Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một 6th, 2012

Lâm Bích Thủy

Âu yếm. Tranh sơn mài.Phạm Lực

Từ trước tới nay, nói về “thơ tình” hay “mùa xuân” thì người ta chỉ nhắc tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh … chứ mấy ai biết đến tình và xuân trong thơ linh Lân tức Yến Lan của Bàn Thành tứ hữu của miền đất vang lừng thế võ.

Ai đâu biết, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ của nhà thơ Yến Lan. Những con suối tình đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ Yến Lan. Đầu năm đến với thơ tình và xuân của Yến Lan để rung động trước vẻ đẹp của non sông đất nước và tình người cũng là để nhà thơ dắt ta đi qua cuộc hành trình nhân thế với những nét tế vi của cuộc sống.
Đề tài về tình yêu văn học nhân loại “nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển” Đặc biệt là thơ mới 1930-1945 luôn choáng ngợp trong mọi cung bậc của tình yêu. Người ta cho rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác.” Đóng góp của ông trong mảng đề tài này là cái chất riêng khó gặp ở phong cách thơ khác cùng thời. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” từng đánh giá thơ Yến Lan “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích.”
Sắc xuân và tình yêu của linh Lân như những con suối âm thầm chảy cả một đời thơ:
Mây mãi sa đà đình núi cao
Chim say tổ ấm chẳng rời nhau
Nếu không ngọn suối ra sông lớn
Một chút tình quê biết gửi đâu”
Ơn suối

.

Thật vậy, nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu được nhận định “Vừa có cái cao khiết của tâm hồn vừa có cái cường tráng lành mạnh của nhục thể” thì tình yêu trong thơ Yến Lan rất chân thật trong cảm xúc bởi được bao phủ lớp sương khói bàng bạc, huyền diệu, thơ mộng. Cảnh vật, con người được ông tả hết sức bình thường nhưng được nhà thơ phủ lên không gian thơ một lớp sương khói của thời gian.
Ai về xóm Cửi năm năm trườc
Đều thấy em ngồi dệt đoạn tơ
Quanh em vàng tựa trời gieo xuống
Vàng ở trong màu xuân lắm thơ
Vàng
Hình ảnh đẹp của cô thôn nữ đang ngồi quay tơ, dệt vải bình thường nhưng hình ảnh bình thường ấy của cuộc sống được nhà thơ vẻ đậm nét huyền diệu. Người đọc được chìm trong không gian vàng huyền hoặc, nhẹ nhàng và thơ mộng
Không biết tự bao giờ, nỗi buồn đã đi vào thơ ca, trải dằng dặc theo cuộc sống nhân loại. Với Nguyễn Du đó là nỗi đau của đời: Trong “Kiều”
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Còn nữ sĩ Xuân Hương là nỗi buồn, ngán ngẫm cho duyên phận không trọn vẹn như mong ước (Tự tình)
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẽ tí con con
Xuân Diệu thì ngẫn ngơ buồn vì cô đơn bơ vơ, ngay trên mảnh đất quê hương
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Hàn Mặc Tử thì tái tê:
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)

.
Với tính cách hiền hòa, kín đáo và tế nhị, thơ tình Yến Lan không thể hiện sự đòi hỏi của ham muống mãnh liệt. Cả với nỗi buồn phải chờ đợi mỏi mòn Yến Lan cũng trải nó ra man mát:
Lầm lũi em đi chẳng nói năng
Vắng em anh cũng thắt buồng gan
Gần nhau hay phải xa nhau mãi
Mặt biển tình ta dải thẳng băng
Cam chịu

.
Tình yêu trong thơ ông dù dang dở, song không phải “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ Dzếch), bởi cái triết lý rất nhẹ nhàng mà thâm thúy của ông về qui luật cuộc đời:
Cái triết lý về thời điểm hạnh phúc cứ theo mãi kiếp người, dằn vặt, trăn trở. Cảm nhận về tình yêu thì nhẹ nhàng, trong sáng nhưng lại khắc khoải khôn nguôi
Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm
Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm
Một mảnh hồn ta còn đọng mãi
Trên vành nong úa sắc thời gian
(Mùa xuân này lạnh lắm em ơi).

.

Viết về tình yêu, Yến Lan thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền và bến”. Đó là hình ảnh trở đi trở lại như một bài ca dao, nhưng thơ Yến Lan vẫn rất mới, mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ. Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên; Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn luôn vận động, biến chuyển với cái triết lý riêng của nó. Đó là nỗi buồn về những cuộc tình dang dở, là nỗi khát khao được yêu âm thầm mà mãnh liệt, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:
Ta đang sống vì có người đã chết
Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa
Đời lớn nhanh và mạnh như bẹ dừa
Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ
Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ
Mơ giờ mơ của bao cửa không gian
Mơ hồn xuân như đã mở thiên đàng
Tôi sống khỏe và hoa hồn độ nở
Những giọt bông hường

.
Tình yêu đôi lứa trong thơ Yến Lan không dữ dội, cuồng nhiệt mà đằm thắm, thiết tha lắm!

.
Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng
Phải là ý ngọc, phải tim vàng
Phải là trọn vẹn, là trong sáng
Là một bài thơ khắc chữ nàng
(Đồng nội hồn tôi)
Còn thứ tình nào mảnh liệt hơn thế khi dòng trường giang không còn cuộn sóng và lòng người trở thành một bến đò của dĩ vãng, của ngàn năm đợi:

.
Em đi bờ bãi cũng theo đi
Sóng lặng trường giang trải phẳng lì
Từ ấy lòng anh làm cố độ
Câu thơ chờ đợi hóa chòm si
(Cố độ)

.
Quê hương trong mỗi người là sự mặc định của số phận. Người ta có thể có nhiều vợ, nhiều chồng nhưng quê thỉ mỗi người chỉ một mà thôi. Chính vì triết lý rất đời ấy, tình quê của Yến Lan không bao giờ đổi thay, không bao giờ chối bỏ.
Sống đời nô lệ, bị áp bức thơ ông thể hiện trạng thái “đau, ngơ ngẩn, sầu muộn, quặn mình, nức nở” đến tái tê trong “Bình Định vào năm 1935”.

.
Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở
Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi

.

Bao đời nay, thi sĩ yêu trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than. Không hiểu sao, chỉ riêng Bình Định quê tôi, vầng trăng lại phát ra thứ ánh sáng đến diệu kỳ, lạ lẫm, để các thi sĩ sinh ra trên dải đất này đều bị ám ảnh. Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn, trăng ở xa đến vậy mà ông đã sở hữu được  để rồi: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” Ông say ánh trăng như ma cà rồng say máu:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
Say trăng

.
Ánh trăng trong thơ Xuân Diệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người:
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi
………
Trăng sáng , trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ
Với Yến Lan trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó như chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

.
Trăng đi từ tóc đi vào máu
Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân
Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá
Như má yêu môi, đến đến gần
(trích)    Bệnh trăng
Bởi vì chỉ có mình ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc nâng niu vỗ về khi ông vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng dưới ánh trăng “Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng.. Từ đó ánh trăng là tình yêu là cội nguồn  Cho nên có hệ lụy là:

.
Từ thuở lên hai đã yêu trăng
Đã bồng đã ấp, đã nâng niu
Ban ngày tôi ngủ trong lòng mẹ
Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều.
(trích)    Bệnh trăng

.
Yến Lan đã nhẹ nhàng, đỉnh đạt bước vào làng thơ cùng “Bến My Lăng” với hình ảnh ông lái đò u buồn đợi khách trên bến sông đầy trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt bao năm, mãi đây vẫn còn ám ảnh lòng khách thơ.
Khi dòng thơ mới chiếm lĩnh trên văn đàn, các thi sĩ thi nhau làm thơ tình yêu. Thơ tình Xuân Diệu thật giản đơn và hời hợt “Đố ai định nghĩa được chữ yêu” Không ai trả lời nên ông giải bày tiếp “Có khó gì đâu một buổi chiều/Gặp người con gái ngây thơ ấy/Rồi thương, rồi nhớ thế là yêu” Có lẽ tình yêu quá đơn giản như thế nên cuối cùng cuộc tình của ông không trọn bề.
Tình yêu đôi lứa mấy ai đong, đo, đếm, diễn tả được, cho dù muôn vạn chiếc máy tính siêu hiện đại. Thời gian, mọi thứ trở nên bất lực nhưng tình yêu trong thơ Yến Lan thì không, nó trở thành vĩnh cữu……..

.
Dồn lên thành thạch nhũ
Lớp phấn -đá – tình – em
Cuồn cuộn như bão tố
Cơn gió lộng hồn anh
Thời gian vút mủi tên
Em kể gì năm tháng
Tảng thạch nhũ tan ra
Bên gối người sấp mặt
Cơn bảo cũng chan hòa
Con suối tình dào dạt
Tình yêu của nhà thơ thật giản dị, hạnh phúc khi cuộc sống thanh bình ở một vùng quê, lúc ông cháu dạo chợ ngày Tết cổ truyền khiến ông trở nên tươi trẻ hơn

Ta đến hàng đồ chơi
Ngựa gỗ chen gà đất
Xem nghệ nhân vẽ vời
Có đậm màu dân tộc
Ta đến hàng sứ, sành
Chọn bình hoa chậu kiểng
Vui còn chú môn sinh
Đem biếu chùm lan biển

.
Sắc màu mùa xuân, hương vị Tết tràn ngập trong thơ ông mặc dù xuân nhà ông đến muộn hơn:
Vụng sắm cành đào không kịp tết
Ra giêng chợt hé một vài bông
Xuân người lả tả bay đi hết
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng .
Xuân muộn

.

Ngoài sắc xuân, tình đời, tình người nhà thơ không ước mơ gì lớn, ông chỉ chọn cho mình cái quí hơn – đó là tình người :
Mơ một mùa xuân đẹp
Tình đời rộng bao la
Chớ vin nhà chật hẹp
Cổng khép người lại qua

.
Thơ tình của Yến Lan thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng tha thiết và nồng nàn. Thế mà đến giờ tôi chưa nghe ai nhắc một câu thơ tình nào của ông. Tiếc thật!…

Read Full Post »

Nam Hoài (Nguyễn Hoài Nam)

Mấy năm rồi, tôi vẫn vẽ đều, và tranh cũng đôi lúc bán được.

Tôi đã không biết đến một nhà phê bình nào cả, rằng tranh phải sao mới là hay, và thế nào thì bị coi là dở. Tôi chỉ vẽ vì phải sống, và đã sống được bằng nghề. Trước khi phải tốn tiền cho màu và cọ, tôi phải đi kẻ biển, vẽ bảng số xe, cắt chữ…

Ngày nay, bán được nhiều tranh chưa có nghĩa là hay, và cũng thế, tranh hay chưa chắc đã bán được.

Đúng là tôi vẽ chưa hay, nhưng tranh của tôi bán chạy. Tranh vẽ để đẩy đi nhanh, thì chỉ có loại hàng mỹ nghệ. Ừ thì tôi nhằm vào lớp những người mới vừa giầu lên. Họ mua tranh không phải để giữ lại làm của, chỉ vì treo lên thế mới sang, mới đúng kiểu phòng khách . Giá tranh vì vậy cứ đứng ở cái tầm ấy, dễ vẽ dễ mua. Người ta vẫn gọi là tranh chợ. Những tranh kiểu này, tiền làm khung còn mắc hơn tiền tranh.

Ơn trời, vợ tôi bây giờ không dám quăng đi những mẩu vẽ phác của tôi nữa. Em vuốt chúng lại cho thẳng, cẩn thận để lại trên giá vẽ . Lâu rồi, em không còn giục tôi phải đi ăn cơm cho đúng giờ, hay phải tắm liền đi không lại cảm. Biết tôi đã vẽ là lúc đang có hứng, dù ngày hay đêm, em cũng chỉ nhắc tôi: Anh bệnh rồi đó. Có chuyện gì lại khổ vợ con. Người ta có thể chưa khổ hẳn vì nghèo, nhưng sẽ khổ ngay nếu ngày mai chưa có tiền đi chợ. Gạo ăn đong là thế.

Vợ tôi đã bắt đầu hiểu một ít về tranh pháo, nhưng tôi biết chắc là từ bé đến giờ, trừ những bài phải học thuộc lòng thời đi học, chưa bao giờ em thích thơ cả. Cũng may, nghề vẽ coi vậy mà được hơn, vì văn thơ mà bị chê, bị “đánh” thì rồi có thể đau mà muốn chết đi được. Cái sự bị chê của nghề vẽ nó đến chậm hơn, khi ta chợt biết là mình dở thì đã già rồi. Tuổi già không cho phép ta buông bỏ cái gì, vì không còn kịp để làm lại một cái khác. Nên ta vẫn cứ tiếp tục dở như thế, y như cũ.

Bạn nói với tôi: ông yêu nghề, say nghề, làm nhiều, nhưng không có tài. Tiếc cho ông, nhưng cũng đừng nản, vì ông ở trong cái số nhiều. Cứ vẽ thế đi. Tôi cãi lại bạn: chưa làm được gì nhưng đã làm, thì là quý rồi, ông ạ. Ông cứ thử vẽ đi, như tôi xem.

Tranh vẽ để sống và tranh vẽ cho mình rất khác nhau. Họa sĩ vẫn có chốn riêng của mình, để làm cái mình thích, làm cái chưa làm được. Người ta sẽ phán rằng đó là cách để thoát vào một cõi khác, để trốn mình, và chỉ có mình ta nơi ấy, ta mới được là ta. Tôi chẳng trốn ai cả, nhưng sẽ làm vậy nếu hai tháng liền không nộp đủ lương cho vợ.

Nên bạn vẫn khen là tôi vẽ đều tay.

Đến một lúc nào đó, ta có thể muốn được nghỉ ngơi đôi chút. Và được làm thật cái mình thích. Nó là cái không bán được, và phải được làm khi không bị ai nhắc về cái nợ áo cơm. Thật không có gì thú hơn. Và tôi bắt đầu với chân dung tự họa. Người ta thường làm thế khi đã có một chút danh. Tôi không thấy xấu hổ về điều này. Khi đã là gì đó, đã nổi lên, ai cũng muốn để đời gương mặt của mình. Có thể không được nhiều người thích, nhưng ngày sau còn có cái để mà bàn. Thì tôi cũng đâu có ngại gì.

-Anh cứ vẽ anh đi, nhưng để cho xong thì em thấy còn lâu đấy. Tôi biết vợ thương tôi, tránh cho tôi phải nhớ là mình vốn xấu trai. Lại nữa, em sẽ không bao giờ nói là tôi chẳng có tài. Tôi biết vợ tôi luôn nhớ, là tháng này tôi sẽ phải làm xong cái gì, vì đã có đơn đặt hàng từ trước cả rồi. Vợ tôi chỉ sợ tôi sẽ bỏ thời giờ vào đó nhiều hơn cái mức cần. Và nồi cơm vì vậy cũng sẽ vơi đi. Nên tôi phải tạm gác lại cái mà tôi thích. Cái cần của tôi bây giờ là cái cần của người khác, của người đã bỏ tiền ra đặt tranh tôi . Áo tứ thân, nón lá, giếng làng, phố cổ, rồng phượng, hoa văn, gạch non gạch già, loằng ngoằng thư pháp…

Vậy là tôi đành để “tôi” lại đấy. Tôi vẽ “nàng”.

…Trong đời, có nhiều lúc ta lẫn lộn về thời khắc. Tôi không nhớ được là ngày ấy hay bây giờ, đang buổi sáng, hay chiều tối. Tôi chỉ thấy là mình đang sung sướng. Nàng của tôi mặc áo dài. Bao nhiêu đó là đủ để tôi vẽ không biết mệt. Tôi như nghe thấy từng giọt nhỏ mồ hôi đang lăn nhẹ trên cổ em.

Áo dài thật khó vẽ . Vì chính nó luôn đẹp, bút mực đã khó tả nổi, thì cọ vẽ càng khó hơn. Đó là cái cuốn hút từ dưới lớp vải mỏng của cái quần dài.

Tôi đưa cây cọ qua lại mà chưa bắt đầu gì cả, dấu không cho em biết là tôi đang ngắm em. Phải thuộc từng nếp gấp, để rồi sau đó chỉ vẽ bằng trí nhớ thôi, mới lột được cái thần. Bây giờ em đang có hình hài mà như không có. Và tôi chỉ cần cái cảm nhận này, đủ để phác được thật nhanh chân dung em. Trong một lúc, tôi quên là không cần phải cố nhiều đến vậy, vì tranh chợ đâu cần phải quá hay. Không, tôi phải vượt qua cái ngưỡng đó. Tôi không muốn là tới lúc này, tôi vẫn đứng ở chỗ của họa sĩ hạng hai.

Diễm nghiêng đầu nhìn tôi, nói như thật:

-Em biết tỏng anh ra rồi.

Tôi vẫn im lặng. Đừng làm rối anh.

Nhưng Diễm luôn là người không vừa:

-Em biết anh cũng chẳng sắt đá gì …

Đã bảo mà. Chẳng người mẫu nào nhiều lời như em.

-Anh có tin là anh coi cũng được không. Có nét đấy. Em mà vẽ anh, thì ối người phải mất tiền. Coi kìa, cái mặt khó đăm đăm, cá tính đấy. Em thích.

Diễm cứ lấp lửng, chẳng biết em thích tranh tôi hay là thích tôi. Nhưng tôi là người biết sợ. Vì ai mà phải có cái mặt khó nhìn vậy, thì em biết rồi. Trước mặt Diễm, tôi mà tỏ ra bắt được của là chết chắc. Diễm có biết là mỗi ngày, người nào vẫn hỏi anh: sắp xong chưa không. Kỳ này, cả hai con đóng học phí một lần đấy anh ạ. À, xăng lên tới mười chín ngàn rồi.

Ừ, nhớ rồi vợ ạ. Thì đang vẽ đây mà.

Diễm vẫn không chịu ngừng lại:

– Anh. Hiếm gặp đấy. Nếu không rung lên, thì sẽ chẳng bao giờ làm gì được đâu.

Bực quá. Cây muốn lặng rồi, sao gió chẳng đừng. Nếu không có bà ấy ở đây, thì đừng bảo là anh nhát. Nhìn tôi, Diễm hiểu ngay tôi định nói gì:

– Chị ấy đi rồi. Cứ tin em đi. Vì hôm nay em bận đồ, có nude đâu mà lo.

Em thêm:

– Mà có gì thì vẫn có sao. Cùng lắm thì là yêu chứ gì.

Thôi, hay là anh đừng vẽ áo dài nữa. Áo tứ thân – nhưng hai dây, e ấp, hay hơn nhiều, new, lại dễ bán.

Chẳng cần đợi ý của tôi thế nào, em đã có ngay cái mẫu mới. Mẫu này biểu cảm hơn nhiều, nên họa sỹ tôi cũng phải theo đà thôi. Dựng hình thì lâu, chứ xóa đi thì chỉ cần cái cọ lớn. Tôi liền có một bản phác mới.

Diễm lại nói, tôi không biết em đọc ở đâu ra, cái chuyện mà chính tay trong nghề như tôi mà chưa từng biết:

– Tại sao đặt tên tranh là “Nụ hôn” mà chỉ vẽ có một mắt, vì khi ấy còn thấy gì nữa. Con mắt còn lại vẫn phải mở, để trông chừng xem liệu có ai thấy không!.

Diễm đã không còn ngồi ở đó từ lúc nào.

-Để em thử, xem anh còn thấy gì. Chán anh.

Liền đó tôi bị ngạt thở. Tôi đã không biết sau đó mặn ngọt thế nào, thấy hay không thấy, là đêm hay là ngày… Tôi như bị kéo tuột xuống , một nơi nào sâu lắm. Tôi trôi như thế mãi mà không thể thoát ra được. Thà rằng chạm tới đáy cho rồi đi, cứ rơi mãi thế này thật không chịu nổi.

Bỗng nghe giọng ai thật quen :

– Em, em nào?. Con nào?.

Trước khi bị chết ngạt, tôi còn kịp la lên : Không phải tôi. Cái tật tôi quen chối . Chẳng biết ất giáp thế nào, cứ chối đã. Chính Mậu tiên sinh đã dặn kỹ: Tốt nhất là đừng nhớ tên ai, cứ gọi chung là em.

Tôi gạt cái chân của vợ đang đè nặng lên cổ tôi, và kịp biết lúc này đã gần sáng rồi. Anh mơ gì mà không la cho to hẳn lên, cứ em em trong cổ họng. Tôi hiểu ngay là đã sơ sẩy vừa gọi tên ai rồi. Tôi đã mơ như thế, và còn nhiều nữa, nhưng tôi sẽ không kể ra hết đâu.

Thế. Đừng hòng bắt vở anh. Tôi cười để khỏi phải trả lời. Sao thì em biết rồi, còn phải hỏi. Em, có thể là mai lan cúc trúc, cũng có thể là vợ anh.

– Em!

-Ừ. Vợ tôi tỏ ra rộng lượng:

-Anh làm em sợ. La cứ như bị chết đuối ấy.

-Thì em bỏ nốt cái chân kia ra.

…Tôi không có ý còn muốn nằm nán lại, để khỏi bỏ dở cuộc mơ. Vợ tôi đã đi ra, tôi nghe không lầm, là em đang đọc thơ:

Những nỗi buồn

không chịu gọi tên …

Em làm thơ từ khi nào vậy. Nhưng đó thật là một gợi ý hay. Chắc em đang tính chép nó vào đâu đó, không thì lại quên. Dào, già rồi còn thơ thẩn …

…Sáng hôm sau, tôi thấy cái vỏ thuốc lá mà tôi mang về hồi hôm, được vợ tôi đặt ngay ngắn trên giá vẽ. Ngoài vỏ bao có những dòng nguệch ngoạc của tôi, viết trong lúc chưa say: Những nỗi buồn không chịu gọi tên.

 

 

namkts57

Read Full Post »

Đa mang này tên anh

Trần Mai Hường


Thế là xa…

Gío lạc giọng hỏi những điều cắc cớ

Gío vô tâm thả muôn ngàn lát vỡ

Nỗi buồn dài như sông…

.

Có những lúc em không hiểu nổi mình
Không hiểu tại sao hôm nay đất trời bất thường đến vậy
Và hình như…
Hình như có gì trỗi dậy
Nảy xanh mầm tương tư…

.

Em đã đằm mình vào đám lục bình biếc tươi kia
Giấu run rẩy suốt một chiều nắng mỏng
Anh làm sông cuộn khát khao thành sóng
Vây bủa lục bình em

.

Có một bài thơ bất chợt ghé trong đêm
Đêm rộng lắm
Thơ mong manh quá đỗi…
Em xô lệch giữa điệp trùng dấu hỏi
Đa mang này tên anh.

Read Full Post »