Feeds:
Bài viết
Bình luận

Bi kịch vàng

                                                                    

    Truyện ngắn của Nguyễn Trí

.

     Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

       –  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

        Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

       Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

     Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

       Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

     Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

     Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:

  • May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

     Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:

  • May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

   Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

     Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.   

                                                                                    ***

    Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

     Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.  

     Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

       –  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

    Sau bữa tiệc cha tôi nói:

  • Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

    Nhưng Văn nói với tôi:

       –  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lảnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cái tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

       –  Nó nói gì?

        –  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?

  • Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
  • Ừ…

     Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật giáo. Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:

  • Lên chùa để tâm được tỉnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

         Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

     Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:

  • Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
  • Anh em cả mà. Có gì mà giận?
  • Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
  • Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.  

    Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:

  • Để chú động viên nó vào.

   Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:

  • Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.

   Và đời không đơn giản.

                                                                               ***

        Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:

  • Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.

     Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:

  • Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

       Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn. Mơ cái gì nhỉ? Tôi chắc trăm phần trăm rằng do miếng ăn mà ra cả. Người ta mơ về một thừa mứa vật chất ở xứ sở mà người thất nghiệp có nhà nước cung cấp cho cái ăn cái mặc. Và khẳng định rằng xứ ấy là thiên đường.  

     Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

     Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

     Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

      –  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

       –  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

     Văn cũng mày mi tau tớ:

       –   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

    Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

     Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.  

      Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:

  • Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

   Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

       Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

       May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

                                                                            ***  

      Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:

  • Ra sao rồi?
  • Nói chung là ổn.
  • Vợ con sao?
  • Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
  • Giờ muốn gì nữa không?
  • Muốn khi chết được chôn trên đất này.
  • Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
  • Tha phương nhớ nhà lắm.

   Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

  • Sao mà như nước với lửa vậy?

      –   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

    Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

      Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

      Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

    Nhưng.

    Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

                                                                       ***

     Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

     Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

    Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

    Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

                                                                                                    Nguyễn Trí

1 – thơ Nguyên Sa

Khi em đội nón

 Nguyễn Thị Ánh Huỳnh 

.

Em muốn nói với anh về chiếc nón vải

Chiếc nón mà lúc xa anh…em bỗng nhớ giữa chừng

Em đội nón

Đội những phút giây lặng lẽ

Đứng chờ trông khi anh vắng trên đường

.

Gương mặt em lúc đội nón giống tượng đất suông

Tối nửa bên y như nhật thực

Nhưng có chi tiết làm em rất thích

Biết cách trừ cho ít lại tháng năm

Ấy là tóc giấu đi vài sợi trắng

.

Phía xa ngoài nón

Là đường đi của thời gian

Là cánh cửa sổ trời mưa quên đóng

Những tối oi nồng những sáng mù sương

Là gian bếp thơm mùi hành tỏi

Ướp cả đời em gia vị linh hồn

.

Anh nhớ gì …chiếc nón hình vành khăn

Chắc cũng quên mất rồi …Sài Gòn mây vỗ sóng

Thì thôi, nếu đã phải không cùng nơi đứng

Xin anh hãy nhìn lên cao lúc rỗi rảnh

Có trời chung in dấu một vầng tròn…

NTAH

Những mảnh rời

Nguyễn Hoàng Anh Thư

1. Tư duy

Tư duy im lặng

nó thích bóng tối vì không nhìn thấy được những ngôi sao

mực tung vào nước lấp lánh thân tròn phóng đi, thoát khỏi ngàm cá dữ

2. Hơi nóng

Nắm chặt tay nhau để tận hưởng

hơi nóng đang nguội dần đi

chúng luồn vào những thớ thịt ở trái tim

3. Cánh đồng

Cánh đồng kể cho tôi nghe, mọi người đi đâu và làm gì

kể cả cái áo tơi đang dần rớt giữa cơn mưa nặng hạt

chúng không còn che được tiếng hò

4. Cầu nguyện

Buổi sáng thứ bảy, tiếng cầu nguyện đang trượt trên đường link, kịp về phía bên kia

đã là 8h32 phút tối

chúng vội vã đến nơi để dỗ giấc ngủ ngon

vẫn còn nghe hơi thở gấp

5. Thẩm phán

Khi tiếng khóc trẻ sơ sinh là một thẩm phán

con người im lặng lắng nghe

và sửa chữa tội lỗi trong đoạn đời còn lại

6. Mắt gỗ

Tiếng thở dài khoáy cửa se mòn sợi gió

khép kín nhìn nhau trong một cái mắt gỗ

vừa lìa đứt khỏi cội thông già

7. Điều vô vị

Vòng vòng, những vòng khoác lác, sống chết, chết sống

phồng lên phồng lên, rỗng tận ngõ trời

nổ tung cả lời thiên thạch

 8. Lữ khách

Lữ khách liệm mùa đông trong cái giá mùa hè

bần bật chạm bước chân đã cũ

hơn nửa mái đầu tìm vại nước ở sân sau

9. Cuộc đời

Bạn tôi khản tiếng

ru cuộc đời

còn lại nửa tấm thân ở trên nôi

10. Giọt mồ hôi

Nhốt mảnh đồng đang trôi giữa mùa nước xoáy

thò tay nhặt lại những giọt mồ hôi

thơm mùi lúa sữa

11. Thời gian

Thời gian triển lãm những nụ cười

sự lười biếng ghen tỵ

nó nằm xấu xí và hư hỏng như một cái nêm gỗ

12. Phố xương thủy tinh

Những con phố mắc chứng xương thủy tinh

chúng bị rút rỗng

những bước chân trầm tư và hiền lành

13. Lục bát

Vần lục bát khấp khểnh

khi chiếc lưỡi bị hụt vào trong

cất đi sự nuối tiếc trên đĩa mật

14. Dấu triện cầu cứu

Trong trang bìa quyển sách

dấu triện đỏ nhìn chúng tôi

cầu cứu

được gắn thẻ giá nơi chữ cuối cùng

15. Những cái tên

Phụ âm nguyên âm đánh vần lắp ghép

những cái tên không có hình dạng con người

như những gương mặt chảy mù bên giờ cuối

 16. Cuộc mất tích

Câu chuyện buổi sáng

ẩn dụ trong một miếng bánh

ném bạn qua cửa sổ và chạy

muộn giờ làm và nghẹn ứ trên đường

ly cà phê bắt đầu điều tra một cuộc mất tích

17. Trên bàn cờ

Bệnh tật đang đánh cờ với thần chết

nó uống rượu

và nhìn những xilanh nó vừa thắng được từ phía bên kia

đang di chuyển trên hai ngón tay của của người khác

18. Vị sương mù

Tháng tám

những đứa trẻ ngửi vào chiếc mũi của mình

chỉ có vị sương mù

19. Những chiếc bánh Trung Thu

Trung Thu

thằng Cuội ngồi hấp bánh lá đa

mùi ca dao thơm ngát

những chiếc bánh rướm máu trăng vàng

20. Trò lắp ghép

Đứa trẻ ngồi tách số phận và ghép lại

như hình thù một chiếc giày

ước vô định như mây

21. Bài học của im lặng

Sự im lặng dạy tôi về mặt trăng và

sao, đám mây và sương mù

những bước chân vô trùng

và chiếc họng gió mồ côi

22. Sự chờ đợi

Bàn tay dài hơn, đôi mắt dài hơn, những bước chân dài hơn

trên nỗi ngóng chờ chiếc lá

đợi mùa thu vàng hứa hôn

23. Trên bàn tiệc

Bài thơ rơi giữa bàn tiệc

nghị luận về các hương vị của món ăn

kết luận: tất cả đều có vị ái tình

24. Sự hy sinh

Bài thơ khảo luận về sự hy sinh

về sự hành hình đàn kiến

những con mối ngấu nghiến những cái xác trắng phau

25. Điều mặc định

Bài thơ đang thuyết giảng về sự bất tử của linh hồn

trên chiếc hồ của ếch

có thanh củi làm vua*

26. Cầu khấn

Những con số thích chơi trò trốn tìm

chúng bật ngửa tấm bảng

núp và cầu khấn: lạy trời đừng xoay

27. Trò kéo co

Những con đường thích chơi trò kéo co

với bắp thịt của mưa nắng

song,

đừng bắt chúng chơi trò đấu trí với sự quanh co

28. Sự đơn giản

Cuộc đời nằm ngoài lời trích dẫn

trách cứ danh ngôn

rằng, suy nghĩ gai góc làm đau cái dạ dày

29. Cạnh huyền

Bạn muốn đi đường tắt?

cứ nhân đôi cạnh huyền

và xếp gập góc vuông chưa trải thành góc tù chật hẹp

30. Nuốt sương

Thử im lặng để nuốt những hạt sương

lắng nghe tuổi

gập hằn điều tiếc nuối về phía đuôi mắt

31. Thua cuộc

Buổi sáng, mớ lý thuyết đưa ra lời khuyên

đừng để con đường đi quá xa

nhưng sự thật là chỉ còn đôi chân mệt mỏi đã bị đánh bại

32. Ký ức

Muốn chơi trò đánh đố kí ức

trên những thanh củi lạnh ngắt

trên trời không còn một đốm sao để nhóm lửa những nỗi buồn

33. Đích cuối

Con đường thở hổn hển dưới đôi chân của vận động viên

không phải là đường chạy một trăm mét

những đám mây trôi về đích rã mòn

34. Niềm vui

Xoay tròn và lướt nghiêng như trò ném thia lia

những mảnh vỡ không chịu đâm sầm xuống nước

từng vòng sóng sánh trong mắt trước niềm vui vừa chực tan

35. Bịt mắt

Nếu bạn bịt mắt, sẽ thấy bài thơ ở vầng trăng

bạn sẽ hát, đến khi nhìn thấy vị sương mù trên chiếc mũi

bài thơ sẽ khóc

36. Mọt chữ

Những sinh vật lạ bu quanh một bài thơ

liếm láp vị ngọt trên đầu ngọn chữ

chảy ra từ chiếc lưỡi của mình

37. Niềm kiêu hãnh

Rất nhiều loài khỉ lạ, mặt đỏ bừng như gấc

chúng tự hào vì đã sở hữu cái đầu hói của mình

khi đã hái lượm thật nhiều quả chín từ cây

38. Bài học tiến hoá

Những con đường mùa mưa nói với chúng tôi rằng

hãy biết tiến hóa như loài cá lưỡng cư

những chiếc cầu treo thì nói: hãy biết điều kì diệu của loài thằn lằn bay

39. Tự do

Những con trai than khóc

chẳng phải vì tiếc ngọc

mà chúng đồng cảm với sự tự do của hạt cát

40. Thân sứa

Muốn thân là loài sứa

để tự do tan dưới nắng mặt trời

trong suốt với bình minh của nước

41. Khiếu nại

Chiếc lá vàng khiếu nại

dưới gót chân Achilles

chẳng nghe thấy tiếng mùa thu

42. Sự thất bại

Khi người đàn ông Việt thất bại

thường đổ lỗi cho rượu

nhưng không nếm được mùi của rượu vang

43. Tranh luận

Những trái chín phản đối sự chờ đợi

nhưng những trái non nói rằng

sự chờ đợi có thể lớn hơn khi bạn biết chọn lựa

44. Quy luật

Những trái táo bệnh tật

ép mình chết non

trên nỗi tiếc nuối của vị ngọt

45. Ánh sáng

Sự im lặng đang tỏa sáng trong ngọn nến vừa thắp lên những nỗi buồn

chúng đang mặc cả về sự im lặng của chuyến đi

46. Khiêu vũ dưới mưa

Muốn khiêu vũ chân trần trong vũng nước của mưa

bật ô lên, mưa sẽ khóc

mắt ngọc trôi giữa rêu xanh

47. Điều nuối tiếc

Về phía bên kia, sau lời ghi chú của hoàng hôn

có con thạch sùng chợt thức giấc

nuối tiếc giấc mơ về loài rồng lửa

48. Sự khởi hành

Nỗi buồn né tránh

nó im lặng

để khởi hành như mặt trăng [đôi lúc đỏ lên như mặt trăng máu]

49. Phơi ảnh

Một lần trời đẹp

tôi đem tấm ảnh ra phơi

và tha thứ cho sự hối tiếc

50. Password của con đường

Khi khớp gối rã sợi dây chằng

con đường đã quá xa

bạn sẽ nhớ những lần chần chừ thay đổi password

51. Tivi

Chủ nhật, màn hình quảng cáo, nhảy múa với các ngôi sao, thần tượng

con người bị bó trong những điều tào lao

tôi trượt trên TV và bỏ đi với quyển sách

52

Cây thông ngất ngưởng

cây thông hò reo

gió ghé qua nói rằng:

ngày mai có nhiều người muốn mua bộ tràng kỉ

53. Quyển sách

Nỗi nhớ biến thành sợi chỉ khâu từng trang sách

từng chương, từng chương

có những tờ xếp ngược

54. Đêm

Có những lối ra cho những tĩnh mạch bị tắc nghẽn

đêm

đặt ý nghĩ lên cái móc nhọn của chữ S

55. Bát cơm nghiêng

Chẳng thấy màu vàng trên xác lá mùa thu ấu tuổi

đôi mắt đục mù bên bờ suối

vun tròn những bát cơm nghiêng

56. Pháo hoa

Những khoảnh khắc phá vỡ mặt đất

từng chùm pháo hoa

rớt lặng giữa mắt đêm

57. Buổi sáng hoài nghi

Chúng tôi đi trên con đường của sự hoài nghi vào buổi sáng

có những giọt nước mắt chảy vào miệng của đám đông

và những hình ảnh quá sắc nét minh họa cho lời trích dẫn

58. Nỗi sợ

Hôm nay nỗi sợ hãi đã can đảm đứng dậy

viết lời cuối

cho những nốt nhạc bị mất tích sau cánh rừng thông

59. Trò phù thuỷ

Có những trò phù thủy trong những bức tường trống rỗng

màu vàng ngoài ô cửa sổ

đã dày đặc những bụi hoa mưa

60. Trái tim

Nó đã đau đớn cùng với tôi

trái tim nói với tôi khi đi bộ

trên con đường ngày xưa đầy bụi cỏ gai

 61. Chiếc cối xay

Quay vòng trong cái cối xay

chữ nghĩa rụng

còn lại trong khoang bụng lổn nhổn Tấm và Cám

62. Cá ngựa

Không phải thằn lằn

mà là cá ngựa vằn

đang tái tạo da trên gương mặt và những cái đuôi quẫy nhanh với nước

63. Đọc một bài thơ

Truy cập vào chiếc ô

mưa

nhỏ giọt điều hiển thị

64. Sự kiên định

Chiêm ngưỡng hoàng hôn

nứt trong hạt gai đỏ

cố gắng chống lại những thay đổi trên đường đi

65. Phía ngoài màu xám

Xa hơn, về phía đường chân trời

không có màu xám

cho điều thất bại hay chiến thắng

66. Lý do của tầm gửi

Khi cây tầm gửi tìm được lý do để sống

nó dính chặt

ngay cả khi nó đốt thanh củi đến khô

67. Sự bắt đầu

Không có lý do để bắt đầu mùa thu

từ chiếc lá vàng

bởi cuộc sống đã được viết trên gương mặt

68. Ngọn đèn đá

Ngọn đèn đá đã tắt

những bồ hóng, những rêu phong

những giọt hoàng hôn nhỏ ròng trong mắt

69. Sa lầy

Có gì đó nhầm lẫn ngoài kia

chiếc bóng đang đánh chìm dưới đầm lầy

vì mưa

70. Cú ngã

Đêm, người đàn ông chạy ra khỏi nước mắt

té ngã

số phận quay về hướng tốt hơn

71. Đường phố

Một ngày đường phố vỡ tan trong gương

nằm trong muôn mảnh

như một máy nhân bản

từng lằn nứt trong chiếc lá mùa thu

73. Điều hoài nghi

Khi sự hoài nghi lãng quên

cũng là lúc mùa thu bị đánh chìm

trước sự ngập ngừng nơi khung cửa

74. Thạch nhũ

Nếu di chuyển Phong Nha

thạch nhũ ngừng khóc

bởi không thể kết thúc thời gian của mình

75. Điều phiền muộn

Đặt một ít phiền muộn lên nụ cười, nó chạy

bỏ giỏ trong những đường mòn

ở mí mắt

 76. Sơn xanh chiếc lá

Người ta sơn chiếc lá

màu xanh

để từ chối mùa thu đi ngang qua cửa sổ

77. Đừng nghe đá khóc

Chạy, chạy đi

đừng nghe lệ rơi của đá

đào trong mặt đất nụ cười thỏa nguyện trên mi

78. Thêm một chút

Thêm chút nụ cười, thêm một chút hoa trên ngôi mộ

thêm một chút của tôi

chút điều tham lam trên đường đến

79. Đèn vàng

Chờ đợi thôi

lần lượt đi qua những ngọn đèn vàng

mưa chẳng kịp thong dong

80. Kinh cầu an

Bắt đầu lời giảng từ trăm năm

bức tranh trầm tư

chẳng chịu nhàu nỗi nhớ

81. Ngôn ngữ

Ngôn ngữ di chuyển vào lưỡi khi bạn nói

dừng lại suy nghĩ bên trong cuộc đua

rồi đóng băng trong vòm miệng

82. Những trái bí ngô

tiếng chân trẻ chạy, tiếng khóc bị trói

chiếc mặt nạ im bặt

vàng trong ngọn lửa bí ngô

83. Quyền lực

Halloween, màu gió đen

khỏa gương mặt cũ

lấp hằn quyền lực dưới những chiếc mặt nạ

84. Con bù nhìn

giữa cánh đồng nửa đêm, con bù nhìn bật lên tiếng nói

đó là những quả bí ngô, không phải là đầu lâu

và reo lên cười

85. Thần Kali

thế kỷ 21, thần KaLi vẫn không mặt quần áo

ăn bí ngô

có lẽ thần thiếu vitamin A và thử nếm vị bột mì thật lạ

86. Những chú lính chì

Một bản sao mới của sự sống

khi người ta muốn nhân bản

những chú lính chì biết đánh trận khi còn ở nhau thai

87. Sai lệch

Sự thật không đi thẳng

nó nghiêng một góc rất nhỏ

đủ để tất cả những đường song song

không bao giờ gặp nhau

88. Thử nghiệm

Người ta đem niềm tin

thả vào ống nghiệm

và ngạc nhiên khi thấy

nó sôi lên

89. Mặt phẳng

Lịch sử thích được viết trên mặt phẳng để che giấu

những vết lún

của máu đã khô

90. Chiếc dạ dày của những con lạc đà

Chiếc dạ dày của những con lạc đà

tiêu hóa cơn khát của cát

và những bước chân biến mất trong mắt gió

91. Ngôn ngữ trên khán đài

Những từ ngữ được lặp đi lặp lại

và nhổ ra

trên khán đài những dòng chữ chạy và biểu diễn

bên dưới những lời ngợi ca cửa miệng

 92. Sự lười biếng

Ở một nơi nào đó mưa

con ốc sên lười biếng

 bò ra khỏi cành cúc họa mi

93. Mùa đông và chiếc tất

Mùa đông chui vào chiếc tất

phát hiện

đêm ấm áp chỉ một bàn chân

94. Sự tưởng tượng

Tôi nhìn làn sóng cánh

nó bơi ếch trong không khí

khi chiếc cầu thang bị đánh cắp

95. Phóng thích

Có gì đó mắc kẹt khi nỗi ăn năn được phóng thích

chúng mọc dằm trong mắt

của lũ quạ đen

96. Nỗi buồn

Một loại nỗi buồn

như thể chào mừng khai sanh của tôi

như thể bóng tối đi theo từng bước chân mòn

97. Tập tin bất hạnh

Nơi tập tin đính kèm vào bất hạnh

đó là đôi khi bạn bỏ lỡ cái đánh lửa nhỏ

để nhìn piston quay

98. Tập quán

Chúng ta quen với việc

cúi xuống nhặt như xin lỗi đồ vật, sau khi làm rơi

nhưng hiếm khi cúi đầu trước con người

99. Lỗ thủng

Đạo đức có một lỗ thủng nhỏ

đủ cho quyền lực chui qua

và đủ hẹp để lương tâm không theo kịp

100. Đèn đỏ

Đèn đỏ đứng canh

những ý nghĩ vượt rào

con người thì luôn tin mình có lý do chính đáng

Tôi Còn Lại Bầu Trời

Trần Vấn Lệ

.

Những con chim bay về / trong ngày con nhớ Mẹ / chúng ở cho tới xế, chúng đã bay đâu rồi?

Tôi còn lại bầu tròi / tròn như là bầu rượu / bạn bè ở tứ xứ / biết cách nào hỏi thăm?

Mà đừng hỏi đừng han /  đừng nhớ nhung gì nữa / rượu rót ra để đó / nắng sẽ bốc hơi thôi!

Tất cả đều xa xôi / đầu trời và góc biển!  Tại mình hay lưu luyến / chẳng ai luyến lưu mình…

May ra thì thình lình / gặp nhau trên phố thị / chào cái như người Mỹ / bye bye và nice day…

Không ấm được bàn tay…chỉ chớp buồn con mắt!  Giọt mưa trên đỉnh tháp…Tháp Chàm của tôi ơi!

Bà Phù Thủy bật cười / một tràng đi, khanh khách / rồi níu tay cho chặt / rồi buông ra.  Buông ra…

*

Trời mênh mông bao la…Rượu tôi phà thơm ngát…Cái hôn dù phơn phớt…một chút đã ngày xưa!

Ngày xưa ôi giấc mơ…tỉnh ra ngờ với ngại…nghĩ gì cũng sai trái, nói gì cũng ở tù!

Biết bao nhiêu lá thư, chỉ dặn lòng cẩn thận, bà con mình khổ lắm / thư không dám cầm khoe…

Nỡ nào cầm xé đi / tình xa xôi mờ ảo…thời ca dao đổi áo…qua cầu gió đã bay!

Tối cắm mốc một ngày / bằng tiếng chim ríu rít.  Nhớ ai lắm khít rịt, hàm răng nhớ hoài thương…

Tại sao chim bay luôn, để vườn tôi cô quạnh?  Tại sao chiều là lạnh…cái lạnh lùng của mưa!

Phải chi nhớ vừa vừa / gió lặng lờ tà áo…Tình yêu nào cũng ảo…là tình em tình anh?

Không uổng công má!

Truyện ngắn Trần Bảo Định

.

Nắng quái thường xảy ra vào lúc chiều hôm. Chiều hôm trên cục đất “Khổng tước nguyên” thì lạ lắm! Cái lạ đó trải dọc theo bờ sông Tiền từ Đông sang Tây. Má cậu Hai Thoại(1) ngồi mạng lại tấm áo cho con trong bóng nắng sắp sụp mí chiều.

– Má ơi! Ngừng tay đi má, kẻo mờ mắt!

Tiếng nhắc má của cậu Hai mang trọn cả cái tình mẫu tử được nuôi dưỡng từ những lời ru của mẹ. Lúc theo chồng về mần dâu họ Đỗ, má Năm vừa bước qua tuổi mười lăm. Dòng họ Đỗ đâm chồi nhảy ba nhánh: Đỗ Trình, Đỗ Tường, Đỗ Kiến… đã chịu đời không thấu bọn cường hào ở quê nhà, nên đành gạt nước mắt bỏ xứ Quảng Ngãi dong buồm vô Nam. Nhánh Đỗ Tường, Đỗ Kiến men theo sông Vàm Cỏ Tây tới đất Thanh Phú thì trụ lại(2); còn nhánh Đỗ Trình rẽ ngả sông Rạch Tra bám đất Hòa Bình. Má cậu Hai dồn hết sức mình mưu sinh để nuôi dưỡng tương lai cho con. Cậu Hai trì chí “sôi kinh nấu sử”, tất cả cho kỳ thi khoa Quý Mão (1843) trường Hương Gia Định. Má Năm thuộc lớp người con nhà nho, được cha khai tâm từ nhỏ. Dẫu không “‘trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” thì cũng là người hiểu biết chút chữ “thánh hiền”.

Nhà văn Trần Bảo Định

Má Năm thường nói:

“Trong cõi trời đất, chẳng có chi tự nhiên nẩy sinh, Khổng tước nguyên cũng vậy. Đâu tự nhiên mà có con công, mà có cái gò để thiên hạ gọi Gò Công! Biết bao máu mắt, xương tàn cốt rụi của người đi trước khai hoang, lập điền mở cõi…”.

Cậu Hai học ở má Năm những điều đã chắc gì nơi “cửa Khổng sân Trình” giảng dạy.

Những buổi chiều tàn, lúc rảnh rỗi, má con hay quét lá vàng khô un chiều bằng những sợi khói. Nhìn những sợi khói bay về phương vô định, má nghĩ đời người đừng như sợi khói bay; phải định cái phương mình đang sống để đủ độ yêu thương mà sống chết với nó.

– Đất nổi mặt đất thì gọi gò, đất nổi mặt nước sông thì gọi cồn (cù lao). Trấn Định Tường có gò, có cồn… tất có đủ điều kiện và tư cách gìn giữ nguyên khí đất Nam Kỳ.

Lời má Năm nói chắc cứng, cậu Hai liên tưởng:

“Đầu nước Việt ở phía Bắc, với đôi mắt là hai rặng núi Đông Triều và Hoàng Liên Sơn nhìn xương sống Trường Sơn xòe như nan quạt chồm ra biển Đông, đuôi gối lên những móng chưn núi Chứa Chan, núi Mây Tầu(3) ở phía Đông; núi Bà Rá, núi Đồng Long, núi Bà Đen(4) ở phía Tây, trước khi đuôi bất thình lình dựng đứng tạo Thất Sơn… biểu tượng Rồng Việt!?”.

Rồi, cậu Hai hình dung cái nơi cậu sinh ra và lớn lên: “Sông Vàm Cỏ Tây phía Bắc, sông Tiền phía Nam, sông Bảo Định phía Tây, biển Đông phía Đông; thiệt đúng là chốn nguyên khí tụ. Mai nầy đất nước hữu sự, nơi nầy chắc là nơi khởi sự cứu nguy!”. Đôi lần thấy con chểnh mảng việc học, má rầy cậu Hai: – Má nuôi con ăn học không vì muốn con kiếm đôi ba chữ thánh hiền để làm người. Nếu phải học làm người, thì con học trường đời hà tất học trường Hương Gia Định!

Má dằn từng tiếng:

– Đã học, thì phải đỗ đạt! Năm rồi, Phú Kiết đã có cử nhơn(5). Năm nay, Yên Luông trông cậy vào con, đừng để bà con quê mình thất vọng!

Cậu chưa kịp thưa lời, má nói nhẹ nhàng:

– Vì việc học của con, má cực nhưng không khổ. Má chỉ khổ, khi con lười biếng việc học hành!

Qua mùa trăng thu năm sau, bà con thôn Yên Luông dù nghèo khó hay khá giả thảy đều ngưng việc đồng áng, cùng nhau ăn mừng cậu Hai vừa đỗ đạt(6) và hôm đó, ngay cả tổng Khởi, tổng Hòa Bình cũng có mặt từ sáng sớm để nghinh đón tân khoa!

Mười sáu năm sau! Cậu Hai thôn Yên Luông ngày xưa, giờ đã là tri huyện Tân Hòa, xứ sở nơi ông cất tiếng khóc chào đời.

– Lạy má! Con trẻ không giữ tròn đạo trung với vua…

Huyện Thoại quỳ lạy mẹ.

Gió Gò Công thổi rạp thân dừa nước, xé lá tưa cành.

– Con là tri huyện, khác gì “phụ mẫu dân”. Cướp vô nhà, há lẽ phụ mẫu bó gối ngồi nhìn bọn cướp? Huống hồ, lũ giặc Tây dương xâm lấn bờ cõi Nam Kỳ, đánh chiếm thành Gia Định; quan quân án binh bất động chờ lịnh triều đình?

Má ngưng nói, ngắt thêm thuốc xỉa.

Ngoài bìa rừng dừa, gió mỗi lúc một mạnh và hình như, trời sắp nổi cơn thịnh nộ bão giông.

– Đánh là nghịch ý chỉ vua. Thà nghịch ý chỉ vua, vẫn hơn “thúc thủ quy hàng” để lũ giặc ngông cuồng sát hại dân, tàn phá làng mạc!

Tiếng Sáu Sanh(7) rõ mồn một ngoài hàng ba hiên nhà.

Từ lúc chồng vắn số, người quen Sáu Sanh chuyển cách xưng hô: gọi cô thay gọi bà.

– Chết! Chết! Cô Sáu quá bước ghé chơi, má con tôi không kịp đón tiếp chu đáo. Thiệt thất lễ… thất lễ!

– Người nhà cả, thím Năm nói quá!

Cô Sáu nói gần như muốn giải tỏa cái đạo trung quân của Nho gia đang chế ngự đầu óc kẻ sĩ:

– Trước đây, “trung quân ái quốc” nhưng tình thế bây giờ “ái quốc thương dân”. Nếu mất nước, mất dân thì vua còn đâu “sơn hà xã tắc” để mần vua?

Má con Huyện Thoại chưa kịp rót nước mời khách. Cô Sáu nói luôn:

– Việc vua bãi chức tri huyện của cậu Hai đã thể hiện sự bất lực của vua, cái lúng túng như gà mắc tóc trước kẻ thù xâm lược của triều đình. Quản Định (8) nói: “Huyện Thoại là trang tuấn kiệt thời loạn đất Tân Hòa. Dám làm và làm đúng theo tiếng gọi của lương tri “cứu dân, cứu nước trước khi trung với vua!”. Tui tới đây là để trao thơ của Trương Quản cơ gởi cậu Hai.

Huyện Thoại tiếp thơ, lật đật mở:

“… Đã hèn thì phải hạ mình, đã nhát thì cái gan hư hỏng. Người xưa nói hèn nhát là vậy! Ta hoàn toàn tin huyện quan là đấng trượng phu, bậc anh hùng sẵn sàng cứu dân cứu nước. Hẹn nhau ở đất Gia Thuận…”.

Hình như, ngoài bến nước sông Tra có tiếng quốc kêu gọi bạn!

Hai.

– Ông bà gọi thảo điền, là có ý chỉ vùng đất trũng nhiều bàng sậy, ngập bùn sình nằm giữa các giồng đất. Tháng nắng, đất khô nứt nẻ; tháng mưa, đất lầy lội. Nếu không là nông dân bổn địa thì không thể có kinh nghiệm cày trâu vỡ đất…

Cô Sáu bàn bạc việc quân với Huyện Thoại mà nghe như chừng chẳng hề đá động gì tới việc quân.

Lúc nầy, Trung tá Desvaux chỉ huy quân thủy bộ vào thành Mỹ Tho và cùng lúc đó, liên quân Pháp – Y Pha Nho (Tây Ban Nha) cũng đã đánh chiếm xong Gò Công(9) và chúng gấp rút lập đồn Gò Công.

Huyện Thoại trầm ngâm.

Cô Sáu nói tiếp:

– Đất lầy bã hèm, người ta dùng trâu đực cày đất vì trâu đực móng chưn cao khó mắc lầy. Trâu cái, móng chưn thấp ngắn dùng vào việc kéo rơm rạ sau ngày mùa… Người Gò Công có câu: “Đực trực đồng, cái trực dạ”. Hỏi ra, mới biết đó là câu thành ngữ của người đàng cựu dặn người đời sau, rằng: “Trai phá lũy đạp thành, gái lo hậu cần nuôi chí cả!”.

Cô Sáu ra về khá lâu, nhưng lời cô nói khiến đầu óc Huyện Thoại còn suy nghĩ lung lắm. Bên tách trà sen đậm đặc hương quê nhà, chuyện cũ hiện ra chầm chậm trong tâm trí của ông: Trần Thiện Chánh đậu cử nhơn trước ông một khoa(10) đã không màng tới chức tước và cũng không chờ lịnh triều đình, ông cùng Lê Huy mộ dân binh đánh phủ đầu quân xâm lược Pháp, ngay khi chúng vừa đặt chưn lên đất Gia Định…

Thấy sắc mặt con dàu dàu, má Năm biết tâm tư của con đang trong cơn chấn động. Má nói nhẹ nhàng:

– Con là người có học, là kẻ sĩ mà lại là kẻ sĩ khoa bảng; giống như cây mọc trong vườn thượng uyển. Chả lẽ, con của má, chẳng bằng loài cây mọc nơi bờ ruộng mương vườn?

Nghiêm sắc mặt, má nói tiếp:

– Người xưa thường khuyên: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”, có nghĩa buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật. Buông hay không buông dao đồ tể là quyền tự do lựa chọn của con, chớ không ai có quyền bắt con phải lựa chọn.

Rồi, má nhấn mạnh:

– Thương nước, thương dân thì đánh bọn xâm lược. Quay lưng với xứ sở, với đồng bào thì hàng quân xâm lược. Cái đó, tùy con!

Dường như thấy lời mình mạnh mẽ, má Năm khẽ nhắc:

– Lúc nầy, tại đây, nếu con chần chờ không dám hành động là có lỗi với bà con làng xóm, là có tội với liệt tổ liệt tông kiến họ Đỗ nhà ta!

Những lời khuyên nhủ của má, những việc đã và đang làm của cô Sáu, khiến Huyện Thoại thôi nản lòng vì bị vua bãi quan và thôi nản chí vì Đại đồn Chí Hòa thất thủ(11). Ông chủ động bắt mối liên lạc với các nghĩa sĩ trong vùng, nhứt là với ngài Phó Quản cơ Trương Định.

Trống cầm canh rớt sang canh khuya buồn sương phụ!

Sáu Sanh thao thức ngó lên bàn thờ chồng, rồi ngó xuống giường bên, ngắm nghía đứa con gái có khuôn mặt giống cha như đúc. Mắt Sáu ngân ngấn và có lẽ, lòng thầm trách chồng: “Sao mình nỡ đi vội để tui thui thủi một mình giữa cảnh nhà tan, nước mất”.

Từ hôm nhận được mật thơ của chị Hai(12) ngoài Huế gởi về, dặn rằng: “Phải… Phải… như vầy… như vầy… Việc nước là hệ trọng, tùy thời mà thủ tiết… Và, tập trung tiền của góp sức vào việc đánh đuổi kẻ thù chung!”, cô Sáu mất ăn mất ngủ, đứng ngồi không yên. Nhiều đêm, cô bồi hồi nhớ lại: Năm mười chín tuổi đi lấy chồng, hai mươi mốt năm sau chịu đời góa bụa. Vợ chồng duyên thắm tình nồng được chín mặt con, thì chỉ còn một đứa gái(13)… Giờ đây, “Trai vì nước quên thân, gái vì nước quên thủ tiết”, nhứt thời làm sao cô tránh khỏi băn khoăn nghĩ ngợi. Má cô thương chị Hai mồ côi mẹ nên dắt chị về nuôi từ nhỏ. Má cô dạy chị công, dung, ngôn, hạnh. Cha cô dạy chị chữ thánh hiền. Năm cô lên bốn, chị đã là mười bốn và rồi chị em xa nhau bởi chị theo cha ra Huế. Sau đó, chị được tiến cung và trở thành Gia phi Từ Dụ của vua Thiệu Trị. Bây giờ, chị là Thái hậu Từ Dụ…

Sáu Sanh xin chị Hai cho thời gian huỡn đãi, thủng thẳng sẽ thực thi chuyện bước đi bước nữa với Trương tướng quân. Còn giờ đây, việc cần kíp là hỗ trợ tiền bạc nuôi quân, khí tài chiến đấu cho Huyện Thoại đánh giặc ngay trên quê hương mình. Cô Sáu là người đàn bà giàu nứt vách đổ tường không những ở Gò Công mà kể cả toàn xứ Nam Kỳ Lục tỉnh. Nhưng, giàu nứt vách đổ tường mần chi, khi xứ sở đang sinh linh đồ thán! Cô Sáu thường trút nỗi lòng mình với Huyện Thoại như vậy!

Minh Mạng lấy vợ họ Hồ ở Thủ Đức, Thiệu Trị lấy vợ họ Phạm ở Gò Công(14). Cả hai đầu Nam-Bắc Gia Định đã cột ràng triều Nguyễn. Tự Đức nhớ quê ngoại cho đắp “con đường sứ”, nối giồng Sơn Quy lên Gia Định(15). Huyện Thoại âm thầm đi thực địa “con đường sứ” nhằm tính kế nghi binh. Đồng thời, cử Đội Lực dò ngả lộ me qua Cầu Huyện để tập kết quân. Ông cũng không quên cảnh giác tàu Pháp có thể từ Mỹ Tho xuống tiếp viện Gò Công, một khi đồn Gò Công bị nghĩa binh tấn công. Và, nếu vậy, tàu chiến của chúng chỉ có một thủy trình duy nhứt là theo sông Cửa Tiểu vô Vàm Giồng, đến vàm Vểnh Lợi rồi tiếp tới rạch Gò Công… Nghĩa binh của ông đủ sức ngăn chặn chúng!

Ba.

Lẽ thường, người phụ nữ sẽ mất họ tên, thứ bậc của riêng mình sau khi đi lấy chồng. Đằng nầy, cô Sáu không hẳn như vậy. Người quen biết cũ ở xứ Gò Công vẫn kêu Sáu Sanh là cô Sáu, chớ không kêu bà Bá hộ Bổn dù đã hai mươi năm sống cùng chồng. Cô Sáu ưa nói với người thân:

“Cái mạng còn chưa chắc đã giữ được, thì tiền của chắc gì mà giữ được. Nếu phải vì việc nghĩa, ta chẳng tiếc chi cái mạng”. Huyện Thoại hoàn toàn tin ở cô Sáu, người tạo mọi điều kiện cho nghĩa binh chuẩn bị tập kích quân Pháp vừa đặt chưn lên đất Gò Công. Tin mật báo cho hay, quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha sẽ chọn một trong ba ngả đường sông: Rạch Chanh, Kinh Trạm tức sông Bảo Định và sông Cửa Tiểu từ biển thọc vào để đánh chiếm Định Tường. Huyện Thoại cùng bộ tham mưu đánh giá tình hình: “Giặc không thể sử dụng Rạch Chanh vì rạch cạn, hoang vu sẽ cản trở tàu chiến. Chắc chắn giặc tập kết quân tại vàm Vũng Gù (Tân An), dùng pháo hạm phá vỡ các đập cản trên sông Bảo Định dù chúng phải trả giá thiệt đắt…”. Tuy vậy, Huyện Thoại vẫn quả quyết: “Giặc sẽ chơi trò ‘thanh Đông kích Tây’ trong tam thập lục kế của Tôn Tử”.

Rồi, ông liên tưởng tới chuyện Khổng Minh ra lịnh cho quân nổi lửa hẻm Hoa Dung, vốn tính đa nghi nên Tào Tháo cho rằng Lưu Bị dùng kế dương Đông kích Tây bèn chọn chính hẻm Hoa Dung đành sụp bẫy của quân Quan Vũ… Là người Nho học, lại là một cử nhơn đất Gia Định, thì cái bọn giặc Tây dương kia làm sao che nổi được mắt ông! Huyện Thoại mỉm cười… Ông tiên liệu và định việc:

– Đường tiến quân của giặc ở sông Bảo Định chỉ là diện, đường tiến quân của giặc từ hướng biển vô sông Cửa Tiểu mới là chính điểm. Thành Mỹ Tho sẽ hoảng loạn và thất thủ nhanh chóng bởi đường tiến quân nầy. Có khi, giặc chưa đánh mà tướng giữ thành đã bỏ chạy.

Hồi lâu, Huyện Thoại càu nhàu, cau có một mình: “Dẫu rằng biết vậy, nhưng với võ khí thô sơ làm sao đánh pháo hạm, tàu chiến giặc ngay “chính điểm Cửa Tiểu” để cứu thành Mỹ Tho?”. Đúng như dự đoán của Huyện Thoại, cả ba pháo hạm1 từ biển tiến vào Cửa Tiểu phá đập ngăn sông tại vàm Cửa Tiểu (Gò Công), vàm Kỳ Hôn (Chợ Gạo) và đồng thời, chúng đánh tan hai đồn binh giữ đập ngay trong buổi sáng, đến xế trưa cùng ngày, mũi quân đi đường biển vô Cửa Tiểu chiếm thành Mỹ Tho theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành”. Ba pháo hạm Fussées, Lily, Sham Rock do Chuẩn Đề đốc Page chỉ huy. Ngày 12.4.1861, khoảng 13 giờ 30 phút trưa, Chuẩn Đề đốc Page cùng đoàn quân vào thành Mỹ Tho không gặp phải một sự kháng cự nào từ phía quân triều đình. Trong lúc đó, mũi quân đi đường sông Bảo Định phải chịu tổn thất nặng và hai hôm sau, mới tới thành Mỹ Tho mang theo xác Trung tá Bourdais.

***

Gò Công thất thủ!

Dân tình nhốn nháo nhưng không bất ngờ, bởi họ hiểu “cái gì đến tất sẽ đến” sau khi Đại đồn Chí Hòa vỡ trận. Cô Sáu tìm gặp Huyện Thoại ngay trong đêm đầu tiên bọn xâm lược liên quân Pháp – Tây Ban Nha ngả lưng lên mặt đất Gò Công.

– Chậm gì thì chậm, nhưng không thể chậm hơn hai tháng nữa, khoảng Tết Đoan Ngọ… Thoại nầy sẽ ra tay!

Tiếng côn trùng kêu rả rích từng chập từng hồi ngoài ruộng, sau cơn mưa chiều ngập nước trắng đồng. Đêm vắng lặng và hy vọng. Thỉnh thoảng có tiếng súng nổ vu vơ của bọn lính viễn chinh, có lẽ nhớ nhà hoặc giả sợ ma nơi đất lạ!

– Cô Sáu yên tâm! Cô Sáu giúp ta và nghĩa quân theo đúng kế hoạch vừa vạch ra… Chỉ cần nhiêu đó là đủ!

Mặt trời đỏ ối buổi rạng đông!

Trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bổn xứ sự vụ Gò Công, đứng trên bờ thành đất, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ đôn đốc dân phu cắm cọc, dựng rào cặp theo mé hào sâu bảo vệ đồn.

Tháng nay, từ ngày bọn Tây chiếm đất, Tư Nhạn người em kết nghĩa ruột rà với cô Sáu, cầm đầu nhóm con gái xứ Tân Hòa lân la bọn Tây, phục vụ chúng những món ăn đặc sản của miền quê ngoại vua Tự Đức. Riết rồi quen dần và thân thiện. Vả lại, “gái nào đẹp cho bằng gái Gò Công” thì bọn lính viễn chinh làm sao “bình chưn như vại”!?

– Mời quan hai(16) ngưng tay, uống nước dừa xiêm, ăn mộng dừa của em, nè!

Viên Trung úy nghe “của em, nè!” kèm hai tiếng “mộng dừa” của Tư, đôi mắt sáng rỡ. Bởi, cả tháng nay, hắn quen ăn mộng dừa, một món ăn dân dã nơi vùng đất hắn chiếm đóng mà ở trời Âu, nơi quê nhà của hắn chưa từng nghe, nói chi thấy. Hắn đút tay vô túi quần, rút khăn mu-soa (mouchoir) lau mồ hôi lấm tấm trên cái bản mặt dài sọc, thoạt ngó giống như mặt ngựa. Dân phu xây đồn gọi hắn là “quan hai mặt ngựa” hoặc để kêu cho gọn, dân phu gọi “Tây mặt ngựa”. Hắn nhai ngấu nghiến một hơi hết sạch ba cái mộng dừa. Hình như, hắn “khoái chí tử” rằng, mộng dừa là mộng đẹp gì đó, thì phải!

Nhiều lần qua tên thông ngôn, Tư giải thích cho hắn hiểu cái mộng dừa mà hắn thèm ăn chết mê chết mệt!

– Trái dừa khô lên mầm, trổ cây. Thường do để ở kẹt nhà hoặc chỗ mấy cái lu nước ẩm ướt, sau thời gian ngắn, nó lên mộng nứt da. Mộng dừa chính là cái phần mầm nở bự trắng nõn nà phía trong trái dừa. Mộng dừa thoang thoảng hương thơm đồng quê, khi nhai nghe sực sực, xốp xốp… kích thích miệng và đỡ khát cổ họng.

Mọi diễn biến tiếp cận và vẽ họa đồ đồn Gò Công, Tư làm rất tốt.

Tháng Năm, theo con trăng, trời thường nắng sớm mưa chiều và đêm chưa nằm đã sáng. Huyện Thoại tính toán kỹ về thời gian, thích hợp với thiên văn để đánh vỗ mặt quân thù và nhổ đồn Gò Công.

Cô Sáu dặn dò Tư Nhạn kín đáo và khéo léo rắc bột thuốc tiêu chảy lên từng cái mộng dừa theo đúng dự kiến của kế hoạch Huyện Thoại.

Huyện Thoại không sử dụng lực lượng mấy trăm nghĩa binh đang tập kết, ém quân ở Lộ Me vì không thể đánh cường tập vào đồn Gò Công bằng võ khí thô sơ giáo mác, búa chày… chống võ khí tối tân súng đạn. Chờ thuốc tiêu chảy kích hoạt bụng dạ bọn Tây ăn mộng dừa, Huyện Thoại trực tiếp dẫn hai mươi dũng sĩ đất Gò Công xông thẳng vô đồn đánh cận chiến, giải quyết chiến trường nhanh, gọn trước lúc bình minh ló dạng.

Cơn mưa chiều tạnh từ rất lâu.

Trời trở đêm sang khuya, sương mù dày đặc!

Trung úy Trưởng đồn và đám lính chột bụng đi đại tiện liên tục khiến thân thể phờ phạc, mất sức. Thình lình, phía “con đường sứ” lửa cháy xé toạc màn đêm. Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đạp chướng ngại vật, mở toang cửa đồn tràn vào như cơn lốc sóng thần. Bọn lính Tây trở tay không kịp, thất kinh hồn vía chạy tán loạn.

Đêm tối mịt(17), chỉ thấy nhau qua ánh chớp ngoằn ngoèo của sấm sét nổ um trời. Huyện Thoại túm tóc Trung úy đâm mạnh một phát về hướng cổ họng, nó vùng mạnh, lưỡi mác xượt xéo bả vai. Nó rống lên tiếng rống như heo bị thọc huyết! Thế trận bắt đầu giằng co, tụi Tây lần hồi hoàn hồn và mỗi lúc sự bất lợi nghiêng hẳn về phía nghĩa binh. Huyện Thoại bị dính đạn trọng thương.

Bầu trời tỏ dần, từng cụm mây trắng tản ra, nhùng nhằng kéo dài như những dải khăn sô viền quanh mặt trời từ từ nhô lên khỏi mặt nước biển tụ màu đỏ ối, đỏ hơn máu!

Bốn.

Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đất Gò Công, không một ai còn sống sót để quay về!

Hôm đưa xác con về chôn cất ở đất nhà (18), má Năm cầm nắm đất buông xuống huyệt:

– Thoại ơi! Không uổng công má nuôi con ăn học thành người!

TRẦN BẢO ĐỊNH

_______________

  1. Đỗ Trình Thoại (1815(?)-22.6.1861) người thôn Yên Luông, tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường (nay là ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
  2. Nay là xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (xưa thuộc huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Phiên An và sau đó là tỉnh Gia Định).
  3. Núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy, nay là Hàm Tân).
  4. Núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Bà Đen (Tây Ninh).
  5. Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân) người thôn Phú Kiết (Định Tường), đỗ cử nhơn thứ 9 khoa Nhâm Dần, 1842.
  6. Đỗ Trình Thoại đỗ cử nhơn khoa Quý Mão (1843).
  7. Trần Thị Sanh (1820-1882) vợ thứ của Trương Định. Bà là con thứ sáu của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng (bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cô ruột bà Phạm Thị Hằng tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức). Như vậy, Thái hậu Từ Dụ với bà Trần Thị Sanh là chị em cô cậu ruột.
  8. Trương Định (1852) làm Phó Quản cơ đồn điền, và từ năm 1862, bà Trần Thị Sanh là nguồn hậu cần của nghĩa binh Trương Định cho tới ngày 20.8.1864, Trương Định hy sinh.
  9. Ngày 14.4.1961.
  10. Trần Thiện Chánh (1822-1874), người thôn Tân Thới Tây, tổng Long Tuy Thượng, huyện Bình Long, tỉnh Gia Định (nay là ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp.HCM). Ông đậu cử nhơn thứ tư, khoa Nhâm Dần (1842), đồng khoa với Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân).
  11. Ngày 25.2.1861.
  12. Bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị, tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức (15).
  13. Bà Trần Thị Sanh có đời chồng trước là Bá hộ Dương Tấn Bổn (mất năm 1860), sinh được chín người con (mất 8 còn 1 là gái tên Dương Thị Hương). Sau nầy, bà Hương lấy chồng là ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển (người đã giao Nam Kỳ lữ điếm cho ông Trần Chánh Chiếu làm trụ sở phong trào Minh Tân ở Mỹ Tho; đồng thời, cũng là người góp phần lo hậu sự khi cụ Phan Châu Trinh mãn phần lúc 21 giờ 30 phút ngày 24.3.1926) và tang lễ được cử hành tại Bá Huê lầu, 54 đường Pellerin, Sài Gòn (cơ sở của Huỳnh Đình Điển).
  14. Phạm Thị Hằng là con dâu bà Hồ Thị Hoa.
  15. Năm 1848, vua Tự Đức cho khởi công đắp “con đường sứ”, còn gọi “con đường Trạm” (sau nầy gọi đường cây dương hoặc lộ dương). Nay là Quốc lộ 50 (Tp.HCM đi thị xã Gò Công).
  16. Cách gọi theo số thứ tự cấp bực sĩ quan Pháp của dân gian (thiếu úy là quan một, trung úy là quan hai… tới đại tá là quan sáu).
  17. Tức đêm 21 rạng 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu).
  18. Mộ Đỗ Trình Thoại, hiện nay ở ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Giữ chút hương thầm

Đặng Phú Phong

.

Đói bạn. ba năm hoa vẫn đợi

Tách trà hâm nóng nghĩa hoa ngâu

Vắng bạn cafe sao nhàn nhạt

Vô thường nghĩ cũng một niềm đau

.

Phố vẫn đông mà ta đi vội

Tránh ánh nhìn quen một buổi nào

Không phải người kia thôi đứng đợi

Chỉ vì ta đã bước qua mau

.

Có lúc soi mình trong gương nước

Thấy tay buông sớm một nhành xuân

Chưa kịp gọi tên thành ly biệt

Đã nghe hiu hắt giữa phân vân

.

Thôi thì giữ lại phần chưa nói

Như giữ hương thầm đã nhạt phai

Không trách một ai, không tự hỏi

Chỉ buồn vừa đủ để còn ai

Quy Nhơn Ngày Trở Lại

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

( Viết tặng các bạn bè ngày xưa và các học trò cũ dấu yêu của tôi)

Quy nhơn ơi –

Tôi trở về lần nữa.

Đã bao năm …Hay chỉ mới hôm qua

Bước chân run- Lữ khách trở về nhà

Mưa trên lá- hay hồn ai đẫm lệ.

Quy nhơn ơi –

Bao con đường óng ả….

Ánh điện chói ngời…. nhớ bóng đèn xưa

Những đường ổ gà- ướt đẫm cơn mưa

Áo sũng nước-bàn tay run vuốt vội

Quy nhơn ơi-

Biển mang cơn sóng vội

Những thông xưa…E ấp bóng ngang mày

Nay trở về- bóng nắng đổ trên tay

Hàng thông cũ vươn cao…reo với gió

Quy nhơn ơi –

Nắng hôm nay đùa gió

Cháy bỏng thịt da- Không dịu mát như xưa

Tôi trở về…đi hoang giữa nắng trưa

Bao kỷ niệm ùa về…xôn xao niềm vui óng ả

Quy nhơn ơi –

Trời không mây …sao chở hạt mưa sa

Hay nước mắt nhạt nhòa …hòa nỗi nhớ

Chân bước vội những con đường bỡ ngỡ

Kỷ niệm còn … chân bước mỏi ruổi rong

Quy nhơn ơi

Luôn nhớ mãi trong lòng….

Những gió, những mây, trời cao xanh thẳm

Những lối ngày xưa nay bỗng như lạ lẫm

Những đường nào …nay đã bị thay tên???

Quy nhơn ơi-

Những bạn bè của tôi nay gặp lại

Ôi tiếng bạn cười…rạn vỡ, thân thương

Nắm tay nhau đi hết mấy đoạn đường

Thành phố cũ- luyến lưu lòng lữ khách.

Quy nhơn ơi-

Tôi sẽ về ôn lại…

Đoản khúc tình yêu- Chép giữa hư không

Tôi sẽ trở về khi gió rét trời đông

Gom hết gió…gom nắng vàng…hong khô bàn tay cóng.

Quy nhơn ơi-

Tôi mong về gặp lại

Những học trò ngày cũ mãi luyến thương

Cô trò tôi …qua biết mấy đọan trường

Nay gặp lại… mái đầu cùng chớm bạc

Quy nhơn ơi-

Tôi sẽ về ở lại

Vùng đất thân yêu , ngắm biển từng chiều…

Gặp lại trò xưa, khi bóng đổ liêu xiêu

Nhắc chuyện cũ sau bao niên xa cách

Quy Nhơn ơi-

Mùa Xuân này hay còn bao xuân nữa…

Kẻ tha phương…còn trở lại mái nhà xưa…

Atlanta January 10th 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Nguyễn Ngọc Hưng

.

Rét cuối đông như cứa vào da thịt

Ba lớp mền vẫn thon thót ngực run

Ôi trời đất trụi trần cây cỏ khóc

Đã không thương còn thổi bấc phun phùn.

.

Phùn dọc bấc ngang gác lầu cũng lạnh

Huống gì rạ rơm chiếc tổ treo cành

Con khô mỏ chờ mẹ bay ướt cánh

Buốt lưng ngày chiu chíp chíp chiu xanh.

.

Chíp bổng chiu trầm bụng sôi dạ réo

Ôm vỉa hè nguôi đói lạnh không em

Mùi thịt nướng bánh xèo thơm dậy mũi

Hít gió khan khan có đỡ khát thèm?

.

Thèm ngược khát xuôi không ngoài bếp lửa

Bên mẹ cha giòn rụm trẻ thơ cười

Lục sục bánh chưng reo nồi tỏa khói

Nheo mắt vàng mai héo bỗng xòe tươi…

.

Đôi héo ba tươi năm mười hối hả

Muôn ngả người trực chỉ một bến quê

Rét cuối đông dần lui theo hơi ấm

Những bàn tay nâng đỡ bước xuân về!

Từ giã mù sương.

Đặng Phú Phong

.

Cường gặp Quyên trong một buổi chiều muộn ở Đà Lạt, khi thành phố chìm trong lớp sương mỏng như một nhúm khói ai quên dập. Quyên đang ngồi một mình bên cửa sổ quán cà phê Tùng, tay vuốt nhẹ trang giấy nơi nàng vừa viết dở một bài thơ.

Nàng đội chiếc nón len màu tro, gương mặt đẹp kiểu đàn bà từng trải nhưng vẫn giữ nét thanh khiết như sương đêm. Ánh mắt nàng biết lắng lại, nhưng không bao giờ dừng — luôn như đang đi tìm một câu thơ vừa chạy mất.

Cường bị hút lấy từ khoảnh khắc ấy.

Anh hỏi, giọng đàng hoàng, không chút bởn cợt:

– Hình như cô đang làm thơ?

— Thơ viết tôi thì đúng hơn. — Quyên mỉm cười, hơi ngả đầu, giọng nhẹ như một thánh ca đứt quãng. Sự tự tin hiện rõ trên khuôn mặt lạnh.

Họ nói với nhau suốt hai giờ, như thể quen nhau rất lâu rồi. Cường không ngạc nhiên khi nghe nàng kể về cuộc đời cũ ở Sài Gòn:

Chủ một công ty quảng cáo thành công, những buổi họp dồn dập, những chiến dịch triệu đô… rồi một cuộc ly dị khiến tất cả như hóa khói.

— Em lên Đà Lạt vì mệt quá. — Quyên nhìn ra trời sương — Và vì em cần một nơi mà hạnh phúc không phải chứng minh.

— Còn hôn nhân?

— Em kết hôn vì thích cái không khí tịch mịch gần như… siêu hình của giáo đường. Vì anh ta có đạo. Tiếc là siêu hình thì đẹp, còn đời sống thì không phải thế.

Cường nhìn nàng, thấy một người đàn bà vừa mềm vừa thép — đẹp như ánh nến, nhưng cháy bằng thứ dầu của cô độc.

Chỉ một tháng sau, anh và nàng dọn về căn biệt thự nhỏ trên đường Hùng Vương — một ngôi nhà ngập thông, tường đá rêu phong, cửa sổ gỗ mở ra thung lũng.

Ban ngày, họ lang thang qua những quán cà phê có nhạc jazz cũ:

Tùng, Boho, Escape…

Quyên hay ngồi xoay muỗng cà phê và hỏi những câu tưởng đơn giản nhưng đâm rất sâu:

— Anh yêu phụ nữ hay yêu cái cảm giác được ở trong một cuộc tình?

— Cả hai. Em thì sao?

— Em yêu người nào chịu được bóng tối của em.

Cường cười, nhưng trong lòng hơi gai gai. Anh nhủ thầm – Bóng tối của em đặc quánh như hắc ín làm sao anh bước vào được.

Những tối Đà Lạt lạnh cắt, họ trở về biệt thự, đốt lò sưởi, đốt nến thơm mùi tuyết thông, nghe nhạc và uống rượu.

Họ nói chuyện văn học nghệ thuật

Anh lắng nghe nàng, đôi khi không hiểu hết, nhưng say mê chất lãng mạn lãng đãng của nàng.

— Hai đứa mình giống nhau ở điểm nguy hiểm nhất, — Quyên nói — ai cũng nghĩ mình hiểu đời và hiểu tình yêu hơn người còn lại.

Cường cười, không phản đối

Khoảng một năm sau, sự mâu thuẫn giống như những trận sương dày của thành phố này, không phải đến vì bão, mà đến âm thầm và mãnh liệt.

Một tối, trong lúc chỉnh lại giá vẽ, Quyên nói:

— Anh lúc nào cũng muốn em theo nhịp của anh.

— Còn em?

— Em cũng muốn anh theo nhịp của em.

Họ nhìn nhau, cả hai cùng bật cười. Nhưng đó là nụ cười của người nhận ra trước mặt là vực sâu mà không biết làm sao lùi lại.

Những cuộc trò chuyện vốn đầy thi ca bắt đầu có những đường nứt không nhỏ:

— Tại sao anh hay lơ đãng?

— Em quá để tâm vào cảm xúc của mình mà quên mất anh đang hiện diện bên em.

— Còn anh thì trôi như mây, không chịu ở lâu với điều gì.

— Ở lâu thì dễ buồn.

— Buồn mới là chỗ thật của con người, Cường!

Đêm nọ, Quyên ném quyển sổ tay xuống bàn.

— Tình yêu với anh giống như một bản nhạc chỉ có đoạn mở đầu. Lúc nào cũng đẹp nhất ở những nốt đầu tiên.

Cường im lặng trước sự thông minh của nàng. Và anh chợt nhận ra những cá tính đặc biệt cũng như sự thông minh ấy như một cái thòng lọng ngày càng siết cổ anh.

Nàng tiếp, giọng run nhẹ:

— Em với anh giống nhau quá. Ai cũng nghĩ mình yêu nhiều hơn, hiểu hơn, nên không ai chịu buông cái tôi xuống. Hai người như tụi mình yêu nhau… là một giấc mơ vừa đẹp vừa sai.

Cường muốn ôm nàng, nhưng Quyên lùi một bước.

Giáng sinh năm đó, trời Đà Lạt lạnh bất thường. Những dải đèn vàng treo trước Nhà thờ Con Gà hắt xuống sương như những ngôi sao rơi bị kẹt nửa chừng.

Cường và Quyên đứng cạnh nhau, nhưng khoảng cách giữa họ dày hơn cả hơi lạnh.

Tiếng chuông nhà thờ vang lên. Quyên kéo chiếc khăn choàng lại, mắt không rời tháp chuông.

— Cường… mình dừng lại đi.

— Em nói chơi?

— Không. Chúng ta yêu nhau bằng cùng một sự kiêu hãnh. Và chính điều đó giết tình yêu.

Sương bay qua, làm tóc nàng ướt nhẹ.

Cường muốn nói “Anh yêu em”, nhưng cổ họng như bị gió siết lại.

— Anh sẽ nhớ em. — anh thì thầm.

— Em biết. Nhưng anh sẽ không nhớ nếu ở gần em. Chỉ khi xa, em mới là thơ trong mắt anh.

Một câu nói đẹp. Và tàn nhẫn.

Quyên quay đi.

Trước khi bước xuống bậc thềm nhà thờ, nàng ngoái lại:

— Em mong một ngày anh học được cách yêu mà không đứng soi mình trong tình yêu đó.

Nàng bước vào màn sương trắng mỏng. Ánh đèn đường nuốt lấy bóng nàng rất nhanh, như thể Đà Lạt biết che giấu những cuộc chia ly đẹp nhất.

Cường đứng lại rất lâu. Gió lạnh quất vào mặt anh. Chuông nhà thờ vẫn vang lên mà lòng anh thì rỗng toang như ngôi giáo đường đã gỡ hết tượng thánh.

Đêm đó, anh biết,

đây không phải là cuộc chia tay của hai người. Mà là cuộc chia tay giữa anh và cái ảo tưởng rằng anh biết yêu.

Chợ thiệp

Không tính tới lúc Terry Jacks hát “Season in the sun” (1974). Trước đó, Sài Gòn đã có rất nhiều bài hát, Tây Ta có đủ, về “mùa nắng đẹp” Giáng Sinh. Cái mùa mà Sài Gòn hơi se lạnh vào những buổi sớm mai. Những chàng trai, cô gái Sài Gòn cũng điệu đàng hơn một chút, với chiếc áo khoác mỏng nhiều màu sắc bên ngoài chiếc áo chemise, hay áo dài, khi ra phố buổi tối.

Nhạc “Giáng sinh” thì tuỳ, bạn có thể thích thì nghe, không thì thôi! Nhưng có những chỗ bạn phải ghé ít nhất một vài lần trong năm. Nó thuộc về thói quen, về lối sống và văn hóa của người Sài Gòn cũ.

Nó nằm rải rác trong nhà sách, trên hè phố, hay trước dãy tường bên hông những Nhà thờ. Nhiều nhất và cũng đông vui nhất là những con đường nằm cạnh Bưu điện Sàigòn.

Nơi đó bán duy nhất một thứ quen thuộc, quen tới mức không cần tìm hiểu nó có từ đâu và từ hồi nào. Những tấm thiệp. Thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới. Một tờ giấy cứng gấp đôi, bên ngoài in hay vẽ những hình ảnh tuyệt đẹp, nhiều màu sắc, tượng trưng cho một mùa. Phần giấy trắng bên trong là để ghi những lời chúc lành cho nhau.

Người Sài Gòn có thói quen gửi thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới cho bạn bè, người thân. Gần thì trao tay, xa thì nhờ Bưu điện. Cánh thiệp là cách biểu hiện tình thân, là cách kết nối và quan tâm lẫn nhau. Nó như một nhắc nhở, một cách gián tiếp nói rằng tôi vẫn bình an và tôi đang nhớ tới bạn. Những lời cầu chúc tốt đẹp tôi viết gửi trong tấm thiệp là tấm lòng của tôi gửi cho bạn. Nó đáng quý biết chừng nào.

Những tấm thiệp sẽ được cất kỷ trong ngăn kéo, hoặc sẽ được treo lên cây thông Noel, hay cây mai cây đào ngày Tết. Nó vừa để trang trí, vừa để nói lên rằng bạn đang có mặt ở đây, đang cùng với gia đình chúng tôi đón một mùa Giáng Sinh, một Năm mới an lành và hạnh phúc.

Những năm tháng còn đi học, lang thang đi lựa mua thiệp là một cái thú. Người nhận khác nhau, những tấm thiệp và lời chúc bên trong cũng khác nhau. Nhất là gửi thiệp cho người con gái mình yêu thích. Với tôi là thứ khó khăn vô cùng. Phải cân nhắc, phải thận trọng khi viết từng câu, từng chữ. Tới lúc đưa, lúc gửi thiệp cũng hồi hộp. Và rồi nhận lại cũng…hồi hộp!

Cũng không chỉ có thiệp, thân tình hơn, người ta tặng cho nhau những món quà nhỏ. Những món quà mang ý nghĩa riêng tư của người cho và nhận. Sài Gòn không có mùa Đông, mùa Đông ở trong lòng người! Những món quà làm xích lại gần nhau hơn, làm ấm lại cái tình trong chút gió lạnh đầu Đông!…

Giờ thì nhanh gọn hơn nhiều. Có nhớ tới nhau, người ta chỉ cần mở máy vi tính, tìm một cái tên, tìm một tấm hình với lời chúc có sẵn rồi bấm gửi, thế là xong!

Quá tiện lợi và dễ dàng. Dễ tới mức như trả nợ. Người gửi cho có, người nhận thờ ơ.

Chẳng ai quan tâm tới cái đẹp vô hồn của tấm thiệp và những lời chúc sáo ngữ trong đó. Tất cả chỉ còn mang tính hình thức.

Để rồi, nếu như tình cờ nghe được mấy câu hát:

“Mong ước ngày sau như là ngày trước

Tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”*, mới thấy nhớ, thấy tiếc!…

Cái tiện dụng làm mất đi sự rung động, làm tê liệt những cảm xúc. Làm giết chết một thói quen đẹp. Làm mất đi một thứ văn hóa đáng yêu và đầy thi vị…

Chỗ bán thiệp cũng không còn nhiều. Không sao! Tôi sẽ tự đãi mình một bữa tiệc Giáng Sinh, bằng cách xuống phố, tìm mua vài tấm thiệp. Một cái để tặng mình và những cái còn lại dành tặng cho…kỷ niệm!

Vài cái thiệp hình cây thông hay ông già Noel “Merry Christmas And Happy New Year”. Vài cái thiệp tràn ngập những cánh mai vàng rực rỡ, hay hình ảnh: “Có cô con gái nhà ai – Mẹ cho mặc chiếc áo dài đón Xuân…”!

Cũng đáng để làm trong một ngày nắng đẹp, trong đầy rẫy những bất trắc và âu lo thường nhật…

Và nếu như tình cờ, bạn nhận được một tấm thiệp vào dịp Giáng Sinh, Tết… Có nghĩa là ở một nơi nào đó, có người luôn nhớ tới bạn và những câu chữ trong đó là những yêu quý rất thực!…Hãy ôm giữ và trân trọng cái hạnh phúc đó, bạn nhé!