Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám 11th, 2014

Mùa tát đìa cuối cùng

Cao Thị Hoàng

tải xuống

 

.
       Ở cái làng Vĩnh Đại nầy, ai lạ lẫm gì ông Bảy Củ, một tay thầy đìa nổi tiếng khắp vùng Đồng Tháp Mười. Những lúc rượu vào lời ra, đủ độ cao hứng, ông nhịp đùi:
   – Cá ăn móng như nước cơm sôi trên mặt đìa, chưa hẳn đìa nhiều cá.Tiếng cá táp ”oàm oạp”  vang đìa  nghe nôn ruột, chưa hẳn  cá lóc lớn, mà đó chỉ  là lũ trào cửng,chưa bằng cổ tay con nít, muốn  khoe và chứng tỏ mình vĩ đại.Con cá lóc lớn khi táp mồi chỉ nghe một cái ”cụp” rất êm, rất nhẹ, rồi thôi!  Mỗi lần nói xong, ông thường cười khà khà.
      Ngẫm nghĩ cũng thấy ngồ ngộ, loài cá rất mẫn cảm, biết tung tăng ra đi tự do tìm mồi khi vào mùa nước nổi, biết quay về chốn cũ khi nước rọt dần. Bảy Củ nhớ như in
bài học vở lòng  về cách phân biệt cá lóc lớn, cá lóc nhỏ;  đìa nhiều cá,  đìa ít cá của thầy Tư Xong Xuôi truyền dạy. Ăn tiền chủ đìa là chỗ đó. Thường bờ đìa cỏ hoang mọc um tùm, dày đặc. Thầy đìa nằm sấp ôm cứng bờ, dùng tay rờ qua rờ lại phía dưới mép nước, coi thành và gân bờ có láng o không. Nếu gân và thành bờ láng o, đìa nhiều cá.  Ngược lại, cá chẳng đáng là bao.

        Má con ông Bảy Củ dắt díu nhau về tá túc nơi vàm nước Cái Rưng – Bông Súng lúc tuổi ông vừa nhú qua 15. Mẹ vá con mồ côi, má ông cất cái chòi lợp rơm vách đất
sống tạm trên cánh đồng hoang , ngó ngút mắt, sông nước lênh láng. Hiếm người hiểu rành rọt về đời tư, cảnh riêng của mẹ con ông. Thật ra, ai cũng  khổ như ai, đều bỏ xứ ra đi, đồng cảnh ngộ. Qúa khứ đã qua,tương lai chưa đến, họ hết lòng nhau cho hiện tại.  Bởi, chiến tranh mà!  Má ông chèo đò mướn, ông đi bạn nhà Trưởng ấpTư Xong Xuôi. Gọi biệt danh Tư Điệt là Tư Xong Xuôi, vì hễ mở miệng thì y như rằng, Tư Điệt nói hai tiếng ”xong xuôi”,  rồi nói tiếp theo cái gì thì nói Lấy công tâm mà xét, Tư Điệt làm Trưởng ấp hai mặt, đêm theo tối trời, ngày theo sáng trời. Cũng phải thôi, ở cái vùng Vĩnh Đại nầy, Trưởng ấp đứng một giò dù bên nào cũng bị thịt, đứng hai giò họa hoằng mới có thể tạm sống sót qua ngày.
Tư Xong Xuôi có biệt tài về coi đìa, chỉ cần ngó thế sông, thế nước, hướng gió…là định được khẩu đìa đắc lợi tôm cá hay không. Các chủ đìa trong vùng  tôn ông là thầy đìa.  Bảy Củ  nghèo,  độc nhất chỉ có  bộ đồ vá  đùm vá đụp  dính da, dốt chữ  nhưng sáng dạ, siêng năng, cần mẫn, không từ chối hoặc nề hà những công việc cực nhọc. Lâu ngày chầy tháng,Tư Xong Xuôi cảm mến, tin tưởng và quyết truyền nghề coi đìa cho Bảy Củ. Ông chỉ dẫn từng ly, từng tý,  bí quyết đào và mở miệng đìa:
– Xong xuôi,đào đìa cần nhắm hướng mặt trời đi qua. Mở miệng đìa giữa vạt lung để tháng giêng khi dứt mùa gặt, nước ruộng rọt dần xuống lung, từ lung nước rọt dần xuống đìa. Cá sống  nhờ nước, nước về đâu cá về đó. Đìa sâu, rộng  lại ấm, cá tôm thích hợp, rũ nhau tựu hội và ăn dầm ở dề.
Mỗi lần nghe ôngTư Xong Xuôi nói vậy, Bảy Củ liên tưởng đến sự đời: Cá chết vì  chốn”đìa sâu, rộng lại ấm”. Người chết vì chốn ” phồn hoa đô hội”. Nơi tưởng hạnh  phúc nhất, chính là nơi đau khổ nhất. Rành rành ra đó, chắc gì ai cũng hiểu. Bởi, ai cũng đổ xô giành cái lợi trước mắt, bắt cái gần buông cái xa. Quên bẵng điều ông bàtừng dạy, người nhìn xa, ma nhìn gần. Có lẽ, tình cảnh bây giờ ma nhiều, người ít?

Buổi trưa ngổi giữ đìa giữa đồng, Bảy Củ thèm chạy về bến nước Cái Rưng – Bông Súng thăm má.  Bảy thương má, nhớ má khôn kể. Đời má là chuỗi  ngày dài  đẫm đầy nước mắt, hẫm hiu. Hết khóc chồng rồi lại khóc con. Hết ôm xác chị Hai, anh Ba du kích xã, bị bắn chết nằm vắt võng tòn ten bên hàng rào kẽm gai Ấp Chiến Lược,  đến lượm và gom thịt anh Năm lính Cộng Hòa dính trái  ở bờ đập Cây Bần. Má già trước tuổi. Hốc mắt má  lõm sâu, không còn khóc nổi nữa.

                Làng lính ngày càng rún ép.  Nhiều đêm. má ôm Bảy Củ vào lòng, má thì  thầm:  Má phải sống,  thằng con má phải sống. Tránh  những  câp mắt  cú vọ rập rình , má cắn răng bước đi bước nữa. Rồi người dìu má đi bước nữa, mất tích trongtết Mậu Thân, khi chở ghe lúa lên Sài Gòn.Ở quê nhà, má chịu đời chẳng thấu, nửa
đêm dắt con trốn biệt xứ.
Chiều trải  nắng dài qua cánh đồng Móp Xanh, xiên mặt đìa và kéo theo tiết trời  se lạnh.Tiếng cá ngớp táp ”ùn ục” như tiếng nước cơm sôi. Bảy Củ giương vai đứng dậy, bầy cá đìa giật mình, âm thanh dội xa mấy dây ruộng nằm trơ gốc rạ.2.
Tất cả vật dụng, công cụ cần thiết cho tát đìa, như: thùng, gàu dai, lu, bũ, khạp, muối…Bác Tám chủ đìa đã lo tươm tất. Tối nay, khi trăng mồng mười chếch hàng  cây trâm bầu thì khởi sự tát đìa.
Tục khai đìa, chủ đìa phải cúng thổ thần thủy thần, thỉnh người khuất mặt khuất mày, mời các chiến sĩ  trận vong,  bất kể  nón tai bèo  hay nón sắt, cùng về chung  hưởng cá lóc nướng trui, uống ly rượu nghĩa của người sống.
Bảy Củ lựa cá lóc nhảy hầm dưới một ký, cẩn thận chặt đuôi, để khi nướng bụng cá chín, xương lưng cá không còn ứa máu. Dùng thanh tre tươi vót nhọn, xỏ từ miệng cá đến đuôi, cắm xuống xuống đất, miệng cá cách mặt đất khoảng 1 tấc. Đang lui cui công việc, Ông Tám chủ đìa vỗ vai hỏi Bảy Củ:
– Nè! thằng cháu thạo nướng không? Nếu không, Qua kêu đứa khác. Kẻo trớt he!
Bảy Củ tay làm, miệng nói:
– Dạ, cháu mần được.
Ông Tám mồi thuốc đưa Bảy Củ.
– Mần được, thằng cháu mần sao?
Cắm cá xuống đất xong, Bảy Củ lom khom vừa chất rơm, vừa trả lời:
– Dạ, ông Tư Xong Xuôi dặn đi dặn lại cháu canh đủ lượng rơm nướng cá.Lửa vừa tàn, cá vừa chín. Rơm dư, cá chín quá cỡ sẽ khét mất ngọt. Rơm thiếu, thịt cá nhão sẽ tanh mất ngon. Thêm rơm, nướng lại, kể như cá lóc nướng trui ”rồi chùa!”.
– Thằng cháu nầy, đích thực đệ tử chân truyền của thầy đìa Tư Xong Xuôi.
Nói xong, Ông Tám cười ngất.

Bảy Củ mần ” hết sẩy” cá lóc nương trui, thì Sáu – con gái Ông Tám chủ đìa – cũng vừa mần xong trải đệm, sắp xếp và dọn đồ bổi còn tươi rói: lá sen non, đọt xoài, đọt vừng, đọt mọt, lá điều non, húng lủi, quế vị, chuối chát, khế chua…đặt lên mặt những  tàu lá chuối xanh mượt. Bánh tráng, mắm nêm, muối ớt… quyện vào hương vị cá lóc nướng trui, tạo thành chất men đồng quê kích thích nước bọt ứa ra trong miệng mọi người không kiềm hãm được. Sáu vẽ dọc lưng cá lóc nướng, chăm chút gắp từng lọn  thịt cá trắng phau bỏ vào lá sen non cuốn lại, để trên vĩ than hồng, mùi thơm bát ngát. Cắn nửa cuốn lá sen non gói thịt cá lóc nướng trui còn bốc khói, uống nửa cái xây chừng rượu đế Tuyên Bình, khà vang một tiếng”mát trời ông địa”, giữa buổi chiều tà nơi điền dã, mới thấu cảm tình yêu quê hương của người Nam Bộ.
Họ yêu đất, yêu người. Họ thương nghèo, thương khó. Họ mang khổ, mang đau. Họ bằng lòng vui sống bao thứ ấy, trong môi trường thiên nhiên ưu đãi những bàu,những lung, những trấp…người cần cù, chí thú mần ăn, đều có thể đào đìa lớn, đìa nhỏ, đìa chiếc, đìa đôi… thêm vào đó, bom Pháp, Bom Mỹ,  cũng đua nhau đào đìa giúp bạn nghèo quanh năm , suốt tháng,”bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, nơi cái xứ sở ”muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh”.
Thiệt tình mà nói, nhờ vậy, mỗi nhà dù ở lút chét trong cậy Đồng Tháp Mười, chí ítcũng có một vài khẩu đìa để tới mùa đìa có cái ăn, cái biếu, cái mần mắm, xẻ khô…
Bảy Củ ngồi ăn, nhìn ánh trăng non chưa đủ tuổi đang mờ nhạt lẫn sương chiều. Bất giác chép miệng:
– Ông Trời giỏi thiệt!
Sáu ngồi sát bên, cãi lại:
– Anh Bảy nói ông trời giỏi thiệt, còn con người giỏi giả sao?
Không để Bảy Củ kịp phản vệ, Sáu chơi thẳng một mạch, chẳng kỵ vãi kỵ vi:
– Ông bà mình tính ngày mùa sít sao. Dứt lúa tới đìa, dứt đìa tới ruộng…Tháng giêng là tháng ăn chơi! Đúng là tháng ăn chơi. Tát đìa cũng chính là thú ăn chơi, vui hơn tết! Mùa tát đìa quê mình từ tháng chạp qua hết tháng giêng, có năm ló chút đỉnh sang tháng hai. Đàn ông đàn bà, con trai con gái, già trẻ…đều bỏ nhà bỏ cửa bu ra  đìa, tự do hít thở không khí sôi động, hứng khởi, cười nói rân trời, không bị ràng buộc bởi bất cứ một thứ đạo lý lệ thuộc nào. Mọi xích mích, đố kỵ nhỏ nhen…thói hư, tật xấu, được mọi người đồng lòng vứt bỏ xuống đìa, rồi chung tay phụ giúp tát đìa, chia tôm cá cùng ăn. Ngày trước, dẫu cá nhiều đến mức cộ cá bằng trâu, nhưng chẳng chủ đìa nào chịu bán cá đìa. Như một lời nguyền không văn tự, cá đìa còn gọi ”cá xưa”.
Bảy Củ trở bộ ngồi xếp bằng, Sáu rót thêm rượu, gắp lá sen cuốn cá lóc nướng trui bỏ vô chén Bảy.
– Tui nói vậy, anh thấy sao?
Bảy Củ lúng ta lúng túng. Thấy vậy, Sáu đốp luôn một phát:
– Nè, Anh uống đi , rồi nói!
Bảy Củ đưa ly xây chừng lên miệng uống một cái ”ực”, nghe đã cái mình. Rượu giúp
Bảy can đởm hơn:
– Tát đìa như ngày hội, tui thích lắm, không muốn mất nó. Quê tui không có mùa tát đìa, nên chẳng bao giờ được hưởng bầu không khí đầy ấp tình người như vầy.  Thú thiệt, mùa tát đìa vui hơn lệ cúng Kỳ Yên ở đình làng tui. Gió tháng giêng thổi thốc vạt áo bà ba nẩy ngược lên,Sáu kéo vạt áo xuống:
– Có ông nhà văn, nhà báo gì đó. À, tui nhớ rồi, ông Sơn Nam bảo rằng  ”Văn hóa đìa”. Tui lo, một ngày nào đó, đìa mất, tình người nhà nông cũng từ đó  mất dần, sự kết dính giữa người với người ăn rã, sự vô cảm biết đâu sẽ thống trị.
Bảy Củ tự tin:
– Làm gì có chuyện đìa mất? Có chăng, ngày nào đó mình mần cho mất đìa!
Sáu đứng dậy, thêm rau, bánh tráng và xớt mắm nêm vào chén mọi người. Lúc ngồi xuống, Sáu nói vừa đủ Bảy Củ nghe:
– Có những chuyện mới nghe qua, mình tưởng chuyện tầm xàm, bá láp, nhưng rồi thời gian và sự việc giúp mình sáng ra, thấm đau và nhớ mãi.
Ông Tám để ý thấy Sáu cứ rót rượu ép thằng Bảy uống miết, sợ nó say, lát nữa  không tát đìa nổi. Ông Tám rầy con:
– Cái con nhỏ sạo sự nầy, để yên cho thằng Bảy nó ăn no, tối tát trắng đêm đó!
Bà Tám đang chụm củi nấu nồi cháo cá, chen vô:
– Thằng Bảy, con lo ăn no đi, nó nói gì thây kệ nó.
Rồi Bà lầm bầm: Đúng là, ma cũ ăn hiếp ma mới.
Sáu giẫy nẩy, phản pháo:
– Con ăn, không hiếp. Anh Bảy hiếp, không ăn.
Tía má Sáu ngạc nhiên, mọi người ngồi chung mâm đệm trố mắt. ÔngTám hỏi:
– Bây nói sao?
Sáu cười cười, ngước nhìn Bảy Củ.
– Thì nói sao nữa, tui rành 6 câu, biết ” tỏng tòng tông” cái mánh ca nhận lớp, ca nuốt chữ của ảnh.
Như thể phân trần, Sáu lật ngữa bài:
– Tửu lượng anh Bảy đạt đến đỉnh thượng thừa, quỷ khóc thần sầu chứ chẳngchơi. Hôm tát đìa nhà Chú Tư Ló, mình ảnh chơi đứt 5 xị đế, vẫn tát ngon cơm.
Ông Tám cắt ngang:
– Đêm đó tao rõ rành rạnh,vì sỉn rượu nên thằng Bảy tát gàu chưa hết chớn thứ ba đã chúi nhủi té xuống đìa, thở rống hơn trâu đực cổ bị ong lổ đánh.
Nghe tía nói, Sáu cười sặc sụa:
– Tía và mọi người đêm đó bị lầm rồi, Tía ơi!
Ông Tư Xong Xuôi cầm cái xây chừng để xuống, thắc mắc:
– Xong xuôi, bây nói Tía bây lầm, mà lầm mần sao?
Bảy Củ chuyển bộ ngồi sếp bằng qua thế ngồi chòm hỏm, tay gảy đầu, mắt ngó Sáu lom lom, như nài nỉ: Sáu ơi, ngưng quay dây thiều, tắt đĩa hát đi…đừng kể.Sáu nào phải tay vừa, bị tức cái bụng anh ách từ đêm ấy…cái đêm Bảy bỏ Sáu đi bắt cặp tát đìa với Chín Hồng – con gái út chủ đìa Chú Tư Ló – Đây là dịp để Sáu xổ cái tức vào Bảy Củ.
– Anh Bảy bắt cặp với Chín Hồng và ra kèo: ai đứng gàu không đổi tay liên tục 3 hiệp – mỗi hiệp áng chừng nửa tiếng đồng hồ – người đó sẻ thắng. Người thắng có quyền bắt xác kẻ thua. Có tiếng xì xào râm ran quanh mâm đệm, tiếng ai đó nói: động trời nha! Rồi tiếng  cãi lại: hết sẩy, tuyệt cú mèo! Hấp dẫn, tiếp đi Sáu…tiếp đi Sáu! Rồi sao nữa?
– Anh Bảy ỷ sức vóc vạm vỡ, hùng hùng, hổ hổ, giương oai diễu võ. khoe cơ bắp gân guốc giựt gàu ”lấy le” Chín Hồng. Trong lúc đó, Chín Hồng điềm đạm đứng tấn chữ đinh, giữ hơi thở đều hòa theo nhịp hạ gàu lấy nước thì khom lưng vừa phải, gàu múc nước thì nhẹ nhàng thả dây đít, cất gàu lên kéo dây miệng căng vừa đủ. Đôi tay Chín Hồng lã lướt dưới ánh trăng, mới nom như  đang thong thả chải tóc. Mặt Bảy Củ đỏ rần, không biết đỏ vì rượu hay vì mắc cỡ.
Sáu nói tiếp:
– Cuối hiệp 2, anh Bảy nín thinh, không còn nói ”cà rỡn” với Chín Hồng. Có lẽ, giờ thì anh hùng thấm mệt, mồ hôi ướt mặt ướt áo như tắm, thở hả họng..Vào hiệp 3, anh Bảy cấm đầu chúi nhủi, té xuống đìa.
Sáu luận rằng, anh Bảy cấm đầu chúi nhủi, té xuống đìa bởi không nắm rành rẽ bíquyết tát đìa, chứ không phải bởi rượu. Cương chẳng thể thắng nhu trong trường hợp nầy, và anh cũng chẳng thể đủ sức bắt xác Chín Hồng, cành thảo hoa của vùng  đất Đồng Tháp Mười hoang dã.
Mọi người – kể cả tía má Sáu – buông đũa, cười bò lăn bò ngửa . Bảy Củ không giận Sáu, vì biết chắc rằng Sáu ghen đâm ra tức.

3.

Sau ngày xóm làng yên tiếng súng, má con Bảy Củ trở về quê. Những lúc buồn, Sáu thường ra sau đìa ngó qua bến nước Cái Rưng – Bông Súng trống huơ trống hoác.
Sáu nhớ, không rõ vì sao nhớ?  Cả xóm bây giờ, đám con nít không còn chạy giỡn như trước, nhà ai nấy ở và ít qua lại, chó biếng sủa, gà vắng gáy…không gian im ắng ngột ngạt, mọi thứ quay quắc thay đổi,chẳng như người ta tưởng.
Ông Tám họp ở xã về, ngồi bệt xuống ngạch cửa, cầm cái nón lá rách quạt phành phạch cho đỡ mệt.
Bà Tám ra  lu mái vú, múc tô nước mưa đưa chồng.
– Họp, mấy ổng nói gì, tía con Sáu?
Ông Tám ực một hơi cạn tô nước, xả cơn tức. Rồi thở dài, tiếng thở dài buông xuôi.
– Họ bảo, công hữu hóa tư liệu sản xuất là linh hồn Hợp Tác Xã, nên từ rày về sau, tư liệu sản xuất không còn thuộc riêng của mình nữa.
Bà Tám nghe mấy chữ ”công hữu”, ”tư liệu sản xuất”…điếc con rái, thắc mắc:
– Mấy ổng bảo vậy, nghĩa là sao?
Sáu ngồi vót tre, nói hớt:
– Thì 4 mẫu ruộng, 5 cái đìa, 7 cái lung trấp, hai con trâu đực cổ…cuốc, xẻng, xà beng…
tất tất phải đưa vô Hợp Tác Xã và thuộc của chung.
Bà Sáu cự cãi con Sáu:
– Mầy giỏi nói tầm bậy tầm bạ. Ai mần ăn bất nhơn? Cái gì của tao là của tao, đổ mồ hôi xót con mắt chớ cướp giựt ai, thì sao gọi của chung? Tía mầy cày, tao dắt mũi trâu. Vậy, cái mình tao cũng thuộc của chung Hợp Tác Xã, à!  Hỏi tía mầy chịu hôn? Ngay 5 cái đìa nhà nầy, đâu phải từ trên trời rớt xuống, tao với tía mầy mướn thêm bạn, đào ngày đào đêm, cực thấy ông thấy cha mới có.Tao chống tới bến!
Sáu biết má giận nên nói xởi lởi và nhắc khéo:
– Nhà mình thuộc diện tử sĩ chớ không liệt sĩ, nha má!
Bà Sáu mặt đỏ phừng phừng:
– Thằng Hai, anh mầy, nó đi lính đồn Long Khốt là do Chú Năm Binh Vận tổ chức để làm nội tuyến. Đêm đánh đồn, chẳng biết mần ăn ra sao, thằng nhỏ chết ngắt. Gần ba năm, chưa ai chịu xác nhận. Thiệt tình!
Ông Tám đứng dậy, vừa đi vô nhà, vừa nói:
– Tui đang mệt, má con bà mần tui mệt thêm. Chuyện qua rồi, thôi đừng nhắc. Mần
dân, người ta sao mình vậy. Hồi chiến tranh, ngày Quốc Gia đêm Việt Cộng, mình chịu miết rồi cũng quen.
Ông quay lại nói với vợ:
– Sáng nay, tui nói chắc nịch với xã, muốn gì thì muốn, còn gần tháng nữa tới
mùa đìa, tát đìa xong rồi hẳn tính.
Bảy Củ, con em gia đình liệt sĩ, được nhận vào Công An xã nhà.  Má Bảy Củ, mẹ liệt sĩ, được người trong làng trong xóm kính nễ . Lúc bận việc hay khi rảnh rỗi, Bảy Củ luôn nhớ nơi mình một thời tá túc, một thời nương nhờ. Nhớ bến đò Cái Rưng – Bông Súng đã nuôi sống má con ngày khói lửa, nhớ tình đất, tình người thầy đìa Tư Xong Xuôi, Ông Bà Tám…Đặc biệt là Sáu, có xa nhau mới thấu hiểu nỗi nhớ khôn nguôi thế nào! Mấy lần, Bảy Củ định về Vĩnh Đại thăm những người thân, nhưng công việc cứ dồn nên chưa rứt ra đi được.
Một hôm, qua người quen, Bảy Củ nhận tin Sáu nhắn về Vĩnh Đại tát đìa.  Nghe hai tiếng tát đìa, Bảy Củ mừng quýnh quáng trong bụng, nhờ chị Tư  hàng xóm chăm sóc dùm má, xin tổ chức đi tìm bốc mộ ba. Sắp xếp xong, Bảy Củ nhảy tàu đò, vọt lên Vĩnh Đại.

– Sáu ơi, tui bị dính rồi!
Bảy Củ ôm bàn tay trái đội lên đầu, mặt nhăn nhó đau nhức. Sáu biết Bảy Củ bị ngạnh cá trê trắng chém, trườn mình lên bùn đến bên Bảy Củ.
– Anh đau lắm không? Đưa em coi.
Một dòng máu lẫn bùn rịn ra, xót ruột xót gan Sáu.
– Thôi anh lên đi, để em bắt thêm vài con cá lóc.
– Tui lên không được.
– Sao anh lên không được? Lên lẹ đi anh!
Sáu thúc giục Bảy Củ.
Bảy Củ ngồi lỳ dưới bùn, tiếp tục nắm bàn tay trái đội đầu và rên nhức. Cầm lòng không đặng, Sáu trườn bùn đến sát mình Bảy Củ. Thất thần, Sáu giạt ra:
– Quần anh đâu? Sao ở truồng?
Nói xong, hai gò má của Sáu ửng hồng dưới nắng sớm mai, trố mắt ngó Bảy Củ.
– Quần tui tuột theo bùn hồi nào không biết. Mần sao lên được?
Đìa rộng mênh mông, bùn non nhão nhẹt, biết quần tuột chỗ nào mà tìm với kiếm? Sáu lột đại cái khăn rằn quấn đầu, đưa cho Bảy Củ vận mình lên bờ.
– Nhức quá Sáu ơi!
– Em nghe má nói, bị dính thì ráng chờ nước lớn sẽ hết nhức.
– Chắc nhức chết, chờ sao nổi Sáu?
Sáu thương Bảy Củ, ái ngại hỏi:
– Em biết phải mần sao?
Bảy Củ rụt rè nói lắp bắp, rằng ở xứ anh, mấy thằng bạn bí mật mách nước: khi bị dính, mau ba chân bốn cẵng chạy tìm chị em cứu giúp, cứ đưa nơi dính quẹt quẹt
vào chỗ ấy…hơi ấm chỗ ấy sẽ  làm dịu cơn đau và hết nhức.
Sáu nghe Bảy Củ nói bán tín bán nghi, đôi gò má từ ửng hồng chuyển sang đỏ gất. Bảy Củ lần bùn nắm tay Sáu.
– Sáu, em cho tui quẹt quẹt chỗ ấy… nha!
Sáu nửa muốn rụt tay ra, nửa muốn để yên cho Bảy Củ nắm. Sáu giựt mình  nghe Bảy Củ lập lại:
– Sáu, em cho tui quẹt quẹt chỗ ấy… nha!
– Ý đâu có được, chỗ ấy… ai mần chồng em mới có quyền quẹt quẹt.
Sáu cương quyết, dứt khoát. Bảy Củ xoay ngang người, bất ngờ chụp ôm Sáu vào lòng.
– Tui xin được mần chồng em, Sáu ơi!
Đôi cu gáy đang gù nhau trên vòm tre bờ đìa buổi sớm.

Sau mùa đìa ấy, toàn bộ ruộng đất, đìa bàu trấp và kể cả đôi trâu đực cổ, mà Ông Bà Tám mần cật lực 6 mùa lúa mới sắm được, thuộc về Hợp Tác Xã nông nghiệp Vĩnh Đại quản lý. Ông Tám trầm ngâm và trở nên ít nói, Bà Tám mỗi lần nhớ trâu, nhớ  ruộng, nhớ đìa… mỗi lần bức rức tiếc công, tiếc của…lại khóc. Nhiều đêm bà nghĩ lung lắm, có được một sản nghiệp như ngày nay là cả một quá trình lao động trối chết, chớ có thò tay lấy của ai hột lúa hột gạo nào. Có nụ thì mới ra hoa, có ra hoa thì mới đậu trái. Mấy cha nội nầy, muốn ăn tắt đón đầu bẽ trái, không cần nụ ra hoa. Trong tình yêu trai gái, đi tắt đón đầu như vậy, chẳng khác thằng hiếp dâm!
Ông Bà Tám cho Sáu đi học may, đề sau nầy nuôi tấm thân, nghề ruộng nương  đến đây coi như đứt nọc. Đêm ngày, Sáu lóng ngóng trông đứng trông ngồi Bảy Củ.

Trao đổi với Bảy Củ về chuyện xin cưới Sáu, tổ chức đơn vị dứt khoát không chấp thuận, vì vi phạm nguyên tắc ngành. Sáu có người anh đi lính chết trận đồn Long
Khốt, ba Sáu từng tham gia phòng vệ dân sự ấp.
Bảy Củ mất ngủ nhiều đêm, vì sự giằng co giữa truyền thống gia đình và  tình yêu Sáu. Bảy Củ dốt chữ nhưng không nuốt lời, nhớ những gì đã làm và đã hứa
với Sáu. Má Bảy Củ biết con mình đang lâm vào thế ” tiến thối lưỡng nan”, Bà im lặng cốt để con tự do chọn lựa.
Cây vông bên ao làng bắt đầu trổ hoa, nắng hè rát mặt. Bà đang nằm trên võng sau vườn, Bảy Củ bước rón rén tới gần má. Bà hỏi:
– Bộ bữa nay nghĩ việc sao con?
– Dạ!
Nghe tiếng dạ rất khẽ, khác hoàn toàn tính khí thường ngày của Bảy Củ, bà ngồi dậy:
– Có chuyện gì, con cứ nói.
Bảy Củ bật khóc, con bỏ truyền thông gia đình, bỏ ngành, để lấy Sáu làm vợ. Một tội  tày trời, chưa bao giờ dám nghĩ tới. Lạy má tha tội. Bà dịu dàng nắm tay đứa con trai cuối cùng của dòng họ chồng.
– Con đã nộp đơn nghỉ việc chưa?
– Dạ rồi, má!
Bà mắng yêu Bảy Củ:
– Con trai gì mà yếu mềm, khóc lóc! Chẳng giống Ba, giống anh Hai, chị Ba của con  chút nào hết. Mạnh dạn lên, dũng cảm nhận trách nhiệm sự lựa chọn của mình.
Rồi bà giải thích cho Bảy Củ hiểu:
– Truyền thống gia đình là truyền thống gia đình, ngành là ngành. Hai cái đó, chẳng  ăn nhập gì nhau. Truyền thống gia đình là cái không thay đổi, còn ngành sẽ thay đổi,
nay quy định vầy, mai quy định khác, hơi sức đâu con để ý mệt thân.Sống tử tế, chính là con đã giữ truyền thống gia đình. Còn ngành, không làm ngành nầy thì làm ngành khác.
Mặt Bảy Củ dãn dần ra, miệng cười nụ. Bà rầy, cười nụ là cười nịnh.Cười nịnh má thì được, cười nịnh người ngoài sẽ xấu hổ tông chi họ hàng!
Hai má con đi từng bước trên đường dừa đầy đốm nắng. Chợt bà nhớ mấy chục năm về trước, cũng trên đường dừa nầy, bà đưa chồng đi theo kháng chiến.
– Má ưng cái bụng khi con chọn cưới Sáu. Đó là, phẩm chất của con người.

Bảy Củ giữ lời hứa, đám cưới nghèo của đôi vợ chồng trẻ diễn ra thật vui, thật hạnh phúc, trong thời ngăn sông cấm chợ.
Mấy năm sau, Hợp Tác Xã nông nghiệp Vĩnh Đại tự rã. Bảy Củ thay Tư Xong Xuôi mần nghề thầy đìa. Lần hồi, đìa bàu chẳng còn dưới cơn lốc khai hoang Đồng Tháp Mười, chuyển một vụ lúa vượt nước bấp bênh, thành 2 vụ lúa ngắn ngày ăn chắc.

              Khi có được 3 đứa cháu nội trai gái, Má Bảy Củ mất, mang theo nỗi buồn cay  đắng, vì người ta gác lại chuyện phong tặng danh hiệu  ”Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho bà, với lý do, bà đã đi tái giá!
Giờ đây, Bảy Củ thành ”lão nông tri điền”, một huyền thoại thầy đìa cho lớp  nông dân trẻ muốn tìm hiểu chuyện xưa Vĩnh Đại. Với vợ chồng Bảy Củ, chuyển tâm
không chuyển cảnh, chẳng coi ai là bạn, là thù. Suy cho cùng, tất cả đều là con người.
Mùa tát đìa cuối cùng năm ấy đã đi qua khá lâu, mà dư vị ngọt bùi, cay đắng, vẫn còn động mãi trong lòng vợ chồng Bảy Củ.

 

 

Advertisements

Read Full Post »