Huỳnh Ngọc Nga
Không phải tự dưng tôi mê chuyện viết lách, cũng không phải tự dưng tôi chọn quảng thời gian tuổi nhỏ làm điễm mốc cho hành trình chữ nghĩa của tôi hiện giờ dù thực sự ở môi trường nầy tôi chỉ là dân không chuyên và chẳng là gì hết trong giới văn nhân. Thiên hạ viết đa số nhờ thiên phú hay nhờ đam mê, duyên nghiệp, v.v… còn tôi viết nhờ…xấu hổ nên tức mình tập tành, học hỏi để viết sao cho không đến nổi tệ như bài viết “nổi tiếng” của tôi ngày nào, bài viết đặc biệt đó đã làm tôi hiểu nhiều hơn thế nào là sự chân thật của một bài văn.
….. Nói ra sẽ ít người tin, nhưng thực sự tôi “thành danh” từ năm học lớp ba, lúc mới bảy tuổi đầu, cái tuổi thích được mọi người vuốt tóc khen “bé ngoan, bé giỏi” để chờ đuợc thưởng một cái gì đó của những bậc “thân cao, tuổi trọng”. Trong nhà tôi là chị cả, dù lúc đó chỉ là chị cả của ba đứa em mới lên hai, lên ba nhưng tôi cũng thích được “làm gương” cho chúng nó. Chính vì những cái thích ngây thơ đó mà tôi luôn cố gắng học với ước mong sao lúc nào mình cũng đứng đầu sổ các môn học nhà trường. Nhưng ước mong là một chuyện, còn “tài năng” để đạt được ý muốn hay không lại là chuyện khác, tôi dốt toán dù đã cố gắng hết mình, để đủ điễm cuối tuần đuợc đứng hạng cao tôi phải cật lực “học thuộc như cháo” các môn học thuộc lòng như sữ, địa, khoa học, vệ sinh, công dân giáo dục, đức dục…Chưa đủ, còn phải tập viết, tập vẽ và thêu may sao cho thật đẹp để được điễm cao nửa.
Cô Liễu là cô giáo lớp ba của tôi, cô hiền như một bà mẹ của cái lớp ba lúc nhúc trên sáu mươi đứa học trò lúc nào cũng lăng quăng như bầy gà nhỏ trong sân. Cô biết cả ưu lẫn khuyết điễm của sức học tôi, có lần “phát” cho tôi cái “trứng vịt” to tướng của một bài toán đố về hình học cô bảo tôi phải ráng thêm những gì cần cho sự suy nghĩ chứ chỉ chăm chú làm con két học thuộc lòng sẽ không khá lắm đâu. Tôi “đau khổ” và quyết phải làm “cái gì” đó chứng minh cho cô thấy là tôi cũng có đầu óc để suy nghĩ chứ không chỉ để học thuộc lòng những gì cô viết trên bảng. “Cái gì” đó chắc chắn không phải là những con số của các đề toán cô cho mà sẽ là những bài luận văn “đệ nhứt hạng” cho bạn bè lé mắt và cô sẽ phải suýt soa khen vì luận văn là môn học phải dùng “đầu óc suy nghĩ” mà, há cô đã chẳng khuyên tôi như thế sao.
Tuần lễ đó, môn luận cô cho cả lớp đề bài “Hảy tả buổi cơm chiều trong gia đình em”. Sau khi cô đã góp ý cho chúng tôi vài ba chi tiết theo dàn bài hướng dẫn, chúng tôi được phép đem bài về nhà làm và nộp vào ngày sau. Trưa đi học về, ăn cơm xong là tôi lôi giấy viết ra bàn ngồi “thả bút đề văn”. Tả gia đình có gì là khó đâu, tôi nghĩ vậy, chỉ cần đếm trong nhà có bao nhiêu người rồi kễ vào, dễ ợt mà. Nhưng, muốn bài hay phải suy nghĩ sao cho khác tụi bạn mình mới đuợc vì chắc đứa nào cũng sẽ tả là trong nhà có ba, có má, có em và có cả ông bà, ừ, gia đình thì phải vậy rồi; cơm chiều khác cơm trưa vì ăn xong sẽ khỏi phải đi làm hay đi học mà sẽ chuẩn bị đi ngủ, nhà nào lại chẳng thế. Tôi ngồi vừa đập muỗi vừa toan tính cách làm bài cho thật “nổi”, vùng Chánh Hưng thuở đó sông lạch bao quanh nên muổi mòng ngày như đêm lúc nào cũng vo ve quấy nhiễu con người, nhất là những ngừoi đang cần sự yên tỉnh để làm chuyện “đại sự”. Đập đến hơn mười con muỗi mà phần nhập đề vẫn chưa “nhập” được thì tôi chợt nhớ đến quyễn Quốc Văn Toàn Thư lớp Ba mà ông anh bà con cô cậu của tôi cho tôi hồi đầu niên học. Và thay vì ngồi tiếp tục suy nghĩ để làm cho xong bài luận, tôi đứng dậy đi tìm cuốn sách nói trên để “cọp dê” một bài viết trong đó mà tôi vẫn thích và thường hay đọc. Bài viết kể chuyện một gia đình hạnh phúc, cơm chiều cả nhà quay quần bên nhau, xong buổi ăn mẹ cắt cam cho cả nhà. Lúc đó bà đang bịnh, đứa cháu nhỏ không ăn đem cam nhường cho bà có thêm cam ăn mau hết bịnh, mẹ thấy thế nhường phần cam của mẹ cho con, cha cũng “noi gương” nhường cam cho mẹ. Tôi thấy bài nầy hay lắm, vì nếu chỉ kể “xong cơm chiều, con học bài, cha đọc báo, mẹ vá áo, bà đùa với cháu” thì chẳng có gì để gọi là “suy nghĩ” cả, tầm thường quá cô giáo sẽ cho điễm trung bình thôi, phải lấy ý cái bài chia cam nầy mới được, chắc sẽ chẳng có ai viết được chuyện gia đình một cách“cảm động” thương yêu nhau như vầy đâu. Thế là tôi bắt đầu viết, thoạt tiên còn định sẽ chỉ “mượn” ý thôi, còn văn của mình, nhưng cán viết đầy dấu răng tôi cắn mà chữ nghĩa chẳng chịu chạy ra, cuối cùng tôi cho gần trọn vẹn bài viết trong quyển sách di chuyển vào trang giấy trắng của tôi, thêm thắt chút đỉnh để cô giáo biết là nhà tôi còn có thêm con chó mực lúc nào cũng nằm trước cửa giữ nhà. Viết xong đoạn kết cho “đây là gia đình tôi, một gia đình hạnh phúc” tôi lẫm nhẫm đọc lại và thấy sao “mình viết” hay quá đổi là hay, tôi nghĩ thế nào bài luận nầy cũng được cô tôi đọc lên cho cả lớp cùng thưởng thức và chưa nộp bài mà tôi đã thấy tôi “trên đài vinh quang” vào hôm bài đươc phát rồi.
Chiều hôm đó, cả nhà ăn xong ba tôi đi qua nhà ông cậu tôi đánh cờ tướng, má tôi dọn dẹp lau rữa dưới bếp, chúng tôi kéo lên nhà trên ngồi bên võng của nội tôi để nghe nội kể chuyện ma hồi nội còn nhỏ, khoảng chín giờ là tôi phải lên giường đi ngủ để chuẩn bị cho ngày mai thức sớm đi học. Lên giường rồi tôi ngẫm nghĩ để thấy sự khác biệt của gia đình tôi giữa sự thật ngoài đời và văn chương trong bài luận tôi tả sao chẳng có gì giống nhau hết, tôi nghe hình như mình đã làm một điều gì không đúng trong bài luận sẽ nộp vào sáng mai, tôi nhắm mắt chập chờn đi vào giấc ngủ với chút mơ hồ không hiểu “sự không đúng” đó nằm ở đâu, trong tôi hay trong bài luận.
Một tuần trôi qua, ngày phát bài luận đã đến. Tôi hồi họp chờ đợi “phút vinh quang”, chờ lúc cô phát hết những bài “tầm thường” hay “dở ẹt” cuả các bạn xong sẽ trịnh trọng cầm bài luận của tôi khen đây là bài luận hay nhứt của trò Ngọc, người mà bấy lâu nay cô tưởng chỉ biết học như két chứ chẳng biết dùng trí để nghĩ suy. Lúc đó tôi sẽ sung sướng đến đỏ mặt thẹn thùng để chứng tỏ tính khiêm nhượng của tôi như bài Đức Dục cô mới giảng cách đây không lâu.
Giờ phát bài luận tả “gia đình tôi” diễn ra trong tiếng cười của cả lớp khi cô đọc những lời văn “ngây ngô” của đám học trò, chẳng hạn “ba tôi lùn; má tôi cao; em tôi chưa biết đi; chị tôi da trắng, tóc dài; tôi da ngăm, tóc ngắn….” và cũng có cả những tiếng xì xào khi cả lớp biết đươc chuyện riêng tư của gia đình các bạn mình lúc cô đọc các bài kể lể nào chuyện cha theo vợ bé không ăn cơm chiều, chuyện mẹ không chịu ở nhà nấu cơm mà chỉ đi đánh bài suốt buổi nên chiều rồi chưa có cơm ăn, có bạn thuật lại việc được chị hối lộ bánh kẹo để nhờ trao thư tình cho anh hàng xóm, chuyện giành đồ chơi đánh lộn với em trong nhà, v.v..và v.v..Lần lượt các bạn tôi được phát lại bài của mình trong khi tôi sung sướng thấy tên mình chưa được kêu đến vì tôi biết thường các bài luận đặc sắc cô luôn phát sau cùng. Và bây giờ thì phút giây mong đợi của tôi đã đến khi cô nhìn về hướng tôi và nói:
– Ngọc, Vàng các em là hai chị em ruột một nhà phải không?
Nói xong cô quay về hướng Đặng thị Vàng – bạn học và cũng là bạn láng giềng của tôi – đang ngồi ở dãy bàn sau lưng tôi, tôi quay đầu nhìn nó, nó giương mắt nhìn tôi, cả hai đứa tôi cùng đứng dậy và cùng ấp a, ấp úng pha lẫn chút ngạc nhiên:
– Dạ thưa cô không phải, tụi em chỉ ở gần nhà nhau thôi.
Có tiếng lào xào đây đó, thằng Tuyền ngồi cuối lớp đưa tay cao xin phép cô để đứng dậy, thưa:
– Thưa cô, hai trò đây gần như là chị em ruột vì có hai bà má cùng bán vải, má trò Ngọc bán ở chợ Nancy, má trò Vàng bán ở chợ Saigon.
Cả lớp cười ào, tôi và Vàng thì ngớ ngẩn, cô cũng cười nhưng ngay tức khắc cô lấy lại vẽ nghiêm nghị nhìn tôi và Vàng, cô nói:
– Vậy à? Thế tại sao cả hai em cùng tả cảnh gia đình giống hệt nhau như vậy ? Bài của các em là hai bài hay nhất, nhưng cũng đặc biệt nhất. Cả lớp nghe đây.
Tôi nghe tim mình đánh thình thịch như tiếng trống trường của chú Năm giám thị, tôi nghĩ chắc có chuyện gì rồi. và tự hỏi không lẽ con nhỏ Vàng và cô cũng có quyển Quốc Văn Toàn Thư lớp Ba như tôi sao, từ trước đến nay tôi cứ tưởng chỉ mình tôi có quyển sách đó thôi chứ. Sau lưng tôi, nhỏ Vàng làm thinh không trả lời, tôi cũng nghe miệng mình cứng ngắt không biết mở cách nào để đáp lời cô.
Từ trên bục giảng cô bước xuống, trên tay cầm hai bài luận của tôi và Vàng, đến trước bảng đen cô đứng lại, chậm rãi đọc toàn vẹn bài luận của tôi, xong cô nhìn cả lớp, nói:
– Bài của Vàng cũng không khác chi bài của Ngọc, chỉ thiếu con chó Mực giữ nhà hay sủa bậy mà thôi. Nếu cả hai không là chị em một nhà thì các em cùng chép lại từ chung một quyển sách phải không? Nếu cô không lầm thì đó là quyển Quốc Văn Toàn Thư lớp Ba, đúng không Ngọc? đúng không Vàng?
Tôi sượng sùng vì mắc cở, tay chân lạnh ngắt, có lẻ nhỏ Vàng ngồi phía sau cũng chẳng khác chi tôi. Tôi ước chi mình mọc được đôi cánh, không phải để bay cao lên “đài danh vọng” như mấy câu văn tôi thường nghe qua radio của các tuồng cải lương đuợc truyền thanh trong những chiều thứ bảy hàng tuần mà để bay ra khỏi lớp hầu chạy trốn đôi mắt nghiêm nghị của cô tôi cũng như những tiếng cười chế giễu đang xì xào vang lên của đám bạn cùng lớp. Tôi cúi gầm mặt xuống bàn, nghe hình như nước mắt đang chực ứa ra, không biết vì sợ cô hay vì xấu hổ vói bạn bè, tôi lí nhí trả lời cô:
– Dạ thưa cô, đúng.
Tiếng nhỏ Vàng yếu ớt vang lên sau lưng tôi:
– Thưa cô, em lở dại.
Cô im lặng, đi chậm xuống cuối lớp rồi từ đó đi ngược trở lên, ngang chổ bàn tôi và Vàng cô đứng lại, để hai bài luận của chúng tôi vào đúng vị trí mỗi đứa, cô thở dài, giọng đều đều như những khi cô giảng bài:
– Các em có biết Luận văn còn gọi là Tập Làm Văn không? Gọi như thế để chúng ta cùng hiểu đây là môn học dạy các em cách viết văn, viết bằng tư tưởng và các hành văn của mỗi em. Luận văn cho các em áp dụng các bài học văn phạm, ngữ vựng hoà chung với những nghĩ suy riêng tư của các em về một đề tài nào đó. Các em có thể đọc bài của người khác để tìm thêm ý, học thêm lời, trau chuốt thêm cách hành văn nhưng các em không thể lấy trọn cả bài người khác để làm bài của mình, như vậy gọi là đạo văn, tức là ăn cắp văn. Những người đạo văn như vậy xấu lắm vì không biết tự trọng, các em hiểu không?
Ngừng một chút, cô nói nhẹ nhàng hơn:
– Ngọc, Vàng, các em còn nhỏ, đừng tập tánh xấu đó, nếu các em không bỏ, tật đó sẽ thành thói quen sau nầy và không tốt cho cuộc sống các em đâu. Lần đầu, cô phạt mỗi em phải về nhà viết hai trăm lần câu “Tôi không chép bài người khác”, nếu còn tái phạm sẽ bị mất điễm hạnh kiểm và không được bảng danh dự đó, nghe chưa? Thôi, cả hai ngồi xuống đi.
Và như chợt nhớ ra điều gì, cô nhìn cả lớp, nói:
– Muốn viết văn hay cần phải đọc sách nhiều và nên lựa sách đàng hoàng mà đọc, các em hảy nhớ điều nầy.
Suốt buổi học hôm đó tôi cơ hồ chẳng cho vào đầu được chữ nào cả, sự xấu hổ càng gia tăng khi mấy thằng bạn hay phá phách trong lớp gọi tôi là “Cọp” và Vàng là “Dê” để gán hai đứa thành hai chị em “cọp dê” tức ăn cắp bài người khác. Tôi về nhà bỏ buổi cơm trưa, rầu rĩ nhớ điễm bài luận cô cho chỉ có một điễm mà đám học trò chúng tôi thường kêu là điễm “cây gậy”, như vậy kể như tuần lễ nầy tôi sẽ bị tuột hạng là cái chắc, lại còn phải viết hai trăm lần câu phạt nửa. Ôi, “đạo văn” sao khổ thế nầy, nhất định từ rày về sau tôi sẽ làm người “lương thiện” hơn. Tôi sẽ cố gắng viết bằng chữ nghĩa của chính tôi và sẽ cho cô tôi thấy tôi là đứa học trò biết vâng lời. Tôi dấu kín chuyện bị phạt không cho ba má tôi biết, cũng làm thinh không hỏi Vàng về sự trùng hợp bài văn trong quyển Quốc Văn Lớp Ba, mọi chuyện đã rồi, hỏi han cho lắm chỉ khơi lại sự xấu hổ mà thôi, việc trước mắt bây giờ là tôi phải tìm nhiều sách để đọc như lời cô khuyên và nhất định những kỳ luận văn sau tôi sẽ là tôi bằng lời văn, ý tưởng của chính mình.
Những ngày sau đó tôi đi lục lạo những đống sách báo cũ trong nhà lôi ra đọc như một nghiên cứu gia, chưa hết, tôi xin nội tôi cho tôi đọc mấy quyển kinh Phật của ông cố tôi để lại và cũng trong đống kinh sách quý giá nầy tôi tìm thấy những bộ truyện Tàu dày cộm. Không biết sự vấp ngả của “bài luận tuyệt vời” hôm nào với cánh tay nâng đở của cô giáo tôi bằng những lời dạy dỗ chí tình đã giúp tôi đứng dậy hay cái duyên chữ nghĩa bắt đầu đến với tôi từ hôm đó mà tự dưng tôi say mê đọc sách báo một cách lạ kỳ. Những lúc rảnh rổi sách luôn trên tay tôi, tôi đọc ở nhà và mang sách đọc luôn ở trường, bảy tuổi đầu tôi đã thành con mọt sách, con mọt đó thoạt đầu ăn chữ của những quyển kinh Phật, truyện Tàu, truyện cổ tích và chuyện hình vẽ, và những năm sau này lại thêm truyện dịch, tiểu thuyết trinh thám, trữ tình, đủ loại….. Đặc biệt tôi đâm mê chuyện Tàu như dân ghiền mê thuốc phiện, đọc ở nhà chưa đủ tôi chạy ra nhà bà Hai Kiệm trong xóm để mướn các chuyện Tàu khác đọc thêm. Tiền mướn một cuốn mổi ngày là năm cắc bạc, tiền ba má tôi cho để đi học trước kia tôi hay mua nước đá nhận hay nước đá đậu đỏ bánh lọt của xe nước đá chị Lầm Keo ở ngả ba đầu chợ nay đuợc tôi ca cũm đem “đóng” hết cho bà Hai Kiệm để “làm quen” với nào La Thành, Đơn Hùng Tín,Uất Trì Cung, Tần thúc Bảo, v.v….Những bài luận văn sau này của tôi đuợc cô Liễu đem ra đọc cho cả lớp cùng “thưởng thức” đi kèm với những lời khen “có tiến bộ” làm tôi hả hê nức mũi, sự hả hê chứng tỏ tôi đang đi đúng con đường cô dạy, đọc sách là phương pháp giúp những bài luận “thăng hoa”. Tìm ra được bí quyết rồi tôi lại gia tăng “tốc độ” đọc sách nhiều hơn ở những năm học lớp nhì, lớp nhất. Tôi đọc cho đến nổi quên học bài, quên luôn lớp nhất là năm cuối cùng để thi vào Trung học nên kỳ thi Đệ Thất năm đó tôi trợt vỏ chuối đau điếng. Nhờ thầy Công – người dạy tôi năm lớp Nhất – giúp đỡ cho tôi học ké thêm năm tiếp liên, tôi bỏ bớt thời gian đọc sách và chăm chỉ học đàng hoàng hơn, thi lại lần nửa lớp Đệ Thất trường Gia Long lần nầy tôi đậu, không biết có nhờ phần nào bài Luận tôi làm kỳ thi đó không.
Vào Đệ Thất, học trường lớn có Thư Viện đầy ấp đủ loại sách tôi lại bắt đầu “tìm về đường cũ”, con đường ngày xưa tôi đi mướn sách từ nhà ra tiệm chuyện Tàu của bà Hai Kiệm trong xóm, con đường bây giờ là con đường từ lớp đến Thư viện sau mỗi giờ ra chơi, sách Thư Viện đọc khỏi phải trả tiền, chỉ cần cẩn thận giữ gìn không hư rách mà thôi, hôm nào đọc chưa xong tôi lại mượn sách đem về nhà, đọc bao nhiêu cũng không nghe đủ, càng đọc càng muốn tìm nhiều sách để đọc thêm. Khốn khổ một điều là tôi chỉ thích đọc sách truyện, tiểu thuyết chứ không hạp sách giáo khoa bao nhiêu vì vậy năm đầu bậcTrung học đến mùa hè thay vì đuợc thảnh thơi nghỉ ngơi như bè bạn tôi lại phải cắm cúi học thêm Toán để thi lại môn học khô khan nầy dù tính trên phiếu điễm cuối năm tôi vẫn trên điễm trung bình để lên lớp.
Trong khi các giáo sư dạy Toán, Lý Hoá vẫn nhìn tôi bằng đôi mắt nghiêm khắc thì trái lại tôi trở thành học trò cưng của cô Mận, giáo sư Việt văn của lớp. Tôi đứng nhất tất cả các kỳ thi lục cá nguyệt về Luận văn, Kim văn, Cổ văn. Những bài luận của tôi bấy giờ tôi viết bằng sự học hỏi, hiểu biết của mình, tuyệt nhiên không dám “cọp dê” bài vở của ai hết, lời dạy của cô Liễu năm xưa tôi vẫn còn nhớ, chưa quên. Nhưng tôi bỏ được tật xấu cũ thì lại nẩy sanh tính xấu mới. Được cô Mận cưng “ra mặt”, bất kỳ chuyện gì khi giảng bài cho cả lớp, cô vẫn thường kêu đích danh tôi để hỏi như một mẫu mực cho bạn bè lắng nghe và may mắn một điều là đa số các câu cô hỏi tôi đều trả lời đúng khiến cô thêm hài lòng và tôi từ đó sinh tự mãn để cuối cùng thành tự kiêu, mười hai tuổi tôi đã ngở mình là một nhà văn lớn dù chưa viết quyển sách nào. Tính xấu đó, may thay tôi giấu được trong lòng chứ chưa huênh hoang vênh váo cùng các bạn tôi.
Năm lên Đệ Lục, bịnh “tưởng” mình giỏi của tôi vẫn không giảm, nhưng ông trời không cho “hùm có vây”, năm đó tôi gặp cô Dương Ngọc Nữ là giáo sư Việt văn, cô không chấp nhận lối viết rườm rà, cà kê dê ngỗng của tôi nên ngay những bài Luận đầu niên khóa và cả bài thi đệ nhất lục cá nguyệt tôi đã bị tuột gần điễm chót, mãi đến gần cuối năm tôi mới hiểu được ý thích của cô và thay đổi cách viết để “phục hồi” lại được vị trí ưu hạng của mình. Nhưng cũng từ đó tôi học thêm một điều là viết hay hoặc dỡ còn tùy người đọc hạp hay không với lối viết của mình chứ không đơn thuần từ phía người viết.
Những năm sau, nhờ bài học trên tôi biết “nhìn” ra cách chấm bài của các giáo sư Việt văn nên tôi uyển chuyển “chìu” theo ý thích của các vị, gặp cô thầy nào thích mượt mà bóng bẩy câu văn, tôi thêm hoa lá cành khi viết, nếu đụng phải thầy cô thích “đâu ra đó” tôi phải “thấy sao viết vậy” miễn “ngắn, gọn, đầy đủ” là “ăn điễm”. Nhờ vậy tôi được đề cử hai lần đi thi Văn chương phụ nữ toàn quốc” (nuớc Việt của miền Nam lúc bấy giờ) vào năm Đệ Ngũ và Đệ Tam, nhưng than ôi, cả hai lần tôi đều không đem đuợc giải thưởng gì về cho lớp cả. Đó là những kinh nghiệm học đường cho tôi biết rằng tôi chỉ là một hòn sỏi nhỏ trên đường dài của môn Luận mà tôi may mắn lăn được một cách thong dong.
Rời trường học khi thi rớt Tú Tài vì lở dại theo đám bạn thân đi ban A thay vì ban C như năng khiếu của mình, tôi bước vào trường đời ở tuổi mười chín với nghề đánh máy khiêm nhường, chữ nghĩa văn chương ngày nào của tôi trở thành vô dụng trên đầu mười ngón tay chỉ gõ văn bản được các xếp lớn của Cty thảo sẳn. Thỉnh thoảng đọc báo thấy các cuộc thi văn chương, các chương trình viết lách của thiên hạ khá hào hứng tôi cũng muốn tham gia nhưng lại không tin tưởng lắm vào tài năng mình vì càng lớn, càng đọc nhiều tôi càng biết rằng tôi không là hòn sỏi trên đường “Tập làm văn” nửa mà chỉ là hạt bụi mờ – nhỏ hơn cả hạt cát li ti – trong biển chữ mênh mông của các văn nhân, văn đàn khắp nơi trong, ngoài nước. Biết vậy tôi vẫn thích viết và muốn thử “tài” viết của mình trên đường đời ra sao, không dám thử với giới văn nhân báo chí, tôi tạm thời tìm phương cách thử với môi trường đơn giản hơn và ở điểm nầy mục Tìm Bạn Bốn Phương được tôi chú mục đến nhiều nhất. Các tuần báo thời đó dẫy đầy tin tìm bạn, đủ hạng loại tha hồ lựa chọn, chiến trường, thương trưòng, học đường, v…v… đều có đủ. Tôi mua tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, chọn trang Tìm bạn Bốn Phương đọc tới đọc lui rồi chọn một giòng rao như sau :
“Thanh niên 25 tuổi, độc thân, vui tính, đã từng là lính mũ đỏ hào hoa, cuộc đời không may gặp điều bất hạnh nên muốn tìm bạn gái hiền dịu, kiên nhẩn, có tấm lòng để chia xẽ vui buồn cùng nhau . Ưu tiên cho tuổi từ 25 trở xuống. Nếu được xin kèm ảnh, thư gửi về Võ Duy Hưng, số… đường….TP……”
Tôi chọn giòng rao nầy vì nghĩ cái chàng mũ đỏ hào hoa kia viết “đã từng là lính”, chắc bây giờ chàng đã lên hạ sĩ quan hay sĩ quan gì rồi nhưng vì khiêm tốn nên không kê khai rõ ràng, tôi thích những người khiêm tốn như vậy. Hơn nữa, tội nghiệp làm sao vì chàng không may mắn trong cuộc đời, chắc mồ côi cha mẹ hay vì chinh chiến đi xa nên bị bồ bỏ đây thôi. Tính tôi dễ cảm, nghe ai “bất hạnh” thường hay “động mối từ tâm”, mấy lời thiết tha như vậy lẽ nào tôi lại bỏ qua, có điều hơi lạ là sao địa chỉ không là KBC (Khưu bưu chính) như các địa chỉ quân sự mà lại là số nhà, tên đường quá ư “dân sự”, nhưng đây là chuyện nhỏ, chắc chàng tính cẩn trọng, kín đáo không muốn bạn bè biết chuyện tâm tình trai gái riêng tư. Thế là tôi lôi giấy viết trong giờ nghĩ trưa ở Cty để viết trả lời cho anh chàng lính dù “bốn phương” nầy, tôi không kèm ảnh như lời yêu cầu của “đương sự” nhưng tả sơ bản tính “chân quê” vùng Chánh Hưng của mình, tả thêm “em không má thắm, môi hồng vì em đây vốn tính người đơn sơ” và “tóc em dài nhưng em chưa uốn”, “mắt em xanh nhưng chẳng kẻ chì xanh”, “ em chưa có bạn trai vì sợ đời ly loạn” và “em chọn viết cho anh vì muốn xóa lấp những không may anh gặp phải trên đường đời”, tôi thêm chút hương thơ của “em hậu phương” gửi “anh tiền tuyến” hứa hẹn một cuộc gặp bất ngờ khi “cánh dù chinh chiến bay về phố thị phồn hoa” và “hy vọng thư nầy không bay mất như gió đưa cánh dù xa” của chàng trai mủ đỏ,……
Thư viết xong tôi cho Loan, chị bạn đồng nghiệp của tôi, đọc thử. Loan cười bảo tôi:
– Coi chừng rủi gặp “ông Kẹ” đó nghen.
Tôi cũng cười, lơ tơ mơ trả lời bạn:
– Trời, tui là bà Chằng, hổng lẻ sợ “ông Kẹ” sao? Thư viết chơi chứ có phải thật đâu mà bà lo.
Thư đi chưa đầy mười ngày thì có thư về với một bức ảnh bán thân 9x12kèm theo. Anh chàng họ Võ trông cũng “khôi ngô, bảnh choẹ” với áo hoa dù, mũ đỏ oai phong. Người hùng cho biết là dân “Nha Trang cát trắng dừa xanh” nên đã nếm bao vị muối của “biển mặn”cuộc đời, chàng hứa sẽ đến thăm tôi bất ngờ khi có dịp về thành phố. Tôi cười thỏa thích khi thấy lá thư khảo sát bài luận “đời” đầu tiên của mình đạt kết quả, tôi không thích làm “người yêu của lính” nhưng nếu “cánh hoa dù” nầy “coi được” tôi sẽ “hái” đem về “khoe” với “bà con”. Tôi đọc kỹ lá thư của “anh trai tiền tuyến” và thấy sao có nhiều câu hao hao giống bài nhạc Biển Mặn của Trần thiện Thanh quá đi thôi, tôi nghĩ, anh chàng nầy cũng “cọp dê” lời nhạc của người khác làm thư riêng của mình chẳng khác chi bài luận lớp ba của tôi ngày nào, chưa chi “ hai đứa” đã quá đổi “hạp” nhau rồi, chỉ còn chờ gặp mặt để xem có “hạp nhản” nhau không là sẽ bắt đầu tính chuyện “đàng hoàng” hơn. Tôi viễn vông tưởng tượng “phút ban đầu khi mới gặp nhau” của hai đứa, chắc là vui lắm.
Đối đáp qua lại với nhau khoảng chừng năm, sáu lần thư thì một buổi sáng đầu tuần tôi đang làm việc bỗng chuông văn phòng reo nhắn tôi xuống phòng tiếp tân có người muốn gặp. Bấy giờ Tết sắp đến, công việc Cty đầy ắp phải thanh toán trước cuối năm nên ai cũng chúi đầu làm cật lực, tôi cũng có một đống hồ sơ cần đánh máy gấp giao cho xếp để kịp đem Giám đốc ký trong ngày. Vì những lu bu đó tôi quên mất đi lời hứa tìm thăm bất ngờ của “anh trai tiền tuyến”, nhưng Loan ngồi kế bên tôi lại nhớ, chị nhắc:
– Chắc gần Tết nên“chàng” về thăm bà đó, chuẩn bị tinh thần đi.
Loan không là thầy bói mà đoán trúng như thần, tôi bước vào phòng tiếp tân thấy một anh lính dù đang đứng đợi tôi tự bao giờ. Tôi nhìn chàng, kinh ngạc đến bàng hoàng, không có chút vui mừng nào như tôi dự đóan mà chỉ có sự hoảng loạn ngoài sức tưởng tượng của tôi. Trước mắt tôi khách đợi không khác chi người trong ảnh, bảng tên trên ngực cho biết đích thực khách là Võ Duy Hưng, bạn bốn phương của tôi đây rồi, cũng mủ đỏ, áo hoa dù, khôi ngô tuấn tú, vai năm tấc rộng, thân vài thước cao. Nhưng trong ảnh không cho tôi thấy chiếc nạng gỗ thay cho nữa chân bên trái thiếu vắng của chàng, trên thực tế “người hùng” của tôi là một… thương phế binh. Dù đã chuẩn bị tinh thần cho cuộc gặp gỡ từ lâu nhưng không phải cho tình huống như vầy nên tôi khựng lại, nhìn khách, ngở ngàng.
Hưng như đoán trước mọi việc trước vẻ mặt của tôi, chàng khẻ mĩm cười chào tôi, thật hiền và thanh thản:
– Ngọc phải không? Hưng đây, anh giữ lời hứa đến thăm Ngọc bất ngờ đây.
Tôi luống cuống gần như mất bình tỉnh, gắng gượng lắm tôi mới nở được nụ cười:
– Dạ, em là Ngọc đây. Cám ơn anh đã đến – và tôi ngừng lại , khổ sở ấp úng – nhưng Ngọc đang bận nhiều việc quá, chúng ta gặp nhau lần khác được không anh?
– Anh chờ Ngọc giờ tan sở trưa nay nghen?
– Không, không đuợc đâu anh. Trưa Ngọc đi ăn với bạn, chiều ba Ngọc đến đón. –Tôi hốt hoảng từ chối.
Giọng Hưng kiên nhẩn pha chút hy vọng:
– Vậy bao giờ mình gặp lại nhau được, Ngọc nói đi, anh đợi.
Tôi cúi mặt, không dám nhìn vào mắt Hưng, ngập ngừng:
– Ngọc không biết. Thôi, khi nào được, Ngọc sẽ viết thư cho anh hay.
Tôi thu hết can đảm nhìn vào mắt chàng, nói nhanh :
– Xin lổi, Ngọc phải về chổ làm việc liền anh à. Chúc anh năm mới nhiều may mắn, vạn sự như ý .
Hơn bốn mươi năm rồi, cuộc đời trải qua bao thăng trầm biến đổi nhưng tôi không bao giờ quên đuợc đôi mắt của Hưng giây phút đó, đôi mắt Từ Hải khi chết đứng, như óng nước, như bàng hoàng, có nét buồn vương ẩn, có nét giận thoáng cau, hoà trộn lại để thấy đó là một nổi đau sĩ nhục. Không hiểu sao tôi bỗng đâm sợ, không phải sợ chiếc chân thương binh của chàng mà sợ tia nhìn trong đôi mắt đó. Hưng không nói gì, đứng lặng sửng người như tôi đã sửng sờ khi vừa gặp chàng. Không chờ đợi lâu, tôi cúi đầu chào chàng rồi quay lưng đi như trốn chạy, khi bước lên cầu thang tôi nghe phía sau vang lên nhịp gỏ của chiếc nạng nhẹ đi về phía cửa Công ty. Ngoài kia phố, đâu đây đì đùng tiếng pháo sớm mừng xuân.
Đó là lần duy nhất tôi gặp Hưng vì tôi không đủ dũng mảnh của một con người có trái tim nhân hậu, cũng không đủ chân thành để thực hiện đúng lời hứa trên giấy trắng mực đen là chia xẽ cùng Hưng những mất mát trong cuộc sống nên lá thư hẹn gặp lần thứ hai tôi không bao giờ viết cho chàng. Tôi đã ứa nước mắt khi trở lại bàn làm việc, không biết khóc thương người bạc hạnh hay khóc xấu hổ cho sự bạc lòng của tôi. Ngày đó tôi mới mười chín tuổi, tôi còn quá trẻ để biết cách cư xử sao cho phải đạo làm người, tôi không biết màu mè giả dối để nở nụ cười tươi, đưa đôi tay nhỏ nắm lấy bàn tay Hưng chứng tỏ sự cảm thông, ra điều niềm chia xẻ những bất hạnh hiển hiện trên đôi nạng gỗ của chàng, tôi nhìn chàng như nhìn ông “Kẹ” mà Loan đã hù dọa tôi ngày tôi viết bài “Tập làm văn” thử đời và tôi đã làm “bà Chằng” đuổi xua “ông Kẹ” ra đi không dấu diếm. Trái tim đứa con gái mười chín tuổi đang mơ bóng dáng hoàng tử mắt xanh áo treilli đính mai vàng trên cầu vai làm sao tôi có thể bình tỉnh làm người nhân hậu khi hoàng tử trong mơ hiện ra chỉ là một anh thương binh nạng gổ. Tết năm đó tôi không dám đi chùa lể Phật, tôi sợ cái tâm xấu xa của tôi làm héo hoa lá nhà chùa, sợ khói hương ngày Tết không phủ hết tội dối người của tôi với câu viết “em chọn viết cho anh vì muốn xóa lấp những không may anh gặp phải trên đường đời”.
Nhưng bây giờ, ở tuổi sáu mươi, nếu phải trở lại chuyện ngày nào bằng nghĩ suy của người đầu bạc, thú thật tôi cũng không biết mình phải làm gì cho đẹp cả đôi bên. Nếu bảo “năng thuyết bất năng hành” là giả dối thì tôi xin nhận nhưng tôi cũng không thể tiếp tục đẩy đưa hứa hẹn những điều ngoài ước muốn, như vậy càng dối trá nhiều hơn. Hơn bốn mươi mùa xuân đi qua, mỗi lần Tết đến, trong buổi trời đất giao hoà tôi vẫn thường khấn nguyện cho Hưng tìm được một người bạn gái như chàng mong đợi, người đó chắc chắn sẽ có tấm lòng nhân hậu hơn tôi và không biết viết thư bốn phương dối chàng như tôi. Bài luận “đạo văn” lớp ba thuở nào tôi bị phạt chép hai trăm lần “không được chép bài người khác” để xoá tội mình nhưng lá thư bốn phương – bài luận “thử đời” – tôi viết dối người năm xưa tôi phải tự phạt mình ra sao để tôi xóa được sự ray rức tâm hồn mình vào mỗi độ xuân về khi trong tiếng pháo tôi vẫn nghe hòa nhập đâu đây nhịp gỏ của chiếc nạng gỗ lúc Hưng lặng lẽ bước ra đi.

Một bài luận văn tuyệt vời vì nó đã làm biến chuyển của cả một con người
Son Nguyen than men oi,
O doi nay moi viec deu co gia tri rieng cua no, bai luan tuy nho nhoi, nhung gia tri cua no anh huong den ca mot doi nguoi, dung nhu Son Nguyen da nhan xet. Boi the, nhung loi còm cua cac ban, dù nhieu hay it cung la nhung khich le, co dong cho Bep “can dam” ke chuyen doi minh, doi nguoi cho “làng xom” mua vui do Son Nguyen à.
Cam on nhieu ve nhung than tinh chia xe cua ban nha.
Truyen chi viet bao gio cung de thuong va hien hoa
Don Duong thiet là tu te nen moi thay Bep hien hòa, hi hi.., bo Don Duong khong thay Bep “ac doc, gia doi” khi quay lung voi nguoi ban bon phuong sao? Phainoi la cai Tam cua Don duong hien hòa truoc moi dung do nghen.
Cam on ban that nhieu ve loi còm hien hoa do, trua nay Bep an com nhieu hon thuong ngày do.
Ở trường hợp này 99% đều hành xử như vậy.Chị Nga yên tâm rồi chứ ?
Đọc thấy vui thật,nhưng đến phần 2 thì thấy thương anh thương binh quá,giá anh được đọc bài này .
Do la tat ca hi, no, ai, o cua cuoc doi bat dau tu bai luan thuo au tho do Thu Nguyet. Nguoi ban bon phuong toi nghiep do gio day neu doc duoc khong biet co tha toi cho Bep khong?
Minh Nguyet va gia dinh vui khoe nha.
Dù sao cũng cảm ơn bài luận văn tuyệt vời đó phải không chị
Đúng rồi đó Người Nhơn Lý ơi, Bếp . Bây giờ tuổi nay quên chuyện nầy, mai quên chuyện nọ mà sao bài luận “ác ôn” năm nào Bếp vẫn không quên, Bếp cám ơn “nó! và cám ơn cô Liễu, bậc trhầy đã dạy Bếp chân lý làm luận trong đời.
Ý quên, bây giờ phải cám ơn Người Nhơn Lý đã đọc và còm nữa chứ, hi hi..
Mình cũng tìm thấy những kỷ niệm thời nho nhỏ của mình trong truyện ngắn này
Kỹ niệm của bạn thuộc phần học đường hay phần tìm bạn bốn phung vậy Gò Găng.
Chèn ơi, bạn chọn chi biệt danh khó đọc quá chừng, nhưng cũng nhờ vậy mà có lẻ sẽ khó quên tên bạn luôn đó nghen.
Cám ơn nhiều và chúc mọi an vui.
Gò Găng là địa danh khá nỗi tiếng của B Đ nơi này sản xuất loại nón lá rất tốt mang tên Gò Găng,đây cũng là quê ngoại của em chị ơi
Truyện viết chân thực ,đọc mà thấy thương cho cả anh chàng Hưng và cô gái mới lớn đầy mơ mộng trong một cuộc tình mang tên tìm bạn bốn phương
Kiều tội nghiệp cho cả hai hết thiệt hả? Vậy là cô gái được “tha bổng” hả Kiều? Vậy là Bêp nghe nhẹ lòng rồi, chỉ sợ đọc xong Kiều lên án cô ta thì Bếp khổ tâm thêm thôi.
Cám ơn tấm lòng quảng đại của Kiều nghen.
Làm sao có thể trách chị được
Thêm một “bồi thẩm viên” tha tội cho Bếp rồi, cám ơn Hoa Cải nha. Thật tình mà nói, Hoa Cải và các bạb rộng lượng vô cùng.
Viết vui mà trả lời còm cũng vui nữa chị Nga ơi !
Hi hi..Champa thấy vui vì chuyện đã qua rồi, đọc lại thấy có vẻ trào lộng để cười, chứ lúc xảy ra các câu chuyện trên (bài luận và chàng thương binh) thì Bếp “mếu” chứ không cười được Champa ơi.
Bếp còm vui vì Champa và các bạn còm cũng vui quá chừng đó chứ. hi hi..được Champa “tặng” lời “phê” như vầy Bếp càng vui hơn nữa đó.
Hơn 2 giờ khuya rồi chư bằng hữu ơi. Ngày mai Bếp tái phản hồi tiếp nghen..
Cám ơn tất cả các bạn đã ưu ai ghé thăm.
Hẹn ngày mai nha.
Viết hay ghê chị Nga ơi!
Em. BS.
Hích hích, hi hi..láng giềng Âu châu lúc nào cũng tử tế “ủng hộ” bà chị hoài. Cám ơn nghen Băng Sơn.
giong minh hoi nho qua ,cung dao van cung choi tro tim ban bon phuong,cung hen ho,gio ma da may chuc nam
Chgèn ơi, sao mà có người giống Bếp dữ vậy? Lại còn xa quê hương nữa chứ? Chắc chúng ta bà con hay sao rồi Xa Quê Hương ơi.
viet hay
Lãng Du làm cho cái “nghiệp hờ” viết lách của Bếp nặng thêm đó, vì được khích lệ tức nhiên phải ráng viết thêm hoài để đáp tạ người rồi bạn hiền ơi.
Em khen thật lòng mà chị Nga !
Thì Bếp cũng biết vậy và cám ơn thật lòng chứ bộ đùa sao Lãng Du
Viết vui quá
Bây giờ viết rồi đọc lại thấy vui thiệt, chứ hồi bị cô giáo la và hồi gặp “ông Kẹ” rầu thấy mồ Hoàng Nguyên ơi.
Cám ơn HN nhiều nghen.
Chị Nga, Em đã cười ngất khi đọc đọan đầu
Chị dễ thương không diễn tả được.
Chị giỏi lắm, Em phục chị. Đọc đọan đầu không thể ngờ chị dẫn em lần lần đi vào trái tin chị để cùng chị chảy nước mắt.
Em cầu nguyện bằng tất cả tấm lòng em, xin cho anh Hưng đọc được bài nầy, Xin anh tha thứ cho chị. Và cho cả em, vì chắc em lúc đó ở tuổi đó cũng phản ứng như chị thôi.
Hy vọng chị đã nói ra được, từ nay chuyện nầy bớt đè nặng trong lòng chị.
Để bớt đau khổ, chúng ta hãy hy vọng bằng vào lời văn đơn giản trong sáng của anh Hưng, với điều kiện tìm bạn của ảnh – chỉ cần “hiền dịu, kiên nhẫn, có tấm lòng” – chắc chắn anh đã gặp người của ảnh, người đem lại hạnh phúc cho ảnh. Nghĩ vậy đi chi Nga! Cho đở khổ.
Thiệt tình thỉnh thoảng nhớ ngày gặp Hưng (tên thật người ấy là Võ Duy Đăng) chị cũng nghe buồn buồn và xấu hổ trong lòng làm sao. Nhưng, biết làm sao hơn khi chị chỉ là người thế gian tầm thường Linh ơi.
Cưng có gì cũng nên tập nói ra hết đi, cấm giữ trong lòng những điều u ẩn đó nghen nhỏ.
Ai lai khong co vài đieu khong the noi duoc, huong chi chuyen cua em chi la chuyen nho nhu con .. bò thôi mà. Kê chi nghe xong cung nhe rôi.
Em viet computer nen khong the can nat may chuc dau viet duoc, nen chac khong the co su nghiep viet lach nhu chi duoc dau, dung co xui dai.
chào chị HN Nga,
Câu chuyện “2 trong 1” của chị có cả vui lẫn buồn:
– lần đầu tiên chị nói về cái “duyên” để đến với văn chương, rồi từ đấy thành cái…nghiệp. Lúc người ta vui chơi, an giấc thì mình ngồi thức một mình với bóng đèn khuya, cốc cốc… như gõ nhịp đời mình.bao nhiêu ray rức, muộn phiền cũng vì thế mà tuôn ra…
– Tiếng nạng gỗ lúc chị trốn chạy lên cầu thang… có lẽ đã ám ảnh từ bấy đến nay. Em cũng nghĩ, và mong, như Nguyển Ngọc Thơ, là ước gì a Hưng ấy còn sống và ..tình cờ đoc được bài viết này…chắc ảnh cũng sẽ quên đi cuộc gặp không vui ngày nào và tha thứ cho chị. Và chỉ khi ấy thì trái tim nhạy cảm và nhân ái của chị mới thôi ray rức và bình yên…
biết đâu…
chúc chị vui khoẻ và sáng tác nhiều
Posted by 222.254.182.129 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
This is added while posting a message to avoid misusing the service
Dân ơi,
Hồi còn nhỏ chị cứ tưởng viết văn “sung sướng” lắm, khỏi giải nắng dầm mưa, khỏi vác khuân nặng nhọc, ai dè, lở mang cái “nghiệp” vào thân rồi mới biết “nó” cực đến chừng nào, “nó” hành chị bị bịnh yếu thần kinh (vì thức nhiều, ngủ ít) và những lỉnh kỉnh phiền phức nhỏ trong cuộc sống nầy. Vậy mà vẫn mê dù, dù bị cả nhiều người trong nhà bảo sao “ngu quá, viết được cái giải gì mà cực khổ như vậy?: Chúng ta (những người viết tài tử) chỉ biết cười trừ và nói “Viết cho vui”, vậy thôi.
Cậu đã lở mang “nghiệp” vậy mà còn dẫn dắt Elena vào con đường “đau khồ” nầy chi vậy nữa, ác thiệt đó nghen cậu
Chào bà chị “đồng hương”! Cảm ơn những hồi ức rất dễ thương của chị. Nó gần gủi và gợi nhớ rất nhiều. Câu hỏi của chị thì tôi tin rằng bất kỳ người viết nào cũng đã tự hỏi mình câu đó! Và cũng chẳng dễ dàng gì để trả lời! Thôi thì cứ coi như đó là một thứ “nhu cầu” bản thân, tôi viết vì tôi muốn viết cho nó nhẹ lòng nhe chị. Chúc chị vui.
Đồng hương Saigon nói đúng đó. Viết là một thứ “nhu cầu” không khác gì đói ăn, khát uống. Hôm nào bận việc nhiều quá không viết được, đầu óc Bếp cứ lâng lâng khó chọu như bị “hành xì ke”
Vậy là chẳng những chúng ta là đồng hương mà có thể gọi là “đồng cảnh..ngộ” (mê viết) phải không bạn hiền?
Bị “hành…xì ke” thường hông Chị Nga? Dzẫy là lúc nào “ghiền…xì ke”, Chị nên trốn ông “Huyện tây” chui dzô góc “nho nhỏ” nào đó …”PHÊ” nghen Chị !À, có khi nào “ổng” tủi thân giận… “vu vơ” không hả Chị? Còn em, bị “bả” của em cằn nhằn, rầy suốt :_Cứ ngồi mà gỏ gỏ…đi mây về gió, nhìn thấy mà phát ghét!”_ Chị Nga thấy có …cụt hứng hông?
Cầu mong cho Hưng…………
Bếp cũng như NMN, nghĩa là cầu mong cho Hưng gặp được người có tấm lòng hơn Bếp. Chúng ta cùng hy vọng vậy nghen NMN.
Ôi ai nỡ trách cô bé mới lớn,phải không chị?
Nhờ bài tập làm văn tuyệt vời như vậy mới có cơ hội thành nhà văn thật thụ chị Nga ơi.
Hổng dám đâu Chip ơi. Cho Bếp cám ơn bạn, Bếp không bao giờ nghĩ mình là nhà văn thiệt đâu. Viết lách cho vui chứ làm nhà văn thiệt phải có kiến thức nhiều trong khi Bếp chỉ rành chuyện nồi, niêu, soong, chảo mà thôi. Nói thiệt chứ không phải làm bộ khiêm nhường để được Chip khen lần nữa đâu nghen.
Viết vui quá.
Ủa, vuì thì chắc chắn Vũng Chua phải cười .Ông bà mình nói nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ. Vậy mà Vũng Chua chỉ cười mà không trả công 10 thang thuốc bằng1 bản nhạc như thường lệ hay sao? Bếp ghi nợ nhạc nghen
Bây giờ tìm bạn bốn phương còn nhiều hơn thuở ấy chị ơi
Phải công nhận thời nào mục tìm bạn bốn phương cũng hấp dẫn vì nó mang tính cách hồi họp, hên xui,may rũi nên mục nầy luôn thịnh hành hén Nguyệt Minh.
Tình huống gặp Hưng rất ngỡ ngàng,nhưng biết làm sao được chị Nga ơi. Cuộc đời vốn đầy rẩy sự bất ngờ !
Vậy là Thanh Huy cũng thông cảm với Bếp cách đối xử khi Bếp gặp Hưng phải không? Mừng quá vì như vậy Bếp nghe nhẹ tội một chút rồi.
Cám ơn Thanh Huy nhiều vì đã đọc và chia xẽ nghen.
Lưu bút có thể bị quên lãng nhưng tiết mục tìm bạn bốn phương thì khó bị ruồng rẫy. Em hoàn toàn thông cảm cùng chị cái tình huống khó xử kia. Đừng ray rứt nữa chị ơi
Kể cũng lạ cho tuổi trẻ thời nay vì họ không thích viết Lưu Bút như bọn già chúng ta ngày trước chứ thiệt tình Bếp vẫn thích mấy trang Lưu Bút ngày xanh vô cùng. Bếp trước khi từ giả Saigon đã mang theo 1 quyển Lưu Bút của bạn bè trong sở, trong trường. Bây giờ già rồi Bếp cũng mới cùng nhóm bạn mê viết và sống tha hương viết “Lưu Bút ..hoàng hôn”. Mỗi lần rảnh rổi, đem ra đọc thấy đủ vui, buồn trong đó, thích lắm Trần Văn à.
Chuyện ray rứt thì Bếp vẫn khó tha tội cho mình nhưng theo ngày tháng cũng phôi pha phần nào chứ không đến nổi như ngày mới phủ phàng quay lưng với người bất hạnh.
Cám ơn Trần Văn đã ghé thăm và chia xẽ nghen. Chúc mọi sự an lành.
Nga Tỷ Tỷ quơi !
Tỷ đệ mình lại gặp giữa đường “sông chảy” nữa rầu!Thấy Tỷ đi phía trước, đệ lủi thủi theo sau… “bám” như đỉa đói, để Tỷ “chiền” kinh nghiệm cái “tình chân thật” đọng đầy trong “Bài luận văn tuyệt vời” đây!
Đọc xong“truyện tự sự” của Tỷ, đệ còn nghe văng vẳng âm thanh “chiếc nạng gỗ” của Anh VDH gõ hụt hẫng, chới dzới… “cháy” cả lòng đệ luôn! Sao hầu ấy Tỷ tui “ác” dzữ dzậy chời(?)…
Nếu anh Hưng còn sống, đọc được những lời “trần tình” đầy tự trọng này, chắc Ảnh mãn nguyện & iu Tỷ say đắm hơn( ngấm giao cảm không sai) và lại mỉm cừ âm ỉ trong lòng:
_ “Cánh thư bốn phương” xưa, “tình” vẫn tròn đầy ăm ắp đây mà…”
“Rua” Thơ đệ,
Thơ đệ nói đúng, cái “ông” Sáu Nẫu trưởng làng Nẫu “ổng” sắp xếp làm sao mà chị em mình cứ nối đuôi sắp hàng kẻ trươc , người sau trên lộ trình làng Nẩu nầy hoài. Như vậy cũng vui vì Bếp là dân xa mới “dìa” dễ lạc đường thì có Thơ đệ sẳn sàng hướng dẫn đường đi, nước bước . Bởi vậy Bếp phải “bám” đệ mới đúng chứ.
Thơ đệ đừng trách Bếp ác làm Bếp nghe nặng tội hơn, tội nghiệp Bếp mà. Tại hồi đó còn “nhỏ dại” nên chưa biết tu hành làm việc hiền lương, bây giờ già rồi tuy có tu tập (chứ chưa tu hành) chút đỉnh nhưng suy nghĩ hoài cũng không biết xử sự ra sao cho khỏi bị mang tiếng ác. Thơ đệ có giải pháp hay nào giúp ngu tỷ được không?
“HI” Nga Tỷ Tỷ!
Mấy hôm nay, đệ cứ tự hỏi cái “duyên” nào khởi, mà “tỷ_đệ” ta xa cách cả một “đại dương mênh mông”,chưa hề chạm mặt, lại có “cảm nhận” trùng hợp lạ lùng đến thế? Rầu… “đụng xe” giữa lộ mới “à, thì ra là bà chị “quen quen”từ… kiếp nẳm!”…
_Tháng trước bên Tây, Tỷ cũng “hóa xác” nhập… hồn Trịnh(đệ bên này cũng dzậy), Tỷ & đệ cùng “dẫn” ổng dzìa ăn “giỗ ổng” ở làng Xứ Nẫu(Sè Gòn)VN, sau 12 năm bềnh bồng phiêu lãng…?
_Tháng 4 này…Tỷ_đệ lại cũng gặp nhau, lang thang giữa “miền ký ức tuổi thơ” nữa…Thật là quái lạ Tỷ nhỉ?
Chị Nga ơi!
Em thì chỉ “tu…hú” thâu, hổng có giải pháp nào khả dĩ đâu, em nghĩ chỉ với “Bài luận văn tuyệt vời”này, Anh Hưng cũng đã nhận ra …bằng “giao cảm”cái tình sâu lắng đọng“chân thành” của Chị và vỡ òa đầy thông cảm trước “tình huống” bất đắc dĩ… khi xưa thâu!
“Ciao” Tho de,
Neu dung la ty, de chung ta co duiyen van nghe thi doi den ky sau xem hai chi em minh co giong nhau noi dung “hàng hoa” khong nghen..
Nào, chung ta bat dau go bai nghen.
Có lẽ là một hồi ký của Huỳnh Ngọc Nga (HNN). Nếu đúng là hồi ký thì tính chân thật trong các sự kiện được mô tả là không thừa. Một bài học hoàn hảo về “tập” làm văn.
Theo tôi bài nầy có thể tách làm hai bài riêng: (1) Bài học tập làm văn, và (2) Mối tình qua “tìm bạn bốn phương”.
Tôi cũng có một kỷ niệm hồi học lớp ba. Đề bài là: tả một buổi đi câu. Thời đó, ở quê tôi chỉ có thầy mới có sách, đa số học trò nghèo, mặc quần đùi, đi chân đất, có khi áo chẳng còn hột nút nào, nên làm gì có thứ xa xỉ là sách. Thầy tôi đọc bài “luận mẫu” hai lần. Cả lớp nghe như nghe kinh tiếng Phạn, đứa lơ láo nhìn ra cửa sổ, đứa cù lét nhau…
Tôi chưa từng “cọp dề” ai, chưa từng đạo văn của ai. Nhưng khi đặt bút viết bài tập làm văn tôi bị bài luận mẫu ám, muốn thoát ra không được. Đến khi phát bài, thầy lại gần hỏi nhỏ tôi:” Nhà mầy có sách hay sao mầy thuộc, chép y chang vậy”. Thầy nay còn sống, mỗi lần gặp thầy hay nhắc chuyện đó.
Bài học của tôi là đọc của “bách gia chư tử” nhưng phải biết thoát ra, nếu thấy không thoát được thì chớ viết – dầu ngộ sát cũng là sát.
Có một vài chi tiết xin góp:
* KBC = Khu bưu chính( không phải “khưu”), ví dụ: KBC 4444 ( giả định)
* Bảng tên của lính CH không có đủ họ và chữ lót, chỉ có tên riêng, ví dụ HÙNG
* “ga-lông” của sỹ quan CH không gắn trên cầu vai, mà trên ve cổ áo hoặc trên ngực ( cùng hàng nút).
Cũng chưa chắc tôi nhớ chính xác hoàn toàn.
Chào Nẫu Xóm Cũ,
NNhững chi tiết trong lời còm của bạn quả thật rất đúng, Bếp “tả” sai chuyện KBC và hoa mai trên vai áo các sĩ quan ngày xưa rồi, bảng tên NXC nói cũng đúng luôn. Nhưng lở viết sai rồi, xin quý bạn đọc sửa giùm Bếp nghen. Cám ơn NXC nhiều lắm lắm.
Vấn đề “ngộ sát cũng là sát” quả vô cùng chí lý, Trừ bài luận năm xưa, Bếp khi viết bài thường viết do những gì tự trong tâm mình nghĩ. Nhưng trong các ý tưởng , lâu lâu gặp những người đồng cảm nghĩ như Bếp nên đôi khi cũng “đụng hàng” , may phước còn cách hành văn chẳng ai giống ai nên chưa có chuyện “u đầu, lổ trán”.
Đa tạ lần nữa những bổ túc sai của NXC nha.
Khưu bưu chính…hình như KBC là khu bưu chính chứ chị Nga !
Bài luận văn ngày xưa ấy tuyệt vời. Bài luận văn ngày nay cũng tuyệt vời luôn
Kỳ quá đi thôi, Bếp viết 2 lần hồi âm cho Vân Hạc để cám ơn chuyển sửa sai chữ Khu Bưu Chính thì cả 2 lần máy nhảy chữ mất hết, đây là lần thứ ba Bếp viết lại đó. May phước là một lúc những 2 người nhận ra sự sai đó (Vân Hạc và Nẫu Xóm Cũ) nếu không Bếp sẽ để sai dài dài.
Cám ơn Vân Hạc luôn về lời khích lệ cho cả 2 bài luận – bài hôm xưa và bài hôm nay – . Vậy Bếp được mấy điễm hả Vân Hạc?
Đôi khi cũng có cơ duyên chị Nga ơi !
Câu nầy của Katy67 thì quả đúng như…ý trời, hi hi..Bếp cũng thấy là vậy đó. Cuộc đời nầy cái gì cũng phải có căn cơ hết hén katy67?
Những câu chuyện của chị Huỳnh Ngọc Nga bao giờ cũng sâu sắc và thú vị !
Nói vậy là Diệp Hoa “hạp” với Bếp nên mới thích chuyện Bếp viết đó. Thường đa số là chuyện thật của Bếp hoặc Bếp lượm lặt chuyện thấy được chung quanh đời sống mình thôi Diệp Hoa à.
Cám ơn những ngọt ngào Hoa tặng Bếp nha.
Đúng là bài luận văn đã đổi đời cô học trò nhỏ ấy !
Bếp phải cám ơn cô Liễu nhiều nhất Dinh Vũ à, vì cô không rầy không giải thích chuyện “cop dê” là xấu thì Bếp đâu chịu khó đọc sách để “đổi đời”.
Dinh Vũ đồng ý với Bếp không??
ÚI CHÀ CHÀ NGÀY XƯA CÒN XÍU XIU MÀ CHỊ NGA CŨNG BIẾT ĐẠO VĂN SAO TRỜI !
Hồi ấy người ta dùng từ cóp dê….hì…hì….chưa có từ đạo văn !
Vay là khi viet Bep bi anh huong tu ngu ngay nay roi. hi hi..Phai noi la dung tu ” tan& co” giao duyen cho dung dieu bau cua ca cop hen Youme.
Cam on Youme da thay ma chinh sai” gium.
“Nhân chi sơ,tính bổn ..đạo” mà Sông Hà Thanh, hi hi.., nói giởn chứ hồi đó có biết đó la “đạo” chi đâu, chỉ muốn được điểm cao nhứt lớp thôi mà.Ăn thua là bây giờ biết ..sám hối là được rồi. Nhờ” té” mới đứng dậy đi đứng đàng hoàng đó nghen Sông Ha Thanh.
Tuy nhiên bạn nói cũng còn làm Bếp xấu hổ quá chừng, hu bhu…
Tuần lễ đó, môn luận cô cho cả lớp đề bài “Hảy tả buổi cơm chiều trong gia đình em”.
__________
Năm mình học lớp nhì lới ba gì đó, cô giáo cũng cho mình làm bài tập làm văn y sì cái đề trên
Đề bài y chang như trên nhưng Ca Dao hay hơn mình vì tự biên tự diễn chứ không ..đạo bài của người . Ca Dao nhớ bài đó được mấy điễm không? Chắc là hơn điễm cây gậy của Bếp rồi hén?