Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Thơ ca’ Category

Nguyễn Man Nhiên

.

ngày đẹp trời với những giấc mơ nở sớm

đôi khi với một cái mũ

hoặc chiếc giỏ đan

tôi hái mơ ước

trong vườn cây ăn quả

tôi làm đầy túi tôi

vài mái ngói sứt mẻ

tiếng sủa con chó hàng xóm

ánh đèn pha xe hơi

chạy nhanh trong màn sương mỏng

những giọt nước mắt đêm muộn

như ngọn nến cháy âm ỉ

chiếu sáng phần còn lại của khuôn mặt sẫm bóng

.

tôi đang mở

một quyển sách rảnh rỗi

một đại dương rộng lớn trên đó

mọi thứ xuất hiện trong tầm tay

trịnh trọng như những cái khuy măng-sét

một con chim thổi sáo trong bóng râm

mơ về người bạn đời

trong tán lá dịu dàng của nó

khoảng cách giữa chúng tôi biến mất

các hòa âm khác thường

như lòng tốt bị bóp nghẹt với vụn bánh mì

sẽ nảy nhánh và ca hát

.

tôi đếm hơi thở tôi

giọng nói van lơn như gió qua hẻm núi

từ những ngọn đồi màu tối

bò ra một bóng ma gầy

người gửi đến tôi như một sứ giả

chòm sao mùa tang lễ

những ma-nơ-canh để ngực trần

đôi mắt cô ấy yêu tôi

mảnh plastic của keo xịt tóc

tôi như đứa trẻ chạy qua rừng

trối chết

.

tôi sẽ dán ẩn dụ này

lên tấm bưu thiếp

giống như hai chữ khủng khiếp

tự do

trong tiếng vọng bức tường đá khô

ngôn ngữ là cái bóng rơi xuống

nghệ thuật chất đống

mỗi buổi sáng hoa tươi

và giấc mơ của ngày hôm qua bị lãng quên

tôi có thể vẽ nó như là

cuộc sống vẫn còn

một cửa sổ đầy ánh sáng

Read Full Post »

Thản nhiên đen

Chim Hải.

.

liều lĩnh khi đêm chẳng thể

rỉ sét hay mặn chát

tôi chạy vào thơ chạy vào mạch tràn cuồng nộ

ngày mơ sa mạc chữ đêm nghe tiếng thở nghìn năm gió

có tiếng bàn chân chạy xước lòng đường

tiếng ngoi mình trên nước

xiết xoáy tia nhìn toạc rễ

ám tiếng nói từ vực tối

cứa vào tịch mịch

thản nhiên đen

búi tóc người trắng mặt

cứa vào hố mắt

cứa cụm hoang mang cùng nỗi dịu dàng

đêm té ngược đường quay

thời khắc chổng đầu

tôi chạy

.

vọt trào mắt lửa

bùng nổ dữ dội

chẳng thể tìm ra mông mông hoang mạc

người lữ hành nằm ôm ảo giác

chẳng thể tìm ra mượt mà huyền thoại

người đàn bà núp sau đêm

đong đưa quá khứ

cọng cát vắt mình qua ngọn biển

nghe ngóng thời gian

rừng tự sát bên trang giấy

khát vọng đọt mầm

khoảng lặng thanh âm

mấp máy giọt phù trầm

cứa trắng hoác ra trăm miếng

nghịch âm

.

liều lĩnh khi đêm chẳng thể

xám cùng thơ

tôi chạy về phía rừng

chết sững trước vẻ đẹp tàn rụi

thấy da thịt mình

đen màu cổ quái

.

bí ẩn sau trang giấy

vẫn còn tối sầm.

Chim Hải

Read Full Post »

Trần Vấn Lệ

.

Ban có tin được không lá phong đang đỏ rực rồi sẽ vàng mai mốt để đón mùa Thu về?

Bạn cứ tin vậy đi nếu bạn ngoài nước Mỹ!  Mùa Thu đẹp lắm nhé…khi lá phong vàng rơi!

Mùa Thu sẽ đến nơi đúng ngày lịch ghi đó!  Mùa Thu đến với gió đủ bay lá phong vàng…

Hôm nay gió đang tan những đám mây bàng bạc…

Hôm nay gió đang hát trong thành phố Temple.  Đường Rosemead như mơ:  lá phong đang đỏ rực.

*

Người con gái che ngực bằng tấm áo laine hồng.  Người bên cô, chắc chồng, ôm cô nâng từng bước…

Con đường dài trăm thước, trăm năm anh cùng em… chúng mình cùng đi trên lá phong vàng êm ái! 

Nếu có dừng, anh chải tóc em lá phong sương…

Read Full Post »

Một thế giới lệch

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Đặt hai con mắt chéo bên dưới sống mũi
Mọi thứ bắt đầu chéo
Một thế giới chéo
Ta nhìn nhau lệch về một bên
Anh thấy tấm lưng em khuyết trũng như ngọn núi
Chúng ta nhìn lệch qua tuổi già
Con đường lệch qua để tránh bão
Mọi thứ đang đeo bám trong ngôi nhà lệch  nghiêng
Ngọn tháp nghiêng thì đứng thẳng lại
Chúng ta nhìn lệch thời gian, xáo tung mọi thứ trong tuần
Thứ hai ngủ vùi, chủ nhật bắt đầu một tuần mới
Những bức tượng hoá lỏng chảy tràn con đường
Chúng ta thản nhiên
Ngẩng mặt hít thở khí trời, mở miệng hát và nghĩ đến bất cứ điều gì mình thích
Chúng ta nhìn lệch từng
Khớp xương đang chuyển động rất khó khăn
Nhìn cho đến khi chúng bất động
Treo ngược thế giới lên
Chúng ta sẽ nhìn thấy được gương mặt nhăn nhó như đang cười
Để yêu nhau

Read Full Post »

Qui Nhơn mưa rất khẽ.

Đặng Phú Phong

.

Qui Nhơn những chiều mưa rất khẽ

Rất an yên và đậm nét từ tâm

Em xuống phố áo xanh bay nửa vạt

Thật hồn nhiên dưới những giọt mưa thầm

.

Đường Nguyễn Huệ nép dài theo bãi cát

Sóng vỗ cao hoà khúc hát thiên thần

Ghềnh Ráng cong ôm nỗi buồn của núi

Trải thiên thu chưa trả hết nợ nần

.

Đôi tháp thâm u ngậm nỗi buồn vong quốc

Vẫn còn vang tiếng hát ru hời

Hồn người thiêng in hình viên gạch đỏ

Trống Chăm pa không dấu nổi buồn rơi

.

Em rất khẽ cũng như ta rất khẽ

Bước chân trần chạm nhẹ bụi thời gian

Người dân đen đến ngôi cao hoàng đế

Hạt bụi này là dấu vết hồng hoang

Read Full Post »

Phương Phương

.

Thành phố dịu hiền như nửa vầng trăng(1)

Còn một nửa xin để dành cho biển

Từ cái buổi ban đầu em đến

Tận bây giờ vẫn trong vắt tin yêu!

,

Biển thì thầm bên em – biển muốn nói bao điều

Eo Nín Thở lại phập phồng con sóng

Biển trách em vô tình đỏng đảnh

Để cồn cào nỗi nhớ – biển đau…

.

Em về với biển rồi – mình lại có nhau

Quy Nhơn xanh ngút ngàn ánh mắt.

Hoàng đế Quang Trung bao năm rồi thao thức

Vó ngựa oai hùng lồng lộng giữa trời xanh.

.

Nửa vầng trăng mơ màng thức dậy trong anh

Thành phố biển lưng tựa vào vách núi

Vì sợ trái tim người lẻ loi buồn tủi

Nên cây Cầu ngọn Tháp cũng có Đôi(2)

.

Em mang về cho anh – tia nắng nhỏ cuối trời

Trao cho anh nụ cười hiền ấm áp.

Đồi Thi Nhân dốc Mộng Cầm vang câu hát

Chàng thi sĩ họ Hàn được an ủi nơi đây.

.

Ngọn gió đa tình bồng bềnh giữa trời mây

Em đến rồi đi mang bao niềm thương nhớ

Quy Nhơn ơi! Sao Người nồng hậu thế

Để nặng lòng kẻ ở người đi (1)

—————-

Về đêm con đường Xuân Diệu mới mở uốn cong như nửa vầng trăng cổ tích; (2) Cầu Đôi Tháp Đôi tại Quy Nhơn.

Read Full Post »

Trần Thiên Thị

Con ve sầu hát thêm vào mùa thu

1

những con quạ ngủ quên nơi nào bên kia bến sông ?

người con gái

có còn chờ nhau bên kia bến sông ?

một nhịp cầu

mùa ngâu trời chẳng làm ngâu

vỗ vào đêm xanh mà hát

rượu một mình chẳng nguôi nhớ nhau

2.

nụ cười đã trở thành một ám dụ mới

không chỉ dành riêng cho niềm vui

cũng như rượu bây giờ

không chỉ dành riêng trên bàn thờ hiến tế

chiều nay ta uống và nguyền rủa

nhớ gì hay nhớ mưa

mùi đất nâu thơm buồn tức ngực

3.

chim khách kêu sau hè

mẹ bảo nhà có khách

ta chờ như thể đã trăm năm

chợ chiều đông sợ em về lạc lối

hoa cỏ đã gieo sợ mưa về vô công

lòng trãi chiếu hoa sợ mùa thu mất lòng

cuôi cùng

chỉ còn biết giận con chim rừng hót xằng bờ tre

4.

mùa đã trễ rồi

không trồng được cây gì

thương mãnh vườn già cất công đi dọn cỏ

thơ chẳng cất công

chữ già xơ cứng

con ve sầu ngủ quên suốt mùa hè

cất tiếng ri ri giữa chiều lạc lõng

một ngày thu trời như lữa bỏng

cứ muốn hát thêm

lời ca cuối cùng

trần thiên thị

Read Full Post »

Bây chừ

Mộc Miên

.

Nhân gian bây giờ là tháng mấy

Sao ngày dài hơn cả con sông

Mắt ai hoang dã như rừng vậy

Ngước lên thăm thẳm đến muôn trùng

.

Nhân gian bây giờ là tháng mấy

Sao buồn đầy trong những mênh mông

Môi ai hay có là đốm lửa

Cháy lên đốt trụi những khôn cùng

.

Ta đến tàn đêm vây bủa quanh

Em ngồi sương khói ở chung quanh

Nhìn qua da thịt trăm gai nhọn

Tay chạm vào đâu cũng lạ lùng

Read Full Post »

Sài Gòn

Âu Thị Phục An

.

Sài Gòn

điếu thuốc lá trên môi

ly cà phê đắng nghét

sáng,

lần thứ mười lăm

ta ngồi đợi

ồn ào ngày lên

bụi bặm bay lên

xe cộ hồn nhiên

trưa,

ghế đá công viên

thả giấc ngủ giữa quẩn quanh định mệnh

giữa ngàn ngàn giọt nắng vô tư

bên nhà thờ đức bà

trái tim ta cầu nguyện

sài gòn nồng nàn

ướt át bờ môi con gái

rượu

sóng sánh ánh đèn đêm

honey honey

khóe mắt nhung mềm

thơ dại

gọi lòng

ta hớn hở

yêu em

rồi bỏ lại nhiều ngày điên

bên triền dốc tối

ẩm ướt thu

rộn ràng

giông bão đi qua

cuốn theo

mùa đã hết

con thú già chợt quên

và ngủ

vùi trong ký ức

sài gòn đêm

hoan lạc

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

.

Cuộc gặp định mệnh giữa ba tôi và Hàn Mặc Tử

Tôi không tin tạo hóa sinh ra trái đất thì đấng thiêng liêng tối cao nào đó định cho chỗ này là địa linh nhân kiệt, chỗ kia là đất dữ. Nhưng tôi lại tin lời người xưa nói “nếu có duyên với nhau thì sẽ tụ lại”. Nói đâu xa; đấy chính Bình Định quê tôi là đất của sự tụ nhân, tụ thủy, là địa linh nhân kiệt với danh xưng là “Đất võ trời văn” thật 100% . Được như vậy người Bình Định luôn mang ơn sự đóng góp nhân tài từ các tỉnh bạn như Nghệ An với họ Hồ đã đưa người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung; quê Hà Tĩnh với duyên kỳ ngộ cha Đàng Ngoài mẹ ở Đàng Trong đã cho quê tôi nhà thơ tình Xuân Diệu”; và cảm ơn đất Quảng Trị đã đưa đến một Chế Lan Viên với những sáng tạo mới mẻ, hiện đại nhất trong bút pháp”. cảm ơn đất Quảng Bình đã tặng một Hàn Mặc Tử để rồi có cuộc gặp gỡ giữa ba tôi-nhà thơ Yến Lan và Hàn Mặc Tử định mệnh làm nên nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” đã mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc làm rạng danh cho quê hương Bình Định…:

Cuộc gặp mặt này được ba tôi kể lại:

– Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính.

Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở. Được một chốc hai người đi xuống. Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:

– Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:

– Dạ, vâng.

– Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?

– Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:

– Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?

– Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.

– Cậu lấy bút danh là gì?

– Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng:

– Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:

– Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông

Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách triều mến.

Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn. Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.

Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.

Sống giữa lòng Bình Định, những chiều hiu hiu nắng quái, tôi và Chế Lan Viên thường lên lầu cửa Đông mà hai đứa tôi gọi là lầu tư tưởng, phóng tầm mắt nhìn bao quát thị trấn, rồi vọng đến những chân trời xa tắp, lòng ngậm ngùi cho mảnh đất quê hương đã trải qua lắm cuộc đổi thay. Có lúc chúng tôi nghĩ xa hơn đến các triều đại của quá khứ, từng nối tiếp nhau đến sự thăng trầm biến thiên của lịch sử, rồi bàn nhau cùng viết về cảnh điêu tàn, những cuộc đời dâu bể. Hoan đi sâu vào sự đau thương, tàn tạ, thịnh vượng, làm sống lại những lễ hội, sinh ca của các hệ tộc quyền quí, rồi binh biến máu lửa thay cho một thuở thanh bình. Tập thơ của Chế, tên “Điêu tàn”.

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở

Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe

Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ

Tan dần trong im lặng của đồng quê..

Tập thơ của tôi là “Giếng loạn”. Nghe tôi đôi lần đề cập đến “Giếng loạn” Tử rất muốn xem (lúc này anh đang bệnh). Tôi mang xuống cho anh. Khoảng một tuần sau, Tử đưa trả bản thảo và nói:- Tôi đã xem hết tập thơ rồi. Có một số xúc cảm nên cố làm một bài riêng tặng cậu. Anh lấy ở túi áo ra trao cho tôi và trân trọng nói: – Đây cứ coi như một bài bạt sơ khảo; mà tôi thấy cái nhan đề không ổn. Sao cậu không viết là “Giếng lạng” lại viết là “Giếng loạn”? Tôi đáp: “Có vấn đề về ngôn ngữ tôi muốn thảo luận với anh đấy.”

Rồi tôi và Tử bàn nhau hồi lâu, sau cùng thống nhất là “Giếng loạn”. Loạn ở đây là loạn lạc, đầy đủ ý nghĩa hơn, lạng là bỏ hoang. Bài thơ Tử tặng tôi chính là bài “Trăng tự tử” mang dáng dấp của một bài bạt cho cả tập thơ. Tôi đã có chủ ý sẽ in nó vào tập “Giếng loạn” khi xuất bản. Nhưng bản chép tay ấy với cả tập thơ bị thất lạc, lúc đi sơ tán, ngày Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh vào Qui Nhơn. Bản in trên các sách hiện nay là bản lưu từ trong xấp di cảo do anh Quách Tấn giữ.

Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ dường như sáng 28 Tết âm lịch, năm 1938. Tôi và Chế Lan Viên đến thăm anh. Khi ấy bệnh Tử đã nặng! Mới bước vào cổng nhà, tự dưng tôi có cảm giác căn nhà hiu quạnh quá. Thấy chúng tôi, mẹ Tử bước ra thềm hè, rơm rớm nước mắt:

-Trí đi rồi các anh à! Cò bót không cho nó ở nhà nữa, vì sợ lây bệnh, bắt phải đưa vào Qui Hòa, Tết nhất đến nơi rồi, nếu đưa nó vào trong ấy thì tội lắm. Nhà cập rập quá, nên lén gửi tạm nó vào trong xóm Động. Các anh có đi thăm thì em Hành đưa đi. Nó vừa chạy đâu đó.

Đợi lâu không gặp Hành, hai đứa tôi hỏi thăm vào xóm Động. Đấy là cái xóm nhỏ của những người lao động nghèo, nằm trên một bãi cát rộng mênh mông, khoảng khu VI Qui Nhơn bây giờ. Nhà ở chỉ là những túp lều dựng tạm bợ trên cát, không có nền. Đồ đạc, giường, tủ, bàn, ghế cứ đặt nguyên trên cát. Đường đi vào cũng quanh quất cơ hồ khó tìm ra.

Chúng tôi vào một cái chòi lợp tranh nhỏ hơn một cái chái bếp. Nóc chòi được chống lên bằng hai cây cột tre. Một tấm phên ngắn dọc theo chiều dài của nóc, ngăn chòi làm hai: nửa trước sinh hoạt bình thường, nửa sau hình như có đặt một chiếc chõng tre với lỉnh kỉnh những thúng mủng..

Trước tấm phên là cái bàn ọp ẹp, chỉ còn lại một chân trước nối với một khúc củi đẻo từ chảng ba, hai chân sau cột vào hai cọc tre chống mái nhà, Tử đang ở trong ấy (đây là nhà của một phu kéo xe). Nghe tiếng chúng tôi, Tử chậm rãi bước ra, vẻ mệt nhọc:

– Hai cậu vào tới đây sao…?

Hoan và tôi ngồi trên ngạch cửa làm bằng một khúc tre, xoay lưng ra ngoài, trò chuyện với anh. Tử gầy, trông hốc hác lắm Anh không vui như mọi khi.

Đang nói chuyện thì có bà cụ đem cho anh hai quả keo chín, Tử nhìn hai đứa tôi:- Thứ này mình thích lắm. Mấy năm còn khỏe, mình thường xách ná cao su đi bắn. Có khi đạn rớt vào nhà Tây, mình ba chân bốn cẳng chạy nhanh như sóc. Thế mà bây giờ .!.Anh thở dài.

Chúng tôi nói chuyện cho tới giờ tan tầm, thì có một bé trai xách làn cơm vào (chắc là em Hành) Khi cái xách cơm đặt nghiêng nghiêng trên bàn, em lẫn ra phía sau. Tử vẫn giữ cái vẻ thản nhiên, gợi thêm một vài ý nhỏ về thi ca sách vở. Sợ anh mệt và cũng quá giờ chúng tôi đứng lên tạm biệt. Tử nhìn, đôi mắt anh buồn vời vợi

Sau này, mới biết sau cái Tết ấy, gia đình còn cố giấu anh ở mấy nơi nữa rồi mới vào Qui Hòa.

Khi Tử mất, mỗi lần nhớ tới anh, tôi lại ngậm ngùi đọc “Những giọt lệ” của anh

Trời hởi! Bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tựa si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa

Người đi, một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuông lòng tôi những giọt châu!

Tôi không biết anh viết bài thơ này để nói đến một tình huống nào. Có người bảo là anh viết để than thở về một mối tình trong bao nhiêu mối tình dang dở của mình. Nhưng tôi cứ nghĩ cảm xúc đó bắt nguồn từ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mà tôi và Hoan còn ngồi bên Tử, trong túp lều đơn sơ ở xóm Động…

Quả thật tôi không ngờ, lần chia tay ấy là lần vĩnh biệt.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »