Feeds:
Bài viết
Bình luận

Kim Bông thần mã


Trần Bảo Định

.
Chiều cuối năm.
Má và chị Tư vớt bánh tét máng lên cây sào tre vắt ngang vách bếp, tía lui cui lau chùi
chén bát, xếp đặt hương đèn hoa quả cần thiết cho lễ Trừ Tịch. Tía trải tấm đệm bàng giữa
sân, ngồi uống rượu lai rai với chú Sáu, dượng Chín, sau khi cúng bái rước ông bà về ăn
Tết cùng con cháu.
Rượu vào, lời ra. Chú Sáu nói:

  • Tháng cùng ngày tận. Chỉ còn năm, sáu tiếng đồng hồ nữa, Rắn hết nhiệm kỳ, bàn
    giao công việc cai quản trần gian lại cho Ngựa và cáo lui. Chẳng biết rồi Ngựa sẽ “làm ăn”
    thế nào và có thay đổi gì chăng?
    Tía cười cười, triết lý:
  • Sự thay đổi nào cũng khởi đầu từ ý thức. Đó là điều tất yếu! Ngựa có ý thức thì ắt sẽ
    có thay đổi, chú Sáu mầy lo chi cho mệt. Việc đó, đã có người lo! – Tía chuyền ly rượu cho
    chú Sáu.
    Đàn cò rời cánh đồng, bay hối hả trong không gian chiều tàn về tổ.
    Ba lão bạn đời đã vượt cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” cùng chén thù, chén tạc, khi
    rôm rả, lúc trầm ngâm của thời khắc chờ đợi “tống cựu, nghinh tân”, nhưng không phải là
    không “ưu thời, mẫn thế”!
    Dượng Chín nói:
  • Lẽ thường, thiên hạ tôn vinh ngựa Tàu hơn ngựa ta. Theo tui, ngựa ta hơn xa ngựa
    Tàu! Chỉ mỗi một chuyện Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, cầm roi sắt mà khiến lũ giặc Ân khiếp
    kinh hồn vía và tan rã. Ngựa chết vì chủ của mình, chỉ có ngựa ta, chứ ngựa tàu: chưa chắc!
    Chú Sáu cãi lại:
  • Tui đọc Tam Quốc Chí, nhớ đại khái, Quan Vân Trường bị Mã Trung, Phan Chương
    bắt và sau đó bị giết. Ngựa Xích Thố vì nhớ thương chủ, bỏ ăn mà chết! Đời sau, ai cũng
    thương cảm và ca ngợi.
    Dượng Chín bảo rằng, muốn rõ thực hư chuyện ngựa Xích Thố vì thương nhớ chủ bỏ
    ăn mà chết hay sức cùng lực tận, vì tuổi già mà chết, ta phải biết số tuổi ngựa Xích Thố đã
    sống!
    Tía chen vào:
  • Hồi ông già tui ở bạn nuôi ngựa đua nhà Hội đồng Láng miệt Đức Hòa Thượng,
    thường nói ngựa từ ba, bốn tuổi là đã có thể phối giống và ra trường đua. Thời kỳ sung mãn
    nhất của ngựa là từ sáu đến tám tuổi. Đời ngựa thường dài không quá ba mươi năm!
    Dượng Chín tiếp:
  • Ngựa Xích Thố lần đầu xuất hiện trong tay Đổng Trác là vào năm 189. Lữ Bố thấy
    Xích Thố là mê mẩn ngay và Đổng Trác đã dùng ngựa Xích Thố dụ Lữ Bố thực hiện mưu
    kế của mình. Như vậy, ngựa Xích Thố lúc bấy giờ phải ở thời kỳ sung mãn nhất. Đến năm
    219, ngựa Xích Thố chết khi Quan Vân Trường thọ hình!
    Dượng Chín chiêu ngụm rượu, rồi làm bài tính nhẩm:
  • Ngựa Xích Thố xuất hiện năm 189, chết năm 219 vị chi là ba mươi năm, cộng thêm
    khoảng tám năm từ lúc ngựa mới sinh ra cho đến khi sung mãn. Tất cả là ba mươi tám năm!
    Dượng Chín kết thúc:
  • Như vậy thì ngựa Xích Thố chết vì tuổi già, chứ chẳng phải chết vì thương nhớ chủ!
    Chú Sáu được dịp “hấp tinh kiến giải”:
  • Tui phục dượng Chín sát đất!
    Chị Tư bưng dĩa khô cá chạch và chén nước mắm me, tiếp thêm mồi nhậu. Tía biểu chị
    vào trong lấy mấy tấm hình chụp mộ ngựa Kim Bông đưa dượng Chín và chú Sáu coi.
    “Nhớ hồi nẳm, khi đơn vị hành quân qua làng Cỏ Ngựa dưới chân đèo Cù Mông, tía
    được nghe cô bác lớn tuổi kể rằng, xưa kia, nơi đây có lão Ngô đầu lĩnh, cỡi con tuấn mã
    Kim Bông, tay cầm đại đao, chuyên nghề bảo tiêu hàng hóa của thương nhân mỗi khi vận
    chuyển qua đèo. Một hôm, từ căn cứ kháng chiến, Tướng Võ Trứ tìm về hội kiến với lão
    họ Ngô. Sau tuần trà, Tướng Võ Trứ bộc bạch:
  • Vận nước nguy khốn, Vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng, rời kinh thành lên miền Tân Sở
    truyền hịch Cần Vương. Trứ nầy, mong đại huynh gả Kim Bông về phong trào Văn Thân
    Bình Định đang sục sôi chống quân xâm lược Pháp và bọn tay sai của chúng.
    Ngô đầu lĩnh cầm vò rượu tu một hơi dài, cười khanh khách:
  • Với đất nước, mạng Ngô tui còn chẳng kể thì có sá gì ngựa Kim Bông?
    Chủ, khách cáo từ. Tướng Võ Trứ nhảy lên yên ngựa. Kim Bông bất ngờ giậm chân,
    hất tung Tướng Võ Trứ rơi xuống đất.
    Lão Ngô đầu lĩnh vỗ vỗ bờm ngựa:
  • Ta già rồi, con thay ta đi cứu nước!
    Ngựa Kim Bông cạ mặt vào người lão Ngô, hí vang núi rừng, rồi phi nước đại chở
    Tướng Võ Trứ về căn cứ, giữa trưa nắng bụi mù tung…
    Kim Bông trở thành chiến mã của Phó soái Lê Tuyên – còn gọi là Bá Mười, Lê Văn
    Trang. Người và ngựa cùng cận kề cái chết ở chiến trường, sống chí tình, chí nghĩa. Chiến
    mã Kim Bông đã cùng chủ đi vào những trận đánh khốc liệt, như Trường Úc, Lò Vôi (Tuy
    Phước), Cẩm Văn (An Nhơn), Phú Gia (Phù Cát)… khiến quân xâm lược khiếp sợ, bọn
    vong nô Nguyễn Thân thất điên bát đảo, gọi Kim Bông là thần mã. Khi Chủ soái Mai Xuân
    Thưởng, Phó soái Lê Tuyên cùng tám tướng lĩnh nghĩa quân bị giặc hành hình sáng ngày
    15 tháng 4 năm 1887 tại Gò Chàm (cũ) ngày nay, gần cầu Xi-Ta, cách thành Bình Định
    non một cây số về hướng bắc, ngựa Kim Bông hiếu nghĩa, can trường liền chạy thẳng về
    nhà báo tin dữ. Lúc bị giặc vây bắt, nó trốn biệt vào núi. Thi thể Phó soái Lê Tuyên được
    chôn cất tử tế trên đất Gò Đình.
    Một sáng, khi đồng còn mù sương sớm, người làng phát hiện ngựa Kim Bông nằm gục
    chết bên mộ phần của chủ. Những giọt nước mắt hòa cùng sương còn nhòe trên mặt ngựa
    khổ đau. Cảm thương và trân quý lòng thủy chung đó, dân làng Nhân Ân cùng gia đình Phó
    soái Lê Tuyên đã xây mộ đá vôi cho ngựa Kim Bông, gần mộ phần của Phó soái Lê Tuyên.
    Trước mộ, có bức bình phong đắp nổi hình ngựa Kim Bông trên nền hoa văn bông cúc vàng
    với họa tiết tinh tế, như nhắc người đời sau tiếc thương và suy ngẫm!”
    Tía ngừng kể, mời mỗi người uống nửa xây chừng rượu. Chú Sáu, dượng Chín săm soi
    mấy tấm hình tía chụp chung với người bạn ở Bình Định bên mộ ngựa Kim Bông. Chú Sáu
    hỏi tía:
  • Anh Năm, từ Tuy Phước đi đến mộ ngựa có xa không?
    Tía nói, từ thị trấn Tuy Phước đi vào mộ ngựa Kim Bông cũng không xa mấy. Hồi đó,
    tía đi cùng người anh em bạn theo hướng Đông bắc khoảng bốn cây số, gặp ngã ba Cây
    Xoài thuộc xã Phước Thuận. Rồi qua cánh đồng hơn một cây số về miệt phía Đông thì tới
    đầu thôn Nhân Ân, xưa gọi là làng Nhân Ân, quê hương cụ Tú Diêu, thầy dạy chữ và dạy
    soạn tuồng hát bội cho cụ Đào Tấn. Đến chùa Nhân Ân, xưa gọi là đình, men theo đường
    ruộng phía tây trên trăm mét thì gặp Gò Đình, nơi yên nghỉ của Phó soái Lê Tuyên và thần
    mã Kim Bông.
    Dượng Chín nhìn nắng chiều còn sót lại trên ngọn tre, thốt lên:
  • Thế sự trên trăm năm mà tưởng chừng như mới hôm qua!
    Tía nói, theo đạo trời, ngựa sinh ra vốn dĩ tự do. Ngựa bị đóng yên, khớp mỏ, ấy là đạo
    người. Ngựa sống chí tình, chí nghĩa với người và đồng loại. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ
    cỏ”. Ngựa sống không loạn luân, ngựa mẹ thà chết không cho con phối giống! Người có
    mấy ai sống chí tình, chí nghĩa như ngựa?
    Thiên hạ, dù dễ tính hay khó tính, đều đồng thuận rằng: Ngựa biểu tượng cho sức mạnh,
    như, “Máy có mấy mã lực?” Hoặc, “Lúc này, tao thấy mầy ngựa quá! Đồ ngựa, con đĩ
    ngựa!” Có lẽ nhằm nói lên sức sống mãnh liệt của người phụ nữ. Chẳng có chi là xấu, tốt!
    Ngựa in dấu thời gian. Có người nói: “bóng câu qua cửa sổ”. Đời nhà Thương bên Tàu,
    người biết dùng ngựa kéo xe đi phương xa mua bán nên được gọi là thương nhân. Về sau
    gọi là thương nghiệp, thương mại. Ngựa ta, ngựa Tàu, ngựa nào cũng ngựa. Có điều, Xích
    Thố của Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc cách đây 1.800 năm chỉ là ngựa hư
    truyền! Còn Kim Bông của Lê Tuyên trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp
    cách đây trên 100 năm mới chính là ngựa thực truyền! Mỗi khi nhắc đến ngựa chết vì chủ
    ta chỉ thường nhớ Xích Thố ở tận đâu đâu bên Tàu, mà quên Kim Bông mà mồ mả còn sờ
    sờ trước mặt… Vậy nghĩa là sao?!
    Xứ mình có ba cái tên cùng chung một nghĩa: bông, hoa và huê. Gọi sao cũng được.
    Hương sắc còn tùy. Thiếu mặt này, dư mặt kia. Hiếm khi đặng tròn vẹn cả hai. Chơi hoa,
    đến cụ Nguyễn Du còn phải thốt “Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!” Trời sinh vậy mà,
    bạn hỏi mần chi? Trong bữa ăn nhà quê, bao giờ cũng có món “bông” hiện diện: lúc bông
    bầu, bông bí, bông mướp; khi bông điên điển, bông súng, bông chuối. Má thường dặn con
    cái, muốn hiểu người bạn đời – ngoài những yếu tố khác, có một yếu tố cực kỳ quan trọng,
    là hãy nhìn cái miệng người đó trong lúc đang ăn. Tại sao? Vì khi ăn, miệng thể hiện văn
    hóa, tư chất, tính cách con người! Miệng nói, lời có thể dối trá. Miệng ăn, nhứt định là thực.
    Kẻ đó, bán sống mua chết cũng “chạy trời không khỏi nắng!”.
    Chú Sáu chưa rõ:
  • Tại sao người xưa chọn hoa cúc vàng làm nền đắp nổi tượng ngựa Kim Bông mà
    không chọn một loài hoa nào khác?
    Dượng Chín có ý kiến rằng:
  • Cổ nhân xếp hoa cúc vô trong tứ quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Tại sao, thì phải hỏi anh
    Năm.
    Tía tiếp lời dượng Chín:
  • Mỗi sắc màu hoa cúc mang tâm tình riêng, ý nghĩa riêng. Không trùng lặp, không
    giống nhau. Cõi trần gian, chẳng có loài hoa nào sánh kịp sự bền bỉ thủy chung như hoa
    cúc. Bởi lá và hoa cúc dù úa tàn, khô héo, vẫn ôm cành, không rơi xuống đất. Ông bà xưa
    thường nói: “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”.
    Chú Sáu giờ như thấu cảm:
  • Phải rồi, hoa cúc là biểu tượng cho lòng thủy chung, cũng như ngựa Kim Bông dùng
    sinh mệnh mình để bộc lộ lòng chung thủy! Người xưa để lại cho hậu thế những điều thật
    đáng suy ngẫm. Há lẽ người thua súc vật sao!
    Tía kết thúc câu chuyện:
  • Đất yêu quái không có chỗ sống cho người lương thiện! Người đời tôn vinh Bình Định
    “đất võ, trời văn”, hẳn hồn thiêng sông núi nơi này đã nảy sinh nòi giống ngựa Kim Bông
    và được điểm tô bởi loài hoa cúc trên khắp mọi miền đất nước.
    Mặt sông chuyển màu sẫm tối.
    Ba lão bạn đời cùng cạn ly rượu cuối cùng, chờ thời khắc giao thừa sắp đến!
    (Mộ chiến mã Kim Bông tại xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ
    (nay là xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai).

Mộc Miên

.

Giao thừa hẹn với tháng giêng

Mùa xuân hẹn với linh thiêng đất trời

Hẹn ai, ta đứng ven đời

Mai hoa trổ giữa mắt người rưng rưng

.

Một mùa xuân, mấy lần xuân

Tìm ai giữa chốn vui mừng phố đông

Con chim lạc hướng bay lầm

Lối nao hẹn một trăm năm hỡi người …

Giêng thơm phơi tỏ đất trời

Một ta góc tối, mắt ngời tìm chi ….

Thường xuân

.

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Bài thơ chỉ thêm vài nếp nhăn

Bạn đừng đắn đo xa lạ với một bức ảnh cũ

Mùa đông chẳng lưu trí nhớ

Chỉ phả sương mờ vào gương mặt của mùa xuân

.

Gì thì gì

Cũng là đông và xuân

Thời gian định vị trên con đường

Cũng lớn lên và già đi

Sợ rằng mình không đủ sống

(Sợ không đủ bởi vì mình ham sống quá)

Cây thường xuân thường mọc muộn

(Mỗi khi bế tắc chúng ta mới nghĩ về thường xuân)

Nó có hình dáng như thế nào nhỉ?

.

Chắc chắn nó chỉ có một chiếc lá

Bất chợt hình dung ra cây thường xuân

Cúc dại ngoài bờ mương vẫn nở

Cây cơm nguội tuổi thơ nứt trắng hạt li ti

(Đi ngoài đường gặp cây nào na ná trong ý nghĩ, nó là thường xuân)

.

Nó sẽ vui khắp mọi nẻo đường

Vì chúng ta luôn muốn thế.

Lê Tâm

.

Ngay từ cuối tháng 11 âm lịch tôi đã đi các chợ đầu mối để tìm mua củ kiệu làm dưa món. Đi khắp các chợ đầu mối các chủ sạp hàng đều bảo rằng phải qua tháng chạp kiệu mới về.

Không nản lòng, tôi ngược lên chợ Hóc Môn, may thay trong một hàng bán rau nằm khuất nẽo, những bó kiệu nguyên lá xanh um dành cho các bà nội trợ đang muốn làm món dưa kiệu chua đầu mùa. Bà cụ bán hàng bảo mùa này dưa kiệu chưa già, làm dưa món chưa thật ngon. Nhưng không sao, miễn là có kiệu, nguyên liệu không thể thiếu được để làm món ăn đậm vị tết miền trung: dưa món.

Ngay từ tháng 10 dương lịch, con trai tôi từ Đức đã gọi điện thoại bảo tôi: Ba, Mẹ ơi nhớ gửi dưa món cho con. Sợ tôi quên, chỉ ít phút sau trên zalo cũng hiện ra dòng chữ ” Nhớ gửi dưa món nghen ba, nhiều nhiều kiệu một chút, con thích ăn kiệu” Lời nhắn trên messenger như bảo tôi rằng tết đã đến rất gần.

Như những gia đình miền trung khác, dưa món là món ăn không thể thiếu được trong những ngay tết cổ truyền của nhà tôi. Có lần mẹ tôi nói tết thiếu gì cũng được, không thể thiếu hoa vạn thọ và dưa món. Cũng lạ, không phải trân châu mỹ vị gì, chỉ một ít củ kiệu, đu đủ, cà rốt, dưa leo xắt mõng phơi khô, thêm ít quả ớt đỏ rừng rực kèm ít lát thơm sấy trộn đều, dằn thật kỹ trong lọ nước mắm đường là đã thành vị tết.

Vì sao dưa món lại là món ăn tiêu biểu cho tết miền trung mà không phải bánh chưng, bánh tét, bánh tổ, hay thịt kho trứng vịt….? Có lẽ ở vị kiệu thơm nồng của dưa món. Thứ nguyên liệu rất đặc trưng mà mỗi năm nông dân miền trung chỉ trồng và thu hoạch duy nhất một mùa vụ tết. Không có kiệu thì không còn là dưa món ngày tết. Và như một logic, không có dưa món thì món ăn ngày tết thiếu hẵn vị tết cổ truyền

Dưa món hình như là món ăn liên kết giữa quá khứ và hiện tại. Hình ảnh tôi còn bé, chỉ đâu sáu bảy tuổi đã xúm xít ngồi chung quanh xem mẹ cắt tỉa đu đủ, củ cải, cà rốt thành những lát mỏng, với vô số hình vuông chủ nhật, hoa, ngôi sao. Rồi phụ mẹ phơi kiệu, lột kiệu, kể cả đứng canh nồi nước mắm đường sôi liu riu đến khi dẽo lại. Ba mươi năm sau, khi tôi có gia đình vào lập nghiệp tít phương Nam, dịp tết, khung cảnh ấy vẫn hiển hiện như mới ngày hôm qua. Con trai tôi, con gái tôi chỉ mới năm bảy tuổi vẫn xúm xít xem và phụ tôi làm dưa món. Chúng bu quanh cái thau men to hau háu nhìn những củ kiệu trắng nõn lẫn trong màu đỏ màu xanh và màu vàng óng ả của đu đủ cà rốt dưa leo củ cải và màu cánh gián của nước mắm nhỉ. Tất cả khi trộn lẫn vào nhau, những thứ nguyên liệu rau củ bình thường hằng ngày ấy bỗng dậy hương và trở thành một mùi vị vô cùng đặc biệt, mùi tết.

Hồi tôi học đại học ở Tp Hồ Chí Minh, thời kỳ bao cấp vô cùng khó khăn. Hai bữa ăn ở căng tin chủ yếu là khoai sắn ghé vài hạt cơm gọi là, kèm thêm ít rau xào cộng tô canh “toàn quốc”. Một hôm gần tết đi bộ ngang qua chợ Trương Minh Giảng, thấy bán ít kiệu Huế, tôi nảy ra ý định làm món dưa món. Miền nam rau củ quả nhiều, tháng 12 nắng oi ả , kiệu chỉ hai ngày là khô hanh. Còn cà rốt củ cải đu đủ thì rẻ ê hề. Duy nước mắm thì không tìm đâu ra. Nghĩ mãi rồi tôi cũng tìm ra công thức muối pha với đường, loại đường vàng tiêu chuẩn nửa kí mỗi tháng dành cho sinh viên. Đường sao vàng trên chảo cháy sem sém rồi đổ nước vào đun thật sôi cũng ra một thứ nước cũng tạm gọi nước mắm. Vậy là thành món dưa món biến tấu. Lũ bạn miền Nam của tôi ăn thử đều khen nức nỡ.

Dưa món tôi làm xong hồi đầu tháng chạp. Đợi dưa ngấu, thơm lừng tôi chắt bớt nước mắm, đóng kỷ trong hộp nhựa, gói vô số lớp bao bì gửi đi Đức theo đường chuyển phát nhanh cho con. Cách vài ngày tôi lại nhắn xem hàng đã đến chưa. Mãi đến sát tết con tôi mới vui mừng báo tin rằng hủ dưa món đã đến Đức sau hơn 20 ngày kèm theo lời phụng phịu ” Ba ơi sao ba gửi ít kiệu vậy ba? “

Tết này đúng trưa 30 khi nhà tôi quay cảnh mâm cổ gia đình với món ăn không thể thiếu là dĩa dưa món thì con tôi cũng chụp cảnh nhà nó chuẩn bị mâm cổ tết cũng với món dưa món gửi từ Việt Nam sang kèm thêm câu nhắn ” Cảm ơn ba mẹ đã gửi dưa món cho con. Có dưa món tự nhiên mới thật sự thấy tết về “

Lê Tâm

Cúc mi

Ngô Thanh Vân

Này cúc mi
ai giấu vào rèm em thanh khiết
đọng giọt sương
tan ánh nguyệt mờ
muốt vào đêm tình tự
trắng giấc mơ thiếu nữ
rưng rưng

Ai cất giùm tôi xứ Bắc
vào thăm thẳm em
để đêm nay nằm nghe cơn bấc
dội vào lòng vụn dấu yêu xưa

Rớt lại khuya Hà thành tiếng thở
con đường quên giấu một nụ mầm
đêm bừng nở những vì tinh tú
lặn vào đáy mắt vực sâu

Mai này một sáng cao nguyên
ký ức nguôi quên
lùa gió về mở cửa
ngỡ ngàng tôi
tinh khôi em
nở vội
lành yên một sớm trở mùa.

————

 Lập xuân

Phạm Văn Phương

.

mùa lên trên bãi trên cồn

trên nương trên rẫy rồi dồn xuống đây

em về áo mỏng thơ ngây

đi qua đi lại một ngày nắng phai

anh từ thương nhớ mười hai

biết xuân còn những rộng dài em ơi…

05.02.2026

Liên khúc xuân

Hồ Chí Bửu

Cứ đến mùa xuân là ta lên núi

Chẳng biết làm gì – chẳng có đợi ai ?

Cũng chẳng hẹn hò – cũng không cầu nguyện

Lên đỉnh sầu đời – nhìn mây trắng bay

.

Chắc tại ta là dân tứ xứ

Giũ bụi giang hồ trên núi cao

Trong tay ta không hề ấn soái

Chẳng phải Kinh Kha – chẳng chiến bào

.

Ta lận lưng bi đông rượu đế

Cóc ổi xoài trên núi đầy ra

Khi tới bến dựa lưng đá ngủ

Hào khí gì ? ta cất tiếng ca.

.

Ngọc Hà ơi…cha của nàng là vua còn ta là giặc..

vậy nàng hãy coi ta như con c..của cha ,,,nàng.(vọng cổ)

.

Ca hát giữa thinh không gió lộng

Chẳng ai nghe – ta sướng một mình

Ta đâu phải như phường nô bộc

Nâng bi người xin bã lợi vinh

.

Thị xã dưới kia trong tầm tay với

Đang có một người thương nhớ một người

Nếu thấy kiếp nầy không duyên không nợ

Thì xin xù luôn cái kiếp lai sinh

.

Mùa xuân lên núi nghe tiếng chuông phổ độ

Cốt để cho lòng vơi bớt nỗi sân si

Còn mê rượu mà làm sao giác ngộ

Xin lỗi ngài cho con uống vài ly

.

Phật hãy để cho con phân bua một chút

Phật cũng từng là một chúng sinh

Giờ thành Phật nên cõi lòng thoát tục

Mà con thì vốn mê gái bẫm sinh

.

Trời ạ, thương người đâu có tội

Ai thương ta là ta chẳng chối từ

Ta là tên lạc quyên cơ hội

Vay một ngàn trả lại ngàn tư !

.

Ta vẫn sống bằng bản năng hiện hữu

Đừng màu mè cỡi ngựa xem hoa

Đừng vỗ ngực xưng mình là trí thức

Nhưng vắng người thì dỡ giọng điêu ngoa

.

Thiếu gì lủ bảo mình là đạo đức

Làm những điều ném đá giấu tay

Lập bè nhóm kẻ tung người hứng

Ta độc hành – chơi cũng như ai.

Có mấy gã võ công cà chớn

Cũng thượng đài nhảy múa lung tung

Không lượng sức ham vui làm bậy

Biết vài chiêu cũng làm bộ anh hùng.

.

“ta đâu phải giận đời rồi trách móc

như những thằng hề chỉ biết múa may”(*)

Ta là thế – Điền Bá Quang cô độc

Vạn lý độc hành – chơi đến trắng tay

.

Mỗi mùa xuân – ta hiền thêm một chút

Buổi xế đời về cổ tự tu thân

Đã hỉ xả sao lòng còn dung tục

Bố thí – vèo – như một mớ phù vân…

hồchíbửu

(*) thơ Trường Anh.

Có hẹn hò không

.Trần Thị Cổ Tích

.

mười bốn tháng hai…
đêm nay
em trôi giữa cơn mơ

nhớ lời anh dặn
hãy đi theo ánh sáng những vì sao
đi theo tiếng hát
anh chờ em ở đó
nơi mặt trăng đang ngủ
tại sao
anh lại chờ em
không phải nơi ghế đá công viên đầy lá rụng
không phải bãi biển lấp lánh cát vàng
không ven đê sông Trà thơm hương trầm quế
không sông Hoài một thuở hẹn nhau

chiếc lá
ngày xưa anh gửi
chấp chới bay trong vầng sáng rực vàng
tiếng hát nào
bềnh bồng trên cánh mây xa
giữa chúng ta, một màn voan trắng
em vói hoài
không chạm tới…
“dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt…”
“từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

vâng
dù mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm
em sẽ đến
nơi mặt trăng đang ngủ
ttct

Về nhà!

Đặng Thị Thanh Hương

.

Tờ lịch cuối cùng rơi xuống

Một năm qua…

Thẻ trúc úa vàng, nét chữ mờ phai

Dĩ vãng phủ bụi trên bước chân lạc đường !

Ngọn nến đỏ cô đơn dưới hoàng hôn

Xứ người rất lạnh!

Hồng Trần cuồn cuộn

Hưng vong một triều đại cũ

Sóng biển mang đi những mảnh tàu vỡ

Khắc thành vết sẹo nông sâu !!!

Yêu hận nhạt theo mái tóc bạc màu

Chén rượu cạn, cố hương buông trong câu vọng cổ

Thêm một tờ lịch rơi , là một năm đã cũ

Những kẻ lang thang rồì sẽ về nhà

là mây, là mưa, là biển, là hoa

Quê hương mịt mù nỗi nhớ!

Những chiếc pháo sót

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Trên khắp thế giới không một đất nước nào chuẩn bị đón Tết như đất nước tôi.., rộn ràng và trang trọng khắp mọi nhà , khắp cùng tổ quốc tôi.

Những ngày cận tết nơi này…Trong trí nhớ già nua của một lão bà ngoài ” Thất thập” …Ngẫm lại chuyện ngày xưa”’

+++Tiếng Pháo vẳng từ xa đã râm ran nổ từ sáng ngày 23 tháng Chạp, những ngày giáp Tết dậy lên từ ngày này, tục lệ này không biết có từ bao đời,

Chiều qua Mẹ tôi đã mua sẵn ba con cá chép rộng sẵn trong chậu, bộ áo giấy cúng”” Ông Táo”, mâm quả, giấy tiền vàng bạc cùng những thứ để nấu xôi chè và một cỗ pháo đỏ, trước khi đi chợ sớm người còn dặn tôi ở nhà đem bánh pháo ra phơi khi nắng lên để chiều nay khi đốt tiễn ông Táo tiếng nổ được kêu hơn.

Buổi chiều khi mâm cỗ được đặt lên chiếc bàn nhỏ đặt riêng giữa nhà, mùi hương bay ngào ngạt,

Mẹ tôi thắp nhang lên bàn thờ ông bà , sau đó đốt một bó nhang lớn và lâm râm khấn vái ..

“Xin ông bà Táo về chầu trời mang theo những ước nguyện của gia đình, xin cho thựợng đế ban cho gia đình này năm tới được những điều tốt đẹp, và nhắn Ông bà táo về trời mang đi những điều xui xẻo, những chuyện không vui của năm qua.

Xin cho ba đứa con gái của con được thành gia lập thất với người ” Ngồi bàn giấy” …( Những lời cầu xin của mẹ hàng năm…ba chị em tôi chưa có đứa nào tìm ra một chàng trai ” ngồi bàn giấy”…để mẹ tôi được an lòng )

Những lời cầu xin tôi chưa từng nghe trọn nhưng tất cả với tấm lòng thành mà mẹ tôi muốn gởi gắm cho ông bà Táo mang đi…hầu như ông bà Táo vẫn làm ngơ…

Sau khi khấn vái xong chờ cháy gần hết bó nhang, Mẹ tôi cho treo phong pháo dài trước cửa, màu đỏ thắm của những chiếc pháo kết xen nhau, điểm kèm những chiếc pháo tống to bằng cổ tay tôi, lủng lẳng trước cửa nhà.

Vẳng bên tai xa xa những tiếng pháo nổ râm ran…giờ phút chờ đợi nhất của bọn trẻ tôi.

Bọn trẻ chúng tôi đã âm thầm thông báo nhau biết nhà nào sắp nổ pháo, chúng tôi chầu chực sẵn bên hông nhà để chờ nhặt những chiếc pháo sót, quang cảnh thật là nhộn nhịp và háo hức.

Khi tiếng pháo bắt đầu rền vang, chúng tôi chen nhau lượm những viên pháo chưa nổ kịp, trộn lẫn trong những xác pháo hồng tung tóe sau tiếng đì đùng, những xác pháo vương vãi trên nền xi măng, những chiếc pháo còn dính chiếc tim màu trắng đục là niềm vui háo hức của bọn trẻ chúng tôi.

Hơi khói cay nồng xộc vào mũi , làm cay mắt, nhưng tất cả thật vui và hoạt náo trong lòng lũ trẻ.

niềm vui chúng tôi nhân lên khi đì đùng ở các nhà lân cận

Sau khi lượm ở nhà mình xong, xếp cứng trong túi áo, chúng tôi lại bương bả chạy sang những nhà khác, lại chen lấn, lại kiếm tìm và vui mừng đem về những chiếc pháo còn mới nguyên và đang hăng hắc mùi thuốc pháo, sau khi đã thu về một số phẩm vật đầu tiên cho mình, bọn trẻ bắt đầu đốt lẻ tẻ những viên pháo vừa nhặt được

.Tuy tìm kiếm và chất đầy hai túi áo nhưng chưa lần nào tôi dám cầm que diêm châm vào ngòi pháo vì sợ cháy tay và sợ tiếng nổ điếc tai, tôi thường chạy tìm thằng Ku , đứa bạn nhỏ xóm bên ( nó nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng gan dạ hơn tôi, vì nó là con trai), hay chạy kiếm các anh họ tôi đốt hộ, và sau khi đã tiêu pha hết chỗ pháo của mình, chúng tôi lại hăm hở đi nhặt ở các nhà đầu làng cuối ngõ.

Rồi đúng mười hai giờ đêm Giao thừa…

Lại một lần nữa tiếng pháo rộn ràng từ khắp mọi nhà nổ vang trong niềm vui rộn rã

+++

Ngày tháng vẫn cứ trôi…

Qua hai lần thế kỷ…và cũng gần “Bảy thập kỷ ” qua rồi…

Sau này khi lớn lên một chút, tôi đã trở thành cô thiếu nữ, biết ngồi phụ mẹ xếp mâm quả, thay mẹ nấu xôi chè, bắt ghế treo phong pháo đỏ trước nhà vào sáng mồng một .

Cái cảm giác nao nao nhớ lại những ngày xưa bé, mới hôm nào còn lượm pháo nhờ bạn đốt, bây giờ chúng tôi là những thanh niên nam nữ, mỗi đứa đi học một trường xa, vào những ngày giáp Tết, trở về nhà nhìn nhau thẹn thò nhớ về những ngày xa cũ cùng chen nhau trước cửa nhà ai lượm hoài những viên pháo sót.

Ôi, những viên pháo sót của tuổi thơ tôi…

Năm tháng …và cuộc đời vẫn cứ trôi, chúng tôi lớn dần theo bao mùa Pháo nổ, mỗi người rồi có một cuộc đời riêng, những ngày cuối năm ở một nơi xa xôi nào đó trên quê hương nhưng ở một thành phố lạ, nhớ quắt quay tiếng pháo buổi chiều xưa, bao công việc cuối năm với bao bộn bề, nhưng tôi cũng cố bương bả trở về nhà trên chuyến tàu đêm.

Trở về đoàn tụ trong căn nhà xưa bên gối mẹ.

Ngồi trên con Tàu lạnh buổi chiều Xuân, nhìn quang cảnh hai bên làng mạc khi con Tàu đi qua, nồi bánh chưng đang đưa hơi khói tỏa trong buổi chiều Xuân, của những mái nhà hai bên khung cửa sổ con tàu.

Những bước chân vội vã của khách bộ hành rảo chân trên đường cái quang rộn rã. ..

.Những mùng mền , chiếu gối đang giặt giũ tất niên trước những mái tôn xiêu

Tiếng gọi nhau rôm rả, bước chân những đứa bé vui rộn rã háo hức chờ đón chúa Xuân

Tất cả mọi nhà đang chuẩn bị chờ.đón giao thừa

Niềm vui của mọi nhà gói ghém trong từng mái ấm

Háo hức cùng nhau đón Xuân sang

Tiếng pháo xa xa nổ rộn ràng

Xáo xác mọi nhà hồng xác pháo

Lặng thầm sau cửa Mẹ chờ mong

+++

Rồi năm tháng vẫn lặng thầm đưa tiễn nhau qua bao mùa Xuân của cuộc đời, Bao thập kỷ qua đi trên mái tóc

Đã bao lần Tết đến mà không thấy người xưa trở về căn nhà cũ…

Bóng mẹ già mỏi mòn bên cánh cửa ngóng trông đứa con xa

Rồi cũng đã bao mùa xuân qua…Không còn nghe tiếng pháo…

Những buổi sáng mồng một trong căn nhà ngày xưa không còn thấy bóng dáng những đứa trẻ chen nhau nhật pháo sót,

Những mùa Xuân không tiếng pháo,..

Cô thiếu nữ ngày nào ra đi biền biệt khi tiếng pháo vu qui nổ vang lần cuối trước sân nhà …ngày xa xưa ấy…

Bóng mẹ già mòn mỏi những buổi chiều Xuân…

Không biết có ai còn nhớ ” Cô gái năm xưa cùng những viên pháo sót được mươn bạn đốt dùm”…

Qui kỳ hà nhật thị

Lão cận cố hương mai

Không biết bao giờ người xưa mới quay trở lại nhà , gốc mai già cỗi chỉ còn lại những bông hoa nở muộn, người con gái năm xưa đã bao năm trường biền biệt,

Từng năm khi Xuân về trên đất Mẹ, vẫn vọng nhớ về những ngày xưa xa lắc mà không sao trở lại bên mái nhà xưa mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp, ngồi sắp xếp mâm giấy tiền đưa ông Táo

Ở một nơi xa …bên kia nửa vòng trái đất xa mờ …

Khi mùa Xuân về trên đất mẹ.

Người con gái năm nao vẫn luôn lặng thầm nhớ hoài và thèm những miếng bánh chưng do chính tay mẹ gói.

Hương vị ấm nồng bên bếp lửa hồng của căn nhà mới sơn còn vương chút vôi mới,

Mấy chị em hăm hở chen chúc nhau trước chợ Hoa chỗ công viên của thành phố Quy Nhơn, trả giá mua cho được mấy chậu Cúc nở kịp ngày xuân, hay một cành mai vàng đúng độ,

Trang trọng giữa nhà , với những tấm thiệp chúc Xuân được viết bằng tay của bạn bè trao nhau ngày ấy…

+++

Những mái đầu xanh của ngày xưa ấy, nay đã thay màu theo tháng năm, những cuộc đời đã lật sang trang sách mới, chỉ nhớ lại tháng năm xưa trong nỗi nhớ lặng thấm, cành Mai cũ và những viên pháo sót.

Bây giờ tất cả chỉ còn là nỗi nhớ tiếc, trong cái lạnh căm của mùa Đông nơi đất khách, chỉ là chút nhớ nhung vọng tưởng mà thôi, ở đây mùa Xuân chỉ thấy những Bông Tuyết trắng lạnh ngập hồn, lạnh thấu tâm can, lạnh khô máu thịt, lạnh cứng tim hồng ,

Ngoài trời chỉ sót lại những cành cây trơ trụi lá và những bông tuyết phủ dầy …

Một người già …bên trong cánh cửa lặng thầm ngắm từng hạt Tuyết rơi…

Hồn lửng lơ… mơ về Xuân quê Mẹ.

Mơ về Tết cũ nơi quê Mẹ

Hoài niệm mà thôi đã ngậm ngùi…

Ở đây

Cũng có bánh chưng xanh

Dưa kiệu, dưa hành cùng bánh mứt

Không chút hương Xuân đến bên mành

Con tim

canh cánh hoài xuân cũ

Nỗi lòng vò võ suốt năm canh

Gởi theo gió thoảng bông hoa tuyết

Tiễn cả xuân qua đã bao niên

Rộn rã

Xuân sang sáng ngập nhà

Như người vừa tỉnh giấc nam kha

Một mình tĩnh lặng ngồi gõ phím

Trãi nỗi lòng đếm ngày mau qua…

Tết này

Ta trở lại quê ta

Bao nhiêu thập kỷ …bàn tay đếm

Lâu quá không còn nhớ bao niên…

Trong tĩnh lặng của mùa Đông tôi chợt nghe vài tiếng pháo vẳng lại từ xa, hình như là tiếng pháo nổ lẹt đẹt, những viên pháo sót tôi đang nhờ đứa bạn nhỏ xóm bên…

Châm ngòi rồi bịt tai chạy trốn trong xó cửa.

Ôi, những ngày Tết quê xưa…

Nhớ hoài những viên pháo sót.

Ngày trở về thành phố cũ..

.Không còn nghe tiếng pháo nổ đì đùng

Chỉ nghe nhịp đập con tim đang loạn nhịp vì nỗi háo hức của kẻ tha phương tìm về bến cũ, mái nhà xưa .

Atlanta ( Những ngày chờ mong một chuyến bay…2026)

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn