Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai, 2011

Chào 2012

Năm 2012 đã đến trước thềm nhà, . trong thời khắc đặc biệt này xunau.org xin gửi lời chào thân ái và sự biết ơn chân thành đến bạn đọc bốn phương và quí thân hữu đã hết lòng ủng hộ cho sự phát triển của website Xứ Nẫu trong thời gian vừa qua.

Thay mặt ban biên tập xunau.org ,chúng tôi xin chân thành kính chúc quí vị và gia đình một năm mới  Hạnh phúc- An khang -Thịnh vượng.

Thân kính

 

Read Full Post »

 Từ thành phố Quy Nhơn (Bình Định), bạn chỉ cần thuê một chiếc xe máy và đi chừng 20km là đến đô thị cổ Gò Bồi (thôn Gò Bồi, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, Bình Định), nơi ghi dấu nhiều trầm tích văn hóa của người Chăm-pa, người Việt và người Hoa (người Minh Hương)…

 
Bến sông Gò Bồi.
Khi đi thăm Gò Bồi, bạn chớ vội ăn sáng. Trên đường đi hãy ghé quán Bà Năm (ở thôn Mỹ Cang, xã Phước Sơn) để thưởng thức món bánh xèo tôm nhảy. Là một “thương hiệu” nổi tiếng ở Bình Định nhưng quán bánh xèo Bà Năm không treo biển hiệu nên bạn nhớ hỏi thăm người dân ven đường. Quán giản dị là thế dù một hay nhiều người ăn bao giờ cũng có 4 người phục vụ, phục vụ xong bàn này mới đến bàn khác. Cảm giác chờ đợi cũng làm tăng thêm vị ngon cho món ăn bởi khách ăn đến đâu bà Năm mới đúc bánh  đến đấy.
Đô thị Gò Bồi hình thành từ năm 1610, khi người Hoa đến đây lập phố buôn bán. Qua thời gian, Gò Bồi không còn như xưa nhưng bóng dáng đô thị cổ vẫn lẩn khuất đâu đó trên những mái ngói rêu phong, trong mỗi công trình xây dựng và cả lối sinh hoạt bình dị của mỗi người dân nơi đây. Vùng đất này là nơi gắn liền với tuổi thơ của hai nhà thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử. Khi ghé thăm nhà tưởng niệm Xuân Diệu (tại làng Tùng Giản, xã Phước Hòa), bạn sẽ được xem nhiều hiện vật gốc rất quý về nhà thơ như những tập thơ nổi tiếng, những bài tiểu luận, phê bình… Tiếp đến bạn nên đi thăm tháp cổ Bình Lâm (thôn Bình Lâm, xã Phước Hòa), một ngôi tháp do người Chăm xây dựng có kiến trúc được cho là xưa nhất ở Bình Định. Điểm đến tiếp theo của bạn là câu lạc bộ võ cổ truyền ở chùa Phước Long và sau đó là viếng mộ, tham quan nhà lưu niệm danh nhân Đào Tấn.
Sau khi thăm hầu hết các di tích ở Gò Bồi, trên đường về bạn đừng quên ghé thăm Tiểu chủng viện Lòng Sông (ở thôn Sanh Phương, xã Phước Sơn). Đây là một tu viện được xây dựng gần 200 năm trước, có kiến trúc Gothic trầm mặc, cổ kính nằm giữa vùng quê sông nước và ruộng đồng mênh mông. Phần chính diện của nhà thờ được trang trí bằng những ô đối xứng, các hoạ tiết trang trí và cổng vòm nhọn quen thuộc trong lối xây dựng kiến trúc thánh đường này. Nằm đối xứng với thánh đường là hai toà nhà xưa kia dành cho các tu sinh, được xây dựng mang đặc trưng kiến trúc kiểu Pháp.
Và cuối cùng, nếu bạn xây dựng cho mình và bạn bè một tour du lịch tại Gò Bồi thì đừng bỏ qua các món ăn truyền thống của vùng quê này như nem Chợ Huyện, bánh hỏi, bánh ít lá gai, các món cá đồng…
Hoàng Trọng
Nguồn: An ninh Thủ đô

Read Full Post »

Sáu Bẹo

Truyện Ngắn

Mang Viên Long

 

Picasso, Người đàn ông đội mũ

 

 

 

 

 

      Khi học đến lớp ba trường làng – năm 1957, Sáu Bẹo mới có ý thức rõ ràng hơn về cái tên “ Bẹo “ không đẹp của mình! Trước đó, dù lũ bạn thường chọc ghẹo – ngay trong lớp học, đôi khi thầy cô cũng lấy làm lạ về cái tên “ Bẹo “ khó nghe, vô tình hỏi – nhưng Sáu Bẹo chỉ tủm tỉm cười, rồi lãng tránh! Sáu Bẹo thường nghĩ: Nếu cha mình lúc ấy thay dấu “ nặng” ( Bẹo ) thành dấu huyền ( Bèo ), dấu “sắc“ ( Béo ) hay dấu “hỏi” ( Bẻo) thì cũng không thể hơn! Sáu biết cha cũng là thầy dạy học ở sơ cấp, có vốn chữ Hán được ông nội Hương Kiểm chỉ dạy, nhưng sao lại hết chữ để đặt tên cho đứa con trai duy nhất của mình đứng sau ba người con gái toàn là tên đẹp vậy ( Thanh Trúc, Cẩm Hương, Thiên Lý)?

       Sáu Bẹo cảm thấy ngượng ngùng khi hỏi cha – nên hỏi mẹ: “ Sao mẹ đặt tên cho con ai ai cũng kêu xấu cả vậy? “ – “ Vì con là cháu nội đích tôn, nên ông nội đã đặt cho con, mẹ không dám cải! “.  Một lần, Sáu Bẹo mạnh dạn hỏi cha: “  Cháu nội đích tôn phải đặt tên xấu vậy hở cha? “- “ Không phải cháu đích tôn là phải đặt tên xấu đâu! ““ Nhưng sao tên con kỳ vậy? ““ Vì ông bà nội quá thương yêu con nên đặt vậy thôi ba cũng không dám trái lời ““ Mẹ bảo không dám cải, cha  cũng không dám trái lời, con không hiểu sao ông bà nội kỳ lạ vậy? “ – “ Ông bà nội chỉ có mỗi mình ba là trai, ba cũng chỉ có con là trai – nên ông bà “ sợ “ đặt tên đẹp sẽ khó nuôi, thấy con thường nũng niu khóc đòi nên gọi là “ Bẹo “ – thằng cu Bẹo, nghe cũng dễ thương mà! “

        Lớn lên, học qua bậc trung học đệ nhất cấp, Sáu Bẹo không còn dịp để nghĩ về cái tên của mình nữa, vì đã nghỉ học. Đó là vào năm sau vụ đảo chánh lật đổ gia đình ông Ngô Đình Diệm 1963 – quê của Sáu Bẹo chộn rộn, cuộc sống cũng thay đổi, ngày càng thêm khó khăn – còn Sáu Bẹo thi vào khóa sư phạm cấp tốc không đổ, nên Sáu Bẹo phải nghỉ học. Ba năm sau, trúng tuổi lính, Sáu Bẹo được dưa vào trường hạ sĩ quan Đông Đế, ra trường với “ cánh gà “ ở vai áo, binh chủng thiết giáp. Năm 68, sau biến cố Mậu Thân – cha Sáu Bẹo gọi về cưới vợ – là cô Hương, đang làm cô đỡ hương thôn ở xã. Không đẹp nhưng có duyên thầm, giỏi giang, mạnh khỏe, có tay nghề vững vàng được bà con trong xã thương mến. Ông Hương Kiểm cưới vợ cho Sáu Bẹo là muốn cột chân Sáu lại, nhưng Sáu cứ lần lữa, hẹn dịp…Tình yêu trong buổi giao thời chưa đủ sức nặng để níu chân Sáu Bẹo lại chăng?

          Năm 1970, Hương sinh đứa con gài đầu lòng. Sáu Bẹo mãi dong ruỗi trên chiếc xe bọc thép tận miền rừng núi Dakto; đã gởi thư về dặn đặt tên “Mận”.  Ông còn dặn thêm : “… Em đẻ được đứa nào, cứ lấy tên cây trái trong vườn nhà mình mà đặt tên nhé? “. Chiến tranh ngày càng lan nhanh, khốc liệt – cha Sáu Bẹo nhiều phen bảo Sáu Bẹo đào ngũ, nhưng phải đợi đến năm 72, khi Hương sinh đứa con gái thứ hai ( đặt tên Đào ) – không có Sáu Bẹo ở nhà, Sáu Bẹo mới trốn về.

            Hương rất mắn đẻ, sau Đào là cậu con trai trường. tên là Lê. Sau Lê, cứ cách hai ba năm, Hương lại đẻ lên tiếp thêm bốn cậu con trai nữa: Cam, Lựu, Chanh, Quýt. Quýt – cậu con trai út, sinh vào năm 83 nhưng trong 7 người con ( cả trai và gái ) chỉ có Mận và Lê là rất giống Sáu Bẹo; còn năm người con kia – mỗi đứa một khuôn mặt! Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như “ cắt để “ vào, không lẫn vào đâu được.  

             Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi. chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải  là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ – chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi! “.

           Mấy bà ở xóm Thượng Tây được dịp ngồi tụm lại lúc rảnh rổi để tám chuyện về mấy đứa con của Sáu không dứt : Đứa nào giống cha phó chủ nhiệm hợp tác xã, con nào giống ông công an thôn, thằng nào giống gã nào vân vân – đôi lúc nói ngay trước mặt Hương và Sáu Bẹo nữa, nhưng Sáu chằng hề để tai vào. Hương thấy chồng thản nhiên trước mọi lời dị nghị, dè bỉm, cũng lặng yên theo Sáu không tỏ thái độ gì. Có phải vì e sợ bà con dòm ngó, theo dõi – mà Hương đã chỉ sinh cho mỗi người một đứa con thôi? Năm đúa con – là năm người, năm khuôn mặt khác nhau?    

Khi Sáu Bẹo cưới vợ cho Chanh – làm sui đám thứ sáu, ở làng Hạ Đông – người con dâu kề út nầy đi đâu cũng bị mấy bà ở chợ Xổm níu áo, kề tai nói nhỏ: “ Cha chồng mày đâu phải là Sáu Bẹo! Là ông Tám Hùng ở cuối xóm đây này! Mày ghé thăm, rồi xem thử có giống thằng Chanh không nhé? “. Vợ Chanh im lặng, về nhà thủ thỉ với chồng: “ Anh ơi! Em đi đâu cũng nghe mấy bà nói anh không phải là con của cha đây – mà là…”. Chanh vừa nghe vợ nói – gạt phăng đi: “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác! Nếu có, cũng là quân bạc tình, đểu giả!”.

             Sáu Bẹo ngoài việc đi làm thuê hằng ngày, và Hương có mặt ở trạm xá một buổi – hai vợ chồng còn làm thêm tám sào ruộng. Cả hai cùng ra đồng, sạ lúa, làm cỏ, tát nước – rồi đến mùa thu hoạch cùng nhau cắt và gánh về, ít thuê mướn ai. Buổi trưa,  cần ở lại ngoài ruộng, Sái Bẹo thường là người chạy về nhà mang cơm nước ra cho vợ. Có hôm, để dành được chút ít – ông ghé chợ Xổm cuốn thêm cho Hương một cuốn bánh xèo, hay cuốn thịt trứng . Có bà trông thấy, tọc mạch hỏi : “ Hai vợ chồng mà cuốn một cuốn thì ai ăn ai nhịn vậy anh Sáu? “ . Sáu Bẹo cười hà hà: “ Tôi đâu thèm ăn ngữ này? Nếu ăn, thì tám cuốn cũng không đủ mà! “. Lúc cầm cuốn bánh ra đi, Sáu Bẹo nhỏ giọng: “ Đàn bà sinh đẻ khó khổ, mất sức lắm. Ngoài trạm ngoài đồng về là lăng xăng lo cơm nước, quêt dọn, gà heo. Đêm đến, con đau – con khóc, phải thức ẵm bồng… Còn đàn ông ấy à? Về đến nhà rửa chân tay xong là leo phóc lên võng nằm toòng tengNhà con đông vậy, bà ấy có gì mà ăn thêm đâu?”.

              Chuyện Sáu Bẹo chạy đi cắt bè lá chuối quấn trên lưng Hương cho mưa khỏi ướt khi cùng đi làm ngoài đồng bất chợt cơn mưa dông ập đến, đã được mấy bà Xóm Thượng Tây truyền đi nhanh chóng khắp xã!

Và, dường như là “phóng viên nhà nghề” – chuyện nhà của vợ chồng Sáu Bẹo luôn được mấy bà xóm Thượng Tây dòm ngó. Nhỏ to – “ cập nhật “ hằng ngày. Ngay chuyện Sáu Bẹo mới ăn giỗ tối qua về, say – thốc mữa cả nhà; Hương đã nhẹ nhàng săn sóc Sáu Bẹo ra sao, lau dọn nhà cửa sạch sẽ thế nào, treo mùng cho Sáu Bẹo ngủ v v v – cũng đều được mấy bà bàn tán một cách hăng hái.

              

 

 

 

 

              Khu vườn rộng lớn, cùng với ngôi nhà từ đường dòng họ Võ được vợ chồng Sáu Bẹo và các con, cháu chăm sóc rất chu đáo.  Những ngày giỗ, kỵ – Hương và đám con – dâu. rể – cháu nội ngoại – đều chung lo tươm tất, trang trọng. Sáu Bẹo chỉ làm một việc là mặc áo thụng xanh lên đèn, rót trà – lễ cúng.  Sau ông, lần lượt đến Hương, các con trai, gái rể, dâu – cháu nội ngoại răm rắp thứ tự dâng hương ông bà…Ông bà đang ngồi ở trên cao chắc cũng không ngờ trong đám con cháu ngoan ngoãn, lễ phép ấy, có đứa không cùng huyết thống với mình? Mà có cần cùng dòng máu nhà họ Võ không? Sáu Bẹo cũng không hề thắc mắc, và luôn tin rằng – tình thương yêu của chúng sẽ cảm hóa được vong linh người mất hơn là người cùng dòng máu mà tẻ nhạt, thờ ơ – chỉ lo làm giàu, chẳng nghĩ gì đến ông bà, cha mẹ?!

                 Ngoại trừ Đào có chồng xa, theo về nhà chồng ở Vinh Thạnh – mấy người con còn lại, Sáu Bẹo đều chia cho một khu đất trong vườn, xây nhà – chia sẻ vật dụng sinh hoạt như nhau. Không đúa nào hơn đúa nào cả. Ai làm thêm có tiền, muốn mua sắm gì, tùy ý. Do vậy, mấy anh chị em sống quanh quẩn bên nhau, yêu thương, chia sớt cho nhau – như lúc còn sống chung một nhà. Bà con cả xómThượng Tây nhìn vào, dần dần cảm phục, không còn bàn tán ra vào chuyện con cái của Sáu Bẹo nữa! Sau thằng Quýt, bà Hương không còn sanh thêm đúa nào. Bảy đứa con – một đời đàn bà, đã khiến bà tự cảm thấy quá đủ chăng? Riêng Sáu Bẹo – có lần nói đùa với vợ : “ Vườn nhà ta còn nào Ổi, Xoài, Mít…sao bà không sanh thêm cho vui? “

             Sau ngày đám cưới Quýt – làm sui đám cuối cùng, chứng đau tức bên ngực trái thường xuyên hơn, kéo dài lâu hơn – Sáu Bẹo phải nghỉ hằn ở nhà, không đi nhận việc làm xa nữa. Mận nói : “ Cha nên nghỉ bớt việc đi! Lũ con lo cho cha được mà! “. Lê – trưởng nam, thường lập lại: “ Đời cha đã khổ nhiều vì các con rồi! Cha còn khỏe ngày nào, hưởng vui ngày đó. Mai kia, đau nặng, nằm xuống – còn vui thú gì đâu? “. Quýt thêm vào: ” Lúc ấy, cha còn có ăn uống được gì nữa đâu? Mà có muốn ăn, cũng đâu ăn được? Có muốn đi chơi xa, thăm bạn bè, cũng đâu có ngồi xe được nữa, mà cha ham công tiếc việc? Cha còn sống khỏe bên tụi con ngày nào, là mừng còn hơn cho vàng mà! “. Cô dâu thứ ba – vợ của Lựu, cũng góp ý: “  Bây giờ cha còn ăn uống được, không cho ăn. Mai kia cha đau nặng, ăn làm sao? Có cúng giỗ linh đình, cũng chỉ để che mắt thiên hạ mà thôi!”

              Sáu Bẹo nghỉ việc vì theo dõi biết sức khỏe của mình hao mòn dần, bệnh tim trở nặng hơn – chứ chẳng phải vì những lời can dán, an ủi của các con. Cũng từ dạo ấy – các con Sáu Bẹo luôn dành cho ông sự quan tâm chăm sóc đặc biệt: Khi thì mấy lạng thịt bò, chục trứng vịt lộn, cuốn bánh nem chả,  lát cá thu, và trong túi ông thường xuyên có tiền để chi dùng tùy ý! Đứa con nào gởi cho gì – ông cũng đều nhận, không quan tâm ít nhiều, không hề từ chối. Sáu Bẹo thường nói với hàng xóm: “ Con chúng thương gởi cho gì, thì nhận cho chúng vui. chứ tôi đâu thèm ăn món gì nữa? Cơm rau mắm cho chắt ruột thôi…”. Mà thật vậy, sau khi các con đi rồi – Sáu Bẹo đưa hết cho bà Hương. Ngay cả cuốn bánh dành cho riêng ông. Nói: “ Bà đi chợ mua thứ gì cũng được miễn bà thích, về ăn! Tôi không thèm thứ gì đâu! “. Ông chìa cuốn bánh ra trước mặt Hương: “ Bà ăn giùm tôi cuốn bánh này đi! Tôi chỉ cần rau mắm, hay dưa cải kho thịt ba chỉ là ngon lắm rồi! Tôi không ưa mấy món này…” – Ông thường dặn khi bà cắp rổ đi chợ: “ Hôm nào có mắm cua ngon, bà mua cho tôi một chai, ăn với rau lan luột nhé?  Còn bà ra chợ, có bún giò cháo lòng gì ngon thì nên ăn để khỏi mất công mua về nấu nướng phiền lắm! “. 

              Sau khi Sáu Bẹo bị cơn đột quỵ bị ngất xỉu phải chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu, các con ông đề nghị đưa ông vào viện tim thành phố – để giải phẩu, ông quyết không chịu. Ông trả lời con: “ Ba già rồi, sống thêm vài ba năm – đâu có ích gì mà các con phải mất cả trăm triệu bạc trong lúc còn khổ vậy?  Chi bằng, các con để dành – sau này cha có mất đi – có mà lo cho các con. lo cho mẹ để bà ấy đỡ khổ! Bà ấy đã khổ vì các con nhiều rồi. mà vắng cha – ai chăm sóc cho mẹ con đây “.

             Mấy anh chị em Mận bàn tính nhau, thuê một chiếc xe 12 chỗ ngồi – mời Sáu Bẹo và mẹ đi chơi một buổi. Sáu Bẹo nghe vậy – cười: “ Các con cho cha với mẹ mầy đi thăm lăng Quang Trung, thăm cầu Nhơn Hội, thăm chùa Long Khánh rồi về”.  Sáu Bẹo ngồi trước xe, nhìn ngó quang cảnh, cảm thấy sự đổi thay trong bao nhiêu năm thật xa lạ, và nhanh chóng, mà nghĩ đến đời người. Cuộc đời đổi thay cũng thật nhanh chóng!

             Sau ngày đi chơi xa vài hôm – một buổi sáng sớm, khi ăn xong bát cháo đậu xanh bà Hương mang vào buồng – Sáu Bẹo gọi: “ Mẹ con Mận ơi! “

–         Có chuyện gì vậy ông?

–          Có chút chuyện…

–         Mà chuyện gì? –  bà Hương đon đả bước vào buồng, ngồi yên trên chiếc dựa dựa vẫn dành cho bà mỗi lần vào chăm sóc, trò chuyện vời ông. Nhìn gương mặt Sáu Bẹo xanh tái.

–         Bà gọi hết mấy đứa nhỏ về gặp tôi, bà nhé?

–         Lại có chuyện gi?

–         Có chuyện – Giọng Sáu yếu dần, ông cảm thấy hơi thở nặng nề, chùng thấp.

            Chưa có đứa nào ra khỏi nhà đi làm – nên chỉ nửa giờ sau, là đã có mặt trong buồng ông đầy đủ. Riêng Đào, khi nhận được điện của Lê đã hẹn sẽ nhờ xe thồ chở về ngay vì chuyến xe duy nhất từ VĩnhThanh về thành phố chưa đến giờ khởi hành.

            Có lẽ nghe được tiếng ồn – Sáu Bẹo hé mở đôi mắt lờ đờ, liếc nhìn một vòng hết thảy đám con cháu. Ông khép mắt lại. Gắng giữ hơi thở đều. Bàn tay mặt áp lên ngực trái.

  –   Các con đã dủ hết chưa?

               –   Dạ, đủ hết rồi! Bà Hương đắp khẻ.

               –   Thằng Lê đâu?

               –   Thưa, có con đây…

               –   Con bưng ảnh cha đi trước nhé?

               –   Dạ !

               –  Thằng Hưng con mày và thằng Tấn con thằng Cam đi hai bên, một đứa bưng khay hương đèn, một đứa bưng khay hoa nước…

               –   Dạ!

               –   Con trai, cháu trai đi bên trái quan tài..

               –   Dạ!

               –   Con  gái, cháu gái đi bên phải quan tài…

               –   Dạ!

               –   Mẹ mày đi sau sát quan tài…

               –   Da!

               –   Tất cả không được khóc…

               –   Dạ…

               –   Các con nghe rõ chưa?

               –   Thưa rõ…

               –   Ngay từ bây giờ, các con – các cháu, hãy niệm Phật đi! Cha  sắp đi đây, ông đi đây…

                Sáu Bẹo nhếch môi – dường như một nụ cười. Nét mặt bình thản.

–         Vĩnh biệt bà, Hương ơi! – Sáu Bẹo khẻ hé mở đôi mắt, rồi từ từ khép lại…

         Tiếng niệm Phật của đám con cháu Sáu Bẹo rền vang – khơi động một góc xóm Thượng Tây còn yên tĩnh…

 

 

 

         Mặc dù Sáu Bẹo đã vắng bóng trong ngôi nhà này, nhưng với bà Hương – Sạo Bẹo vẫn còn đó. Ông vẫn còn nằm toòng teng trên võng, ngồi xếp bằng trên tấm phảng uống trà, hay cùng bà ngồi ăn nơi chiếc bàn vuông nhỏ nhắn kia…Mỗi sáng, bà đều dậy thật sớm – chạy đi mua khi bánh hỏi, bánh ướt, bánh xèo – khi thì tô cháo, hộp xôi; về đặt ở chiếc bàn vuông trước bàn thờ Sáu Bẹo – thắp hương, mời ông ăn. Bà cùng ngồi ăn với ông cho đến hết bữa. Phần trong chén Sáu Bẹo – bà ăn sau cùng. Trước khi dọn mâm thức ăn, bà đốt cho ông điếu thuốc Basto đỏ, cắm vào lư hương. Một ngày ba lần – bà không bỏ sót bữa nào – cho dầu là ngày đau yếu…

         

Read Full Post »

Rồi

 Huỳnh Văn Mười

Rồi cha, rồi mẹ, rồi mình

Rồi bụi hóa kiếp một linh hồn đày

Rồi trời, rồi gió, rồi mây

Rồi  khuôn nhật nguyệt trên tay rã rời

 .

Rồi thương, rồi khóc, rồi cười

Rồi đất bó lại cho người chiếu manh

Rồi vàng, rồi đỏ, rồi xanh

Rồi con chim khóc trên cành giòn tan

 .

Rồi địa ngục, rồi thiên đàng

Rồi hai con mắt bàng hoàng tử sinh

Rồi vùng vẫy, rồi lặng thinh

Rồi ba nghìn cõi biết mình về đâu?

 

Read Full Post »

 

Tỉnh Bình Định vừa đề nghị Bộ VH-TT&DL xem xét, trình các cấp có thẩm quyền đề nghị UNESC0 công nhận “Không gian văn hóa bài chòi Bình Định là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) của nhân loại”. Đây là điều không dễ vì để được như thế bài chòi Bình Định phải hướng đến mục tiêu rất cao.

 
Hội đánh bài chòi cổ dân gian ở Bình Định là nét độc đáo của bài chòi Bình Định đã được phục dựng.

 

Theo Giáo sư Trần Văn Khê, người đã có nhiều kinh nghiệm làm cố vấn thì việc lập hồ sơ đề cử DSVHPVT thế giới phải đáp ứng 4 điều kiện. Thứ nhất là bộ môn nghệ thuật được đề cử phải có bề dày lịch sử được giới thiệu bằng văn bản, căn cứ trên những bằng chứng, văn kiện sử liệu hay hiện vật. Thứ hai là bề sâu nghệ thuật của bộ môn, nét độc đáo so với các loại hình nghệ thuật trên thế giới. Thứ ba là tuy bộ môn nghệ thuật đó hay nhưng có nguy cơ tàn lụi, bị bỏ quên do kinh tế, thị hiếu, sinh hoạt thay đổi. Thứ tư là cần có sự quan tâm đồng bộ từ chính quyền đến nghệ nhân và quần chúng, muốn bảo tồn loại hình nghệ thuật này.

Do phải hội đủ nhiều điều kiện nên việc đề nghị vinh danh theo một khái niệm rất rộng lớn như “Không gian văn hóa bài chòi Bình Định” rất khó làm rõ một cách cụ thể, khoa học như yêu cầu. Thay vào đó, nên chăng cần cô đọng lại một nét độc đáo đặc trưng tiêu biểu nhất của bài chòi Bình Định để đề cử. Việc làm rõ bề dày và bề sâu lịch sử của bài chòi Bình Định một cách khoa học cũng là điều không đơn giản. Bởi nhìn nhận một cách khách quan, bài chòi Bình Định trong nhiều năm qua chỉ thực sự tập trung cho sân khấu ca kịch bài chòi, với sự hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo tồn và phát huy của Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định. Còn cội nguồn của không gian văn hóa bài chòi Bình Định vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm mà mới chỉ có một số hoạt động đáng chú ý như thành lập CLB Bài chòi cổ dân gian Bình Định (năm 1998), phục dựng Hội đánh bài chòi cổ dân gian ở Bình Định (năm 2011) của Sở VH-TT&DL. Các tác phẩm nghiên cứu về bài chòi Bình Định cũng nhiều, nhưng bài bản và quy mô của một công trình khoa học cấp tỉnh thì cũng mới chỉ có đề tài khoa học “Sưu tầm, nghiên cứu, phục hồi bài chòi dân gian cổ truyền Bình Định” của cố NSƯT Phan Ngạn.

Một trong những yếu tố quan trọng nhất để tạo ra sự độc đáo riêng cho không gian văn hóa bài chòi Bình Định là phải khẳng định nghệ thuật bài chòi được ra đời từ mảnh đất Bình Định. Cho đến nay, sự khẳng định này chỉ mới dừng lại ở ý kiến còn ở dạng chung chung của một số nhà nghiên cứu (hầu hết đều là người Bình Định), chứ chưa có một công trình nghiên cứu khoa học cụ thể nào để chứng minh. Bài chòi có mặt ở nhiều tỉnh, thành khu vực Nam Trung Bộ, một số nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định bài chòi ở một vài địa phương trong khu vực cũng có bề dày và bề sâu… Do đó, đề cử không gian văn hóa bài chòi Bình Định là kiệt tác DSVHPVT của nhân loại chắc chắn sẽ gặp nhiều ý kiến phản biện.

Việc đề nghị tôn vinh bài chòi Bình Định ở tầm thế giới là một tín hiệu ban đầu đáng mừng cho sự bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật này. Thế nhưng, đây là một con đường rất dài, cần phải nghiên cứu tìm ra hướng đi cụ thể, khoa học thì mới có thể hi vọng đến đích…

Tại Việt Nam hiện có 6 DSVHPVT thế giới đã được công nhận: Hát xoan là DSVHPVT cần được bảo vệ khẩn cấp (công nhận năm 2011). Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng ở Hà Nội là DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2010). Ca trù là DSVHPVT cần được bảo vệ khẩn cấp (năm 2009). Dân ca Quan họ là DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2009). Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và DSVHPVT thế giới (năm 2005), DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2008). Nhã nhạc cung đình Huế là DSVHPVT thế giới (năm 2003), DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2008).
  • Hoài Thu (baobinhdinh)

Read Full Post »

Thôn Lộ Diêu ở xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn (Bình Định) nằm ẩn mình sau ba vách núi cao, cả làng nhìn từ trên đèo giống như vết chân người khổng lồ đạp từ biển vào. Không chỉ có cảnh đẹp hữu tình như cuộc “hôn phối” của núi và biển, Lộ Diêu còn sở hữu một món ăn hiếm có, một lần ăn là nhớ đời. Đó là mắm nhum.

1. Cuộc “hôn phối” của núi và biển khiến phong cảnh Lộ Diêu đẹp. Khách du lịch đến Lộ Diêu để cắm trại, tắm biển vì vậy ngày càng đông đúc. Họ ví von nơi này là “thung lũng tình yêu”.  
 
Muốn đến được Lộ Diêu phải qua đèo. Ngọn đèo cũng có tên Lộ Diêu. Dẫu nằm ven biển nhưng đèo dốc này cao cheo leo đến lạ kỳ. Lúc nhỏ, mỗi dịp về quê, dắt chiếc xe đạp lên đèo theo con đường mòn ngoằn ngoèo mà chỉ cần sơ sểnh một chút là xe sẽ tuột lại phía sau. Mắt chẳng dám nhìn xuống hốc núi sâu hun hút. Nếu chẳng may có bị trượt té khi qua đèo cũng là chuyện thường. Bây giờ đèo đã được san ủi mở rộng, đổ bê tông nên dốc có thấp hơn, nhưng khó mà quên được cảm giác choáng ngợp, sờ sợ mỗi khi qua lại Lộ Diêu.
 
 
Anh Đỗ Văn Thanh (áo xanh) và cháu trai đang lặn bắt nhum dưới cái nắng oi bức.
 
Gành đá nhô ra biển kỳ vĩ hoang sơ nằm dưới chân đèo là chốn nương náu của loài nhum đặc sản để người dân nơi này lặn bắt mưu sinh mỗi ngày. Anh Đỗ Văn Thanh (47 tuổi) là một tay lặn nhum giỏi nhất vùng đồng ý cho tôi tháp tùng cùng đi ra gành để bắt nhum. “Qua ngọn núi này sẽ đến gành. Ở đó nhum nhiều lắm”, anh Thanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ngọn núi cheo leo án ngữ trước mặt. Dường như bao năm chinh phục gành đá đã quen, đôi chân người đàn ông có biệt tài “sát” nhum này luôn thoăn thoắt sải bước. Cố lắm tôi vẫn không tài nào theo kịp. Theo anh đến vã mồ hôi cuối cùng tôi cũng được thấy tận mắt, sờ tận tay con nhum, thứ mà bấy lâu tôi chỉ biết qua lời đồn đại.
 
 
Phần có màu vàng của con nhum được lấy để muối thành mắm hoặc có thể chế biến thành những món ăn có hương vị rất hấp dẫn.
 
2. Một số nơi gọi nhum là con cầu gai. Căn cứ vào hình dạng, người dân Lộ Diêu gọi là con nhím biển cho dễ hình dung. Nhum sống bám vào các hốc đá. Khi thủy triều lên, những tảng đá và cả nhum bị lấp dưới mặt nước biển. Để bắt được nhum thì phải lặn xuống dưới nước, có nơi sâu tới 10 mét. Khoảng từ 5 giờ chiều trở đi, thủy triều rút, nhum và đá nổi trên mặt nước.
 
Vào những ngày giữa tháng – đợt nước rút thấp nhất, người ta chỉ cần lội ra là có thể bắt nhum. Dụng cụ bắt nhum trang bị cho một người rất đơn giản, chỉ có cái móc nhum, một cái giỏ nhựa và kính lặn. Móc nhum làm bằng sắt, một đầu được uốn cong hình lưỡi câu, có cán cầm rất chắc chắn. “Không thể dùng tay không để bắt nhum nên móc phải chắc như thế mới lấy nó ra khỏi hốc đá được. Khi móc nhum phải móc một lần cho chắc ăn. Nếu lần đầu không tách nó ra khỏi đá thì lần sau không thể lấy con đó được nữa, vì nó biết có động nên hít rất chắc vào đá, có kéo bể thân nó cũng không ra”, anh Thanh chia sẻ kinh nghiệm bắt nhum.
 
 
Muốn ra gành bắt nhum phải vượt qua ngọn núi cheo leo này.
 
Đa phần những người lặn bắt nhum là đàn ông con trai. Chị em phụ nữ thường đảm nhiệm vai trò làm nhum. Hễ khi giỏ nhum đầy, những người đàn ông sẽ bơi mang vào bờ. Trên gành đá, bên cạnh những hố nước đọng do thủy triều xuống, chị em bắt đầu xắn tay vào công việc. Họ dùng một con dao lớn chặt con nhum làm hai. Sau đó dùng một dao nhỏ rửa bỏ miệng và phân, phần ruột còn lại có màu vàng cam được cho vào hũ nhựa. Đây chính là thứ cần lấy của con nhum.
 
Chị Nguyễn Thị Thơm – vợ của anh Thanh vừa làm nhum vừa xởi lởi cho biết: “Nếu gặp đợt nhum chắc (dày ruột) một ngày có thể lấy được gần 20 lít nhum. Nhưng nếu gặp nhum ốp (mỏng ruột) như đợt đầu tháng này thì chỉ lấy được 2 đến 3 lít thôi. Thịt nhum được lấy để muối thành mắm, nhưng nếu để tươi có thể cho thêm ít gia vị rồi đem kho, hoặc có thể xào sơ rồi nấu cháo, ăn rất béo. Mắm nhum Lộ Diêu có mùi vị rất đặc trưng. Giá bán năm nay lên đến 120.000 đồng/lít. Những người mua đa phần mang đi các nơi làm quà đặc sản”. 
 
Ở “thung lũng tình yêu”, đàn ông nhà nào lặn khỏe có thể đi cả ngày, bắt đầu ra gành từ 8 – 9 giờ sáng, còn thông thường thì người ta đi một buổi từ 11 – 12 giờ trưa, đến 7 – 8 giờ tối mới về đến nhà. Bắt nhum chỉ là công việc kiếm thêm, cuộc sống của họ phụ thuộc chính vào nghề nông. “Nếu cha mẹ đi thì mấy đứa con phải có đứa ở nhà chăn bò, hôm nào ra đồng cắt lúa thì cả nhà không đi bắt nhum nữa”, chị Thơm cho biết.
 
Tôi chú ý ở gành đá Lộ Diêu, hầu hết những người đàn ông đi lặn đều có vợ đi cùng. Anh Thanh đùa: “Bà nhà sợ mình bỏ nên đòi đi theo miết”. Tôi hỏi nếu hôm nào các chị ở nhà thì có cô nào theo mấy anh đi làm nhum không? “Ai thèm theo mấy ổng, chỉ có… nhum theo thôi”, giọng một phụ nữ vang lên. Mấy anh chồng đang ngâm mình dưới gành bỗng cười híp mắt rồi lại lặn sâu. Không khí vui vẻ xua tan cái nắng gay gắt của buổi trưa hè.
 
 
Bà Thơm cười híp mắt khi giỏ nhum ông Thanh mang lên lần này đầy và chắc ruột hơn đợt trước.
 
3. Đi cùng vợ chồng anh Thanh ra biển lần này còn có con gái và mấy đứa cháu. Những lúc chưa có nhum để làm, đứa thì tranh thủ đập hàu về nấu canh, đứa tìm bắt cá chình… Có gia đình còn tranh thủ hái ít rong biển về nấu nước uống. Tranh thủ ít phút ngồi nghỉ để chuẩn bị cho lần lặn tiếp, anh Thanh trò chuyện: “Người lặn nhum phải có sức khỏe, hơi dài và phải chịu lạnh giỏi. Anh nào chịu lạnh yếu thì bắt nhum không nhiều”. Anh kể khi lặn dưới biển rất hay bùng tai và nhức đầu, nhiều lúc thấy vài con cá mú ở các hang đá phải lặn vào dùng chĩa để đâm, nhưng gặp những khe khó, sóng đập vào, ai không quen là bị hất tạt vào đá và kẹp chết ngay.
 
Gặp mùa nước cạn thì không sao nhưng vào những tháng cuối năm sóng to, nước lớn thì lặn bắt nhum luôn đối mặt với hiểm nguy rình rập. Dân trong nghề đều là những người đàn ông khỏe mạnh, bơi giỏi mà lắm lúc cũng không tránh được rủi ro. Anh Thành và anh Cả là hai nạn nhân mới nhất của nghề lặn bắt nhum, khi trong một lần hành nghề trên gành vào trước Tết Nguyên đán vừa qua đã bị sóng lớn đánh, đập vào hốc đá dẫn đến tử vong.
 
Sinh nghề tử nghiệp là thế. Không hẳn ai cũng may mắn tránh được sóng gió vô tình nhưng biển vẫn mãi luôn là một phần cuộc sống của những người bất chấp hiểm nguy lặn bắt nhum ở thung lũng tình yêu.
Nhum ở Lộ Diêu cũng có nhiều loại: nhum giang, nhum sò, nhum gai, nhum bắn… nhưng nhiều nhất là nhum gai. Nhum sò có gai ngắn, mỏng, có nhiều màu sắc; nhum giang nhìn giống nhum gai nhưng màu đỏ tím; riêng nhum bắn thì nó có thể bắn gai vào đối phương nếu chạm vào nó. Những người trong nghề lặn bắt cho biết thịt nhum gai vẫn béo và ngon nhất.
Theo TTO
 

Read Full Post »

Tương tư lợ

Vũ Thanh

Bữa ấy chia tay nắng đã chiều

Một ngày Thu muộn gió đìu hiu

Anh đi vui kiếp trai thời loạn

Đổ bóng bên đời em tịch liêu

Em nhớ khi xưa ta vẫn ngầu

Nhìn dòng nước chảy dưới Cầu Đâu

Soi hình đâu đứa và đâu tháp

Hẹn ước có nhau tới bạc đầu

Nhưng rồi lời ước chung tình đó

Anh đã mang theo tận cuối trời

Để cho duyên thắm tan thành gió

Biền biệt mừ năm hổng một lời

Từ độ anh làm chim viễn phương

Trời Qui Nhơn mờ mịt nhớ thương

Chiếc khăn anh tặng đêm tao ngộ

Đẫm lợ tương tư những canh trường

Read Full Post »

Older Posts »