Vũ Thanh
Én Liệng Truông Mây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nằm trong bộ trường thiên tiểu thuyết võ hiệp lịch sử ba tập Én Liệng Truông Mây, Tây Sơn Tam Kiệt và Gia Định Tam Hùng có bề dày gần 2000 trang của cây bút quen thuộc- Vũ Thanh. So với âm nhạc và thi ca,viết tiểu thuyết,nhất là tiểu thuyết lịch sử không phải là thế mạnh của anh Nhưng tâm huyết và lòng ngưỡng mộ tiền nhân đã giúp anh vượt qua nhiều cản ngại để những trang sơ thảo đầu tiên có thể đến với bạn đọc Xứ Nẫu .Có thể còn rất nhiều khiếm khuyết khi người viết lần đầu tiên tiếp cận và thể hiện một giai đoạn lịch sử nhiều biến động nhưng không nhiều tư liệu lịch sử như giai đoạn nhà Tây Sơn khởi nghiệp . Chính vì điều đó ,tác giả mong muốn được lắng nghe ý kiến đóng góp của người đọc để những trang sơ thảo ban đầu có thể được hoàn thiện và chính thức ra mắt trong thời gian tới
Đây là Hồi thứ 21 của bộ thứ nhất: Én Liệng Truông Mây.
xunau.org
Hồi Thứ 21
Hào kiệt TÂY SƠN nhận định về TRUÔNG M ÂY.
Trong suốt mùa hè đó, lẻ tẻ từng chiếc một, các chuyến tàu lương thực cứu trợ từ miền nam đã lén lút cập các bến An Dũ và Đề Gi để đổ gạo rồi bốc đi những người dân muốn di cư vào nam. Tiết Đại thử sắp đến nên khí trời oi bức không tả nổi. Người ta thường nói “nắng tháng tám, nám trái bưởi” thật qủa đúng cho mùa hạ năm nay. Có điều ở vùng Phù Ly và Hoài Nhơn năm nay chẳng còn trái bưởi nào để cho nắng hun nám cả, mọi thứ đều bị đám người nghèo khó tập trung ở đây ăn ngấu nghiến từ khi nó vừa già đủ để có thể ăn. Lương thực thiếu thốn, nắng lại qúa gắt nên nhiều người già yếu chết nóng vì không chịu đựng nổi. Không chỉ riêng ở đây mà khắp các nơi tình cảnh cũng đáng thương và kinh hoàng tương tự. Dân thì lang thang chết đói, trong khi đó triều đình lại âm thầm chuẩn bị một cuộc chiến tranh lớn để chống lại bọn cướp cạn Truông Mây, cái bọn cướp mà chính chúng đã phải chia hai, chia ba từng hạt gạo, hạt muối để cứu đói đám dân nghèo mà lẽ ra triều đình phải có trách nhiệm lo lắng cho họ. Và để chuẩn bị cho cuộc chiến đó, triều đình lại thu thuế nặng tay hơn để vét thêm lúa gạo, nhu yếu phẩm từ đồng bào. Ngoài ra, phủ Chúa còn cho đúc thêm nhiều tiền kẽm để có tiền cho triều đình chi dụng, bọn tham quan nhân cơ hội đó đã đúc tiền một cách vô thưởng vô phạt, vô tính toán để có dịp bỏ túi riêng tạo ra tình trạng lạm phát. Đó là chưa kể lượng tiền đúc lậu từ miền nam do một số người Minh Hương làm chủ chốt. Đồng tiền trong nước bị mất giá khiến người dân mất tín nhiệm, do đó họ không còn muốn giữ tiền nữa mà giữ của. Nhà nông giữ lúa gạo, thương nhân chỉ muốn trao đổi bằng hàng chứ không muốn thâu tiền. Từ đó nạn thiếu gạo trong nước càng trầm trọng hơn và nạn đói càng gia tăng. Nỗi thống khổ và oán hận thật không còn chỗ nào để chứa trong những thân người gầy gò ốm đói kia. Nhiều người đã giết cả đám quan quân đi thu thuế rồi tự tử chết ngay trên đống lúa, hay nơi cữa hàng của mình. Người ta nói trời hành không bằng người hành, nhưng người dân bây giờ đã bị cả trời lẫn người hành thì đúng là chỉ còn có đường tự tử. Nhưng tự giết mình không phải ai cũng có đủ can đảm để làm, do đó đại đa số chỉ còn biết gồng mình chịu đựng và hướng về Truông Mây để cầu mong cho họ chiến thắng cuộc chiến này càng nhanh càng tốt. Khắp nơi người ta ầm ĩ kháo nhau một cách công khai nguyện vọng của mình thiên về phía bọn cướp Truông Mây mà không còn e dè gì đến đám quan binh nữa. Người dân đến lúc tận cùng thì họ đâm liều, họ không dám tự đâm họng mình để chết nhưng họ không còn sợ bị giết bỡi quan quân triều đình. Bọn quan lính mà làm qúa thì họ liều mạng để chết chung. Mà ngay cả bọn quan lính, chỉ có một thiểu số vô lương lợi dụng cơ hội để đạp lên sinh mạng người khác kiếm chát làm giàu cho mình, còn đại đa số họ thông cảm với đồng bào ruột thịt, vì chính gia đình họ, những người thân, chòm xóm của họ cũng đang ở trong tình trạng khốn cùng đó. Còn với người dân trong hai huyện Phù Ly và Hoài Nhơn thì họ bày tỏ sự quyết tâm liều chết theo nghĩa binh Truông Mây chứ nhất định không để cho đám binh triều bén mảng vào vùng đất đầy tình thương yêu bảo bọc này. Người ta khuyên bảo nhau ngoài chợ, trong quán ăn hay khi tình cờ gặp nhau trên đường. Tinh thần đoàn kết nhất trí này của đồng bào hai huyện và nghĩa binh đã làm cho Phú Xuân lo ngại và nhân dân những nơi khác bàn tán xôn xao.
Tại ngôi trường duy nhất trong huyện Tuy Viễn ở thôn An Thái của thầy giáo Hiến cũng đang có cuộc nói chuyện giữa các thầy trò về vấn đề thời sự nóng bỏng này. Trương Văn Hiến từ lúc trốn chạy vào Quy Nhơn may gặp Nguyễn Nhạc tại cữa Nước Mặn cho theo thuyền qúa giang nên đã đưa được gia đình lên An Thái tạm trú tại nhà người anh vợ là Hai Nhiều. Trương Văn Hiến có năm người con. Con trai lớn là Trương Văn Đa, năm đó đã 15 tuổi, người con gái kế là Trương Thị Lan nhỏ hơn Đa 3 tuổi, còn ba người con trai khác đều dưới 10 tuổi. Để tránh tai mắt triều đình, ông muốn giữ nghề cũ nên nhờ anh vợ mua giúp một miếng đất, cất một căn nhà tranh cho gia đình và một gian nhà tranh khác kế bên để làm nơi dạy học kiếm thêm tiền vừa để dạy cho năm đứa con mình. Vì không muốn tiếng lớn đồn đãi ra xa nên ông chỉ nhận rất ít học trò và chọn lựa rất kỹ. Vốn đã quen biết nhau trong chuyến qúa giang nên khi ngôi trường mở ra thì những người học trò đầu tiên của ông là anh em Nguyễn Lữ, và Nguyễn Huệ ở Kiên Thành bên bờ bắc sông Côn. Nguyễn Nhạc sau vài lần trò chuyện, lại nghe danh tiếng Trương Văn Hiến, biết ông là người văn võ song toàn nên giúp đỡ rất nhiều cho gia đình Giáo Hiến trong những ngày lập nghiệp tại xứ người. Trong mối quan hệ đó, Nguyễn Nhạc tự coi mình như một đệ tử ký danh của ông giáo Hiến, trong khi ông giáo Hiến cũng cư xử với Nguyễn Nhạc như một người bảo trợ, nhất là ngôi trường học này. Lúc mới đến học, Nguyễn Lữ mới 15 tuổi và Nguyễn Huệ được 13 tuổi. Sau đó giáo Hiến thu nhận thêm vài học trò khác trong đó có Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh…
Tổ tiên ba anh em Nguyễn Nhạc vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, thuộc dòng dõi Hồ Quý Ly. Họ theo chân chúa Nguyễn vào lập nghiệp tại miền Nam khi chúa Nguyễn vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê – Trịnh tới Nghệ An (năm 1655). Ông cố nội của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long buổi đầu vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, vì siêng năng nên họ Đinh thương gả con gái và bảo bọc cho ở luôn trong nhà. Hồ Phi Long và Đinh thị sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn lớn lên không theo việc nông mà nhờ họ Đinh giúp vốn đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, sau cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó nhà vợ muốn Phi Tiễn đổi sang họ Nguyễn của mình để truyền dòng và con cháu được hưởng thừa tự. Con của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Phi Phúc, nay đã mang họ mẹ, cũng nối nghiệp cha chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt ra. Sau đó ông muốn nới rộng kinh doanh nên dời nhà xuống Kiên Mỹ, lập ra bến Trường Trầu để thu mua trầu trên nguồn của người dân tộc rồi phân phối đi khắp các nơi qua các tuyến đường bộ cũng như đường thủy theo dòng sông Côn. Nguyễn Phi Phúc lấy bà Mai Thị Hạnh[1], người cùng thôn Phú Lạc, sanh được 8 người con 4 người con còn sống, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và một người con gái. Nguyễn Nhạc sinh năm Qúy Hợi 1743, Nguyễn Lữ sinh năm Tân Mùi – 1751 và Nguyễn Huệ sinh năm Qúy Dậu – 1753. Người con gái là em của Nguyễn Nhạc, chị của Lữ và Huệ. Bà Hạnh là người thích hoa huệ nên trong vườn nhà bà đã trồng rất nhiều. Hôm sinh Nguyễn Huệ, vườn huệ sau nhà nở rất nhiều hoa và mùi hương sực nức khắp nơi. Nguyễn Phi Phúc thấy lạ nên lấy tên hoa huệ đặt tên cho con mình. Do đó Nguyễn Huệ thường được gọi là chú Tám Thơm.
Phủ Quy Nhơn, nhất là vùng Tây Sơn thượng và hạ là miền đất bị bỏ hoang sau khi nước Chiêm Thành sụp đổ hơn 200 năm trước, các chúa Nguyễn cho di dân từ khắp nơi về đây để khai phá, canh tác. Rừng sâu nước độc, hùm beo thú dữ đã buộc con người đến đây, muốn sống còn, phải có sức khỏe và võ nghệ vừa để chống thú dữ vừa để chống lại những con người xiêu tán ương ngạnh, ngang tàng tứ xứ tụ về. Nguyễn Phi Phúc vì đi buôn có tiền nên việc ưu tiên của ông là cho các con trai của mình học văn học võ. Võ Ta có mà võ Tàu cũng có, vì thời bấy giờ ở phủ Quy Nhơn người Minh Hương chạy nạn nhà Thanh đến đây sinh sống rất đông. Họ chủ yếu về nghề buôn bán, làm thuốc. Vài người trong số họ là võ sư.
Khi ông Nguyễn Phi Phúc qua đời, cơ nghiệp giao lại cho Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc là người tháo vác, sách hoạch đã theo cha buôn bán từ lúc còn trẻ, lại có tính hào phóng thích kết giao bạn bè nên từ khi kế nghiệp cha công việc kinh doanh càng phát triển. Ngoài việc thu mua, cung cấp trầu, Nguyễn Nhạc còn cho lập sòng bài, mở nhà trọ để kiếm lời và tạo cảnh sung túc, đa dạng, cho bến Trường Trầu Kiên Mỹ. Vợ Nguyễn Nhạc là bà Trần Thị Huệ, cháu nội của Võ sư Trần Kim Hùng là một người đảm đang, quán xuyến nên Nhạc càng rảnh tay mở rộng việc kinh doanh. Từ khi bà Huệ về nhà, trong gia đình thường kêu Nguyễn Huệ là Bình để tránh trùng tên với chị dâu. Vì thế Nguyễn Huệ còn có tên là Nguyễn Văn Bình. Vì bận công việc buôn bán nên Nhạc thỉnh thoảng mới ghé thăm trường của thầy giáo Hiến, trước là để xem hai em của mình học hành ra sao, sau nữa nhờ thầy Hiến cố vấn cho những vấn đề nan giải mà ông không thể tự quyết định. Đôi khi ông còn nhờ giáo Hiến soạn thảo những văn thư báo cáo hoặc đơn từ của bộ phận thuế tại bến Vân Đồn. Kể từ ngày tên biện lại trước là Đặng Thu bị một kiếm sĩ áo trắng giết chết, quan trên giao cho Nguyễn Nhạc giữ chức Biện lại ở đây.
Phần Nguyễn Lữ theo học văn, võ với giáo Hiến được hai năm thì nghiêng nặng về việc tu hành theo đạo Minh giáo, còn gọi là Đạo Ma Ní, nghiên cứu tâm linh bùa chú do một người Minh hương truyền dạy.
Người Minh hương này là một du khách người Hoa theo Minh Giáo, ông đã đến ở trọ trong nhà khách của Nguyễn Nhạc gần hai tháng trời. Sau vài lần gặp mặt nói chuyện ông biết Nguyễn Lữ thích về việc nghiên cứu tâm linh nên đã truyền các pháp môn tu tập của Minh giáo cho Lữ kể cả những thuật bùa chú và pháp thuật. Trong hai tháng ở lại đây, hàng ngày người Hoa này thường đi lang thang dạo khắp các vùng núi non ở Tây Sơn ngắm cảnh, nhất là vùng núi Thơm ở Kiên Thạnh và núi Ngang ở Trinh Tường. Việc này không qua khỏi cặp mắt tinh đời của Nguyễn Nhạc, ông bèn cho tâm phúc theo dõi nhưng không thấy người Hoa nọ làm gì ngoài việc đi dạo chơi. Sau đó người Hoa từ biệt Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ ra đi, nói sẽ trở lại thăm họ, nhất là để hướng dẫn thêm cho Lữ về việc tu hành và vận dụng pháp thuật. Quả nhiên ông ta đã giữ lời và trở lại thăm anh em Nguyễn Nhạc hai tháng sau đó. Sự hồ nghi của Nguyễn Nhạc đối với người Hoa kỳ lạ này chưa hết cho nên vài ngày sau đó khi thấy người Hoa đi dạo cảnh Núi Ngang thì đích thân Nhạc lén theo dõi. Chỉ thấy người Hoa nọ khi đến một nơi trong dãy núi, sau khi cẩn thận nhìn trước ngó sau đã lấy ra một chiếc địa bàn đo tới đo lui một lúc lâu ra chiều boăn khoăn suy nghĩ lung lắm. Sau đó ông ta chặt hai nhánh trúc con giữ nguyên lá đến ngọn rồi đem trồng vào hai nơi, một bắc một nam. Xong đâu đó người Hoa ngửa mặt lên trời lâm râm khấn vái rồi nhìn lại hai cây trúc lần cuối trước khi trở về. Nguyễn Nhạc là người lanh lợi lại từng theo cha đi khắp đó đây nên kiến thức rất rộng, do đó ông biết chắc người Hoa này chính là một thầy địa lý đang đi tìm long mạch. Việc người Hoa đo tới đo lui rồi phải cắm đến hai cây trúc hai nơi có lẽ vì long mạch chính ở cuộc đất này khó xác định nên phải dùng cây trúc để thử. Biết vậy, mươi ngày sau đó, Nhạc hôm nào cũng lẻn đến nơi hai cây trúc để theo dõi, thêm vài hôm nữa thì thấy cây trúc ở phía bắc đã có hiện tượng héo dần trong khi cây phía nam vẫn còn tươi như lúc vừa mới chặt không có dấu hiệu nào của sự thiếu dinh dưỡng. Để tránh việc lưu lại dấu vết tạo sự nghi ngờ cho nhà địa lý, Nguyễn Nhạc quyết định đổi chỗ hai cây trúc ngay từ lúc này. Phần người Hoa vì muốn tránh sự việc bại lộ nên trong suốt thời gian ba tháng mười ngày ông không hề ghé thăm hai cây trúc. Chỉ đến khi ông biết đã có kết qủa của thử nghiệm mới trở lại thì thấy cả hai cây trúc đều héo úa. Ông thất vọng ngửa mặt lên trời than:
– Lạ thật !! Giả cuộc ư ? Không thể nào !!! Rõ ràng đây là cuộc đất đế vương mà ? Hay long mạch bị đứt ở đâu đó ?
Than xong ông ta bỏ đi lang thang quanh vùng như tìm kiếm nguyên nhân long mạch bị phá. Sau đó ông ta quay về trong dáng điệu hết sức thất vọng.
Hai hôm sau người Hoa giã từ anh em Nguyễn Nhạc ra đi và không bao giờ trở lại. Phần Nguyễn Nhạc tuy trong lòng bán tín bán nghi nhưng cũng quyết định âm thầm bốc mộ song thân của mình đem chôn nơi cây trúc phía nam. Để tránh người Hoa có thể trở lại dò xét, chôn xong ông vẫn giữ mặt đất bằng phẳng và để nguyên hai cây trúc đã héo như trước, ông chỉ làm dấu quanh đó để sau này xác định vị trí huyệt mả, dự trù vài năm sau sẽ cho xây dựng mộ bia. Việc làm này chỉ một mình ông biết, ngay cả những người thân trong gia đình.
Buổi tối hôm đó lớp học của ông Giáo Hiến sắp kết thúc thì Nguyễn Nhạc ghé thăm. Hai bên chào hỏi xong Giáo Hiến mời Nhạc ngồi xuống ghế rồi hỏi:
– Ông Biện ghé chơi hay có việc gì không?
Rồi ông gọi sang nhà bên:
– Lan à. Pha bình trà mới mời ông Biện nghe con.
Có tiếng con gái đáp vọng từ bên kia:
– Dạ, thưa Cha.
Nguyễn Nhạc đáp:
– Cũng có chút chuyện muốn nhờ Thầy phân tích xem sao.
Giáo Hiến hỏi:
– Là chuyện gì?
Nguyễn Nhạc nói:
– Cũng là chuyện thời sự nóng bỏng hiện nay đó. Tôi muốn được nghe Thầy phân tích xem tình hình sắp tới sẽ như thế nào, hiện giờ mọi sinh hoạt xã hội đều rất tồi tệ. Dạo này công việc buôn bán khó khăn và trì trệ qúa. Hàng hóa ế sưng ế sỉa ra, giá cả mọi thứ thì tăng vọt từng ngày. Lại thêm cái nạn triều đình gia tăng thuế địa phương do đó cấp trên buộc xuống dưới tăng thuế để nộp sao cho đủ số. Tình hình này nếu không có cách gỡ chắc việc kinh doanh của tôi bị phá sản qúa. Thầy cho tôi xin vài nhận định cũng như ý kiến xem sao.
Giáo Hiến thở dài nói:
– Muốn hiểu cho tận tường những nguyên nhân đưa đến tình trạng tồi tệ hiện nay chúng ta phải lùi lại xa hơn một chút, mở rộng tầm quan sát để có thể thấy rõ hơn bối cảnh chung của lịch sử Vương triều Nguyễn trong thời gian vừa qua.
Nguyễn Nhạc và đám học trò ai nấy đều sửa lại thế ngồi ngay ngắn và chăm chú lắng nghe câu chuyện quan trọng Thầy Giáo Hiến sắp nói ra. Nguyễn Nhạc nghe mấy chữ “Vương Triều Nguyễn” ông Giáo vừa thốt ra lấy làm lạ nên hỏi chen vào:
– Thầy vừa nói là Vương triều Nguyễn à ?
Giáo Hiến gật đầu đáp với giọng tự hào:
– Đúng vậy. Là Vương triều Nguyễn của chúng ta. Do đâu mà có điều này thì chúng ta phải đi sâu vào chi tiết nhỏ. Trước tiên là lời sấm không biết từ đâu đã lan truyền trong dân chúng rằng ” Đến 8 đời thì về Trung Đô”
Sau đó lại thêm tin đồn trong một vùng núi phía nam có một vị đạo sĩ hơn 80 tuổi căn cứ trên thuyết Thượng ngươn, Hạ ngươn đã quả quyết rằng:
” Chỉ có đến 8 đời Chúa thôi, không hơn. Cho đến khi núi biến thành đồng, cữa biển bị lấp, sao chổi xuất hiện thì vương quốc sẽ chuyền tay người khác..”. những lời đồn đại này đã khiến cho triều đình lo sợ và tìm các chống lại. Thế là triều thần đã cùng nhau dâng biểu xin Chúa xưng Vương để thay đổi toàn triệt lời sấm, có ý đánh lừa thần linh. Nhờ đó mà năm 1744 Chúa Võ đã trở thành Võ Vương, cho đúc ấn và xin xưng thần với nhà Thanh tự coi là một vương quốc riêng ở miền nam, chia nước trở lại thành 12 Dinh, một trấn là Hà Tiên và Đế đô là Phú Xuân.
Nguyễn Nhạc chen vào:
– Với những thay đổi đó, sự tình rồi có khá hơn không ?
Giáo Hiến lắc đầu:
– Chẳng những không khá hơn mà còn tồi tệ hơn.
Nguyễn Nhạc hỏi:
– Lại là những vấn đề gì nữa ?
Giáo Hiến đáp:
– Sau đó là sự phát triển của Cù Lao Phố của Trần Thượng Xuyên và vùng Mỹ Tho của Dương Ngạn Địch thu hút thêm thương thuyền nước ngoài làm cho nhu cầu tiền tệ trao đổi tăng cao. Chúa Võ bèn thuê Hà Lan và Nhật Bản gia tăng việc đúc tiền đồng. Sau vì lượng đồng trong nước không đủ nên năm 1746 phủ Chúa đã cho đổi sang đúc tiền kẽm rẻ hơn và đúc dưới dạng nhỏ có lỗ xỏ để tiết kiệm nguyên liệu. Về sau, một phần do sự lũng đoạn của gian thần, một phần do bọn gian nhân đúc lậu tiền kẽm rồi dùng đồng tiền rẻ mạt tự tạo ra đó đem đi mua lại hàng hóa với bất kỳ giá cả nào. Vì những lý do đó đồng tiền kẽm đã qúa dư thừa trong dân chúng, nó trở nên mất giá một cách tồi tệ và tạo thành lạm phát trầm trọng. Từ lạm phát của tiền tệ dẫn đến sự suy thoái cả nền kinh tế trong nước. Nhân dân không tín nhiệm đồng tiền kẽm nữa, thay vì giữ tiền họ chuyển sang giữ hàng hóa, lúa gạo, tạo ra tình trạng khan hiếm lương thực, từ đó nạn đói ngày một gia tăng và lan rộng khắp nước. Kể từ cuối năm Đinh Hợi cho đến năm Mậu Tí này (1768), ngay cả vùng Gia Định và miệt châu thổ sông Cửu Long mà giá thóc gạo đã cao qúa mức chịu đựng của người tiêu dùng thì khắp miền nam này giá lúa gạo xem như là cắt cổ. Tệ hơn thế nữa là dù với gía cắt cổ nhân dân cũng không có thóc lúa để mà mua. Từ ngày tên gian tặc Trương Phúc Loan kết bè kết đảng tiếm quyền phủ Chúa tình hình kinh tế trong nước đã trì trệ nay còn tồi tệ hơn. Liên tục nhiều năm những hiện tượng kỳ quái tiếp tục xảy ra như năm 1754 tự nhiên cữa biển Tư Dung bị bồi lấp, núi sập, chuột đồng xuất hiện khắp nơi ..v..v… tạo nên tình trạng hoang mang và mất niềm tin trong dân chúng đối với phủ Chúa. Dân chúng cho rằng lời sấm trước kia nay đã bắt đầu linh ứng. Đã thế bọn gian tặc Trương Tần Cối lại còn đưa ra chính sách sưu cao thuế nặng đè thêm trên đầu trên cổ dân chúng, moi móc họ đến đồng tiền kẽm cuối cùng khiến lòng dân càng căm phẩn.
Nguyễn Nhạc hỏi:
– Theo Thầy thì triều đình nên dùng cách gì để ngăn chặn hoặc làm thay đổi tình hình đói kém và thiếu gạo hiện nay ?
Giáo Hiến đáp:
– Trước hết phải ngăn chận nạn đúc tiền kẽm giả và giới hạn việc đúc tiền của triều đình. Sau đó phải ổn định giá lúa gạo vì nó là nguồn huyết mạch của toàn dân. Gía lúa gạo phải ổn định thì mọi sinh hoạt khác mới có thể ổn định theo được. Để làm giảm giá thóc gạo thì triều đình phải lập ra những kho điều tiết ở từng địa phương để thu mua thóc khi gía thóc rẻ rồi cho tồn kho, gặp lúc thóc mắt thì cho bán thóc ra để ổn định giá cả. Như thế thì giá thóc sẽ không qúa rẻ để làm thiệt hại cho người nông dân, mà cũng không qúa mắt để gây khó khăn cho người tiêu dùng. Các kho này sẽ làm nhiệm vụ điều tiết thị trường để ổn định đời sống dân chúng, làm giảm bớt nạn đói. Đáng tiếc triều đình đã không biết làm điều này.
Nghe Giáo Hiến phân tích tình hình và đưa ra phương cách sửa trị, Nguyễn Nhạc phục thầm ông ta là người có tài kinh bang tế thế nên cảm thấy phấn khởi trong lòng hỏi tiếp:
– Lời sấm kia có linh ứng thật hay không, theo ý của Thầy ?
Thị Lan đã pha trà xong và mang sang, cô rót nước vào hai chiếc tách, đặt bình trà lên bàn xong cúi đầu chào Nguyễn Nhạc nói:
– Mời ông Biện dùng trà, mời Cha dùng trà.
Nguyễn Nhạc mỉm cười đùa:
– Cảm ơn cô Lan. Sắp trở thành cô thiếu nữ xinh đẹp rồi đấy. Nhanh nhỉ ?
Lan đỏ mặt nói:
– Ông Biện chọc cháu hoài. Cháu xin phép ạ.
Rồi Lan trở bước về bên nhà, không quên đưa mắt lén nhìn Nguyễn Huệ. Cô không ngờ lúc đó Huệ cũng liếc nhìn cô, bốn mắt giao nhau khiến cô càng đỏ mặt hơn như kẻ gian bị bắt qủa tang, Lan vội cúi đầu đi thẳng.
Nguyễn Nhạc uống hớp nước trà giục giáo Hiến:
– Thầy nói về lời sấm ký ấy đi.
Giáo Hiến hớp miếng nước trà cho thấm giọng đáp:
– Lời sấm ký đã tiên đoán đúng do đó mới sinh ra tên gian tặc Trương Phúc Loan. Nhưng nói chỉ có 8 đời Chúa thì tôi cho rằng không đúng, không thể nào.
Nguyễn Nhạc hơi chồm người tới trước hỏi:
– Thầy căn cứ vào cái gì mà khẳng định là không thể nào.
Ánh mắt của Giáo Hiến long lên một niềm tin:
– Bảy đời chúa kể từ Chúa Tiên vượt Hoành Sơn vào nam cho đến nay đã tạo dựng được một cơ ngơi, một nền tảng vững chắc. Ngày nay một dải đất từ sông Gianh vào đến Hà Tiên và vùng đồng bằng Châu Thổ mênh mông trù phú, nếu chúng ta biết cách cai trị, khai thác, thì Vương triều Nguyễn sẽ bền vững đời đời.
Nguyễn Nhạc hỏi:
– Thế theo Thầy tình trạng xã hội tồi tệ ngày nay là do đâu, rồi sẽ về đâu?
Giáo Hiến đáp ngay:
– Tất cả là do bọn gian tặc Trương Phúc Loan và bè đảng. Trừ tuyệt bọn chúng đi thì mọi việc tồi tệ sẽ kết thúc.
Nguyễn Nhạc lại hỏi tiếp:
– Thầy có nghĩ là trừ tên Trương Phúc Loan này đi thì rồi lại có tên Trương Phúc Loan khác thay thế hay không?
Giáo Hiến đáp:
– Có thể. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải giúp Chúa trừ tên Trương Phúc Loan này và ngăn chận những tên khác mọc lên.
Nguyễn Nhạc hỏi:
– Ở đàng ngoài Chúa Trịnh thâu tóm mọi quyền hành, Vua Lê giờ chỉ còn là hư vị, danh là Vua mà quyền cai trị nước nằm trong tay họ Trịnh. Tình trạng này theo Thầy do đâu mà có?
Giáo Hiến hơi cau đôi mày lại, ông biết Nguyễn Nhạc đang cố ý đưa ông vào thế bí. Ông thở dài nói:
– Đó là thảm trạng của đất nước. Nhà Lê kể từ Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh lập nên, trải hơn 300 năm đã đem lại cho dân tộc một thời kỳ vàng son cực thịnh. Nhưng thời kỳ ấy đã qua rồi nên mới có tình trạng Chúa Trịnh lộng quyền như thế. Cái lẽ xoay vần của tạo hóa, cuộc thịnh suy thay đổi này con người khó lòng cưỡng lại.
Nguyễn Nhạc nghe giáo Hiến nói thế thì chồm người tới trước hỏi:
– Thế thì cái cuộc thịnh suy của Chúa Nguyễn đàng trong có phải cũng do lẽ tự nhiên của trời đất vần xoay không thầy?
Giáo Hiến nói:
– Đúng là có thịnh thì sẽ có suy, nhưng với Vương triều nhà Nguyễn đàng trong thì hãy còn qúa sớm để có thể tàn. Sự suy yếu của đàng trong chỉ mới bắt đầu do một nguyên nhân khách quan chứ chưa phải là sự rệu rã chủ quan, nội tại. Nếu chúng ta loại bỏ được cái nguyên nhân khách quan kia đi thì với cái nền vững chắc đã có, chúng ta có thể xây lại căn nhà, hoặc tu sửa nó tốt đẹp trở lại.
Nguyễn Nhạc lại hỏi:
– Như thế theo Thầy cuộc nổi dậy của các hiệp sị Truông Mây có chính đáng không? Thầy đánh giá thế nào về họ?
Giáo Hiến nhắp thêm một hớp trà, ông nói:
– Dựa theo nội dung tờ hịch truyền rao trong dân chúng thì Truông Mây chủ trương tiêu diệt tên Quốc phó Trương Phúc Loan và bè đảng, điều đó chính đáng nhưng tôi nghi ngời về mục tiêu lâu dài và cả thành qủa của họ.
Nhạc hỏi:
– Vì sao?
Giáo Hiến đáp:
– Họ đã khôn khéo tránh né, không đề cập đến họ sẽ làm gì sau khi tiêu diệt Trương Phúc Loan. Điều này chừa cho họ một cánh cữa lớn với dụng ý sau khi diệt được Trương Phúc Loan họ sẽ đi xa hơn, lật đổ cả phủ Chúa.
Nguyễn Nhạc gục gặc đầu tỏ vẻ đồng ý rồi hỏi:
– Theo Thầy tại sao họ phải dấu diếm mục đích sau cùng của mình?
Giáo Hiến đáp:
– Dễ hiểu thôi. Bỡi nếu ngay bây giờ mà họ lộ ra mục đích cuối cùng, họ sẽ gặp phải sự phản đối của tầng lớp sĩ phu chân chính trong nước. Lớp sĩ phu này sẽ buộc tội họ là phản loạn và chống đối họ. Ông Biện nên biết rằng một cuộc nổi dậy mà chỉ dựa vào đám dân cùng khổ hay những người hiệp sĩ võ biền không thôi mà không có đám sĩ phu tiếp tay thì sự thất bại cầm chắc đến sáu bảy mươi phần trăm.
Có vẻ không hài lòng trước ý kiến này, Nguyễn Nhạc biện bác:
– Xin lỗi Thầy tôi nói có khi không phải, nhưng đám sĩ phu trói gà không chặt, suốt ngày chỉ nói toàn chuyện đạo đức thánh hiền dựa theo sách vở cũ rích thì so bì thế nào được với lực lượng của đông đảo quần chúng.
Giáo Hiến nói:
– Ông Biện nói đúng nhưng chỉ một phần. Một cuộc cách mạng bao giờ cũng có hai phần: đấu tranh và xây dựng. Sức mạnh của đông đảo quần chúng có thể giúp đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi, nhưng thắng lợi rồi họ sẽ không biết làm thế nào để bảo vệ, xây dựng và phát huy thành qủa của thắng lợi. Đập phá hoặc thiêu hủy một căn nhà thì chỉ cần một anh chàng khỏe mạnh với một cái búa hoặc một nùi lửa là xong. Nhưng phá xong muốn xây dựng lại như cũ hoặc đẹp hơn thì phải cần đến bàn tay của người thợ. Trong bối cảnh của một quốc gia, người thợ đó là tầng lớp sĩ phu, kẻ sĩ. Những người mà ông Biện vừa cho rằng trói gà không chặt đó. Một cuộc cách mạng toàn diện phải có đủ cả hai tầng lớp: quần chúng và kẻ sĩ. Như thế mới thực hiện được cả hai việc, đấu tranh và xây dựng, nếu không đó chỉ là cuộc bạo loạn. Bạo loạn có thể dẫn đến thành công trong đấu tranh, nhưng sau đó những người bạo loạn sẽ đưa đất nước từ hố sâu này đến một bờ vực thẳm khác.
Nguyễn Nhạc nói:
– Thầy phân tích rất chính xác, tôi đồng ý. Vậy theo Thầy cuộc nổi dậy của Truông Mây là cách mạng hay bạo loạn ?
Giáo Hiến đáp:
– Họ đang làm rất tốt, đúng với tinh thần hiệp sĩ “kiến nghĩa dũng vi”. Họ nhìn thấy đồng bào bị đói khổ, bị áp bức, nên xắn tay tương trợ. Kêu gọi nhau họp lại, trước làm ăn cướp, đi cướp của nhà giàu phát cho nhà nghèo, sau vì người nghèo theo nhiều, lực lượng đủ mạnh, lại thấy cảnh triều đình suy nhược nên tiến thêm bước nữa hô hào tiêu diệt tên Quốc Phó. Cho đến giờ phút này việc họ đang làm là một cuộc cách mạng.
Nguyễn Nhạc hỏi tiếp:
– Thầy đang nghi ngờ về sức mạnh của họ hay mục đích của họ?
Giáo Hiến nói ngay:
– Cả hai.
Nguyễn Nhạc nói:
– Xin Thầy nói rõ lý do.
Giáo Hiến chậm rải giải thích:
– Làm hiệp sĩ khác với làm chiến sĩ cách mạng. Làm chiến sĩ cách mạng thì thắng lợi là trên hết, đôi khi họ có thể đạp lên mọi thứ để đi tới đích. Hiệp sĩ thì thấy việc nghĩa dẫu chết không từ. Chính cái tinh thần đó đã đẩy Truông Mây vào thế kẹt hiện nay là vừa chuẩn bị đánh giặc vừa nuôi một đàn con đông trong khi nhà lại nghèo. Họ vì lòng nghĩa hiệp mà đứng ra gánh vác miếng ăn cho hàng vạn người nghèo sắp chết đói, đây là một nghĩa cử rất đẹp nhưng cũng chính nghĩa cử này sẽ đẩy họ vào chỗ chết. Khi phát động cuộc chiến trở lại, chẳng những họ không có đủ lương thực cứu đói mà chính họ cũng sẽ chết đói theo đám người nghèo kia. Nói đúng hơn là vì thiếu lương thực cho nên nghĩa binh không thể tác chiến, có nghĩa là họ sẽ thất bại.
Nguyễn Nhạc hỏi ngay:
– Trường hợp là Thầy, Thầy xử sự thế nào khi đám dân nghèo đói cứ kéo đến địa bàn của Thầy nằm thoi thóp cầu cứu.
Giáo Hiến đáp:
– Tôi sẽ giúp họ, nhưng giúp họ mà biết chắc rằng sau đó cùng chết với họ trong khi tôi còn việc lớn chưa hoàn thành thì tôi sẽ tìm cách chối từ hoặc tránh né. Lía xuất thân là một người nghèo khổ, ông ta đã từng chứng kiến cảnh Mẹ mình chết vì nghèo, vì đói, cho nên có sự tương lân mà ra tay giúp đỡ. Nghĩa cử ấy rất cao đẹp, nhưng ông ta quên rằng mình đang làm cách mạng, đang nắm trong tay hàng ngàn sinh mạng của nghĩa binh. Nếu thất bại trong cuộc chiến sắp tới, bao nhiêu ngàn nghĩa binh sẽ vì lòng nhân từ của ông mà phải hy sinh và công sức cùng lý tưởng của cách mạng sẽ bị xóa bỏ.
Nguyễn Nhạc nói:
– Lía có thể vì lòng lân tuất mà ra tay giúp đỡ dân nghèo nhưng tôi tin người phụ tá của ông ta là Trần Lâm cũng nhìn thấy điều nguy hiểm này. Hy vọng họ có thế để gỡ. Hơn nữa, bây giờ lòng nhân nghĩa của Truông Mây đã tiếng lành đồn xa, khắp nam hà người người kính phục, nhân dân hai huyện Phù Ly và Hoài Nhơn lại quyết chết một lòng bảo vệ cái vùng đất đầy tình thương của họ. Yếu tố nhân hòa mà họ đạt được cũng là thế mạnh giúp họ đứng vững trong cuộc chiến sắp tới. Thêm vào đó họ đã có mối quan hệ rất tốt với các bản dân tộc Cao nguyên, đặc biệt là Bản Đá Vách. Đó là một hậu thuẫn khá vững vàng.
Giáo Hiến nói:
– Tôi cũng nghĩ và cũng hy vọng như vậy. Lực lượng người dân tộc là một sức mạnh đáng kể, nếu sự liên kết đó chặt chẽ thì Truông Mây sẽ rất vững chắc. Đáng tiếc lúc đầu họ đã vô tình mắc phải một lỗi lầm nhỏ tạo ra tình trạng nguy hiểm hôm nay.
Nguyễn Nhạc hỏi:
– Như thế tại sao mọi người chúng ta không tìm cách giúp họ, nhất là những kẻ sĩ ưu tú như Thầy, như bang chủ Bang Hành Khất Trần Kim Bằng, sư huynh của Thầy ?
Giáo Hiến đáp:
– Cảm ơn ông Biện đã đề cao. Thật ra lúc đầu chúng tôi còn nghi ngờ mục đích của các hiệp sĩ Truông Mây, cho đến lúc này vẫn vậy, nhưng trước những nghĩa cử cao đẹp của họ chúng tôi không thể không giúp đỡ. Bang Hành Khất trong thời gian gần đây đã bắt tay chặt chẽ với Truông Mây trong việc giúp đỡ người nghèo đói. Chúng tôi đã đóng góp lương thực, nhân lực, để phụ với họ, nhất là trong việc di chuyển đồng bào vào nam.
Nhạc hỏi:
– Có nghĩa là sự liên kết chỉ trên căn bản tinh thần nhân đạo cứu người nghèo đói chứ không liên hệ gì đến công cuộc đấu tranh cả ?
Giáo Hiến đáp:
– Đúng vậy. Cho đến lúc này.
Nhạc hỏi nhanh:
– Còn về sau này ?
Giáo Hiến trầm ngâm một lúc rồi trả lời:
– Mọi việc trên thế gian này đều kết nối bỡi một chữ “duyên”. Có duyên thì tụ, hết duyên thì tan, còn đã vô duyên thì không thể tụ. Huống chi lòng không đủ thành thì duyên càng khó đến.
Nguyễn Nhạc biết trong lòng ông giáo còn nghi ngờ về lý tưởng và năng lực của các nghĩa binh Truông Mây nên không muốn nói rõ quyết định giúp hay không giúp. Điều này chứng tỏ cái ý thức trung quân đã giữ vai trò chính yếu trong mọi quyết định của ông ta. Cũng có thể ông ta đang chờ cái “duyên” mà ông tin vào đó, nó đưa đẩy cuộc đời ông. Nghĩ đến đây Nhạc tự nhủ: “Ta cũng không nên vội vã, phải đợi cho đủ cơ và duyên mới được”.
Nguyễn Huệ tự nãy giờ ngồi nghe có nhiều điều muốn hỏi nhưng thấy anh Cả và Thầy tranh luận sôi nổi qúa nên không muốn làm đứt dòng tư tưởng của họ, lúc này thấy Nguyễn Nhạc ngồi im nên lên tiếng hỏi:
– Thưa Thầy, lúc nãy Thầy nói Chúa Nguyễn đã xưng Vương rồi đúc ấn xin xưng thần với nhà Thanh tự coi miền nam này là một quốc gia riêng độc lập với đàng ngoài của Vua Lê. Việc này có chính đáng không ? Thưa Thầy.
Giáo Hiến nghe Nguyễn Huệ hỏi câu này thì giật mình. Ông nhìn cậu học trò nhỏ có đôi mắt sáng quắt và vầng tráng rộng với ánh mắt thích thú nhưng không kém sự e dè vì chính ông cũng bị vấn đề này đè nặng trong tâm tư bấy lâu. Ông suy nghĩ một lúc rồi đáp:
– Việc này đã gây ra không ít xáo trộn trong triều đình Đàng trong của phủ Chúa. Có một thiểu số người phản đối vì cho rằng chúng ta vẫn còn là thần dân của nhà Lê, số khác đông hơn thì cho rằng đàng trong từ lâu đã là một phần đất riêng, đôc lập với Vua Lê ở đàng ngoài, do các đời Chúa Nguyễn bỏ công sức khai phá mở mang. Hơn nữa để tránh dân chúng hoang mang vì lời sấm kia nên họ tán đồng việc Chúa Nguyễn Xưng Vương với quốc hiệu riêng là “An Nam Quốc Vương” khi đối ngoại với nhà Thanh hay các nước lân bang.
Nguyễn Huệ lại hỏi:
– Những ai phản đối, Thưa Thầy ?
Giáo Hiến đáp:
– Đại biểu cho số này phải kể đến quan Hàn lâm học sĩ Nguyễn Quang Tiền. Năm 1756 khi Võ Vương gởi trả bọn cướp biển người Hoa bị bắt về cho Càn Long, đã bắt ông thay vì viết niên hiệu của Chúa : An Nam Quốc, Thuận Quảng Đạo, Tiết Chế Thái Phó, Quốc Công là Nguyễn…, như những thư trước, thì nay phải đổi là: An Nam Quốc Vương.. Ông nhất quyết không nghe, nói rằng “Đã có Hoàng Đế ở kinh đô do thiên triều sách phong Vương tước, xứ này vốn là phiên thần vẫn theo chính sóc[2], nay xưng Quốc Vương, nếu như Trung Quốc vặn hỏi ta sẽ trả lời ra sao”. Vì thế ông ta nhất định không nghe. Võ Vương giận bãi chức ông và đuổi về quê.
Nguyễn Huệ nghe đến đây lòng phấn khích, vỗ tay đánh “bốp” một tiếng, sau nghĩ lại thái độ của mình hơi vô lễ nên đỏ mặt ấp úng thưa:
– Xin lỗi Thầy con vô ý. Con xin hỏi tiếp. Thưa Thầy, quan điểm của Thầy về vấn đề này như thế nào ?
Giáo Hiến trầm ngâm một lúc, lưỡng lự trả lời:
– Đây là một vấn đề hết sức tế nhị. Lúc đầu bá quan vì muốn tránh lời sấm cho nên mới xin Chúa xưng Vương. Sau đó vì đã có Vương vị nên triều đình mới nghĩ đến phải có một đất nước riêng để cho danh chánh, vì vậy mới có việc đổi danh xưng trong các văn thư đối ngoại từ An Nam Quốc.. thành An Nam Quốc Vương…
Nguyễn Huệ nóng nảy chen vào:
– Thưa Thầy, như vậy là nước Đại Việt ta trở thành hai nước riêng biệt độc lập nhau hay sao ?
Giáo Hiến nhẹ giọng đáp:
– Lúc đó cả triều thần và Võ Vương đều nghĩ như thế. Họ chỉ còn chờ nhà Thanh chấp thuận nữa mà thôi.
Huệ hỏi:
– Thầy có đồng tình với họ hay không ?
Giáo Hiến đáp:
– Gần hai trăm năm khai phá, mở mang và xây dựng, họ Nguyễn rất xứng đáng để có một cương thổ riêng cho mình.
Nguyễn Nhạc cũng cảm thấy hào hứng với đề tài này nên nói:
– Một giải đất từ sông Gianh vào tới Gia Định, Hà Tiên mênh mông trù phú đủ để trở thành cương thổ của một quốc gia riêng rồi. Hãy nhìn lại xem đế quốc Chiêm Thành ngày xưa cương thổ của họ được bao nhiêu đâu ? Tôi đồng tình với Thầy về việc này đấy.
Nguyễn Huệ đưa tay vẹt mớ tóc quăn rởi xuống trước trán, nét mặt hơi đỏ lên hỏi:
– Như thế thì Bố Lạc Long, Mẹ Âu Cơ và câu chuyện trăm trứng trăm con sinh ra cùng một bọc mà Thầy dạy chúng con bây giờ phải kể lại cho con cháu nghe làm sao cho hợp với sự phân chia này? Hai chữ “Đồng Bào” từ nay còn sử dụng cho người dân Âu Lạc ở cả hai miền được nữa không, thưa Thầy ?
Giáo Hiến nghe Nguyễn Huệ lập luận như thế không biết phải giải đáp thế nào. Từ lâu ông rất chú ý đến cậu học trò nhỏ đầy tính tò mò và hiếu học này. Cậu ta luôn thẳng thắn nêu ra những vấn đề, đặt ra những câu hỏi hóc búa khiến ông vừa ngạc nhiên vừa thích thú, dù lắm khi những câu hỏi đó đẩy ông ta vào thế bí, như hiện tại ông gặp phải đây. Ông tìm cách kết thúc vấn đề:
– Dù sao thì nhà Thanh cũng không chấp thuận nên việc phân chia thành hai quốc gia đã không còn là vấn đề để bàn cãi nữa.
Nguyễn Huệ thấy Thầy Giáo lâm vào thế kẹt không nỡ đào sâu thêm nên xoay hướng câu chuyện, hỏi sang vấn đề khác:
– Thưa Thầy, lúc nãy Thầy nói cuộc nổi dậy mà chỉ dựa vào đám dân cùng khổ hay những người hiệp sĩ võ biền không thôi mà không có đám sĩ phu tiếp tay thì sự thất bại cầm chắc đến sáu bảy mươi phần trăm. Thầy lại nói một cuộc cách mạng mà không có kẻ sĩ giúp đỡ thì chỉ là cuộc bạo loạn, cuối cùng cũng sẽ đưa đất nước đến một vực thẳm khác. Thế nếu có một vị lãnh đạo thật kiệt xuất đứng ra lãnh đạo đám dân cùng khổ và các tay võ biền kia để gây nên cuộc bạo loạn đó thì có thể biến cuộc bạo loạn thành cuộc cách mạng toàn diện không ?
Giáo Hiến trả lời một cách thận trọng:
– Có chứ. Đó là trường hợp của những siêu nhân. Có điều trên thế gian này hạng người siêu nhân đó rất hiếm. Vã lại dù có bậc siêu nhân đó thì ông ta cũng không thể sống mãi để tự mình duy trì lâu dài tình trạng tốt đẹp mà ông ta tạo ra được. Vì thông thường chung quanh một siêu nhân là những người rách việc.
Nguyễn Huệ hỏi tiếp:
– Tại sao, thưa Thầy ?
Giáo Hiến đáp:
– Vì người giỏi thì hay ôm đồm bỡi họ thấy những kẻ khác không thể làm việc giống ý mình muốn. Lâu ngày tài năng của những người chung quanh họ sẽ bị thui chột.
Nguyễn Huệ lại đưa tay vẹt mấy sợi tóc quăn đang phủ xuống trước trán hỏi tiếp:
– Như thế tại sao ông ta không truyền dạy, huấn luyện cho những người chung quanh để họ có thể thay ông ta làm việc ?
Giào Hiến mỉm cười lắc đầu:
– Thiên tài là do trời ban cho không phải ai cũng có. Sự cố gắng học hỏi trau dồi chỉ giúp con người đạt đến một tài năng hữu hạn. Khả năng vô hạn của siêu nhân là do trời phú, kiến thức truyền dạy chỉ đóng góp thêm một phần nhỏ cho tài năng của họ mả thôi. Do đó người thừa hành khó có thể làm thỏa mãn ý muốn của một siêu nhân.
Đôi mắt của Nguyễn Huệ long lên một tia sáng hỏi:
– Từ xưa đến nay đã có bậc siêu nhân nào vừa là siêu nhân lại vừa thỏa mãn được việc làm của kẻ thừa hành chưa, thưa Thầy ?
Giáo Hiến đáp:
– Người đạt được sự toàn vẹn như thế là bậc Thánh nhân rồi, vì họ vừa có thiên phú về chuyên môn lại vừa có thể xả kỷ nữa. Trong lịch sử của dân tộc ta chưa có ai được như thế. Ngay cả Đức Thánh Trần Hưng Đạo, người có thể gạt bỏ thù nhà cùng lời dặn của Cha mình để lo cho đại cuộc quốc gia, cũng phải nhờ đến sự anh minh của Vua Trần Nhân Tông, sự trợ giúp của một loạt tướng tài chung quanh và sự đoàn kết giữa nhân dân và triều đình mới có thể đạt được thắng lợi vẻ vang trước quân Mông Cổ. Trong bối cảnh lúc đó thì ông ta có thể ví với một siêu nhân về quân sự chứ cũng chưa gọi là Thánh nhân được. Thánh vị của ngài chỉ được triều đình phong tặng về sau này mà thôi.
Nguyễn Huệ vẫn chưa chịu thôi:
– Thưa Thầy, trong trường hợp người siêu nhân lãnh đạo cuộc bạo động đưa đến thành công, sau đó ra sức cầu hiền để kẻ sĩ về giúp thì sao ?
Giáo Hiến đáp:
– Kẻ sĩ thường sống và chết cho lý tưởng. Hãy xem lý tưởng và đức độ của bậc siêu nhân sau khi thành công là gì, đến bực nào, mới có thể quyết đoán được.
Nguyễn Huệ lại hỏi tiếp:
– Cần đạt những tiêu chuẩn nào để có thể gọi là Thánh nhân, thưa thầy ?
Giáo Hiến chăm chú nhìn Nguyễn Huệ như để đọc xem trong đầu anh học trò nhỏ này đang nghĩ gì, ông chậm rải đáp:
– Nhân, Trí, Dũng. Đó là ba tiêu chuẩn chính một người cần đạt để khả dĩ được những người khác tôn là Thánh nhân. Đạt chữ Nhân để có thể yêu thương người, yêu thương đồng bào và dân tộc. Đạt chữ Trí để có thể biết vận dụng mọi khả năng của trí tuệ mà điều hành, phục vụ, đưa đất nước và dân tộc đến chỗ độc lập, hạnh phúc, phú cường. Đạt chữ Dũng để có đủ khả năng vượt qua mọi chướng ngại, tiêu diệt mọi kẻ thù, đưa đất nước, dân tộc ra khỏi chỗ tối tăm đến nơi tươi sáng.
Nguyễn Nhạc nhìn chú em út của mình cười hỏi:
– Bộ chú mày tính làm siêu nhân hay sao mà hỏi kỹ thế ? Xưa nay cũng chưa có anh hề hát bội nào trở thành siêu nhân hoặc Thánh nhân cả đấy.
Nguyễn Huệ nhìn anh nói:
– Anh Cả có thấy rằng làm kép hát dễ hơn là làm hề không ? Chọc được thiên hạ cười là cả một khả năng thiên phú đó.
Nguyễn Nhạc nghiêm sắc mặt nói:
– Anh đồng ý với chú mày nhưng từ nay thôi đừng đi theo cái bọn Tứ Linh và Nhưng Huy đó chọc cười thiên hạ nữa. Hãy lo học chữ nghĩa và võ nghệ của Thầy Giáo Hiến đây để sau còn có cơ hội tiến thân với đời.
Nguyễn Huệ nghe giọng nói và sắc mặt nghiêm trọng của anh đâm sợ:
– Dạ anh Cả.
Giáo Hiến thấy vậy nói đỡ cho Huệ:
– Ông Biện cũng không nên xem thường những người có khả năng chọc cười thiên hạ. Có hai hạng người có thể chọc cười thiên hạ. Hạng thứ nhất do trời phú cho họ có được một ngoại hình đặc biệt, cách ăn nói khéo léo..v..v.. khiến cho thiên hạ phải cười khi nhìn họ biểu diễn. Hạng thứ hai là những người có một nội tâm thiên phú đủ để cười diễu lên tất cả mọi việc. Hoặc giả không có việc gì trên đời này có thể làm khó được họ, hoặc giả họ nhìn thấy được cái lẽ huyền vi nhị nguyên của mọi sự việc. Hơn thế nữa, thông thường đằng sau những nụ cười là cả sự im lặng của suy tư. Cho nên những thiên tài về hài hước đều là những nhà triết học siêu hạng.
Nguyễn Nhạc nhìn Giáo Hiến hỏi:
– Hai năm nay Thầy đã phát hiện được điều gì ở thằng nhỏ này mà lúc nào Thầy cũng có ý bênh vực cho nó hết vậy ?
Ông Giáo Hiến trả lời với giọng nghiêm túc:
– Có phát hiện được một ít, nhưng chỉ với một ít đó thôi đã khiến tôi phải nghĩ rằng sau này mình sẽ không có đủ tư cách để dạy cậu ta được nữa.
Nguyễn Nhạc cố dấu niềm tự hào nói:
– Thầy có đầy bụng kinh luân, thằng Lữ và thằng Huệ học đến mãn đời chưa hết, Thầy đâu cần an ủi tôi như thế. Thôi xin phép tôi về để Thầy nghỉ ngơi.
Giáo Hiến đứng lên tiễn Nguyễn Nhạc, cả đám học trò cũng đứng dậy cúi đầu chào. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ bước theo anh. Lữ hỏi nhỏ:
– Anh Cả, công việc trên vùng thượng ra sao? Em muốn về giúp anh một tay. Bọn em lớn rồi, đâu thể để anh một mình chạy ngược chạy xuôi như thế này mãi được.
Nguyễn Nhạc gác hai tay lên vai Lữ và Huệ vừa đi chầm chậm vừa nói:
– Coi bộ chú mày mê đạo bù chú hơn là học chữ nghĩa thánh hiền và võ nghệ phải không ? Đúng là công việc bề bộn thật, một mình anh lo không xuể. Dạo này tiền bạc thiếu trước hụt sau làm anh điên cái đầu. Chú mày về phụ anh một tay cũng được nhưng để vài hôm nữa anh trở xuống thưa với ông Giáo đàng hoàng cho phải phép.
Nguyễn Lữ mừng rỡ nói:
– Vậy thì anh xuống sớm sớm nhé.
Nguyễn Nhạc quay sang Huệ nói:
– Ông Giáo là nhân tài hiếm thấy thời nay, chú mày phải cố gắng học hỏi để cả nhà còn có nơi nương tựa. Làm người muốn thành đạt lớn thì phải văn võ song toàn. Anh nuôi chú từ nhỏ nên biết rõ khả năng của chú sẽ làm được.
Nguyễn Huệ nói:
– Anh Cả an tâm, em sẽ không để anh Cả phải thất vọng đâu. Thôi anh Cả về đi kẻo khuya qúa rồi đó.
Giáo Hiến đứng ở cữa lớp học nhìn theo sau lưng ba anh em nhà họ Nguyễn sánh vai trong bóng đêm lẩm bẩm một mình:
– Ba anh em nhà này mỗi người mang một tính cách đặc biệt. Nếu gặp thời thế, sự kết hợp của họ có thể làm xoay chuyển cả đất trời, làm nên lịch sử chứ chẳng chơi. Ta lưu lạc về nơi xó núi này duyên may mà gặp được họ.
Rồi ông mỉm cười trở về bên nhà của mình. Bọn học trò cúi đầu thưa:
– Thầy về nghỉ ạ.
***********
[1] Bà Mai Thị hạnh là Cao cao tổ Cô của vị anh hùng chống Pháp, Mai Xuân Thưởng sau này.
[2] Chinh sóc: Nguyên nghĩa là ngày mồng 1 tháng 1 âm lịch. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng ở đây là quy ước với tính cách thời gian dành cho một vị Hoàng Đế nào đó. Theo chính sóc có nghĩa là chấp thuận làm bề tôi.

Chúc mừng Vũ Thanh nhé. Bạn thật có lòng với quê hương xứ sở
Chào Hùnh Hùng. Lâu qúa mới nghe lại bạn. Hôm trước về ra mắt HVP sao không thấy ghé chơi. Cuối đời tìm thú tiêu khiển vậy mà, nếu trời thương thì cũng xin góp một phần nhỏ vào nền văn học quê hương. Khỏe nhé.
Chưa biết hay hay không hay nhưng những gì bạn đang làm và sẽ làm là rất đáng trân trọng
Cong phu va tam huyet cua Vu Thanh that dang kinh phuc
Cảm ơn lời động viên của Minh Huy và Kim Mai. Mình sẽ cố gắng để không phụ lòng các bạn. Chúc vui khỏe.
Chuc mung Vu Thanh nhe
Cảm ơn, cho mình mượn cây đèn thần để soi cho rõ những trang sử đã bị chôn vùi trong giai đoạn này nhé alibaba. Biến.
Chúc mừng anh Vũ Thanh! Tiểu thuyết lịch sử chương hồi Én Liệng Truông Mây anh viết rất công phu và tâm huyết. Chỉ mới một phần sau của chương 21 Đất Tây Sơn hào kiệt luận Truông Mây- đã cho thấy… rất hấp dẫn, qua phần đối thoại giữa ông Giáo Hiến và ba anh em Nhạc – Lữ – Huệ… Sẽ xin góp ý cụ thể cùng anh sau khi đọc lại kỹ càng hơn. Xin chào anh!
Chào anh Cao Quảng Văn. Cảm ơn lời khích lệ của anh. VT sẽ lắng nghe ý kiến đóng góp của anh và các bạn. Đó cũng là lý do VT nhờ đăng đoạn này lên đây. VT ở bên này nên không có điều kiện sưu tầm và đi sát thực tế Địa lý và Lịch sử. Thiếu sót là điềuc hiển nhiên, mong các anh đừng ngại chỉ điểm cho. Chúc anh vui khỏe.
Ước gì có phim “Én Liệng Truông Mây” ra đời.
Hỡi các nhà phát hành phim, các nhà đạo diễn, các diễn viên điện ảnh. Nhà văn Vũ Thanh đã dọn sẵn mâm cỗ cho các vị rồi đó!
(nói dzậy là coi phim hấp dẫn đó nghen)
WHWH ơi, VT đang cố gắng để cho nó ra đời sớm đây. Chịu khó đợi tí nữa nghen. Chừng 3 năm nữa thôi. hì..hì…..
Suc viet cua ban cung ghe gom thiet
CẢm ơn Anammit. Chăm chỉ cần cù và nhẫn nại. VT đang cố gắng nhưng cũng cần ở sự giúp đõ và động viên từ các bạn đấy. Vui vẻ.
Chi moi hon 200 nam ma chung ta van khong biet duoc Nguyen Lu va Nguyen Hue ai anh ai em thi that la dang buon cho lich su VN
Chào Van Thanh. Vâng đây đúng là điều đáng buồn cho người Việt chúng ta nói chung và người Bình Đình nói riêng. Giai đoạn Tây Sơn theo chủ quan của tôi, có lẽ là giai đoạn lịch sử sáng chói nhất về tinh thần chống ngoại xâm và tính yêu độc lập tự do của người Việ Nam. Không may vì tư thù cá nhân mà triều nguyễn đã hủy hoại tất cả. Chúng ta nên cùng nhau đóng góp và xây dựng lại bối cảnh lịch sử này để trả lại sự thật hào hùng cho nó. Mong các bạn giúp VT một tay. Thân.
Vũ Thanh thân,
Về gia thế của Nguyễn Huệ, trong Google có nhiều tài liệu, nhưng trong đó cũng chỉ nói theo kiểu: “theo…”, có lẽ bạn đã tham khảo rồi. Theo tớ nghĩ bạn có thể gửi email cho thầy Hồ Sĩ Duy (giáo sư Văn và Triết của Cường Để), bạn nhớ thầy chứ? thầy sẽ cung cấp cho bạn một số chi tiết hoặc bạn nói với em trai bạn khi nào rảnh ở Vũng Tàu lên mình, mình sẽ đưa đến gặp thầy (đem theo máy thu âm để ghi lại). Địa chỉ email của thầy: hosiduy42@yahoo.com.vn
Chúc vui và thành công.
Cảm ơn Xuân Đào. Thật ra khi viết bộ truyện này mình đã thu thập hơn 30 bộ sách, chính sử có ngoại sử có, liên quan đến đời Tây Sơn. Tất cả những chi tiết mình viết ra đều được rút tỉa, tự đánh giá rồi dung hợp sao cho có nghĩa lý để bộ truyện có thêm giá trị lịch sử. Khi nào mình về VN sẽ nhờ Đào đưa đi thăm Thầy. Chúc vui khỏe.
” Nhân, Trí, Dũng. Đó là ba tiêu chuẩn chính một người cần đạt để khả dĩ được những người khác tôn là Thánh nhân.”
Nhớ xưa lại nghĩ đến nay: Thánh nhân, người ở đâu???
Cám ơn Vũ Thanh về một “Én liệng truông mây” rất đáng đọc để suy nghĩ. Mến.
Chào Thiên Bồng. Khỏe chứ bạn. Trong bài thơ “Hồn Nước Côn Giang” mình có viết:
…. Vâng ! tất cả vẫn còn đây em ạ
Những cong người, núi thẳm và dòng sông
Cơ bĩ thái đất trời chưa giải tỏa
Nên hùng thiêng ẩn tích đỉnh non hồng….
Khi nào vận bĩ của đất nước được trời cỏi mở thì tánh nhân xuất hiện. Chúng ta phải chờ. Vui.
Vũ Thanh vẫn chưa nghe được ý kiến của các bậc cao nhân về chi tiết của gia đình Nguyễn Nhạc. Mong lắm thay. Cảm ơn tất cả và chúc sức khỏe.
Hay
Xin chúc mừng Anh Vũ Thanh !
CẢm ơn Mùa Thu Vàng và Lu. Chúc hai bạn vui vẻ.
Rất ngưỡng mộ trước cái “ tình quê hương” của anh VT qua trường thi “HVP”!
Nay lại là trường thiên tiểu thuyết “ELTM”…đồ sộ 2000 trang ! Dù chưa đọc hết …nhưng cái “trường” tâm huyết ấy thật đáng nể !
Xin chúc mừng Anh Vũ Thanh !
Chào anh nguyen ngoc tho. Trân trọng lời khen của anh. VT sẽ cố gắng để đáp lại thạnh tình. Chúc anh khỏe.
Thật đáng khâm phục về khả năng viết và tâm huyết của anh Vũ Thanh .
Chuc Vu Thanh hoan thanh tam nguyen cua minh
That ky cong. Du chua doc nhung xin bay to long kinh phuc doi voi tac gia
Bái phục Vũ Thanh quá! một con người đa tài …Văn ,thơ,nhạc đều có đủ & như Phạm hùng Nghị đã nói đúng là VT có nhiều tâm huyết với tiền nhân! Chúc mừng Vũ Thanh!
Cảm ơn TRANKIMLOAN, Kim Mai, TVH, và Yến Du. Cứ khen nữa đi để VT nở mũi mà viết tiếp nếu không sẽ bỏ cuộc giữa chừng đó. hì..hì… Chúc các bạn vui vẻ.
Thật đáng nể. Viết trường thiên tiểu thuyết, lại là truyện lịch sử càng khó vì phải tái hiện thời gian, không gian của truyện hơn hai thế kỷ trước. Gần 2000 trang, ghê thật. Chưa biết giá trị văn chương ra sao vì chưa đọc nhưng công sức cày bừa trên ngần ấy trang giấy thật đáng phục. Kỷ lục!
Chào Thuận Nghĩa. 2000 trang là mình ước tính dựa trên cốt chuyện thôi. Hiển nói có tính khẳn định như thế là hơi vội (có lẽ vì thương mình đó). Sự thật mình chỉ mới viết chi tiết được 500 trang mà thôi. Đây là công trình thế kỷ cũa đời mình. hi..hi… Vui.
Công phu và tâm huyết lắm Vũ Thanh. Mong sớm đọc bộ trường thiên này của bạn.
Chúc vui và khỏe.
Cảm ơn bạn hiền nhé. Chưa biết bao giờ mới xong vì còn phải đi cày hàng ngày. Sẽ cố gắng hoàn thành sớm. Vui.
Anh Vũ Thanh tài , có ” nội công ” viết mạnh lắm !
Viết Trường thi xong , lai tiếp tục viết trường thiên Tiểu thuyết nữa.
_ Chào anh, chúc Anh vui- khỏe để ” cặm cụi” mài ngòi bút ngày càng bén hơn !
Chào TUTHUC. Vẫn khỏe chứ? Mọi sự đều có chữ “duyên” trong đó. Hôm trước bạn của anh Du Tử Lê là anh Sâm Thương (nhà văn, nhà viết kịch bản, giáo sư dạy kịch nghệ và đạo diễn điện ảnh ở Sài gòn) có đọc cuốn Hòn Vọng Phu của mình. Với cái nhìn nghề nghiệp, anh Sâm Thương khuyên mình nên viết Hòn Vọng Phu thành chuyện phim cho hảng phim VNFILM của anh ấy dựng (anh Sâm thươong hiện là Giám Đốc điều hành ở đó). Mình đồng ý, thế là bắt tay vào. Bộ ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY sẽ lồng những chi tiết của HVP xuyên vào trong đó. Viết đại đọc dở đừng cười nhé.
Chúc vui.
Chào anh Phan Hùng Nghị. Cảm ơn nhận định của anh. Thực ra đây chỉ mới có 1/2 sau của chương 21 thôi. Chương 21 có tiêu đề là:
Dân cảm đức hát câu vè chàng Lía
Đất Tây Sơn hào kiệt luận Truông Mây.
Đây là trường thiên tiểu thuyết nên phải dài rồi. Anh đọc từ từ cho vui. Sở dĩ VT nhờ Hiển đăng đoạn này vì trong đó có một vài sự kiện lịch sử không được sáng tỏ ví dụ như thứ tự anh em giữa Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ ai là anh và ai là em ?? . Gia đình Nguyễn Huệ có bao nhiêu anh chị em. Những người kia ở đâu tên gì, làm gì ..?????? Chúng ta là con cháu Quang Trung thử cùng nhau xác định cho đúng đắn để đi tới sự khẳn định có tính cách thống nhất cho Việt Sử một lần xem. Chúc anh khỏe.
Trời ơi dài quá ,hôm nào rảnh mới đọc được
Truyện dài quá đọc không xuể,nhưng đúng là có tâm huyết với tiền nhân