Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Không uổng công má!

Truyện ngắn Trần Bảo Định

.

Nắng quái thường xảy ra vào lúc chiều hôm. Chiều hôm trên cục đất “Khổng tước nguyên” thì lạ lắm! Cái lạ đó trải dọc theo bờ sông Tiền từ Đông sang Tây. Má cậu Hai Thoại(1) ngồi mạng lại tấm áo cho con trong bóng nắng sắp sụp mí chiều.

– Má ơi! Ngừng tay đi má, kẻo mờ mắt!

Tiếng nhắc má của cậu Hai mang trọn cả cái tình mẫu tử được nuôi dưỡng từ những lời ru của mẹ. Lúc theo chồng về mần dâu họ Đỗ, má Năm vừa bước qua tuổi mười lăm. Dòng họ Đỗ đâm chồi nhảy ba nhánh: Đỗ Trình, Đỗ Tường, Đỗ Kiến… đã chịu đời không thấu bọn cường hào ở quê nhà, nên đành gạt nước mắt bỏ xứ Quảng Ngãi dong buồm vô Nam. Nhánh Đỗ Tường, Đỗ Kiến men theo sông Vàm Cỏ Tây tới đất Thanh Phú thì trụ lại(2); còn nhánh Đỗ Trình rẽ ngả sông Rạch Tra bám đất Hòa Bình. Má cậu Hai dồn hết sức mình mưu sinh để nuôi dưỡng tương lai cho con. Cậu Hai trì chí “sôi kinh nấu sử”, tất cả cho kỳ thi khoa Quý Mão (1843) trường Hương Gia Định. Má Năm thuộc lớp người con nhà nho, được cha khai tâm từ nhỏ. Dẫu không “‘trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” thì cũng là người hiểu biết chút chữ “thánh hiền”.

Nhà văn Trần Bảo Định

Má Năm thường nói:

“Trong cõi trời đất, chẳng có chi tự nhiên nẩy sinh, Khổng tước nguyên cũng vậy. Đâu tự nhiên mà có con công, mà có cái gò để thiên hạ gọi Gò Công! Biết bao máu mắt, xương tàn cốt rụi của người đi trước khai hoang, lập điền mở cõi…”.

Cậu Hai học ở má Năm những điều đã chắc gì nơi “cửa Khổng sân Trình” giảng dạy.

Những buổi chiều tàn, lúc rảnh rỗi, má con hay quét lá vàng khô un chiều bằng những sợi khói. Nhìn những sợi khói bay về phương vô định, má nghĩ đời người đừng như sợi khói bay; phải định cái phương mình đang sống để đủ độ yêu thương mà sống chết với nó.

– Đất nổi mặt đất thì gọi gò, đất nổi mặt nước sông thì gọi cồn (cù lao). Trấn Định Tường có gò, có cồn… tất có đủ điều kiện và tư cách gìn giữ nguyên khí đất Nam Kỳ.

Lời má Năm nói chắc cứng, cậu Hai liên tưởng:

“Đầu nước Việt ở phía Bắc, với đôi mắt là hai rặng núi Đông Triều và Hoàng Liên Sơn nhìn xương sống Trường Sơn xòe như nan quạt chồm ra biển Đông, đuôi gối lên những móng chưn núi Chứa Chan, núi Mây Tầu(3) ở phía Đông; núi Bà Rá, núi Đồng Long, núi Bà Đen(4) ở phía Tây, trước khi đuôi bất thình lình dựng đứng tạo Thất Sơn… biểu tượng Rồng Việt!?”.

Rồi, cậu Hai hình dung cái nơi cậu sinh ra và lớn lên: “Sông Vàm Cỏ Tây phía Bắc, sông Tiền phía Nam, sông Bảo Định phía Tây, biển Đông phía Đông; thiệt đúng là chốn nguyên khí tụ. Mai nầy đất nước hữu sự, nơi nầy chắc là nơi khởi sự cứu nguy!”. Đôi lần thấy con chểnh mảng việc học, má rầy cậu Hai: – Má nuôi con ăn học không vì muốn con kiếm đôi ba chữ thánh hiền để làm người. Nếu phải học làm người, thì con học trường đời hà tất học trường Hương Gia Định!

Má dằn từng tiếng:

– Đã học, thì phải đỗ đạt! Năm rồi, Phú Kiết đã có cử nhơn(5). Năm nay, Yên Luông trông cậy vào con, đừng để bà con quê mình thất vọng!

Cậu chưa kịp thưa lời, má nói nhẹ nhàng:

– Vì việc học của con, má cực nhưng không khổ. Má chỉ khổ, khi con lười biếng việc học hành!

Qua mùa trăng thu năm sau, bà con thôn Yên Luông dù nghèo khó hay khá giả thảy đều ngưng việc đồng áng, cùng nhau ăn mừng cậu Hai vừa đỗ đạt(6) và hôm đó, ngay cả tổng Khởi, tổng Hòa Bình cũng có mặt từ sáng sớm để nghinh đón tân khoa!

Mười sáu năm sau! Cậu Hai thôn Yên Luông ngày xưa, giờ đã là tri huyện Tân Hòa, xứ sở nơi ông cất tiếng khóc chào đời.

– Lạy má! Con trẻ không giữ tròn đạo trung với vua…

Huyện Thoại quỳ lạy mẹ.

Gió Gò Công thổi rạp thân dừa nước, xé lá tưa cành.

– Con là tri huyện, khác gì “phụ mẫu dân”. Cướp vô nhà, há lẽ phụ mẫu bó gối ngồi nhìn bọn cướp? Huống hồ, lũ giặc Tây dương xâm lấn bờ cõi Nam Kỳ, đánh chiếm thành Gia Định; quan quân án binh bất động chờ lịnh triều đình?

Má ngưng nói, ngắt thêm thuốc xỉa.

Ngoài bìa rừng dừa, gió mỗi lúc một mạnh và hình như, trời sắp nổi cơn thịnh nộ bão giông.

– Đánh là nghịch ý chỉ vua. Thà nghịch ý chỉ vua, vẫn hơn “thúc thủ quy hàng” để lũ giặc ngông cuồng sát hại dân, tàn phá làng mạc!

Tiếng Sáu Sanh(7) rõ mồn một ngoài hàng ba hiên nhà.

Từ lúc chồng vắn số, người quen Sáu Sanh chuyển cách xưng hô: gọi cô thay gọi bà.

– Chết! Chết! Cô Sáu quá bước ghé chơi, má con tôi không kịp đón tiếp chu đáo. Thiệt thất lễ… thất lễ!

– Người nhà cả, thím Năm nói quá!

Cô Sáu nói gần như muốn giải tỏa cái đạo trung quân của Nho gia đang chế ngự đầu óc kẻ sĩ:

– Trước đây, “trung quân ái quốc” nhưng tình thế bây giờ “ái quốc thương dân”. Nếu mất nước, mất dân thì vua còn đâu “sơn hà xã tắc” để mần vua?

Má con Huyện Thoại chưa kịp rót nước mời khách. Cô Sáu nói luôn:

– Việc vua bãi chức tri huyện của cậu Hai đã thể hiện sự bất lực của vua, cái lúng túng như gà mắc tóc trước kẻ thù xâm lược của triều đình. Quản Định (8) nói: “Huyện Thoại là trang tuấn kiệt thời loạn đất Tân Hòa. Dám làm và làm đúng theo tiếng gọi của lương tri “cứu dân, cứu nước trước khi trung với vua!”. Tui tới đây là để trao thơ của Trương Quản cơ gởi cậu Hai.

Huyện Thoại tiếp thơ, lật đật mở:

“… Đã hèn thì phải hạ mình, đã nhát thì cái gan hư hỏng. Người xưa nói hèn nhát là vậy! Ta hoàn toàn tin huyện quan là đấng trượng phu, bậc anh hùng sẵn sàng cứu dân cứu nước. Hẹn nhau ở đất Gia Thuận…”.

Hình như, ngoài bến nước sông Tra có tiếng quốc kêu gọi bạn!

Hai.

– Ông bà gọi thảo điền, là có ý chỉ vùng đất trũng nhiều bàng sậy, ngập bùn sình nằm giữa các giồng đất. Tháng nắng, đất khô nứt nẻ; tháng mưa, đất lầy lội. Nếu không là nông dân bổn địa thì không thể có kinh nghiệm cày trâu vỡ đất…

Cô Sáu bàn bạc việc quân với Huyện Thoại mà nghe như chừng chẳng hề đá động gì tới việc quân.

Lúc nầy, Trung tá Desvaux chỉ huy quân thủy bộ vào thành Mỹ Tho và cùng lúc đó, liên quân Pháp – Y Pha Nho (Tây Ban Nha) cũng đã đánh chiếm xong Gò Công(9) và chúng gấp rút lập đồn Gò Công.

Huyện Thoại trầm ngâm.

Cô Sáu nói tiếp:

– Đất lầy bã hèm, người ta dùng trâu đực cày đất vì trâu đực móng chưn cao khó mắc lầy. Trâu cái, móng chưn thấp ngắn dùng vào việc kéo rơm rạ sau ngày mùa… Người Gò Công có câu: “Đực trực đồng, cái trực dạ”. Hỏi ra, mới biết đó là câu thành ngữ của người đàng cựu dặn người đời sau, rằng: “Trai phá lũy đạp thành, gái lo hậu cần nuôi chí cả!”.

Cô Sáu ra về khá lâu, nhưng lời cô nói khiến đầu óc Huyện Thoại còn suy nghĩ lung lắm. Bên tách trà sen đậm đặc hương quê nhà, chuyện cũ hiện ra chầm chậm trong tâm trí của ông: Trần Thiện Chánh đậu cử nhơn trước ông một khoa(10) đã không màng tới chức tước và cũng không chờ lịnh triều đình, ông cùng Lê Huy mộ dân binh đánh phủ đầu quân xâm lược Pháp, ngay khi chúng vừa đặt chưn lên đất Gia Định…

Thấy sắc mặt con dàu dàu, má Năm biết tâm tư của con đang trong cơn chấn động. Má nói nhẹ nhàng:

– Con là người có học, là kẻ sĩ mà lại là kẻ sĩ khoa bảng; giống như cây mọc trong vườn thượng uyển. Chả lẽ, con của má, chẳng bằng loài cây mọc nơi bờ ruộng mương vườn?

Nghiêm sắc mặt, má nói tiếp:

– Người xưa thường khuyên: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”, có nghĩa buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật. Buông hay không buông dao đồ tể là quyền tự do lựa chọn của con, chớ không ai có quyền bắt con phải lựa chọn.

Rồi, má nhấn mạnh:

– Thương nước, thương dân thì đánh bọn xâm lược. Quay lưng với xứ sở, với đồng bào thì hàng quân xâm lược. Cái đó, tùy con!

Dường như thấy lời mình mạnh mẽ, má Năm khẽ nhắc:

– Lúc nầy, tại đây, nếu con chần chờ không dám hành động là có lỗi với bà con làng xóm, là có tội với liệt tổ liệt tông kiến họ Đỗ nhà ta!

Những lời khuyên nhủ của má, những việc đã và đang làm của cô Sáu, khiến Huyện Thoại thôi nản lòng vì bị vua bãi quan và thôi nản chí vì Đại đồn Chí Hòa thất thủ(11). Ông chủ động bắt mối liên lạc với các nghĩa sĩ trong vùng, nhứt là với ngài Phó Quản cơ Trương Định.

Trống cầm canh rớt sang canh khuya buồn sương phụ!

Sáu Sanh thao thức ngó lên bàn thờ chồng, rồi ngó xuống giường bên, ngắm nghía đứa con gái có khuôn mặt giống cha như đúc. Mắt Sáu ngân ngấn và có lẽ, lòng thầm trách chồng: “Sao mình nỡ đi vội để tui thui thủi một mình giữa cảnh nhà tan, nước mất”.

Từ hôm nhận được mật thơ của chị Hai(12) ngoài Huế gởi về, dặn rằng: “Phải… Phải… như vầy… như vầy… Việc nước là hệ trọng, tùy thời mà thủ tiết… Và, tập trung tiền của góp sức vào việc đánh đuổi kẻ thù chung!”, cô Sáu mất ăn mất ngủ, đứng ngồi không yên. Nhiều đêm, cô bồi hồi nhớ lại: Năm mười chín tuổi đi lấy chồng, hai mươi mốt năm sau chịu đời góa bụa. Vợ chồng duyên thắm tình nồng được chín mặt con, thì chỉ còn một đứa gái(13)… Giờ đây, “Trai vì nước quên thân, gái vì nước quên thủ tiết”, nhứt thời làm sao cô tránh khỏi băn khoăn nghĩ ngợi. Má cô thương chị Hai mồ côi mẹ nên dắt chị về nuôi từ nhỏ. Má cô dạy chị công, dung, ngôn, hạnh. Cha cô dạy chị chữ thánh hiền. Năm cô lên bốn, chị đã là mười bốn và rồi chị em xa nhau bởi chị theo cha ra Huế. Sau đó, chị được tiến cung và trở thành Gia phi Từ Dụ của vua Thiệu Trị. Bây giờ, chị là Thái hậu Từ Dụ…

Sáu Sanh xin chị Hai cho thời gian huỡn đãi, thủng thẳng sẽ thực thi chuyện bước đi bước nữa với Trương tướng quân. Còn giờ đây, việc cần kíp là hỗ trợ tiền bạc nuôi quân, khí tài chiến đấu cho Huyện Thoại đánh giặc ngay trên quê hương mình. Cô Sáu là người đàn bà giàu nứt vách đổ tường không những ở Gò Công mà kể cả toàn xứ Nam Kỳ Lục tỉnh. Nhưng, giàu nứt vách đổ tường mần chi, khi xứ sở đang sinh linh đồ thán! Cô Sáu thường trút nỗi lòng mình với Huyện Thoại như vậy!

Minh Mạng lấy vợ họ Hồ ở Thủ Đức, Thiệu Trị lấy vợ họ Phạm ở Gò Công(14). Cả hai đầu Nam-Bắc Gia Định đã cột ràng triều Nguyễn. Tự Đức nhớ quê ngoại cho đắp “con đường sứ”, nối giồng Sơn Quy lên Gia Định(15). Huyện Thoại âm thầm đi thực địa “con đường sứ” nhằm tính kế nghi binh. Đồng thời, cử Đội Lực dò ngả lộ me qua Cầu Huyện để tập kết quân. Ông cũng không quên cảnh giác tàu Pháp có thể từ Mỹ Tho xuống tiếp viện Gò Công, một khi đồn Gò Công bị nghĩa binh tấn công. Và, nếu vậy, tàu chiến của chúng chỉ có một thủy trình duy nhứt là theo sông Cửa Tiểu vô Vàm Giồng, đến vàm Vểnh Lợi rồi tiếp tới rạch Gò Công… Nghĩa binh của ông đủ sức ngăn chặn chúng!

Ba.

Lẽ thường, người phụ nữ sẽ mất họ tên, thứ bậc của riêng mình sau khi đi lấy chồng. Đằng nầy, cô Sáu không hẳn như vậy. Người quen biết cũ ở xứ Gò Công vẫn kêu Sáu Sanh là cô Sáu, chớ không kêu bà Bá hộ Bổn dù đã hai mươi năm sống cùng chồng. Cô Sáu ưa nói với người thân:

“Cái mạng còn chưa chắc đã giữ được, thì tiền của chắc gì mà giữ được. Nếu phải vì việc nghĩa, ta chẳng tiếc chi cái mạng”. Huyện Thoại hoàn toàn tin ở cô Sáu, người tạo mọi điều kiện cho nghĩa binh chuẩn bị tập kích quân Pháp vừa đặt chưn lên đất Gò Công. Tin mật báo cho hay, quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha sẽ chọn một trong ba ngả đường sông: Rạch Chanh, Kinh Trạm tức sông Bảo Định và sông Cửa Tiểu từ biển thọc vào để đánh chiếm Định Tường. Huyện Thoại cùng bộ tham mưu đánh giá tình hình: “Giặc không thể sử dụng Rạch Chanh vì rạch cạn, hoang vu sẽ cản trở tàu chiến. Chắc chắn giặc tập kết quân tại vàm Vũng Gù (Tân An), dùng pháo hạm phá vỡ các đập cản trên sông Bảo Định dù chúng phải trả giá thiệt đắt…”. Tuy vậy, Huyện Thoại vẫn quả quyết: “Giặc sẽ chơi trò ‘thanh Đông kích Tây’ trong tam thập lục kế của Tôn Tử”.

Rồi, ông liên tưởng tới chuyện Khổng Minh ra lịnh cho quân nổi lửa hẻm Hoa Dung, vốn tính đa nghi nên Tào Tháo cho rằng Lưu Bị dùng kế dương Đông kích Tây bèn chọn chính hẻm Hoa Dung đành sụp bẫy của quân Quan Vũ… Là người Nho học, lại là một cử nhơn đất Gia Định, thì cái bọn giặc Tây dương kia làm sao che nổi được mắt ông! Huyện Thoại mỉm cười… Ông tiên liệu và định việc:

– Đường tiến quân của giặc ở sông Bảo Định chỉ là diện, đường tiến quân của giặc từ hướng biển vô sông Cửa Tiểu mới là chính điểm. Thành Mỹ Tho sẽ hoảng loạn và thất thủ nhanh chóng bởi đường tiến quân nầy. Có khi, giặc chưa đánh mà tướng giữ thành đã bỏ chạy.

Hồi lâu, Huyện Thoại càu nhàu, cau có một mình: “Dẫu rằng biết vậy, nhưng với võ khí thô sơ làm sao đánh pháo hạm, tàu chiến giặc ngay “chính điểm Cửa Tiểu” để cứu thành Mỹ Tho?”. Đúng như dự đoán của Huyện Thoại, cả ba pháo hạm1 từ biển tiến vào Cửa Tiểu phá đập ngăn sông tại vàm Cửa Tiểu (Gò Công), vàm Kỳ Hôn (Chợ Gạo) và đồng thời, chúng đánh tan hai đồn binh giữ đập ngay trong buổi sáng, đến xế trưa cùng ngày, mũi quân đi đường biển vô Cửa Tiểu chiếm thành Mỹ Tho theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành”. Ba pháo hạm Fussées, Lily, Sham Rock do Chuẩn Đề đốc Page chỉ huy. Ngày 12.4.1861, khoảng 13 giờ 30 phút trưa, Chuẩn Đề đốc Page cùng đoàn quân vào thành Mỹ Tho không gặp phải một sự kháng cự nào từ phía quân triều đình. Trong lúc đó, mũi quân đi đường sông Bảo Định phải chịu tổn thất nặng và hai hôm sau, mới tới thành Mỹ Tho mang theo xác Trung tá Bourdais.

***

Gò Công thất thủ!

Dân tình nhốn nháo nhưng không bất ngờ, bởi họ hiểu “cái gì đến tất sẽ đến” sau khi Đại đồn Chí Hòa vỡ trận. Cô Sáu tìm gặp Huyện Thoại ngay trong đêm đầu tiên bọn xâm lược liên quân Pháp – Tây Ban Nha ngả lưng lên mặt đất Gò Công.

– Chậm gì thì chậm, nhưng không thể chậm hơn hai tháng nữa, khoảng Tết Đoan Ngọ… Thoại nầy sẽ ra tay!

Tiếng côn trùng kêu rả rích từng chập từng hồi ngoài ruộng, sau cơn mưa chiều ngập nước trắng đồng. Đêm vắng lặng và hy vọng. Thỉnh thoảng có tiếng súng nổ vu vơ của bọn lính viễn chinh, có lẽ nhớ nhà hoặc giả sợ ma nơi đất lạ!

– Cô Sáu yên tâm! Cô Sáu giúp ta và nghĩa quân theo đúng kế hoạch vừa vạch ra… Chỉ cần nhiêu đó là đủ!

Mặt trời đỏ ối buổi rạng đông!

Trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bổn xứ sự vụ Gò Công, đứng trên bờ thành đất, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ đôn đốc dân phu cắm cọc, dựng rào cặp theo mé hào sâu bảo vệ đồn.

Tháng nay, từ ngày bọn Tây chiếm đất, Tư Nhạn người em kết nghĩa ruột rà với cô Sáu, cầm đầu nhóm con gái xứ Tân Hòa lân la bọn Tây, phục vụ chúng những món ăn đặc sản của miền quê ngoại vua Tự Đức. Riết rồi quen dần và thân thiện. Vả lại, “gái nào đẹp cho bằng gái Gò Công” thì bọn lính viễn chinh làm sao “bình chưn như vại”!?

– Mời quan hai(16) ngưng tay, uống nước dừa xiêm, ăn mộng dừa của em, nè!

Viên Trung úy nghe “của em, nè!” kèm hai tiếng “mộng dừa” của Tư, đôi mắt sáng rỡ. Bởi, cả tháng nay, hắn quen ăn mộng dừa, một món ăn dân dã nơi vùng đất hắn chiếm đóng mà ở trời Âu, nơi quê nhà của hắn chưa từng nghe, nói chi thấy. Hắn đút tay vô túi quần, rút khăn mu-soa (mouchoir) lau mồ hôi lấm tấm trên cái bản mặt dài sọc, thoạt ngó giống như mặt ngựa. Dân phu xây đồn gọi hắn là “quan hai mặt ngựa” hoặc để kêu cho gọn, dân phu gọi “Tây mặt ngựa”. Hắn nhai ngấu nghiến một hơi hết sạch ba cái mộng dừa. Hình như, hắn “khoái chí tử” rằng, mộng dừa là mộng đẹp gì đó, thì phải!

Nhiều lần qua tên thông ngôn, Tư giải thích cho hắn hiểu cái mộng dừa mà hắn thèm ăn chết mê chết mệt!

– Trái dừa khô lên mầm, trổ cây. Thường do để ở kẹt nhà hoặc chỗ mấy cái lu nước ẩm ướt, sau thời gian ngắn, nó lên mộng nứt da. Mộng dừa chính là cái phần mầm nở bự trắng nõn nà phía trong trái dừa. Mộng dừa thoang thoảng hương thơm đồng quê, khi nhai nghe sực sực, xốp xốp… kích thích miệng và đỡ khát cổ họng.

Mọi diễn biến tiếp cận và vẽ họa đồ đồn Gò Công, Tư làm rất tốt.

Tháng Năm, theo con trăng, trời thường nắng sớm mưa chiều và đêm chưa nằm đã sáng. Huyện Thoại tính toán kỹ về thời gian, thích hợp với thiên văn để đánh vỗ mặt quân thù và nhổ đồn Gò Công.

Cô Sáu dặn dò Tư Nhạn kín đáo và khéo léo rắc bột thuốc tiêu chảy lên từng cái mộng dừa theo đúng dự kiến của kế hoạch Huyện Thoại.

Huyện Thoại không sử dụng lực lượng mấy trăm nghĩa binh đang tập kết, ém quân ở Lộ Me vì không thể đánh cường tập vào đồn Gò Công bằng võ khí thô sơ giáo mác, búa chày… chống võ khí tối tân súng đạn. Chờ thuốc tiêu chảy kích hoạt bụng dạ bọn Tây ăn mộng dừa, Huyện Thoại trực tiếp dẫn hai mươi dũng sĩ đất Gò Công xông thẳng vô đồn đánh cận chiến, giải quyết chiến trường nhanh, gọn trước lúc bình minh ló dạng.

Cơn mưa chiều tạnh từ rất lâu.

Trời trở đêm sang khuya, sương mù dày đặc!

Trung úy Trưởng đồn và đám lính chột bụng đi đại tiện liên tục khiến thân thể phờ phạc, mất sức. Thình lình, phía “con đường sứ” lửa cháy xé toạc màn đêm. Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đạp chướng ngại vật, mở toang cửa đồn tràn vào như cơn lốc sóng thần. Bọn lính Tây trở tay không kịp, thất kinh hồn vía chạy tán loạn.

Đêm tối mịt(17), chỉ thấy nhau qua ánh chớp ngoằn ngoèo của sấm sét nổ um trời. Huyện Thoại túm tóc Trung úy đâm mạnh một phát về hướng cổ họng, nó vùng mạnh, lưỡi mác xượt xéo bả vai. Nó rống lên tiếng rống như heo bị thọc huyết! Thế trận bắt đầu giằng co, tụi Tây lần hồi hoàn hồn và mỗi lúc sự bất lợi nghiêng hẳn về phía nghĩa binh. Huyện Thoại bị dính đạn trọng thương.

Bầu trời tỏ dần, từng cụm mây trắng tản ra, nhùng nhằng kéo dài như những dải khăn sô viền quanh mặt trời từ từ nhô lên khỏi mặt nước biển tụ màu đỏ ối, đỏ hơn máu!

Bốn.

Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đất Gò Công, không một ai còn sống sót để quay về!

Hôm đưa xác con về chôn cất ở đất nhà (18), má Năm cầm nắm đất buông xuống huyệt:

– Thoại ơi! Không uổng công má nuôi con ăn học thành người!

TRẦN BẢO ĐỊNH

_______________

  1. Đỗ Trình Thoại (1815(?)-22.6.1861) người thôn Yên Luông, tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường (nay là ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
  2. Nay là xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (xưa thuộc huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Phiên An và sau đó là tỉnh Gia Định).
  3. Núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy, nay là Hàm Tân).
  4. Núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Bà Đen (Tây Ninh).
  5. Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân) người thôn Phú Kiết (Định Tường), đỗ cử nhơn thứ 9 khoa Nhâm Dần, 1842.
  6. Đỗ Trình Thoại đỗ cử nhơn khoa Quý Mão (1843).
  7. Trần Thị Sanh (1820-1882) vợ thứ của Trương Định. Bà là con thứ sáu của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng (bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cô ruột bà Phạm Thị Hằng tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức). Như vậy, Thái hậu Từ Dụ với bà Trần Thị Sanh là chị em cô cậu ruột.
  8. Trương Định (1852) làm Phó Quản cơ đồn điền, và từ năm 1862, bà Trần Thị Sanh là nguồn hậu cần của nghĩa binh Trương Định cho tới ngày 20.8.1864, Trương Định hy sinh.
  9. Ngày 14.4.1961.
  10. Trần Thiện Chánh (1822-1874), người thôn Tân Thới Tây, tổng Long Tuy Thượng, huyện Bình Long, tỉnh Gia Định (nay là ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp.HCM). Ông đậu cử nhơn thứ tư, khoa Nhâm Dần (1842), đồng khoa với Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân).
  11. Ngày 25.2.1861.
  12. Bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị, tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức (15).
  13. Bà Trần Thị Sanh có đời chồng trước là Bá hộ Dương Tấn Bổn (mất năm 1860), sinh được chín người con (mất 8 còn 1 là gái tên Dương Thị Hương). Sau nầy, bà Hương lấy chồng là ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển (người đã giao Nam Kỳ lữ điếm cho ông Trần Chánh Chiếu làm trụ sở phong trào Minh Tân ở Mỹ Tho; đồng thời, cũng là người góp phần lo hậu sự khi cụ Phan Châu Trinh mãn phần lúc 21 giờ 30 phút ngày 24.3.1926) và tang lễ được cử hành tại Bá Huê lầu, 54 đường Pellerin, Sài Gòn (cơ sở của Huỳnh Đình Điển).
  14. Phạm Thị Hằng là con dâu bà Hồ Thị Hoa.
  15. Năm 1848, vua Tự Đức cho khởi công đắp “con đường sứ”, còn gọi “con đường Trạm” (sau nầy gọi đường cây dương hoặc lộ dương). Nay là Quốc lộ 50 (Tp.HCM đi thị xã Gò Công).
  16. Cách gọi theo số thứ tự cấp bực sĩ quan Pháp của dân gian (thiếu úy là quan một, trung úy là quan hai… tới đại tá là quan sáu).
  17. Tức đêm 21 rạng 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu).
  18. Mộ Đỗ Trình Thoại, hiện nay ở ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Read Full Post »

Từ giã mù sương.

Đặng Phú Phong

.

Cường gặp Quyên trong một buổi chiều muộn ở Đà Lạt, khi thành phố chìm trong lớp sương mỏng như một nhúm khói ai quên dập. Quyên đang ngồi một mình bên cửa sổ quán cà phê Tùng, tay vuốt nhẹ trang giấy nơi nàng vừa viết dở một bài thơ.

Nàng đội chiếc nón len màu tro, gương mặt đẹp kiểu đàn bà từng trải nhưng vẫn giữ nét thanh khiết như sương đêm. Ánh mắt nàng biết lắng lại, nhưng không bao giờ dừng — luôn như đang đi tìm một câu thơ vừa chạy mất.

Cường bị hút lấy từ khoảnh khắc ấy.

Anh hỏi, giọng đàng hoàng, không chút bởn cợt:

– Hình như cô đang làm thơ?

— Thơ viết tôi thì đúng hơn. — Quyên mỉm cười, hơi ngả đầu, giọng nhẹ như một thánh ca đứt quãng. Sự tự tin hiện rõ trên khuôn mặt lạnh.

Họ nói với nhau suốt hai giờ, như thể quen nhau rất lâu rồi. Cường không ngạc nhiên khi nghe nàng kể về cuộc đời cũ ở Sài Gòn:

Chủ một công ty quảng cáo thành công, những buổi họp dồn dập, những chiến dịch triệu đô… rồi một cuộc ly dị khiến tất cả như hóa khói.

— Em lên Đà Lạt vì mệt quá. — Quyên nhìn ra trời sương — Và vì em cần một nơi mà hạnh phúc không phải chứng minh.

— Còn hôn nhân?

— Em kết hôn vì thích cái không khí tịch mịch gần như… siêu hình của giáo đường. Vì anh ta có đạo. Tiếc là siêu hình thì đẹp, còn đời sống thì không phải thế.

Cường nhìn nàng, thấy một người đàn bà vừa mềm vừa thép — đẹp như ánh nến, nhưng cháy bằng thứ dầu của cô độc.

Chỉ một tháng sau, anh và nàng dọn về căn biệt thự nhỏ trên đường Hùng Vương — một ngôi nhà ngập thông, tường đá rêu phong, cửa sổ gỗ mở ra thung lũng.

Ban ngày, họ lang thang qua những quán cà phê có nhạc jazz cũ:

Tùng, Boho, Escape…

Quyên hay ngồi xoay muỗng cà phê và hỏi những câu tưởng đơn giản nhưng đâm rất sâu:

— Anh yêu phụ nữ hay yêu cái cảm giác được ở trong một cuộc tình?

— Cả hai. Em thì sao?

— Em yêu người nào chịu được bóng tối của em.

Cường cười, nhưng trong lòng hơi gai gai. Anh nhủ thầm – Bóng tối của em đặc quánh như hắc ín làm sao anh bước vào được.

Những tối Đà Lạt lạnh cắt, họ trở về biệt thự, đốt lò sưởi, đốt nến thơm mùi tuyết thông, nghe nhạc và uống rượu.

Họ nói chuyện văn học nghệ thuật

Anh lắng nghe nàng, đôi khi không hiểu hết, nhưng say mê chất lãng mạn lãng đãng của nàng.

— Hai đứa mình giống nhau ở điểm nguy hiểm nhất, — Quyên nói — ai cũng nghĩ mình hiểu đời và hiểu tình yêu hơn người còn lại.

Cường cười, không phản đối

Khoảng một năm sau, sự mâu thuẫn giống như những trận sương dày của thành phố này, không phải đến vì bão, mà đến âm thầm và mãnh liệt.

Một tối, trong lúc chỉnh lại giá vẽ, Quyên nói:

— Anh lúc nào cũng muốn em theo nhịp của anh.

— Còn em?

— Em cũng muốn anh theo nhịp của em.

Họ nhìn nhau, cả hai cùng bật cười. Nhưng đó là nụ cười của người nhận ra trước mặt là vực sâu mà không biết làm sao lùi lại.

Những cuộc trò chuyện vốn đầy thi ca bắt đầu có những đường nứt không nhỏ:

— Tại sao anh hay lơ đãng?

— Em quá để tâm vào cảm xúc của mình mà quên mất anh đang hiện diện bên em.

— Còn anh thì trôi như mây, không chịu ở lâu với điều gì.

— Ở lâu thì dễ buồn.

— Buồn mới là chỗ thật của con người, Cường!

Đêm nọ, Quyên ném quyển sổ tay xuống bàn.

— Tình yêu với anh giống như một bản nhạc chỉ có đoạn mở đầu. Lúc nào cũng đẹp nhất ở những nốt đầu tiên.

Cường im lặng trước sự thông minh của nàng. Và anh chợt nhận ra những cá tính đặc biệt cũng như sự thông minh ấy như một cái thòng lọng ngày càng siết cổ anh.

Nàng tiếp, giọng run nhẹ:

— Em với anh giống nhau quá. Ai cũng nghĩ mình yêu nhiều hơn, hiểu hơn, nên không ai chịu buông cái tôi xuống. Hai người như tụi mình yêu nhau… là một giấc mơ vừa đẹp vừa sai.

Cường muốn ôm nàng, nhưng Quyên lùi một bước.

Giáng sinh năm đó, trời Đà Lạt lạnh bất thường. Những dải đèn vàng treo trước Nhà thờ Con Gà hắt xuống sương như những ngôi sao rơi bị kẹt nửa chừng.

Cường và Quyên đứng cạnh nhau, nhưng khoảng cách giữa họ dày hơn cả hơi lạnh.

Tiếng chuông nhà thờ vang lên. Quyên kéo chiếc khăn choàng lại, mắt không rời tháp chuông.

— Cường… mình dừng lại đi.

— Em nói chơi?

— Không. Chúng ta yêu nhau bằng cùng một sự kiêu hãnh. Và chính điều đó giết tình yêu.

Sương bay qua, làm tóc nàng ướt nhẹ.

Cường muốn nói “Anh yêu em”, nhưng cổ họng như bị gió siết lại.

— Anh sẽ nhớ em. — anh thì thầm.

— Em biết. Nhưng anh sẽ không nhớ nếu ở gần em. Chỉ khi xa, em mới là thơ trong mắt anh.

Một câu nói đẹp. Và tàn nhẫn.

Quyên quay đi.

Trước khi bước xuống bậc thềm nhà thờ, nàng ngoái lại:

— Em mong một ngày anh học được cách yêu mà không đứng soi mình trong tình yêu đó.

Nàng bước vào màn sương trắng mỏng. Ánh đèn đường nuốt lấy bóng nàng rất nhanh, như thể Đà Lạt biết che giấu những cuộc chia ly đẹp nhất.

Cường đứng lại rất lâu. Gió lạnh quất vào mặt anh. Chuông nhà thờ vẫn vang lên mà lòng anh thì rỗng toang như ngôi giáo đường đã gỡ hết tượng thánh.

Đêm đó, anh biết,

đây không phải là cuộc chia tay của hai người. Mà là cuộc chia tay giữa anh và cái ảo tưởng rằng anh biết yêu.

Read Full Post »

Chợ thiệp

Không tính tới lúc Terry Jacks hát “Season in the sun” (1974). Trước đó, Sài Gòn đã có rất nhiều bài hát, Tây Ta có đủ, về “mùa nắng đẹp” Giáng Sinh. Cái mùa mà Sài Gòn hơi se lạnh vào những buổi sớm mai. Những chàng trai, cô gái Sài Gòn cũng điệu đàng hơn một chút, với chiếc áo khoác mỏng nhiều màu sắc bên ngoài chiếc áo chemise, hay áo dài, khi ra phố buổi tối.

Nhạc “Giáng sinh” thì tuỳ, bạn có thể thích thì nghe, không thì thôi! Nhưng có những chỗ bạn phải ghé ít nhất một vài lần trong năm. Nó thuộc về thói quen, về lối sống và văn hóa của người Sài Gòn cũ.

Nó nằm rải rác trong nhà sách, trên hè phố, hay trước dãy tường bên hông những Nhà thờ. Nhiều nhất và cũng đông vui nhất là những con đường nằm cạnh Bưu điện Sàigòn.

Nơi đó bán duy nhất một thứ quen thuộc, quen tới mức không cần tìm hiểu nó có từ đâu và từ hồi nào. Những tấm thiệp. Thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới. Một tờ giấy cứng gấp đôi, bên ngoài in hay vẽ những hình ảnh tuyệt đẹp, nhiều màu sắc, tượng trưng cho một mùa. Phần giấy trắng bên trong là để ghi những lời chúc lành cho nhau.

Người Sài Gòn có thói quen gửi thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới cho bạn bè, người thân. Gần thì trao tay, xa thì nhờ Bưu điện. Cánh thiệp là cách biểu hiện tình thân, là cách kết nối và quan tâm lẫn nhau. Nó như một nhắc nhở, một cách gián tiếp nói rằng tôi vẫn bình an và tôi đang nhớ tới bạn. Những lời cầu chúc tốt đẹp tôi viết gửi trong tấm thiệp là tấm lòng của tôi gửi cho bạn. Nó đáng quý biết chừng nào.

Những tấm thiệp sẽ được cất kỷ trong ngăn kéo, hoặc sẽ được treo lên cây thông Noel, hay cây mai cây đào ngày Tết. Nó vừa để trang trí, vừa để nói lên rằng bạn đang có mặt ở đây, đang cùng với gia đình chúng tôi đón một mùa Giáng Sinh, một Năm mới an lành và hạnh phúc.

Những năm tháng còn đi học, lang thang đi lựa mua thiệp là một cái thú. Người nhận khác nhau, những tấm thiệp và lời chúc bên trong cũng khác nhau. Nhất là gửi thiệp cho người con gái mình yêu thích. Với tôi là thứ khó khăn vô cùng. Phải cân nhắc, phải thận trọng khi viết từng câu, từng chữ. Tới lúc đưa, lúc gửi thiệp cũng hồi hộp. Và rồi nhận lại cũng…hồi hộp!

Cũng không chỉ có thiệp, thân tình hơn, người ta tặng cho nhau những món quà nhỏ. Những món quà mang ý nghĩa riêng tư của người cho và nhận. Sài Gòn không có mùa Đông, mùa Đông ở trong lòng người! Những món quà làm xích lại gần nhau hơn, làm ấm lại cái tình trong chút gió lạnh đầu Đông!…

Giờ thì nhanh gọn hơn nhiều. Có nhớ tới nhau, người ta chỉ cần mở máy vi tính, tìm một cái tên, tìm một tấm hình với lời chúc có sẵn rồi bấm gửi, thế là xong!

Quá tiện lợi và dễ dàng. Dễ tới mức như trả nợ. Người gửi cho có, người nhận thờ ơ.

Chẳng ai quan tâm tới cái đẹp vô hồn của tấm thiệp và những lời chúc sáo ngữ trong đó. Tất cả chỉ còn mang tính hình thức.

Để rồi, nếu như tình cờ nghe được mấy câu hát:

“Mong ước ngày sau như là ngày trước

Tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”*, mới thấy nhớ, thấy tiếc!…

Cái tiện dụng làm mất đi sự rung động, làm tê liệt những cảm xúc. Làm giết chết một thói quen đẹp. Làm mất đi một thứ văn hóa đáng yêu và đầy thi vị…

Chỗ bán thiệp cũng không còn nhiều. Không sao! Tôi sẽ tự đãi mình một bữa tiệc Giáng Sinh, bằng cách xuống phố, tìm mua vài tấm thiệp. Một cái để tặng mình và những cái còn lại dành tặng cho…kỷ niệm!

Vài cái thiệp hình cây thông hay ông già Noel “Merry Christmas And Happy New Year”. Vài cái thiệp tràn ngập những cánh mai vàng rực rỡ, hay hình ảnh: “Có cô con gái nhà ai – Mẹ cho mặc chiếc áo dài đón Xuân…”!

Cũng đáng để làm trong một ngày nắng đẹp, trong đầy rẫy những bất trắc và âu lo thường nhật…

Và nếu như tình cờ, bạn nhận được một tấm thiệp vào dịp Giáng Sinh, Tết… Có nghĩa là ở một nơi nào đó, có người luôn nhớ tới bạn và những câu chữ trong đó là những yêu quý rất thực!…Hãy ôm giữ và trân trọng cái hạnh phúc đó, bạn nhé!

Read Full Post »

                                      

Truyện của Nguyễn Trí

.

             Nguyễn Sông là con thứ năm trong một gia đình gồm mười anh chị em. Thường gọi Năm Sông. Thực ra là Xông với nghĩa xông pha chứ không phải là dòng hay con sông. Nguyễn Ngạn – chồng và cha – của bầu đoàn thê tử dài thòng lòng bảo rằng lỗi tại thằng làm khai sanh. Nó đánh máy nhầm xông pha ra sông hồ. Nhưng mà sông hay xông cũng chẳng chết ông chết cha chi với nghèo túng và đông con. Thực ra cái tên quan trọng lắm với đời một con người. Ông cha có câu “xem mặt đặt tên”. Lịch sử văn học Việt Nam viết rằng, thi rớt nên Trần Tế Xương đổi chứ lót là Tế thành Cao. Vẫn rớt nên ông than rằng: “ Tế đổi thanh Cao nên sự thế. Kiện trông ra Tiệp hỡi giời ôi”. Đó là mới chữ lót, đằng nầy cả cái tên là hệ lắm chứ chẳng chơi. Bằng chứng là đời của Năm Sông đúng là ba chìm bảy nỗi mười một cái linh đinh chứ chín chả bì được.

         Học hành được một dúm chữ, lại dỡ ẹc. Ông Ngạn nói với Sông rằng mày có học bao nhiêu cũng chặt củi đốt than chứ, chả khá được khi cha mày là lính đánh thuê. Nghe vậy Sông lao ra sân ga bến tàu sống đời chợ búa. Theo chúng bạn vượt biên vượt biển chi đó bị lao cải hết hai mươi bốn tháng. Về đời được ba tháng lại bị thộp về tội phá đoản nhập nha. Đúng là ngựa quen đường cũ không tù là không được. Sau bảy năm cả tù cả lao cải Sông làm lại đời bằng cách lấy vợ. Vợ của Sông cũng đầu bờ cuối bãi có cái kém nhưng cũng có cái hơn Sông. Sông vượt biển bị thộp chứ cô thì thành công mỹ mãn. Cô có chồng, lúc bầu bì thằng khốn kiếp bỏ cô chạy theo con khác. Cha má cô nghèo chết ông bà cố tổ nhưng sĩ diện lắm. Họ không chấp nhận con gái bỏ cha bỏ mẹ đi theo tiếng gọi tình yêu. Cô vượt biển một mình, nuôi con một mình. Giang hồ tên Sông một ngày nọ gặp sương phụ bèn nói rằng thương ai cũng vậy thương anh anh cám ơn.

      Vậy là ra một cặp.

      Họ sống với nhau cho đến ngày Sông chầu trời vì bứt mạch máu não. Có với nhau ba đứa con chưa kể thằng con mà cô vợ vượt biển một mình. Đi qua tám tỉnh thành, mỗi lần đi là mỗi lần mua bán một căn nhà. Lưu lạc vậy nên nói Năm Sông chín linh đinh là phải quá. Lần cuối cùng nhà của Sông cao tốc chạy qua trụm lùm lụm. Vậy là được đền bù một mớ kha khá và một lô thổ trên tái định cư. Những tưởng thoát được cảnh “Cuối năm rót rượu ngay hẻm cụt. Nhà của ai chắn cuối đường đi…” ngờ đâu định mệnh của – những dòng sông – là muốn ra được biển xanh bát ngát phải qua thác qua ghềnh qua cheo leo khấp khểnh.

       Định mệnh của Năm Sông là của những dòng sông.

       Năm hai mươi tám tuổi thằng Bon – con riêng của Huệ – bà xã Sông, đem lòng đắm say một ngọc nữ. Dùng chữ ngọc nữ là bởi cô đẹp ơi là đẹp. Mặt đẹp và duyên thì chớ thể hình của cô cũng trên cả tuyệt vời. Trai theo cô gái tên Hạnh Thảo nầy cả một sư đoàn nhưng cô chỉ thích một anh Bon. Cặp kè được với người mình yêu là hạnh phúc. Đúng không? Chưa chắc đâu. Yêu và được yêu là môt chuyện còn hạnh phúc là chuyện khác. Để có được hạnh phúc phải hội tụ nhiều yếu tố. Hai yêu tố quan trọng vào bậc nhất là tiền và tình. Chả có hạnh phúc nào trong lều tranh với hai quả tim vàng đâu mà ham. Tình ở đây thì yêu là nhỏ. Giường chiếu mới lớn. Thằng đàn ông mà chưa tới chợ đã hết tiền thì hạnh phúc là cái con có tên “thôi rồi”.

        Bon là thằng người như vậy.

        Trước đó giang hồ lão luyện Năm Sông đã cảnh báo với Bon rằng con bé Hạnh Thảo có đôi mắt bén như dao cau, cặp giò mà “tướng mạo khảo lục” của Vũ Tài Lục bảo rằng “Trường túc bất tri lao” chân mày như thế thì “đa mi tắc đa mao” cái eo của nó dạng “tiểu yêu âm hộ đại” thì mày ba bảy hai mươi chứ không được hai mốt ngày đâu con.

        Y như rằng.

        Ở với Bon được ba tháng Hạnh Thảo tếch một hơi theo bồ cũ. Cô để lại cho Bon một lá thư tuyệt tình rằng “duyên trăm năm chẳng đặng, vương vấn làm chi cho mệt… quên em đi anh”. Bon ôm lá thư vào lòng khóc sướt mướt như Chúc Anh Đài nghe tin Lương Sơn Bá bị hộc máu. Khóc xong Bon ngồi ôn kỷ niệm bên chai ba xị. Nhìn thằng đàn ông sức có hạn, vai hẹp té đứng trước giai nhân chỉ ngắm chứ rán không nổi uống rượu ngâm thơ thấy mà tội. Bon thơ rằng: “Vòng tay hụt hẫng vòng tay. Rã rời đôi cánh, mỏi ngày, tháng, năm. Bóng và bóng, bóng âm thầm. Chờ người từ cõi trăm năm trở về… “ Mẹ cha ơi… chắc thằng nầy chết vì thất tình quá.

        Vùi đầu trong rượu và thơ được hai tháng Bon tỉnh hồn khi nghe tin Hạnh Thảo trở về. Ra là thằng bồ cũ sau khi, lăn lóc đá mê mẫn đời cái sự chơi, nó phủi một cái không thương tiếc. Bon ta đúng là thiên hạ đệ nhứt si tình, nó ba chưn bốn cẳng chạy xuống nhà vợ. Sau đó ba chưn bốn cẳng về nhỏ to với má. Bà Huệ lại nhỏ to với chồng. Năm Sông bảo rằng cho nó về lại cái nhà nầy hả? Còn khuya. Nó đi được một lần thì sẽ có lần thứ hai. Tin tao đi.

      Nhưng rồi Năm Sông buộc phải chấp nhận cho Bon đưa vợ về nhà bởi, sáu tháng sau thằng con nói ba ơi vợ con bầu được ba tháng rồi. Trên lô đất một sào tây Sông thượng lên một cái chòi lợp lá dừa nước cho đôi trẻ. Trong cái chòi ấy cô con dâu tên Hạnh Thảo cho ra đời một thằng cu giống… Năm Sông y tạc. Cũng đầu mình tứ chi trên đầu có tóc và trong đầu chắc chắn có não không giống mà được sao? Hai vợ chồng trẻ gửi con cho ông bà nội để làm ăn. Cô vợ xinh đẹp thuê nhà mở một quán cà phê sân vườn có võng. Năm thằng cháu nội được ba tuổi thì cao tốc chạy qua lô đất một sào. Năm Sông lại đùm túm lên tái định cư.

       Cũng năm ấy Bon quả tang vợ cùng một trẻ trai trong nhà nghỉ Nhị Kiều.

       Buồn tình buồn đời Năm Sông lăn ra chết vì cao máu.

                                                                  ***

       Ca dao rằng “ Trèo lên cây trắc, ngắt ngọn Đinh Lăng. Nhớ trong sách xưa có chữ rằng: bần cư náo thị vô nhân vấn…” sao mà đúng quá, ít nhất là trong trong trường hợp của Năm Sông. Sau giải tỏa đền bù. Khố rách áo ôm kiếm ăn bằng sức chỉ duy nhất một hộ Nguyễn Sông là cư dân của tái định cư, những hộ khác bán thổ cư của mình từ trước khi bốc thăm nhận đất. Tái định cư kiểu mẫu ai cho phép anh cất nhà tranh vách lá, chí ít cũng cấp bốn tường tô kiểu cọ hoa lá cành. Bán mẹ nó cho rồi, kiếm chút đĩnh mua chỗ re rẻ làm cái nhà xoàng xoàng dư chút vốn làm ăn. Nghèo thì phải biết liệu cơm gắp mắm chớ. Đúng không?

      Sông khác. Lô thổ ba trăm mét vuông Sông bán một nửa. Vậy là đủ tiền lên lầu một căn khá ngon cơm. Đằng trước nhà bà xã Sông làm một quán cà phê cóc kiếm ngày lon gạo và con khô đù một nắng. Hai vợ chồng ăn sáng một gói mì tôm chứ không hơn. Con cái đã lớn nên mạnh ai nấy lo. Cháu nội thì có cha má, vợ chồng Sông có phận thương và giữ giúp là tốt rồi. Cà phê cóc của Sông kiếm ngày con khô và lon gạo là chính xác trăm phần trăm. Vì sao. Vì cư dân của tái định cư toàn đại gia. Nhà của họ ngoài tường cao là hào sâu và cửa cổng trừ camêra còn có chuông oe oe báo trộm. Sang cả ai lại quan hệ giao lưu với cóc ổi mía ghim. May mà đại gia trừ nhà cao cửa rộng còn có cả trọ triệc cho công nhân thuê mướn nên, Sông mới có cơ hội mà kiếm con khô một nắng.

         Vậy nên khi cái xác chết vì cao máu về nhà, lèo tèo dăm mạng đến chia buồn. May mà thời hội nhập phát triển nên, bọn chuyên ăn thịt người chết lo tất tần tật các cái từ, hàng họ đến tụng tiệc đưa hồn ngươi chết về nát bàn,  huyệt mộ đều có người lo miễn có tiền. Sông chết ở bệnh viện nên bọn bán hòm nghe nói dân tái định cư tưởng Sông giàu. Đến lúc đưa xác và hòm về nhà chủ trại hòm mới dài mặt hối hận. Chả là lúc lấy cái xác lạnh như nước đá ra khỏi nhà vĩnh biệt – Hùng – con trai út của Năm Sông ra cổng bịnh viện kêu xe đưa cha về nhà nhưng chẳng một bác tài nào dám. Em út của chủ trại hàng nói để chị hai lo, em lo chi cho mệt. Hùng nói nhà em nghèo lắm chị ơi. Em tính đưa ba về xin cái hòm của chữ thập đỏ… nói gì nói chị hai vẫn ngang nhiên ra tay. Thường trú ở tái định cư thì phúng điếu dư để tang ma. Ngờ đâu trong kiểu mẫu cũng có khố rách.

      Rầu nhứt là trong cái mớ lèo tèo đến uống rượu chia buồn có cả bọn đòi nợ thuê. Vợ chồng trưởng nam của người chết trong tang phục ra tiếp khách. Chúng nó bảo xong đám ma là trả nợ cho chị hai nghe. Không trả là tao xin tụi mày nhiều luôn chứ một tí huyết không đủ làm tiết canh. Bon và Hạnh Thảo dạ dạ dạ em biết rồi. Ổng chết nhà nầy em chủ chứ ai vô. Mấy anh yên tâm. Ra là cặp đôi nầy thuê nhà mở quán cà phê sân vườn có võng là vay mượn của xã hội đen. Thế có chết không?

         Nghe chuyện ba đứa em cùng mẹ khác cha ra miệng:

  • Ê… đợt trước ông lấy sổ đỏ đi cầm, ba chị em tui phải bỏ công bỏ của đi chuộc. Ông không còn cái khỉ mẹ gì trong cái nhà này đâu mà chủ với tớ…

  Thằng Hùng nói với bọn đòi nợ thuê:

  • Mấy ông có gì cứ níu áo hai ngươi nầy. Của cải trong căn nhà nầy họ không còn chi hết.

   Đó rồi nó vào phòng lấy cái cặp táp lôi ra một tờ giấy cam kết có công chứng với con dấu đỏ như máu. Tờ giấy xác nhận rằng cái nhà chia làm năm phần. Nguyễn Bon và vợ là Trần Thị Hạnh Thảo đã lấy cái phần của mình… Đọc xong bọn đòi nợ thuê vỗ bàn dằn mặt:

  • Chuyện nhà anh em mày bọn tao đẻo cần biết. Xong đám mà vợ chồng mày không trả tao rạch mặt mày nghe con đĩ chó…

    Hạnh Thảo lớn giọng:

  • Yên tâm đi. Cai nhà nầy hôm nay trị giá những năm tỷ. Hồi đo vợ chồng tui chỉ lấy một trăm triệu. Không chia lại là không ổn với tui…

     Ba đứa con của Sông và bà Huệ thì Hùng là du côn có số. Nó văng tục:

  • Bà vừa mới bị ông Bon quả tang trai trên gái dưới ở Nhị Kiều. Đĩ chó như bà còn có tư cách gì mà chia lại vơi chia đi.

     Bà Huệ bước ra:

  • Trời ơi… yên cho cha bây tĩnh chút được không. Mấy chú về đi… để tui đưa ông nhà ra nghĩa địa rồi tính.
  • Tính cái gì ? Bà chỉ cần hứa sau đám trả nợ cho con trai và con dâu bà là bọn tui về liền. Còn không bọn tui đòi cho đến khi mở cửa mả.

   Hùng lên tiếng:

  • Mắc mớ chi đến má tui. Oan có đầu nợ có chủ. Mấy ông không có quyền ép má tui trả nợ.
  • Mày ngu chết mẹ. Con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Biết chưa thằng ngu. Cà chớn tao đâm chết mẹ mày bây giờ. Với tao ba năm tù như một giấc ngủ trưa nghe mậy.

    Đúng lúc đó hai chiếc xe hơi loại bảy chỗ dừng trước nhà Năm Sông. Cửa xe mở và những mười hai người rất trang trọng lịch sự. Họ mơ cốp xe lây ra hay vòng hoa phúng điếu. Vòng hoa dựng lên. Thiên hạ ngỡ ngàng khi đọc dòng chữ trên một vòng hoa: Hội văn nhọc nghẹ thuật tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông. Dòng chữ trên vòng hoa còn lại là: Ủy ban nhân dân tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông.

     Ra Sông là nghệ sĩ cơ đấy.

     Ở tái định cư kiểu cọ nầy thiên hạ đi ăn sáng bằng xe hơi là nhỏ. Nhưng chuyện hai chiếc bảy chỗ chềnh ềnh trước đám táng nhà Sông là lạ. Hôm ấy nhằm chủ nhật nên bọn công nhân – khách cà phê của quán Sông – tụ lại coi chơi cho biết một đám ma có điếu văn. Mẹ cha ơi… thường, Sông quần đùi áo áo thun ba lỗ cóc cách trên chiếc xe đạp cà là mèng mỗi khi vợ sai vặt. Nay điếu rằng vô cùng thương tiếc nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông đã một đời cống hiến cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung… Ra cái lão quần đùi áo cánh là hội viên cấp quốc gia mới ghê và giải này giải nọ nghe mà mắc mệt.

         Chuyện Sông là nghệ sĩ hóa khói bay khắp nơi trong tái định cư. Là dân làm ăn lớn, nghe nói có người của ủy ban cấp tỉnh dự đám ma, kính thưa các đại gia liền kéo đến. Đúng là “thớt có tanh tao ruồi đậu đến, gan không mật mở kiến bò chi”. Ông thông tin văn hóa huyện cũng có mặt thì ông xã là tất nhiên. Đám tang Sông bổng nhiên long trọng. Ông Nguyễn Huy Thiệp nói rằng “người ta xếp nhà văn cao trên ăn mày một bậc, nhà văn đứng đầu trong đám thảo dân, đứng cuối trong các phẩm trật triều đình. Giàu không ai viết văn cả (vì giàu thì hỗn, mà viết văn đòi hỏi khiêm tốn). Ở đây trừ vài “người điên thiên tài” thực sự như Tào Tuyết Cần, Bồ Tùng Linh, Lev Tolstoy… là những trường hợp đặc biệt từ người giầu có do viết văn họ lại hóa ra nghèo. Nghèo thì cũng không ai đi viết văn cả (vì nghèo thì hèn, mà viết văn lại cần dũng khí, khi cần thì họ nhảy vèo xuống nước giống như Khuất Nguyên, thế là cả một nền chính trị đương thời bị mang tiếng). Nhà văn là người biết sống trung dung, phong lưu, tri túc, “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm”. Không dễ gì tổ chức được một cuộc đời như thế. Rất khó, khó nhất không phải chỉ là tiền bạc, cũng khó nhất không phải chỉ là tri thức – mà khó nhất lại là đạo đức! Các cụ ngày xưa nói “có đức không đủ sức mà ăn” là vô cùng sâu sắc, vô cùng tế nhị.

          Không có phẩm trật và chỉ cao hơn ăn mày một bậc mà đám táng có quan chức tham dự thì quá xá là ghê gớm.

          Và xưa nay nghĩa tử là nghĩ tận. Oán tận tủy mà khi kẻ thù chết người ta còn đến để vuốt mắt lọ là Sông lành như đất. Mà đám ma là phải phúng. Bọn ở trọ phong bì còn trăm ngàn thì đại gia dăm bảy trăm một triệu có đáng là bao. Ây da… cái thùng phúng điếu có ổ khóa phải hơn một lần rinh vô phòng bà quả phụ Huệ chứ không nhét vô được bởi cái sự đầy ặp. Chắc chắn cái công lớn lao nhất đời làm chồng làm cha của Nguyên Sông là lúc nầy. Ông đã để lại cho vợ con kếch sù một gia tài. Đúng là số giàu đem đến dưng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.

      Tiếc là Sông chết mất rồi.

      Nhà chùa cũng có mặt theo lời mời của chủ tịch ủy ban nhân dân xã nơi Sông cư ngụ. Đại hòa thượng với mũ bình thiên và tràng hạt trên cổ, trên tay, sau lưng ngài trên hai mươi sư ông sư bà trong cà sa đi chung quanh cổ áo quan, và lời kinh tiếng kệ vang lên đảm bảo, linh hồn nghệ sĩ Sông – nếu có – chắc chắc lên cõi nát bàn ở cùng hằng hà sa số phật. Đại hòa thượng có vẻ tinh thông lẽ nhiệm mầu của trời đất. Trong thời gian nghỉ, ngài ngồi trên bồ đoàn, một tay lần tràng hạt, một tay dùng ngón cái đếm đốt ngón tay của bàn tay rồi phán:

  • Theo quẻ nầy thì không thể hỏa thiêu theo yêu cầu khi con sống của Nguyễn Sông. Sông cầm tinh con khỉ. Khỉ là vượn mà vượn thì “con vượn bồng con lên non hái trái. Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi” Kẻ trên cao sống đời bay nhảy không thể đốt được. Phải chôn.

    Vậy là chôn. Nhân bảo còn như thần bảo lọ là đại hòa thượng khi đã phán.

    Một dàn nhạc đám ma kéo đến theo chỉ thị của chủ trại hàng. Thôi thì tân cổ nhạc tha hồ phát huy. Ca sĩ đám ma hát hò nhảy múa không thua lai sô của nghệ sĩ thời thượng một lai nào. Lúc nầy mơi là lúc ca kính thưa các đại gia củá định cư phát huy sở trường xài tiền. Họ gặp em xy và yêu cầu vừa hát vừa múa bài Tình Cha. Lòng mẹ cũng chơi luôn bởi anh bo sộp.

      Cứ thế và cứ thế đám ma của Nguyễn Sông vui cho đến ngày ra nghĩa địa.

     Thằng chủ xe hủ tíu gõ, sáng nào cũng bán cho Nguyễn Sông một tô nhiều nước lèo bởi Sông nói tao mua thêm ổ bánh mì để hai vợ chồng cùng ăn. Gã nói:

  • Móa nó… còn sống thì đẻo có ăn, đến khi chết xuống thì văn tế ruồi.

     Lại nói thêm:

  • Sống thì đẻo có thằng náo viếng. Chết thì cả một sư đoàn. Nhưng mà cha Sông chết không dễ chi mà yên được. Tiền phúng nhiều quá bầy con giả chia chác cũng khó.
  • Ừ… nhứt là con vợ thằng Bon. Tha hồ có tiền điều hành tiếp cà phê sân vườn có võng và… nuôi trai. Mẹ cha nó thằng yếu sinh lý Bon.
  • Còn cái nhà nữa mới mệt chớ…

   Yên nghỉ mà được sao hả Nguyễn Sông?

        Nguyễn Trí

Read Full Post »

Xà bông Con Vịt

Trần Bảo Định

.

Một.

Hổm rày(1), tin tức ”Dân dậy” chống thuế từ Huế đổ dồn vô Nam(2). Rằng, quan hỏi: ”Ai cho phép dân đi?”, dân đáp trả: ”Cái bụng đói bắt đi”…Dù đang tại chức cai quản tổng Lợi Trường, nhưng Cai Tuất nghe thiên hạ truyền tai nhau cũng đã con ráy. Nói cai tổng là một cách nói, chớ đúng ra phải gọi chánh tổng. Vì, từ thời Đồng Khánh đã đổi cai thành chánh do kỵ húy cha mình là Hồng Cai tức Kiên Thái Vương.

– Thưa thầy cai, tui tới chơi!

Con Mực sủa át tiếng chủ điền Dương, một người thừa của ăn của để ở làng Kim Sơn miệt Sầm Giang.

– Hắc cẩu! Chỗ giao tình…

Mực nín sủa, ngửi ngửi ống quần, vẫy vẫy đuôi như xin lỗi và tỏ ý thân thiện với khách.

– Mời ông chủ ngồi!

– Dạ! Không dám! Thầy cai kêu tui ông chủ, thì tui sẽ tổn thọ.

Cai Tuất cười ngất.

– Xưa Tri huyện, nay Quận trưởng gật thì mần cai cho nó sai. Ngược lại, nó lắc thì mần dân, chẳng cơm ăn. Rốt cuộc, mần tá điền cho chủ điền. Gọi chú em ông chủ là qua lo cho cái ngày sau của qua!

Chủ điền Dương nhấp trà sen, cười trấn an:

– Làm gì có chuyện ”cái ngày sau” đó, thưa thầy cai!

Thầy cai đăm chiêu, đi đi lại lại trong gian phòng khách rộng thênh thang.

– Cai tổng là cái chức do bề trên cho, còn điền chủ là điền sản của mình. Của người cho sao bì đặng của mình có!

Chả hiểu sao hôm nay, Cai Tuất nói năng có vẻ chán chường như vậy, hay là lão ta thử lòng mình.? Điền chủ Dương tự hỏi, bởi thời cuộc bây giờ nhiễu nhương lắm.

– Thưa thầy cai! Cai tổng hay điền chủ trong cái xứ sở thuộc địa Nam Kỳ nầy, có gì là chắc chắn!

– Thôi! Qua và chú em bỏ phức ba mớ chuyện xà quần đó đi!

Cai Tuất trở lại thư thái điềm tĩnh.

– Nầy, qua hỏi thiệt, chú em quá bước sang đây chơi hay muốn qua gả chó giữ nhà?

Cả vùng Sầm Giang mấy ai không bái phục tài lựa chọn chó tốt của Cai Tuất. Vả lại, ông ta chẳng những không giấu nghề mà còn phổ biến cho xóm giềng cùng biết. Thường thì, ông nhắc nếu chọn chó khôn cần lưu ý: ”Mắt to, phía trên chưn mày điểm sậm màu hơn lông (còn gọi là chó bốn mắt), tai vểnh thẳng, lưỡi có bớt đen, ‘móng đeo’ bốn chưn trước sau…”. Lúc ”Trà dư tửu hậu”, Cai Tuất cao hứng đọc thiệu: ”Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt. Bỏ đuôi bên trái thì nuôi, bỏ đuôi bên phải thì thịt…”. Nói vậy, chớ chẳng ai can đởm ăn thịt chó, con vật mang biểu tượng trung thành với chủ; và cả thịt trâu, con vật mang biểu tượng bạn nhà nông.

Rồi, ông hãnh diện về con chó mực nhà ông mà ông thích gọi ”Hắc cẩu”, bởi toàn thân nó phủ một màu đen tuyền; dân gian truyền tụng chó mực mắt thấy được ma quái và ma quái cũng chỉ khiếp sợ loại chó mực.

– Thưa thầy cai! Tui tới gặp thầy cai là mần theo ý của ông Gilbert Chiếu (3).

Để khỏi mất thì giờ, điền chủ Dương nói luôn:

– Gilbert Chiếu nhờ tui nhắc lại với thầy cai câu ca dao ở xứ mình: ”Tham chi đồng bạc con cò (4)/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang sa”!

Cai Tuất chưng hửng và câu chuyện về chó đang hồi cao trào cũng bị xẹp lép. Gilbert Chiếu, một cái tên mà từ lâu ông hằng ngưỡng mộ và thời gian gần đây, trong giới trí thức, điền chủ, hương chức…ra6mran bàn luận và tham gia phong trào Minh Tân ngày càng đông ngay trên đất Mỹ Tho, vốn là thủ phủ thương mại của Hoa kiều với cái tên ”Đại phố Mỹ Tho” từ Dương Ngạn Địch. Một việc làm hi hữu và táo bạo kể từ khi Nam Kỳ thuộc Pháp.

Hai.

– Bẩm quan! Tuất nầy xin trả cái chức cai tổng lại cho quan. Quan coi ai đó, giao người ta đặng kiếm chút tiền xài vặt.

Quận trưởng(5) quận Cai Lậy dằn tay xuống mặt bàn, đứng dậy đá ghế.

– Cai muốn giỡn quận, sao?

Cả gian phòng im ắng, nặng chình chịch, nghe rõ mồn một tiếng tích tắc của dái đồng hồ treo tường lắc qua lắc lại. Con chó Berger của viên Quận trưởng cao to gấp ba bốn lần con Mực của Cai Tuất, định chồm tới uy hiếp con Mực. Nhưng, chẳng hiểu sao nó chựng lại, hai chưn trước hơi run. Có lẽ nào, chó Berger bị ”khớp đèn” trước ánh mắt của chó Mực!?

Tay Quận trưởng giở giọng đe nẹt:

– Gần đây, ta được mật báo có đám người ”vong ơn bạc nghĩa”, vô quốc tịch Tây lập hội ”Minh tân, Minh cựu…” gì đó, mưu phản Tây. Bọn khác tự xưng ”Đông cung Thái tử” lập ”Hội kín” đánh Tây, kể cả cái bọn ”khố rách áo ôm” ngoài Huế cũng tụ tập biểu tình chống thuế muốn làm loạn. Vậy, bổn chức hỏi Cai, đứa nào xúi Cai trả Cai lại cho ta?

Cai Tuất thoáng nghĩ, Mực không sợ Berger; chả lẽ ta lại thua con chó Mực! Bởi vậy, dù giọng gầm gừ, mặt hầm hừ thì hắn cũng chẳng bắt nạt được Cai Tuất.

– Bẩm quan! Không có đứa nào xúi hay giục Cai Tuất nầy cả! Chẳng là, tui mê nuôi chó, thích gả chó và biết đâu tới cái ngày kia, ham đua chó nữa cũng nên. Quan chưa chơi chó nên không biết đó thôi!

Quan quận chưa kịp phản ứng, Cai Tuất thưa tiếp:

– Hội Minh Tân, Hội kín…Hội chi chi đó, tui không biết mà chỉ biết: ”Chó cùng rứt giậu”. Nhựt trình Pháp đăng rùm cái vụ dân Huế xin thuế ”bắt trói tên Phó quản và bọn quan lại phủ huyện gánh tới Tòa Khâm và Phủ Doãn Thừa Thiên…”.

Hình như, nét mặt viên quận có vẻ xìu. Con Berger lảng đi chỗ khác.

Đột nhiên, quan quận trừng đôi mắt trắng dã, trợn ngược:

– Cai tổng muốn làm loạn, à!

Hắn để tay lên bao súng đang nịt ngang hông.

– Đồ chó má!

Cả Tuất cười thầm, nghĩ bụng: ”Chẳng biết thằng nào chó, thằng nào má!”.

Sự căng thẳng bắt đầu như người đánh đàn bắt đầu lên dây đàn, Cai Tuất móc túi quần lấy ra xấp tiền mới cáo cạnh vừa rút ở nhà băng đặt lên bàn quan quận. Hình mụ đầm xòe in trên tờ giấy bạc như nhảy múa làm sáng mắt tay chủ quận. Hắn nuốt nước bọt, sửa bâu áo, trở giọng:

– Cai cả gan dám đút lót bổn quan bằng tiền mẫu quốc?

– Thôi mà quan! Mình người nhà, có lạ lẫm gì nhau.

Mặc dù Cai Tuất đã trả cái chức cai tổng cho chủ quận Cai Lậy từ lâu, nhưng dân trong tổng hoặc người thân vẫn quen miệng gọi Hai Tuất là Cai Tuất. Một hôm, Cai Tuất ngồi nói chuyện với vợ.

– Tui tính như vầy, bà nó coi có được không, nha!

– Thì, ông nói thử cho tui nghe.

Cai Tuất khẽ dộng đầu điếu thuốc lá ”Con ngựa bay” xuống cạnh bàn, mồi lửa hút.

– Mấy tháng nay, cậu Út rủ tui gom tiền hùn vô ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” (6) để làm xà bông hiệu ”Con Vịt” đem bán cho bà con mình xài vừa tốt, giá rẻ. Tui định nói với bà, tháng sau tới kỳ hạn tiền gửi nhà băng thì bà rút hết tiền đưa cho cậu Út…

Vợ Cai Tuất chặn ngang.

– Làm savon là làm cái gì? Sao lại là hiệu ”Con Vịt”?

Thú thiệt, Cai Tuất không nắm được rành cho lắm. Chỉ là, học lóm lời cậu Út nói mà thôi, nhưng chả lẽ mần thinh; thà mình nói dù nói chưa được rành mạch mấy.

– Thì là, làm xà bông đó! Hiệu ”Con Vịt” là biểu tượng niềm vui, sự an lành và nó cũng là, con vật linh dùng để cúng Bà Cậu miền sông nước. Cậu Út nói: ”Con Vịt” kêu tiếng kêu chuyển mình của người Nam Kỳ đi vào lãnh vực công nghệ!

– Tui thì, tui thấy gửi tiền nhà băng lấy đồng lời cho chắc ăn. Mần đôi khi, có mần mà không có ăn. Vả lại, làm sao cạnh tranh nổi với hãng xưởng Hoa kiều, hãng xưởng người Pháp.

Nghe vợ nói, Cai Tuất bối rối không biết dùng lời lẽ gì để ứng phó, thuyết phục. Nếu, không ứng phó, thuyết phục được vợ thì không thể lấy chìa khóa mở rương tiền.

Làn khói thuốc bay vẩn vơ. Mực ho hục hặc mấy tiếng, dường như nó nghẹn cổ vì đồng cảm với chủ.

Cai Tuất thấm thía sự thất thế của mình trước vợ. Ông mần cật lực tạo ra tiền để vợ có tiền mà giữ, nhưng lúc nào vợ ông cũng nghĩ xấu về ông; khác gì chó dù có trí thông minh, thính giác, khứu giác siêu phàm phân biệt người quen kẻ lạ, siêng năng giữ nhà và nhứt là, trung thành tuyệt đối với chủ…Vậy mà, người đời sử dụng cái nặng tình qua ca dao, cái nặng lý qua tục ngữ nhằm bêu xấu chó. Không vì ham làm giàu, ông nhảy vô lãnh vực công nghệ hoàn toàn mới mẻ đối với ông; chẳng qua vì lòng tự ái dân tộc, ông muốn làm ra sản phẩm cho người mình xài cái người mình có.

– Ông ơi! Vô ăn cơm. Chiều rồi, đó!

– Bà ăn trước đi, tui chưa thấy đói!.

Biết ông hờn mát bà từ cái bữa bàn chuyện nhập hội làm xà bông ”Con Vịt” tới nay, nhưng bà mần bộ lảng coi như không biết. Chớ thiệt bụng, bà muốn ông sớm bỏ nghề nuôi chó, gả chó cho người. Mình không ăn thịt chó, người ta ăn thì sao? Thất đức, chết! Bà thường nghĩ: ”Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Bà vốn người làng Lương Hòa Lạc, có ngôi chợ nằm cạnh dòng sông Bảo Định hiền hòa. Ông nội và bên nội của bà, từng theo Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân chống Tây hơn ba mươi năm về trước. Cậu Út của bà, ông Lê Văn Cửu, một trong số tám người gốc gác dân Mỹ Tho, là sáng lập viên Công ty Cổ phần ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” (7). Hơn nữa, ông Huỳnh Đình Điển, chủ khách sạn Nam Kỳ (😎 chẳng tiếc gì của cải, dám giao khách sạn cho ông Trần Chánh Chiếu mượn làm trụ sở Minh Tân, thì hỏi sao bà không tin, không tham gia. Bà chần chừ bởi hiểu rằng: ”Minh Tân là phong trào yêu nước, kết nối giữa phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Mục đích cuối cùng là đánh đuổi thực dân Pháp, giàng Độc Lập, Tự Do cho Tổ quốc”. Chẳng biết ông nhà có cái gan mần việc lớn hay không? Có khi phải đem cái mạng mà đền nợ nước! Hay ông chỉ chí thú mần ăn hoặc do hứng khởi nhứt thời vì ham mần ra tiền. Với bà, việc nầy là việc hệ trọng không vì tiền bạc mà vì, tấm lòng nghĩ tới nước, tới dân hiện đang sống trong tủi nhục mất nước.

– Thì, ông vô ăn cơm cùng tui đi cái đã! Rồi, tui nói chuyện nầy hay lắm cho ông nghe!

Ba.

Cai Tuất cặm cụi dán ”Bố cáo di dời mồ mả” trên sở đất mà Công ty đã mua để xây dựng cơ sở sản xuất xà bông hiệu ”Con Vịt” (9). Với tinh thần ”Người Việt xài hàng Việt” nên những thân nhân có mồ mả đang nằm trên sở đất của Công ty đã cấp tập di dời. Hạn di dời mồ mả ba tháng, nhưng chưa tới một tháng, Công ty đã có thể xây dựng lò sản xuất xà bông. Vợ Cai Tuất, vợ điền chủ Dương trực tiếp đứng ra thu mua dừa khô từ nhiều nơi đổ về giao mối. Nhiều nhứt và chất lượng dầu dừa tốt nhứt, vẫn là trái dừa xiêm khô Bến Tre có vỏ màu nâu sậm, cầm trái dừa cảm giác chắc tay. Trên bến, dưới thuyền; bầu không khí vui như hội, chẳng những đối với người trong Công ty mà còn cả với người xung quanh.

– Chào thầy cai tổng!

– Giờ nầy, còn thầy với bà gì nữa, chú em! Cai với tổng, cái con khỉ!

Cả hai cùng cười vang, rung khói lò nấu dầu dừa.

Điền chủ Dương neo ghe, nhảy lên bờ ôm vai Cai Tuất. Mực ”gâu, gâu…” mấy tiếng, chồm lên chưn mừng người quen.

– Sao? Từ ngày chú em vô ”Minh Tân túc mễ tổng cuộc”, đi buôn lúa gạo có khá hơn đi thu thuế ruộng tá điền không?

Cai Tuất hỏi thăm người anh em cùng tổng hồi trước.

Điền chủ Dương giờ đã là chủ nhà máy xay xát gạo lớn bậc nhứt ở Long Hưng, sau khi bán hết ruộng vườn cho Trần Bá Thọ. Chủ nhà máy Dương cười sảng khoái.

– Giờ nghe ai gọi Chủ nhà máy, tui vừa sướng vừa đã hơn nghe ai kêu Điền chủ!

Chủ nhà máy Dương tâm tư:

– Suy cho cùng, mần chủ nhà máy còn làm ra sản phẩm. Mần địa chủ chỉ quen thói đè đầu, bóp họng tá điền nhả tiền ra chớ xã hội chẳng có được thêm vật chất, của cải. Một thằng làm giàu, trăm họ điêu đứng,tạo nên sự bất công, nỗi phẫn uất!

Rồi, chủ nhà máy Dương kết luận:

– Chủ nhà máy giàu, thì xã hội có thêm sản phẩm. Còn điền chủ giàu, thì xã hội chỉ có thêm tá điền đói khát!

Cả hai nhâm nhi men rượu nghĩa tình, mừng cuộc hội ngộ cùng đi chung con đường canh tân đất nước. Sống trên đất của mình, há lẽ chịu bó tay lệ thuộc vào hàng hóa của tư bản Pháp và của đám Thanh thương!? (10). Chứng minh điều suy nghĩ của mình, chủ nhà máy Dương bước lên đòn ghe trở xuống ghe lấy tờ nhựt trình, đặng cho Cai Tuất coi cái tin ”Nam Kỳ thương cuộc” do ông Trần Văn Thạnh ở Chợ Gạo thành lập: ”…lập sở nhà máy xay lúa, lập hãng ăn lúa gạo ( để trực tiếp xuất khẩu) hoặc là lựa con dân đứa nào thông thái thì cho nó qua bên Tây học bác vật…”. (Lục tỉnh tân văn).

Mấy dòng ngắn ngủn của bản tin, đủ sức củng cố niềm tin xán lạn hàng hóa Việt; trong đó, có sản phẩm xà bông hiệu ”Con Vịt”.

Bóng chiều khuất tầm rặng mù u. Chủ nhà máy Dương kiếu từ Cai Tuất để kịp con nước sang thăm vợ đang ở chành thu mua dừa khô nơi bến Tắm Ngựa. Trước lúc xuống ghe, chủ nhà máy Dương kề tai Cai Tuất, nói nhỏ:

– Minh Tân hội vừa có thêm thành viên mới!

– Vậy là quá tốt! Thêm người thêm sức mạnh. Nhưng mà ai đó, chú em?

Cai Tuất sửng sốt gần như hốt hoảng khi nghe chủ nhà máy Dương trả lời.

– Chết! Chết! Sao lại là Trần Bá Thọ!? (11).

Gió sông Tiền hiu hiu ru chiều Mỹ Tho sụp mí tối!

*

Mẻ xà bông hiệu ”Con Vịt” đầu tiên ra lò. Cai Tuất và toàn bộ anh chị em công nhân mừng chảy nước mắt. Mùi xà bông thoang thoảng hương dầu dừa thơm tình quê. Trong tâm trí Cai Tuất, mường tượng đàn vịt đang chạy đồng rộng bao la trên vùng đất Nam Kỳ. Tự nhiên, Cai Tuất cười một mình như người nằm mơ vừa bắt được giấc mơ.

Hôm Hội nghị cổ đông, Tổng lý Trần Chánh Chiếu giới thiệu Cai Tuất với mọi người: ” Nguyễn Văn Tuất tự Cai Tuất, người bỏ cai rời tổng đi vào sản xuất ích nước lợi nhà, người buông nghề nuôi chó gả chó để nắm lấy kỹ thuật và làm ra xà bông cho người mình có cái mà xài, giảm bớt sự lệ thuộc sản phẩm ngoại lai”. Cai Tuất chẳng còn nhớ hôm đó ông nói cái gì, chỉ nhớ là ông có hứa: ”Cố gắng cùng anh chị em công nhân làm hết sức mình và sống chết bám hãng xà bông hiệu ‘Con Vịt’. Vì phát triển của Nam Kỳ, vì tồn vong của đất nước, ông nhứt định không để thua chó đối với chủ…”. Ông nhớ trước lúc hội nghị sắp bế mạc, Tổng lý sai ông đem xà bông hiệu ”Con Vịt” tặng mỗi đại biểu bốn cục xà bông về xài thử và có điều gì cần góp ý, nhắc nhở, thì trực tiếp với hãng.

Ai nấy cùng nghĩ: ”Vạn sự khởi đầu nan”, nhưng với lòng tự trọng, tính cần cù, sự chung tay…”Con Vịt” hình ảnh thân quen của quê nhà sẽ được người mình giang tay đón nhận, dù buổi đầu chất lượng có kém đôi chút so với người đi chăng nữa(12).

Giữa lúc mọi người đón tin vui: ”…Từ ngày có savon Minh Tân ló ra bán giá rẻ, thì savon của Khách (Hoa kiều) cũng hạ giá theo, nên nay công ty hạ giá bán cho các đại lý hơn, hoặc ai mua từ 100 kilos sắp lên cũng nhờ được” (13), thì điềm dữ bắt đầu manh nha bởi tên Trần Bá Thọ làm chỉ điểm cho thực dân Pháp. Rồi, chỉ ít lâu sau, tên Chủ tỉnh Mỹ Tho phát lịnh từ tòa Bố (14) đàn áp, bắt bớ và tịch thu các cơ sở của Minh Tân.

Tư.

Còn năm tiếng đồng hồ nữa là hết hạn giao hãng xưởng sản xuất xà bông hiệu ”Con Vịt” cho chánh quyền sở tại, theo ”tối hậu thư” của tên Chủ tỉnh Mỹ Tho. Cai Tuất điềm tĩnh, cho công nhân chất dầu xung quanh hãng như một chiến lũy và ra lịnh phá máy móc, hủy các lò; đồng thời, cho công nhân mang lấy tất cả thành phẩm xà bông, nhanh chưn rời khỏi nhà xưởng. Một số công nhân bịn rịn, tỏ ý muốn ở lại hãng cùng ông. Ông nghiêm cấm!

Mực không sủa, lặng lẽ chạy theo anh chị em công nhân ra tới tận cổng rào. Rồi, điềm nhiên quay vô nằm cạnh chưn của chủ. Cai Tuất cúi xuống, ôm nó vào lòng và thì thầm điều chi đó. Nó bật vùng dậy, bốn cẳng đứng thẳng thớm, ngửa mặt nhìn trời và nghếch cái mõm tru lên tiếng tru kéo dài nghe rờn rợn da mọc gai. Cai Tuất hiểu rằng, Mực từ chối xa ông.

Ngồi uống rượu một mình giữa không gian bình yên chờ đợi bão tố. Tấm phù điêu hình ”Con Vịt” treo trên tường, thỉnh thoảng chao động không biết vì gió hay vì chia sẻ sự kiện định ở lại của ông, của con Mực (!?). Tự nhiên, ông thèm nghe tiếng vịt gọi đàn, thèm nghe tiếng vịt kêu chiều nhớ nhà, nhớ chốn. Ông hiểu tấm lòng của bà đối với ông, ngày đó, bà chần chừ quyết định vô hội Minh Tân, vì bà sợ những năm tháng làm cai tổng và dù ông đã tự lột trả lại cái chức cai tổng cho Chủ quận Cai Lậy, nhưng có chắc gì tâm hồn ông còn được sáng trong! Giờ thì, ở một nơi ẩn náu nào đó, hẳn nhiên bà thấu hiểu bụng dạ của chồng: ”Nhứt định không để thua chó đối với chủ”. Và, trong cái thời gian đếm từng phút nầy, ông muốn nói với người vợ hiền: ”Tui thà làm con chó, dù phải chết cũng không làm con má. Bởi, con chó không ăn thịt đồng loại, còn con má thì ăn chẳng từ thứ nào! Hồi nẳm, thằng Chủ quận Cai Lậy chửi tui ‘Đồ chó má!’, cũng có nghĩa là tui chó, nó má”. Ông chợt phì cười do ý nghĩ vừa thoáng qua.

Chén rượu cuối cùng ông vừa uống cạn, chưa kịp quơ tay chùi mép thì ngoài cổng hãng lao xao tiếng chưn người.

– Cai Tuất! Nghe đây…

Chẳng chờ tiếng loa phát trọn lời, Cai Tuất thản nhiên bước ra mở cổng. Khi đoàn người lọt vô căn phòng treo phù điêu ”Con Vịt”, ông lạnh lùng châm lửa đốt những thùng dầu bao quanh thành chiến lũy! Rừng lửa trùm mất hút bọn thực dân Pháp và lũ tay sai. Tiếng la hét, kêu khóc động trời dậy đất! Và, người ta nghe rất rõ, con Mực tru tiếng tru vĩnh biệt ”Con Vịt” trong thời khắc sinh tử.

Từng làn khói trắng nương gió kết tụ thành mây, trôi lang thang trên nền trời xanh thẳm quê nhà!

(Trích tập truyện ngắn Khói un chiều, Nxb Đà Nẵng, 2017).

……………………………………………………………………

(*) Sử dụng tài liệu báo Lục tỉnh tân văn. (Báo Lục tỉnh tân văn do Trần Nhật Thăng, một trong những bút danh của ông Trần Chánh Chiếu và ông làm Chủ bút từ ngày 15.11.1907 tới ngày 29.10.1908 được 50 số, thì đình bản).

(1) Tháng 4 năm 1908.

(2) Nhân dân Công Lương đã bắt tri huyện nhốt vào cũi tre, áp giải đến dinh khâm sứ Leveque. Cuộc nổi dậy của nhân dân Thừa Thiên Huế đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ thành một đợt sóng mới của lòng yêu nước” (Theo tác giả H.V.T, nguồn Tạp chí Sông Hương, số 228, tháng 2. 2008).

(3) Trần Chánh Chiếu (1867-1919), sinh tại làng Vân Tập (Vĩnh Thanh Vân), tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang). Ông xuất thân đại điền chủ, quốc tịch Pháp, thường gọi Gilbert Chiếu hoặc Phủ Chiếu (hàm tri phủ). Ông là nhà trí thức yêu nước, nhà doanh nghiệp dân tộc, nhà văn, nhà báo, nhà cải cách; đồng thời, là Chủ soái phong trào Minh Tân (Minh đức Tân dân) ở Mỹ Tho. Ngày 29.10.1908, tại Sài Gòn, thực dân Pháp bắt Trần Chánh Chiếu cùng 91 người khác, rồi di lý tất cả về Mỹ Tho. Sau đó, tiến hành khám xét và tịch thu, đánh phá các cơ sở trực thuộc Nam Kỳ Minh Tân.

(4) Đồng bạc con cò (còn gọi điếu ngân), mặt trước có hình chim, mặt sau có hình chiếc nón tỏa hào quang,nhìn chẳng khác gì bông hoa đang xòe.

(5) Pháp lập quận Cai Lậy (1904) thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm có 6 tổng; trong đó, tổng Lợi Trường gồm 12 làng. Đứng đầu quận là Quận trưởng.

(6) Trần Chánh Chiếu thành lập Công ty Cổ phân ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” , trụ sở đặt tại Minh Tân khách sạn (Mỹ Tho).Có điều lệ, có vốn cố định 1.000 đồng Đông Dương (tương đương 25.000 frans, theo thời giá năm 1908).

(7) Trần Văn Bình, Lê Văn Cửu (Lương Hòa Lạc,Chợ Gạo), Trần Quan Xuân (Bình Cách, Chợ Gạo), Đinh Văn An (Bình Hài,Chợ Gạo), Nguyễn Tử Thức (Đồng Sơn, Gò Công), Lê Văn Chức (Bình Thạnh Đông, Gò Công), Lê Văn Thiền (Kim Sơn, Châu Thành), Huỳnh Đình Điển (Gò Công).

(😎 Khách sạn Nam Kỳ ( Minh Tân khách sạn) đối diện ga xe lửa và bến tàu lục tỉnh ( Vườn hoa Lạc Hồng, nay là công viên Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân).

(9) Sở đất nằm ngang rạp hát Tư Lài, gần cầu sắt Mỹ Tho. Nội dung Bố cáo di dời mồ mả được đăng tải trên báo Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 23.7.1908.

(10) Thương gia Hoa kiều (có lúc gọi là Thanh khách).

(11) Con của Trần Bá Lộc. Hai em của Trần Bá Thọ là Trần Bá Tường làm huyện ở Cai Lậy và Nicolas Trần Bá Hữu làm huyện ở Long Thành.

(12) Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 10.9.1908, đăng quảng cáo (trên hai trang khổ lớn) về xà bông hiệu “Con Vịt”.

(13) Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 22.10.1908.

(14) Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi chức Tham biện thành Chủ tỉnh (Chef de la province hay Chef – province), tòa Tham biện thành tòa Bố.

Có thể là hình ảnh về nước hoa và văn bản cho biết 'SECRET SECFEI COCO'

Tất cả cảm xúc:

Read Full Post »

Ngày cuối năm

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Hôm nay là ngày cuối cùng của năm 2025…

Mới đó mà gia đình tôi đã hiện diện trên vùng đất này ngòai ba mươi năm, Ba mươi năm quả không phải là quá dài với một đời người nhưng với thân phận của kẻ ly hương với biết bao khốn cực từ những ngày mới đến thật quả là không quá ngắn….

Những thước phim dài tiếp nối những khốn cực của một đời người , bẽ bàng và mỏi mệt qua từng chặng dài rối rắm, cho mãi đến bây giờ tôi mới được thở phào nhẹ nhỏm trút hết mọi sầu lo. quang gánh cuộc đời hầu như đã trang trải xong..

.Trước mặt, bây giờ là những tháng năm trống trãi và dư thừa thời gian mỗi ngày bên trong căn nhà mới dọn đến.

Ngày cuối của một năm…,nhìn lại bản thân mình, những được thua cũng đã rũ hết cùng cuộc đời và tha nhân.

Những biến cố xảy ra trong cuộc đời , nhiều khi người ta không còn muốn nhắc hay gợi nhớ trong những khỏanh khắc bình yên, nhưng trong những lúc trà dư tửu hậu hay một mình chơi vơi giữa không gian tĩnh lặng riêng mình ..

.Cảm xúc tự do tự tại và một khi nhận biết rằng phải quên đi những chuyện đau buồn là cố làm những việc khác để không còn nghĩ đến một chút buồn vu vơ , sợ hãi …Nhưng không hề hối tiếc những gì đã làm .

Những cảm giác sợ hãi , lo lắng, bất an, khủng khiếp luôn chập chờn trong từng giấc ngủ , hay những buổi sáng tinh khôi một mình bên tách cà phê nóng, lặng thầm trong chỗ ngồi cố hữu của mình…

Chỗ ngồi này, chiếc ly sành thân quen và những giọt đen sóng sánh, những giọt đắng thân quen đã làm nhân chứng cho những nỗi buồn cô đặc lại với những thân quen mỗi thời khắc đi qua, căn nhà tĩnh lặng và những đồ vật thân quen bất di bất dịch theo năm tháng.

Cuộc sống tôi đã được định vị theo đơn vị thời gian là những năm tháng của buỗi hòang hôn.

Những buổi sáng tỉnh thức, trễ tràng trong chăn ấm, thời gian này không còn lo toan, bộn bề cùng công việc..

Tôi cứ muốn nằm mãi trong cõi riêng của mình, “‘biết còn tỉnh thức tức là mình còn sống”, bước xuống giường bước ra ngòai cõi nhân gian…cõi người , ở đó còn có sự hiện hữu của mình ta

Chân bước về phía trước

Có sương sớm

Có ánh ban mai

Có nắng trưa cháy bỏng

Có nắng chiều vàng ươm

Có gió đêm …có cõi riêng

Có thân phận cuộc đời

Có sự hiện diện của mình trong cõi nhân gian

Những tháng năm qua… thời gian tưởng chùng như vô tận, sống trong nỗi cô đơn và công việc, tưởng như không thể nào thóat ra khỏi những dằn vặt, tự trách, ôm trọn những khắc khỏai rối rắm cho riêng mình,..

Cuộc thăng trầm của cuộc đời …đã khiến con người ta phải dùng lí trí để đối nhân xử thế…vượt qua những tình cảm mà “lí trí ” bảo cho rằng ‘không thể”

Thời gian cũng phôi pha, mọi rối rắm cũng được mở ra , thóat ra khỏi hiện tại và trở về với “cõi riêng ” của riêng mình, ở đó chỉ có riêng một mình và chỉ một mình tôi với không kẻ chờ người đợi, tâm trạng lửng lơ bơi giữa bể nước trong xanh, ngất ngưởng ngửa mặt nhìn mảng trời trong xanh êm dịu,

Mỗi buổi sáng trầm mình giữa hồ bơi với muôn lời huyên náo của tha nhân, ở đó không có sự hiện diện của niềm đau, niềm khắc khỏai, niềm vui và cuộc sống bình an trở về mảnh liệt và vô ưu…đó mới chính là cõi riêng .

Ở không gian mới …Những con phố, những con đường lạ lẫm chưa quen , nhưng bể nước trong xanh thì không còn lạ lẫm gì với tôi bây giờ

Đã từ rất lâu, không cần bờ vai nương tựa, không cần có bàn tay ai để nắm, không vội vội vàng vàng trở về nhà lo bữa ăn kẻo tối, không hề hãi sợ nỗi cô đơn, không hụt hẩng khi đêm về trở giấc. sự mạnh mẽ trở về cùng cuộc sống, bất cần đời và không hãi sợ vu vơ.

Cuộc sống này,,, ở một thời gian đã qua trong quá khứ tôi rất hãi sợ, nỗi cô đơn khi bóng đêm trở về …khi tường in vách một bóng đơn côi…thì nay chính là những phút “tĩnh lặng huyền bí ” của cuộc sống.

Vẳng bên tai tôi bài hát nào vang vọng…

Ngày mai rồi cũng già…

Không thể níu lại nữa

Ngày xưa như mới hôm qua

Một cánh hoa trong cơn phong ba

( Nhạc V. T. A)

Trong những tháng ngày lăn lộn cùng cơm áo gạo tiền, nỗi lo toan chỉ hướng về công việc và trách nhiệm, phải đem mọi tiện nghi vật chất cho bản thân và cho người thân yêu đang cần sự giúp đỡ, quên bản thân, quên niềm vui, quên hận tủi, quên thân phận …chỉ làm việc và hòan thành nhiệm vụ phải làm.

Đến thời điểm mọi trách nhiệm đã đủ đầy, một mình trong căn nhà hoang vắng, giật mình tỉnh thức …chợt rưng rưng nghe vang vọng tiếng còi tàu, nỗi cô đơn và nỗi buồn bùng cháy, trong bao nhiêu năm trường xa cách cõi người ta…lang thang trên thế giới ảo mông và không thực.

Mang niềm đau và nỗi cô đơn, qua từng đêm trường hụt hẩng, tôi không còn sự lựa chọn nào, trong cái thành phố nhỏ mà bấy lâu đã tách rời,

Đôi lần đến những nơi gặp gỡ bạn bè, đồng hương ngày xưa cũ…họ cũng giới thiệu cho nhau những người bạn khác phái…đồng cảnh ngộ…

Sau những lần chuyện trò qua điện thoại hay vài lần gặp gỡ…Chỉ còn lại là sự chán chường và bất lực vì sự vô cảm của tâm hồn…Trở về nhà trăn trở cùng gối chăn, hỏi lại lòng mình…Hỏi trời hỏi đất???

Hỏi đông…Chỉ có gió xao

Mang bao lá úa đã tan tác cành

Hỏi mưa…đời có tình không ???

Chỉ nghe tiếng sấm thinh không vọng về.

Chia xa… không lí do …Vì thực chất những người già khi tìm nhau luôn có những tính toán …Họ cũng chỉ muốn nương tựa nhau…đại khái là họ muốn tìm đến ” tá túc trong một nơi yên ổn”

Họ muốn ” có đôi có cặp” có người chăm chút từng bữa ăn, ra đường ngửa mặt nhìn đời rạng rỡ vì đã có nửa bên kia lành lặn và phủ phê cùng nhân thế

Lòng ai buồn hơn ai, khi quyết định không thể làm cây cao cho nhánh chùm gởi leo thân bám cành theo năm tháng.

, Cõi này chợt rộng thênh thang, chỗ ngồi còn đó, nơi này vẫn từng ngày bỏ trống

Vẫn từng ngày…buổi đi về chở nỗi sầu man mác…chuyện qua rồi sẽ cho là kỷ niệm, vui hay buồn cũng là chuyện hôm qua.

Thời gian trôi đi êm êm, những buổi chiều về một mình trời giăng mưa khắp lối, một mình lặng thầm trở về căn nhà thân thuộc.buồn , vui …chỉ còn lại chút bình an cho tâm hồn .

Ngày qua ngày những cánh bướm vàng gãy cánh, những bông hoa tàn rụng theo bóng trăng tà, vẩn vơ trôi như cuộc đời một chiếc thuyền nan trên dòng sông nhỏ.

Những chiều tà nhớ về chiếc thuyền năm nào nơi quê cũ, chiếc thuyền xưa trôi như mảnh trăng tà không còn bến đợi, không bến nhớ bến thương, bến mộng mị, bến cũ, bến nao…

.Con thuyền đã tiêu hao mục nát, úp trên bến sông xưa,

Chỉ hoang hóa vào buổi hòang hôn tĩnh lặng

Ngày mai…rồi mình cũng già

Thân thế này sẽ tàn úa

Được thua thì cũng thế thôi…( Nhạc V T A)

Sáng nay nghe lại bài hát này …lòng miên man muốn trao gởi lại lời cuối của một năm

Bây giờ mình đã già

Bình yên ở nơi đây…

Bao chặng dài gian khó

,

Hãy vô tình như gió.

Bao năm tháng lướt qua

Bao truông đời khổ nạn

Vượt qua…chắp cánh xa…

Bây giờ ta đã già

Nhớ chi chuyện ngày qua

Đùa vui bên sóng nước

Bàn phím chờ đợi ta…

Atlanta Ngày 31 Tháng 12 năm 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

.

i

Read Full Post »

Không biết!

Ngô Đình Hải

.

Mưa mấy bữa nay. Mưa từ sáng tới tối. Trời âm u miết. Mưa rừng dai dẳng. Mưa thúi trời thúi đất. Nước chui qua lớp lá rụng, qua đất, đất nhão nhoét. Nước từ chỗ cao dồn xuống thấp, làm thành vũng lớn, như cái bẩy. Kiểu này vô phương ló đầu ra ngoài. Mà ra thì đi đâu? Đạp chưn xuống, cái nào cái nấy lún tới mắt cá, giỡ khỏi lên, lấy gì đi. Kiến rừng bể tổ, gom thành từng giề trôi lều bều, thứ đó mà bám vô được bắp chuối, chun vô quần mà cắn là kêu trời không thấu! Rắn, rít ướt chèm nhẹp, leo lên cây nằm thở, thấy động đậy đớp sãng là chuyện thường! Khỏi đi là cái chắc…

Buổi chiều xuống lẹ, mới đó mà muốn tối. Tiếng mưa, tiếng côn trùng rĩ rã, tiếng cây lá rì rào, buồn muốn đứt ruột. Khác xa với thường ngày, tiếng máy cưa, tiếng turbo hú của mấy chiếc reo nhì kéo gỗ, tiếng gọi nhau dậy một góc rừng, giờ im re. Hắn đứng trong chòi, ngó ra bãi gỗ tròn đầy cứng, kéo dài mút mắt. Cây xếp lỗn nhỗn lên nhau, chẳng ra cái đám ôn gì. Xe lão Hoạch chứ không ai. Với hắn, lão Hoạch như một người anh, một người thầy. Lão Hoạch vui tánh, tốt bụng, nhưng ẩu cũng vô can. Chỗ nào ngon nhứt, tiện nhứt, là lão đổ cây xuống đó. Lúc trước còn Phương trâu đi lơ, nó chịu khó, cây xuống tới đất, còn ra vô cáp tới ngay tưng mới chịu thôi. Giờ thì lão bỏ mặc vậy đó! Anh em cằn nhằn thì lão tỉnh bơ:

– Xe tao…già rồi, theo tụi mày có mà đứt hơi, chừa cho tao một cửa sống với…

Rồi cũng thôi! Anh em mà! Xe nào mà chẳng tính chuyện ăn dầu. Ở rừng, cực như thú! Ngó qua ngó lại có chừng đó mặt, thương nhau không hết nói gì tới chuyện khác. Cái chòi của hắn là cái chợ, cái sòng bài, cái quán nhậu kiêm luôn cái nhà trọ! Tất cả đều miễn phí! Thậm chí đồ gì của hắn trong chòi cũng là của chùa, xài thoải mái!…

Đứng một chập thấy chán, hắn quay vô chòi đốt đèn, nhúm lửa bắc ấm nước trước. Có cái bếp dầu, nhưng hắn thích đốt củi. Củi rừng minh thiên, đốt chừng nào hết! Mùi củi cháy và tiếng nồ lẹt đẹt của cây, làm hắn thấy dễ chịu và bớt lạnh lẽo hơn.

Thiệt ra hồi đầu ở đây tới 3 đứa. Rồi một đứa chịu không nỗi cái không khí của rừng, tự động đua mất. Còn lại hắn với Thanh Phe! Thanh Phe hồi nhỏ ở nhà dòng, dân tu xuất, đờn ca hát xướng thứ gì cũng rành, mà uống rượu cũng thầy chạy! Tháng trước Thanh dính cái tai nạn lãng òm. Thợ cưa ngó ngọn cây, canh hướng gió, mở miệng cưa ngon lành, tới chừng cây ngã, tự nhiên gió đổi chiều, mà gió mạnh. Thanh Phe đứng tuốt luốt ở xa, không hiểu sao lại dính cái cành nhỏ xíu, chui cái rẹt qua đùi ngon ơ! Thanh la như bò rống! Mấy lúc có chuyện như vầy, mới thấy bản lĩnh của lão Hoạch. Lão cưa ngang nhánh cây, để nguyên cái cành ở trong đùi, xé áo băng lại. Nhờ chiếc lô-bồi tháo cái thớt, lấy mỗi đầu kéo, thay cho xe cứu thương, chở Thanh phe đi bịnh viện. Thấy anh em căng thẳng, Lão Hoạch cười:

– Vẫn còn hên, xỉa lên phía trên chút nữa, là nó hết lấy vợ!…

Thanh Phe đi rồi, chỉ còn mình hắn cu- ki trong cái chòi giữa rừng tới nay. Hắn đứng dậy, đi lấy chai rượu làm một ly cho ấm bụng. Gió từ ngoài cửa lùa vô, lưng hắn lạnh toát. Vừa kịp hắn quay lại thì gặp khách đứng lù lù ngay cửa. Một người đàn bà, hắn biết nhờ mái tóc dài loà xoà trước mặt. Trời này mà khách mặc chỉ mỗi cái áo thun xám và cái quần jean mới lạ. Cái áo thun, đúng rồi! Cái áo của hắn, cái áo dính nhựa thông làm thành từng đốm như vẽ bông trước ngực, lầm sao được! Cái áo hắn bỏ quên ngày rời bịnh viện. Giờ cái áo lại trùm lên một vóc dáng quen thuộc, đã ám ảnh hắn nhiều đêm. Hắn kêu lên thảng thốt:

– Chị…Chị…Hạnh!…

Không kịp suy nghĩ, hắn nhào ra cửa. Chị vẫn đứng yên đó, chờ đợi! Hắn chụp lấy tay. Bàn tay lạnh ngắt, chắc tại ở ngoài mưa lâu. Chị nghiêng đầu nhìn hắn và…cười. Nụ cười luôn làm hắn ngây ngất. Có quá nhiều cảm giác đan xen, không biết phải bắt đầu từ đâu. Hắn hỏi dồn, vừa hỏi vừa kéo:

– Sao…Sao chị vô đây được? Sao biết tui ở đây mà kiếm? Lão Hoạch nói hả? Vô nhà đi, vô…

Hắn lôi, chị ngoan ngoản đi theo, không nói tiếng nào. Hắn đưa chị tới ngồi trên khúc gỗ, bên cạnh bếp. Tới lúc này, hắn mới có dịp ngó chị rõ hơn. Mặt chị xanh mét. Cái áo thun ướt sũng, dính sát lên hai bầu vú lồ lộ, phập phồng. Bên ngoài trời đã tối. Từng cơn gió lùa vào mang theo những giọt nước mưa lất phất. Hắn lính quýnh. Chạy ra hạ cái phên che cửa trước. Chạy lại, ấm nước đang sôi. Hắn rót nước nóng ra cái chén, đặt trước mặt chị. Lật đật lục tung trong ba lô, lôi ra cái áo khoác màu đỏ, lấy thêm bộ đồ khô. Hắn đưa hết các thứ cho chị, nhắc:

– Uống nước nóng, thay đồ đi cho khỏi lạnh, nói chuyện sau…

Chị đưa tay đón, nhìn hắn rồi…cười. Nụ cười đã hai năm hắn chưa đước nhìn lại, vẫn không có gì thay đổi, vẫn ngọt ngào, vẫn quyến rũ như ngày nào. Hắn mê nụ cười đó quá! Hắn quay mặt đi để cho chị thay đồ. Hắn nhìn cái bóng chị chập chờn trên vách, lẩm bẩm:

– Hai năm…Hai năm rồi!…

Hơn hai năm trước, đói quá, hắn xin theo phụ lão Hoạch, vô rừng kiếm ít củi về bán. Xe đã có Phương Trâu đi lơ, lão Hoạch vẫn cưu mang thêm hắn. Tiền bán củi được đồng nào, lão cho hắn hết. Không tính toán, không so đo. Lão Hoạch dân xe, không vợ không con, sống qua hai chế độ, lại đi rừng lâu năm nên cứng nghề lắm. Lão chỉ dạy Phương Trâu với hắn rất tận tình. Thậm chí, ăn nhậu cở nào đi nữa, tháng tháng lão cũng bỏ ống chút đỉnh, chừng nào gom đủ tiền thì lo cho Phương Trâu vô trường lái, đặng có cái bằng mà lên tài với người ta, chứ đi lơ biết ngày nào khá. Lão cũng hứa, sau Phương là lo tới hắn. Nhưng chắc tại cái số hắn ăn mày, nên mới đi cây được mấy chục chuyến, tay kéo cáp chưa kịp chai, thì hắn dính sốt rét rừng. Dính nặng!

Nhờ lão Hoạch quen biết, xin xỏ, hắn được vô nằm bịnh viện Tỉnh, tiêu chuẩn công nhân viên. Phòng sốt rét nằm tuốt phía sau, gần dãy nhà xác, vắng hoe!

Sáng, được ăn tô cháo thịt, xong chờ y tá tới độp cho một mũi ký-ninh vô mông. Thứ này khó tan, rút cây kim ra là nổi cục u cứng ngắt, tê buốt nguyên một bên chưn, chiều đổi qua mông kia, độp tiếp mũi nữa, liên tiếp chừng một tuần là hai chưn hắn muốn xụi, đi hết nỗi, mà sốt vẫn hoàn sốt!

Phòng hắn nằm có 2 giường, giường bên kia có một tay người Thượng, vô sau hắn 3 ngày, trụ thêm được 3 ngày nữa, là đi thẳng ra ngõ sau luôn! Trước đây hắn nghe đồn, người Thượng biết nhiều thứ lá cây rừng, đem ngâm rượu uống, khỏi bị sốt rét! Giờ vô đây, hắn mới biết trật lất. Ở rừng mà không bị rét hiếm lắm, nhưng hên xui thôi! Dính rét ác tính như tay người Thượng là đi chắc, có mạnh như trâu, rét vật cũng chết. Còn dính rét như hắn, lai rai ngày có ngày nghỉ, cách ngày hắn lại làm một cử. Một, hai lần đầu chưa biết, tới lần thứ ba là hắn lo thủ trước. Chập tối, nghe ơn ớn lạnh, hắn gom hết mùng mền, trùm lên người, rồi ngồi chịu trận. Lạnh từ trong xương lạnh ra, lạnh tới hai hàm răng đánh bò cạp, người hắn run từng chập, lạnh run không kềm được. Tới chừng hết lạnh qua nóng, nóng dữ dội. Lột hết đồ ra vẫn nóng, mồ hôi mẹ, mồ hôi con tuôn dầm dề! Chịu xong một cử sốt rét, là hắn xuôi tay như thằng chết rồi, hết còn biết gì nữa, mặc kệ cha đời tới đâu thì tới!

Ở bịnh viện, hình như có tới hai y tá trực đêm. Một tay nam ghé qua rất sớm, chủ yếu là ngó coi hắn còn sống không, rồi biến mất. Người nữ y tá thì ghé trể hơn, có khi rất trể. Chị thường ở lại lâu hơn. Dọn giùm hắn cái cà-mên cơm ban chiều, kê lại cho hắn cái gối, kéo lại cho hắn cái áo, cái quần, tả tơi sau cơn rét. Gặp bữa hắn chưa ngủ, mở mắt ra thấy chị, chưa kịp mở miệng thì chị đã cười cười như cảm thông, rồi khoát tay đi mất!

Bữa tự nhiên hắn lên cơn rét trể. Tới tối mới nghe lạnh. Lạnh dã man, lạnh hết biết. Hắn cuộn tròn lại mà run. Lơ mơ thấy chị ngồi bên cạnh, ôm chặt lấy hắn như chuyền thêm hơi ấm! Người hắn run lên từng chập trong tay chị, đầu hắn gục vào trong ngực chị mà thở, cho tới hết cử rét. Hắn bắt đầu nóng hầm hập. Chị đở hắn nằm xuống, cởi bớt đồ, rồi nhẹ nhàng lau mồ hôi trên mặt, trên người hắn, như một người mẹ chăm sóc con đang bịnh. Lần này thì hắn không bỏ lỡ cơ hội, hắn thều thào:

– Cảm ơn chị. Chị trực đêm hả? Chị…

Chị chỉ tay lên ngực áo, có cái tên trên đó:

– Chị…Hạnh…Tui qua được rồi…Tui…

Chi đặt một ngón tay lên miệng hắn như không cho nói, rồi chị cười. Trời ơi! Khi chị cười, mắt, mũi cũng như cười theo. Nụ cười thánh thiện, bao dung và ấm áp biết chừng nào. Nụ cười đẹp nhứt trên đời!

Bất chợt chị cúi xuống, hôn lên khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi của hắn. Đầu óc choáng váng tay chân rã rời sau cơn sốt, hắn muốn nhấc tay lên ôm lấy chị mà không dám. Đành nằm yên đưa mắt nhìn chị đi khuất, rồi mang nụ cười của chị vào trong giấc ngủ…

Chiều hôm sau, lão Hoạch ghé, đem cho ổ bánh mì thịt, ly cà phê đá và gói thuốc Vàm cỏ. Ngồi coi hắn ăn, lão hỏi:

– Cắt sốt chưa?

Hắn vừa nhai vừa lắc đầu. Lão Hoạch nhìn quanh thấy không có ai, lôi trong túi áo ra gói giấy nhỏ đặt lên giường:

– Tao gửi về Sài Gòn, mua cho mày một liều Fansidar. Thứ này hồi trước lính Mỹ uống. Giờ hiếm lắm. Chơi luôn một lần ba viên là chắc ăn…

Lão ngắm nghía hắn một lát, tiếp:

– Coi bộ mày tệ quá! Kham nỗi không? Chứ Mỹ thằng nào cũng cả tạ, còn mày…

Hắn cầm gói thuốc, trút hết vô miệng, rót nước uống liền, rồi nằm vật xuống giường. Có gì đâu mà suy nghĩ, cửa nào cũng chết!

Một lát, ngực hắn nghẹn lại, người như hỗng khỏi giường. Hắn còn thấy lão Hoạch ngồi đó, nhìn hắn đăm đăm, và hắn lịm đi! Hắn lơ mơ bay bổng, qua con sông, qua cánh đồng, theo mấy con diều đi…đi…Rồi hắn thấy mình nhỏ lại…nhỏ lại…giữa những hàng cây. Toàn cây và cây. Cây mênh mông. Cây làm thành rừng, cây vây lấy hắn. Cây che chỡ, cây đe doạ…Cây ngã xuống ầm ầm. Người hắn như có ai níu lại, kéo xuống…

Hắn mở mắt. Cái hắn nhìn thấy trước tiên là…nụ cười! Chị Hạnh ngồi bên, hai tay chị giữ chặt lấy hắn mà lắc. Gặp nụ cười đó, hắn biết mình còn sống. Hắn cười lại với chị, rồi thiếp đi tiếp…

Hôm ra viện, lão Hoạch nói với hắn:

– Mày cần dưỡng sức. Quên xe cộ đi. Tao xin được cho mày về bãi gỗ tròn của Công ty rồi. Vô đó mà sống, mà làm quen với rừng. Rừng chịu nuôi mày đã. Khoẻ lại tính sau…

Thế là hắn về cái chòi này. Ở yên được mấy tháng. Gom được ít tiền làm củi. Hắn lên thị trấn, ghé chợ mua cái áo khoác màu đỏ làm quà, rồi chờ tới tối, vô bịnh viện thăm chị Hạnh. Tay bảo vệ già nghe hỏi, ngó hắn lom khom, lắc đầu quay đi. Hắn nằn nì:

– Chị Hạnh y tá, làm ca đêm ở Khoa lây!…

Thấy hắn khẩn khoản thiệt tình, tay bảo vệ thở dài:

– Ừ có, lâu rồi! Mà…mà… hết làm rồi!

– Tui mới nằm đây mấy tháng trước, còn gặp chỉ…

– Đã nói…hết rồi! Hết rồi!

– Biết chỉ ở đâu không?

– Sao tui biết! Trong đó không có ai! Không tin cứ vô coi!

Vô chứ! Vô gấp! Không có ai thiệt! Cả một dãy hành lang vắng lặng, căn phòng hắn nằm trống trơ… Hắn cầm cái áo khoác đỏ trong tay, đứng ngẩn ngơ cho tới khi sương đêm dầy đặc mới chịu về…

Hắn chịu đựng chuyện này đã hai năm. Hắn lên xuống cái bịnh viện nhiều lần và chỉ nhận được những cái lắc đầu! Hắn mang cái thắc mắc suốt hai năm dài và giờ chị lại ở đây, như một phép lạ! Hắn chết trân khi quay lại. Bộ đồ ướt đã trút bỏ xuống chân. Chị trần truồng, chỉ mỗi cái áo đỏ khoác hờ lên người. Chị nhìn hắn cười, nụ cười mời mọc. Ánh lửa đong đưa, ngực chị căng cứng trước mắt hắn thách thức! Hắn nuốt nước miếng, tim hắn đập mạnh. Quá sức chịu đựng của một thằng đàn ông. Hắn gần như bồng lấy chị quăng lên giường, hôn tới tấp lên nụ cười thần thánh trên mặt chị. Chị quấn chặt lấy hắn, thở dồn dập…Bên ngoài mưa vẫn rơi!

Nửa đêm hắn giật mình dậy, chị đang say ngủ. Hắn đốt điếu thuốc, bỏ thêm mấy cây củi vào đống lửa. Ánh sáng bừng lên. Hắn lượm bộ đồ của chị, tính hong cho khô. Cái quần jean ướt mèm, nhưng hai gấu quần không dính một miếng đất! Lạ thiệt chứ! Hắn ngồi lại xuống giường, biết bao nhiêu cái ấm ức, muốn hỏi, nhưng nhìn gương mặt mãn nguyện của chị trong giấc ngủ, hắn lại không đành đánh thức, thôi để sáng vậy…

Sáng nay hắn dậy trể, điều hoàn toàn trái ngược với thói hằng ngày của hắn. Quơ tay qua bên cạnh không thấy chị, cái áo khoác đỏ đưa cho chị, giờ đắp trên người hắn, mùi da thịt của chị còn phảng phất đâu đây! Hắn nhổm dậy hốt hoảng, nhìn quanh chòi cũng không có. Bộ quần áo phơi trên bếp còn nguyên. Hắn dựng tấm phên cửa lên. Mưa đã dứt, mặt trời lấp ló, nắng đã bắt đầu chui qua kẽ lá. Chung quanh hoàn toàn yên ắng. Chị đã đi mất. Đi không mang theo một thứ gì, ngoài con tim của hắn…

Lão Hoạch ực xong ly rượu, rồi nói:

– Vô lý! Tao có biết Hạnh nào đâu mà chỉ đường! Mưa cở đó, đường nào mà vô đây?

– Không biết!…

– Rồi tới hồi ra đi cách nào, đi đâu?

– Không biết!…

– Tao nghi không phải người…

Dám là…là…Mà sao lại là mày? Sao…

Hắn cầm ly rượu, nụ cười của chị hiện lên trong đó sóng sánh, cặp mông tròn và hai đùi kẹp chặt lấy hắn, người chị ưởn lên, co duỗi từng chập. Hắn rùng mình:

– Không biết!…

NĐH

Read Full Post »

Giọt mưa quen

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Tí tách…tí tách…tí …tách

Âm thanh đều đều …thánh thót nhẹ tâng như tiếng đập nhẹ của con tim, âm thanh ấy rơi vào tai tôi biết bao buổi sáng khi giật mình tỉnh giấc, thân quen rơi vào không gian tĩnh lặng như một điệp khúc du dương mờ nhạt .

Thời gian này tôi thật là rảnh rang trong ” Chỗ của tôi”…

Gần ba thập kỷ qua …miệt mài bên công việc, bương bả bên ” cơm áo gạo tiền”…mỗi buổi sáng tinh mơ được thảnh thơi cuộn mình trong chăn ấm, không lo toan sắp xếp biết bao công việc cho một ngày mới…Bây giờ tôi thực sự là ” Một tỉ phú của thời gian”…

Ngoài kia …Những giọt mưa đang thánh thót ngoài cánh cửa ngôi nhà mới dọn đến…

Những giọt mưa từ mái nhà chảy vào ống máng và thánh thót chảy xuôi vào cái thùng phuy lớn để giữ nước tưới vườn rau sau nhà, vườn rau đủ loại mà hàng ngày tôi chăm chút, di dời từ nơi này sang nơi khác, vun xới , tỉa tót từng cây non, lá úa ; và cũng chính là niềm vui duy nhất của tôi trong thời gian sắp tới

Ôi những lá rau lang non mướt, những lá húng thơm, lá rau chua mượt mà và những tía tô tím thẫm, rau răm, rau quế, ngò gai, hành hẹ, ớt xanh, ớt vàng, ớt tím…

Còn nhiều thứ khác mà bắt đầu từ cuối tháng ba …Sáng đầu tháng tư, khi từ Việt nam trở lại nhà.

Khi tiết trời bớt lạnh tôi , đeo bao tay, giang mình đào xới trên mảnh đất vẫn còn chút hơi lạnh của những ngày tháng đông giá chưa qua.

Vẳng bên tai tôi bây giờ… Không giống những giọt mưa ào ạt rơi , ồn ào trên mái tôn, lao xao chảy tứ tung vào những kẽ hở, những lỗ đinh hở hang của mái tôn xiêu trong những căn nhà mái tôn tạm bợ, bỡi chỉ là những vách mượn của nhà kế bên..

.Khi cơn mưa xuống , nước chảy vào nhà không mời gọi, sau một trận mưa cả nhà thu dọn tàn cuộc mất hết cả nửa ngày, những mái tôn ngày ấy đã từng che mưa nắng cho cuộc đời đã qua của mẹ con tôi trong những ngày xa xưa ấy…

Cũng là những giọt mưa …nhưng giọt mưa bây giờ làm mát mẻ những cây lá khu vườn nhà tôi bây giờ, giọt mưa rơi bây giờ chỉ làm cho người nghe cái cảm giác gợi nhớ, chỉ làm người nghe trở mình lười biếng muốn nằm thêm , không muốn di dời thân xác bên trong chiếc mền còn ấm hơi người qua một chặng dài được ấp ủ…

Lơ mơ nhìn lại quãng thời gian qua…rồi chợt buồn, chợt mãn nguyện hay chợt vui sao với chỗ của mình, tôi đã bằng lòng với chỗ của mình khi những giọt mưa bây giờ gợi nhớ chuyện năm xưa.

Cũng chỉ là những giọt mưa …những giọt nước từ trên trời đổ xuống nhưng những âm hưởng và lợi ích khác nhau qua bao nhiêu chặng đường dài của một kiếp làm người, những mơ ước không thành, những mơ ước lãng quên…

Những kiếp đời khổ ải cũng chỉ vì những cơn mưa .

Sự trông đợi, sự cam chịu hay sự hờ hững không mong đợi ngóng chờ cũng chỉ là do tâm trạng và cuộc đời của mỗi con người cảm nhận và qua bao chặng thời gian và không gian trong cuộc đời mà ta không nhìn thấy .

Mưa luôn đi với nỗi buồn…

Mưa đến rồi đi, rơi rơi rồi tạnh..

Còn nỗi buồn thì luôn quắt quay ở lại bên mình,

gậm nhấm nỗi riêng tư, tái tê, ủ ê và phiền não.

Nỗi buồn luôn dấy lên trong những lúc một mình nghe mưa rơi tí tách, đó là tâm trạng của rất nhiều người, nhất là với những người già sống đơn độc như tôi.

Mưa còn làm muôn sinh vật trở mình xanh tốt, đem lại cho khung cảnh quanh ta một màu xanh tươi sáng lạn…nhưng đôi lúc cũng làm ngập úng mọi nơi đem nước tràn bờ và nỗi đau mất mác, Những trận mưa dai dẳng từ ngày này sang ngày khác mang bao khổ lụy cho những người dân nghèo không chỗ nương thân, những mái nhà xiêu đổ và những tàn phá vì mưa rủ theo bão táp phong ba

.Ôi những trận mưa dai dẳng nơi mảnh đất miền Trung khốn cực nơi chốn sinh ra tôi.

Ngày còn ở quê nhà mỗi lần nhìn mưa rơi nặng hạt trên mái tôn xiêu, hay những lần chạy mưa thôi làm ướt chiếu giường trong căn nhà ẩm thấp, dùng chậu thau hứng những giọt nước vô tình chảy xuống căn phòng, lúc ấy những giọt mưa không mời gọi đã làm khổ một quãng đời tôi.

Hay những lần đợi mưa trở lại để chực chờ hứng lấy những giọt nước trời ban , đủ dùng cho mọi sinh hoạt trong gia đình thay cho những thùng nước cáu bẩn múc từ mé sông tạp nhạp những vật thãi bẩn thỉu …

Thời gian gia đình tôi còn sinh sống tại miền Tây thuộc tỉnh Hậu Giang vào thập niên tám mươi.

Mưa đem lại hy vọng và sức mạnh cho mẹ con tôi ngày ấy

Thời gian này mỗi lần nằm nghe cơn mưa đổ …lòng eo sèo “mơ ước chuyện tương lai”…

Mơ sao có được căn nhà đúc hai ba mê, khi cơn mưa đến không thon thót lo ướt giường thấm chiếu…

Mơ nhà mình có nước máy chảy phủ phê, chỉ cần đưa tay vặn là ngập tràn nước mát, không dùng thau , chum, can ,cóng

Chực chờ hứng giọt nước trời ban…

Mơ sao những đứa con tôi không “bụng ỏng đít beo” vì uống vào cơ thể những bợn nhơ bẩn thỉu..

.Chỉ giọt nước của trời mới tinh khiết cho muôn người, cho đám con tôi được sởn sơ như cây xanh chóng lớn.

Và còn biết bao điều mơ ước khi con người ta gặp cảnh khốn cùng chỉ biết than thở cùng trời cao, tỉ tê cùng mưa bão.

Đôi lúc hận mình, hận nỗi gian truân, giọt nước mắt hòa vào giọt nước mưa rơi xuống, tinh khiết và chen phần não nuột, những giọt nước mắt buồn thương cho thân phận cũng đã bao lần hòa chung giọt mưa bao bận, mà mưa vẫn là nhân chứng cho tiếng nói tận con tim.

Bây giờ mỗi sáng giật mình tỉnh thức nghe giọt mưa tí tách bên tai mà không sợ ướt chỗ nằm, không sợ thiếu nước dùng khi thức dậy, bây giờ những ước mơ đã thành tựu, giọt nước mưa đã làm chứng nhân bầu bạn, chính những giọt mưa cho tôi nhận biết sự bằng lòng với những gì mình có được…( bỡi lòng tham của con người là vô hạn, được mấy người nhận biết mình đã hoàn thành những ước mơ…)

Uớc mơ bé nhỏ của những ngày mới lớn với ông xanh: Tôi chỉ cầu xin trời thôi mưa… chóng nắng cho mẹ tôi được buôn may bán đắt sau buổi chợ về không bị ướt cơn mưa…

Ước mơ sao cho chỗ nằm của mấy mẹ con tôi không bị sũng nước vì những lỗ đinh trên mái tôn tuôn đổ lấm ướt cả chiếu giường cho giấc ngủ được bình yên…

Ngày hôm sau tôi khỏi phải thu dọn tàn cuộc bỡi cơn mưa trong nỗi buồn lấm ướt…

Ước mơ cơn mưa xuống giữa ban ngày cho mẹ con tôi hứng được nhiều nước mưa đủ dùng cho những ngày kế tiếp, cho nguồn nước tinh khiết không đem bệnh tật đến cho đám con thơ.

Những ước mơ bé mọn theo tháng năm lớn dần theo bánh xe quay đều nhịp, tôi lăn xả vào cõi người với muôn vạn đắng cay khổ ải, quên mất những ước mơ bé mọn ngày nào, quên đi bao nỗi lo toan và những điều hằng mơ ước.

Những ước mơ lớn dần và trở thành vô tận, những tham vọng trở mình,..nếu không nhờ những giọt mưa thánh thót rơi tí tách bên tai khi giật mình trở giấc vào chặng đời của tuổi ngoài thất thập,, gợi nhớ trong tôi những mơ ước đã thành hình, khi tóc xanh đã đổi màu thì mới chập choạng nhận ra.

Bây giờ dẫu cơn mưa kéo dài bất tận, rả rích từ ngày này sang đêm nọ…tôi cũng chỉ đứng sau rèm nhìn ngắm giọt mưa rơi…mỉm cười không chút buồn lo.

_ Hôm nay tôi dậy sớm ngồi viết chuyện năm xưa..

_ Hôm nay mình sẽ gọi các con về ăn món bánh xèo chiên…vì là ngày mưa …phải vậy.

_ Hôm nay mình sẽ cám ơn những giọt mưa đã làm chứng nhân cho những mơ ước mình đã vuông tròn.

_ Cám ơn những giọt mưa bây giờ trút xuống làm tươi rói những cánh hồng mới nhú trong vườn nhà tôi bên kia khung cửa kính, làm đẹp căn nhà tôi và tươi tắn nụ cười tôi.

_ Cám ơn những giọt mưa ngày mai sẽ trút xuống làm tươi rói những bông hoa trên mộ chí mà người thân và bạn bè trao tặng tôi buổi giã từ.

_ Cám ơn những giọt mưa tắm mát tuổi thơ tôi

Làm chứng nhân cuộc đời tôi

Ngày mai tắm mát xác thân tôi

khi tôi giã từ mưa nằm xuống …

Vẳng bên tai …tiếng mưa rơi tí tách

Ước mơ thành và hiện tại bình an.

Cám ơn giọt mưa đã theo tôi

Tí tách, tí tách…hay tràn sân mưa đổ

Vẫn bình yên …gọi thầm giọt mưa đêm

Mưa tí tách…

những đêm đông lạnh giá

Thấy bình yên

trong chỗ chỉ mình ta

Ta quay về

những ước mơ ngày cũ

Lòng ngậm ngùi

ngóng đợi giọt mưa quen.

Sáng hôm nay…sau trận mưa quen…tôi sẽ cùng người bạn già chung xóm đến một hội trường của ” Hội cao niên” thuộc thành phố nơi tôi ở, tai nghe các cụ già ca hát những khúc nhạc ngày xưa, nhìn những bước chân xiêu vẹo của những bạn già cùng thời tôi…họ vui chơi, ca hát , dìu nhau bằng những bước chân xiêu…

Ở đó…tôi gặp lại một số bạn cũ…là những phụ huynh học sinh của tôi ngày xưa…cách đây gần 4 thập kỷ…bây giờ gặp lại…Một số chị đã không còn nguyên vẹn thân xác cũ.

Thời gian và tuổi tác đã tìm tới với họ…Họ không nhận ra tôi…nhưng chính tôi …một nhân chứng của thời gian…Tôi nhận ra họ là những người bạn thân quen ngày cũ…

Đêm về…nghe thầm thì bên tai ”’Những giọt mưa quen”…

Những giọt mưa quen…hay giọt nước mắt của một người già đơn độc là tôi…đang rớt xuống khi nhìn lại những bạn bè tôi bây giờ…

Những giọt mưa quen hòa chung nỗi nhớ trong tôi…Bây giờ gặp lại.

Tháng mười hai …giọt mưa quen rơi vãi

Tí tách ngoài song, lạnh giá nỗi niềm

Thạch sùng râm ran, dõi mắt kiếm tìm

Đêm cô tịch, gió lùa ngoài cánh cửa

Lòng thổn thức…như lần đầu lỗi hẹn

Chiếc lá rơi…hoang hóa nỗi buồn căm

Hỏi mưa. quen…bao lần ta được mất ??/

Suốt chặng đời…Luôn lỡ chuyến đò qua…

Atlanta Những ngày cuối năm 2025

Nguyên Hạ_ lê Nguyễn

Read Full Post »

Một ngọn núi đi lạc

Truyện ngắn của Ái Duy

.

 Ông hỏi gì ạ? – Ngọn núi, tôi tìm một ngọn núi…

– Đây làm gì có núi nào? Giữa phố xá mà? Toàn là hàng quán xe với người, không có chỗ chen nữa thì núi đâu ra.

Một ngọn núi đi lạc - Truyện ngắn của Ái Duy- Ảnh 1.

– Có, có một ngọn núi chỗ này, từ hướng nhà thờ Núi ngó tới đó. Hồi đó kêu là núi Côi có hình giống như con rùa vậy nè. Đâu mất rồi?

– Ạ… hay ông hỏi núi có nhà thờ? Thì đó, đi ngược lại thôi, nhà thờ nằm trên núi đó.

– Không phải đâu… nhà thờ chỉ nằm ở cái phần đầu rùa, cổ rùa bị chặt ngang để mở đường nè, hòn núi Côi là mai rùa, nó phải ở chỗ này. Còn cái hồ nước ở dưới nữa, là cái hồ đá… đâu rồi cà.

– Nhớ lộn rồi ông ơi.

Người bị hỏi lắc đầu khoát tay, vẻ thương hại rồi bỏ đi nhanh. Người đi ngang hóng chuyện cũng chép miệng, mình ở đây bốn mươi năm rồi núi đâu mà núi, cái bóng còn không thấy. Người thờ ơ nghe không hết câu cũng quay lưng đi nhanh như sợ liên lụy. Ông già 80 tuổi quắc thước ăn mặc bảnh bao lững thững chống gậy đi tìm ngọn núi thở dài, tôi mới rời xa nơi này có 60 năm chớ bao nhiêu đâu sao mà quên được. Hai bên là nhà cao tầng ngước nhìn muốn trật ót, đường phố bốn làn thẳng tắp tấp nập người xe lao vun vút chỉ chực va vào nhau, ông đứng khựng lại bên lề. Cứ như là ở một vũ trụ khác. Một cậu trai trẻ hớt hải chạy tới vồ lấy ông, “Ông ngoại, ông ngoại đây rồi, sao ông bỏ đi một mình không kêu con?”. “Kêu làm gì, ông tự đi được có sao đâu. Mà sao con biết ông ở đây?”. “Thì đó, may là con nhớ ông có nói tới nhà thờ Núi nên mới nghĩ là chỉ ở quanh đây. Má con dặn không được rời ông một bước, có hai ông cháu ở đây à, lỡ lạc thì sao”. “Làm gì dữ vậy, sao mà lạc được chớ, ông đã nói ông sẽ tìm về núi Côi mà, ông là dân núi Côi đó con, 60 năm chớ 100 năm ông cũng tìm ra”. “Vậy giờ núi Côi đâu mà ông đứng đây?”. Cậu trai mở smartphone định vị, ngơ ngác chỉ vào bản đồ, “Khu vực này toàn nhà là nhà ông ạ, chẳng có rẻo núi nào hết. Thôi về lại hotel nghỉ đi để con dò hỏi cho may ra, à mà núi đâu ở đây chớ vô lý”.

Trời, bây giờ núi Côi đâu? Ông già thầm nghĩ tuyệt vọng nhìn quanh, xóm cũ biến mất theo thời cuộc đã đành, người cũng rời bỏ tan tác, nhưng núi nào lại có chân đi?

***

60 năm trước ông già chỉ mới 20 là lúc rời đi từ đây, còn thực ra ông đã được sinh ra và lớn lên ngay ở mảnh đất này. Khi đó chỉ là một xóm nhà lá không tên chừng hơn mươi căn quây quần bên động cát thông thống nhìn ra biển, núi Côi đã sừng sững ở đó tự đời nào rồi. Biển trước mặt chạy ù một hơi là tới còn núi thì ở ngay bên cạnh xanh rì rậm rạp bí ẩn. Ai cũng gọi là núi Côi vì nó chỉ có một ngọn chơ vơ tròn trịa như một con rùa nằm úp mai nhô cao, có thêm cái cổ rùa thấp và vươn về phía Tây nơi có rừng dương ken dày. Ông cũng đã chứng kiến cảnh nổ mìn phá đá cái cổ rùa này để có một con đường mới, còn phía đầu rùa thì được san ra để xây nhà thờ bên trên. Ngày ấy dưới bụng con rùa đá khổng lồ này là một hồ đá nhỏ chứa đầy nước trong vắt mát lạnh từ các mạch trên núi ngày đêm rỉ rả xuống. Trên đỉnh lại có một ngôi tháp cổ bỏ hoang trống trơ lạnh lẽo. Dù với lắm lời đồn đại hoang đường rằng có một đôi mãng xà khổng lồ canh giữ hồ nước, có chúa sơn lâm thỉnh thoảng gầm lên thị uy, có cả ba họ nhà khỉ tinh ranh như ma chiếm lĩnh cả ngọn núi, có tiếng hú nơi ngọn tháp cổ giữa đêm trăng… thì bọn trẻ xóm nhà lá vẫn coi núi Côi là vương quốc của chúng. Ông già từ bé đã theo người lớn lên đây mót củi, hái lá thuốc vặt trái rừng, săn bắt thú. Lớn thêm một chút thì cùng với chúng bạn lên núi bày đủ trò vui tự do như chim trời cá nước chẳng sợ ai la rầy. Lúc này xóm nhà lá đã mở mang ra tận chân núi, thú rừng bị đuổi riết nên di cư lần hồi, rừng cũng thôi rậm, núi chỉ còn lại đá và những bụi cây khô.

Rồi ông già cũng có người yêu, nàng trong đám trẻ cùng chơi, cùng phá, cùng đói khát và lớn lên với ông từ xóm nhà lá bên chân ngọn núi Côi này. Mối tình đầu, mối tình suốt đời không quên.

***

Có lần đứa con gái hỏi ông, câu hỏi mà hầu như đứa trẻ nào cũng từng thắc mắc, “Vì sao ba ưng mẹ con vậy?”. “Con nghĩ sao?”. Con bé hỏi câu này từ năm lên 10, khi mẹ nó bỏ gia đình đi theo duyên mới. “Mẹ không thương con”. “Mẹ vẫn liên lạc và thăm con mà, chỉ là không ở chung nhà thôi”. “Mẹ xấu, con ghét mẹ”. “Khi nào lớn con hết giận mẹ sẽ không thấy mẹ xấu đâu, thực ra mẹ muốn mang con theo nhưng sao con không chịu?”. “Vì con thích ở với ba, ba tốt hơn mẹ”. Ông mà là người cha tốt sao, hay là con bé đọc được tâm tư thầm kín của ba mình, biết rằng ông không thể nối duyên với ai được nữa nên cần người thân kề cận.

Mấy chục năm sau con gái mới hỏi lại câu đó khi ông quyết định quay về quê cũ, có điều dài dòng và trực diện hơn, “Vì sao hồi đó ba ưng mẹ con vậy, hai người chẳng có điểm gì hợp nhau cả. Chẳng lẽ chỉ vì nơi đất khách quê người không còn lựa chọn khác?”. Ông già 80 chẳng còn gì để tránh né, “Đúng rồi con”. “Ba cũng chẳng có vẻ gì thất vọng hay đau khổ khi không còn mẹ bên cạnh nữa, con giới thiệu cho ba bao cô mà cũng chẳng xong”. “Thì ba vẫn thấy ổn mà, đâu cần”. “Ba biết xóm nhà lá quê cũ nay không còn dấu tích gì nữa cũng chẳng còn người thân thích, 60 năm rồi đó ba, mà ba vẫn muốn về ư?”. “Ừ, ba muốn quay về, 60 năm chỉ như một cái chớp mắt”.

***

Đứa cháu ngoại chạy về khách sạn tìm ông vẻ mừng rỡ, “Ông ngoại ơi có núi Côi rồi, đúng là núi Côi thiệt rồi…”. “Đâu đâu, núi Côi đâu, thấy chưa con, nó phải ở đây chứ làm sao lạc đi đâu được?”. “Đúng rồi, ông ngoại nhớ đúng rồi, từ nhà thờ Núi đi thẳng tới về hướng đông, chính là núi Côi đó, chỗ ông ngoại đứng hồi sáng nay đó”. “Nhưng… có ngọn núi nào ở đó đâu, hỏi bao người qua lại sao không ai biết gì hết”. “Vậy mới ly kỳ chớ, con đã đi vô từng nhà từng nhà một để hỏi, cuối cùng, thật tuyệt vời không thể nói hết được”. “Đi liền, mình đi gặp núi bây giờ luôn đi”.

***

Hai ông cháu đứng trước một cửa tiệm bán đồ thời trang cao cấp đối diện nhà thờ Núi, cửa gương sáng loáng hết cả mặt tiền. Có vẻ chỉ mới về mấy ngày mà cậu cháu ngoại của ông già đã kịp trở thành khách VIP ở đây, căn cứ vào thái độ vồn vã của cô chủ tiệm.

“Cháu chào ông, nghe cậu đây nói ông đang đi tìm núi Côi ạ?”.

“Phải, cô là người ở đây sao, cô biết núi Côi thật à, phải vậy chớ”.

“Không ạ, cháu chỉ thuê mặt bằng nơi này mở tiệm thôi. Người chủ căn nhà này có lần giải thích về kết cấu của nó và cháu loáng thoáng nghe nhắc tới núi Côi”.

“Ôi trời. Vậy người chủ nhà hiện nay ở đâu cho tôi gặp đi”.

“Dạ họ ở nước ngoài rồi, nửa năm mới về nhà một lần”.

“Chị ơi, thôi chị cứ chỉ núi Côi cho ông ngoại em đi rồi nói chuyện sau”.

“À phải, xin lỗi ông. Mời ông và em theo cháu”.

Ông già ngơ ngẩn chưa kịp hiểu ra chuyện gì khi cô gái chủ tiệm ra dấu ngoắc ông đi theo vào trong, may có cậu cháu đi cùng.

Phía trong là căn phòng ngủ hẹp, tối, và khá bề bộn, hóa ra mặt tiền phía trước ngó rộng rãi làm nơi trưng bày kinh doanh chứ cả căn nhà lại rất nông, sâu chưa đầy sáu mét.

“Núi Côi, núi Côi đâu…?”.

Cô gái đẩy cánh cửa sắt kéo ở bức vách trong cùng, và kéo cái rèm qua một bên. Vẫn rất tối không nhìn thấy gì, không hề có tia sáng nào xuyên vào mà chỉ có một luồng hơi mát lạnh len lỏi phả tới. Cô gái bật công tắc, ánh sáng đèn LED chói lòa.

“Đó, đó ông ngoại”.

“Núi Côi của tôi…”.

Ông già lập cập đi tới, chầm chậm đưa tay ra ngoài khung cửa. Bàn tay run run chạm lấy vách đá xám gồ ghề ươn ướt, không có một kẽ hở nào, không một âm thanh hồi đáp trừ tiếng giọt nước thánh thót rơi đâu đó vọng lại.

“Nghe bác chủ nhà nói là từ những năm 1960 sau khi mở đường người ta đã tràn tới đây cất nhà, ban đầu cất dưới chân núi, sau dần dần thì kín luôn ở phía trên. Mạnh ai nấy san ủi phá đá lấy mặt bằng. Ngay chủ căn nhà này cũng phải tốn rất nhiều công của để lấn thêm vô vách núi đó ông”.

“Tất cả căn nhà chung quanh đều như vậy sao?”.

“Dạ, họ ồ ạt làm lúc đó, chỉ vài năm là bạt hết ngọn núi, giờ thì nhà cửa kín hết cả rồi, toàn nhà lầu kiên cố. Chủ nhà nào cũng qua mấy đời nên chẳng ai còn nhớ, may bác chủ cũ ở đây có lần kể nên khi cậu em hỏi núi Côi là cháu nhớ ngay”.

“Vậy là hết”. Tim ông già như bị khoét mất một lỗ.

“Nghe nói vẫn còn đường lên đỉnh núi đó ông, đâu như ở phía sau dãy phố này mà phải đi vòng lại hơi xa”.

“Cái gì?”, ông già bất thần hồi tỉnh.

“Dạ nghe đâu còn có nhà nào trên đó á, mà cháu cũng không biết sao họ ở được nữa hay ghê. Đường lên thì bị bít, điện nước gì cũng không tới”.

***

Cậu cháu ngoại rền rĩ khi thấy ông già chống gậy lần từng bước khó khăn lên con dốc đá vốn là khe núi ngoằn ngoèo trơn trượt, nhiều chỗ tối và hẹp phải hạ thấp người băng qua. “Đã nói để con đi trước coi sao rồi về dẫn đi mà không chịu”. “Làm sao ông đợi nổi, tới ngay đây rồi chẳng lẽ bó chân chờ”. “Hay thiệt, ai mà dè vẫn còn đường đi lên núi hả ông, mình mà không hỏi thăm từ dưới lên là bỏ qua cái ngách đầu tiên rồi, cứ tưởng lối đi riêng nhà họ. Chắc chỉ còn mấy cái nền nhà chớ người nào sống ở đó”. “Có người ở trên đó con à”. “Sao ông biết?”. “Mấy cái bậc đá này là làm lại cho dễ đi nè, chân người qua lại bắt mòn luôn con không thấy sao”. “Ồ chắc đúng rồi, có lối rẽ nè ông, lên đây thoáng quá”. Ông già thở hổn hển, “Núi Côi xưa không cao lắm, chừng non 100 m, có khi mình sắp lên tới đỉnh núi rồi”.

Quả là như vậy, qua hết cái ngách ngắn cuối cùng này là một thế giới mới mở òa ra trước mắt, nắng chói chang, bầu trời trong xanh kia, vầng mây trắng đang sà xuống thấp kia, tiếng gió vi vu, tiếng ve ca chim hót rộn ràng. Mình đang ở đâu đây? Cảnh vật trước mắt ông già bỗng dưng nhòa đi, ông tháo kính ra lau. “Ông khóc à?”. “Ông hoa mắt thôi, cứ như là đang nhìn thấy một bầy con nít đang chơi đùa lăn lóc ở đây vậy”. “Ồ, đúng là có nhà nè ông, cửa nẻo đàng hoàng ghê”.

Một căn nhà nhỏ bằng gỗ bất chợt hiện ra, đơn sơ và khép kín nhưng lại đầy mời gọi. Thấp thoáng bóng người qua khung cửa sổ đang mở có tấm rèm màu tím nhạt đang tung bay lất phất. Trước nhà có một khoảnh đất nhỏ được rào cẩn thận như bảo vệ cái gì.

Cậu trai trẻ hớn hở gọi người bên trong để hỏi thăm còn ông già thì lê từng bước lại gần và chết sững khi nhìn thấy báu vật được bảo vệ trong khoảnh đất ấy. Trong đầu ông bây giờ là những thước phim tua ngược lại về vùng ký ức của hơn 60 năm về trước với tốc độ ánh sáng. “Mình chưa quên gì cả, ơn trời”.

“Ông ngoại ơi, con vừa nói chuyện với bà cụ chủ nhà đây, hóa ra bà là một cư sĩ tu tại gia nên mới chọn chỗ thanh tịnh này. Thưa bà, đây là ông ngoại con, ông con từ xa về chỉ với một nguyện vọng là tìm lại núi Côi thôi bà ạ, thật là may mắn quá”.

Bà cụ chắc cũng ngang lứa tuổi của ông già, tóc bạc trắng lún phún sát da đầu, bộ đồ lam sạch sẽ thẳng thớm, nhẹ nhàng tiến lại. Dường như có mùi hoa ngọc lan quen thuộc thoang thoảng đâu đây cùng với tiếng chuông ngân nga xa xăm.

Ông già bối rối hướng mắt về báu vật, đó là một khối kiến trúc bằng gạch nung cổ đã bị sứt mẻ khá nhiều được xây theo dạng bảo tháp rỗng nhiều tầng hình tròn, cao hơn hai mét với đường kính khoảng một mét đặt trên một khối đá vuông vức bằng phẳng. Dưới chân tháp là hương án, dấu nhang đèn còn mới. “Tôi không tin vào mắt mình nữa, chẳng lẽ đây là ngọn tháp cổ ngày xưa trên đỉnh núi Côi, ngay chỗ này…”.

Bà già mỉm cười, “Tháp cổ vẫn vững chãi ở đó từ xưa giờ mà. Ông đúng là dân núi Côi rồi. Ông là ai vậy?”.

“Tôi là… tôi là tôi cứ tưởng núi Côi đã bị san bằng, thật xúc động. Không ngờ vẫn giữ được cổ tháp thiêng liêng này”.

“Ai dám động vào cổ tháp?”, bà già dịu dàng.

“Thì ra vậy”, cậu cháu trai gật gù, “cũng còn may khi người ta vẫn tin vào chuyện tâm linh. Bà ở lại đây để bảo vệ đúng không?”.

“Phần nào thôi, cũng còn nhiều người nhớ tới và lên thăm viếng như ông đây. Không có tôi thì sẽ có người khác nhang khói. Tôi sống ở đây cũng gần hết đời rồi”.

Ông già dường như vẫn chưa qua cơn xúc động, “Không giấu gì bà, tôi ở đây từ bé, ngay xóm nhà lá dưới chân núi, năm hai mươi tuổi mới rời đi”.

“Rồi ông đi luôn một hơi?”, bà già ngó ông chăm chú.

“Dạ đúng đó bà, nên khi quay lại không thấy núi Côi đâu, ông ngoại con cứ tưởng là lạc mất rồi”.

“Núi nào mà đi lạc, kể cả khi tan hoang. Chỉ có ông thôi, sao bây giờ ông mới về?”.

“Bà biết tôi sao?”.

“Ông là một ông già đi lạc, quá lâu rồi”, bà già nói trong nước mắt.

Chàng trai sửng sốt hết nhìn bà già rồi chuyển qua ông già. Họ không để ý tới chuyện gì nữa, họ đang mải nhìn nhau.

….

thanhnien.vn


Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

                                                ( Nguyên tác : l’ultimo calore )

   Bản dịch của Trương Văn Dân

.

            May quá, tôi đã chạy thoát …

Đã từ lâu tôi đã nghĩ đến chuyện trốn chạy vì không thể trải qua một mùa Giáng Sinh nữa trong hoàn cảnh này. Ngay từ lúc đặt chân đến bệnh viện hoành tráng ấy, ý tưởng duy nhất  trong đầu tôi là bỏ trốn. Chạy, thật xa nơi chốn ấy..

Đi chân trần để khỏi gây tiếng  động, một tay tôi cầm đôi giày còn tay kia cầm chiếc gậy và một túi ny-lon, tôi mệt nhọc dò dẫm trong bóng tối của màn đêm.. Chẳng có ai nhìn thấy…. Mấy cô y tá đang bận xem TV hay ăn uống, còn các chú bảo vệ thì đang dúi đầu vào màn hình điện thoại để vi vu trên Facebook… Họ chỉ có thể phát hiện vào sáng mai, khi cô y tá bước vào phòng để đánh thức tôi và khám phá ra là dưới chiếc mền trùm kín, chỉ có hai chiếc gối nằm dưới tấm drap, xếp đặt như một người đang nằm ngủ.


            Bây giờ thì tôi có thể mang đôi giày vào chân và từng bước, từng bước rời xa cái nơi chốn khốn nạn này. Tôi muốn chạy đến khu rừng thông mà hằng ngày thường nhìn thấy qua khung cửa sổ. Chắc chẳng xa gì lắm.

Thời còn trẻ tôi đi khá nhanh, cứ tưởng mình có thể nắm bắt thế giới này trong bàn tay…nhưng giờ đây tôi chỉ là một ông lão già nua. Bệnh tật và cô độc.

Tôi phải làm bất cứ điều gì có thể để có thể trốn khỏi cái bệnh viện, mà thực chất là một nhà ngục nạm vàng. Còn căn nhà của các con thì đúng là địa ngục.

Dĩ nhiên trước đây tôi chưa bao giờ ngờ tới.

Tất cả được bắt đầu sau đám tang của em, em yêu ạ. Trở về nhà, anh chỉ muốn xa cách với tất cả bọn người cứ luôn mồm cười nói, ngồi một mình để ngẫm nghĩ về những gì sẽ xảy đến với mình. Trong anh vẫn còn lòng ham sống nhưng ý nghĩ là em không còn trên đời này nữa làm anh đau đớn. Đau không chịu nổi! Dĩ nhiên anh cũng có thể tự mình nấu ăn, dành thời gian để đọc, để viết, nhưng anh chợt nhận ra là mình không thể nào bước vào căn phòng ngủ, nằm trên chiếc giường mà mình đã từng ôm nhau rồi chìm sâu vào giấc ngủ và thức giấc bằng một nụ hôn. Biết bao lần bàn tay của em sờ soạng nắm lấy tay anh rồi ngủ tiếp, như vừa được  trấn an vì có anh nằm bên cạnh. Bao nhiêu niềm vui và đam mê đã được thắp sáng trong trái tim chúng mình, thay vì suy giảm, chúng lại được tăng lên cùng năm tháng, trong một tình yêu ngày càng khắn khít, thơm ngon như hương vị của một thứ rượu vang được ủ lâu năm trong thùng gỗ quý.

Vì những hoài niệm đau buồn đó nên anh quyết định đóng kín căn phòng bằng ổ khóa. Và ngay từ lúc ấy anh biết mình đang bắt đầu đi vào cõi chết.

Em yêu ơi, em có biết sự cô đơn là một căn bệnh trầm kha? 

Dần dà, mọi người cố gắng thuyết phục anh về sống ở nhà đứa con trai. Và đây chính là bước đầu tiên để anh bị giam trong tù. Anh ngu ngốc quá!

Em yêu ơi, lúc em còn sống, anh chỉ biết đến công việc nhưng chỉ cần nghĩ đời mình có em là anh đã vui rồi. Sau này các con mới xuất hiện, và anh từng nghĩ là chúng sẽ lớn lên như mơ ước của chúng mình. Chỉ đến bây giờ anh mới hiểu là điều đó không bao giờ có. Dù chúng ta đã gieo những hạt mầm đúng đắn, đã cố gắng truyền đạt những giá trị quan trọng về cuộc đời, dạy chúng biết thế nào là lòng bác ái, về tình người và tâm từ bi. Em ơi, anh vừa mới nhận ra là mình đang nói chuyện với em dù biết em không còn trên đời này nữa.

Nhưng có lẽ là em đã may mắn  hơn anh, vì sớm từ giã cõi đời ô trọc này để khỏi phải chứng kiến sự lãnh đạm, sự khinh thường và bạc bẽo của các con. Tất cả mọi đứa, không chừa đứa nào. Ngay cả con gái út cũng không chứng tỏ là trong lòng nó còn chút tình cảm nào.

Tôi đi, như chạy. Mệt lắm, nhưng chắc cũng sắp đến nơi. Tôi bắt đầu nhìn thấy những chóp đỉnh của hàng thông được chiếu sáng bởi một mảnh trăng non. Tiếng rì rào của biển cũng dường như đang vọng tới. Tôi còn nghe được một vị mặn đậm đà của đại dương hòa lẫn với mùi của rừng thông.

Còn nhớ không em, đêm đó, bên bờ biển, chúng mình đã ẩn mình giữa những chiếc thuyền đánh cá để nồng ấm yêu nhau? Bao nhiêu vì sao đang lấp lánh trên bầu trời và mùi thơm của biển cứ hòa trộn vào vị mặn của môi nhau.

Bây giờ thì cũng có những vì sao lấp lánh trên đầu anh, lúc anh ngồi tựa lưng vào một cây thông và hai bàn tay ve vuốt hàng cỏ ướt. Có một bầy đom đóm đang bay giữa những lùm cây. Có phải là em đã mời chúng đến đây, để anh khỏi cô đơn trong buổi tối cuối cùng?

Chính sự cô đơn là điều làm anh đau khổ nhất. Anh liên tục nhìn thấy em bên cạnh mình. Anh kể lể với em về mọi chuyện. Anh thấy thiếu vắng vì không được chạm vào em, cảm nhận được bàn tay mềm mại và êm ái của em thường dịu dàng ve vuốt khuôn mặt anh, nụ hôn của em mỗi sớm mai thức giấc, những chuyện vặt vãnh trong ngày mà chúng mình thường cười đùa như hai kẻ đồng lõa.

Anh không thể tưởng tượng là em sẽ đau đớn như thế nào khi nhìn thấy những đứa con cười chế diễu khi nhìn những bức hình của chúng mình âu yếm bên nhau, chứng kiến những quyển sách yêu thích bị ném đi tung tóe. Chúng đã vứt đi mọi thứ, như loại bỏ mình, bởi vì sự hiện hữu của chúng mình lúc tuổi già đang làm phiền chúng.

Nhưng chỉ còn vài giờ nữa thôi. Anh cũng sẽ không còn nữa. Anh sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự phiền hà.

    Đủ rồi! Anh không muốn phung phí những giây phút cuối cùng này để nghĩ đến những kẻ vô tình bạc nghĩa.

    Khô khốc và tham lam, đấy chính là những thứ mà các con đã trở thành.

Anh như vừa nghe lại buổi tranh cãi cuối cùng của chúng :

  • Bác sĩ nói cần cho ổng nhập viện…
  • Vậy là phí bao nhiêu tiền của.
  • Thì dùng tiền mà ổng bả để dành đó…
  • Thế thì còn gì cho bọn mình? Một mớ tiền lẻ à?   Biết đâu thằng cha già vô dụng này chưa chịu chết…và thế là hết sạch…
  • Câm mồm đi. Chính mầy đã bán căn nhà của ổng và còn đang giữ tiền…

         Bao nhiêu điều xấu xa và kinh tởm mà anh đã phải nghe! Thế nhưng anh câm lặng, giả bộ như chẳng hay biết gì. Nhưng đêm đó, vì quá đau đớn mà sức khỏe của anh bị một cơn suy sụp.

  • Bây giờ mình phải làm gì đây? Nếu tao phải mang lão đến bệnh viện thì làm sao có thể tham dự đám cưới của sếp…Thôi, cứ bỏ mặc lão. Nếu lão chết thì càng tốt. Mình tiết kiệm được tiền bạc và thời gian.

            Anh không thể nào chịu nổi sự khốn nạn kinh tởm này. Anh ngồi bật dậy và to giọng nguyền rủa chúng, là anh không muốn ở với chúng thêm một phút nào.

Bọn chúng chỉ khó chịu chứ không có ai giật mình vì phản ứng đột ngột của anh. Một đứa chở anh vào bệnh viện. Và anh biết là định mệnh của mình đã được an bài. Trước hoặc sau gì cũng có một cú đột quỵ, sau đó có thể là bán thân bất toại hay tệ hơn, không thở được, anh sẽ bị đút các loại ống linh tinh để sau đó chết trong đau đớn.

Nhưng nỗi đau lớn nhất vẫn là bị bao vây bởi đám diều hâu tham ác này, chúng đang chờ đợi và thèm rõ dãi đoạn kết đời anh để thừa hưởng gia tài, rồi sau đó còn lớn tiếng rêu rao là đã ở kề cận cha mình cho đến phút lâm chung!

Bọn khốn kiếp! Giả nhân giả nghĩa! 

            Đủ rồi! Đủ rồi! Đã bao lần tôi hét lên như thế, không muốn nghĩ đến, nhưng lại chẳng thể quên. Tôi bắt đầu cầm lấy chai nước và lọ thuốc nằm trong bao nylon. Mình giỏi thật, đã tính toán chi ly mọi thứ từ lâu. Mỗi ngày tôi đều để dành một viên thuốc ngủ, giả bộ như vừa mới uống, ngoan ngoãn thực hành lời căn dặn của các y tá.

Một nắm thuốc trong lòng bàn tay. Một ngụm nước. Môt ngụm nữa. Một cơn ho rồi vận sức nuốt xuống. Được rồi. Bấy nhiêu đó là quá đủ để trái tim già này ngưng đập.

Đêm nay không lạnh lắm. Chỉ có vài cơn gió nhẹ và anh dường như vừa nhìn thấy ánh hồng ở phương Đông.

            Thế nhưng anh muốn tìm một chút hơi ấm. Muốn cảm nhận rằng em đang nằm gọn trong vòng tay anh, giống như bữa chúng mình đi hái cherri, trái chín, mọng đỏ như môi em. Anh vừa ăn, vừa hôn em, nép mình dưới bóng mát những cành cây trĩu quả.

Anh chợt sờ lấy môi mình như thể muốn tìm lại cảm giác đó, nghe lại mùi vị của môi em mềm mại và đỏ mọng…ôi, anh yêu em nhiều lắm… và anh thấy trống vắng làm sao!

            Anh bắt đầu nghe một cảm giác rất lạ trong cơ thể mình. Như một cơn buồn ngủ. Bình minh cũng vừa ló dạng. Ngày đang ửng sáng. Và những vì sao dường như cũng tắt dần. Bỗng anh thấy lạnh. Vội nép mình vào gốc cây để tránh gió. Một cơn rùng mình rất khẽ. Một cảm giác thật lạ lăn trên má, chạy xuống môi. Rồi một hơi ấm ở đâu tràn tới, như thể anh đang nằm giữa vòng tay của ai.  A, hiểu rồi, là em, người yêu quý nhất của anh.

            Cảm ơn em đã không để anh chết một mình. Tìm lại nhau, hạnh phúc biết bao! Và giờ đây, mãi mãi bên nhau.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »