Feeds:
Bài viết
Bình luận

Quà cuối năm

Trần Thiên Thị

nếu hiểu được chú sẻ non hót gì

trước hiên nhà buổi sớm

thì núi cao trời thấp sẽ gần hơn

cứ như nắng không cần kìềm lòng

đổ tràn xuống phố

níu chặt lấy vai người

những điều lớn lao

gió đã nói hết rồi

này đây một trái tim bé nhỏ

gắng hồng thêm mùa nữa yêu người

những dòng sông rất trong

có nguồn từ đôi mắt

cho tôi về tắm gội

một ngày cuối năm

tóc rất xanh bén rễ vào trong gió

về đây em

tay đợi gối nằm

về đây em

chợ phiên gia lạc

trời trung phần hai cánh tay ôm

chữ đã giao thừa trong câu viết

đứng cuối mùa đông

gởi lại chút lòng

..

 ĐỖ TRƯỜNG

                        HỒN VIỆT ĐÓ, TRONG TỪNG CON CHỮ ELENA PUCILLO

Thời gian gần đây, những lúc nhức mỏi, tâm trạng không được thăng bằng cho lắm, tôi thường tìm đến thơ Nguyễn Văn Gia, và đọc văn Elena Pucillo. Lời văn tự sự của chị như một liều Aspirin xoa dịu nỗi nhức nhối trong lòng người vậy. Có thể nói, Elena Pucillo là một hiện tượng đặc biệt trên diễn đàn văn chương Việt trong những năm gần đây. Sự đặc biệt ấy, không hẳn bởi tài văn, mà là sự nhào trộn, hoà tan cái văn hóa Ý- Việt vào những trang sách của chị. Đọc văn Elena Pucillo (qua bản dịch của Trương Văn Dân) nếu không biết trước, có lẽ ai cũng nghĩ, tác giả phải là người Việt. Bởi, bối cảnh, tâm lý, hồn cốt nhân vật như đã được Việt hóa hoàn toàn vậy. Có lẽ, cái món văn hóa spaghetti tan chảy vào cái văn hóa nước mắm chăng? Chẳng vậy, có lần ngồi khật khừ với Nguyễn Đức Minh ở Bischofswerda, người rất thân thiết với vợ chồng Elena Pucillo-Trương Văn Dân, chẳng biết đùa hay thật gã bảo: Làm bất cứ loại Spaghettisoßen nào (nước sốt mì Ý) Elena cũng cho nước mắm cá cơm Bình Định nguyên chất vào. Tôi không tin như vậy. Nhưng mấy năm trước Elena sang thăm tôi, bún mắm tôm cứ thấy chị đả đều đều.

Nhà văn Elena Pucillo người Italia, là tiến sĩ ngôn ngữ và văn học nước ngoài. Chị đã từng là giảng viên Đại học Milano, và Đại học âm nhạc, cũng như Đại học  khoa học xã hội, nhân văn Saigon. Nghiên cứu và tiếp xúc với văn chương từ rất sớm, nhưng Elena viết văn muộn. Và chị chỉ viết khi cảm xúc ùa đến bất chợt, buộc phải cầm bút, do vậy văn của chị rất sinh động và chắt lọc. Và nếu không có sự cổ vũ, dịch chuyển sang Việt ngữ của người chồng, nhà văn Trương Văn Dân, thì có lẽ, văn chương của Elena không được nhiều người biết đến như hiện nay. Thật vậy, những tác phẩm: Bóng của ngày, Một phút tự do, Vàng trên biển đá đen, Cùng Bay về Tâm dịch đã xuất bản, và Hạt bụi lênh đênh, cùng Nỗi đau ngọt ngào sắp xuất bản của chị đã được Trương Văn Dân dịch nguyên bản từ tiếng Ý một cách sinh động và tinh tế.

Văn chương Elena gồm hai mảng chính: Truyện ngắn, và tùy bút, tạp văn. Tự sự là nghệ thuật xuyên suốt những trang viết của Elena. Và khi đi sâu vào đọc, ta có thể thấy, Elena là một nhà văn có tài khám phá, miêu tả diễn biến nội tâm, hay mượn cảnh vật thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng nhân vật. Nếu được phép tuyển chọn, với tôi Vàng Trên Biển Đá Đen là tập truyện hay và tiêu biểu nhất về nội dung, cũng như thi pháp (hình thức nghệ thuật) sáng tạo này của Elena.

*Tính chân thực, với cái nhìn nhân bản.

Có thể nói, ngay từ những ngày đầu nghiên cứu ở Đại học Milano, Elena đã bén duyên với viết lách, nhưng chỉ đến khi về sống và giảng dạy ở các trường Đại học Saigon thì tài năng văn chương của chị mới được phát tiết. Có lẽ, đất và con người nơi đây đã cho chị những cảm xúc đặc biệt chăng? Có được những trang văn chân thực, làm rung động mọi tầng lớp người đọc như vậy, ngoài bút lực, ta có thể thấy,  tình yêu, tình người của Elena sâu đậm biết nhường nào. Để có được những cảm xúc ấy, Elena đã đi vào khám phá nội tâm tư tưởng, hồn vía con người nơi đây, từ đó có một sự đồng cảm sâu sắc. Và “Con chim nhỏ trong lồng” là một truyện ngắn như vậy của chị. Nhà văn đã chọc thẳng ngòi bút vào cái vô cảm, sự mâu thuẫn gia đình, xã hội mà bấy lâu nay dường như đã bị chìm lấp. Lời văn tự sự, hay là tiếng kêu bất lực vọng lên từ những mẹ, người già cô đơn, hiu quạnh trước sự thờ ơ, ghẻ lạnh của con cái, gia đình và xã hội: “Bị giam hãm giữa bốn bức tường, tôi như chết từng ngày, lặng lẽ ngồi cô đơn trên thành giường mà chẳng có căn phòng riêng nào để trú ẩn. Những tiếng động bên kia bức tường là của những người xa lạ, của những người hàng xóm không quen, lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của tôi.”. (Con chim nhỏ trong lồng)

Nỗi đau, sự tuyệt vọng ấy, đã đẩy người mẹ đến đường cùng, ngõ cụt. Tự kết thúc cuộc sống là lối thoát duy nhất của bà. Thân phận con người cùng tâm trạng đó đã được nhà văn Elena lồng vào sự vần vũ của đất trời, thiên nhiên. Sự miêu tả độc đáo, cùng những hình ảnh so sánh, với phép ẩn dụ này, dường như nhà văn muốn làm giảm đi nỗi đau của bi kịch đó, và bật lên tấm lòng vị tha của con người, cũng như của chính tác giả chăng? Tuy vậy, từ cái hiện thực đó ta vẫn nhận thấy cái rẻ mạt của tình người, và nhân cách. Và cái luân lý, đạo đức đã bị đảo lộn tùng phèo trong gia đình, xã hội đương thời, gây nhức nhối cho người đọc. Đoạn kết của thiên truyện: Con chim nhỏ trong lồng (dưới đây), tuy rất buồn, nhưng có lời văn nhẹ nhàng, và tuyệt đẹp. Nó không chỉ cho ta thấy rõ những điều đó, mà còn chứng minh tài năng sử dụng biện pháp tu từ của nhà văn Elena: 

“Đêm nay có một vầng trăng tuyệt đẹp trên bầu trời, chỉ có một phần rất nhỏ bị che bởi một sợi mây. Tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi, và từ cửa sổ tôi nhìn xuống thành phố đang ngái ngủ. Tia mắt tôi dõi theo ánh đèn màu đỏ của một chiếc xe hơi dọc theo hàng trụ đèn đường. Yên lặng quá. Từ trên cao ánh sáng chiếu xuống mềm mại như bông làm tôi có cảm giác như mình cũng đang đứng trên một cụm mây. Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác”.

Từ yêu người, dẫn đến tình yêu mảnh đất nơi đây, làm cho Elena gắn bó chặt chẽ với nó. Sự đi lại tìm tòi, khám phá với cái nhìn, quan sát tỉ mỉ cùng sự sẻ chia, cảm thông sâu sắc, như vốn sống để nhà văn viết nên truyện ngắn: Vàng trên biển đá đen, được in trong tập sách cùng tên. Tình tiết đơn giản, lời văn mộc mạc, song đây là một trong những truyện ngắn cảm động, và hay nhất của Elena. Gieo mầm một động từ, hay là hình ảnh, một phép tu từ so sánh: (gieo hạt, và gieo chữ) làm nên cái tứ của thiên truyện. Cái khát khao sống, buộc con người phải vượt qua khắc nghiệt của thiên nhiên. Và cái tình người (gieo chữ, bồi đắp linh hồn) ấy, nhà văn đã mở ra lối thoát cho đất và người nơi cao nguyên núi đá khô cằn:

“Một hạt giống không thể nẩy mầm nếu không có đất, và trên núi đá không phù hợp nên họ đào một cái rãnh và đem đất từ nơi khác lấp vào. Một điều đơn giản, mà từ thời nguyên thủy con người đã chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn. Gieo hạt để nẩy mầm! Công việc của tôi cũng vậy. Bây giờ tôi hiểu là mình cũng đang gieo hạt và tìm cách giúp các cậu học trò nảy mầm cho cuộc sống mới…” (Vàng trên biển đá đen)

Đọc Elena, ta có thể thấy tình yêu, tình người không chỉ dừng lại ở hai người mẹ Việt-Ý, mà sự ấm áp đó của nhà văn làm tan đi giá lạnh của bà cụ cô đơn, hay một bé gái bán vé số… Thật vậy, đọc: Mèo con lạc lõng, và Cho nhau một chút an lành (trong tập truyện Hạt bụi lênh đênh, sắp phát hành) rồi quay lại đọc Thư viết cho mẹ (trong tập Vàng trên biển đen, in năm 2018) tôi bị xúc động mạnh. Cảm xúc tuy khác nhau, song có thể nói, tình yêu, lòng nhân ái ấy làm cho người đọc xa quê, xa tổ quốc gần bốn chục năm như tôi ấm lại. Và hơi ấm đó, dường như xuyên suốt những trang văn Elena. Mỗi truyện ngắn, một tản văn của chị như một bài học luân lý vậy. Nếu đọc Con chim nhỏ trong lồng, ta thấy cái luân lý, đạo đức gia đình, xã hội bị đảo lộn, thì đến Thư viết cho mẹ, Elena đã trả cái luân lý, đạo đức ấy về đúng vị trí của nó. Đọc Elena một cách có hệ thống, ta có thể thấy, dù chị dẫn dắt người đọc đến đâu, và đi đâu chăng nữa, thì cái đích cuối cùng vẫn quay về với chân thiện mỹ.

Cũng như tác phẩm Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình của nhà văn Trần Hoài Thư (đã đọc trước đây) Thư viết cho mẹ của Elena (đọc gần đây), khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi chưa biết để ở mục truyện ngắn, tùy bút, hay một trang thư. Và cho đây là một bức thư, thì có lẽ, đây là lá thư thứ hai hay nhất mà tôi đã được đọc. Nếu Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình như một sự tiếc nuối tình yêu của cái thuở ban đầu, thì Thư viết cho mẹ là tình yêu, lời tự sự về mẹ của Elena. Đằng sau lời tự sự ấy là câu chuyện thật cảm động về những người mẹ. Thư viết cho mẹ gây cho tôi cảm xúc đặc biệt, không hẳn bởi nội dung, mà do thủ thuật dẫn dắt truyện của tác giả. Thủ thuật kết nối từ một người mẹ (đẻ) sang người mẹ (chồng) một cách bất ngờ ấy của Elena làm tôi nhớ đến cái qui tắc bắc cầu trong toán học, từ cái thuở còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây cũng là một trong những truyện tiêu biểu về tính chân, thiện của Elena. Và đọc nó, dường như ta thấy, văn chương cũng như con người chị đang đến gần hơn với tư tưởng, triết lý nhà Phật:

“Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: Hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội” (Thư viết cho mẹ)

Có thể nói, truyện ngắn nào của Elena cũng đầy ắp hình ảnh, tình tiết so sánh, liên tưởng. Cùng với lời văn nhẹ nhàng, tinh tế như vậy, hiển nhiên chị đã mang đến người đọc sự rung động và cảm thông sâu sắc.

*Tùy bút, tạp văn…với những nét đặc trưng.

Như có lần phân tích tác phẩm Miền Ấu Thơ của Vũ Thư Hiên và Sông Lam của Trần Mạnh Hảo, tôi đã viết: Có người cho rằng, chỉ có các nhà thơ, nhà văn viết về chính quê hương của mình mới có những tác phẩm hay, và chân thực. Song đi sâu vào văn học sử, cho tôi suy nghĩ ngược lại: Thường những mảnh đất, đồng quê xa lạ mới là đề tài để các nhà văn, thi sĩ đẻ ra những tác phẩm hay. Thật vậy, nếu không có cái nhìn xa lạ, tò mò khám phá của cậu bé đến từ nơi phố thị, thì sau này Vũ Thư Hiên khó có thể viết được tác phẩm Miền Ấu Thơ về đồng quê hay, đặc sắc có sức sống bền bỉ và lâu dài. Hay nếu sinh ra, và lớn lên ở Nghệ Tĩnh, chưa chắc Trần Mạnh Hảo đã viết được Sông Lam, với những hình tượng mới lạ, sâu sắc làm rung động không chỉ người đọc nơi xứ Nghệ. Và nhà văn Elena Pucillo cũng vậy. Đến từ Italia, khi Elena viết về Hà Nội hay Trà Sư, hoặc một vùng đất Việt nào đó sẽ khách quan, mang tính khám phá, sinh động hơn. Nó gây cho người đọc cảm giác thú vị như được tìm hiểu, khám phá vùng quê ấy cùng nhà văn. Hà Nội, nét đẹp bí ẩn là một tùy bút như vậy của Elena. Từ một tiếng rao đêm, hay một gánh đậu hũ non nóng giữa phố thị, hoặc những hàng trái cây bên đường, dưới lăng kính của mình, Elena cho người đọc cùng liên tưởng đến hình tượng (so sánh) thật độc đáo và mới lạ: “Tôi kinh ngạc nhìn các kim tự tháp bằng trái cây đặt trước các cửa hàng bên lề đường, trái nọ chồng lên trái kia, màu sắc chen nhau, như thách thức quy luật thăng bằng.”. Là tiến sĩ văn học Pháp, do vậy Elena đọc, nghiên khá rõ về văn hóa của các nước thuộc địa ở những năm đầu thế kỷ 20. Có được sự đồng cảm và tình yêu ấy, dường như Elena muốn bộc lộ cái tư tưởng, ước vọng của mình. Trở về cái thuở ban sơ của thành phố, như một cánh chim tự do muốn thoát ra khỏi những rào sắt vô tình đó. Vâng, đó cũng là khát khao, ước muốn không chỉ riêng của nhà văn. Một tiệm thuốc, hay nơi bán đồ lưu niệm ở góc phố, hoặc quán bia nơi vỉa hè cũng gây Elena một ấn tượng, một cảm xúc để chị đặt lên trang viết của mình. Có thể nói, Elena Pucillo là một nhà văn giầu trí tưởng tượng, có lời văn nhẹ nhàng, sâu sắc, ngữ nghĩa đa tầng. Và có lẽ, không chỉ tôi mà nhiều người sinh trưởng, gắn bó với Hà Nội đọc trang văn này, ít nhiều sẽ được hiểu biết thêm về nó:

“Giống như một giấc mơ giữa ban ngày, tôi tưởng mình đang cưỡi rồng bay trên thành phố, luớt qua khu biệt thự Pháp và những căn nhà thời thuộc địa được che chắn bởi những hàng rào và cổng vào bằng sắt trang trí theo kiểu Liberty của đầu thế kỷ 20. Tôi muốn mình được bay như một cánh chim vừa thoát khỏi lồng, lơ lửng trên những con đường thuốc, với những dụng cụ chưng cất đang hâm nóng bát thuốc trường sinh hay cỡi trên lưng một con cá vàng bơi dọc theo sông Hồng.” (Hà Nội, nét đẹp bí ẩn)

Mượn cảnh vật thiên nhiên để miêu tả nội tâm nhân vật là nghệ thuật không hề mới, gần đây được nhiều nhà văn quay lại sử dụng. Tuy nhiên, không phải ai cũng thành công ở loại hình nghệ thuật này. Đọc Một đêm huyền diệu của Elena chợt làm tôi nhớ đến cái tài, lấy động tả tĩnh trong Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến“Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Hay ngược lại, mượn cái tĩnh của căn phòng tả tâm trạng động trong “Hộ Chiếu Buồn Những Biên Cương” của Thế Dũng. Và khi đến thăm nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, Elena đã mượn đồ vật, cảnh trí trong căn phòng dường như để miêu tả, khắc sâu cuộc sống, tính cách cũng như tâm hồn gia chủ. Thật vậy, với sự liên tưởng độc đáo ấy của Elena, nhà văn Paul Đức (Nguyễn Hoàng Đức) hiện lên lịch lãm như một triết gia, nghệ sĩ, hay hình ảnh chiến binh của Phong trào khai sáng Tây Âu ở thế kỷ 18 vậy. Trích đoạn có lời văn tinh tế dưới đây, không chỉ thấy rõ điều đó, mà còn cho ta thấy tài năng, cũng như sự quan sát tỉ mỉ của nhà văn Elena:

“Tôi có cảm giác như không phải mình đang ở trong một căn nhà ở Hà Nội, Việt Nam. Tôi tưởng mình là cô bé Alice đang đứng trước chiếc gương thần để khám phá ra một thế giới khác. Tôi tưởng mình đang ở Paris, trên tầng nhà áp mái của một họa sĩ, một nghệ nhân Bohémien, đang ở vùng Montmartre hay ở khu Quartier Latin. Tôi đứng ngây người nhìn những bức tranh treo trên tường. Những tủ sách, ôi chao cơ man là sách, nhiều lắm và những bản nhạc mở rộng đặt trên chiếc dương cầm, như thể chàng nghệ sĩ vừa dạo đàn trước đó và trong không gian vẫn còn vang vang những nốt nhạc du dương của Beethoven, của Liszt hay Chopin…  Tôi không thể nào rời mắt khỏi những thứ đồ vật vây xung quanh mình. Trên một bức tượng bán thân có phảng phất nét mặt của Paul Đức, được lập lại trong một bức chân dung được phóng cọ theo phong cách hiện đại, anh xuất hiện như một chiến binh tân thời.” (Một đêm huyền diệu)

Nếu truyện ngắn Elena sắc lạnh, thì tùy bút, chân dung của chị mềm mại, ấm áp. Tình bạn, tình người ủ ấm những trang viết của chị. Tùy bút, tạp văn Elena thường là những ký ức nhỏ, hay cảm xúc bất chợt từ một bạn văn, một nhà sư, một em bé bán vé số, hoặc về một miền quê nào đó…mà chị đã bắt gặp, trải qua. Thật vậy, mỗi (một) người bạn đều cho Elena cảm hứng viết. Và cái hơi ấm tình bạn, tình người ấy, với chị: “thật bình an và sảng khoái, hơn hẳn các loại thuốc hay liệu pháp trị liệu nhóm nào hiện hữu trên thế giới” (Trị liệu nhóm). Tuy nhiên, đọc tùy bút Elena, tôi khoái nhất những trang viết về chân quê, cùng những hình ảnh thân thuộc dưới góc nhìn của chị. Vâng, hình ảnh bà cụ, với tiếng gà kêu quang quác dưới cái lạnh của mưa gió như kéo hồn vía chúng tôi về với đất mẹ vậy. Cái mộc mạc và chân thực ấy, Elena làm cho lòng tôi ấm lại, khi ngồi viết những dòng chữ này, bởi cái tình người còn sót lại:

“trời mưa lất phất, nên chúng tôi phải nép vào một mái hiên của một căn nhà nhỏ. Bỗng tôi nghe có tiếng lục đục rồi có một bà cụ bước ra mời chúng tôi vào trong nhà nghỉ ngơi cho ấm. Lát sau tôi nghe có tiếng gà đập cánh và kêu lên quang quác. Con gà có thể là của để dành của bà, nhưng bà cụ đem ra nấu cháo mời chúng tôi mà chẳng chút đắn đo. Cho đến hôm nay, tôi vẫn còn nhớ như in bóng dáng bà nhỏ con, chiếc áo bà ba màu nâu phủ lên một thân hình mảnh khảnh và nhất là nụ cười hiền hậu, thương quá, hai khóe miệng còn thẫm đỏ màu trầu.” (Một đêm huyền diệu)

Không biết Elena có phải là một Phật tử hay không, song đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy Phật giáo, hình ảnh, đức tin thấm đẫm những trang văn của chị. Với cái tư tưởng này, Elena luôn hướng nhân vật hành động, ứng xử nhân hậu, nhìn nhận con người, sự việc ở mặt tích cực, hay mở ra một lối thoát cho họ và xã hội. Khi đọc: Hạt bụi lênh đênh, trong tập truyện cùng tên, sắp in của Elena, càng cho tôi những cảm nhận hơn nữa: Cái chánh tin ấy của chị không chỉ trong sinh hoạt thường nhật, mà ngay cả những lúc ốm đau sinh tử. Sự bình tâm, thanh thản từ nơi Đức Phật chính liều thuốc đã giúp con người vượt qua những đớn đau, ưu phiền đó. Thật vậy, đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tùy bút, văn xuôi của Elena:

“Tôi biết là mình đang ngầy ngật vì thuốc. Có lúc tôi cảm thấy như mình đang lơ lửng trong một cái bong bóng đang tan biến. Điều lạ lùng là nằm trong đó tôi không còn nghe đau đớn, chỉ có bình an. Tôi giật mình thức giấc vì bất ngờ có ai đó ngồi bên cạnh mình. Tôi nghe một bàn tay đang đặt lên trái tim và cùng lúc đó cũng có một bàn tay khác đang nắm lấy cổ tay mình. Tôi mở mắt một cách khó nhọc và trời ơi, trước mặt tôi là ánh mắt sáng rỡ của nhà sư mà mình đã gặp trên chuyến bay. Nhà sư nhìn tôi mỉm cười và bàn tay ông dời từ trái tim để đặt lên trán tôi. Ông không nói gì, nhưng sự hiện diện của ông ở nơi đây đã ban tặng cho tôi một sự bình yên không thể nào nói được nên lời” (Hạt bụi lênh đênh)

Có thể nói, mỗi truyện ngắn, tùy bút của Elena Pucillo là một lát cắt của cuộc sống. Cái ác, và sự giả dối, chị vẫn đặt lên trang văn một cách sâu đậm, như để răn mình, răn đời vậy. Và tính nhân văn, khát vọng sống, khát vọng tự do đã làm nên văn chương, tên tuổi Elena Pucillo. Tuy nhiên, văn tự sự, độc thoại nội tâm, dù sâu sắc, nhưng ít đối thoại làm lời văn chậm, cho ta cảm giác mệt mỏi khi đọc. Đây cũng là nhược điểm của loại hình nghệ thuật này.

Leipzig ngày 8-1-2022

Đỗ Trường

Ngày không online

                                                          Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

Bây giờ con người cô đơn. Cô đơn ngay giữa đám đông. Ngồi sát bên nhau mỗi người một cái điện thoại lướt zalo, viber, facebook, xem những hình ảnh lạ, xem những video hot, đọc tin tức giật gân, tìm mua hàng hóa… trên cái màn hình nhỏ xíu đó cái gỉ cái gi cái gì cũng có, ảo/thật hiển hiện. Đôi khi muốn quay sang khều khều, nói một câu gì đó để kết nối nhưng thấy ai cũng chăm chắm vào cái màn hình xanh lét, thế là lặng im, thế là lại chúi mặt vào cái màn hình xanh lét lướt và lướt như một kẻ tự kỉ.

Ở nhà, 7 phòng. Phòng khách rộng thênh, bàn ghế bày biện sang trọng, ti vi màn hình phẳng 32inch nhưng chẳng mấy khi cả gia đình ngồi đủ 4 người. Có ngồi thì chồng xem tivi, vợ cắm mặt vào ipad, con trai lớn cắm mặt vào ipad, con trai nhỏ chơi với mèo trên thảm. Chẳng ai nói với ai. Mùi nhang thơm thầm lặng lan tỏa khắp không gian, Phật ngồi trên ban thờ cao cao hiền từ nhìn 4 con người. Ông bà tổ tiên ngồi trên ban thờ cao cao hiền từ ngó lũ con cháu im lặng với những thú vui riêng của mình. Căn phòng yên tĩnh quá, chỉ có tiếng grừ grừ của con mèo Anh lông ngắn trắng muốt. Mấy chục phút ngồi thế rồi ai tản về phòng người đấy. Chồng hoặc nàng lại bật tivi phòng ngủ xem film trên các kênh Movies, HBO, HTV, VTV, GTV. Phim nước ngoài Á, Âu đủ loại, đủ trò hấp dẫn. Xem chán rồi ngủ, ti vi cứ nói oang oang. Ngày trước nàng hay bày các trò để nối kết các thành viên gia đình, bây giờ nàng cũng bận rối. Nàng đi làm về, phóng xe vào phòng tập yoga, giờ tập kết thúc muộn, nàng ăn kiêng giữ dáng nên chồng và các con cứ tự ăn tối trước. Cả ngày chỉ còn mỗi bữa tối là đủ mặt, giờ thiếu nàng. Rồi những tiệc tùng gặp gỡ làm ăn, đối ngoại, bạn bè sinh nhật, họp lớp các cấp của chồng, của nàng…  Nàng thấy cô đơn giữa bao điều ồn ã náo nhiệt, hân hoan. Nàng thấy cô đơn giữa đông đúc bao người thân/sơ. Nỗi cô đơn làm lạnh mọi giác quan, làm tê liệt cảm xúc. Nỗi cô đơn khiến nàng thờ ơ với mọi vui buồn, đua tranh thế gian.

Hôm nay, anh đi công trình ngoài tỉnh. Hôm nay, nàng đọc một cuốn sách. Đề từ có câu “Chim thú có rừng, cá tôm có biển còn em có anh”. Nàng chợt xúc động. Câu nói chạm vào tim nàng, đúng tâm tư nàng. Chỉ có những xa vắng như bây giờ nàng mới thấm thía nàng cần anh… Xa rồi gần. Gần rồi xa. Cảm giác của những thời điểm đó nàng hiểu rõ nhưng vẫn chới với khi đối diện. Khoảng cách có giá trị đo lòng người. Nàng chưa bao giờ quen được cảm giác phải xa cách. Khi người ta trẻ người ta dễ quên hơn những nỗi buồn, sự thất vọng, thất bại và khó tha thứ cho những lỗi lầm người khác gây ra cho mình. Ngược lại khi người ta già, người ta luôn ghim chặt nỗi buồn vào tim, day dứt về sự thất bại nhưng lại dễ thứ tha hơn trước những điều người khác làm mình thất vọng, đau đớn. Nàng hay bị gặp khó khăn trong cuộc sống, từ bé đến giờ chẳng mấy khi sung sướng. Nàng chưa bao giờ trúng số dù vẫn mua vé số cầu may suốt 10 năm qua. Nàng đọc nhiều danh ngôn, kiểu như: Khó khăn là một phần của cuộc sống và nếu như không chia sẻ khó khăn bạn sẽ không mang lại cho người yêu mến bạn cơ hội để yêu bạn nhiều hơn”… đọc thuộc làu, ngấm vào ruột gan đấy nhưng khi đụng vào khó khăn thì lại tự giải quyết. Nàng thích chia sẻ những niềm vui của mình cho mọi người hơn là những phiền phức. Nàng đang già đi. Già và sẽ rụng như lá vàng mùa thu. Mà mùa thì về nhanh lắm còn nàng thì chẳng biết có kịp tái sinh mình sau những va đập, bon chen, thờ ơ, vô cảm, bệnh hoạn của nhân gian hay không?

Một lần, nàng rủ chồng cà phê đầu khu phố, quán cà phê của cô Vi, 30 tuổi, ly hôn, nuôi con gái 5 tuổi. Cô Vi xinh xinh, hay mặc quần đùi sát bẹn, áo hở nửa ngực, khi nói chuyện mắt nhìn trô trố, môi mọng căng. Chồng gọi trà gừng, nàng gọi cà phê đen nóng đường kiêng. Thời buổi thức ăn, đồ uống dư chất hóa học, ai cũng sợ bệnh tật. Nàng nhìn ánh chiều vàng vọt rơi xuống mặt đường, con đường quen thuộc mỗi ngày đi/về mấy bận nhưng ngồi nhìn nó lúc này, trong một góc quán buồn tẻ, nhạc mì ăn liền kiểu: “mai anh ra đi em phải làm sao, vì sao anh nói chia tay em thế anh?”… nàng bỗng buồn lụi xụi. Nàng ngó mặt chồng, nhìn bộ râu quai nón sợi bạc, sợi đen chen chúc rậm rạp. Chồng nàng ngó ngực cô Vi lấp ló tưng tưng sau mỗi lần đi ra, đi vô, cúi xuống, đứng lên lấy hàng, trả tiền, dọn bàn, tiễn khách. Nàng hơi hơi buồn. Cả xóm đàn ông ai cũng thích cô Vi. Cả xóm đàn bà ai cũng ghét cô Vi. Vài gã trong khu phố đang bị nghi lén lút hẹn hò với cô Vi, cho tiền cô sắm xe máy, mua điện thoại, nuôi con… Các bà vợ cấm các ông chồng qua quán cô Vi. Các ông chồng không qua quán theo ý các bà vợ, để yên nhà yên cửa. Họ có số điện thoại cô Vi, họ mời cô đi nhậu, đi hát karaoke. Ở khu phố này chẳng mấy bà vợ theo chồng đi nhậu, đi hát hò. Cô Vi tửu lượng rất khá, uống ăn duyên dáng, nói cười duyên dáng. Chồng nàng từng nhờ cô Vi tiếp khách đối tác Hà Nội hai lần, anh về khen: “Con bé trình độ phết, học hết đại học luật đấy em”. Nàng thì không thích, không ghét cô Vi. Cô ta chẳng làm gì khiến nàng ghét. Nàng có cả đám bạn bè ly hôn, phụ nữ đâu phải sống đơn thân là đều xấu xa hết. Các bạn nàng chẳng cần đàn ông bên cạnh, họ làm việc và làm việc, kiếm tiền nuôi con, chăm chút nhan sắc. Tụi nàng có nhóm bạn nữ thân thiết chia ngọt, xẻ đắng bên nhau tháng ngày. Có đứa 7 năm sau ly hôn vẫn ở vậy, bao nhiêu người tới tán tỉnh nó đều từ chối. Lý do “không thấy hợp”. Chúng nó chỉ muốn bình thản sống một mình, là chính mình. Nàng ghét những đứa đàn bà, đàn ông nhìn ngó, bình phẩm, dèm pha, buông lời thiếu tôn trọng về những phụ nữ ly hôn. Mỗi người mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh trớ trêu, mỗi cay đắng… Họ nuốt hết vào lòng, tự ti và tự tin sống tiếp quãng đời tiếp theo bằng cách vượt qua mọi thị phi. Mồm thiên hạ độc hơn rắn độc. Những phụ nữ ly hôn như cô Vi, như những bạn nàng họ chẳng làm gì tổn hại đến thiên hạ. Thực ra họ chẳng quan tâm đến bao bàn tán lao xao của thiên hạ. Nhiều trong số phụ nữ li hôn, đơn thân nuôi con, đơn thân lao động kiếm sống bằng chính sức lực của mình còn hơn khối đứa phụ nữ có chồng mà bồ bịch lằng nhằng mì tôm. Trong mắt nàng cô Vi, bọn bạn đơn thân họ là những phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ, dũng cảm thời 4.0, họ chả cần danh hiệu giỏi việc nước, đảm việc nhà. Thực tế họ giỏi hơn nàng và những đàn bà có chồng khác nhiều thứ.

Cô Vi gặp nàng lúc nào cũng khiêm nhường một chị, hai chị không đáo để, đanh đót đốp chát như với mấy bà, mấy chị trong khu phố. Cô Vi bảo đàn bà ai cũng như chị thì tổ dân phố này văn hóa nhất phường này từ lâu rồi. Cô Vi bảo em thích chị, chị phúc hậu và mạnh mẽ. Cô Vi kéo ghế ngồi sát nàng bảo chị không giống số đông đàn bà ở khu phố này, rồi cô thao thao kể cô M giáo viên trường T, nhà cuối đường đi mồi chài ông sếp doanh nghiệp này, ông đại tá đơn vị nọ, ông giám đốc cơ quan kia, ả nhậu nhẹt, đú đởn, hẹn hò Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng cùng lúc với 3 gã già mà gã chồng lái xe taixi có biết gì đâu. Cô lại kể, mụ N công chức, đảng viên nhà giữa tổ dân phố, được cái chân dài, mông to chứ cái mặt gãy gập, môi mỏng lét. Chồng làm cán bộ ở huyện, đầu tuần đi, cuối tuần về, mụ làm việc thì kém nhưng giỏi nịnh sếp, nịnh cả họ hàng nhà sếp nên sếp tạo mọi điều kiện cho đi học hết lớp bồi dưỡng này đến lớp nâng cao kia, sếp hứa thăng chức nay mai, thỉnh thoảng sếp đi Sài Gòn, Hà Nội, chả biết là vô tình hay ngẫu nhiên trùng khớp mà thời gian đó ả có đơn xin nghỉ phép đi khám bệnh, xin về quê giỗ chạp, cưới gả, thăm ốm người thân… hóa ra thiên  hạ nhiều mắt, nhiều tai và cả nhiều chuyện thiệt. Nàng nghe cô Vi kể há hốc mồm hỏi thiệt hả? thiệt không?… Cô Vi bảo: Em nói sai em chết như con rết liền. Em biết đầy chuyện của người trong khu phố mình, em không đụng ai thì đừng ai đụng vô em, không thì lành làm gáo, vỡ làm muôi ngay chị nà. Em bán cà phê chứ không bán trôn nuôi miệng. Em chúa ghét cái bọn đạo đức giả chị nà. Lũ ấy quen thói suy bụng ta ra bụng người chị nà. Nàng ngó cô Vi lom lom, nàng ở khu phố này 8 năm rồi mà cái cô giáo T và cái mụ công chức N kia nàng không nhớ mặt ngang, mũi dọc thế nào. Còn cô Vi về đây thuê nhà chưa đầy năm mà sao biết nhiều chuyện thế. Nàng nhấp nhấp ngụm cà phê, ngắm cô Vi. Nhìn sát gần, cô Vi rất xinh, da trắng hồng, múp míp, mắt long lanh, khuôn miệng đầy đặn, hồng căng. Phật dạy, tướng tại tâm sanh. Nhìn tướng này không phải tướng kẻ bất nhân, vô đạo, tầm thường.

Hôm rồi, chị H bảo nàng: Em coi chừng chồng đấy, nó hay qua nhà con Vi. Nàng cười cười: Kệ anh ấy chị ạ, trai ham sắc, thân ai nấy chị ơi. Chồng nàng háo sắc thì sao chứ, bản năng giống đực, trai mê sắc, gái ham tài, đàn ông gã nào chả thế, trước mặt vợ, gã nào tử tế, có ăn có học, văn hóa ổn ổn thì nể vợ, tình huống đi chung với vợ mà thấy gái ngon thì mắt lơ lơ chỗ khác lừa cho vợ vui bụng, gã nào cục súc văn hóa lùn thì vợ ngồi đó cũng kệ, vợ là đinh gỉ, vợ là vợ, ông là ông, gái ngon ông ngắm tí lãi lỗ gì mà ngại, lãi lỗ gì mà nhăn nhó cau có. Thế nên làm đàn bà kết hôn với người ta rồi trong nhờ đục chịu. Chứ chả lẽ vì chồng cứ thích nhìn gái đẹp mà giận, mà bỏ được à. Ghen thế làm gì cho hại não. Còn đàn ông, thấy thằng nào ngắm vợ, tán tỉnh vợ vài câu qua điện thoại là như bò bị chọc đít, nhảy dựng lên mạt sát, hù dọa, thậm chí đánh đập vợ vì ghen. Cái mà người ta gọi là bình đẳng giới ấy, cái mà biểu quyết cao phấn đấu để bình đẳng giới ấy ở đâu thì đạt chứ ở khu dân phố nàng ở thì còn lâu lẩu lầu lâu mới chạm chỉ tiêu. Nàng là đàn bà còn thích ngắm cô Vi, huống chi các ông già, ông trẻ trong khu phố. Nó đẹp ngọt ngào. Đàn bà là giống hay ghen ghét đố kị, thấy ai hơn mình là cay cú, tìm mọi cách dèm pha, hãm hại. Mồm nhiều đàn bà độc như rắn rết, làm khốn khổ biết bao người trong thiên hạ nhưng thời gian sẽ làm sáng tỏ trắng/đen. Ông bà dạy: Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Đàn bà đẹp như Vi khổ vì thị phi là chuyện thường. Nó bảo: Cả khu phố này có mỗi chị thương em. Nàng cười khùng khục khen cà phê nó chế ngon. Nàng là cái thứ đàn bà đa cảm, dễ thứ tha, cả tin. Chồng đã chối trăng, chối trời là đâu có nhìn ngực cô Vi. Nàng bảo không sao, không sao chỉ là nhìn thôi mà, nói thế nhưng nàng vẫn hơi hơi buồn. Nàng là thứ đàn bà cả nghĩ. Có hôm ngồi nghe vài bản nhạc buồn ở cái quán buồn tẻ của cô Vi, nghe cô Vi kể chuyện đời cô khốn khổ, khốn nạn với thằng chồng cũ ham đề, cờ bạc, rượu bia, lấy hết tài sản theo gái, chuyện người này người kia ăn ở hiền hậu toàn bị lừa tiền lừa tình, chuyện những kẻ dối gian, tham lam vẫn sống nhơn nhơn, ăn trắng mặc trơn, lòe bịp thiên hạ với những vị thế xã hội a,b,c. Nhiều hôm ngồi với cô Vi về nàng chẳng thiết nói năng, ăn uống. Cái hôm, anh nhìn trộm ngực cô Vi, nàng hơi hơi giận về nằm ôm sách đọc. Chồng nàng chẳng để tâm, ôm máy smart phone lướt lướt rồi ôm gối ngủ ngáy ò ò. Cuộc sống nếu cứ cố chấp và bắt bẻ nhau hoài thì chán như con gián, chồng nàng bảo thế. Rồi chồng lại bảo em phải hiện đại lên, cởi mở ra, anh chỉ yêu em thôi, chỉ luôn muốn làm em hạnh phúc, xinh đẹp, tươi vui… Đàn bà là giống phổi bò, gan thỏ. Nói ngọt là lọt đến xương, nghe đàn ông nói cái miệng thôi cũng sướng chả cần biết chồng có thực bụng thế, có thực làm thế để biến mọi thứ thành hiện hực không, nhưng mà tin đắm say, tin như tin vào Phật, Thánh, Chúa… Nhưng nếu chẳng có những thứ trách móc, bắt bẻ, hờn giận ấy liệu nàng có biết mình đang còn yêu hay đã ít yêu, hết yêu chồng. Mẹ nàng bảo con cần có cái nhìn thiện cảm hơn với đàn ông. Đàn ông, đàn bà gì cũng có dăm bảy loại. Thế giới là của muôn loài. Thích nghi thì sống. Nàng cũng là loại đàn bà thích nghi cao. Chồng ngáy ò ò, ti vi nói suốt từ 19h. Nàng đọc sách. Sách là bầu bạn thủy chung với nàng mỗi khi nàng không thú vị với những va đập cuộc sống ngoài cánh cổng sắt. Sách dẫn nàng đến một thế giới không xa lạ với thế giới thực nhưng dầu gì cũng yên ả hơn, vì ở đó đều là những câu chuyện đã qua, những phận người đã khép lại, có thứ đã biến mất như tro bụi trong gió. Nàng chợt nhận ra cả tuần rồi nàng ngủ không ngon. Chồng nàng vẫn đang ngáy ò ò…

Ở nơi nàng làm việc, đàn bà gần chục ả, vài ả ghét cay ghét đắng nàng, vì nàng đi làm bằng xe hơi, nàng có nhiều giầy và túi sách đẹp, vì nàng sáng mặc 1 bộ váy, chiều mặc 1 bộ váy, vì nàng làm việc vì đam mê. Ở nơi nàng làm việc có những đàn bà lượn lờ loanh quanh, ngồi nhóp nhép quà vặt buôn chuyện thiên hạ rồi về, nói xấu sau lưng kẻ khác, lương chẳng mất một một cắc, cuối năm bình bầu thi đua danh hiệu vẫn kêu leng keng. Ở nơi nàng làm việc có những đàn bà làm việc quần quật, đến 20h tối phòng họ vẫn sáng đèn, họ yêu công việc của họ, họ cứ làm và làm. Họ nói với nàng có nhiều cách để thấy cuộc đời ý nghĩa, trong đó có cách làm được gì thì làm hết mình, có ích cho mọi người, cho đơn vị. Ở nơi nàng làm việc có đàn bà ra khỏi phòng không tắt điện, hoang phí hết thảy mọi thứ từ giấy, bút, mực in… nhắc nhở nó cẳn nhằn bảo đồ của nhà nước chứ có phải của nhà mình đâu mà tiếc, kệ đi… Cuộc sống có nhiều loại người, nhưng nàng luôn tránh né những đàn bà vô duyên, nhạt nhẽo, thụ động và lươn lẹo. Nàng thích những đàn bà xinh đẹp, tích cực. Bên họ nàng như được truyền thêm năng lượng tươi mới. Nhìn ngắm họ, nghe họ nói, thấy họ làm việc máu trong nàng lại nóng lên và nàng lại hăng hái muốn làm những điều có ích cho cuộc đời, chẳng cần đợi cuối năm hay năm sau, hay năm sau nữa được ghi nhận, khen ngợi.

Cô Vi chuyển nhà sang khu phố mới, cách khu phố nàng hai con hẻm. Chồng mới của cô giàu, là đại gia ngành xây dựng, quen biết toàn quan to cấp huyện, cấp tỉnh nên công trình lớn/nhỏ gã đều có phần. Cô Vi đẹp ngồn ngộn, duyên dáng, ngọt ngào, tươi tắn chiều chuộng chồng. Cô được gã cưng lắm. Đàn ông khu phố buồn buồn. Đàn bà khu phố mừng mừng. Nàng đi chợ thi thoảng gặp cô Vi lái xe hơi đi mua đồ ăn. Cô Vi rủ rê nàng cà phê. Cô Vi bảo cả khu phố ấy em quý mỗi chị. Cả phố thấy nàng và cô Vi đi cà phê với nhau túm tụm, xì xào. Đàn bà chết không bỏ được tật đố kị và nhiều chuyện. Cô Vi một bước lên bà chủ, ăn sung mặc sướng, sẵn tiền bạc của chồng tiêu xài, cô Vi đã xinh giờ càng xinh nõn nà. Đời đàn bà đâu cần ước mơ nhiều, khát vọng nhiều, chỉ cần có một bờ vai vững chãi cho mình dựa khi tủi buồn, thiếu thốn là phước đức tu tích bảy đời, bảy kiếp rồi. Cô Vi chắc tiền kiếp tu tập chỉn chu, phúc phần cha mẹ đầy đặn. Trời chẳng khi nào lấy hết của ai cái chi, càng chẳng tuyệt đường ai bao giờ nên người người trần thế ai ai cũng ơn trời, cầu trời thương cứu khi khó khăn, khốn cùng. Nàng xin trời cho sức khỏe dẻo dai để làm nốt những việc nàng thích. Nàng có kế hoạch khi già nàng sẽ đi Sa Pa ngắm tuyết, hai vợ chồng nàng sẽ uống trà nóng bên hiên một khách sạn cổ kính.

Chồng nàng đi công trình về. Nàng rủ anh đi biển vài ngày. Anh bảo những ngày đi biển sẽ không online. Điện thoại tắt. Vợ chồng nàng đi chơi đảo, đi lễ chùa, đi công viên, đi cà phê, đi tắm biển bình minh, hoàng hôn… hai vợ chồng nàng nhâm nhi trà nóng bên hiên một khách sạn cổ kính, nghe sóng biển xô bờ dào dạt, ngửi mùi biển nồng mát, nghe hơi thở nhau đều đều, ngắm biển đêm lộng lẫy.

Bây giờ con người cô đơn giữa những máy móc, giữa những vô số điều ảo/thực.

                                                                   Gia Lai, tháng 3/20201

                                                                             H.T.H

Cởi trói

Lê Thị Tuyết Lan

Đêm qua ghé thăm vì sao đem trói tôi

Có một chiếc roi và một cốc đắng lạnh lùng

Tâm trí tôi mờ ảo dưới cánh của con đốm đến mình cũng chẳng dòm qua

Tôi lục lọi và bâng quơ

Có lằn in trên lồng ngực thâu tóm bằng sợi tơ chằng chịt

Tôi bị ánh nắng giải đi trong cái chạm nám giấc mơ

Những ngón tay thô cứng chẳng cầm nắm được tôi bóc rời

Mọi thứ trống rỗng và tôi qua đời bằng cuồng si của kẻ thấy đất trời rộng mà chẳng thể đi

Chẳng thể khóc trọn vẹn như ngày đến

Bằng nhạc khúc tính tang, tính tang

Tôi muốn cuồng phong chính mình vỡ rạc những dấu tích xưa

Những tị hiềm và khúc khuỷu lại vuốt ve nếp thẳng

Cởi hết lớp dây và thổi hết lớp sương bệt chặt

Tháo tâm tư ra lao trước gió biển sông nguồn

Bầu trời tự do từ khi tôi lột sạch những lớpl á

Nhân tôi chín ngọt từ thuở bọc da

Đã đun nấu dưới lửa cầu mà nửa đời đi tìm xanh thắm.

Tôi của chìmđắm

Đời không không.

LÊ TUYẾT LAN

Môi ướt

Lê Thị Tuyết Lan

.

Em hôn vào cơn mưa hôm đã sâu thẳm bóng anh

một lần và nhiều lần muốn nhìn thêm giây phút

Thịt da em đã mềm những tàn trăng

Bàn tay gọi ngón tay trên lạnh nhạt đốt mình

Anh tan ra trong ngày vừa chụp nơi mắt em từng làn sương

.

Môi em ướt từng đợi chờ

Môi em ướt đêm mơ

Má anh còn viễn du trên những sợi chỉ tay

Tiếng anh đàn vào không gian riêng em địa đàng từ cuộc giao thoa vực trời

Đong đầy làn hơi sinh sôi

Em dìu dắt mình lên bãi bồi tìm khô đặc dấu chân

.

Con đường lầy in nhịp lòng lạc lối

Ngày về chậm rãi

Người về sưởi mãi bầu nhiêu khê

Dằn vặt đường roi

Nguyễn Hoàn

.

Chiều nhập nhoạng. Hoàng hôn chiếu những tia nắng cuối cùng giát vàng lên ngọn núi Kim Sơn lấp lánh cả một vùng núi cao như bừng lên sức sống cuối cùng của ngày tàn.  Người xưa đã đặt tên cho ngọn núi thật thực tế.  Núi vàng trong buổi chiều tà. Mây trắng lởn vởn bay bên núi.  Mây với núi,  vẫn giống như ngàn năm, như đang tâm sự điều gì. Dưới núi là con sông Kim Sơn êm đềm trôi về phía Đông. Chỉ lát nữa thôi là cả núi, cả sông, cả mây trời và cảnh vật xung quanh đều sẽ đi vào tĩnh  mịch.  Sự vận chuyển này của cảnh vật cũng giống như ở quê ông Hoà,  nhưng ông vẫn cứ trầm ngâm tư lự. Đây là buổi chiều hoàng hôn đầu tiên ông ở nơi xa lạ. Ở đây, buổi tàn đông trời có chút ít se lạnh hơn sơn cũng là vùng  núi,  nhưng núi An Tượng quê ông, dù cao chất ngất khí hậu vẫn ít lạnh hơn nơi này. Từ những ngày còn học trung học ông Hòa đã được cha gửi đến nơi này học võ tuần hai buổi với thầy dạy võ vốn là bạn nối khố của cha ông từ hồi còn nhỏ. Thầy dạy võ ông Hòa là một người có tính khí điềm đạm. Ông học hết Trung học rồi trốn lính trôi dạt đến vùng đất này. Ông rất giỏi võ đặc biệt là là ngọn roi Thuận Truyền gia  truyền của ông đã tiếp tục nổi tiếng các vùng đất võ rộng lớn. Dù là bạn của cha nhưng ông Hòa để được thầy võ nhận dạy thật là khó khăn ông đã tiếp xúc với ông Hòa nhiều lần để nhìn tướng mạo, để chuyện trò cho hỏi han xem người học trò này có đặc điểm sát khí không rồi sau đó mới nhận dạy.  Mỗi thứ bảy chủ nhật cha ông Hòa chở con vượt hơn hai mươi cây số đường xa, thả con xuống với thầy, đi đâu đó loanh quanh chờ con học xong chở về. Ròng rã ba năm như vậy. Ông Hòa thời trai trẻ đã học được những thế võ rất chắc. Từ những ngày đầu tiên học học đứng tấn đến những bộ thảo, miêu tả diện, ngọc trản thần Công… ông Hòa đều tiến bộ rất nhanh có lẽ ngay từ thời tiểu học ở thành phố biển ông Hòa đã từng học qua Vovinam nên đã tiếp thu nhanh hơn các đồng môn khác. Việc học tập văn hóa cũng vậy, nhờ cha nghiêm khắc kèm cặp động viên, ông Hòa cũng đã học hành đầu xuôi đuôi lọt. Đậu Tú Tài bán, đậu Tú Tài Toàn,  rồi đậu luôn Đại học Sư phạm. Những năm tháng ấy sống trong lòng chế độ Sài Gòn cũ, nếu chỉ cần rớt 1 năm là lập tức có giấy gọi nhập ngũ, với các mảnh bằng tú tài thì hoặc sĩ quan Thủ Đức hoặc sĩ quan Đà Lạt, ra khỏi quân trường là lao ngay vào các mặt trận, trên ve áo là quai chảo, hoặc bông mai. Cha ông Hòa khuyên con tuyệt đối không nên chọn kiểu sống một là xanh cỏ hai là đỏ ngực như vậy được. Ông Hòa học sắp xong đại học sư phạm thì miền Nam được giải phóng,  đất nước thống nhất. Lúc bấy giờ ngành giáo dục mới sắp xếp lại các trường học các cấp học trên khắp miền Nam. Thầy cô quá thiếu ông Hòa được điều ngay ra giảng dạy ở quê nhà. Ông chọn dạy một trường trung học phổ thông bên vùng núi An Tượng, phía hữu ngạn sông Côn là nơi công tác và sinh sống suốt cuộc đời mình.  Khi công việc dạy học ổn định, bằng cấp Đại học Sư phạm mới cũng ổn định, ông Hòa theo yêu cầu của nhiều người dân địa phương, ông đã mở thêm lò dạy võ vào các buổi tối. Ông chỉ nhận năm đến bảy học trò và cũng giống như thầy mình ông chọn mặt và nhận học rất kỹ chủ yếu học trò học phải lấy đạo đức làm đầu. Ông không chủ trương học trò học võ thành tài là để đi thi đấu đài này, đài nọ dù lúc này nhằm khôi phục tinh hoa võ thuật cổ truyền,  tỉnh có cho phép các cuộc thi đấu võ đài ở các địa phương trong tỉnh.  Quan điểm của ông được nhiều phụ huynh võ sinh nhất trí. Công việc dạy học văn hóa và dạy võ chiếm thời gian của ông khá nhiều, nhưng lúc nào ông cũng thấy mình nhanh nhẹn khỏe khoắn. Nhiều người khen ông làm thầy nào cũng tốt. Ở công việc dạy học từ giáo viên ông đã lên dần đến phó hiệu trưởng, rồi hiệu trưởng.  Ông Hòa là một giáo viên dạy giỏi, mẫn cán trong giảng dạy và trong quản lý. Cứ như vậy cho đến khi tròn sáu mươi tuổi, ông Hòa về hưu với biết bao thế hệ học trò trọng vọng. Thế mà chỉ trong một tích tắc ngắn ngủi của một buổi chớm sáng, ông đã làm người phạm tội và ông đã rơi vào vòng lao lý.

Buổi sớm sáng hôm ấy cách nay chưa xa, như thường lệ khi chuông chiếc đồng đồng hồ ông đổ đến bốn tiếng là lúc ông Hòa thức dậy đánh răng súc miệng rồi xỏ giày đi tập thể dục. Ông đi bộ vòng quanh mấy con đường bê tông của địa phương độ nom một tiếng thì về. Sáng ấy khi về đến cổng nhà thì thấy có một thanh niên lạ đội mũ bảo hiểm đeo khẩu trang đang với hai tay đỡ lấy một cái bao gì đó từ người bên trong cổng nhà ông đưa ra trên những cọc sắc nhọn tròn lởm chởm của cánh cổng vẫn đang khóa kín im ỉm. Hai chiếc Honda dựa trên bệ cỏ sát hai bên trụ cổng. Lúc bấy giờ là 5 giờ, nhưng trời mùa đông nên vẫn chưa sáng hẳn. Hình như cái bao gì đó từ trong sân nhà ông chuyển ra nặng quá người thanh niên bên ngoài cổng đỡ không nổi nên rơi xuống thềm bê tông và trong bao là tiếng chó sủa vùng vẫy. Ông Hòa đã kịp nhận ra là chuyện gì. Té ra đây là thủ phạm trộm chó. Con vện là một con chó ông Hòa nhặt được từ đống rác cuối xã từ khi nó mới vài tuần tuổi. Nó gầy nhom đói khát bới rác tìm thức ăn. Động lòng thương, ông Hòa đã đem nó về nuôi đã hơn hai năm nay rồi. Ông Hòa có hai con học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, ra trường xong chúng có chồng, có vợ, có nhà, có cửa, rồi ở tịt trong đó với cháu của ông. Nhiều lần các con ông năn nỉ ông vào sống với con cháu ở nơi đất phương nam ấy, nhưng ông chỉ vào thăm chơi một tuần, nửa tháng thì về. Từ khi nghỉ dạy học, ông cũng thôi dạy võ và hàng ngày chăm sóc mảnh vườn nhỏ trồng rau, trồng cây cảnh và một ít cây thuốc. Con Vện đối với ông là một niềm vui, niềm an ủi khi tuổi già cô đơn. Vợ ông, cũng là một một giáo viên đã chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn giao thông do hai thanh niên say xỉn lái xe Honda tông trên đường đi dạy học về cách hơn mười năm. Hình như con Vện biết ông là người đã cứu nó, đã cưu mang nó, nên nó rất quyến luyến với ông và làm tròn bổn phận canh giữ nhà mà ông giao cho nó. Ông chích ngừa dại cho nó theo yêu cầu của thú y và không thả nó ra ngoài đường. Ông đi đâu xa về nhà, nó vẫy đuôi mừng ăng ẳng trong nhà, sân trước vườn sau nó cắn chết nhiều con chuột. Vậy là nhà ông sạch chuột. Con Vện cũng như loài chó nói chung là những con vật có nghĩa rất trung thành với chủ. Nhưng sáng nay thì, nó đang vùng vẫy ăng ẳng trong cái bao kia. Ông Hòa vừa lên tiếng hỏi người thanh niên tại sao lại bắt chó trộm, thì lập tức kẻ trộm tấn công ông ngay. Cây dùi cui điện, một vật dụng chỉ công an mới được dùng, không ngờ nó cũng có cái dùi cui quất sát rạt vào ông Hòa,  ông đã lạn người để tránh được. Thằng thanh niên trong sân nhà ông nghe động cũng trèo ra cổng. Tình thế cấp bách đã khiến ông Hòa lách ra sát cột trụ cổng phía trái vừa né đòn vừa vọt lại giật cây roi cài hờ sát mép cổng sắt và trụ cổng. Đó là một cây roi tre đặc tròn bằng cổ tay,  dài tầm một mét hai. Khi có cây roi trong tay ông yên chí phần nào. Ông đảo một vòng bộ pháp thông thường thủ thế. Lúc này thằng thanh niên thứ hai đã trèo được ra khỏi cổng và lấy ra từ trong cái bao treo ở xe Honda một con dao nhọn. Cả hai cùng tấn công ông…  Lúc đầu khi có một đứa ông Hòa còn lạn đánh cầm chừng, chủ yếu là tránh né đòn.  Nhưng khi cả hai cùng tấn công ông thì ông thấy hơi nguy hiểm. Hai tên trộm đều to lớn đang ra sức áp đặt đối thủ để kịp tẩu thoát cùng với con mồi nên chúng đánh rất sát, toàn những đòn sát khí. Ông Hòa vừa né tránh được lưỡi dao vụt sát mặt ông thì bả vai ông bị một dùi cui phang đau điếng. Không nhẹ được nữa, đòn roi chiến hiểm ông đã tung ra. Các đốc roi giựt thốc vào ngực một địch thủ, tên trộm cầm dao đã ngã bịch xuống nền bê tông, miệng ộc đầy máu. Tên trộm còn lại chưa hoàn hồn cũng bị một đốc roi của ông thụt vào bụng ngã vật ra, miệng la ới ới xin tha tội. Biết chủ có mặt gần bên, nên con chó trong bao càng vùng vẫy ăng ẳng hơn. Ông Hòa nhìn hai tên trộm nằm im trên đất mà hối hận về việc mình đã ra đòn độc. Ông Hòa thả cây roi bên cổng rồi đi lại phía người thanh niên miệng đầy máu, đưa tay sờ mũi, không thở được nữa rồi. Mình đã giết người rồi!  Ông Hoà ngồi bệt xuống vệ cỏ đưa tay vào túi sau mở nút lấy điện thoại gọi công an. “ Vâng tôi Hòa… nhà ở… tôi đã đánh chết người trước cổng nhà tôi: Tôi đã gây tội ác, mời các anh tới bắt tôi”. Chỉ vài phút sau là công an xã và sau đó là công an huyện có mặt ngay. Người đi đường cũng tập trung đến khá đông. Công an phong tỏa giữ nguyên hiện trường, chụp hình lập biên bản. Lúc bấy giờ hai người thanh niên tỉnh lại, lăn lộn kêu la. Té ra chưa có người nào chết cả, Ông Hòa nói với công an cho mình được gọi người quen gần đây đưa xe đến chở hai nạn nhân đi bệnh viện cấp cứu. Hai nạn nhân được đưa lên xe. Ông Hòa và một công an cùng theo đi xe về phía thành phố. Hai công an được bố trí ở lại giữ hiện trường. Hai chiếc xe của kẻ gian với những vật dụng bắt trộm chó, cái dùi cui, con dao công an thu giữ. Con chó được mở bao thả ra, cổng nhà ông Hòa cũng được mở. Qua khoảng sân nhỏ là cửa nhà ông Hòa vẫn còn khóa im ỉm. Công an quan sát kỹ cửa trước, cửa sau vẫn khóa kín như vậy đây chỉ là là vụ việc trộm chó chứ không trộm thứ gì khác… mãi cho đến lúc nắng sáng hẳn lên công an làm xong mọi thủ tục hiện trường xong, cổng nhà ông Hòa được khóa lại thì công an và mọi người xem mới lục tục ra về. Tang vật trộm được đưa về đồn .Ở bệnh viện tỉnh một tên trộm bị gãy hai sườn trái, tên còn lại phải nẹp và băng bột khoảng mười ngày nửa tháng thì có thể xuất viện. Tên trộm còn lại bị nhẹ hơn nhưng cũng phải cắt một phần lá lách chỉ mười ngày là có thể xuất viện. Ông Hòa ứng hết toàn bộ tiền viện phí cho hai người bị hại. Thì ra hai bị hại cũng đều là người của thành phố biển này. Do lêu lổng, ăn chơi, cờ bạc không nghề ngỗng gì nên hai thanh niên này đã chọn nghề bắt chó trộm mỗi đêm. Giống như nhiều đạo chích khác cùng  nghề,  đêm đêm chúng thường đi nhóm hai người lùng sục các hang cùng ngõ hẻm và bắt chó rất thiện nghệ.  Khi phát hiện chúng dùng cái kẹp dài kẹp vào cổ chó và cho vào bao ngay. Mỗi đêm hai đứa bắt vài con chó là chuyện thường, bán cũng hơn bạc triệu; các quán Cờ Tây,  Nai Đồng Quê  mua ngay trong đêm,  nhốt lại giết thịt  dần. Trường hợp mua được nhiều thì chuyển cho đại lý đưa lên xe tải chuyển ra miền Bắc tiêu thụ. Chó là vật nuôi có nghĩa trung thành với chủ nên được chủ thương yêu. Vì vậy nên một khi chó bị trộm các chủ vật nuôi rất căm tức đã có nhiều vụ án kẻ trộm chó bị nhiều người dân đánh chết và tất nhiên theo luật pháp người sát nhân phải bị tù. Những tên trộm chó nếu chỉ bị bắt thôi không bị hành hung thì chỉ bị phạt tiền cảnh cáo rồi thả, vì vật trộm thường chỉ dưới 2 triệu. Ông Hòa biết rất rõ điều ấy. Nhưng việc ông không tự kiềm chế được mình, ông đã đánh người suýt nữa không còn toàn mạng. Ông rất xứng đáng phải đi tù. Học trò ông, con ông có thể bảo lãnh cho ông được tại ngoại. Nhưng cái tính chất trượng phu của của con nhà võ buộc ông tự nguyện xin được ở tù để răn mình,  để làm gương cho người khác. Việc đánh hai tên trộm chó là việc tự vệ chính đáng, ông có thể tự bào chữa cho mình như vậy. Nhưng lương tâm ông Hòa vẫn cứ bị cắn rứt bởi trên hết mình là một người hành võ trên miền đất võ nổi tiếng khắp cả nước này.

Ở tù một thời gian không ngắn, cũng không dài, đủ để ông Hòa nhận ra cuộc sống bên cạnh những thuận lợi phát triển, vẫn luôn tiềm ẩn những khó khăn phức tạp. Sống chân chính với tất cả mọi người. Có như vậy tâm mình mới yên: Ông Hòa được giảm án nhờ biết cách sống tốt trong phận tù nhân.

 Về với vùng quê yên ả của mình bên cạnh sông Côn, lúc này ông Hòa đã tròn tuổi bảy mươi tuổi thất thập cổ lai hy nhưng ông Hòa vẫn thể dục đều đặn, vẫn làm vườn, vẫn  luyện võ và thăm hỏi bà con mỗi ngày.  Học trò ông  xa gần ghé thăm ông. Một buổi sáng, vừa xong một giờ thể dục bên bờ sông Côn, ông đang trầm ngâm nhìn dòng sông hiền hòa chảy như từ bao đời,  thì hai thanh niên to khỏe đến trước mặt  cung tay “ Kính thầy, thầy có nhớ chúng con không?” trong ngoài nhìn kỹ vẫn không nhận ra hai môn sinh này mình dạy từ lúc nào. Cái kiểu cúi mình cung tay đó đúng là con nhà võ nhưng ông Hòa đành chịu, cố nhớ vẫn không nhớ ra được. Ông Hòa lắc đầu xác thực điều đó.  Hai thanh niên khúm núm nhỏ nhẹ với ông  Hòa “ Thưa thầy. Hai đứa con là hai tên trộm chó nhà thầy ngày nào, mới mà thầy đã quên. Xin cảm ơn thầy đã cho chúng con một bài học. Chúng con ăn năn hối hận giờ trở thành người tốt rồi thưa thầy…”!

Bóng Nhạt Thời Gian

Trần Vấn Lệ

Tranh Van Gogh

Bóng Nhạt Thời Gian

.

Tháng Mười, ai cũng đợi, đã tới, đã đi rồi! 

Không có một nụ cười / nào mà nó để lại!

Tháng Mười như thế mãi / biết đã bao năm qua!

Một thế hệ đã già…Thế hệ sau đang xế…

Không trách tàu hỏa trễ / vì còn nằm ở ga!

  Đổ tội:  dịch thôi mà!  Chen nhau, lây, khổ lắm!

Máy bay cũng bị cấm, sợ dịch bay tứ tung!

Tàu thủy, chậm vô cùng, thêm bão bùng, càng chậm!

Tháng Mười…tay không nắm…là bởi chân đã lìa! 

Đưa người…qua bên kia / sông Nại Hà, xa lắc…

Tháng Mười tháng-nước-mắt…hai ngàn trẻ mồ côi!

Tháng Mười nhắc nhỡ hoài / một Phi Nhung dang dở!


Người đi và kẻ ở…mà đường nhỏ, hoang vu; mà đường lớn, mịt mù…không ai thấy ai nữa!


Thấy thì sẽ nói nhớ!  May mà…tháng Mười quên! 

Nó chỉ là cái tên:  Tháng Mười Quên Đi Nhé!


Bao nhiêu lòng Cha Mẹ / tháng Mười vẫn bao la!

Tháng Mười Một hít hà…cuối năm, trời rét ngọt!

Cuối năm trời rét ngọt, lá vàng còn sót bay!  Tôi vừa ngửa bàn tay, hứng, bỗng đầy nước mắt…


Sương rơi đằng trước mặt.  Tuyết giăng giăng đầu non…Có người Mẹ bồng con mái tóc buồn như liễu…

.

Óng Ánh Hạt Sương Mai

.

“Tình Yêu giống như hạt sương mai sáng sớm,đứng xa nhìn cứ tưởng hạt kim cương,đến gần thì té ra là giọt nước mắt!”
*
Một tháng là một tháng trời,

thư đi,  mong chớ một lời hồi âm!


Cảm ơn ngày tháng lặng câm

không mưa, không gió, âm thầm thời gian!

Cảm ơn luôn chữ Đá Vàng

Kim Bằng óng ánh như làn suơng mai!

Dĩ nhiên sương chẳng đọng hoài

Nụ hoa mấy giọt vì ai cũng tình!


Vườn tôi, tôi rất thích nhìn

mỗi ban mai thấy bình minh hiện về

sương như ngọc bích trời khoe

tôi nâng niu bỗng không dè vỡ tan!

Cảm ơn hai chữ Đá Vàng

Hạt sương đã hóa hai hàng lệ sương!

.


Bỏ Phố Về Quê

.


Nắng không phải là lửa

sao nóng đến vàng cây?

Từng con chim vụt bay

vào công viên, bay tiếp!


Nắng quá mưa không kịp

năm sáu tháng nay rồi

dịch bệnh từ khắp nơi

về tuôn ra quốc lộ…


Có người thì đi bộ

tay xách với nách mang

Có người thì vội vàng

cỡi xe máy xe gió…


Hãy ngó ra ngoài ngõ

nắng xám hết hoa kìa

màu cỏ như sẻ chia

cái màu xám buồn thảm!


Thơ từng ngày u ám

Nắng từng ngày nồng nàn..

.Chữ viết mới thẳng hàng

sao bắt đầu cong quẹo?


Thật không gì dễ chịu

cả cái gì dễ thương!

Tưởng sáng nay hoa hường

nở mà tìm không thấy…

Việt Nam mình đang chạy

liệu có vượt thời gian

để đêm nay sao vàng lấp lánh trên đầu núi?

Buồn lắm chớ câu hỏi

tràng giang trôi lê thê

người bỏ phố đi về

về lại quê…thất thểu!


.

Trương Văn Dân

Đoàn Đình Thạch,

            Người đi, tiếng hát còn vọng lại.

Sáng 28.9.21 thấy trên FB của nhà thơ Đoàn Văn Khánh có bài Kinh Nguyện An Lành và Chú Đại Bi lòng tôi bỗng bất an.Gọi anh Khánh không được, thấy Nguyên Cẩn online nhưng gọi mãi đến lần thứ 4 mới liên lạc được. Anh cho biết là đang nhờ các chùa cầu an cho anh Thạch vượt qua nguy hiểm.

             Báo tin cho Elena rồi tôi gọi điện cho chị Náo. Chị cho biết hai vợ chồng bị nhiễm covid, đã xuất viện về nhà nhưng anh Thạch còn yếu lắm và gần đây phải thở oxy. Hôm nay anh đã hấp hối 2 lần.

             Rồi chị quay màn hình và nói với anh: anh chị Dân Elena từ Ý gọi về thăm. Đang nằm thở oxy anh Thạch nghiêng qua, bàn tay phải vẫy 2,3 lần để chào. Lúc chị cúp máy tôi có nghe 1 tiếng nấc nhẹ bên kia đường dây.

–  Không, anh sẽ vượt qua thôi!

Đang ngồi, Elena vội đứnglên đi thắp nhang trước bàn thờ Phật. Lời lẽ cứng cỏi nhưng chắc em cũng  biết cái vẫy tay  yếu ớt qua màn hình đó là lời chào cuối cùng.“Vượt qua” chỉ là mong ước, mong manh,nhưng trong lòng chúng tôi vẫn còn chút hy vọng..

Nhưng chiếc lâu đài mà hai đứa bé cẩn thận đổ cát xây lên đã bị sóng thuỷ triều lướt qua, đổập.Chúng hụt hẫng nhìnđống cát ướt nằm chỏng chơ trên bờ biển.

Anh đã đi, sau cuộc gọi củachúng tôi chỉ mấy giờ!

Khuya hôm ấy chắc cũng có nhiều bạn thao thức chờ đợi một phép màu!

*

            Là giảng viên văn học nhưng khi đến với Quán Văn anh mang theocây đàn và tiếng hát, góp một phần rất lớn để tạo nên không khí sinh động cho những buổi ra mắt. Đến từ số 20, nay 83, hơn 60 số báo anh là một phần không thể thiếu. Có lẽ linh tính là mình sẽ không  còn  tham dự được với bạn bè nên những ngày cuối anh gọi điện cho Hoàng Kim Oanh để nhờ chị chuyểnlời nhắn “mọi người mạnh khỏe nghe, tôi mệt”!

            Những năm qua vợ chồng anh Thạch chị Náo thường tham gia sinh hoạt cùng tập san Quán Văn, họ như như 1 cặp đôi hoàn hảo về sự thân thiện và nhân cách và chiếc đàn theo anh chị và bạn bè đi đây đó khơi dậy tình tự dân tộc qua những tình khúc, trường ca hoặc những bài hát do anh sáng tác.

Còn nhớtrong chuyến đi Phú Quốc, vừa lên xe ở Kiên Giang thì mưa gió bão bùng… Ngồi trên xe mọi người nhìn nhau ngao ngán. Tiếng mưa đập vào thùng xe bôm bốp nhưng bỗng nhiên từ cuối xe vọng lên “Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến…” mọi người nhìn xuống thấy anh đang cầm đàn và tất cả đều hát theo anh. Tiếng hát át tiếng mưa, khí thế hừng hực. Lòng ái quốc như sống dậy trong hồn mọi người.

Điều tình cờ kỳ lạ là khi xe vừa đếnkhách sạn hay quán ăn thì mưa tạnh. Mấy lần như thế nên Mỹ Lệ “hùng hồn tuyên bố” là mình đã nhắn tin cho ông Trời, được mưa chừng ấy thôi để anh chị em QV khỏi ướt.

Những kỷ niệm với anh có nhiều nên từ naytrong lòng mọi người sẽ cảm thấy trống vắng.

Anh Thạch còn là đồng hương nênkhi gặp nhau chúngtôi cũng thường nhắc lại một vài kỷ niệm ở quê nhà. Thời gian đầu anh cũng hỏi tôi về các truyện ngắn hay về sự hình thành tiểu thuyết“Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Được trải lòng với anh tôi thấy vui như đứa em chia sẻ vơi anh mình.Còn chị Náo chân thành nói mỗi khi mua QV về là “tìm bài của Elena đọc trước.Sao mà cô dâu Ý này viết văn với một tâm hồn Việt Nam?”

Anh Thạch ra đi trong mùa Covid nên tất cả các bạn chỉ có thể viếng tang online. Một buổi chiều buồn cuốitháng chínđêm trước ngày di quan chị Náo đã gọi video cho  tất cả bạn bè.. Nguyên Tâm, Nguyên Cẩn, Ban Mai, Tịnh Thy, Trúc Hạ .v.v…  để mọi người được anh từ biệt…Ai cũng nghẹn ngào không nói nên lời. Đứt ruột. Thương anh chị quá!

Mọi lời phân ưu đều cần thiết nhưng, đối với những mất mát quá lớn ấy chỉ có thời gian mới đủ sức xoa dịu. Tôi và Elena chỉ lặng nhìn chịvà nói bằng ánh mắt ngấn lệ.

Trước lúc ra đi anh còn hỏi chị Náo sinh nhật 10 năm Quán Văn ngày nào?

&

Mười năm!Từ một nhóm nhỏ chỉ vài người, cóngười chắc chắn là chỉ vài số báo rồi chết yểu như các nổ lực của các nhóm yêu văn trước đó, không ai ngờ là Quán Văn đến giờ có tuổi thọ 10 năm! Đã 83 số báo! Lời hứa sẽ cố gắng đến số 100 đã đi hơn 4/5 chặng đường. Nhưng niềm vui là tập san ngày càng mở rộng. Bạn văn, bạn đọc khắp nơi từ Nam ra Bắc, miền Trung miền Tây và vượt qua biên giới để đến Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Nhiều thế hệ yêu văn chương khắp mọi miền đã tìm đến nhau…Có những người đến, xẹt qua bầu trời văn học rồi đi nhưng cũng có nhiều người ở lại. Cùng các bạn trẻ, nhiều “cụ” tuổi trên 80 mà vẫn góp mặt, xem văn chương như niềm đam mê bất tận nhưng cũng có người không còn viết nữa, ghé vườn văn khoe dáng 1 chút rồi đi theo con đường khác, tuy thỉnh thoảng có đến, ghé mắt,bàng quan như cỡi ngựa xem hoa.

Nhưng những ai còn lại, tâm huyết, vô tư, hồn nhiên hết mình cho 1 tờ tạp chí khiêm tốn nhưng mang nặng tình người, chung tay vun đắp cho ngôi nhà văn chương mà không so đo toan tính cá nhân.

Mười năm, hơn 80 số báo. Thông điệp của QV vẫn đơn giản và không hề thay đổi, là cuộc đời ngắn lắm trong cáichu kỹ vũ trụ mênh mông,phận người chỉ là một bóng phù du, như con thiêu thân chưa chờ đến ngày mai thì đã hoá thành tro bụi. Tham làm gì. Ác làm gì. Cuộc đời sống mà biết yêu thương nhau không phải tốtđẹp hơn sao?

Trong những ngày này, nhìn những đoàn người tứ tán bỏ chạy trên những con đường từ Nam ra Bắc tôi chợt nhớ đến bài Con đường cái quan mà anh Thạch thường hát.Được nhạc sĩ Phạm Duy khởi soạn vào năm 1954 lúc đất nước vừa bị chia đôi bằng hiệp định Geneve. Tuy là người chối từ chính trị nhưng nhạc sĩ vẫn thường dùng văn nghệ để bày tỏ thái độ.Trường ca này được Phạm Duy hoàn tất phần đầu,như một sự phản kháng, khi đang du học tại Paris.

Nhưng nếu Con đường cái quan nói về một lữ khách đi trên con đường từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mau, đi trong lịch sử và lòng dân từ ngày lập quốc cho tới khi hoàn thành xứ sở, tới đâu cũng có tiếng dân chúng ca hát chúc tụng nối được lòng người,chiến thắng thiên nhiên… thì những ngày đại dịch từng đoàn người đã  rời bỏ Sài Gòn bất chấp mọi nguy cơ về giao thông, về những bất trắc gặp trên đường như bệnh hoạn, đẻ rớt, đột tử…Đường xa vạn dặm…và cuộc trở về căng thẳng trong bão bùng mưa gió vẫn không ngăn nổi sức mạnh của lòng tuyệt vọng, khi người dân không còn khả năng trụ lại.

Giấc mộngđổi đời đã làm bao người phải rời quê chen vào Sài Gòn kiếm sống, giờ đây Covid đã biến thành ác mộng.Trải chiếc khăn trên lề đường, vắt 2 tay sau gáy họ sẽ ngẫm nghĩ gì về cái nghèo, cái đói cái khổ sở trong cuộc đời cơ cực của mình? Về, sẽ làm gì và bao giờ quay lại?  Trong số hàng chục ngàn người về quê bằng xe máy có rất nhiều trẻ em. Và đây sẽ là những ký ức kinh hoàng khó quên trong đời chúng.

Tôi bỗng nhớ đến bức tranh“sự vô hình của nghèo đói!” của hoạ sĩ Kevin Lee:

Trong đại dịch Covid nhiều người đã ra đi. Nhưng nếu không có dịch thì xưa nay từ đế vương đến thảo dân, ngay cả chúng ta đang tay bắt mặt mừng hôm nay ai rồi cũng đến lúc phải rời cõi tạm. để lại trong lòng những ai còn sống những vết thương không bao giờ lành và nỗi tiếc thương không thể nàonguôi.

Vì thế khi ngồi chờ đại dịch đi qua…để có được  sự “bình thường mới” tâm trạng tôi rất giống nhà thơChu Trầm Nguyên Minh khi chờ “Năm mới” [1]:

Hãy đốt giùm anh nén hương

Gọi hồn những người đã khuất

Những người đã bỏ anh lại một mình

Với đời mồ côi lệ đắng

Với nỗi chua cay nát lòng…

Tiếng đàn thiết tha hay hùng tráng của Đoàn Đình Thạchgiờ đây tuy đã tắt nhưng  dáng dấp hiền hoà, giọng nói nhẹ nhàng và nụ cười ấm áp trong những lần họp mặt, trong những chuyến đi lên rừng, xuống biển  với QV vẫn còn đó trong tim mọi người.

Xin ghi lại những tiếng vọng từ các bạn Quán Văn, nói như Hoàng Kim Oanh,thắp một nén hương bái vọng gửi theo anh…như gửi chút yêu thương ấm áp của tình thân và niềm tưởng nhớ của bao người. Nó là tiếng vọng của yêu thương của tình bạn của đồng cảm và chia sẻ, của “Gia đình Quán Văn”.

-Đặng Châu Long: “Những bài ca anh hát là những bài hát tôi vẫn nghêu ngao từ Trường ca Con đường Cái Quan, Trường ca Mẹ Việt Nam đến những bài ca rời tình ca, du ca hào hùng một thuở…Chúng tôi sẽ luôn nhớ  về anh như luôn nhớ những bài ca anh hát. Lời hát đó không chìm mất trong vũ trụ bao la mà sẽ ngân vang mãi trong lòng những người bạn quý mến anh.

-Nguyên Cẩn “ Câu thơ này thay tiếng khóc tiễn đưa anh .

Anh đã đi mang tiếng hát lên trời

Cả tài hoa với một đời âm nhạc

Đêm qua mau anh chẳng nói nên lời

Chào từ biệt thân tình trong cuộc sống

Trong gió khuya nghe lá rụng sau vườn

Anh uống cạn chén tình vui trần thế

Mai vắng anh trong những cuộc sum vầy

Cung cầm gẫy tiếng đàn đêm vẫn vọng

Những chuyến đi bao thương nhớ vơi đầy

– Lưu Hồng Diễm, chủ nhân chiếc du thuyền King Yacht, nơi cuối cùng nhóm Quán Văn gặp mặt cùng anh chị: “Chú Thạch ơi!!! Con còn chưa được hát nữa mà!!!! Con đang khóc đây! Thế là từ nay vĩnh viễn con không còn được chú đàn cho hát nữa rồi! Vĩnh biệt chú.”

-Hoài Huyền Thanh:Tiếng đàn tiếng hát đâu đó vẫn nhặt khoan

“đồi núi cao nghe gió vi vu” trên đường ta đi tới

trên dặm đường trường mai sau còn ai lĩnh xướng

Đường Cái Quan nhớ quá giọng hò khoan.    

-Nguyên Tâm:…          Tiếng đàn

giờ đã tắt rồi

Buồn vui gửi lại,

luân hồi… biệt ly

Ôm đàn, về cõi xa xôi

Anh đi thanh thản. Phai phôi kiếp người!

Tiễn anh về cõi nghìn trùng.

-Nguyễn Thị Tịnh Thy, từ thành phố Huế :  “Tôi đã từng chảy nước mắt khi nhạc sĩ Đoàn Đình Thạch ôm cây đàn ghi ta và cất lời lĩnh xướng những bài Tình ca, Con đường cái quan của Phạm Duy. Mấy chục anh chị em của tạp chí Quán Văn già có trẻ có hoà cùng giọng anh. Chúng tôi không phải nhả từng chữ, mà đang nuốt từng lời, đang uống từng hơi hồn thiêng sông núi, để tim mình đầy lên, căng trào và bật ra không chỉ là tiếng hát mà còn là tiếng khóc yêu thương, tiếng nghẹn ngào có giai điệu của hạnh phúc”.

– Và Hoàng Kim Oanh nghẹn ngào chuyển cho các bạn lời cuối: “ChịNáo đưa máy. Bảo bật camera. Anh cừời nhẹ: “Chào cô Oanh” và “Chúc cô cùng gia đình bình an mạnh khỏe! Mọi người mạnh khỏe nghe. Tôi mệt!”

Có lẽ còn nhiều, nhiều nữa…

Và chắc chắn rồi đây, mỗi khinghe tiếng hát.. của những lần sinh hoạt QV thì hồi ức về anh không thể phai mờ,  vì tiếng ngân của nó còn đọng lai trong lòng những ai yêu thương anh sẽ vọng lại không nguôi.

Milano 15.10.2021

Năm Covid thứ hai


[1]NĂM MỚI- Phan Ni Tấn phổ nhạc. http://www.art2all.net/tho/chutramnguyenminh/nammoi_phannitan.html

Chia hai tình ở Đồng Nai

Trần Dzạ Lữ

Tranh “Đôi bạn” của Nguyễn Tường Lân. 

CHIA HAI TÌNH Ở ĐỒNG NAI

.

Giờ thì giãn cách chia hai

Nhà Bè thương nhớ Đồng Nai, chẳng về !

Những khu công nghiệp mê mê

Cơn lốc đại dịch, tứ bề hoang mang…

.

Hai tay níu giữ địa đàng

Cũng đành bất lực buông vàng, thả thau

Anh đây, mà em nơi đâu?

Cầm bằng hôn ảo mà đau đáu tình

ĐỊNH QUÁN

.

Nghe ra Định Quán bây giờ

Bất an cuộc sống từng giờ tử sinh

Mùa thu thắt cổ thình lình

Em tôi bỏ chiếc áo xanh vào buồn…

.

GIA KIỆM

Em không đi lễ nhà thờ

Mấy nay, dịch bệnh cứ ngờ vực qua…

Ở nhà với mẹ cùng cha

Cầu ơn Chúa, sớm bước qua não nề

Ở LONG KHÁNH

Tưởng đâu giũ áo phong trần

Về nơi yên tịnh để lần khân vui

Ai ngờ ám khí tới nơi

Lại đau cùng cốc, ngó trời buồn tênh

Ở ĐÂY MÀ NHỚ SÀIGÒN

Ở đây mà nhớ SàiGòn

Mẹ nuôi vẫn cứ vuông, tròn trước sau…

Đâu ngờ lẩy bẩy chiêm bao

Phố đau phía trước, thị sầu phía sau…

XUYÊN MỘC

Vì xuyên nên mộc còn sầu

Rừng hoang gió hú, rợn màu thời gian

Vậy mà virus đan tâm

Trùng vây bốn phía biết phân định gì?

Trần Dzạ Lữ( Xuyên Mộc tháng 8.2021)

Thiên cơ bất khả lộ

Truyện ngắn của Nguyễn Trí

       Như hơi lé một xíu, cô bác nói, con nhỏ đó có con mắt lé kim trông duyên hết biết luôn. Như lại hơi móm móm, vụ này cũng duyên luôn. Thêm cái dáng ơi là mi nhon nên cả chục anh theo xin xách dép. Như chọn anh Dũng. Anh bô trai, tóc tai bồng bềnh và tướng tá rất là nghệ sĩ. Người vậy theo mình, mình không gật là ngu bà cố. Như nhẹ dạ non lòng nghe anh hứa cưới xong sẽ đi trăng mật ở Đà-nẵng cho Như biết cáp treo Bà-nà như thế nào. Vậy là Như cho. Được rồi Dũng đưa Thi, bạn thân của Như lên Sài gòn vi vũ vi vu. Bà nội cha thằng họ sở – Như chửi – sẽ có một ngày tao cho mày biết thế nào là lễ độ.

         Nói xong cô lên xe giường nằm cao cấp đi một hơi lên Miền Đông. Cái miền mà một bạn – cũng thân – của Như đang làm ăn. Nhỏ bạn tên Thanh. Sau một ngày ăn ngủ trong một phòng trọ hết sức là sang cả và lịch sự. Trọ mà triệu rưởi một tháng là quá xá sang. Thanh nói:

      – Ở với tao chia đôi nhà trọ điện nước. Một mình tao oải quá.

      – Ô kê.

        Sau đó Thanh dẫn Như đến Mat-xa thư giãn ra mắt bà chủ Hoàng Trinh. Ông tên Hoàng bà tên Trinh. Sau một lần nhìn lén bạn Thanh phục vụ khách mát xa qua tấm kính gắn ở cửa, Như rành nghề không cần học. Công việc cực kỳ đơn giản nên không có lương. Phục vụ viên hưởng tiền “bo” từ khách tùy vào cái gọi là “biết”thư giãn. Biết nhiều bo nhiều biết ít bo ít. Khách hầu hết là vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa, muốn được bo nhiều thì, tiếp viên nếu, không bảy không ba thì, ít nhất cũng một rưởi cái vụ vành ngoài vành trong.

       Trên đời này chả có cái chi, dù khó đến đâu mà thiên hạ làm được ta lại không. Như cũng vậy. Thanh làm được Như làm được. Với lại yêu đương với Dũng, gì chứ, vụ xoa bóp tay chân lưng cổ Như rành. Đấp bóp hả? Dễ ẹc. Với lại khách đến để thư giãn là chính chứ chân yếu tay mềm tẩm quất ra cái ôn chi. Thư giãn là chi? Xin thưa là vào tai anh – sao cho – đêm qua rủ rỉ rù rì, tiếng nặng bằng bấc tiếng chì bằng bông. Phải êm như mơ và ngọt như mía lùi. Cho anh ôm một phát lâu lâu được không cưng? Anh sáu mươi ôm em mười tám tên Như lót chữ Quỳnh sướng chết mẹ thì vài trăm bạc nghĩa lý chi. Như đã mới keng xà beng ở mat-xa thư giãn Hoàng Trinh lại dịu dàng nên ai cũng “con Như nghe… Nó bận hả? Tui chờ”. Khách nói vậy với chủ Hoàng Trinh. Nên chi Như kiếm ngày vài triệu là nùi nụi cái sự chắc.

          Có một khách trẻ trung như cành hoa hồng và hồn nhiên ánh lửa tuần nào cũng đến Hoàng Trinh hai lần và yêu cầu Như phục vụ. Đấm lưng và vỗ đầu cho anh khỏe lắm bởi anh cạo trọc. Anh có vẻ mê Như. Anh ôm Như tha thiết lắm. Vụ ôm mà tha thiết Như rành bởi Dũng từng ôm cô rất chi thiết tha:

      – Anh ở đâu? – Như hỏi.

      – Ở xứ nầy luôn cưng.

       Đó rồi anh hỏi quê quán gia đình chồng con Như ra sao. Có sao Như nói vậy. Chuyện bị tình đá bổng đá bỏ Như kể luôn. Rồi Như thút thít thiệt ơi là thiệt. Ba cái vụ nước mắt này là Thanh dạy cho Như. Dạy rằng:

       – Nước mắt đóng đinh vào tâm bọn háu gái tơ lắm mày ơi. Nhứt là bọn có tuổi. Ở nhà chúng chán con vợ già đã dơ còn hôi nên mày chớ có ngu mà nói tục với bọn nó nghe.

         Anh đầu trọc trẻ nhưng cũng bị nước mắt Như đóng đinh. Có lần anh cho Như cả triệu. Ngon ơi là ngon.

        Làm ăn được nên rằm nào, mồng một nào Thanh và Như cũng đi chùa để cầu xin ơn trên phù hộ. Phải vậy chớ. Chả phải trên trần gian ô trọc lóc nầy cái gì cũng được tối cao thiêng liêng xếp đặt cả đấy sao – và – dân gian có câu có khấn có thiêng có kiêng có lành. Lại rằng “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng…” vậy nên ngoại trừ bỏ tiền vào mấy cái thùng công đức trong chùa, Thanh và Như còn mua chim mua cá phóng sanh. Cho ăn mày là đương nhiên thì quý vị sư ông, sư cô trong áo vàng đi khất thực lại càng đương nhiên gấp bốn lần.

        Một hôm nọ:

      – Tao nhớ ông sư này quen quen. – Nhìn một khất thực Như nói.

      – Có cha trọc đầu nào yêu cầu mày phục vụ thư giãn hem mà nhớ? Vụ thư giãn nầy thập loại chúng sanh có hết à nha.

        Sỡ dĩ Như nói quen quen là bởi khi thư giãn, đèn trong phòngrất là mờ mờ. Phục vụ và khách một lần đến xem như khỏi biết. Nhưng ba bốn dăm bảy lần thì không nhớ mà được sao. Đi qua được mấy bước Như gọi:

        – Anh Hùng… – Hùng là tên của anh đầu trọc.

        Như chăm chú quan sát và cô biết. Trăm phần trăm khất thực áo vàng là Hùng bởi y thoáng giật mình. Thiệt là tình. Thanh nói thập loại có đủ trong matxa thư giãn sao mà đúng quá. Và ngay lúc ấy Như mong gặp khách chơi đầu trọc tên Hùng xiết bao. Gặp để làm chi chả cần biết nhưng cứ gặp cái đã.

            Chủ nhật ấy anh trọc đến.

                                                                   ***

Nhưng Hùng Trọc phải chờ Như những tiếng đồng hồ mới gặp được nường. Ai từng matxa thư giãn chắc biết quy luật cho một lần xông hơi, sau đó là đá hay chân cho cái gọi là mát miết nầy. Một tiếng một phi vụ và quá giờ là phải chi thêm tiền. Giả dụ tiếng đầu một trăm bốp thì tiếng sau thêm năm chục.Với dân chơi thì ngoài trăm bạc cho một lần cũng chả là nghĩa địa gì. Nhưng chờ đợi tình nương thì chả ông nội nào không“Gớm sao mà nhớ thế…” và, đừng hòng được bập phà thuốc lá như trong thơ Hồ Dzếnh đâu mà ham. Máy lạnh mà hút thuốc cho chết vì ô nhiễm à? Được một anh giai chờ cả tiếng thì người đẹp hành “nghiệp” nầy ngón nghề phải dữ lắm. Nhưng, dân chơi bảo rằng thư giãn thì chỉ là thư giãn mà thôi, còn muốn cạn tàu hay cạn tình – a lê hấp – anh chị đi nơi khác sau khi ngã giá. Ta bà mới hỏi rằng thư giãn chỉ là thư giãn mà thôi là cái nghĩa lý gì? Nghĩa là – dân chơi trả lời – phục vụ viên chỉ được đứng xoa bóp cho khách chứ không được nằm.

        Cảm cái tình chàng trọc đầu đã chờ mình cả tiếng đồng hồ, Quỳnh Như bèn xoa cái đầu trọc của anh mà rằng:

  • Cám ơn con lừa trọc của em.

    Hùng rất khoái ba từ con lừa trọc. Chàng hỏi nàng:

  • Em moi đâu ra ba từ nầy vậy?
  • Hì hì hì…  trongphim Thủy Hử đó anh? Ba từ nầy là trại chủ Đặng Long gọi Lỗ Trí Thâm đó.
  • Vậy ha… anh đâu biết…
  • Em hỏi thiệt anh nghe.
  • Hỏi đi?
  • Bộ anh tu hả?
  • Trước có nay hết rồi.
  • Hết sao vẫn còn bình bát áo vàng đi ăn xin.
  • Anh hành nghề khất thực chứ không phải ăn xin.
  • Là sao? Có gì khác nhau đâu?
  • Khác chứ. Khất thực không xin. Ai cho thì bỏ vào bình bát chứ không xin.

         Quỳnh Như gật gật đầu… à ra thế, ra là thế… rồi cô cười khắc khắc khắc:

  • Trước anh tu ở đâu mà sao phải tu?
  • Nhà anh nghèo em út đông nên, năm tám tuổi lại là con riêng, ở không được vơi ông dượng nên má gửi anh vô tịnh xá gọi là tu tập nhưng thực ra để bớt miệng ăn thôi cưng.
  • Nhưng sao không tu nữa?

Trầm ngâm một lát con lừa trọc thú thiệt:

  • Ở tịnh xá lúc mới vào, ban ngày anh theo mấy sư ông đi khất thực. Đêm về thì tụng niệm, bốn giờ sáng là công phu khuya… mệt mỏi lắm em.
  • Tôi nghiệp con lừa trọc của em. Rồi sao nữa?
  • Để kể cho nghe… đêm đó mệt quá anh ngủ luôn trên chánh điện. Chừng hai giờ sáng giật mình tỉnh giấc thì thấy một sư ông đang chôm tiền.
  • Chôm? Tiền đâu mà chôm?
  • Trong thùng công đức chớ đâu.
  • Sao chôm được?
  • Sư ông dùng một thanh tre thiệt mõng, mõng như lá lúa vậy đó. Một đầu que  sư ông dán băng keo hai mặt rồi thọc vào thùng. Vậy là giấy bạc cứ thế vô túi. Em hiểu rồi chớ?
  • Ghê thiệt há anh? Rồi anh bắt chước và bị bắt đúng không?
  • Ừ… sau đó anh rời tịnh xá tiếp tục nghề khất thực. Nghề này ngó vậy mà nhiều tiền lắm nghe cưng. Có ngày kiếm trên triệu luôn đó.
  • Nhưng mà mưa gió thì làm sao hả cưng?
  • Anh là thợ tụng chính cho trại hàng X.
  • Thợ tụng là sao?
  • Người chết Công Giáo thì thôi chứPhật Giáo hay thờ cúng ông bà ai cũng mong linh hồn hồn ngươi chết siêu thoát nên cần thợ tụng lắm cưng. Làm nghề tụng phải sành kinh kệ là một, biết tụng là hai. Anh ở tịnh xá cả chục năm nên sành hơn cả điệu.
  • Con lừa trọc của em giỏi ghê. Tụng vậy một ngày được bao nhiêu hả anh?
  • Không tụng ngày mà tụng họ. Mỗi họ ba ngày hai đêm. Sáng trưa chiều tối mỗi buổi tụng một thời kinh Địa Tạng. Giá mỗi họ vào thời điểm nầy là một triệu rưởi. Anh một triệu còn trại hàng năm trăm.
  • Vậy suy ra mỗi ngày chỉ ba trăm?
  • Có ngày anh tụng hai đám, cá biệt ba đám luôn đó cưng. Nhứt là mùa mưa mấy ông già bà cả tha hồ cưỡi hạc về trời. Thợ tụng có giá lắm.
  • Vậy không khi nào anh hết việc?
  • Cũng có… nhưng mà chủ trại hàng có chiêu thức của họ.
  • Là sao hả con lừa trọc?

   Ba từ con lừa trọc tuôn ra từ miệng hoa nghe ngọt như mía Thanh Diệu đem lùi nên anh trai lại khai:

  • Em biết nghề ngủ thuê không?
  • Không. Là sao?
  • Ngủ thuê là khi trại hàng ế ẩm họ thuê người đến ngủ trong hòm.
  • Bà mẹ ơi… nghề chi nghe ớn vậy cưng?
  • Vậy chứ ngon tiền hơn anh luôn có đó cưng. Một đêm triệu bạc luôn đó. Nhưng mà cũng có điều kiện đi kèm.
  • Điều kiện gì?
  • Phải là con gái chưa chồng.
  • Là còn zin đó hả? Thời này kiếm đâu cho ra hả con lừa trọc?
  • Zin hay không chả biết miễn chưa chồng và trang điểm cho thiệt đẹp. Ngủ một giấc sáng ra là ẳm một triệu ngon ơ.
  • Ớn thiệt há? Đàn bà con gái ngủ trong hòm là gan cùng mình.
  • Cái gì rồi cũng quen hết cưng.

   Chuyện cứ thế mà tới nên hết giờ âu cũng phải. Khi con lừa trọc nằm yên cho Quỳnh Như tẩm quất đã qua giờ kế tiếp. Tiền đối với lừa trọc chả là cái đinh gì nhưng, ôm gái matxa và tâm sự lâu vậy là hơn cả thích đúng không thưa cô bác? Lúc cao điểm anh trọc ôm Như chặt khừ mà rằng:

  • Anh yêu em lắm Như ơi.
  • Thiệt hem?
  • Thiệt. Anh yêu em thiệt mờ…
  • Vậy ha? Vậy lấy em làm vợ đi.
  • Em nói thiệt nghe. Làm vợ anh nghe.
  • Thiệt mà… làm cái nghề như em chán lắm. Khách xem ngữ em như món hàng phá phách cho vui chứ chả ra ôn gì. Dẫn em về nhà đi anh. Em làm vợ hiền nấu cơm giặt đồ cho anh.
  • Anh chưa có nhà. Em ở phòng trọ được không?

     Nơi Như ở hiện tại tuy trọ nhưng không hề là trọ. Đó là phòng mà chủ matxa  dành chokẻ làm ra tiền cho họ. Một thiếu gia muốn đáp tại trận thì giá cả phải cao ngất trời xanh lơ, nên phòng phải sang cả như khách sạn ba sao. Có máy lạnh, giường đệm Kimdan, bàn trang điểm cao cấp… ngon vậy mới giữ được phục vụ bởi, chỉ cần làm rau xanh là quý vị đại gia bụng bự thuê nhà có sân có vườn cho Như liền. Như đi nhà trọ ư? Ngu chắc.

       Nhưng con lừa trọc tha thiết rằng anh yêu em anh yêu em lắm lắm… hôm nay ta chui rúc trong chật hẹp và hổ lốn tả pí lù của trọ nhưng mai sẽ khác đi nêu ta quyết. Em nghĩ đúng không? Như nghĩ đi nghĩ lại thấy vậy mà đúng. Nghề của cô lấy thần Bạch My làm tiên sư khách nó xem như đồ chơi nay có ngươi yêu mình vì mình chả thích lăm ru? Như mới báo với ông bà chủ về quê một tuần. Ông bà chủ rằng một tuan thôi nha gái. Lâu quá là không được à? Như theo con lừa trọc về chỗ trọ của anh và đúng một tuần cô quay về vơi matxa thư giãn Hoàng Trinh như đã hẹn.

       Mẹ cha ơi… đâu có muốn là được như ai đó dạy. Trọ của trọc đầu khất thực không bèo bọt hai mươi mét vuông với cái gác lửng mươi vuông mà diện tích cả nền cả sàn là năm chục, bếp và toi-let riêng. Làm có tiền ngu sao ở chật. Hai ngươi một phong Như chịu liền – kẹt cái – phong của cô và con lừa trọc kề bên phòng của những bốn anh trai. Bốn anh nhìn Như ngờ ngợ. Như cũng ngờ ngợ… à… Như đã nói ở trên là ở matxa thư gián Hoàng Trinh ngày như kiếm hai triệu là như bỡn, trong khi đó một xuất khách bo cho Như ba trăm. Vậy một ngày Như đấm lưng và để cho khách ôm mà ngấu véo ít từ dăm đến bảy anh. Các anh đều tha phương làm đủ thức ngành nghề kiêm sống. Độc đinh độc bộ các anh ghe thư giãn tẩy trần là tất yếu. Nhìn Như các anh ngờ ngợ cũng là tất yêu luôn.

      Và… than ôi mới thiệt là than ôi… khi Như đem chứng minh thư đến để khai báo thì cô không ngờ hay ngợ nữa mà dại gia nhà trọ nầy đã từng ngủ vơi cô trongw phòng đặc biệt ở Hoàng Trinh. Vậy nên cô lui về nơi cư ngụ cũ âu cũng là phải quá. Như biêt rằng minh không thể sinh con đẻ cháu làm mẹ làm bà như con lừa trọc của cô mơ ước. Và, một giả sư khất thực thì tương lai chỉ có ma chứ làm chi có Phật trong cái bình bát. Mà Phật là gì để làm chi Như nào có biết.

       Cô bỏ sim điện thoại đang xài. Con lừa trọcgọi mãi mà cứ ò í e thuê bao quý khách…. nên thân chinhđến Hoàng Trinh thư giãn và yêu cầu Như phục vụ. Quản lý bảo cô ấy không còn làm ở đây. Hùng buồn. Buồn lắm. Như – may quá –chả yêu thương chi con lừa trọc nên chả chi phiền não. Cô quên Hùng cái vù như quên bao gã trai khác từ thư giãn đến tình một đêm. Một ngày rất lâu sau cái ngày Như rời phòng trọ mà Hùng trú ngụ -nghĩa là đủ để – con lừa trọc quên cô luôn rồi, Như và bạn Thanh- người đưa cô vào nghề mát-xa- ngoạn du đến một ngoi chùa. Chùa có tên rất lạ là Linh Quy Xà. Chùa thờ ông Chơn Võ đâị tiên. Tích rằng ông Chơn Võ thu phục hai con yêu một rùa một một rắn. Chàu mà thờ rắn ràu ăt là lạ hơn thờ tien phạt thánh thần nên hai cô xin váo gặp trụ trì.

      Một đạo sĩ tay cầm phất trần xú quẻ bằng mu rùa rồi phán:

  • Mỗi người một nghiệp khác nhau…
  • Nghiệp là sao hả thầy?
  • Là cái duyên từ tiền kiếp. Cai nhân tốt hay xấu ta đã tạo ra từ trước trả không hết nên lấn sang kiếp này.
  • Có nghề là sao hả thầy?
  • Nghề là vinh là nhục là giàu là nghèo. Thành công thì vinh thất bại là nhục. Vậy đấy. Con làm nghề gì?
  • Thầy biết matxa thư giãn không? Matxa là nghiệp hay nghề hả thầy?

  Thầy có vẻ rành:

  • Nghìn vàng khôn đổi được mình. Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?Đưa người cửa trước rước người cửa sau là nghiệp chứ không phải nghề. Muốn hóa giải phải buông bỏ và tu mới đặng.

   Nhớ tới còn lừa trọc Như lại hỏi:

  • Còn ôm bình bát khất thực là nghề hay nghiệp hả thầy?
  • Khất sĩ là những người tu hành con ạ.
  • Con không nó giới tăng lữ mà là những người đứng ở ngã ba ngã tư đèn đỏ hay trong chợ mặc áo vàng áo nâu tay ôm bình bát kiếm tiền…

   Đạo sĩ vung phất trần mà rằng:

  • Thiên cơ bất khả lộ.

                                                    Nguyễn Trí