Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2012

Điều ước

VÕ HẠNH

"Thiếu nữ , chim và hoa hồng".tranh sơn mài Dương Tuấn Kiệt

 – Nếu có một điều ước trở thành hiện thực thì em sẽ ước mơ gì?

– Ước được một lần sống cho riêng mình mà không sợ làm tổn thương đến người thân. Ước được một lần trả tự do cho cảm xúc yêu thương mà không sợ ai phán xét và cũng không phải phán xét chính mình… Còn anh ?

– Anh ước được một lần đi đến tận cùng cảm xúc yêu thương với em. Ước được sống một ngày bên em với tất cả yêu thương… háo hức và đam mê… của cả trăm năm… gộp lại…

– Em! Anh chờ đợi em đã quá lâu rồi.

– Xin anh…

– Hãy đến với anh đi! Mình sẽ thực hiện điều ước. Em! Mười năm rồi!

– Xin anh đừng vậy mà…

Cách xa hàng mấy trăm cây số, Vĩnh vẫn nghe rất rõ tiếng nấc nghẹn của San. Luôn là sự day dứt, trăn trở.

**

****

 

Vĩnh gặp San tại một đợt Hội thảo. Ấn tượng đầu tiên về San là cái hiền lành, khép nép khiến Vĩnh thấy thương hại. Trong đêm liên hoan chia tay, San ngồi ở một góc khuất, e dè. “Sao không ra nhập cuộc vui cùng anh em hả cô bé?”. “Em… hơi đau đầu”. Vĩnh nhận ra mặt San đang đỏ ửng, có lẽ vì cốc bia không từ chối được ban nãy. “Đi với anh đến chỗ này em sẽ thấy dễ chịu ngay”.

Vĩnh đưa San ra biển. Trăng đầu tháng hanh gầy. Biển vắng. Những đôi tình nhân đã lần lượt rời chỗ hẹn. Chỉ còn lại sóng khẽ rì rào đủ nhường không gian cho tiếng cười trong veo, nhảy nhót sau chân Vĩnh.

– Sao không đi ngang hàng cùng anh?

– Em thích đi theo chiếc bóng của anh.

– Làm chiếc bóng của anh chứ?

Tiếng cười bỗng ngưng bặt. Sóng cũng thôi rì rào… Vĩnh cầm lấy tay San. Một cái rụt nhẹ… lưng chừng… và rồi hơi ấm dần lên, mềm mại, dịu dàng trong bàn tay Vĩnh. Biển hát lời của thơ nhạc.

**

****

Vĩnh hay ra biển hơn. Những lúc kết thúc công việc căng thẳng. Những đêm trăng đầu tháng hanh gầy. Với Vĩnh, biển giờ đây không chỉ có sóng mà còn có tiếng cười trong veo dễ mến, có cái rụt nhẹ của bàn tay khiến Vĩnh muốn nắm giữ chặt hơn, có cái e ấp dịu dàng, tin cậy của người con gái khiến Vĩnh muốn trân trọng và giữ gìn, có câu chuyện San kể bên ghềnh đá về chàng trai chăn cừu và cô chủ nhỏ một đêm trên đỉnh núi dưới đám cưới của những vì sao lung linh, khiến Vĩnh nhận ra sự thánh thiện của tâm hồn ngay trong những ham muốn trần tục và rất đời thường, có giây phút được ngã đầu thấy sự bình yên thanh thản, có cái thắt lòng trước câu  tưởng như bất chợt, bâng quơ mà không thể quên: “Em là gì của anh?”. “Là một góc bé nhỏ trong trái tim anh, một phần của cuộc đời anh”. “Vậy cũng quá nhiều rồi anh nhỉ!”. Tưởng San dỗi hờn, Vĩnh dỗ dành “Anh sẽ cho hết phần đời còn lại nếu em muốn”. “Điều đó đâu dễ dàng, mình chẳng còn tự do. Hãy cho em yêu anh theo cách của riêng mình.”. “Cách của riêng em là thế nào ?”.Không sở hữu anh cho riêng mình, nhưng luôn hướng về anh, sẻ chia cùng anh mọi buồn vui trong cuộc sống và luôn cầu nguyện cho anh được hạnh phúc”. “Đừng lo gì cho anh  mà hãy cầu mong cho em được mạnh mẽ hơn, dám nghĩ và dám sống cho mình, dám làm những điều em cho là đúng và cần thiết. Đừng quá khắt khe với bản thân mình. Cũng đừng lo gánh hết lên vai điều tiếng của miệng thế. Cuộc sống vốn không tồn tại những cái hoàn hảo, nên cũng không cần em buộc mình phải hoàn hảo đâu. Thời gian không chờ đợi. Tuổi trẻ của em cũng không hai lần trở lại. Đừng để phải hối tiếc khi ta đã về già”. “Em không biết tình yêu của mình là đúng hay sai ?”. San bao giờ cũng vậy, luôn dằn vặt, phán xét mình khiến Vĩnh  khổ sở trong những lần hẹn hò hiếm hoi ngắn ngủi. Yêu thương nhớ nhung, đam mê chờ đợi nhưng cứ phải cố kiếm lòng vì ánh mắt biết nói của San “Xin anh!… Em sợ!”

**

****

Không biết bao lâu rồi San không nhắn tin cũng không gọi điện, Vĩnh cũng không thấy nôn nao chờ đợi. Những dự án, những hợp đồng liên tiếp cuốn xoáy. Đôi lúc ngưng việc, Vĩnh có nghĩ đến San nhưng lại tự nhủ nên chăng cứ để yêu thương lặng dần đi. Vĩnh muốn trả San về với cuộc sống cũ của mình, bình yên, an phận với những gì tạo hóa đã sắp đặt. Chỉ đôi chút vòng vèo, chùng chình trên đường đời đã khiến San phải luôn dằn vặt, day dứt phán xét mình. Nếu một lần “chặt xích” trả tự do cho đam mê thì thời gian còn lại, cuộc sống của San sẽ không dễ dàng. Vĩnh lo sợ…

“Anh có còn nhớ đến điều ước không?”, tin nhắn của San đến không đúng lúc. Vĩnh không có tâm trạng để nói chuyện yêu đương. Một dự án của công ti do anh phụ trách gặp sự cố và đang có nguy cơ bị phía đối tác hủy hợp đồng.“Anh rất bận!”. Vĩnh nhắn trả gọn ghẽ rồi khóa máy. Chẳng còn khái niệm về thời gian.

– Sao hôm nay về khuya thế chú Vĩnh? Đã hơn 11 giờ rồi”- bác bảo vệ  mở cổng khi vừa trông thấy Vĩnh.

– Thế à!- Vĩnh vẫn còn đang lơ lửng trên mây

Phố xá vắng tanh. Vĩnh cứ chạy xe lòng vòng và rồi không biết tại sao mình đang đứng trước biển. Bà cụ bán hàng nước bên hàng dương thu dọn quán muộn hơn mọi khi cứ luôn miệng xuýt xoa bảo tội nghiệp cái nhà chị ấy, chắc là ở xa đến, thấy bảo đi thăm người quen gọi điện mãi mà vẫn không được, đợi từ chiều giờ, chẳng biết đi đâu nữa, khổ quá…

Vĩnh bừng tỉnh. Linh tính… anh mở máy. Một tin nhắn đến: “Em đến thăm anh. Nhưng sao yêu thương cứ như rót vào thinh không thế này…”

Vĩnh thấy mình đang bị cháy. Những vết chân nhỏ liu xiu giữa khoảng đêm mênh mông hun hút càng đốt Vĩnh hừng hực. “San ơi, em đang ở đâu? Hãy nghe máy đi em! Xin đừng hành hạ anh nữa mà! Có biết là anh đang rất nhớ em không?”

Năm phút… mười phút… bằng cả chiều dài thế kỉ. Chưa bao giờ Vĩnh thấy mình yếu đuối như lúc này… và… điện thoại rung lên, Vĩnh hóa thành trẻ con, van vỉ: “Em đang ở đâu? Đừng trốn anh nữa mà! Cầu xin em đó!”

Một khoảng lặng tê người… “Là em đây mà. Anh đang ở đâu? Về nhà nhanh đi! Con sốt cao lắm, mình em chẳng biết làm sao nữa…”

Vĩnh rệu rã. Đổ bệt xuống cát. Một cơn sóng nhỏ xô bờ kéo những vết chân liu xiu ra xa. Xa tít.

Dưới hàng dương bên cạnh đó, San cũng vỡ vụn. Dỗi hờn. Kiếm tìm. Dỗ dành… đều đã kết thúc, nghiệt ngã. Càng cố nén lòng càng ứ nghẹn. Bao nhiêu nước mắt cứ lặng lẽ chảy vào trong.

Read Full Post »

Thật tình

Dulehue
Như người đàn bà ngồi lê đôi mách
Tôi làm thơ lắm lời vô duyên
Như con chuột suốt đời hóc hẻm
Tôi tới lui trong tăm tối muộn phiền
.
Như lở lửa cơm khê cháy khét
Tình tôi chừ khô khốc chơ vơ
Như nước mắm vui tay quá mặn
Tôi yêu người trắng muối dương gian
.
Như bà cô không chồng trái tính
Đi với về chướng bước chân đêm
Như mặt bàn sau cơn chè chén
Tâm hồn tôi loang lổ đủ điều
.
Như tất cả các phòng bệnh viện
Tôi có mùi bông băng trong tim
Như vòng hoa của người đã khuất
Niêm vui tôi la liệt mộ phần
.
Như khúc xương chó chê không gặm
Lăn lóc buồn góc nhỏ phần riêng
Như mụ ăn mày điểm trang nước mắt
Những nhớ nhung bội thực trong đời
.
Tôi chưng diện đớn đau mình lòe loẹt
Với dung nhan trơ trẻn đến thần linh
Cũng thơ ca yến tiệc linh đình
Chợt nhìn lại
và…
thấy mình !

Read Full Post »

Bãi Dại trong vắt, bãi Trứng ngộ nghĩnh, Quy Hoà êm ả… mỗi bãi biển của Quy Nhơn mang đến cho du khách những trải nghiệm khác biệt.

Bãi Trứng

Bãi Trứng hay còn gọi bãi tắm Hoàng Hậu (ngày trước mỗi lần ghé Quy Nhơn, Nam Phương hoàng hậu đều đến đây tắm biển) nằm trong khu danh thắng Ghềnh Ráng (rộng 35 ha) cách thành phố Quy Nhơn 3 km về phía Đông – Nam. Bãi tắm này ghi dấu với du khách với vẻ đẹp của cung đường biển uốn lượn, cát trắng, biển xanh và vô số những tảng đá tròn trịa trên bờ.

Ngoài tắm biển, đến đây, bạn có thể tham quan vẻ đẹp của Gềnh Ráng, quần thể sơn thạch chạy sát biển, đá chất chập chùng thành hang, thành rạng, ghé mộ nhà thơ Hàn Mạc Tử, tìm hiểu về Lầu Ông Hoàng hay xuôi ra đảo có có tên Hòn Đất Bi khám phá những hang động kỳ thú.

Biển Quy Hòa

Biển Quy Hoà nép mình cạnh trại phong Quy Hoà. Giống như tên gọi, biển Quy Hoà trong lành và êm đềm với những đợt sóng nhỏ, nước trong vắt và những hàng dương xanh ngát đung đưa theo tiếng gió, tiếng chim ríu rít hoà lẫn trong tiếng sóng tạo cảm giác thanh bình và yên ả.

Sau khi vui đùa với sóng, bạn có thể mua vé vào tham quan trại phong Quy Hoà. Trái với tên gọi và căn bệnh, trại phong có không gian thoáng mát, thơ mộng với những con đường uốn cong. Ấn tượng nhất là những bức tượng bán thân đầy sinh động của các nhà khoa học, bác học, bác sĩ… nổi tiếng

Bãi Bàu

Bãi Bàu nằm phía Bắc huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 15km. Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân đến Bãi Bàu là một bãi biển êm đềm, tuyệt sạch và yên bình nhờ bao bọc bởi hai dãy núi nhô ra biển.

Ngoài biển xanh, cát vàng cùng những đột sóng nhẹ, Bãi Bàu còn sở hữu những ghềnh đá, đồi núi tạo vì thế nếu thích cảm giác mạnh, bạn có thể tham gia các trò chơi như nhảy ghềnh leo núi…. Khi đã thấm mệt, đừng quên thả người trên cát, vừa thư giãn vừa thưởng thức những hải sản nổi tiếng của nơi đây như sò huyết Ô Loan, cá thu chấm với nước mắm Ông Già.

Bãi Xép

Bãi Xép cách thành phố Quy Nhơn 10km theo đường Quy Nhơn – Sông Cầu và nằm trong khu du lịch sinh thái rừng biển Bãi Xép do một công ty tư nhân khai thác.

Ngoài lợi thế của một bãi tắm đẹp, bãi Xép cũng xanh mát với vườn cây ăn quả, rừng dừa, rừng dương, bãi cỏ… khiến bạn có cảm giác đang ở một vùng quê yên tĩnh hơn là vùng biển sóng rì rào vỗ.

Từ bãi Xép, bạn có thể ngắm nhìn vẻ đẹp của dãy Phương Mai, hòn Ngang, hòn Đất và vịnh biển Quy Nhơn xinh đẹp. Nằm trong khu sinh thái rừng biển nên nếu thích mạo hiểm, bạn có thể đi ngược về phía Tây khoảng 1 km, đến suối Vàng, sẽ bắt gặp một vùng thiên nhiên hoang dã với rừng cây, thác nước…

Bãi Dại

Sự kết đôi của cung đường biển trong xanh ôm gọn những khối đá co cụm nhiều hình dáng rải rác trên bờ và dưới biển mang đến cho bãi Dại vẻ đẹp thơ mộng và góc cạnh. Vẻ đẹp của bãi Dại có thể làm mềm lòng cả những vị khách khó tính nhất.

Sau khi vùng vẫy thoả thích trong làn nước trong vắt, bạn có thể tìm cho mình bóng râm giữa các khối đá lớn hay đong đưa trên những chiếc võng ở các nhà chòi cạnh biển nghe tiếng sóng, tiếng gió, cả tiếng đàn, sáo vi vu vang lên từ các chòi bên cạnh.

Bãi Nhổm

Bãi Nhổm cách thành phố Quy Nhơn 16Km về phía nam trên quốc lộ 1D. Tuy nhỏ nhưng bãi Nhổm nổi bật với triền núi đá hoa cương đỏ trải dài ra biển và màu màu xanh của rừng tạo nên một cảnh quan tuyệt đẹp. Cũng như các bãi biển khác của Quy Nhơn, biển bãi Nhổm có độ dốc thấp, sóng nhẹ, nước trong xanh.

An Huỳnh

Nguồn: Bưu Điện Việt Nam

Read Full Post »

Lãng tử hồi đầu

Vũ Thanh

Chiều chia ly vạt nắng Thu vừa tắt
Dáng em buồn – tóc xỏa giữa hoàng hôn
Em nào biết những ẩn tình son sắc
Chí làm trai – núi lở với sông mòn
*
Xin thâm tạ ân tình em sâu nặng
Anh mang theo vực mắt thẳm, bờ môi
Dấu trong tim bao nỗi đau thầm lặng
Khúc vinh qui anh nguyện sẽ tái bồi
*
Nhưng mười năm bước chân hằn đá sỏi
Bạt ngàn dâu – biển rộng nhớ sông dài
Sương pha tóc những đêm sầu quan tái
Ngóng kinh thành – anh để thẹn đời trai
*
Biết không em có một chàng lãng tử
Ở bên trời quay quắt những đêm say
Nợ tang bồng trắng tay đời cô lữ
Hổ với lòng – chín hẹn đã mười sai

Bến sông xưa đành để duyên tẻ lạnh
Giọt rượu nồng tưởng giọt lệ ái ân
Nhớ về xa – bóng ai đang cô quạnh
Lệ anh hùng nhỏ xuống khóc giai nhân
*
Chí đã mòn công danh còn lỡ dỡ
Mộng không thành mười năm hận khắc sâu
Bước lê thê cố hương sầu nức nở
Lặng bên sân chàng lãng tử hồi đầu
Đừng lạnh lùng, xin ngoảnh lại nhìn nhau !!!
.
Vũ Thanh
(Viết cho tâm sự chàng lãng tử – người yêu của
nàng sương phụ đất Qui nhơn trong bài Tương Tư Lợ)

Read Full Post »

.

Hình như người xứ Nẫu,ai cũng thích ca hát ,làm thơ và múa võ. Những buổi hội hè vui nhộn như thế này không thể thiếu văn và nghệ. MC  Văn Công Mỹ và Vinh Rùa quá lúng túng vì có đến trên 50 tiết mục nghệ thuật hoàng tráng đăng ký chính thức. Biết chọn ai bỏ ai bây giờ?

Lê Đình Gíao hát rất hay bài hát Quy Nhơn đôi mắt người xưa của Vũ Thanh,một nhạc sĩ gốc việt hiện đang định cư ở Mỹ

.Vinh Rùa Lê Đức Vinh  trình làng bài hát Bạn Gìa anh vừa mới sáng tác dựa trên lời thơ của Nguyễn Quy. Ấn tượng ban đầu:nghe cũng được

Nam Thi rất xuất thần trong tiết mục hát bộ Đich Thanh ly thợn. Không có đào,Vinh Rùa đành vào vai Thoại Ba công chúa dâng rượu mời…chàng .Tiếc là thiếu người cầm chầu.

.

Ngọc Hằng làm thơ ,viết nhạc, vẽ tranh và cũng là ca sĩ chuyên nghiệp. Một số bài thơ của Hằng post lên xunau.org cũng thuộc loại kha khá trở lên

Xin nói thêm một chút ,tấm banner màu đỏ ấn tượng làm nền trên sân khấu là tác phẩm của họa sĩ Lê Sa Long . Anh cũng là cây cọ thân thiết của xunau.org

Khảo Mai và Văn Công Mỹ trong một bài hát về mùa xuân

.Những giây phút rất ấm tình người : Tạ Việt.Lưu Đình Trọng,Yến Du, Nam Thi,Phiêu Thạch Ba

.Tiến sĩ ngữ văn Elena,con dâu Tây Sơn …là một phụ nữ Bình Định “rặt”. Chị biết ăn tất cả các món ăn xứ nẫu,biết làm một số món ăn đặc sản địa phương,nói tiếng Việt như giớ. Nhưng cầm roi đi quyền thì theo như chị nói:’biết chút chút”

.

Các bạn có đoán ra dịch giả Quế Sơn là ai trong hình không?

.

Trong trang xunau.org có những còm sĩ bịt mặt chuyên còm những câu ngắn ngắn,vui vui vô thưởng vô phạt,nhưng khi hỏi ra thì toàn là dân có số má . Chẳng hạn như còm sĩ Thi Thu ( người đầu tiên bên trái ) là tiến sĩ trưởng khoa của một trường đại học.  Còm sĩ TVA tiến sĩ về môi trường. Chị Elena Truong tiến sĩ về văn học,còm sĩ kiêm thi sĩ tiến sĩ Nguyên Hùng, Huỳnh Ngọc Tín..  Còm sĩ  NVH  phó giám đốc sở… Và nhiều nhiều nhiều người khác nữa , họ đến xunau.org trong tâm thế  của những người yêu xứ Nẫu,bình đẳng và tự nhiên đến mức hồn nhiên.

Kế bên Thi Thu đố các bạn biết ai không ? Đó là các cây bút tài hoa  của trường Nữ trung học Quy Nhơn: Trần Thị Thanh,Trần Thị Lê , Trần Đông Oanh, Lưu Nguyễn .Những tác phẩm tiêu biểu của các  nữ lưu này sẽ lần lượt xuất hiện trên xunau.org trong thời gian sắp tới!

Nhiếp ảnh gia Thái Phiên,nghệ sĩ chụp ảnh nude số 1 hiện nay có nhã ý tặng cho thân hữu xunau.org 5 suất chụp ảnh nude miển phí ( thời giá hiện nay 1000 usd/suất ). Nhưng  hì …hì không có ai dám nhận.  Người ngồi bên cạnh anh là nhà thơ Cao Quãng Văn

.Kim Loan,Khảo Mai,Kim Chi và MC Vinh Rùa

.Một phút giải lao giữa  chầu rượu ..vang. Bà con tranh thủ ghi lại những khoảnh khắc thân ái bên nhau

.Ai cũng có nụ cười thật tươi và hồn nhiên

.Từ trái sang Lâm Bích Thủy,Tạ Việt, Yến Du,Kim Bồng,Phiêu Thạch Ba,Mai Thanh

.Tam ca Ba chàng ngư lâm pháo thủ: Nam Thi,Miên Đức Thắng, Lê Đức Vinh

.Kỹ sư hóa học kiêm nhà thơ Lê Mộng Thắng.  Anh là người chơi đàn tranh nổi tiếng ở Sài Gòn. Thơ viết về xứ Nẫu thì càng rất nẫu

.

Miên Đức Thắng cháy hết mình với những bài hát nồng nàn tình yêu quê hương . Khi phiêu lên anh hát và đệm piano cho mọi người cùng hát. Tiếng hát tiếng đàn của anh..hình như không có tuổi !

(Còn tiếp)

Bình loạn:   Sáu Nẫu

Hình ảnh:  kts Nguyễn Hoài Nam,Phạm Mai Khoa,Ngô Thành Hùng,Lưu Đình Trọng,Khảo Mai

Read Full Post »

Nguyễn Thị Phụng.



Mùa đông miền Trung đâu lạnh lắm. Sao thèm cái lạnh trong thơ Xuân Diệu “ Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” Lại nhớ da diết đến nao lòng từ khi “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm” rồi! Xin mạn phép anh được đảo các danh từ “anh, em” đã dùng như đại từ trong câu thơ tiếp theo “Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” thành “ Em nhớ anh, anh hỡi em nhớ anh”. Có lẽ anh mỉm cười khi em vừa thủ thỉ điều bí mật này. Em yêu thơ anh, nên mới yêu anh. Ta cùng chung quê nên cùng tự hào Tuy Phước. Em không đi xa mà sao cứ vời vợi nhớ thương. Còn anh bao rạo rực đong đầy trong ngày trở về thăm quê mình:

ĐÊM NGỦ Ở TUY PHƯỚC
Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngô
i sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…
 

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc
“Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía…”
Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ
Đem tôi theo ngồi dạy học các làng
Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang.
Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…
 

Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…
 

Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước
                       (16/2/1982 – 25/2/1985 / Xuân Diệu)
Về Tuy Phước là về thăm quê ngoại, nơi anh được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Gò Bồi bên bồi bên lở, từng nghe anh tâm sự “Từ lúc má tôi đẻ tôi ra ở cái vạn Gò Bồi làm nước mắm/ Một hạt muối trong tim để mặn với tất cả những gì đằm thắm/ Một cành lá trong hồn để biếc cùng muôn làng mạc của quê hương”(Miền Nam quê ngoại). Hạt muối mặn đằm thắm, cành lá biếc xanh cho tình yêu mỗi ngày thắp lên như hoa gạo đỏ mùa tháng ba trở về. Cùng bao vùng quê khác như An Nhơn, Tây Sơn thì Tuy Phước chỉ là một huyện trong tỉnh Bình Định nằm ở vùng hạ lưu sông Côn, nhận nước từ nguồn cho đất dai màu mỡ, là nơi tiếp tục khai dòng thông ra biển lớn. Và ai dám tự hào quê mình là vùng đất địa linh nhân kiệt, nếu từng ngày ta không biết vun trồng chăm sóc cho mỗi cây hoa người tỏa hương rồi tự khẳng định giá trị “ Người ta là hoa đất” (Tục ngữ) nâng niu thưởng thức:
Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngôi sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…

Vâng “Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ” đâu riêng gì anh. Những con dế ngoài đồng ruộng kia, những ngôi sao xanh giữa bầu trời đêm lấp lánh, những bóng cành rợp mát chở che năm tháng đi qua mãi vô tận trong cảm xúc nhà thơ. Chính “Đêm quê hương thương cái hương của đất…” cho anh thức mãi những kỉ niệm về  hương vị của đất trào dâng theo ngọn gió nồm ấm áp nhắc nhở:
Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
                  Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía
…”
Phải chăng nơi Vạn Gò Bồi thuở nào với Xuân Diệu là cái tình sâu đậm không thể nào quên! Bởi “trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi”. Dù có cách xa bao nhiêu tính theo chiều dài kilomet, nó là liều thuốc bổ thấm sâu cho đôi mắt anh trong sáng tinh tường, cho trái tim anh rộn ràng nồng thắm . Lòng biết ơn nhắc nhở : “ Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ/ Đem tôi theo ngồi dạy học các làng”.  “Cha tôi là thầy đồ” thầy làm nghề dạy chữ nho thời trước. Thầy đồ có gốc gác quê hương. Thầy đồ xứ Nghệ yêu lắm miền đất vạn Gò Bồi trù phú đã trở thành ruột thịt khi bước chân dừng lại nơi đây biết “ Gánh tên đất tên làng sau mỗi chuyến di dân”( Nguyễn Khoa Điềm). Nên coi việc tải đạo cho lớp trẻ là trách nhiệm vẻ vang chung của “thầy đồ”. Cái nôi làng quê bé nhỏ nhưng trong tầm nhìn tuổi thơ ngày nào, văn hóa làng xã in đậm dấu ấn khó phai: “Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang/ Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…” Dù ở miền quê, chợ Tết rất nhiều trò chơi hấp dẫn lôi cuốn người xem, nhưng với tuổi thơ của cậu bé Bàng (tên thường gọi của Xuân Diệu lúc còn nhỏ) khi nghe bài chòi lại là sức thu hút mạnh mẽ nhất. Những câu hát dân ca bắt nguồn từ điệu hô trong cuộc, người hô thường ngồi trong các chòi tranh tre hễ bên này hô, thì bên kia đáp lại, chẳng hạn bên nữ vừa hô: “ Tiếng đồn anh hay chữ, cho em thử vài lời, ba mươi mùng một sao trời không có trăng?” vừa gõ thanh tre cắc cụp cắc kèm theo nhịp câu hô. Bên nam phải đáp lại, và nếu không đáp được là thua cuộc. Kích thích sự hào hứng hai bên cũng như những người tham dự. Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian kích thích tư duy ứng xử. Muốn hô – đáp cân xứng là phải tìm hiểu vốn sống từ trong sách vở, thực tế thường ngày. Và nơi đây là điểm gặp gỡ giao lưu trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ của ngày xưa ở Nam Trung bộ. Đến giờ còn duy trì ở chơ Gò Tuy Phước trong hai ngày mùng một và mùng hai Tết cổ truyền dân tộc. Tuổi thơ Xuân Diệu còn thích ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn như là một trò chơi leo lên tụt xuống, săm soi thích thú vì thấy nó lớn quá so với cột ở nhà, cũng có thể từ nếp“đất có lề” cần duy trì gìn giữ, cũng có thể phép vua vẫn thua lệ làng đó sao! Tất cả nườm nượp như khiêu khích:
Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống

Cái hồn của đoạn thơ trong bức tranh khắc họa một cậu bé bỏ cả ngủ trưa trốn cha, trốn mẹ cùng đám bạn đi lượm xoài non rụng, khèo me rồi hồn nhiên đưa lên miệng ngấu nghiến ngon lành. Những quả chua kích thích dịch vị thèm thuồng đến thế! Tha hồ tự do vui chơi, chuyện trò thỏa thích giữa cái vườn hoang không chủ. Sực nhớ mẹ vội chia tay bạn, quay về: “Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá” là hơn cả. Trẻ con có bao giờ muốn xa mẹ. Vắng mẹ một chút là nhớ quay nhớ quắt làm sao. Chỉ có bàn tay mẹ dù tảo tần vất vả bao nhiêu vẫn dành thời gian chăm chút miếng ăn, dạy dỗ mọi điều tốt đẹp mong con khôn lớn nên người. Mẹ còn đeo vào chân con vòng tròn bằng bạc có cái lục lạc kêu rang rảng với ý nghĩ của người xưa trừ tà ma, con không phải bị giật mình để ngon giấc ngủ. Miếng bánh tráng mẹ mua về bẻ nhai dòn dòn thơm phức ngày ấy còn đọng lại đến giờ. Sao hết những ngọt bùi quê má thân thương được. Điều nhớ nhất là “Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…”. Sân trường rộng với bóng cây vông tỏa mát cho tuổi thơ sau những giờ học trong lớp, là nơi tung tăng nô đùa cùng các bạn. Nhà thơ không gợi tả sắc đỏ hoa phượng mùa hè chia tay, hay sắc đỏ của hoa vông có lá xanh gói nem hay làm thuốc, Xuân Diệu chỉ nhắc đến trái vông đồng rụng xuống. Cho bọn con trai các anh tranh nhau lượm làm bánh xe chạy đua chơi, thú vị nào quên!
Tim ta ơi, ta đố em ngủ được” về hình ảnh thân thương gắn bó kỉ niệm đẹp ngày nào ùa về, quê ngoại đã từng nuôi dưỡng tâm hồn anh trong sáng quá. Những xúc động lòng biết ơn khi thở hơi nước mắm vạn Gò Bồi đến giờ phút trở về Tuy Phước trào dâng trong trái tim vốn nhạy cảm của anh:
Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…
Niềm vui dào dạt trước cảnh yên bình hiện ra trước mắt. Đó là con đê Khu Đông chạy dài ngăn mặn từ biển tràn vào, có đập Thạnh Hòa kiên cố giữ nước tưới tiêu cho mùa lúa bội thu, cho hoa quả xanh tươi. Anh yêu quá Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước! Anh đang tận hưởng màu xanh trải dài tiếp nối từ biển trời đến ruộng đồng nơi khúc ruột tình quê. Giờ còn đâu để gọi ngoại ơi như thuở nào, cho ngoại tận hưởng không khí trong lành như hôm nay. Lòng biết ơn ngoại đã sinh ra mẹ, lòng biết ơn mẹ đã sinh ra anh. Biết ơn tấm lòng những người phụ nữ nhân hậu, giàu đức hi sinh như ngoại, như mẹ cho Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy/ Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả….
Xuân Diệu đã thật với lòng mình:
Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ” Câu thơ được lặp lại từ khổ thơ đầu nào phải bộc bạch giải bày hay mong được sẻ chia. Chính cảm xúc rộn ràng trong trái tim “cậu bé” về thăm quê ngoại. Những náo nức tuổi thơ ùa về sao ngăn được. Những khởi sắc quê hương sau ngày thống nhất đất nước. Nên không ngủ, ngủ không được, đố em ngủ đượcthức suốt năm canh, thức những ngôi sao, thức những lá cành,thức với quê hương như vậy đã vừa đâu, rồi Xin thơ ta được thức mãi về sau. Phải chăng những trăn trở suy tư của tâm hồn nhạy cảm khát khao cuộc sống, tin yêu đủ đầy, trào dâng lên giữa quê nhà trong tứ thơ anh. Có sao nói vậy, nghĩ sao thì viết vậy, không hề giấu diếm điều gì. Tình trước sau vẫn như một. Cũng có thể là sâu sắc mặn mà hơn thế kia. Đấy là phong cách thơ Xuân Diệu nên từng con chữ, câu từ như con sóng dạt dào trân trọng “Hôn mãi ngàn năm không thỏa” niềm tự hào đất nước, trong đó Gò Bồi Tuy Phước chính là máu thịt ruột rà Anh. Nơi đã ươm mầm xanh tỏa hương kết trái cho người con Tuy Phước, Việt Nam: Xuân Diệu. “Đêm ngủ ở Tuy Phước” là thực tế được viết trong lần về thăm quê nhà. Cuối bài Anh ghi lại hai khoảng thời gian (16/2/1982 – 25/2/1985).
Người Tuy Phước nhớ Xuân Diệu là nhớ đến “Đêm ngủ ở Tuy Phước”, là Thức với quê hương mình.
14.12.2011/ Nguyễn Thị Phụng.

Read Full Post »

Còn đúng nửa tháng nữa mới đến tết nhưng những bài hát , bài thơ về mùa xuân được vang lên rất sớm trong quần thể nhà hàng Sông Trăng làm cho mọi người có mặt cứ ngây ngất tưởng đã là tết.

Hình như dân xứ Nẫu có thói quen ăn tết sớm …có lẽ bắt chước hoàng thượng Quang Trung vui xuân trước những cả tháng để lấy sức hành quân ra Thăng Long thành.

7 giờ sáng trên mạng bà con đã í ới gọi nhau đi phó hội.7g30 sáng Hà Thúc Hùng từ Đà Lạt xuống ….ngồi đồng  và …chờ . 9g Sông Trăng đã đón vị khách đầu tiên- Mai Thanh.

10 g đã có gần chục quí nhân đến thật sớm mang theo tấm thịnh tình “giúp một tay làm việc nghĩa” cho xunau.org. Họa sĩ Lê Sa Long dù rất bận nhưng cũng đã chu tất tấm banner rực rỡ có dòng chữ Xuân gặp mặt

10g45 nhà thơ bác sĩ Đổ Hồng Ngọc người nỗi tiếng với tác phẩm Gío heo may đã về xuất hiện. Tất cả những người trong ban tổ chức xúc động muốn rơi nước mắt. Chị Ngọc ốm nặng nằm viện đã lâu. Sáu Nẫu cũng sơ ý quên không gọi điện thoại mời. Vậy mà anh vẫn đọc trên mạng sắp xếp đến chỉ uống vội ngụm trà nhạt rồi tất tả quay về. Cảm ơn nhà thơ Đổ Nghê, Đổ Hồng Ngọc,chân tình ấy xunau.org làm sao quên! Tiếc một điều ,những tấm hình chụp anh và gia đình xứ nẫu hàn huyên bên bờ sông Sài Gòn trong một buổi sáng xuân thật đẹp đã bị mất. Nhưng có hề gì đâu anh những ký ức đẹp sẽ lưu giữ rất lâu trong trí nhớ mọi người

11g45 buổi họp mặt xunau.org mới chính thức bắt đầu bằng màn nổ sâm banh rất cổ điển . Tiếng nổ của rượu (sâm banh xịn) rất giòn và tiếng cười hồn nhiên trong trẻo của gần 80 trung niên thi sĩ rất trẻ.

Hình như không còn khoảng cách tuổi tác, thân sơ , tất cả mọi người quyện vào nhau trong một mùa xuân Xứ Nẫu ,trong một không gian đậm đặt chất Nẫu

.

.

Sự xuất hiện của nhà thơ Phạm Thiên Thư mang đến cho buổi họp mặt xunau.org một không khí đặc biệt. Cũng phải thôi. Những bài thơ của anh kết hợp với dòng nhạc của  Phạm Duy đã để lại dấu ấn một thời trong lòng thế hệ sinh viên học sinh miền Nam trước những năm 1975…và cả đến bây giờ

Ngọc Hằng,Kim Bồng và Thu Thanh cùng tam ca bài hát Ngày Xưa Hoàng Thị. Ba giọng ca hình như đang nhớ lại cái thuở xuân xanh  ‘Em tan trường về đường mưa nho nhỏ…”

.Nhạc sĩ Miên Đức Thắng và nhà văn Nam Thi đang ôn lại những kỷ niệm một thời chưa xa. Mọi người cứ bảo..U 60 mà như vậy thì U5o như Sáu Nẫu cũng.. thua xa. Không sai!

Xin bật mí thêm Nam Thi giờ kiêm nhiệm chức họa sĩ,còn anh Miên Đức Thắng hiện là nhà điêu khắc trên gốm rất Pro

.Nhà văn Nhật Chiêu,người  nỗi tiếng về những công trình nghiên cứu về thơ Haiku nhưng cũng rất e lệ khi trình làng bà con xứ Nẫu

Nhà văn Trương Văn Dân việt kiều Ý, tác phảm Bàn tay nhỏ dưới mưa của anh,mới phát hành chưa đến một tháng nhưng đã lọt vào top Những cuốn sách bán chạy nhất trong năm. Đứng kế anh là kiến trúc sư,họa sĩ Nguyễn Hoài Nam .Hàng dưới là ba nhà thơ Phạm Mai Khoa,Kim Loan,Kim Chi

.

.

Nhà thơ Lâm Bích Thủy ,nhà thơ Hùng Đoản  nhà thơ Nguyễn Quy nhà thơ Mai Hường

Sáu Nẫu làm MC giới thiệu quan viên!

.

Bài hát Ly rượu mừng được toàn thể thân hữu cất lên bằng những giọng hát đủ cung bậc…

Văn Công Mỹ cẩn thận photo mỗi người một bản nhạc …thành thử quang cảnh buổi gặp mặt giống như đang ôn bài thi….hì hì

.Chị Kim Bồng lãng mạn cháy bỏng với bài hát Vết son trên cổ áo…một bài hát mới toanh

.Nhà thơ , thi sĩ giang hồ rất nỗi tiếng Bùi Chí Vinh và phu nhân. Nơi nào có anh xuất hiện thì bổng tưng bùng như tết. Anh mang đến buổi họp mặt tập thơ mới nhất và đĩa CD mới phát hành về cuộc đời Bùi thi sĩ tên Chí Vinh

Kế bên anh là nhà thơ Trần Dzạ Lữ, Lương Viết Khiêm.Nguyễn Đình Hiền và Văn Noa.  Anh Văn Noa là nhà thơ nhưng nghề kiếm tiền của anh là bác sĩ. Có lẽ cũng  ít ai biết thầy cựu hiệu trưởng trung họcVõ Trường Toản,Nguyễn Đình Hiền lại có nhiều bài thơ rất hay

.Nhà thơ Mai Hường,Phương Phương,Nguyên Hùng

.Buổi gặp mặt bắt đầu hơi trể nhưng mọi người không ai phiền hà gì.Ngày xưa cách đây mấy trăm năm Nguyễn Trãi từng đốt đuốc chơi xuân kẻo xuan qua nhanh thì trể một chút càng vui bà con Nẫu nhĩ!

Nhà văn  Mang Viên Long từ Bình Định điện thoại vào gửi lời chúc mừng Hội ngộ Xứ Nẫu. Nhưng anh ơi  30 cuốn truyện mới nhất,quà tặng của anh ưu ái dành cho bà con xunau.org…trong khi có đến gần 80 thân hữu. Tính làm sao đây anh? Thôi thì ai đến trước nhận quà trước anh nhé!

.

.Nhà thơ Thanh Nguyên,Mai Thanh,Phạm Mai Khoa,Kim Loan,Kim Chi

.

.Nhóm cựu học sinh Cường Để tụm lại một góc để…tự nhiên nhậu: Võ Xuân Đào.Lê Đức Vinh,Nguyễn Văn Trư,Lê Đình Gíao, Lưu Đình Trọng ,Hà Văn Hoàng,Võ Thanh Vân , Phan Minh Chính

.

Hà Thúc Hùng rất phiêu linh với bài hát Mimosa…mùa này mimosa Đà Lạt rất vàng phải không Hùng?

‘Trần Dzạ Lữ cuối năm sám hối và lập công với vợ qua bài thơ  Thơ gửi tặng vợ. Một bài thơ được nhiều người khen là bước đột phá trong phong cách thơ!

.

.Chị Lâm Bích Thủy con gái rượu của nhà thơ Yến Lan xúc cảm với hai bài thơ Uống rượu với bạn đồng hương  và Bến My Lăng

.Vợ chồng nhà thơ Văn Công Mỹ chủ quán Sông Trăng ,người góp sức rất nhiều cho hội ngộ xunau.org , nhà thơ Ngô Đình Hải, Ngô Thanh Hùng quây quần bên thi sĩ Phạm Thiên Thư

.(Còn tiếp)

Bình loạn: Sáu Nẫu

Hình ảnh:   Nguyễn Hoài Nam,Phạm Mai Khoa,Ngô Thành Hùng,Lưu Đình Trong,Khảo Mai

Read Full Post »

Tương tư

Nguyễn Thị Thanh Long

Nửa đời vấp phải tương tư
Không gặp thì nhớ
gặp ư
thẹn thùng

Ông trời sao khéo dửng dưng
Thương mà vẫn cứ ngại ngùng đường xa

Nhớ mà chẳng dám nói ra
Vu vơ hờn dỗi như là
không yêu…

Vào ngơ ra ngẩn mỗi chiều
Muốn người hò hẹn
muốn liều một phen

Đêm về
đêm cứ gọi tên…

Read Full Post »

Thi sĩ

Trần Thoại Nguyên

Thưở mê hoa
Hồn tôi như cánh bướm
Vàng đêm chập chờn thơ
Vàng đêm miên man mộng tưởng

Thời gian xanh màu lá cây
Nỗi buồn có khuôn mặt đẹp
Trên đỉnh hồn thơ say
Tôi hiện về từ tiền kiếp
Lời yêu thương reo trong máu
Hạt chân lí khát khao hồn
Sự sống như hoa báu
Nở trên cành thu đông.

Những lầu đài rêu phong
Những con đường mòn sáo
Bia mộ dựng kín những cánh đồng
Tôi sống cô đơn từng ngày hư ảo
Nắng lên nắng tắt sau vườn
Mắt lá chong buồn
Đêm trắng
Mắt lệ sương

Tàn khuya núi đá vô ngôn
Bướm tiền duyên về đậu
Ôm mảnh cô hồn
Tôi gối đầu trăng sao say sáng tạo.

Hỡi nàng thơ diễm ảo
Nàng là hoa sóng sắc hương trời
Hoa tình yêu ánh sáng tinh khôi
Nghìn thu không lỗi hẹn
Rót mộng cứu vớt hồn người
Giữa mùa khói sương hư huyễn
Cho tôi còn niềm vui
Niềm tin yêu cuộc đời.

Gió thổi qua mùa hư không
Lá vặn gân lá máu đông
Hoa tàn kiệt
Mặt đất rung cơn hủy diệt
Cõi người xương máu áo cơm
Điêu khắc thành sầu đáy huyệt
Cõi người xương máu điêu linh
Héo hắt những linh hồn !

Mây bay về vô biên
Gọi tên tôi Trần Thoại Nguyên
Thảng thốt hồn bướm dậy
Thơ bay lên bay lên…

Ôi một thoáng đời thôi
Nghìn sau im lặng mãi mãi!
Trên đỉnh hồn thơ tôi
Một đóa hoa gửi lại

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Ánh sáng lạ nhất trong thơ ca tiền bán thế kỷ hai mươi ở bán đảo Triều Tiên là HAN YONG-UN (1879-1944) và ở bán đảo Đông Dương là HÀN MẶC TỬ (1912-1940).

Thơ ca của họ vừa sâu thẳm những tố chất truyền thống Đông Á vừa dậy lên những làn sóng mới bất ngờ đến kinh ngạc.

Thoạt nhìn, Han Yong-Un (Hàn Long Vân) và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ rất khác biệt ngoài yếu tố vừa kể trên.

Song, khi đặt thơ họ bên nhau thì trong ánh sáng tương chiếu, ta sẽ khám phá ra những điệu thơ đồng dạng.

Sự đồng điệu lớn nhất của họ thể hiện ở “niềm im lặng” trong thơ.

Thơ của họ là một thứ ngôn ngữ đang tìm kiếm niềm im lặng.

Phong trào Thơ Mới của hai xứ (Hàn và Việt) có nhiều tài năng. Đương thời họ nổi bật hơn hai nhà thơ họ Hàn mà ta đang đối chiếu.

Nhưng rồi ta biết, bây giờ và tương lai, hai cái bóng của Hàn Long Vân và Hàn Mặc Tử  ngày càng lớn dậy trong nền thơ ca Đông Á.

Niềm im lặng trong thơ họ tỏa sáng. Đó là niềm im lặng tạo nên ý nghĩa (a kind of silence of signification) nói theo Roland Barthes.

***

Han Yong-Un là một thiền sư, một chiến sĩ, học giả, nhà văn, nhà tiên tri, nhưng trước tiên và trên hết, ông là một nhà thơ.

Ông qui y năm 1905 với pháp hiệu là Manhae (Vạn Hải).

Hàn là một trong 33 chí sĩ lãnh đạo phong trào độc lập của Hàn Quốc năm 1919 chống ách đô hộ của Nhật.

Ông viết nhiều tiểu luận về Phật giáo và sáng tác với nhiều thể văn khác nhau.

Kiệt tác của Hàn Long Vân là tập thơ Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk, 1926), niềm tự hào của thơ mới Hàn Quốc, gồm 90 bài thơ xuôi (thơ tự do).

Khác hẳn Hàn Long Vân, nhà thơ Hàn Mặc Tử có một cuộc đời ngắn ngủi và bệnh tật. Hoạt động chủ yếu của Tử là viết báo và làm thơ, ngoại trừ thời gian ngắn có quan hệ với chí sĩ Phan Bội Châu ở Bến Ngự (vì thế mà bị Pháp xóa tên khỏi danh sách du học). Tử vướng phải bệnh phong từ năm 24 tuổi. Bốn năm sau, ông vào nhà thương phong Quy Hòa. Dù vậy, Tử có cuộc đời tình ái thuộc vào loại nổi tiếng nhất trong thơ ca Việt Nam. Nhưng đối với đời, Tử là Người Thơ, chỉ thế mà thôi. Tài thơ ấy bộc lộ qua các thi phẩm nổi tiếng Gái quê, Chơi giữa mùa trăng, Đau thương, Xuân như ý.

Tại sao Hàn Long Vân gọi tập thơ của mình là Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk)? Chữ NIM (Tình yêu) mà nhà thơ dùng ở đây là một đại từ đa nghĩa, nhiều chiều, ta sẽ bàn sau.

Trước tiên, là “niềm im lặng” (chimmuk: trầm mặc).

Trước mọi tiếng ồn, âm thanh tất nhiên là im lặng. Phật được gọi là MUNI, người im lặng.

Theo dịch giả Francisca Cho, niềm im lặng ở đây có thể được diễn giải như sau: “Niềm im lặng tìm kiếm một bờ cõi nghệ thuật xuyên lịch sử để nói với tất cả những ai đang ước vọng. Manhae từng dùng tất cả thể loại văn chương có sẵn, kể cả chính luận và tiểu thuyết từng kỳ. Tuy nhiên, chính là thơ ca của niềm im lặng khởi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử riêng biệt của mình mà nâng lên thành cuộc trầm mặc trong động lực phổ quát của ước ao. Niềm im lặng vận hành xuyên qua lịch sử cá nhân để tự vượt mình mà đến với sự thấu thị tôn giáo và thẩm mỹ”(1).

Hàn Mặc Tử cũng thường nói về người thơ như một “người nín lặng”. Trong bài tựa Thơ Điên năm 1938, ông viết:

“Người thơ chính là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo.

Trên đầu người là biển cả vô biên và vô lượng… Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lở”.

Người thơ im lặng đến mức Tử phải tự hỏi:

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

(Cuối thu)

Và nếu như Hàn Long Vân khởi đi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử của mình thì điều đó cũng không xa trường hợp Hàn Mặc Tử.

Trong bài tản văn Chiêm bao với sự thực, Tử viết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống, gần cũng như xa và hư cũng như thực…”.

Tất nhiên, tư tưởng Thiền của Hàn Long Vân và tư tưởng tôn giáo của Hàn Mặc Tử có nhiều điều khác biệt.

Thiền của Long Vân kết hợp với tinh thần dân chủ và tự do hiện đại.

Tư tưởng tôn giáo của Tử là phối sắc của Phật, Đạo và Chúa.

Tất cả điều đó lọc qua thần trí cá nhân của hai nhà thơ, tạo nên thơ ca của niềm im lặng.

Niềm im lặng ấy trong văn chương là một cái gì rất cũ mà cũng rất mới. Thơ Vương Duy đời Đường, thơ văn Lý Trần ở Việt Nam…

Văn chương đương đại cũng đi đến niềm im lặng ấy theo cách thế của mình. Chẳng thế mà Gerard Genette khi nói về Những niềm im lặng của Flaubert đã quả quyết rằng:

“Ngôn ngữ chỉ tự mình trở nên văn chương phải trả giá bằng cách tự mình chết đi, vì nó phải đánh mất ý nghĩa của nó để đạt tới niềm im lặng của tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa, cuộc đảo hoán này, cuộc xoay chuyển ngôn ngữ thành niềm im lặng này đối với chúng ta hôm nay, là yếu tính của văn chương”(2).

Nhưng im lặng cũng như chân không trong văn chương không phải là sự bất động, cái chết hay sự trống rỗng.

Đây là một niềm im lặng mà Han Yong-Un gợi nên:

Lá ngô đồng bay lặng lờ qua không gian lặng gió – đó là dấu chân ai?

Tương tự thế, đây là câu thơ của Tử:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước…

Không nói không rằng nín cả hơi!

Niềm im lặng mà cả hai tạo nên là cả một thế giới huyền bí.

“Dấu chân ai” của Long Vân và “ai đi” của Tử vừa có vừa không, vừa hư vừa thực. Ai ở đây không chỉ là sáng tạo của nhà thơ mà còn là phải nhận được hồi đáp sáng tạo của người đọc.

Nói theo Jeon Bo Sam, viện trưởng viện nghiên cứu tư tưởng Han Yong-Un, thì: “Niềm im lặng ở đây không đơn giản là thiếu vắng tiếng động, mà đó là một tiếng kêu mới, vang ngân đến tận đôi tai của chúng ta”(3).

Tiếng kêu mới (un nouveau cri)! Phải rồi, đó là tân thanh của Nguyễn Du. Tiếng kêu mới của mọi nhà thơ xứng danh thi sĩ. Nhà thơ, đó là người biết tạo nên khúc tân thanh từ những niềm im lặng của con người.

Niềm im lặng ở đây là một nghịch lý. Niềm im lặng là cái ẩn giấu trong ngôn ngữ, là cái không nói ra. Và khi ta cảm nhận được niềm im lặng ấy rồi thì ta cũng sẽ tìm thấy một thứ ngôn ngữ ẩn giấu trong đó. Cái ẩn giấu là cái vô hình. Ngôn ngữ dừng lại trong im lặng để cái vô hình ấy lan dần. Từ đó mà niềm im lặng cất lên tiếng hát.

Thơ ca như vậy biến nhà thơ và người đọc trở thành kẻ chiêm nghiệm và trầm mặc.

Chúng ta có thể tìm kiếm niềm im lặng ấy qua những ngấn tích sau đây trong thơ Han Yong-Un là Hàn Mặc Tử:

– Niềm im lặng của Nim và Ai

Thơ Han Yong-un là cuộc trò chuyện bất tận với Nim. Đó là Nim bên trong tâm hồn ông. Nên cuộc trò chuyện ấy biến thành cuộc độc thoại nội tâm.

Hàn Mặc Tử cũng thường trò chuyện với một đối tượng trữ tình là Ai. Ai đó là người yêu dấu, là một hồn linh huyền bí mà cũng có thể là một cái tôi khác của nhà thơ.

– Niềm im lặng của Trăng và Thơ

Đây là niềm im lặng của thiên nhiên và cái đẹp. Hình ảnh thiên nhiên vừa phù du vừa vĩnh cửu, vừa bình yên vừa biến ảo luôn luôn được biểu hiện trong ngôn ngữ của hai nhà thơ. Và bản thân thơ ca, người thơ, bản thân cái đẹp cũng trở thành tiêu điểm trong cuộc hành trình của họ.

– Tình yêu của niềm im lặng

Niềm im lặng sâu thẳm nhất là cái chết. Đối với hai nhà thơ tâm linh này, cái chết không đối lập với đời sống. Hơn nữa, trong cái chết và im lặng có đời sống và tình yêu.

1. NIỀM IM LẶNG CỦA NIM VÀ AI

Tập thơ Niềm im lặng của Nim xuất hiện vào những năm 20 thế kỷ trước đáp ứng đòi hỏi của một thực tại đang cần một tiếng thơ mới ở Hàn Quốc. Tuy phong trào Thơ Mới đã được thiết lập từ năm 1908 với bài Từ biển cả đến trẻ thơ của Choe Namson, nhưng cả Choe cũng như các thi sĩ Chu Yohan, Kim Ok và Kim Sowol, dù sáng tạo nhiều bài thơ được mọi người yêu thích, cái trữ tình của họ vẫn thiếu chiều sâu tư tưởng, thiếu một triết lý giúp nó kết nối mộng và thực.

Với Niềm im lặng của Nim, Han Yong-Un đã giải thoát cho dòng thơ đương đại đang có nguy cơ tắc nghẽn bằng một thứ thơ tự do mới lạ, vừa trữ tình vừa tâm linh, vừa thực tại vừa huyền bí, mà chẳng cần mô phỏng các trào lưu văn học phương Tây. Tất nhiên, không phải tác phẩm của họ không chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Bản dịchGitanjali (Thơ Dâng) của R. Tagore phổ biến ở Hàn Quốc vào năm 1923 cũng như nhiều tập thơ khác của thi hào Ấn Độ đã gây cảm hứng nồng nhiệt; đó là thơ soi chiếu thực tại huyền bí bằng giọng điệu của tình yêu. Trong Niềm im lặng của Nim có thể nghe thấy dư vang của Gitanjali và Người giữ vườn.

Ở Ấn Độ, Tagore là một thánh sư (Gurudeva), còn ở Hàn Quốc, Han Yong-Un là một cao tăng, một thiền sư. Tập thơ Niềm im lặng của Nim với chín mươi bài thơ được soạn ra như để làm mới lại khái niệm Nim, một đại từ có ý nghĩa rất đặc biệt và biến hóa trong tiếng Hàn. Trong thơ tình, Nim là người yêu, bạn tình. Trong thơ đạo lý, Nim là minh chủ, là nhà vua. Trong thơ tôn giáo, Nim là Phật, Chúa, Vĩnh cửu.

Có thể nói NIM vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong tình yêu, là chính bản thân tình yêu. Do đó, đất nước, cuộc đời, cái linh thiêng… đều có thể gọi là Nim. Tùy trường hợp, có thể dịch Nim sang tiếng Việt là ngài, người, ai, anh, em…

Với Hàn, “đó là một điều ta ước vọng”.

Vậy thì Nim là du khách, ta là con thuyền:

Ta là con thuyền

Em là du khách

Em bước lên ta bàn chân bùn lấm

Ta ôm em mà thầm lặng băng sông

Khi ta ôm em, dù sâu hay cạn

Dù nước kia chảy xiết thế nào

Ta vẫn không ngừng vượt sóng…

(Bài 14)

Đó là một người khách huyền bí. Gần cũng như xa. Có mặt cũng như vắng mặt. Người khách của niềm im lặng. Ta là kẻ đưa đón, kẻ chờ đợi. Ta sẽ già. Còn người khách thì vĩnh cửu.

Người đọc có quyền nhìn thấy người khách như mình muốn, như bạn tình, như lịch sử, như lý tưởng, như thần linh… Và có thể đọc bài thơ như một độc thoại nội tâm.

Vậy thì, Nim là của ta nhưng Nim cũng thuộc về mọi người. Trong bài Ngộ nhận, Nim lại là một vầng trăng non đang lượn lờ trên cành cây cao. Và khi ta năn nỉ Nim hãy xuống đi cho thì nàng nói:

Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ

Phải đâu muốn từ chối lời anh mời gọi ngát thơm hơi…

(Bài 26)

Sau đó, vầng trăng non im lặng nhìn ta qua cửa sổ. Và trái tim ta run lên khiếp sợ.

Cuối bài Niềm im lặng của một người tình là một điệu buồn:

Tình ta đi rồi nhưng ta đâu muốn

Bài tình ca ta hát phong kín niềm im lặng của tình yêu

(Bài 1)

Từ đại từ NIM của Hàn Long Vân đến với đại từ AI của Hàn Mặc Tử dường như là một con đường của im lặng và đau thương.

Bắt đầu bằng một “ai” đầy quyền lực của tình yêu:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

(Những giọt lệ)

Kẻ mà có thể đày đọa tôi, ném tôi xuống “dưới trời sâu” chỉ có thể là nữ chúa của cõi tình.

Và đây là ai như một nghệ sĩ thượng thặng, sáng tạo từ lụa trời, chim bay, mây, lệ đến cô liêu, thu vàng, sao lạ… mà chờ đợi một tri kỷ là người thơ.

Lụa trời ai dệt với ai căng

Ai thả chim bay đến Quảng Hàn…

Thu héo nấc thành những tiếng khô

Một vì sao lạ mọc phương mô?

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?

(Cuối thu)

Niềm im lặng của mùa thu vừa được sáng tạo với bãi cô liêu, với buồn phơn phớt, với vắng trơ vơ, với cây mảnh khảnh được thể hiện qua “những tiếng khô”, những âm thanh khô, những điệu hát khô.

Rồi “ai” chính là hồn để tôi dắt đi chơi, dẫn hồn đi suốt đêm. Hai chúng tôi cùng im lặng, cùng gào thét. Gọi là chúng tôi nhưng nào biết ai là ai.

Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết,

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười,

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng…

Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức.

(Hồn là ai?)

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện

Trong lòng và đang tắm máu sông ta.

Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện,

Để nhìn em sắc mặt với làn da.

(Biển hồn ta)

Đó chỉ là một ảo giác? Không đâu, đó là một thứ “ai” chỉ có trong thơ Hàn Mặc Tử. Cái ai của đau thương tuyệt đỉnh. Làm sao vớt được cái đau thương? Với Tử, toàn bộ thực tại là đau thương.

Đến mức không còn ai hay ta nữa. Chỉ còn lại cái đau thương. Lẳng lặng, ngậm miệng, nín hơi.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng,

Không nói không rằng nín cả hơi!

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời

(Cô liêu)

Chỉ còn lại im lặng một vũng cô liêu. Không còn ai nữa. Người thơ như chưa từng ra đời. Ngôn ngữ trở về với im lặng, với trinh bạch, với cái chết.

Để chỉ còn lại âm thanh của linh hồn:

Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng

Rung tầng không khí, bạt vi lô.

(Cô liêu)

Cũng trong đêm cô liêu, nhà thơ Han Yong-Un cảm thấy:

Trên trời không có trăng

Dưới đất thì lặng gió

Cõi người ta im lặng

Cả tôi cũng vô hồn.

(Bài 6)

Cái đau thương của Hàn Mặc Tử và niềm im lặng của Han Yong-Un gặp nhau trong đêm cô liêu.

2. NIỀM IM LẶNG CỦA TRĂNG VÀ THƠ

Trăng là ánh sáng, là hào quang của thơ Hàn Mặc Tử. Trong một đêm xuân đầy trăng, nhà thơ cảm thấy thiên nhiên “giàu sang hơn Thượng Đế”.

Trăng là ngôi vị tối thượng trong thơ Tử. đó không còn là thơ nói về trăng. Đó là thơ viết thẳng lên trăng. Đó là ngôn từ hóa trăng:

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng…

(Đêm xuân cầu nguyện)

Dù thơ Hàn Long Vân không có nhiều trăng nhưng ông cũng hình dung trăng như là Nim của mọi người, một Chúa Tình. Ở đây, trăng chính là tình yêu:

Xuống đi em, ta sợ

Sao em cứ lượn lờ trên cành cao đó?

Vầng trăng non trên cành liễu cười nhẹ đáp:

“Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ…

(Bài 26)

Cũng có khi, Han Yong-Un hình dung trăng như một người tình nam nhi:

Vầng trăng chiếu sáng, em nhớ anh quá.

Năm trước, em thấy mặt anh như trăng:

Và đêm nay trăng hóa thành mặt anh đấy.

Bởi mặt anh là trăng, mặt em cũng thế…

(Bài 58)

Rất giống tứ thơ của Tử:

Không gian đầy đặc toàn trăng cả:

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

(Huyền ảo)

Người trăng ăn vận toàn trăng cả

(Say trăng)

Bỗng đêm nay, trước cửa bóng trăng quỳ,

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu…

Em, hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt.

(Hãy nhập hồn em)

Trong tâm trí cô liêu của Hàn Mặc Tử có ba ngôi tối thượng, đó là

TRĂNG – THƠ – TÌNH

(ĐAU           THƯƠNG)

Trong đau thương, ông sống với tam vị nhất thể đó, với ba nguồn mạch đó.

Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng,

Những sợi hào quang vạn thước vàng.

Bắt! Bắt! Thơ bay trong gió loạn

Để xem tình tứ nặng bao cân.

Tôi ước ao là tôi ước ao,

Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao

Như bông trăng nở, bông trăng nở

Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào.

(Ước ao)

Dường như trong thơ Han Yong-Un, theo tôi thì tam vị nhất thể nếu muốn có thể hình dung như sau:

NGÃ – TÌNH YÊU – VŨ TRỤ

(                   NIM                    )

Han Yong-Un từng viết:

“Niềm tin Phật giáo là một niềm tin vào ngã. Đó là một ngã thấu nhập vô số ngã khác, sự vật khác. Nói rõ hơn, mỗi người đều có khả năng cá thể hóa vũ trụ đồng thời vũ trụ hóa cá thể”(4).

Chính vì thế mà thơ ca Han Yong-Un vừa chan chứa tính siêu nghiệm tôn giáo vừa nóng ấm tính cụ thể lịch sử.

Cuộc đời, tôn giáo và thơ ca của Hàn Mặc Tử cũng vậy, được bọc trong một thứ ánh sáng rất lạ nhưng sống động niềm đau thương nhân thế rất thật:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,

Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực…

(Hồn là ai?)

Han Yong-Un cũng thể hiện rất thực một linh hồn đau thương:

Linh hồn tội nghiệp cháy trong lửa cuồng

Tìm thế giới mới trong niềm tuyệt vọng đóng băng

Ôi bông hoa sa mạc

Ôi trăng đầy của đêm không trăng

Gương mặt tình yêu của tôi ơi!

(Bài 33)

Cả hai nhà thơ dắt linh hồn đến đối diện với cái chết, với một ánh-trăng-không-trăng, với niềm im lặng, với THƠ.

Theo Han Yong-Un:

Hiện hữu của Tình yêu, cả đôi mắt và tâm hồn của Nim

  cũng không biết nổi…

Bí ẩn của Tình yêu thì chỉ có… giấc ngủ của Nim và mơ tưởng

 của thi nhân mới biết được mà thôi

(Bài 29)

Hàn Mặc Tử:

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca của Yong-Un và Tử có thể nói là một thứ thơ ca tự ý thức, một thứ thơ ca tự qui chiếu. Thơ và Người Thơ nhiều lần trở thành đề tài, trở thành hình tượng trong thơ ca của họ. thơ tự soi gương, tự phản ánh như châu ngọc trong lưới trời Đế Thích.

Hàn Mặc Tử viết:

Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,

Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên,

Người thơ phong vận như thơ ấy

Nào đã ra đời ngọc biết tên.

(Xuân đầu tiên)

Còn HanYong-Un:

Ánh tà dương như bàn tay ngọc đang mơn trớn lòng trời vô tận

Như gót sen vàng dạo biển vô biên, đó là bài thơ ai?

(Bài 3)

Thơ hay người thơ ở đây không chỉ là ngôn ngữ mà còn là im lặng. Hơn nữa, đó còn là hiện tượng của sáng tạo, hiện tượng của khởi nguyên, hiện tượng của vô tận.

Thơ của họ đầy những trầm tư mặc tưởng về bản thân hiện tượng thơ ca.

Đó là thơ của thơ.

3. TÌNH YÊU CỦA NIỀM IM LẶNG

Tình yêu của niềm im lặng là tình yêu của vô biên và vĩnh cửu. Đó cũng là tình yêu của cái chết, điều mà Han Yong-Un diễn đạt rất tinh tế như sau:

Hãy đến đây trong cánh tay em, bờ ngực em dịu mềm chờ đón.

Nếu ai đuổi bắt anh, hãy tựa đầu vào ngực em.

Dù dịu dàng như nước, nó là gươm vàng và khiên thép chở che anh

Dù ngực em có tơi bời dưới vó ngựa như hoa, mái đầu anh cũng

      không rơi khỏi nó…

(Bài 85)

Vào tận cái chết của cô gái cũng là một tứ thơ của Hàn Mặc Tử nhưng không phải là trốn lánh một kẻ đuổi bắt nào, mà “cốt để dò xem tình ý lạ”:

Xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc,

Cả một mùa xuân đã hiện hình.

Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi,

Chết rồi, xiêm áo trắng như tinh.

(Cô gái đồng trinh)

Và nhà thơ khám phá được điều gì? “Té ra nàng sắp sửa yêu ta”. Bí mật của cái chết ấy là có một tình yêu sắp sửa. Khi Nàng ngủ, Nàng chết thì như Nim của Han Yong-Un, đó là lúc bí ẩn của tình yêu mới thể hiện. Cả một mùa xuân đã hiện hình!

Càng đọc hai nhà thơ họ Hàn, càng thấy ánh sáng kỳ lạ của họ tương chiếu, một điều đáng kinh ngạc!

Tình yêu của niềm im lặng cũng có thể là tình yêu cách xa hàng thế giới, tình yêu của mộng, một tứ thơ rất quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử và Han Yong-Un.

Hàn Mặc Tử viết:

Anh đứng cách xa hàng thế giới,

Lặng nhìn trong mộng miệng em cười

(Lưu luyến)

Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưa?

Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa,

Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết.

(Đôi ta)

Một mai kia ở bên khe nước ngọc,

Với sao sương, anh nằm chết như trăng

(Duyên kỳ ngộ)

Với Han Yong-Un, tình yêu của niềm im lặng thể hiện bằng nghịch lý, những nghịch lý tựa công án Thiền:

Giọng nói em là “im lặng” chứ?

Khi em ngừng hát, tôi nghe giai điệu sáng trong hơn

Giọng em là “lặng im”.

 

Gương mặt em là “bóng tối” phải không?

Khi tôi nhắm mắt tôi lại, gương mặt em tôi thấy sáng ngời hơn!

Gương mặt em là “bóng tối”.

Cái bóng của em là “ánh sáng” ư?

Sau khi trăng lặn rồi, bóng em chiếu vào khung cửa tối.

Bóng của em là ánh sáng, em ơi!

(Bài 63)

Chỉ trong niềm im lặng, tình yêu mới có thể hiện lên như giai điệu không giai điệu và ánh sáng không ánh sáng. Niềm im lặng là một phương tiện thiện xảo để tâm truyền tâm.

Niềm nghịch lý ấy cũng phảng phất trong thơ Hàn Mặc Tử:

Càng xa nhau càng thấy được gần nhau

(Đánh lừa)

Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

Và trong tay nắm một nạm hào quang…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Niềm nghịch lý ấy gắn với thân thế của ông, chứng bệnh của ông đến nỗi ông từng gọi tập “Đau Thương” của mình là “Thơ Điên”.

Hàn Mặc Tử trải nghiệm đau thương bằng cả hồn lẫn xác, bằng cả điên lẫn tỉnh, bằng cả mơ lẫn thực. Thơ được phóng xuất ra từ đấy, được phóng xuất ra như thế. Trong ngôn ngữ và cả trong im lặng.

Nguồn thơ đó băng ra từ tiếng kêu thống thiết và lâm lụy của đời mà vẫn đầy yêu thương.

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca Han Yong-un biến niềm im lặng thành một ngôn ngữ mới, thành bóng tối, thành ánh sáng, thành tình yêu, thành cái đẹp.

Thế giới của hai nhà thơ tạo dựng bằng truyền thống tâm linh phương Đông lẫn phương Tây, bằng phương tiện thiện xảo và hình thức tự do của văn chương hiện đại, bằng tình yêu vũ trụ tương lai1

____________

(1) Francisca Cho (dịch và giới thiệu), Everything yearned for: Manhae’s poems of love and longing, Wisdom Publications,USA, 2005, tr.131, 132.

(2) Gerard Genette, Les Silences de Flaubert. Dẫn theo bản Anh dịch Madame Bovary, Bantam classic, 2005, tr.473.

(3) Jeon Bo Sam (giới thiệu), Le silence de Nim, Editions Autres Temps, 1996, tr.20.

(4) Nae ka mitnun Pulgyo (Những niềm tin Phật giáo của tôi), dẫn theo Francisca Cho, tlđd.

CHÚ DẪN

Tất cả thơ Han Yong-un trích dẫn trong bài viết đều do người viết chuyển ngữ sang tiếng Việt dựa vào các bản dịch Anh, Pháp sau đây:

1. Le Silence de Nim, bản dịch của Kim Hyeon-ju và Pierre Mesini, Editions Autres Temps, Seoul, 1996.

2. Meditations of the lover, bản dịch của Younghill Kang và Frances Keely, Yonsei University Press, Seoul, 1970.

3. Love’s silence and other Poems, bản dịch của Jaihiun Kim và Ronald B. Hatch.

4. Everything yearned for, bản dịch của Francisca Cho, Wisdom Publications, USA, 2005.

5. The silences of love, bản dịch của Sammy E. Solberg, The University Press of Hawaii, 1978.

Ngoài năm bản dịch Anh, Pháp trên, chúng tôi có tham khảo hai bản tiếng Việt:

1. Tìm hiểu tập thơ Niềm im lặng của tình yêu của Bùi Phan Anh Thư, trường Đại học Dân lập ngoại ngữ -tin học TP. HCM, 2002 (GV hướng dẫn: Phan Nhật Chiêu. Đây là công trình nghiên cứu và dịch đầy đủ tập Niềm im lặng của tình yêu đầu tiên ở ViệtNam).

2. Sự im lặng của tình yêu, bản dịch của Lê Đăng Hoan, NXB Văn học, Hà Nội, 2006. Dịch giả chuyển ngữ 80 bài, để lại 10 bài không dịch.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »