nhưng lại dễ thứ tha hơn trước những điều người khác làm mình thất vọng, đau đớn. Nàng hay bị gặp khó khăn trong cuộc sống, từ bé đến giờ chẳng mấy khi sung sướng. Nàng chưa bao giờ trúng số dù vẫn mua vé số cầu may suốt 10 năm qua. Nàng đọc nhiều danh ngôn, kiểu như: Khó khăn là một phần của cuộc sống và nếu như không chia sẻ khó khăn bạn sẽ không mang lại cho người yêu mến bạn cơ hội để yêu bạn nhiều hơn”… đọc thuộc làu, ngấm vào ruột gan đấy nhưng khi đụng vào khó khăn thì lại tự giải quyết. Nàng thích chia sẻ những niềm vui của mình cho mọi người hơn là những phiền phức. Nàng đang già đi. Già và sẽ rụng như lá vàng mùa thu. Mà mùa thì về nhanh lắm còn nàng thì chẳng biết có kịp tái sinh mình sau những va đập, bon chen, thờ ơ, vô cảm, bệnh hoạn của nhân gian hay không?
Một lần, nàng rủ chồng cà phê đầu khu phố, quán cà phê của cô Vi, 30 tuổi, ly hôn, nuôi con gái 5 tuổi. Cô Vi xinh xinh, hay mặc quần đùi sát bẹn, áo hở nửa ngực, khi nói chuyện mắt nhìn trô trố, môi mọng căng. Chồng gọi trà gừng, nàng gọi cà phê đen nóng đường kiêng. Thời buổi thức ăn, đồ uống dư chất hóa học, ai cũng sợ bệnh tật. Nàng nhìn ánh chiều vàng vọt rơi xuống mặt đường, con đường quen thuộc mỗi ngày đi/về mấy bận nhưng ngồi nhìn nó lúc này, trong một góc quán buồn tẻ, nhạc mì ăn liền kiểu: “mai anh ra đi em phải làm sao, vì sao anh nói chia tay em thế anh?”… nàng bỗng buồn lụi xụi. Nàng ngó mặt chồng, nhìn bộ râu quai nón sợi bạc, sợi đen chen chúc rậm rạp. Chồng nàng ngó ngực cô Vi lấp ló tưng tưng sau mỗi lần đi ra, đi vô, cúi xuống, đứng lên lấy hàng, trả tiền, dọn bàn, tiễn khách. Nàng hơi hơi buồn. Cả xóm đàn ông ai cũng thích cô Vi. Cả xóm đàn bà ai cũng ghét cô Vi. Vài gã trong khu phố đang bị nghi lén lút hẹn hò với cô Vi, cho tiền cô sắm xe máy, mua điện thoại, nuôi con… Các bà vợ cấm các ông chồng qua quán cô Vi. Các ông chồng không qua quán theo ý các bà vợ, để yên nhà yên cửa. Họ có số điện thoại cô Vi, họ mời cô đi nhậu, đi hát karaoke. Ở khu phố này chẳng mấy bà vợ theo chồng đi nhậu, đi hát hò. Cô Vi tửu lượng rất khá, uống ăn duyên dáng, nói cười duyên dáng. Chồng nàng từng nhờ cô Vi tiếp khách đối tác Hà Nội hai lần, anh về khen: “Con bé trình độ phết, học hết đại học luật đấy em”. Nàng thì không thích, không ghét cô Vi. Cô ta chẳng làm gì khiến nàng ghét. Nàng có cả đám bạn bè ly hôn, phụ nữ đâu phải sống đơn thân là đều xấu xa hết. Các bạn nàng chẳng cần đàn ông bên cạnh, họ làm việc và làm việc, kiếm tiền nuôi con, chăm chút nhan sắc. Tụi nàng có nhóm bạn nữ thân thiết chia ngọt, xẻ đắng bên nhau tháng ngày. Có đứa 7 năm sau ly hôn vẫn ở vậy, bao nhiêu người tới tán tỉnh nó đều từ chối. Lý do “không thấy hợp”. Chúng nó chỉ muốn bình thản sống một mình, là chính mình. Nàng ghét những đứa đàn bà, đàn ông nhìn ngó, bình phẩm, dèm pha, buông lời thiếu tôn trọng về những phụ nữ ly hôn. Mỗi người mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh trớ trêu, mỗi cay đắng… Họ nuốt hết vào lòng, tự ti và tự tin sống tiếp quãng đời tiếp theo bằng cách vượt qua mọi thị phi. Mồm thiên hạ độc hơn rắn độc. Những phụ nữ ly hôn như cô Vi, như những bạn nàng họ chẳng làm gì tổn hại đến thiên hạ. Thực ra họ chẳng quan tâm đến bao bàn tán lao xao của thiên hạ. Nhiều trong số phụ nữ li hôn, đơn thân nuôi con, đơn thân lao động kiếm sống bằng chính sức lực của mình còn hơn khối đứa phụ nữ có chồng mà bồ bịch lằng nhằng mì tôm. Trong mắt nàng cô Vi, bọn bạn đơn thân họ là những phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ, dũng cảm thời 4.0, họ chả cần danh hiệu giỏi việc nước, đảm việc nhà. Thực tế họ giỏi hơn nàng và những đàn bà có chồng khác nhiều thứ.
Cô Vi gặp nàng lúc nào cũng khiêm nhường một chị, hai chị không đáo để, đanh đót đốp chát như với mấy bà, mấy chị trong khu phố. Cô Vi bảo đàn bà ai cũng như chị thì tổ dân phố này văn hóa nhất phường này từ lâu rồi. Cô Vi bảo em thích chị, chị phúc hậu và mạnh mẽ. Cô Vi kéo ghế ngồi sát nàng bảo chị không giống số đông đàn bà ở khu phố này, rồi cô thao thao kể cô M giáo viên trường T, nhà cuối đường đi mồi chài ông sếp doanh nghiệp này, ông đại tá đơn vị nọ, ông giám đốc cơ quan kia, ả nhậu nhẹt, đú đởn, hẹn hò Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng cùng lúc với 3 gã già mà gã chồng lái xe taixi có biết gì đâu. Cô lại kể, mụ N công chức, đảng viên nhà giữa tổ dân phố, được cái chân dài, mông to chứ cái mặt gãy gập, môi mỏng lét. Chồng làm cán bộ ở huyện, đầu tuần đi, cuối tuần về, mụ làm việc thì kém nhưng giỏi nịnh sếp, nịnh cả họ hàng nhà sếp nên sếp tạo mọi điều kiện cho đi học hết lớp bồi dưỡng này đến lớp nâng cao kia, sếp hứa thăng chức nay mai, thỉnh thoảng sếp đi Sài Gòn, Hà Nội, chả biết là vô tình hay ngẫu nhiên trùng khớp mà thời gian đó ả có đơn xin nghỉ phép đi khám bệnh, xin về quê giỗ chạp, cưới gả, thăm ốm người thân… hóa ra thiên hạ nhiều mắt, nhiều tai và cả nhiều chuyện thiệt. Nàng nghe cô Vi kể há hốc mồm hỏi thiệt hả? thiệt không?… Cô Vi bảo: Em nói sai em chết như con rết liền. Em biết đầy chuyện của người trong khu phố mình, em không đụng ai thì đừng ai đụng vô em, không thì lành làm gáo, vỡ làm muôi ngay chị nà. Em bán cà phê chứ không bán trôn nuôi miệng. Em chúa ghét cái bọn đạo đức giả chị nà. Lũ ấy quen thói suy bụng ta ra bụng người chị nà. Nàng ngó cô Vi lom lom, nàng ở khu phố này 8 năm rồi mà cái cô giáo T và cái mụ công chức N kia nàng không nhớ mặt ngang, mũi dọc thế nào. Còn cô Vi về đây thuê nhà chưa đầy năm mà sao biết nhiều chuyện thế. Nàng nhấp nhấp ngụm cà phê, ngắm cô Vi. Nhìn sát gần, cô Vi rất xinh, da trắng hồng, múp míp, mắt long lanh, khuôn miệng đầy đặn, hồng căng. Phật dạy, tướng tại tâm sanh. Nhìn tướng này không phải tướng kẻ bất nhân, vô đạo, tầm thường.
Hôm rồi, chị H bảo nàng: Em coi chừng chồng đấy, nó hay qua nhà con Vi. Nàng cười cười: Kệ anh ấy chị ạ, trai ham sắc, thân ai nấy chị ơi. Chồng nàng háo sắc thì sao chứ, bản năng giống đực, trai mê sắc, gái ham tài, đàn ông gã nào chả thế, trước mặt vợ, gã nào tử tế, có ăn có học, văn hóa ổn ổn thì nể vợ, tình huống đi chung với vợ mà thấy gái ngon thì mắt lơ lơ chỗ khác lừa cho vợ vui bụng, gã nào cục súc văn hóa lùn thì vợ ngồi đó cũng kệ, vợ là đinh gỉ, vợ là vợ, ông là ông, gái ngon ông ngắm tí lãi lỗ gì mà ngại, lãi lỗ gì mà nhăn nhó cau có. Thế nên làm đàn bà kết hôn với người ta rồi trong nhờ đục chịu. Chứ chả lẽ vì chồng cứ thích nhìn gái đẹp mà giận, mà bỏ được à. Ghen thế làm gì cho hại não. Còn đàn ông, thấy thằng nào ngắm vợ, tán tỉnh vợ vài câu qua điện thoại là như bò bị chọc đít, nhảy dựng lên mạt sát, hù dọa, thậm chí đánh đập vợ vì ghen. Cái mà người ta gọi là bình đẳng giới ấy, cái mà biểu quyết cao phấn đấu để bình đẳng giới ấy ở đâu thì đạt chứ ở khu dân phố nàng ở thì còn lâu lẩu lầu lâu mới chạm chỉ tiêu. Nàng là đàn bà còn thích ngắm cô Vi, huống chi các ông già, ông trẻ trong khu phố. Nó đẹp ngọt ngào. Đàn bà là giống hay ghen ghét đố kị, thấy ai hơn mình là cay cú, tìm mọi cách dèm pha, hãm hại. Mồm nhiều đàn bà độc như rắn rết, làm khốn khổ biết bao người trong thiên hạ nhưng thời gian sẽ làm sáng tỏ trắng/đen. Ông bà dạy: Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Đàn bà đẹp như Vi khổ vì thị phi là chuyện thường. Nó bảo: Cả khu phố này có mỗi chị thương em. Nàng cười khùng khục khen cà phê nó chế ngon. Nàng là cái thứ đàn bà đa cảm, dễ thứ tha, cả tin. Chồng đã chối trăng, chối trời là đâu có nhìn ngực cô Vi. Nàng bảo không sao, không sao chỉ là nhìn thôi mà, nói thế nhưng nàng vẫn hơi hơi buồn. Nàng là thứ đàn bà cả nghĩ. Có hôm ngồi nghe vài bản nhạc buồn ở cái quán buồn tẻ của cô Vi, nghe cô Vi kể chuyện đời cô khốn khổ, khốn nạn với thằng chồng cũ ham đề, cờ bạc, rượu bia, lấy hết tài sản theo gái, chuyện người này người kia ăn ở hiền hậu toàn bị lừa tiền lừa tình, chuyện những kẻ dối gian, tham lam vẫn sống nhơn nhơn, ăn trắng mặc trơn, lòe bịp thiên hạ với những vị thế xã hội a,b,c. Nhiều hôm ngồi với cô Vi về nàng chẳng thiết nói năng, ăn uống. Cái hôm, anh nhìn trộm ngực cô Vi, nàng hơi hơi giận về nằm ôm sách đọc. Chồng nàng chẳng để tâm, ôm máy smart phone lướt lướt rồi ôm gối ngủ ngáy ò ò. Cuộc sống nếu cứ cố chấp và bắt bẻ nhau hoài thì chán như con gián, chồng nàng bảo thế. Rồi chồng lại bảo em phải hiện đại lên, cởi mở ra, anh chỉ yêu em thôi, chỉ luôn muốn làm em hạnh phúc, xinh đẹp, tươi vui… Đàn bà là giống phổi bò, gan thỏ. Nói ngọt là lọt đến xương, nghe đàn ông nói cái miệng thôi cũng sướng chả cần biết chồng có thực bụng thế, có thực làm thế để biến mọi thứ thành hiện hực không, nhưng mà tin đắm say, tin như tin vào Phật, Thánh, Chúa… Nhưng nếu chẳng có những thứ trách móc, bắt bẻ, hờn giận ấy liệu nàng có biết mình đang còn yêu hay đã ít yêu, hết yêu chồng. Mẹ nàng bảo con cần có cái nhìn thiện cảm hơn với đàn ông. Đàn ông, đàn bà gì cũng có dăm bảy loại. Thế giới là của muôn loài. Thích nghi thì sống. Nàng cũng là loại đàn bà thích nghi cao. Chồng ngáy ò ò, ti vi nói suốt từ 19h. Nàng đọc sách. Sách là bầu bạn thủy chung với nàng mỗi khi nàng không thú vị với những va đập cuộc sống ngoài cánh cổng sắt. Sách dẫn nàng đến một thế giới không xa lạ với thế giới thực nhưng dầu gì cũng yên ả hơn, vì ở đó đều là những câu chuyện đã qua, những phận người đã khép lại, có thứ đã biến mất như tro bụi trong gió. Nàng chợt nhận ra cả tuần rồi nàng ngủ không ngon. Chồng nàng vẫn đang ngáy ò ò…
Ở nơi nàng làm việc, đàn bà gần chục ả, vài ả ghét cay ghét đắng nàng, vì nàng đi làm bằng xe hơi, nàng có nhiều giầy và túi sách đẹp, vì nàng sáng mặc 1 bộ váy, chiều mặc 1 bộ váy, vì nàng làm việc vì đam mê. Ở nơi nàng làm việc có những đàn bà lượn lờ loanh quanh, ngồi nhóp nhép quà vặt buôn chuyện thiên hạ rồi về, nói xấu sau lưng kẻ khác, lương chẳng mất một một cắc, cuối năm bình bầu thi đua danh hiệu vẫn kêu leng keng. Ở nơi nàng làm việc có những đàn bà làm việc quần quật, đến 20h tối phòng họ vẫn sáng đèn, họ yêu công việc của họ, họ cứ làm và làm. Họ nói với nàng có nhiều cách để thấy cuộc đời ý nghĩa, trong đó có cách làm được gì thì làm hết mình, có ích cho mọi người, cho đơn vị. Ở nơi nàng làm việc có đàn bà ra khỏi phòng không tắt điện, hoang phí hết thảy mọi thứ từ giấy, bút, mực in… nhắc nhở nó cẳn nhằn bảo đồ của nhà nước chứ có phải của nhà mình đâu mà tiếc, kệ đi… Cuộc sống có nhiều loại người, nhưng nàng luôn tránh né những đàn bà vô duyên, nhạt nhẽo, thụ động và lươn lẹo. Nàng thích những đàn bà xinh đẹp, tích cực. Bên họ nàng như được truyền thêm năng lượng tươi mới. Nhìn ngắm họ, nghe họ nói, thấy họ làm việc máu trong nàng lại nóng lên và nàng lại hăng hái muốn làm những điều có ích cho cuộc đời, chẳng cần đợi cuối năm hay năm sau, hay năm sau nữa được ghi nhận, khen ngợi.
Cô Vi chuyển nhà sang khu phố mới, cách khu phố nàng hai con hẻm. Chồng mới của cô giàu, là đại gia ngành xây dựng, quen biết toàn quan to cấp huyện, cấp tỉnh nên công trình lớn/nhỏ gã đều có phần. Cô Vi đẹp ngồn ngộn, duyên dáng, ngọt ngào, tươi tắn chiều chuộng chồng. Cô được gã cưng lắm. Đàn ông khu phố buồn buồn. Đàn bà khu phố mừng mừng. Nàng đi chợ thi thoảng gặp cô Vi lái xe hơi đi mua đồ ăn. Cô Vi rủ rê nàng cà phê. Cô Vi bảo cả khu phố ấy em quý mỗi chị. Cả phố thấy nàng và cô Vi đi cà phê với nhau túm tụm, xì xào. Đàn bà chết không bỏ được tật đố kị và nhiều chuyện. Cô Vi một bước lên bà chủ, ăn sung mặc sướng, sẵn tiền bạc của chồng tiêu xài, cô Vi đã xinh giờ càng xinh nõn nà. Đời đàn bà đâu cần ước mơ nhiều, khát vọng nhiều, chỉ cần có một bờ vai vững chãi cho mình dựa khi tủi buồn, thiếu thốn là phước đức tu tích bảy đời, bảy kiếp rồi. Cô Vi chắc tiền kiếp tu tập chỉn chu, phúc phần cha mẹ đầy đặn. Trời chẳng khi nào lấy hết của ai cái chi, càng chẳng tuyệt đường ai bao giờ nên người người trần thế ai ai cũng ơn trời, cầu trời thương cứu khi khó khăn, khốn cùng. Nàng xin trời cho sức khỏe dẻo dai để làm nốt những việc nàng thích. Nàng có kế hoạch khi già nàng sẽ đi Sa Pa ngắm tuyết, hai vợ chồng nàng sẽ uống trà nóng bên hiên một khách sạn cổ kính.
Chồng nàng đi công trình về. Nàng rủ anh đi biển vài ngày. Anh bảo những ngày đi biển sẽ không online. Điện thoại tắt. Vợ chồng nàng đi chơi đảo, đi lễ chùa, đi công viên, đi cà phê, đi tắm biển bình minh, hoàng hôn… hai vợ chồng nàng nhâm nhi trà nóng bên hiên một khách sạn cổ kính, nghe sóng biển xô bờ dào dạt, ngửi mùi biển nồng mát, nghe hơi thở nhau đều đều, ngắm biển đêm lộng lẫy.
Bây giờ con người cô đơn giữa những máy móc, giữa những vô số điều ảo/thực.
Chiều nhập nhoạng. Hoàng hôn chiếu những tia nắng cuối cùng giát vàng lên ngọn núi Kim Sơn lấp lánh cả một vùng núi cao như bừng lên sức sống cuối cùng của ngày tàn. Người xưa đã đặt tên cho ngọn núi thật thực tế. Núi vàng trong buổi chiều tà. Mây trắng lởn vởn bay bên núi. Mây với núi, vẫn giống như ngàn năm, như đang tâm sự điều gì. Dưới núi là con sông Kim Sơn êm đềm trôi về phía Đông. Chỉ lát nữa thôi là cả núi, cả sông, cả mây trời và cảnh vật xung quanh đều sẽ đi vào tĩnh mịch. Sự vận chuyển này của cảnh vật cũng giống như ở quê ông Hoà, nhưng ông vẫn cứ trầm ngâm tư lự. Đây là buổi chiều hoàng hôn đầu tiên ông ở nơi xa lạ. Ở đây, buổi tàn đông trời có chút ít se lạnh hơn sơn cũng là vùng núi, nhưng núi An Tượng quê ông, dù cao chất ngất khí hậu vẫn ít lạnh hơn nơi này. Từ những ngày còn học trung học ông Hòa đã được cha gửi đến nơi này học võ tuần hai buổi với thầy dạy võ vốn là bạn nối khố của cha ông từ hồi còn nhỏ. Thầy dạy võ ông Hòa là một người có tính khí điềm đạm. Ông học hết Trung học rồi trốn lính trôi dạt đến vùng đất này. Ông rất giỏi võ đặc biệt là là ngọn roi Thuận Truyền gia truyền của ông đã tiếp tục nổi tiếng các vùng đất võ rộng lớn. Dù là bạn của cha nhưng ông Hòa để được thầy võ nhận dạy thật là khó khăn ông đã tiếp xúc với ông Hòa nhiều lần để nhìn tướng mạo, để chuyện trò cho hỏi han xem người học trò này có đặc điểm sát khí không rồi sau đó mới nhận dạy. Mỗi thứ bảy chủ nhật cha ông Hòa chở con vượt hơn hai mươi cây số đường xa, thả con xuống với thầy, đi đâu đó loanh quanh chờ con học xong chở về. Ròng rã ba năm như vậy. Ông Hòa thời trai trẻ đã học được những thế võ rất chắc. Từ những ngày đầu tiên học học đứng tấn đến những bộ thảo, miêu tả diện, ngọc trản thần Công… ông Hòa đều tiến bộ rất nhanh có lẽ ngay từ thời tiểu học ở thành phố biển ông Hòa đã từng học qua Vovinam nên đã tiếp thu nhanh hơn các đồng môn khác. Việc học tập văn hóa cũng vậy, nhờ cha nghiêm khắc kèm cặp động viên, ông Hòa cũng đã học hành đầu xuôi đuôi lọt. Đậu Tú Tài bán, đậu Tú Tài Toàn, rồi đậu luôn Đại học Sư phạm. Những năm tháng ấy sống trong lòng chế độ Sài Gòn cũ, nếu chỉ cần rớt 1 năm là lập tức có giấy gọi nhập ngũ, với các mảnh bằng tú tài thì hoặc sĩ quan Thủ Đức hoặc sĩ quan Đà Lạt, ra khỏi quân trường là lao ngay vào các mặt trận, trên ve áo là quai chảo, hoặc bông mai. Cha ông Hòa khuyên con tuyệt đối không nên chọn kiểu sống một là xanh cỏ hai là đỏ ngực như vậy được. Ông Hòa học sắp xong đại học sư phạm thì miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất. Lúc bấy giờ ngành giáo dục mới sắp xếp lại các trường học các cấp học trên khắp miền Nam. Thầy cô quá thiếu ông Hòa được điều ngay ra giảng dạy ở quê nhà. Ông chọn dạy một trường trung học phổ thông bên vùng núi An Tượng, phía hữu ngạn sông Côn là nơi công tác và sinh sống suốt cuộc đời mình. Khi công việc dạy học ổn định, bằng cấp Đại học Sư phạm mới cũng ổn định, ông Hòa theo yêu cầu của nhiều người dân địa phương, ông đã mở thêm lò dạy võ vào các buổi tối. Ông chỉ nhận năm đến bảy học trò và cũng giống như thầy mình ông chọn mặt và nhận học rất kỹ chủ yếu học trò học phải lấy đạo đức làm đầu. Ông không chủ trương học trò học võ thành tài là để đi thi đấu đài này, đài nọ dù lúc này nhằm khôi phục tinh hoa võ thuật cổ truyền, tỉnh có cho phép các cuộc thi đấu võ đài ở các địa phương trong tỉnh. Quan điểm của ông được nhiều phụ huynh võ sinh nhất trí. Công việc dạy học văn hóa và dạy võ chiếm thời gian của ông khá nhiều, nhưng lúc nào ông cũng thấy mình nhanh nhẹn khỏe khoắn. Nhiều người khen ông làm thầy nào cũng tốt. Ở công việc dạy học từ giáo viên ông đã lên dần đến phó hiệu trưởng, rồi hiệu trưởng. Ông Hòa là một giáo viên dạy giỏi, mẫn cán trong giảng dạy và trong quản lý. Cứ như vậy cho đến khi tròn sáu mươi tuổi, ông Hòa về hưu với biết bao thế hệ học trò trọng vọng. Thế mà chỉ trong một tích tắc ngắn ngủi của một buổi chớm sáng, ông đã làm người phạm tội và ông đã rơi vào vòng lao lý.
Buổi sớm sáng hôm ấy cách nay chưa xa, như thường lệ khi chuông chiếc đồng đồng hồ ông đổ đến bốn tiếng là lúc ông Hòa thức dậy đánh răng súc miệng rồi xỏ giày đi tập thể dục. Ông đi bộ vòng quanh mấy con đường bê tông của địa phương độ nom một tiếng thì về. Sáng ấy khi về đến cổng nhà thì thấy có một thanh niên lạ đội mũ bảo hiểm đeo khẩu trang đang với hai tay đỡ lấy một cái bao gì đó từ người bên trong cổng nhà ông đưa ra trên những cọc sắc nhọn tròn lởm chởm của cánh cổng vẫn đang khóa kín im ỉm. Hai chiếc Honda dựa trên bệ cỏ sát hai bên trụ cổng. Lúc bấy giờ là 5 giờ, nhưng trời mùa đông nên vẫn chưa sáng hẳn. Hình như cái bao gì đó từ trong sân nhà ông chuyển ra nặng quá người thanh niên bên ngoài cổng đỡ không nổi nên rơi xuống thềm bê tông và trong bao là tiếng chó sủa vùng vẫy. Ông Hòa đã kịp nhận ra là chuyện gì. Té ra đây là thủ phạm trộm chó. Con vện là một con chó ông Hòa nhặt được từ đống rác cuối xã từ khi nó mới vài tuần tuổi. Nó gầy nhom đói khát bới rác tìm thức ăn. Động lòng thương, ông Hòa đã đem nó về nuôi đã hơn hai năm nay rồi. Ông Hòa có hai con học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, ra trường xong chúng có chồng, có vợ, có nhà, có cửa, rồi ở tịt trong đó với cháu của ông. Nhiều lần các con ông năn nỉ ông vào sống với con cháu ở nơi đất phương nam ấy, nhưng ông chỉ vào thăm chơi một tuần, nửa tháng thì về. Từ khi nghỉ dạy học, ông cũng thôi dạy võ và hàng ngày chăm sóc mảnh vườn nhỏ trồng rau, trồng cây cảnh và một ít cây thuốc. Con Vện đối với ông là một niềm vui, niềm an ủi khi tuổi già cô đơn. Vợ ông, cũng là một một giáo viên đã chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn giao thông do hai thanh niên say xỉn lái xe Honda tông trên đường đi dạy học về cách hơn mười năm. Hình như con Vện biết ông là người đã cứu nó, đã cưu mang nó, nên nó rất quyến luyến với ông và làm tròn bổn phận canh giữ nhà mà ông giao cho nó. Ông chích ngừa dại cho nó theo yêu cầu của thú y và không thả nó ra ngoài đường. Ông đi đâu xa về nhà, nó vẫy đuôi mừng ăng ẳng trong nhà, sân trước vườn sau nó cắn chết nhiều con chuột. Vậy là nhà ông sạch chuột. Con Vện cũng như loài chó nói chung là những con vật có nghĩa rất trung thành với chủ. Nhưng sáng nay thì, nó đang vùng vẫy ăng ẳng trong cái bao kia. Ông Hòa vừa lên tiếng hỏi người thanh niên tại sao lại bắt chó trộm, thì lập tức kẻ trộm tấn công ông ngay. Cây dùi cui điện, một vật dụng chỉ công an mới được dùng, không ngờ nó cũng có cái dùi cui quất sát rạt vào ông Hòa, ông đã lạn người để tránh được. Thằng thanh niên trong sân nhà ông nghe động cũng trèo ra cổng. Tình thế cấp bách đã khiến ông Hòa lách ra sát cột trụ cổng phía trái vừa né đòn vừa vọt lại giật cây roi cài hờ sát mép cổng sắt và trụ cổng. Đó là một cây roi tre đặc tròn bằng cổ tay, dài tầm một mét hai. Khi có cây roi trong tay ông yên chí phần nào. Ông đảo một vòng bộ pháp thông thường thủ thế. Lúc này thằng thanh niên thứ hai đã trèo được ra khỏi cổng và lấy ra từ trong cái bao treo ở xe Honda một con dao nhọn. Cả hai cùng tấn công ông… Lúc đầu khi có một đứa ông Hòa còn lạn đánh cầm chừng, chủ yếu là tránh né đòn. Nhưng khi cả hai cùng tấn công ông thì ông thấy hơi nguy hiểm. Hai tên trộm đều to lớn đang ra sức áp đặt đối thủ để kịp tẩu thoát cùng với con mồi nên chúng đánh rất sát, toàn những đòn sát khí. Ông Hòa vừa né tránh được lưỡi dao vụt sát mặt ông thì bả vai ông bị một dùi cui phang đau điếng. Không nhẹ được nữa, đòn roi chiến hiểm ông đã tung ra. Các đốc roi giựt thốc vào ngực một địch thủ, tên trộm cầm dao đã ngã bịch xuống nền bê tông, miệng ộc đầy máu. Tên trộm còn lại chưa hoàn hồn cũng bị một đốc roi của ông thụt vào bụng ngã vật ra, miệng la ới ới xin tha tội. Biết chủ có mặt gần bên, nên con chó trong bao càng vùng vẫy ăng ẳng hơn. Ông Hòa nhìn hai tên trộm nằm im trên đất mà hối hận về việc mình đã ra đòn độc. Ông Hòa thả cây roi bên cổng rồi đi lại phía người thanh niên miệng đầy máu, đưa tay sờ mũi, không thở được nữa rồi. Mình đã giết người rồi! Ông Hoà ngồi bệt xuống vệ cỏ đưa tay vào túi sau mở nút lấy điện thoại gọi công an. “ Vâng tôi Hòa… nhà ở… tôi đã đánh chết người trước cổng nhà tôi: Tôi đã gây tội ác, mời các anh tới bắt tôi”. Chỉ vài phút sau là công an xã và sau đó là công an huyện có mặt ngay. Người đi đường cũng tập trung đến khá đông. Công an phong tỏa giữ nguyên hiện trường, chụp hình lập biên bản. Lúc bấy giờ hai người thanh niên tỉnh lại, lăn lộn kêu la. Té ra chưa có người nào chết cả, Ông Hòa nói với công an cho mình được gọi người quen gần đây đưa xe đến chở hai nạn nhân đi bệnh viện cấp cứu. Hai nạn nhân được đưa lên xe. Ông Hòa và một công an cùng theo đi xe về phía thành phố. Hai công an được bố trí ở lại giữ hiện trường. Hai chiếc xe của kẻ gian với những vật dụng bắt trộm chó, cái dùi cui, con dao công an thu giữ. Con chó được mở bao thả ra, cổng nhà ông Hòa cũng được mở. Qua khoảng sân nhỏ là cửa nhà ông Hòa vẫn còn khóa im ỉm. Công an quan sát kỹ cửa trước, cửa sau vẫn khóa kín như vậy đây chỉ là là vụ việc trộm chó chứ không trộm thứ gì khác… mãi cho đến lúc nắng sáng hẳn lên công an làm xong mọi thủ tục hiện trường xong, cổng nhà ông Hòa được khóa lại thì công an và mọi người xem mới lục tục ra về. Tang vật trộm được đưa về đồn .Ở bệnh viện tỉnh một tên trộm bị gãy hai sườn trái, tên còn lại phải nẹp và băng bột khoảng mười ngày nửa tháng thì có thể xuất viện. Tên trộm còn lại bị nhẹ hơn nhưng cũng phải cắt một phần lá lách chỉ mười ngày là có thể xuất viện. Ông Hòa ứng hết toàn bộ tiền viện phí cho hai người bị hại. Thì ra hai bị hại cũng đều là người của thành phố biển này. Do lêu lổng, ăn chơi, cờ bạc không nghề ngỗng gì nên hai thanh niên này đã chọn nghề bắt chó trộm mỗi đêm. Giống như nhiều đạo chích khác cùng nghề, đêm đêm chúng thường đi nhóm hai người lùng sục các hang cùng ngõ hẻm và bắt chó rất thiện nghệ. Khi phát hiện chúng dùng cái kẹp dài kẹp vào cổ chó và cho vào bao ngay. Mỗi đêm hai đứa bắt vài con chó là chuyện thường, bán cũng hơn bạc triệu; các quán Cờ Tây, Nai Đồng Quê mua ngay trong đêm, nhốt lại giết thịt dần. Trường hợp mua được nhiều thì chuyển cho đại lý đưa lên xe tải chuyển ra miền Bắc tiêu thụ. Chó là vật nuôi có nghĩa trung thành với chủ nên được chủ thương yêu. Vì vậy nên một khi chó bị trộm các chủ vật nuôi rất căm tức đã có nhiều vụ án kẻ trộm chó bị nhiều người dân đánh chết và tất nhiên theo luật pháp người sát nhân phải bị tù. Những tên trộm chó nếu chỉ bị bắt thôi không bị hành hung thì chỉ bị phạt tiền cảnh cáo rồi thả, vì vật trộm thường chỉ dưới 2 triệu. Ông Hòa biết rất rõ điều ấy. Nhưng việc ông không tự kiềm chế được mình, ông đã đánh người suýt nữa không còn toàn mạng. Ông rất xứng đáng phải đi tù. Học trò ông, con ông có thể bảo lãnh cho ông được tại ngoại. Nhưng cái tính chất trượng phu của của con nhà võ buộc ông tự nguyện xin được ở tù để răn mình, để làm gương cho người khác. Việc đánh hai tên trộm chó là việc tự vệ chính đáng, ông có thể tự bào chữa cho mình như vậy. Nhưng lương tâm ông Hòa vẫn cứ bị cắn rứt bởi trên hết mình là một người hành võ trên miền đất võ nổi tiếng khắp cả nước này.
Ở tù một thời gian không ngắn, cũng không dài, đủ để ông Hòa nhận ra cuộc sống bên cạnh những thuận lợi phát triển, vẫn luôn tiềm ẩn những khó khăn phức tạp. Sống chân chính với tất cả mọi người. Có như vậy tâm mình mới yên: Ông Hòa được giảm án nhờ biết cách sống tốt trong phận tù nhân.
Về với vùng quê yên ả của mình bên cạnh sông Côn, lúc này ông Hòa đã tròn tuổi bảy mươi tuổi thất thập cổ lai hy nhưng ông Hòa vẫn thể dục đều đặn, vẫn làm vườn, vẫn luyện võ và thăm hỏi bà con mỗi ngày. Học trò ông xa gần ghé thăm ông. Một buổi sáng, vừa xong một giờ thể dục bên bờ sông Côn, ông đang trầm ngâm nhìn dòng sông hiền hòa chảy như từ bao đời, thì hai thanh niên to khỏe đến trước mặt cung tay “ Kính thầy, thầy có nhớ chúng con không?” trong ngoài nhìn kỹ vẫn không nhận ra hai môn sinh này mình dạy từ lúc nào. Cái kiểu cúi mình cung tay đó đúng là con nhà võ nhưng ông Hòa đành chịu, cố nhớ vẫn không nhớ ra được. Ông Hòa lắc đầu xác thực điều đó. Hai thanh niên khúm núm nhỏ nhẹ với ông Hòa “ Thưa thầy. Hai đứa con là hai tên trộm chó nhà thầy ngày nào, mới mà thầy đã quên. Xin cảm ơn thầy đã cho chúng con một bài học. Chúng con ăn năn hối hận giờ trở thành người tốt rồi thưa thầy…”!