Feeds:
Bài viết
Bình luận

Miếu thờ đôi ngỗng ân tình

 
Cao Thị Hoàng
 
1.
Quê tôi, xóm vạn chài nằm bên con sông Đồng Nai nhiều huyền tích và cũng lắm kỳ bí. Chiều tà rơi trên sông hay đêm trăng trải sáng cánh rừng, trời đất mang mang những câu hò đối đáp của người hạ bạc hoặc kẻ thương hồ đi ngược về xuôi. Những đứa trẻ lớn lên từ xóm vạn chài, không có đứa nào không tắm sông, không đã từng hát bài đồng dao:
Con cá lóc nằm trên bụi sặt
Con cò mắc giò mà chết
Con quạ mua nếp làm chay
Con cu đánh trống ba ngày,
Con ngỗng thức dậy dọn bày mâm ra
Cồng cộc ăn cá nghi nga (1)
Con chim cà cưỡng phải ra ăn mày.
Bài đồng dao vẽ bức tranh quê đầy sinh động. Tâm hồn tôi, chìm đắm trong bức tranh quê!
Nhà ngoại sát mé sông, phía bên kia sông là cánh đồng nhỏ chạy tới mí rừng. Ngoại nuôi ngỗng giữ nhà, giữ bến sông.
Tôi hỏi:
”Sao ngoại không nuôi chó?”.
Ngoại nói:
”Chó không bì được ngỗng, vì ngỗng trung thành và tinh tường hơn chó”.
Rồi ngoại nhấn mạnh:
”Chó theo cái bỏ chủ, ngỗng thì không!”.
Tiếng ngỗng kêu đêm có khi gởi thông điệp đến từ vô thức tạo giấc mơ. Một giấc mơ đẹp về tình yêu, bởi màu lông trắng phau của loài ngỗng tượng trưng sự thuần khiết. Khi nằm mơ thấy loài ngỗng dù một con hay cả bầy, thì người nằm mơ đó đang sống trong tình yêu thơ mộng và mãnh liệt.
Những buổi chiều, mỗi lần đám trẻ xóm vạn chài tắm sông, nghêu ngao hát khúc đồng dao; cặp ngỗng nhà ngoại cùng hưởng ứng nghển cổ cất cao giọng kêu tiếng kêu chẳng khác tiếng đàn… Cũng có đôi khi, tôi nhìn thấy con ngỗng đực nhà ngoại vỗ cánh bay, rồi thì con ngỗng cái vội vã bay theo và hình như, động tác vỗ cánh của ngỗng đực đã truyền lực đẩy giúp cho ngỗng cái bay phía sau giảm hao sức lực. Tôi chỉ ngoại hình ảnh đó, ngoại cười.
– Ít khi, nếu không muốn nói là không có loài ngỗng nào bay riêng lẻ, hoặc sống đơn độc.
Ngoại nói tiếp:
– Đó là ngỗng nhà đã thuần chủng, còn ngỗng trời ngoài thiên nhiên thì chúng sống hợp đàn và bay thành bầy hình mũi tên giữa bầu trời bao la. Con dẫn bầy mỏi cánh thì nhường vị trí cho con khác trong bầy thay thế. Tiếp tục như vậy cho tới khi cả bầy đến nơi cần đến.
Có lần tôi nghe lóm ai đó trong xóm vạn chài, nói:
– Con ngỗng đương bay cùng bầy nếu rủi ro bị thương hay bị bịnh rơi rớt đất thì ngay lập tức, một hai con ngỗng khỏe mạnh cùng đáp xuống cứu giúp, nó không làm ngơ hay bỏ đồng loại bao giờ!…
Và, người nói đã khẳng định:
– Con ngỗng sống có đôi, nếu chẳng may một con chết thì con còn lại trước sau gì rồi cũng chết!
Chuyện nghe lóm, tôi đem học lại ngoại. Ngoại nói:
– Chó sủa ma, ngỗng đuổi tà!
Thấy tôi đứng xớ rớ, chưa hiểu lời ngoại. Ngoại hứa:
– Để lúc rảnh rỗi, ngoại kể chuyện đời xưa cho cháu nghe!
2.
Thuyền về bến!
Cơm nước xong, ngoại ngồi nhắc chuyện xưa tích cũ về ngôi miếu thờ đôi ngỗng, nằm giữa vàm Cây Qui và cầu Đồng Tròn. Tôi chợt nhớ ra, cũng có đôi lần ngồi thuyền theo ngoại tới ngôi miếu thắp nhang cúng vái. Đầu cù lao Đôi, làng Long Sơn đột ngột phình rộng do dòng chảy sông Đồng Nai từ chợ Biên Hòa đổ xuống Gành, qua Tân Vạn tạo nên.
Ngoại kể, rằng:
Trong những cánh buồm xuôi Nam, có cánh buồm của đôi vợ chồng son Khanh, Mai rời đất Thuận Hóa vô xứ Đồng Nai khẩn hoang, lập điền. Đến nơi, còn chưn ướt chưn ráo chưa ổn định cuộc sống, thì họ gặp ngay lão trại chủ người đồng hương ăn ở thất đức. Lão tên Mùi, thứ năm; lưu dân gọi lão là Năm Dê. Năm Dê không phải lưu dân thứ thiệt bởi lão giàu có từ ngoài quê, mang tiền của đầu tư vùng đất mới để mở rộng và gầy dựng thêm sản nghiệp. Lão mướn đám lưu dân bạch đinh khẩn đất lập trại ruộng và vợ chồng Khanh là một trong những tá điền trại ruộng của lão. Một hôm, lão sai gia nhân gọi Khanh lên gặp lão.
– Từ lâu, ta để ý thấy vợ chồng chú em làm lụng cật lực, hết lòng với ta. Vợ chồng chú em đúng là hạng người mà bấy lâu ta cố tìm nhưng không gặp, nay gặp rồi, ta ưng cái bụng lắm!
Khanh đứng dựa cột nghe lão nói, không biết lão muốn cái gì?
Lão khệnh khạng, vận lại mối quần sắp tuột.
– Vợ chồng chú em, đúng là ”Ăn cây nào rào cây nấy”!
Ngưng giây lát, lão nói tiếp:
– Thương tình cảnh vợ chồng chú em, vợ chú em khỏi phải ra rẫy cuốc đất trồng khoai…
Khanh ngơ ngác, lỏ mắt nhìn lão. Lão chẳng thèm để ý tới Khanh.
– Từ đây về sau, vợ chú em ở lại doanh trại giúp ta việc bếp núc!
Nghĩ tới vợ tránh được cảnh dầm mưa dãi nắng, Khanh mừng khấp khởi.
Mai im lặng nghe chồng học lại những gì lão Năm Dê đã nói. Với Khanh, đó là ”tâm ý tốt’‘ mà trại chủ ban cho; nhưng với Mai, đó là cái ”bẫy tăm tối” của kẻ háo sắc. Đôi lần, lão sai Khanh đi cùng gia đinh ra bìa rừng canh gác đêm giữ rẫy và đôi lần đó, lão lò mò dưới ánh trăng méo tới chòi vợ chồng Khanh. Bởi, lão cứ tưởng Mai là cây so đũa… sẵn sàng cho lá để ăn. Lão đã lầm, Mai buộc chặt cửa lòng bằng sợi dây tình chung thủy. Nhiều lần, Mai định kể chuyện lão ”thả dê” cho chồng nghe, nhưng sợ nghe rồi chồng buồn nên do dự lại thôi. Giờ, nếu thuận theo sự sắp đặt của lão, Mai cứ sợ chẳng sớm thì muộn cũng bị lão làm nhục; chi bằng ”cao chạy xa bay”!
Mai bàn bạc với chồng, bỏ nghề tá điền chuyển sang nghề hạ bạc trên sông Đồng Nai. Thương vợ, Khanh buông cuốc cày không luyến tiếc!
*
Hoàng Tấn, phó tướng của Dương Ngạn Địch đã tạo phản, và sát hại Dương Ngạn Địch ở cửa Tiểu sông Mỹ Tho vào tháng 6 năm Mậu Thìn (1688), sau chín năm sống lưu vong trên đất Việt. Tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1689), Thống suất Mai Vạn Long kéo quân tới đóng ở Rạch Gầm (2) chiêu dụ Hoàng Tấn và sau đó, Hoàng Tấn  chạy thoát ra cửa biển Lôi Lạp (3). Vợ con Hoàng Tấn bị giết.
Thời cuộc rối ren trên vùng đất ổn định kỷ cương phép nước. Nhơn dịp, tàn quân Hoàng Tấn chạy trốn tới Trấn Biên, lão Năm Dê sực nhớ mối hận tình đã để vuột mất con mồi mượt hơn ánh trăng, thơm hơn mùi mít rừng Đồng Nai. Lão âm thầm bỏ tiền lo lót bọn sai nha thực hiện mưu bẩn, kế hiểm đối với vợ chồng Khanh đang sống trong cảnh túng thiếu, nghèo khó; nhưng thừa hạnh phúc, ngày đêm làm bạn sông nước, gió trăng!
Bụm tay vốc nước Đồng Nai vị ngọt thấm lòng, Mai nhớ khôn nguôi nước sông Bồ nơi quê nhà ngày cũ. Mai nhớ buổi chiều cuối cùng trên quê hương, lúc thuyền giương buồm no gió xuôi Nam; Khanh ôm vợ vào lòng, thì thầm: ”Đôi ta như đôi ngỗng” dù có phải chết cũng không thể rời nhau, dù có phải xa con sông Bồ, rời Quán Cửa…Rồi sẽ có một ngày mình quay về cố quận!”.
Trời xa chớp bể mưa nguồn, mắt vợ chồng Khanh ngân ngấn.
3.
Bình minh trên sông Đồng Nai.
Thình lình quan quân Trấn Biên ập đến bắt Khanh khi chóp chài đầu tiên trong ngày chưa kịp buông. Theo lịnh bắt, thì Khanh thuộc đồng đảng  Hoàng Tấn do có thơ tố cáo nặc danh của kẻ giấu mặt trong làng.
 Khánh bị bắt vài ngày, lão Năm Dê lân la tới gặp Mai.
– Nàng có muốn ta cứu chồng nàng không?
Lão Năm Dê xề đít lên phản, nhích dần tới… Mai.
Không thèm đếm xỉa gì tới sự bất ngờ có mặt của lão, Mai chỉ nói bâng quơ: ”Trời cao có mắt!”.
Lão Năm Dê cười ”Hè hè…!”, Mai nghe âm giọng như là ”Be he…!”. Tự dưng, Mai mắc cười. Lão tưởng ”Nai đã chịu đèn”! Không để lỡ cơ hội  ngàn vàng, lão chồm người nhào tới.
– Chuyện thằng Khanh, qua sẽ lo. Miễn là… Miễn là…
Vùng đứng dậy, Mai xô lão té bật ngửa, la lớn:
– Bộ trại chủ muốn ăn luôn cái ”quần què” (4), sao?
Không biết bầy ngỗng trời từ phương nào bay đến đáp nước, nước bắn tung tóe mặt sông. Chúng kêu rân trời dậy sóng ngoài bến.
Hoảng quá! Lão nắm mối vận lưng quần, lồm cồm bò qua khỏi ngạch cửa chòi, rồi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng trong sương chiều.
*
 Hai mùa trăng, thân Mai ”phòng không chiếc bóng” đợi chờ chồng! Hai mùa trăng, Khanh chịu cảnh ”Cá chậu chim lồng”!
Đêm nhà lao. ”Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại”, Khanh không còn hy vọng ngày về, và đã không còn hy vọng ngày về thì tại sao mình buộc người vợ trẻ chờ mong? Khanh nếm trải những trận đòn ”kinh thiên động địa”, những cực hình ”quỷ khốc thần kinh”; nếu không có tấm lòng nhơn hậu của cai tù Lê Sáu, thì có lẽ Khanh đã hóa ra người thiên cổ. Thương vợ, Khanh không nỡ nhìn tuổi xuân thì của vợ tàn phai theo năm tháng chốn lao tù của kẻ tòng nghịch triều đình. Cảm kích hành động trượng phu của cai tù Lê Sáu, Khanh muốn trả nghĩa và xin vợ thay mình trả nghĩa cho người.
Đồng Nai mùa Đông.
Gió bấc thổi rừng se sắt lạnh đất trời, lạnh cả lòng người!
Mai đọc xong bức thơ chồng gởi, đôi vai gầy thiếu phụ rung động. Bỗng dưng, nàng bật khóc và kêu: ”Chàng ơi!…
”Đạo nào bằng đạo phu thê
Tay ấp, má kề, sanh tử có nhau” (Ca dao).
Thiếp không thể ”phu thê với Lê Sáu” để thay chàng trả nghĩa, vì năm xưa mình lấy nhau đã thề nguyền trước lúc ly hương:
”Thương nhau gặp khúc sông vơi
Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung” (Ca dao).
Đêm mù, ánh đèn leo lét không đủ sáng soi những dòng chữ tuyệt mạng gởi lại người chồng yêu dấu đang chịu hàm oan nơi chốn lao tù. Cuối thơ, Mai nhắc lại những ngày yêu thương đẹp nhứt, ngày chàng thì thầm:  ”Đôi ta như đôi ngỗng” dù có phải chết cũng không thể rời nhau, dù có phải xa con sông Bồ, rời Quán Cửa…Rồi sẽ có một ngày mình quay về cố quận”! Hỡi chàng! Ngày đó… , bao giờ!?
”Ai kêu, ai hú bên sông
Tôi đang sắm sửa cho chồng xuồng ghe
Chồng xuống ghe, quạt che tay ngoắt
Cất mái chèo, ruột thắt từng cơn…” (Ca dao).
Vậy mà, giờ đây… Vĩnh biệt chàng! Thiếp xin được đi trước để giữ lời thề!
Mai quyên sinh, cai tù Lê Sáu rúng động tâm can!
Lê Sáu giấu Khanh chuyện nhà đã xảy ra thương tâm và kể từ đó, người cai tù âm thầm điều tra manh mối để minh oan Khanh. Trăng thu năm sau, Khanh được Lê Sáu giải oan và quan Trấn Biên minh xét, chuẩn thuận tha Khanh về sum hợp gia đình.
Lê Sáu dìu Khanh trở về mái chòi xưa.
– Hiền thê! Hiền thê ơi… Hiền thê đâu rồi? Ta đã về…
Tiếng gọi của chàng mất hút vào không gian chiều rừng thê lương lá rụng.
Căn chòi đầm ấm khi xưa, giờ đây trống hoác, lạnh ngắt. Bấy giờ, người cai tù run rẩy trao lại lá thơ tuyệt mạng của Mai cho Khanh.
Khanh cắm đầu chạy ra bến sông cù lao Đôi, ngay vàm Tham Mạng, rồi nhảy xuống dòng nước xoáy nơi mà ngày trước Mai đã trầm hà quyên sinh. Bầy ngỗng ở đâu đó, cất tiếng kêu buồn!
4.
Trên khúc sông oan nghiệt, mỗi khi có sóng to gió cả thường xuất hiện đôi ngỗng trắng, xòe cánh chặn sóng ngăn gió, giữ bình yên cho thuyền, ghe đi qua. Và, không biết tự nhiên hay có điều gì linh thiêng, hằng năm vào cuối thu đầu đông, hàng trăm con ngỗng trời từ phương trời xa bay về… Người làng cùng thuyền, ghe thương hồ qua lại khúc sông đã chung tay dựng ngôi miếu thờ đôi ngỗng ân tình.
Ngoại nhắc nhở con cháu: ”Có thể câu chuyện ngoại kể là ngoa truyền, do người xưa từ đời nầy sang đời khác truyền lại”. Rồi ngoại nói: ”Cho dù ngoa truyền hay thực truyền đều không quan trọng, điều quan trọng là con người cần ngẫm suy về sự trung thành và thủy chung của loài ngỗng”.
Đêm dần khuya, xóm vạn chài im lìm. Nhưng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng ngỗng nhà ngoại kêu inh ỏi ngoài bến sông.
CTH.
…………………………………………
(1) Nghi nga: Thả sức, tha hồ (có bản chép: ”Cồng cộc ăn cá thả ga”)
(2) Rạch Gầm thuộc thôn Kim Sơn, huyện Kiến Đăng, trấn Định Tường (nay xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
(3) Nhà văn Sơn Nam cho biết quân chúa Nguyễn đã truy đuổi và giết chết viên phó tướng nầy ( Gia Định xưa, Nxb TP.HCM, 1984, tr.30).
(4) Quần què: Nghĩa đen, quần lưng chừng đùi. Nghĩa bóng, quần hoa hòe và nó cũng ám chỉ gián tiếp tên một loài hoa có tác dụng cầm máu, trị băng huyết, rong kinh của phụ nữ.

Đọc tiếp »

Trả Lại Tôi

Khê Kinh Kha

trả lại tôi thánh phố mộng mơ

trả lại tôi tình mộng hoang sơ

trả la.i tôi con tim đợi chờ

trả lại tôi mơ ước dại khờ

và cuộc tình sỏi đá ngây ngô

trả lại tôi giòng tóc lã lơi

trả lại tôi mùa Hạ mưa rơi

trả lại tôi bao nhiêu tình nổng

từng ngày qua ánh mắt trao tình

và lời thề tôi đã trao em

trả lại tôi – trả lại tôi tuổi ngọc đam mê

trả lại tôi – trả lại tôi cuô.c tình đã vỡ

trả lại tôi – trả lại tôi tình mộng chơi vơi

trả lại tôi – trả lại tôi bao nhiêu mơ ước trong đời

trả lại tôi lòng phố tình nhân

trả lại tôi hò hẹn công viên

trả lại tôi, vai thon lụa là

và chiêu rơi trên tóc ai về

và cuộc tình sao qúa kiêu sa

trả lại tôi, vạt áo dài xanh

và hàng cây đầy giọt mưa tuôn

trả lại tôi, môi thơm rất mộng

và hồn tôi trong gió bềnh bồng

và tình nồng như sóng trùng dương

Trả lại tôi… trả lại tôi…người ơi!

Khê kinh kha

Lê Minh Hà

Gửi N. C

 

Bác như là bố tôi.

Hôm nay tôi làm giỗ bác. Ở Mỹ. Ở cái thành phố đại học bé nhỏ từng sôi sục với phong trào phản chiến từ giữa thập niên 60 đến tận 1973.

 

Bill giúp tôi làm cơm cúng. Bill dân sử. Mối quan tâm lớn nhất của Bill là Đông dương, là Việt Nam thời tôi và Bill sinh ra, lớn lên, nơi đặc sản lịch sử là chiến tranh – thứ ngẫu nhiên một cách đắng đót và may mắn đã đưa chúng tôi tới với nhau. Bill tường tận nguyên ủy làm nảy nòi cuộc chiến và hậu hoạn sau đó, tường tận về các phe phái, những tiếp xúc bí mật chỉ các phe biết với nhau và các cuộc hội đàm công khai khiến thế giới nín thở theo dõi. Có lần tôi đùa Bill là thiếu đất nước chúng ta và vài ba xứ nhỏ bé nghèo khó khác chưa chắc đất nước của Bill oai quyền đến vậy trong thế giới này. Đêm đêm chúng tôi nằm bên nhau và tôi đã biết, đã quen nhìn lịch sử của dân tộc mình bằng con mắt Bill. Nhưng đôi khi tôi vẫn tự hỏi Bill thật sự hiểu gì về dân tộc mình, về chúng ta, ví dụ như Bill có biết vì sao năm từng năm tôi làm giỗ bác ở đây, nước Mỹ?
Bill giúp tôi dọn bếp. Còn tôi bày đồ ăn lên bàn, sửa lại cành hoa hạnh nhân cắm trong bình, thắp một nén hương, khấn. Bao giờ tôi cũng khấn „bố với bác cùng về với con“.
Hoa hạnh nhân đẹp như đào phai xứ bắc chúng ta.

Đọc tiếp »

Trạng thái

 Lê Khánh Mai

Trần Bích

.
bộ rễ dưới chân tôi đột ngột đứt lìa
tôi không thể đứng trên mặt đất
tôi treo lơ lửng giữa không trung
nhẹ bẫng như thoát xác
trôi… trôi… trôi…

tôi đang sống một đời sống khác
hay chỉ là giấc mơ?
xung quanh tôi vô vàn hạt bụi
bay tuyệt vời tự do
muôn điệu ca của gió
cất lên trong im lặng bầu trời

trôi…trôi…trôi
tôi nhỏ dần đi, mỏng dần đi, không còn tôi nữa
tôi quên tôi
vũ trụ bao la như tấm gương thấu thị
tôi soi xuống đáy sâu kia
chỗ bộ rễ của tôi bị đứt lìa
chỉ như cái ao tù nhỏ xíu

Hồng Thủy Tiên
Từ lâu
Khi anh biến mất khỏi thành phố này
Những đám mây trắng không còn trở lại, để nhắc nhở em về một buổi chiều im
lặng bên nhau
Từ lâu
Bất an về anh đã đeo đẳng từng cơn khát sống, khi vắt kiệt mình cho những trưa
nắng
Đốt thiêu từng nụ cười không kịp nở sau khẩu trang
Phấn son không giấu được vẻ mỏi mệt của đợi chờ

Đọc tiếp »

Đặng Phú Phong
.
Kẻ ra đi sao cứ nghĩ đến quay về?
Nồi bánh tét thơm thơm mùi nếp mới
Củi trỗ hoa lửa đỏ nối thời gian
Bắt cầu nhớ đi thương về quá khứ
Trên sông dài biển rộng bóng mù tăm
.
Trời đông xưa tôi quay mặt cúi đầu
Bao niềm đau lắng tận cõi thâm. sâu
Đăm cái rét tàn hơi xô nếp rạ
Áo mẹ cha hong lửa đợi đường khâu
.
Đêm dài lắm tiếng đàn cò khó đợi
Đuốc không mong thắp sáng khoảng trời buồn
Tôi chờ em từ năm mươi năm trước
Giờ gặp nhau như nửa lạ nửa quen
.
Ngày sắp tết buồn vui không ranh giới
Em bềnh bồng bên cạnh những người thân
Tôi tự hỏi có phải mình còn sống!
Sao chung quanh sinh tử hiện ra gần?
.
Ngày quê nhà tôi tiêu nhanh cùng kiệt
Chân bước đi con mắt vẫn còn trông
Sớm tháng giêng hơi sương pha hơi lệ
Kẻ ra đi sao cứ nghĩ đến quay về?

Đọc tiếp »

Phận cát

Sơn Trần

Thái Phiên

.

Tôi nghe trong mình cuộn trào cát chảy

Phía làng xa cha mẹ ngóng chờ

Nhà tôi ở trên đồi cát

Cát rin rít thịt da

Cát trộn vào giấc mơ bỏng rát Đọc tiếp »

Hôm nay anh trở về trời 

Ngũ Yên

hôm nay
anh trở về trời 
trần gian
giờ đã hết rồi cuộc vui
Đọc tiếp »

Bóng Chiêm thành

Nguyễn Thị Liên Tâm

Trầm mặc giữa trời đông, gió nổi
Tháp cổ rêu buồn, nhớ thưở vàng son
Ta lạc mình trong mênh mang
cõi đã mất- còn
Tiếng ngựa hí vang hồi. Phun trào hỉ- nộ.

Bóng thành quách ảo mờ
Giữa trời mây vạn cổ
Dốc đá trầm sâu. Đón vết chân buồn
Tuế nguyệt cứ qua đi.
Mặc giông gió mưa tuôn.
Ta khắc khoải.
Chạm lớp bụi thời gian trên từng viên gạch đỏ.

Vang động một góc trời
Con chim sâu bé nhỏ
Hót thanh thanh. Trên ngọn cỏ xanh xanh
Niệm khúc thời gian.
Những khoảng khắc trong lành
Cổ tháp nghiêng mình. Lắng nghe lời đá vọng

Ta thả ta vào một buổi chiều xao động
Tháp cổ buồn tênh…
hiển hiện bóng Chiêm thành.
(Tháp Bánh Ít- Bình Định 17/12/2016)

Đọc tiếp »

Chạp yêu

Chế Diễm Trâm

Tranh ĐINH TRƯỜNG CHINH 

Bước qua ngày đầu năm, trời bỗng hửng, mặt trời rạng ra và nắng êm, nhẹ và thơm như một sân rơm mới. Quả là mùa xuân đã chạp vào đâu đó, mơ hồ như khẽ đã khẽ chưa. Nguyên như chưa thoát ra khỏi không khí huyền hoặc của một đêm trăng mười ba ấy.

Buổi chiều hôm ấy gió lạnh thênh thang, mây xám mù trời, thỉnh thoảng mưa giắt màn lưa thưa. Trời cuối đông, Nguyên thấy lòng nặng trĩu. Chợt nhớ đến tin nhắn ba hôm trước của Nguyễn khi Nguyên đang đi công tác: “Em đang ở đâu?”. Chàng Nguyễn thường hài hước, thường dắt người nghe từ tràng cười này đến chuỗi cười khác. Nhẹ nhàng, yêu đời. Giá mà toàn những người bạn như thế cũng chả nhọc nhằn tìm kiếm an vui, Nguyên nghĩ thế.

Một tin nhắn gửi đi: “Anh đang ở đâu?” – dù đoán Nguyễn đang ở trong thành phố nhỏ teo này. Đọc tiếp »