Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Picasso’

Truyện Nguyễn Lệ Uyên

Tranh sơn dầu Picasso

          Phải khó khăn lắm ông giàmới quyết định chuyển đến chỗ ở mới. Đólà căn phòng nhỏ trên tầng áp mái, rộng tầm hai chục mét vuông, không kể ban-công nhô ra 1,6 mét. Đây chắc chắn là nơi cuối cùng để làm “chỗ đếm thời gian”.

Nguyên mảng tường dài là giá sách, đối diện là giường ngủ, đầu bên kia là chiếc bàn nhỏ lỉnh kỉnh giấy bút, sách báo, điện thoại… như gánh hàng xén thu nhỏ. Cuối cùng là phòng vệ sinh có gắn máy điều hòa phía trên cửa non mét rưỡi. Ngay trên đầu giường là nút chuông phòng khi nhức đầu, sổ mũi, chóng mặt… nhấn chuông báo xuống nhà dưới.

Một căn phòng được thiết kế như vậy cho ông già 80 quả là hoàn hảo. Khi thì ngồi trên ghế ngó ra ban-công gần đụng nhà bên kia đường, lúc nằm thẳng đuột dưới sàn, nhắm mắt như người hành thiền thở ra thở vào bụng phồng lên xẹp xuống vẽ những đường cong, gấp khúc, phẳng phiu về một trận chết rất đẹp, lộng lẫy cho mình.

          Ông đã tính toán kỹ, rất kỹ. Thời buổi bây giờ, công nghệ thay con người giải quyết mọi sự, vì vậy ông không lo bị đói, ốm đau. Hằng ngày ông đặt đồ ăn từ một dịch vụ nấu nướng sẵn, mang tới tận nhà. Đau bệnh, cấp cứu kết nối với bác sĩ riêng, bệnh viện qua Zalo, cho nên không sợ bị chết bất thần đến mười ngày sau bốc mùi mới có người phát hiện.

Còn cái sự đã chết thì hết sức đơn giản: ông đã đặt tiền trọn gói cho dịch vụ mai táng hỏa thiêu. Khi nào chết thiệt, điện thoại tự động báo cho nhà đòn tới mang xác ông đi; tro cốt cho vào chiếc quách bằng gốm sứ Bát Tràng nhìn như chiếc hòm thu nhỏ (ông đã nhìn thấy, đẹp) rồi chở về quê, đặt xuống mả gió (đã chuẩn bị sẵn cách đây 7 năm) lấp đất. Vậy là xong. Mọi việc hết sức đơn giản, tiện lợi. Còn sự tang chế lễ lộc, con cháu tùy nghi muốn làm gì sau đó cũng được, ông đã là nắm tro, thân xác về với cát bụi rồi, biết gì nữa mà phản ứng nhỏ to?

          Chuyện hậu sự như một bức tranh đẹp, giờ thì  yên tâm với những ngày còn lại ở “nơi khác”.

          Đừng nghĩ rằng “nơi khác” là khu dưỡng lão mini hay resort cho lão nhà giàu, cũng không phải nơi biệt giam cho một tù nhân nguy hiểm hay văn hoa chút xíu là nơi an dưỡngtuổi già. Coi kỹ lại, nó bình thường như mọi nơi chốn.  Có điều làchốnông tự chọn, bình dân; nằm lọt trong khu dân cư lạ kỳ: chẳng phải phố cũng chẳng ra quê, không là xóm trọ, không chợ búa sầm uất, chẳng thấy lũy tre, sông suối, không có loa kẹo kéo ầm ầm sấm động, không có quán nhậu dzô dzô… ầm ĩ, chưa nghe trộm cắp, mắng chó chửi mèo…Đây là khu phố không tên rất lý tưởng cho tuổi già cần sự yên tĩnh, hiếm khi có chiếc xe lớn nào chạy ngang, đường sạch bong, hàng cây hai bên đường như đội lính tập bồng súng đứng “thiên thu” chào tất cả mọi người qua lại.

          Hẳn nhiên khu này cũng phải có tên gì đó, song ông già không buồn để ý, chỉ vì trước đây cũng có cái tên khiến đám đông cuồng điên nhảy cẫng như bọn lên đồng, nhưng cũng có kẻ ôm mặt khóc rưng rức vì sầu hận.

          Trước mặt nhà, phía bên kia đường, ở dưới thấp  khoảng 3 thước so với mặt đường,là khoảng đất trống rộng vài chục mẫu tây, cỏ mọc xanh um, lùm bụi lúp xúp, quanh năm hoa xuyến chi nở trắng xóa; thỉnh thoảng những lùm trâm ổi nhô lên điểm xuyếtbằng những bông hoa năm màu tròn như trứng gà so.

Đã nhiều lần ông mò xuống khu đất này hít thở chút không khí sạch vào buổi sáng sớm, hái một bó hoa xuyến chi về cắm vào chiếc lục bình trên bàn thờ, sắn tay vò dập nắm lá trâm ổi để ngửi mùi thơm đậm. Nay thì không. Nội việc lên xuống cầu thang ba bốn bận cũng đủ cho bài tập thể dục cả ngày.

Phần lớn thời gian ông dành cho việc đọc sách và thở. Ông nghĩ, đọc sách giúp cho bộ não khỏi bị tê liệt chuyện nhớ quên, kiểm tra cặp mắt. Còn thở vào ra không phải để thành lão thiền sư mà hơn hết là quên bớt những hân hoan, phiền não… ám theo thời gian xa gần. Nhưng coi bộ cũng chỉ được vài phần vì có những thứ không tài nào lẩn tránh. Mới rặc ròng đây thôi, vừa đặt mông lên chiếc gối bông, chân trái vừa co chạm vào chân phải thì có tiếng leng keng rột rẹt phát ra trên bàn. Mới đầu nho nhỏ như tiếng dế kêu, rồi càng lúc càng to. Tâm của ông bị bẻ khóa,liền nhắm mắt mím môi, tai khép lại xua tiếng động mà nào có xua đuổi được gì! Thua. Tiếng chuông mỗi lúc một to, gắt như  tiếng kẻng gõ dồn dập cấp báo cháy nhà. Ông phải mở mắt, dỏng tai, với tay về phía phát ra tiếng kêu.

Ông già mở máy.

-Anh Tư, trời… Ở đâu mà tui gọi miết?

-Ai đó? À, ba Sum… sao ở ngoãi có khỏe không. Mà có chuyện gì vậy chú? Nóng lạnh mưa gió, ruộng nương…

-Gì nữa. Anh Tư chưa hay gì sao. Con mẹ Kim Hằng lại lấy chồng nữa, anh Tư!

-Con mẽ lấy chồng thì mắc mớ gì tới chú và tôi, hè?

-67 rồi anh.

-Thì 67.

-Nhưng mà, không phải như những lần trước, đận này con mẻ lấy thằng Việt kiều…

-Tốt chớ sao chú.

-Không phải vậy. Cái thằng sắp làm chồng mẽ mới nhinh nhỉnh 40, đáng tuổi con…

-Có sao đâu nào. Đó là coup de foudre, chú biết rồi? Mà thôi, chào chú nghen. Tôi có chút việc, gọi sau.

Ông già nói và tắt máy. Ông khép mắt thở một hơi dài.

Vậy đó, muốn buông ra mà đâu có được. Những chuyện không đâu vào đâu, thỉnh thoảng ập đến như cơn giông lốc, đố mà dựng tường chắn gió lớn? Khổ cái là nó không chịu tan ngay mà cứ lởn vởn, xà quần xà nẹo chí ít cũng mươi phút, có khi cả buổi. Rồi ông cố xua đi chuyện Kim Hằng lấy chồng lần nữa, nhưng thông tin từ miệng ba Sum y như keo dán chuột, cứ lùng nhùng không chịu bay ra khỏi đầu.

Ông ngồi xếp bằng xuống gối, tập trung lắng nghe hơi thở, nhưng nó cứ phập phù như bễ lò rèn.Biết có cố cũng chẳng được tích sự gì, bèn bỏ ra ban-công kéo ghế xếp ngồi ngó chong xuống hầm đất. Hoa xuyến chi trắng xóa. Lùm bụi xanh ngắt lúp xúp nhô lên giữa rừng hoa. Mấy con bò ở mút xa… Mắt ông khép lại một chút, he hé mở ra… thở…

Ông thấy mình ôm bó hoa xuyến chi áp vào ngực.Ông nhớ tới vợ trên cao, dòm thấy con mắc dính trong hóc kẹt phù sinh, chòm xóm nhấp nhổm, những người bạn già trẻco chân lướt dần theo thời gian trôi tuộtqua cánh đồng làng. Họ chập chờn trong giấc ngủ, lung linh trên vách tường ám ố, chao lượn dưới ánh sáng lờ mờ ngọn đèn ngủ. Hàng tre đung đưa, cây duối ngái ngủ, bầy chó sủa trăng. Mọi thứ chầm chậm lướt qua… chập chờn.

-Bác Tư ơi, bác Tư…

Tiếng gọi chạy lăn tăn theo tiếng chuông gọi cửa.

-Bác Tư ơi…

Ông mở choàng mắt, tỉnh cơn mê vụn, lò dò trở vô phòng, vịn cầu thang bước xuống. Chuông vẫn reo. Ông lần mò mở khóa, kéo chốt cửa. Ui da, tưởng ai.

-Thì con cứ mắc vô cánh cổng, thủng thẳng bác lấy.

-Đâu được bác. Đâu phải đồ khô.

-Khô nước gì thì cũng tới tay bác, ai vô đây?

-Con biết. Nhưng mà…

-Rồi, gì ở trỏng mà khẩn cấp vậy?

-Dạ, tô hủ tíu và ly cà phê sữa.

-Uả, ở đâu mà hủ tíu với cà phê cữ này?

-Con đâu biết.

-Ngộ chưa. Không biết mà biết mang cà phê hủ tíu tới đây. Ý bác là ai gửi những thứ này cho con mang tới. Rồi, bác cũng chưa biết con là ai nữa. Ngộ thiệt nghen.

-Dạ, Con bán cà phê ở đầu hẻm ngoài kia. Ngày nào cũng nhìn thấy bác đứng trên ban-công, tưới cây, nhìn trời. Dạ,có người kêu con bán ly cà phê, bỏ vào túi này nhờ con mang giùm tới, xin lỗi bác, cái ông già hay ra đứng ở ban-công đó.

-Mèng ơi, không thấy mặt mũi, chẳng rõ nguồn gốc tung tích mà con dám… lỡ – ông kịp ngừng lại – Mà đàn ông, đàn bà, già trẻ?

-Không nhớ nữa. Con lo pha cà phê. Người ta dặn vậy rồi để tiền lên bàn rồi đi mất. Mà hình như đàn bà. Thôi, bác Tư nhận giùm, con về bán hàng, chắc không có gì đâu.

Cô gái trao túi hàng tận tay. Ông nhận lấy nói cám ơn dặn với, lần sau nhớ cẩn thận nghe cháu.

Mang túi giấy đặt lên bàn ăn, ông ngồi cố rặn óc nhớ coi ai quen. Ông mới tới khu này chừng hai tháng, chỉ có chú khu phố trưởng, chú công an khu vực biết vì liên hệ giấy tờ tạm trú, còn lại tất cả bạn bè, người thân ông giấu biệt, trừ chiếc điện thoại như sợi dây nối.

Vậy mà sáng nay có người theo dõi ông, nhận ra ông khiến cho đầu óc rối nùi. Xem chừng chuyện nhập môn buông bỏ coi như tiêu ma.

Tô hủ tíu bỏ vào tủ lạnh, tay xách túi giấy có ly cà phê leo cầu thang, ra ban-công. Ly cà phê còn âm ấm ông già đặt lên chậu bonsai Nguyệt quế, thân vặn vẹo sần sùi, già hơn ông cả chục tuổi.

Ông già bưng ly cà phê nhấp ngụm nhỏ, bắt đầu banh quá khứ ứ hự của mình từ thời cởi truồng, trai trẻ, lang bạt cho tới khi tóc nhuốm muối tiêu, râu lông lún phún trắng. Ông cởi trần những mối tình si, tình lỡ, tình hờ, ngủ nhờ, ở đậu… Những hình bóng đậm nhạt chạy nhảy lộn xộn trong đầu, sau đó tắt ngấm tàn tro.

Không thể nhận ra ai bất ngờ bôi chút hương vị cà phê lên đầu lưỡi và hộp hủ tíu chưa đụng tới?

Ông già lắc đầu cho qua. Mà cho qua là phải. Nước non lửa củi gì nữa ở tuổi 80? Rồi quay ra dòm cây Nguyệt quế có bộ rễ phồng nhổm lên khỏi miệng chậu gốm sứ men da lươn, thân sần sùi vặn vẹokhô nẻ. Nó cũng già như ông, thỉnh thoảng nở vài chùm bông trắng ngọc, thơm dịu… rồi rụng, trơ trọi cành lá, chờ đợi thời gian lâu sau.

*

Đã vài ba lần vuốt mắt cho người thân, cả đến mươi lần nhìn những thân xác nằm bất động, tờ giấy trắng đắp lên mặt, chiếc dao cùn hay thanh sắt lòn dưới chiếu. Đó là dấu hiệu của những đã người chết.

Nhưng quả thật, không tài nào hình dung nổi cảnh mình khi chết sẽ ra sao?

Vậy là ông háo hức vẽ ra cái chết cho riêng mình. Công việc ấy khá tỉ mẩn như khi ngồi hàng tháng trời phác họa bản vẽ cho ngôi nhà thờ họ. Vẽ và bôi xóa. Những tờ giấy vò nát vất xuống sàn. Những cục tẩy mòn vẹt. Những cây bút chì chỉ còn một mẫu nhỏ…

Sự khó khăn này có giống với sự đi gần đến cái chết? Ông không biết, nhưng chắc chắn không có cảnh chết nào giống cảnh nào. Điều này hoàn toàn đúng.

Tai ông bổng nghe vang tiếng chim ríu rít. Hình như đó là tiếng con chim sâu đang chuyền trên cành Nguyệt quế? Ông khẽ mở mắt và thấy mình bay bổng ra ngoài hành lang, nhập vào cành lá màu xanh sậm. Không phải một mà hai con, nhỏ bằng nửa ngón chân cái, đuôi luôn ngúc ngoắc chuyền sải từ nhánh này qua nhánh khác, miệng luôn chíp chíp. Vụt cái, cả hai bay lên cao kéo ông theo. Ông bay lướt trên các ngôi nhà cao tầng, bay lượn trên dòng sông mênh mông, dập dềnh những mảng lục bình cắm những cọng bông tím nhạt. Những dề lục bình trôi chậm. Ông bay chậm rãi nhìn dề lục bình và dòng nước. Dề lục bình trôi? Dòng nước trôi? Cả hai cùng trôi và cả hai cùng đứng. Một thoáng khựng lại. Dòng nước sáng lóa đến nỗi gần như xóa mất màu xanh của dề lục bình.

Ông nghe âm thanh của đôi chim sâu ẩn bên dưới dòng nước cõng dề lục bình, nhẹ và êm như đám mây trắng trôi trên đầu.

Ông ngó lên cao, rồi dòm xuống dưới. Cả hai đều nhè nhẹ lướt cùng một màu trong veo như khí trời…

Âm thanh vang lên bên tai. Lần này không phải tiếng hót líu lo mà chát chúa đến vô cùng, kéo giật; cũng không phải lắng nghe mà xồng xộc như đám âm binh ma quái vác dao rựa lao vào khua rổn rảng. Tình thế này, kẻ hấp hối cũng phải mở bật mắt, ngồi dựng dậy.

Nhổm về phía phát ra âm thanh cuống cuồng như một quán tính, vơ vội ống nghe áp chặt vào tai.

-Bác Ba ơi, bác Phó Sáu chết rồi!

-Hồi nào, sao chết con?

-Chiều qua. Dạ, thảm lắm bác!

-Thủng thẳng, từ từ nói cho bác nghe.

-Dạ, hai Tửng con út Phó Sáu đó bác có thằng con nghiện du lịch châu Âu(1), nó nợ nần tùm lum bị bọn giang hồ tới nhà đòi nợ. Hai bên cãi vã xô xát, ông già đứng ra can, ai dè tụi nó chém đứt cổ Phó Sáu, mà không đứt hẳn, chỉ hai phần ba nên chi cái đầu rụng xuống tòng teng trước ngực, máu bắn thành vòi tít lên trần nhà, bắt ớn. Thảm lắm bác Ba.

-Thôi, đủ rồi đừng kể nữa – giọng ông như giận dỗi và gát máy.

Phó Sáu là bạn ông từ thuở cởi truồng chận bò, tắm sông. Lớn lên lêu bêu lang bang trôi nổi trong dòng cuốn thời cuộc, cuối cùng cũng giữ được chức ấp phó cốt trốn lính. Thời đó kêu chính danh phó ấp bị nhiều người xấu miệng xỉa xói là ấp bà góa, hay như hội Phụ nữ Liên đới của bà Ngô Đình Nhu bị gọi hội Phụ nữ Liên đái, nên gọn lại phó cộng thứ trong gia đình nghe êm hơn. Chính thức có tên Phó Sáu khi ông ta 27 tuổi.

Phó Sáu trước sau chỉ mỗi một bà vợ, chưa nghe ai tố cáo ông ve bà góa,lộn nài bẻ ách và duy nhất chỉ có mỗi một anh Tửng độc đinh. Vậy mà… ông nhắm mắt lại như muốn xua hình ảnh chiếc đầu rụng tòng teng trước ngực, rồi nghĩ: kiểu chết thảm, lảng nhách và, chắc chắn không phải là sự lựa chọn của Phó Sáu.

Hãy tưởng tượng, bạn đang đứng bên cạnh đám người đang cãi nhau, giằng co, nắm đấm… Bổng một vật gì đó xẹt qua đầu bạn, đầu vỡ toang hoác, máu chảy, bạn gục ngã và không kịp nhận ra nguyên nhân. Đúng là không nhận thấy điều gì. Máu trào. Tim ngưng đập. Chết lập tức. Như vậy, dĩ nhiên đây không phải là bản năng tìm đến sự hủy hoại thông thường như bản năng tìm sự sống với những ham muốn, khoải cảm, sinh tồn…

Chắc chắn Phó Sáu không muốn nhận một kiểu chết như vậy. Ông cũng từ chối cách chết kinh khủng này. Nhưng biết làm sao được?

Nhiều ngày sau, ông cố xóa tan hình ảnh hãi hùng đó bằng cách nằm thẳng tay chân trên chiếu hoa thở vào ra, định tâm.

____

  • Du lịch châu Âu: tiếng lóng chỉ cá độ banh bóng

(Lái Thiêu, tháng 2/2021)

Read Full Post »

Sáu Bẹo

Truyện Ngắn

Mang Viên Long

 

Picasso, Người đàn ông đội mũ

 

 

 

 

 

      Khi học đến lớp ba trường làng – năm 1957, Sáu Bẹo mới có ý thức rõ ràng hơn về cái tên “ Bẹo “ không đẹp của mình! Trước đó, dù lũ bạn thường chọc ghẹo – ngay trong lớp học, đôi khi thầy cô cũng lấy làm lạ về cái tên “ Bẹo “ khó nghe, vô tình hỏi – nhưng Sáu Bẹo chỉ tủm tỉm cười, rồi lãng tránh! Sáu Bẹo thường nghĩ: Nếu cha mình lúc ấy thay dấu “ nặng” ( Bẹo ) thành dấu huyền ( Bèo ), dấu “sắc“ ( Béo ) hay dấu “hỏi” ( Bẻo) thì cũng không thể hơn! Sáu biết cha cũng là thầy dạy học ở sơ cấp, có vốn chữ Hán được ông nội Hương Kiểm chỉ dạy, nhưng sao lại hết chữ để đặt tên cho đứa con trai duy nhất của mình đứng sau ba người con gái toàn là tên đẹp vậy ( Thanh Trúc, Cẩm Hương, Thiên Lý)?

       Sáu Bẹo cảm thấy ngượng ngùng khi hỏi cha – nên hỏi mẹ: “ Sao mẹ đặt tên cho con ai ai cũng kêu xấu cả vậy? “ – “ Vì con là cháu nội đích tôn, nên ông nội đã đặt cho con, mẹ không dám cải! “.  Một lần, Sáu Bẹo mạnh dạn hỏi cha: “  Cháu nội đích tôn phải đặt tên xấu vậy hở cha? “- “ Không phải cháu đích tôn là phải đặt tên xấu đâu! ““ Nhưng sao tên con kỳ vậy? ““ Vì ông bà nội quá thương yêu con nên đặt vậy thôi ba cũng không dám trái lời ““ Mẹ bảo không dám cải, cha  cũng không dám trái lời, con không hiểu sao ông bà nội kỳ lạ vậy? “ – “ Ông bà nội chỉ có mỗi mình ba là trai, ba cũng chỉ có con là trai – nên ông bà “ sợ “ đặt tên đẹp sẽ khó nuôi, thấy con thường nũng niu khóc đòi nên gọi là “ Bẹo “ – thằng cu Bẹo, nghe cũng dễ thương mà! “

        Lớn lên, học qua bậc trung học đệ nhất cấp, Sáu Bẹo không còn dịp để nghĩ về cái tên của mình nữa, vì đã nghỉ học. Đó là vào năm sau vụ đảo chánh lật đổ gia đình ông Ngô Đình Diệm 1963 – quê của Sáu Bẹo chộn rộn, cuộc sống cũng thay đổi, ngày càng thêm khó khăn – còn Sáu Bẹo thi vào khóa sư phạm cấp tốc không đổ, nên Sáu Bẹo phải nghỉ học. Ba năm sau, trúng tuổi lính, Sáu Bẹo được dưa vào trường hạ sĩ quan Đông Đế, ra trường với “ cánh gà “ ở vai áo, binh chủng thiết giáp. Năm 68, sau biến cố Mậu Thân – cha Sáu Bẹo gọi về cưới vợ – là cô Hương, đang làm cô đỡ hương thôn ở xã. Không đẹp nhưng có duyên thầm, giỏi giang, mạnh khỏe, có tay nghề vững vàng được bà con trong xã thương mến. Ông Hương Kiểm cưới vợ cho Sáu Bẹo là muốn cột chân Sáu lại, nhưng Sáu cứ lần lữa, hẹn dịp…Tình yêu trong buổi giao thời chưa đủ sức nặng để níu chân Sáu Bẹo lại chăng?

          Năm 1970, Hương sinh đứa con gài đầu lòng. Sáu Bẹo mãi dong ruỗi trên chiếc xe bọc thép tận miền rừng núi Dakto; đã gởi thư về dặn đặt tên “Mận”.  Ông còn dặn thêm : “… Em đẻ được đứa nào, cứ lấy tên cây trái trong vườn nhà mình mà đặt tên nhé? “. Chiến tranh ngày càng lan nhanh, khốc liệt – cha Sáu Bẹo nhiều phen bảo Sáu Bẹo đào ngũ, nhưng phải đợi đến năm 72, khi Hương sinh đứa con gái thứ hai ( đặt tên Đào ) – không có Sáu Bẹo ở nhà, Sáu Bẹo mới trốn về.

            Hương rất mắn đẻ, sau Đào là cậu con trai trường. tên là Lê. Sau Lê, cứ cách hai ba năm, Hương lại đẻ lên tiếp thêm bốn cậu con trai nữa: Cam, Lựu, Chanh, Quýt. Quýt – cậu con trai út, sinh vào năm 83 nhưng trong 7 người con ( cả trai và gái ) chỉ có Mận và Lê là rất giống Sáu Bẹo; còn năm người con kia – mỗi đứa một khuôn mặt! Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như “ cắt để “ vào, không lẫn vào đâu được.  

             Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi. chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải  là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ – chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi! “.

           Mấy bà ở xóm Thượng Tây được dịp ngồi tụm lại lúc rảnh rổi để tám chuyện về mấy đứa con của Sáu không dứt : Đứa nào giống cha phó chủ nhiệm hợp tác xã, con nào giống ông công an thôn, thằng nào giống gã nào vân vân – đôi lúc nói ngay trước mặt Hương và Sáu Bẹo nữa, nhưng Sáu chằng hề để tai vào. Hương thấy chồng thản nhiên trước mọi lời dị nghị, dè bỉm, cũng lặng yên theo Sáu không tỏ thái độ gì. Có phải vì e sợ bà con dòm ngó, theo dõi – mà Hương đã chỉ sinh cho mỗi người một đứa con thôi? Năm đúa con – là năm người, năm khuôn mặt khác nhau?    

Khi Sáu Bẹo cưới vợ cho Chanh – làm sui đám thứ sáu, ở làng Hạ Đông – người con dâu kề út nầy đi đâu cũng bị mấy bà ở chợ Xổm níu áo, kề tai nói nhỏ: “ Cha chồng mày đâu phải là Sáu Bẹo! Là ông Tám Hùng ở cuối xóm đây này! Mày ghé thăm, rồi xem thử có giống thằng Chanh không nhé? “. Vợ Chanh im lặng, về nhà thủ thỉ với chồng: “ Anh ơi! Em đi đâu cũng nghe mấy bà nói anh không phải là con của cha đây – mà là…”. Chanh vừa nghe vợ nói – gạt phăng đi: “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác! Nếu có, cũng là quân bạc tình, đểu giả!”.

             Sáu Bẹo ngoài việc đi làm thuê hằng ngày, và Hương có mặt ở trạm xá một buổi – hai vợ chồng còn làm thêm tám sào ruộng. Cả hai cùng ra đồng, sạ lúa, làm cỏ, tát nước – rồi đến mùa thu hoạch cùng nhau cắt và gánh về, ít thuê mướn ai. Buổi trưa,  cần ở lại ngoài ruộng, Sái Bẹo thường là người chạy về nhà mang cơm nước ra cho vợ. Có hôm, để dành được chút ít – ông ghé chợ Xổm cuốn thêm cho Hương một cuốn bánh xèo, hay cuốn thịt trứng . Có bà trông thấy, tọc mạch hỏi : “ Hai vợ chồng mà cuốn một cuốn thì ai ăn ai nhịn vậy anh Sáu? “ . Sáu Bẹo cười hà hà: “ Tôi đâu thèm ăn ngữ này? Nếu ăn, thì tám cuốn cũng không đủ mà! “. Lúc cầm cuốn bánh ra đi, Sáu Bẹo nhỏ giọng: “ Đàn bà sinh đẻ khó khổ, mất sức lắm. Ngoài trạm ngoài đồng về là lăng xăng lo cơm nước, quêt dọn, gà heo. Đêm đến, con đau – con khóc, phải thức ẵm bồng… Còn đàn ông ấy à? Về đến nhà rửa chân tay xong là leo phóc lên võng nằm toòng tengNhà con đông vậy, bà ấy có gì mà ăn thêm đâu?”.

              Chuyện Sáu Bẹo chạy đi cắt bè lá chuối quấn trên lưng Hương cho mưa khỏi ướt khi cùng đi làm ngoài đồng bất chợt cơn mưa dông ập đến, đã được mấy bà Xóm Thượng Tây truyền đi nhanh chóng khắp xã!

Và, dường như là “phóng viên nhà nghề” – chuyện nhà của vợ chồng Sáu Bẹo luôn được mấy bà xóm Thượng Tây dòm ngó. Nhỏ to – “ cập nhật “ hằng ngày. Ngay chuyện Sáu Bẹo mới ăn giỗ tối qua về, say – thốc mữa cả nhà; Hương đã nhẹ nhàng săn sóc Sáu Bẹo ra sao, lau dọn nhà cửa sạch sẽ thế nào, treo mùng cho Sáu Bẹo ngủ v v v – cũng đều được mấy bà bàn tán một cách hăng hái.

              

 

 

 

 

              Khu vườn rộng lớn, cùng với ngôi nhà từ đường dòng họ Võ được vợ chồng Sáu Bẹo và các con, cháu chăm sóc rất chu đáo.  Những ngày giỗ, kỵ – Hương và đám con – dâu. rể – cháu nội ngoại – đều chung lo tươm tất, trang trọng. Sáu Bẹo chỉ làm một việc là mặc áo thụng xanh lên đèn, rót trà – lễ cúng.  Sau ông, lần lượt đến Hương, các con trai, gái rể, dâu – cháu nội ngoại răm rắp thứ tự dâng hương ông bà…Ông bà đang ngồi ở trên cao chắc cũng không ngờ trong đám con cháu ngoan ngoãn, lễ phép ấy, có đứa không cùng huyết thống với mình? Mà có cần cùng dòng máu nhà họ Võ không? Sáu Bẹo cũng không hề thắc mắc, và luôn tin rằng – tình thương yêu của chúng sẽ cảm hóa được vong linh người mất hơn là người cùng dòng máu mà tẻ nhạt, thờ ơ – chỉ lo làm giàu, chẳng nghĩ gì đến ông bà, cha mẹ?!

                 Ngoại trừ Đào có chồng xa, theo về nhà chồng ở Vinh Thạnh – mấy người con còn lại, Sáu Bẹo đều chia cho một khu đất trong vườn, xây nhà – chia sẻ vật dụng sinh hoạt như nhau. Không đúa nào hơn đúa nào cả. Ai làm thêm có tiền, muốn mua sắm gì, tùy ý. Do vậy, mấy anh chị em sống quanh quẩn bên nhau, yêu thương, chia sớt cho nhau – như lúc còn sống chung một nhà. Bà con cả xómThượng Tây nhìn vào, dần dần cảm phục, không còn bàn tán ra vào chuyện con cái của Sáu Bẹo nữa! Sau thằng Quýt, bà Hương không còn sanh thêm đúa nào. Bảy đứa con – một đời đàn bà, đã khiến bà tự cảm thấy quá đủ chăng? Riêng Sáu Bẹo – có lần nói đùa với vợ : “ Vườn nhà ta còn nào Ổi, Xoài, Mít…sao bà không sanh thêm cho vui? “

             Sau ngày đám cưới Quýt – làm sui đám cuối cùng, chứng đau tức bên ngực trái thường xuyên hơn, kéo dài lâu hơn – Sáu Bẹo phải nghỉ hằn ở nhà, không đi nhận việc làm xa nữa. Mận nói : “ Cha nên nghỉ bớt việc đi! Lũ con lo cho cha được mà! “. Lê – trưởng nam, thường lập lại: “ Đời cha đã khổ nhiều vì các con rồi! Cha còn khỏe ngày nào, hưởng vui ngày đó. Mai kia, đau nặng, nằm xuống – còn vui thú gì đâu? “. Quýt thêm vào: ” Lúc ấy, cha còn có ăn uống được gì nữa đâu? Mà có muốn ăn, cũng đâu ăn được? Có muốn đi chơi xa, thăm bạn bè, cũng đâu có ngồi xe được nữa, mà cha ham công tiếc việc? Cha còn sống khỏe bên tụi con ngày nào, là mừng còn hơn cho vàng mà! “. Cô dâu thứ ba – vợ của Lựu, cũng góp ý: “  Bây giờ cha còn ăn uống được, không cho ăn. Mai kia cha đau nặng, ăn làm sao? Có cúng giỗ linh đình, cũng chỉ để che mắt thiên hạ mà thôi!”

              Sáu Bẹo nghỉ việc vì theo dõi biết sức khỏe của mình hao mòn dần, bệnh tim trở nặng hơn – chứ chẳng phải vì những lời can dán, an ủi của các con. Cũng từ dạo ấy – các con Sáu Bẹo luôn dành cho ông sự quan tâm chăm sóc đặc biệt: Khi thì mấy lạng thịt bò, chục trứng vịt lộn, cuốn bánh nem chả,  lát cá thu, và trong túi ông thường xuyên có tiền để chi dùng tùy ý! Đứa con nào gởi cho gì – ông cũng đều nhận, không quan tâm ít nhiều, không hề từ chối. Sáu Bẹo thường nói với hàng xóm: “ Con chúng thương gởi cho gì, thì nhận cho chúng vui. chứ tôi đâu thèm ăn món gì nữa? Cơm rau mắm cho chắt ruột thôi…”. Mà thật vậy, sau khi các con đi rồi – Sáu Bẹo đưa hết cho bà Hương. Ngay cả cuốn bánh dành cho riêng ông. Nói: “ Bà đi chợ mua thứ gì cũng được miễn bà thích, về ăn! Tôi không thèm thứ gì đâu! “. Ông chìa cuốn bánh ra trước mặt Hương: “ Bà ăn giùm tôi cuốn bánh này đi! Tôi chỉ cần rau mắm, hay dưa cải kho thịt ba chỉ là ngon lắm rồi! Tôi không ưa mấy món này…” – Ông thường dặn khi bà cắp rổ đi chợ: “ Hôm nào có mắm cua ngon, bà mua cho tôi một chai, ăn với rau lan luột nhé?  Còn bà ra chợ, có bún giò cháo lòng gì ngon thì nên ăn để khỏi mất công mua về nấu nướng phiền lắm! “. 

              Sau khi Sáu Bẹo bị cơn đột quỵ bị ngất xỉu phải chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu, các con ông đề nghị đưa ông vào viện tim thành phố – để giải phẩu, ông quyết không chịu. Ông trả lời con: “ Ba già rồi, sống thêm vài ba năm – đâu có ích gì mà các con phải mất cả trăm triệu bạc trong lúc còn khổ vậy?  Chi bằng, các con để dành – sau này cha có mất đi – có mà lo cho các con. lo cho mẹ để bà ấy đỡ khổ! Bà ấy đã khổ vì các con nhiều rồi. mà vắng cha – ai chăm sóc cho mẹ con đây “.

             Mấy anh chị em Mận bàn tính nhau, thuê một chiếc xe 12 chỗ ngồi – mời Sáu Bẹo và mẹ đi chơi một buổi. Sáu Bẹo nghe vậy – cười: “ Các con cho cha với mẹ mầy đi thăm lăng Quang Trung, thăm cầu Nhơn Hội, thăm chùa Long Khánh rồi về”.  Sáu Bẹo ngồi trước xe, nhìn ngó quang cảnh, cảm thấy sự đổi thay trong bao nhiêu năm thật xa lạ, và nhanh chóng, mà nghĩ đến đời người. Cuộc đời đổi thay cũng thật nhanh chóng!

             Sau ngày đi chơi xa vài hôm – một buổi sáng sớm, khi ăn xong bát cháo đậu xanh bà Hương mang vào buồng – Sáu Bẹo gọi: “ Mẹ con Mận ơi! “

–         Có chuyện gì vậy ông?

–          Có chút chuyện…

–         Mà chuyện gì? –  bà Hương đon đả bước vào buồng, ngồi yên trên chiếc dựa dựa vẫn dành cho bà mỗi lần vào chăm sóc, trò chuyện vời ông. Nhìn gương mặt Sáu Bẹo xanh tái.

–         Bà gọi hết mấy đứa nhỏ về gặp tôi, bà nhé?

–         Lại có chuyện gi?

–         Có chuyện – Giọng Sáu yếu dần, ông cảm thấy hơi thở nặng nề, chùng thấp.

            Chưa có đứa nào ra khỏi nhà đi làm – nên chỉ nửa giờ sau, là đã có mặt trong buồng ông đầy đủ. Riêng Đào, khi nhận được điện của Lê đã hẹn sẽ nhờ xe thồ chở về ngay vì chuyến xe duy nhất từ VĩnhThanh về thành phố chưa đến giờ khởi hành.

            Có lẽ nghe được tiếng ồn – Sáu Bẹo hé mở đôi mắt lờ đờ, liếc nhìn một vòng hết thảy đám con cháu. Ông khép mắt lại. Gắng giữ hơi thở đều. Bàn tay mặt áp lên ngực trái.

  –   Các con đã dủ hết chưa?

               –   Dạ, đủ hết rồi! Bà Hương đắp khẻ.

               –   Thằng Lê đâu?

               –   Thưa, có con đây…

               –   Con bưng ảnh cha đi trước nhé?

               –   Dạ !

               –  Thằng Hưng con mày và thằng Tấn con thằng Cam đi hai bên, một đứa bưng khay hương đèn, một đứa bưng khay hoa nước…

               –   Dạ!

               –   Con trai, cháu trai đi bên trái quan tài..

               –   Dạ!

               –   Con  gái, cháu gái đi bên phải quan tài…

               –   Dạ!

               –   Mẹ mày đi sau sát quan tài…

               –   Da!

               –   Tất cả không được khóc…

               –   Dạ…

               –   Các con nghe rõ chưa?

               –   Thưa rõ…

               –   Ngay từ bây giờ, các con – các cháu, hãy niệm Phật đi! Cha  sắp đi đây, ông đi đây…

                Sáu Bẹo nhếch môi – dường như một nụ cười. Nét mặt bình thản.

–         Vĩnh biệt bà, Hương ơi! – Sáu Bẹo khẻ hé mở đôi mắt, rồi từ từ khép lại…

         Tiếng niệm Phật của đám con cháu Sáu Bẹo rền vang – khơi động một góc xóm Thượng Tây còn yên tĩnh…

 

 

 

         Mặc dù Sáu Bẹo đã vắng bóng trong ngôi nhà này, nhưng với bà Hương – Sạo Bẹo vẫn còn đó. Ông vẫn còn nằm toòng teng trên võng, ngồi xếp bằng trên tấm phảng uống trà, hay cùng bà ngồi ăn nơi chiếc bàn vuông nhỏ nhắn kia…Mỗi sáng, bà đều dậy thật sớm – chạy đi mua khi bánh hỏi, bánh ướt, bánh xèo – khi thì tô cháo, hộp xôi; về đặt ở chiếc bàn vuông trước bàn thờ Sáu Bẹo – thắp hương, mời ông ăn. Bà cùng ngồi ăn với ông cho đến hết bữa. Phần trong chén Sáu Bẹo – bà ăn sau cùng. Trước khi dọn mâm thức ăn, bà đốt cho ông điếu thuốc Basto đỏ, cắm vào lư hương. Một ngày ba lần – bà không bỏ sót bữa nào – cho dầu là ngày đau yếu…

         

Read Full Post »