Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2012

.Rời Phan Rí Cửa khi mặt trời chưa quá con sào. Qua thị xã Liên Hương đã nhìn thấy những trụ phong điện sừng sửng trong cái nắng của vùng hoang mạc

.

Cam Ranh với những đồi cát chạy dài theo con đường du hành mới mở ven biển. Thảng hoặc những đìa nuôi tôm hiện ra làm cho quãng đường dài bớt trống vắng

.

.Nha Trang quả thật là thiên đường biển đảo

.Cả bọn tấp vào quán cafe Bốn Mùa,một địa danh du lịch khá nổi tiếng

.

Rồi quay về ăn trưa ở nhà anh Từ Sâm một cây bút nổi tiếng của Khánh Hòa

.

.

Đã qua tết khá lâu nhưng hương vị tết vẫn còn quanh mâm cổ dọn vội .Có dưa hành.củ kiệu ,giò thủ ,dưa món và cả bánh chưng xanh, .

.Lại một chầu chén chú chén anh,nhưng đành phải lên đường. Còn những 220km mới đến Quy Nhơn

Ngồi trên xe mở máy tính xách tay thấy những lời còm của bạn bè theo dõi chuyến đi chợt thấy ấm áp vô cùng. Xin trích một bài thơ mì ăn liền của Nị.

NỊ

5 ông đệ tử lưu linh
Đi đâu cũng nhậu linh đình dzui gơ !
Sáng chiều say xỉn lờ đờ
Mới vài ngày đã …cà ngơ …quên đường
5 ông nhìn thấy thiệt ….thương
ĐI qua một chặng là tường trình ngay
Bạn bè tình cảm tràn đầy
Nhậu mà chưa đủ ngất ngây ….chưa dzìa…….

Chúc 5 chàng Xứ Nẫu tiếp tục ….dzui dzui ….dzô …dzô ….

 

 

Bình loạn :Sáu Nẫu

Ảnh: Hạ Uyên

 

 

 

 

Read Full Post »

Thơ Tặng Hiền Thê

Văn Công Mỹ

 

Bên sông gõ đàn ta hát

Chiều xưa sóng vỗ mạn thuyền

Quê hương nửa đời được mất

Bóng người sợi tóc bay nghiêng

.

Đôi ta chìm sâu bóng núi

Mắt buồn ,em giấu chân chim

Ngọn lửa như đêm hôn phối

Hương xưa em vẫn dịu hiền

.

Anh hát những lời thơ cũ

Em đàn nhịp phách chơi vơi

Tình tang đóa quỳnh mới nở

Í a thục nữ gọi mời

.

Già cuộc phù sinh mộng tưởng

Lòng sen đột ngột tinh khôi

Cõi người mênh mang vô lượng

“Hành Phương Nam” vẫn đủ đôi!

 

 

Read Full Post »

Gần đây trên các trang thông tin điện tử rộ lên vấn đề “nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn” đạo văn. Để rộng đường dư luận chúng tôi xin giới thiệu hai bài viết của Minh Tâm và Võ Ngọc Thọ xung quanh vấn đề này

Xunau.org


ĐÂU LÀ SỰ THẬT VỀ VỤ “Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất”

Võ Ngọc Thọ

Hội VHNT Bình Định

 .

Vừa qua trên báo Tiền Phong ngày 19/2/2012 có đăng bài “Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất” của tác giả Minh Tâm (MT). Bài viết dựng nên nhiều chi tiết không đúng sự thật, đánh lừa người đọc, nhằm xuyên tạc bôi nhọ cá nhân nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn xung quanh tác phẩm Đào Tấn Thơ và Từ (NXB Sân Khấu 2003).

Tác giả Minh Tâm cho rằng nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đạo văn của các nhà thơ Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, và các nhà nghiên cứu Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng…”

Sự thật cuả vấn đề như thế nào?

 Trong “Lời đầu sách” tập Đào Tấn Thơ và Từ (2003), ông Vũ Ngọc Liễn có viết:

“Nếu tính từ Hội nghị khoa học nghiên cứu Đào Tấn lần thư 1 (12/1977) thì 26 năm qua, nhằm đáp ứng yêu cầu công trình nghiên cứu này chúng tôi đã sưu tầm , tập hợp được một khối lượng lớn các mặt tư liệu, tài liệu về Đào Tấn từ lâu nằm rải rác khắp ba miền đất nước.

Một phần trong khối lượng tài liệu ấy đã công bố qua các sách:

–         Thư mục và tư liệu về Đào Tấn của nhóm tác giả: Bùi Lợi, Ngô Quang Hiển, Mạc Côn do Vũ Ngọc Liễn chủ biên, ấn hành năm 1985.

–         Tuồng Đào Tấn tập I và II, do Vũ Ngọc Liễn biên khảo, Phạm Phú Tiết chú giải, NXB Sân khấu và Sở VHTT Nghĩa Bình ấn hành năm 1987.

–         Thơ và từ của nhóm biên soạn: Vũ Ngọc Liễn, Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng do Vũ Ngọc Liễn chủ biên, NXB Văn học ấn hành năm 1987.

Còn đọng lại gần một nửa khối lượng tài liệu đã tập hợp lúc đó và sau này chưa có điều kiện công bố.

Lần này, tiến hành biên khảo công trình Đào Tấn chúng tôi gộp các mặt tài liệu đã in và chưa in chia thành 3 tập:

Tập I:     Đào Tấn thơ và từ

Tập II:   Đào tấn tuồng hát bội

Tập III:  Đào tấn qua thư tịch

Riêng tập I – Đào Tấn Thơ và Từ in lần này tổng cọng 204 bài (141 bài thơ chữ Hán, 60 bài từ chữ Hán và 3 bài thơ nôm), như vậy so với bản in thơ và từ trước đây chúng tôi bổ sung đến 94 bài cả Thơ lẫn Từ lâu nay chưa công bố…”

Đọc “Lời đầu sách” trên đây và  xem kỹ tập Đào Tấn Thơ và Từ (2003), chúng tôi thấy bài viết của Minh Tâm có nhiều cái sai:

Thứ nhất, sách Thơ và Từ Đào Tấn (1987) chỉ có 4 tác giả (chứ không phải 7): Vũ Ngọc Liễn, Nguyễn Thanh Hiện, Mạc Như Tòng và Tống Phước Phổ, do Vũ Ngọc Liễn chủ biên (tác giả chính). Người viết lời giới thiệu, lời bạt, hiệu đính không thể gọi là tác giả.

Thứ hai, trong 4 tác giả này, ông Nguyễn Thanh Hiện còn sống và đang sáng tác ở Qui Nhơn chứ không phải đã chết (như MT “giả mù sa mưa” nhằm khai tử ông ta). Việc tạo “hiện trường” giả về số lượng tác giả (7 người) và số lượng người chết (6 người) MT có dụng ý nhằm kích thích người đọc.

Thứ ba, trong Lời đầu sách (đã dẫn), Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn ghi rõ ông tập hợp từ nhiều nguồn để hoàn thiện công trình nghiên cứu về Danh nhân Đào Tấn, trong đó có quyển Thơ và Từ Đào Tấn (1987) của ông (tác giả chính) và 3 người khác. Việc tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau (kể cả những tài liệu rải rác trong cả nước), ghi rõ xuất xứ và tên tác giả dưới mỗi bài thơ dịch, không thể gọi là “đạo văn”.

Thứ tư, việc tập hợp nguồn từ  tác phẩm do mình chủ biên (tập cũ từ 1987)), bổ sung thêm những 94 bài mới và 201 bài Thơ và Từ nguyên văn chữ Hán, Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn không phải “cướp công người khác” (như MT đã xuyên tạc) mà ngược lại đã ghi nhận công lao đóng góp của các tác giả đối với việc vinh danh Danh nhân Đào Tấn.

Thứ năm, trong tập Đào Tấn Thơ và Từ (2003) gồm 204 bài: 201 bài Thơ và Từ chữ Hán, 3 bài thơ chữ nôm và 201 bài thơ nguyên văn chữ Hán. Ngoài ra có 3 bài viết: “Đọc thơ và Từ của Đào Tấn” của Xuân Diệu, “Cõi Phật trong thơ Đào Tấn” của Thanh Thảo và “Lời Bạt” của Hoàng Trung Thông. Dưới 201 bài Thơ và Từ chữ Hán đều có bài dịch nghĩa (Vũ Ngọc Liễn: 200 bài, Đỗ Văn Hỷ: 1 bài); Trong 201 bài, có 171 bài có dịch thơ và dịch Từ . Hai người dịch nhiều nhất là Vũ Ngọc Liễn: 95 bài (dịch riêng: 62; chung: 33), Xuân Diệu: 52 bài (dịch riêng: 48; chung: 4), kế đến là Huỳnh Chương Hưng, Hà Giao và những người sau đây có từ 1 đến 4 bài: Yến Lan, Mạc Như Tòng, Tống Phước Phổ, Đỗ văn Hỷ, Giang Tân, Nguyễn Thanh Hiện, Văn Trọng Hùng, Nguyễn Hoài Văn, Mịch Quang, Phan Ngọc. Ngoài ra Vũ Ngọc Liễn là người biên khảo, hiệu đính, ghi chú để người đọc hiểu rõ hơn Thơ và Từ của Đào Tấn. Vậy mà MT lại cho rằng Vũ Ngọc Liễn “đạo văn” của Xuân Diệu , Hoàng Trung Thông (?). Đọc bài “Đọc thơ và từ của Đào Tấn” của Xuân Diệu, ta càng trân trọng tâm huyết của ông đối với việc vinh danh Danh nhân Đào Tấn qua các kỳ Hội nghị về Đào Tấn tổ chức ở TP Quy Nhơn và sự tài hoa qua các bài thơ dịch của ông.

Thứ sáu, với một công trình nghiên cứu nghiêm túc và công phu như vậy mà MT cho rằng Đào Tấn Thơ và Từ (2003) chỉ là một tác phẩm “ở lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu văn bản học” thì thật khôi hài nhằm làm lu mờ công lao và dấu ấn sáng tạo của tác giả.

Tóm lại những điều nêu ra trong bài viết “Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất” của Minh Tâm là hoàn toàn bịa đặt, lập lờ đánh tráo khái niệm gây sự hiểu lầm nơi người đọc. Một bài viết như vậy chỉ càng bộc lộ “tiểu tâm” của người viết.  Chỉ tiếc là Báo Tiền Phong đã không nhận rõ “ác tâm” của Minh Tâm, không kiểm chứng kỹ càng, đã đăng một bài viết sai sự thật, làm giảm uy tín của tờ báo đối với bạn đọc.

 ________________________

Minh Tâm

Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất

TP – Độ nửa năm trở lại đây, bỗng dư luận rộ lên vấn đề “nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn” đạo văn của các nhà thơ Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, và các nhà nghiên cứu Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng…

Thật khó tin. Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, nổi tiếng lừng lững như thế, ai nỡ và dám ăn cắp!? Nhưng tìm hiểu mới thấy là có cơ sở.

Đến Thư viện quốc gia Hà Nội lùng cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (bị cho là đạo văn từ cuốn Thơ và Từ Đào Tấn) nhưng không có. Tra mục lục, chỉ tìm ra cuốn Thơ và Từ Đào Tấn.

Đây là cuốn sách được Nhà Xuất bản Văn học ấn hành năm 1987 với một nhóm các nhà biên soạn gồm 7 tác giả: Vũ Ngọc Liễn (chủ biên), Xuân Diệu (giới thiệu), Hoàng Trung Thông (lời bạt), Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng, Đỗ Văn Hỉ (hiệu đính).

Sau tôi cũng tìm được cuốn Đào Tấn-Thơ và Từ (Nhà Xuất bản Sân khấu, năm 2003) do một người bạn làm ở Nhà Xuất bản này gửi tặng. Đối sánh cuốn Thơ và Từ Đào Tấn của Nhà Xuất bản Văn học 1987 với cuốn này, tôi tá hỏa: Hầu như toàn bộ nội dung cuốn Thơ và Từ Đào Tấn đã được “kính chuyển” sang cuốn Đào Tấn Thơ và Từ sau khi Thơ và Từ Đào Tấn đã ra mắt bạn đọc được 16 năm.

Giữa hai cuốn chỉ có mấy điều khác biệt. Một là, cuốn Thơ và Từ Đào Tấn (1987) in 24 bài Từ của Đào Tấn, còn cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (2003) in 60 bài. Hai là, ngoài những nội dung bê gần như nguyên bản, cuốn Đào Tấn Thơ và Từ còn có thêm lời bạt của Thanh Thảo.

Và quan trọng khác biệt thứ 3, là cuốn Thơ và Từ Đào Tấn (1987) bao gồm 7 tác giả, thì khi sang cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (2003) chỉ còn lại duy nhất một cái tên – đó là Vũ Ngọc Liễn.

Và ông cũng là người còn sống duy nhất tính từ thời điểm ấy. Người còn sống này đã xóa tên 6 người đã khuất, biến công trình tập thể thành công trình cá nhân.

Và hiện công trình bị nhiều người gán cho cái tên là “cướp công người chết” này không hiểu bằng cách nào đã lọt vào tới vòng chung khảo của Giải thưởng Nhà nước năm 2011. Nếu họa may mà nó nhận được giải, thì sự kiện cáo tiếp theo và những phiền lụy ắt là điều khó tránh.

Một vấn đề đáng chú ý, là quy chế Giải thưởng Nhà nước không có điều khoản nào dành cho người sưu tầm. Chỉ có giải dành cho người và tác phẩm ở lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu văn nghệ dân gian.

Song, cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (2003) lại không thuộc lĩnh vực văn nghệ dân gian mà ở lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu văn bản học.

Chúng tôi liên lạc với nhà nghiên cứu phê bình Ngô Thảo, cựu Giám đốc – Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sân khấu, làm việc trong thời kỳ xuất bản cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (năm 2003). Ông Ngô Thảo cho biết, đây là lần đầu tiên ông nghe nói Vũ Ngọc Liễn đạo văn.

Cuốn Đào Tấn Thơ và Từ do Nhà Xuất bản Sân khấu ấn hành 2003 theo đơn đặt hàng của Nhà nước, sách dày 635 trang in, khổ 14,4 X 20,5cm, không có giá bìa.

Read Full Post »

 Lan Hương

Tôi rất ghét tiếng cười hí hí như ngựa của hắn. Tiếng cười vừa đầy kiêu hãnh vừa không nghiêm túc khiến tên gã Thổ Phỉ đã được tôi xếp vào sổ bìa đen được gạch dưới cẩn thận cùng những lời chú thích đầy ác ý.

Tôi gặp hắn qua Vân, một người bạn rất thân. Hắn vui tính lại thích đọc những bài thơ tình rât hay nên chinh phục được rất nhiều người. Tôi và Vân yêu văn học nghệ thuật nên cũng không ngoại lệ. Nhưng rồi không lâu sau tôi cũng linh cảm được ánh mắt và những bài thơ nồng nàn kia được dành cho ai. Thương bạn và vốn không cảm tình với tiếng cười ngựa hí của hắn, và càng không ưa tính thích chinh phục của gã Thổ Phỉ nên tôi liền cảnh giác ngay người bạn gái của mình:

– Hắn là người hai mặt, đừng nên tin tưởng con người này.

Dường như biết được ý đồ của hai cô bé, lần đầu tiên tên Cô-dắc nghiêm sắc mặt nhìn tôi:

– Anh không làm gì sai cả. Anh chỉ làm những gì con tim mình sai khiến mà thôi.

Vậy đó, tình bạn của chúng tôi vẫn song hành cho đến một ngày khi tiễn Vân lên đường sang nước ngoài, cũng là lúc tôi nghe tin hắn tình nguyện vào quân ngũ. Đến tiễn hắn tôi thật sự bất ngờ trước hành động ngông cuồng này, vì anh đã quá tuổi nghĩa vụ quân sự, lại đang sở hữu một công việc “vàng” tại một cơ quan mà bất cứ ai cũng phải mơ ước.

Tôi bàng hoàng nhìn tên Cô-dắc:

– Anh bỏ tất cả thật sao? Sự nghiệp của anh đang rộng thênh thang …

Đáp lại ánh mắt tròn xoe của cô gái, tên Cô-dắc nheo nheo mắt đọc tặng tôi những vần thơ trước khi lên đường:

Chỉ cần ngón tay đưa lên môi – Ngàn năm nhan sắc ở em rồi – Ngàn năm  trời đất thành thơ nhạc – Cây cỏ chào nhau kể lứa đôi – Chỉ cần chiếc muỗng em trong ly – Là tim anh chết rất nhu mì – Là chàng thi sĩ bay đâu mất – Một chút tình anh lẻn trốn đi…

Nhưng chỉ thời gian ngắn sau đó, một người bạn cũ báo tin hắn đã bị loại khỏi quân ngũ, tước quân tịch và bị đuổi về địa phương. Gặp lại nhau anh vẫn như thuở nào, vẫn vóc dáng cao ngạo, ngông nghênh , nhưng bụi đời hơn với mái tóc dài lãng tử. Vác ba lô trên vai anh tiếp tục nheo nheo mắt bỡn cợt ngắm tôi từ xa, không ngăn nổi sự giận dỗi, tôi “lên lớp” tên Cô-dắc ngay tức khắc:

– Anh lúc nào cũng vậy, thích quậy phá và đạp đổ mọi nguyên tắc, luật lệ. Nếu con người sống không theo quy tắc và kỷ luật, thì thế giới sẽ ra sao?

Ánh mắt hắn nhăn lại, nhưng rồi gã Thổ Phỉ cũng dịu dàng nói với cô thiếu nữ:

– Hãy là một cô bé đáng yêu như tuổi của em cho anh nhớ, một chút nào cho anh buốt tim hơn là trở thành một bà già 70 dạy dỗ đời anh. Hãy là một thiên thần chứ đừng trở thành Luxiphe em nhé.

Và hắn đọc:

Em xuất hiện như mặt trời- Xua đi những cơn u ám – Anh đang buồn thiu một hoàng hôn xám – Bỗng đổi màu thành xanh – Từ đó một ngày có ba buổi bình minh – Nắng buổi nào cũng thơm tho mùi mật – Từ đó không còn giới hạn của ngày và đêm – Em đã xoay chiều trái đất – Thì anh chính là một hành tinh buồn bã nhất – Lần đầu tiên biết giá trị nụ cười…

Vậy đó, những bài thơ dành cho ai đó ngày càng nhiều hơn nhưng vốn tính bướng bĩnh lại sẵn có ác cảm với “gã” vì người bạn gái, nên tôi chỉ đáp lại hắn từ xa bằng những nụ cười mỉm chi cùng với những ý tứ tế nhị mà chắc anh có thể hiểu.

Thời gian cứ êm đềm qua đi, cho đến một ngày bạn của hắn thông báo rằng anh vào bộ đội bất ngờ thì khi rời khỏi bộ đội cũng bất ngờ không kém. Cũng chỉ vì bản tính cương trực và sống vì đồng đội , mà anh dám tấn công viên chỉ huy để cứu những người bạn cùng đơn vị, thoát khỏi sự trù dập độc ác của vị sĩ quan cấp trên mình. Hậu quả của hành động liều lĩnh đó là anh bị biệt giam ba tháng ở quân lao, bị tước quân tịch, và may mắn còn được trở lại đời thường để trở thành một nhà thơ bất đắc chí, lang bạt làm thơ cho dân nghèo để chống bất công xã hội.

Một lần nữa gặp lại, tôi ngậm ngùi trước gã Thổ Phỉ ngày nào. Hành trang lên đường với anh giờ chỉ là chiếc ba lô cũ kỹ và chiếc áo đã sờn vai.

Vẫn với dáng đứng ngông nghênh, anh nheo nheo mắt nghịch ngợm “dạy đời” cô em gái:

– Anh chỉ làm những gì lương tâm cho phép. Đến bây giờ anh vẫn không hổ thẹn về những hành động đã qua.

“Gã” phấn khích đọc to:

…Trời sinh anh yêu em – Mà không sinh hộ khẩu – Con chim có chỗ đậu – Con chó có nơi nằm – Anh và em lưu vong – Như người không quốc tịch – Đất nước giàu diện tích – Cho châu chấu cào cào – Nỡ đâu nghèo lý lịch – Với những người yêu nhau

Nhìn anh xốc ba lô lên vai, đôi mắt buồn như nghiêng theo cuộc đời sóng gió in dấu trên gương mặt phong trần, tôi chợt rưng rưng nước mắt:

– Em thật có lỗi với anh.

Tôi chìa ra cuốn sổ bìa đen với cái tên có biệt danh gã Thổ Phỉ, cùng ba dấu gạch đỏ phía dưới nằm chễm chệ ngay trên trang đầu kèm theo những lời chú thích thiếu thiện cảm. Anh liếc qua, cười phá lên, và ghé sát vào tai tôi thì thầm:

– Anh yêu sự khờ dại của em !

Read Full Post »

Tình lầm lỗi

Vũ Thanh

(Tặng cháu Võ Thanh Trọng Nhân đang du học ở Đức)

Họ bảo rằng em còn bé lắm

Đôi mắt nhung còn lay láy trong

Tâm hồn còn trắng như màu áo

Đôi má non phơn phớt nụ hồng

Họ đâu biết mỗi chiều em tan học

Dáng thiên thần sáng rực cả lối đi

Suối tóc mượt chảy tràn vai bạch ngọc

Nét trinh nguyên thơm ngát nụ xuân thì

Anh đã dặn lòng mình trăm nghìn bận

Nhưng mỗi chiều vẫn thầm đợi em qua

Lòng nao nao rung theo nhịp guốc ngà

Mắt hun hút dõi theo tà áo trắng

Em  – mười sáu – gót son còn đỏ thắm

Anh – sinh viên – sắp làm lễ ra trường

Bỏ phố phường đi du học tha phương

Anh khổ lắm – biết không nàng tiên bé ?

Rời sân bay – đời chia hai lối rẽ

Anh trời Tây – lòng tưởng nhớ khôn nguôi

Em như hoa – rực rỡ tuổi đôi mươi

Vườn xuân sắc biết bao người đón đợi

Tình câm nín vì biết yêu lầm lỗi

Năm năm dài anh khắc khoải thầm mong

Buổi vinh qui – em thơ hãy còn không

Anh sẽ đến cầu hôn người yêu nhỏ

Trở về nước một ngày thu lá đổ

Góc phố xưa xác pháo đỏ ngập đường

Màu áo hồng thay màu trắng anh thương

Chiều xao xác hồi chuông mừng hôn lễ

Anh cúi xuống nghe tim mình rướm lệ

Khẩn nguyện thầm – hạnh phúc mãi nhé em

Lỡ mất em – trọn kiếp biết đâu tìm !!!

Read Full Post »

Nguyễn Thị Thanh Long

NS THÁI PHIÊN

Trời cứ xanh như thế
Không gợn những dỗi hờn
Chim cứ xôn xao hót
Cho mùa xuân dài hơn
Bình minh trong trẻo quá
Như một thời bé thơ
Ký thác đời cho lá
Nồng nàn ơi – đâu ngờ
Đốt khát khao mùa hạ
Nắn nót những vuông tròn
Núi vẫn ngồi bên núi
Đồi rùng mình chon von
Màu thu vàng vội vã
Phủ kín những vui buồn
Bên một mùa đông cũ
Còn một điều cô đơn.

Read Full Post »

 

Trần Huiền Ân

Xe đang bon bon trên đường nhựa nóng bỏng, lòng ta bỗng nhẹ xuống khi nhìn thấy từ xa những rặng dừa xanh. Dừa xanh dọc theo bờ biển xanh: Sông Cầu.

Người Pháp chọn Sông Cầu  làm tỉnh lị Phú Yên phải chăng cho hợp với kinh đô Huế? Phải chăng, coi việc đi cai trị Đông Dương là được đi an dưỡng, tắm biển, phơi nắng, thở hít không khí trong lành? Để tạo cho Sông Cầu một bề thế, trong phạm vi nhỏ hẹp này họ đã phóng nhiều con đường ngang dọc, trồng cây, trồng hoa. Sông Cầu có sông, nhưng sông nhỏ quá nên không được để ý đến. Người ta chỉ biết có biển với những bãi thấp, cát mịn. Sông Cầu cũng đáng gọi là một Beau Rivage nhưng cái tên ấy đã bị đàn anh Nha Trang giành mất. Công sứ Phú Yên A. Laborde viết trên tạp chí Đô thành hiếu cổ (BAVH số 4 quý 4/1929) lời vị tiền nhiêm của ông năm 1890: “Sông Cầu là một  trong những cảng đẹp nhất thế giới với sức chứa hàng trăm con tàu. Nó được coi như cảng chính của Trung Kỳ” và đưa ra nhận xét: “Có thể ông Công sứ này hơi cường điệu nhưng phải nhận thấy rằng vịnh lớn này với những đáy từ 5 đến 15m có thể trở thành một cảng an toàn và còn thuận tiện hơn cảng Qui Nhơn nơi mà lối vào ngày càng trở nên khó khăn. Chắc chắn là sau khi hoàn thành  những quốc lộ và đường địa phương đi lại thuận tiện thì Sông Cầu được ưa chuộng hơn Qui Nhơn vì nó thuận tiện hơn trong việc đi đến La Hai, và nhất là Củng Sơn, cánh cửa thông thương với Kon Tum và Đắc Lắc”.

Tỉnh, nơi các quan Nam triều làm việc đóng ở phía tây, trong thành, thâm nghiêm kín cổng cao tường. Bây giờ dinh Tuần vũ, dinh Án sát trơ trọi nền sân, một đoạn tường ngắn, hành cung còn lại mấy trụ biểu đắp hình rồng chầu. Tòa, nơi các quan “bảo hộ” Pháp làm việc ở phía đông với những kiến trúc mới hoàn toàn không để lại dấu vết. Lứa học  trò trường tỉnh hồi ấy, tuy mới lớp nhất đều lớn tuổi, lớn xác, vẫn giữ một chút ngơ ngác nhà quê, đi trên con đường râm mát ngơ ngác nhìn dinh ông Sứ, ông Phó sứ, hàng hoa rực đỏ mùa hè. Cũng từ chút nhà quê ấy, trong mắt họ, con gái Sông Cầu, người đẹp xứ dừa sao mà đoan trang đài các.

Dẫu sao, sau An Thổ và Vũng Lấm, Sông Cầu cũng có hơn 50 năm là tỉnh lị, từ đời Thành Thái đến tháng 8/1945. Cho nên khi nhường địa vị cho Tuy Hòa, Sông Cầu vẫn cố giữ vững tư thế của mình trong nét trang nghiêm đạo mạo. Một chút trầm tư trước biển dâu của một người từng trải. Không như Vũng Lấm, khi nhường địa vị cho Sông Cầu là nhường tất cả.

Bây giờ dáng xưa của Sông Cầu đã chôn vùi theo vàng son quá khứ, nhưng trong xu thế phát triển mới Sông Cầu đang hồi sinh. Nhiều công sở, nhiều nhà cửa được xây dựng, phố xá đông thêm, Sông Cầu thành chật chội hơn, bớt đi vẻ quý phái ngày nào. Bây giờ Sông Cầu không còn loại tương ngon của chùa Thiên Thai đã đi vào ca dao:

Rủ lên Đá Trắng ăn xoài

Muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì

 

Tuy vậy khi đến Sông Cầu ta vẫn được hưởng không khí mát lành, được nếm nhiều món đặc sản biển và những chiếc bánh “phu thê”  bằng bột múc  ngọt và giòn trong chiếc hộp vuông vức, nhỏ nhắn hai nắp úp lại, có người nghĩ là tượng trưng âm dương kết hợp.

Thật ra tìm trong phạm vi phố phường thì Sông Cầu chỉ có vài nét xinh xinh thôi. Cũng như đầm Ô Loan, cái đẹp của Sông Cầu là cái đẹp tổng thể. Tất cả một màu xanh. Trời xanh. Núi xanh. Biển xanh. Dừa xanh. Mùa hạ nắng xanh. Mùa đông mưa xanh. Cái đẹp ấy phải đứng ở tầm cao xa phóng mắt nhìn xuống. Qua khỏi đèo Gành Đỏ ta đã bắt đầu cảm nhận và tới đỉnh đèo Dốc Găng ta thấy hiện diện đầy đủ sự thanh thoát của Sông Cầu xưa và nay, cũ và mới…

Trần Huiền Ân

Read Full Post »

Older Posts »