Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai 7th, 2012

Sáng nay (7.2), tại đền thờ Đào Duy Từ thuộc xã Hoài Thanh Tây (Hoài Nhơn), Lễ kỷ niệm 440 năm năm sinh danh nhân văn hóa Đào Duy Từ được tổ chức long trọng. Đào Duy Từ- bậc khai quốc công thần, văn võ toàn tài đã có nhiều cống hiến lớn lao cho đất nước trong nửa đầu thế kỷ 17.

Cuối thế kỷ 16 đến nửa đầu thế kỷ 17, nước ta trải qua một thời kỳ lịch sử vô cùng phức tạp, thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, chiến tranh, loạn lạc. Trong hoàn cảnh đó, Đào Duy Từ đã ra đời tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia (nay thuộc xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Vì xuất thân trong một gia đình làm nghề hát xướng, nên dù tư chất thông minh, có chí học hành, ông vẫn không có cơ hội vào trường thi. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục theo đuổi học hành, tìm kế lập thân.

 

Đền thờ Đào Duy Từ. Ảnh:  TL

Nghe đồn chúa xứ Nam là Nguyễn Hoàng đang chiêu hiền đãi sĩ, Đào Duy Từ tìm đường vào Nam và dừng chân tại Bình Định. Do kế sinh nhai, ông giữ kín tung tích, ở chăn trâu cho một phú hào ở đất Tùng Châu phủ Hoài Nhơn (nay là xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn). Nhân một cuộc bàn luận thế sự, quân tử – tiểu nhân của giới nho sĩ, ông tham gia ý kiến và được mọi người khâm phục, được chủ nhà mời làm thầy đồ dạy học cho con, sau đó được tiến cử đến khám lý Cống Quận Công Trần Đức Hòa. Mến tài Đào Duy Từ, khám lý Trần Đức Hòa đã gả con gái và tiến cử với chúa Sãi: Nguyễn Phúc Nguyên, được chúa trọng dụng trao cho chức “Nha úy Nội tán”, tước “Lộc khê hầu”, trông coi việc quân cơ trong đình, ngoài trấn, được tham lý quốc chính vào năm 1625.

Đào Duy Từ giúp chúa củng cố vương triều mới, ban hành nhiều chương trình cải cách có lợi cho dân. Ông đã hiến kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục ở Quảng Bình, đắp lũy Thầy ở sông Gianh bảo vệ cơ đồ sự nghiệp của chúa Nguyễn xứ Đàng trong và trở thành nhà quân sự tài giỏi trong lịch sử của dân tộc.

Để có người tài phục vụ đất nước, Đào Duy Từ đã đề đạt với chúa Nguyễn thi hành phép duyệt tuyển và khảo thí, tổ chức các kỳ thi để kén chọn nhân tài, xây dựng bộ máy chính quyền xứ Đàng trong, chấn chỉnh nội trị, tăng cường quốc phòng. Trên mặt trận ngoại giao, ông chủ trương đấu tranh mềm mỏng linh hoạt với nhà Trịnh và Chiêm Thành, mà tiêu biểu là việc lập kế để chúa Nguyễn trả sắc phong cho vua Lê- chúa Trịnh, tạo vị thế chính trị Đàng trong so với Đàng ngoài. Những đóng góp của Đào Duy Từ, chúa Sãi và các chúa Nguyễn sau này, đã giúp củng cố xứ Đàng trong thành một nhà nước độc lập, vững mạnh, đủ sức đương đầu với chính quyền Lê- Trịnh và dần mở rộng bờ cõi về phương Nam.

Đào Duy Từ còn để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị như: “Ngọa Long Cương Vãn”; “Tư Dung Vãn” được các nhà nghiên cứu đánh giá cao, xếp hàng đầu trong những tác phẩm văn học viết, của nền văn học Đàng trong giữa thế kỷ 17. Riêng bộ “Hổ trướng khu cơ” hướng dẫn về binh pháp và cách chế tạo vũ khí của ông có thể sánh với “Binh Thư Yếu Lược” của danh tướng Trần Hưng Đạo. Ông được tôn là sơ tổ khai sinh ra bộ môn nghệ thuật tuồng và các điệu múa cung đình ở nước ta.

Trong vòng 9 năm (1625-1634), với tư chất của một con người hành động, giàu ý chí, nghị lực, Đào Duy Từ đã hoạt động hết mình giúp chúa dựng nên nghiệp lớn. Ông qua đời vào năm 1634, hưởng thọ 63 tuổi. Chúa Sãi vô cùng thương tiếc, đã đích thân đến thăm ông tại nhà riêng khi bệnh nặng cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng. Chúa đã cho người đưa linh cữu của Đào Duy Từ về an táng ở đất Tùng Châu, lập đền thờ tự và truy tặng: “Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu”.

Tuy sống ở đất Tùng Châu không lâu nhưng Đào Duy Từ đã có nhiều công tích đối với dân làng. Ông hướng dẫn nhân dân khai khẩn lập làng, mở đường giao thông, đào sông làm thủy lợi, phát triển sản xuất… Cho đến ngày nay, một số tên sông, tên làng, tên đất vẫn còn gắn liền với những giai thoại về ông. Để tưởng nhớ công lao, đóng góp của ông, chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn sau này, đã truy phong ông nhiều chức tước quan trọng. Triều vua Gia Long thứ 4 (1805) xếp ông vào hàng: “Thượng đẳng khai quốc công thần” cho thờ ở Thái Miếu. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), ông được truy tặng “Hàm đông các đại học sĩ”, chức Thái sư, phong tước Hoằng quốc công. Đồng thời, nhân dân đã lập đền thờ tự ông ở nhiều nơi mà tập trung nhất là ở huyện Hoài Nhơn.

Tưởng nhớ đến công đức to lớn của Đào Duy Từ, năm 1994 Nhà nước đã công nhận xếp hạng đền thờ danh nhân văn hóa Đào Duy Từ thuộc thôn Ngọc Sơn Bắc, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn là di tích cấp Quốc gia.

Nguồn baobinhdinh

  • QUANG KHANH

Read Full Post »

Rêu

và mùa xuân đi về như thường lệ,
tháng mười hai ừ nhỉ.. tháng mười hai
và có lẽ thời gian trôi chậm quá
em buâng quơ ngồi miết những u hoài

mùa xuân này, có cớ để thăm ai
bước lớ ngớ giữa phố người ồn ã
em bỗng nghe tim mình xao xuyến lạ
thấy phân vân và lại thấy kỳ ghê!

chiều nay mây một bận rủ nhau về..
tấp nập quá, nên chiều nay thổn thức
hiên nhà nở những nhành mai vàng rực
sương biếc đọng vành trên cánh tươi non

tháng chạp ướt mềm, cỏ như xanh hơn
xuân đến thật gần xuân về có phải..
thôi, em xếp buâng quơ lòng mình lại
để mai còn nguyên vẹn một mùa vui

Read Full Post »

Hoàng hôn

Viết bởi  Hạt Tiêu

Hai người cùng bước chầm chậm lên ngọn đồi quen thuộc , đã chín năm nay họ thường đến đây để ôn chuyện cũ . Gần mười năm rồi , nàng đã già hơn xưa ,  nhưng người đàn ông bên cạnh nàng không già chút nào , vẫn còn  thấy thanh xuân ở nụ cười chàng , nụ cười trẻ trung , tự tin như chín năm về trước :

–  Sang năm ngày nầy , mình liên hoan thật hoành tráng nghe.

Người nữ lắc đầu .Chàng hồn nhiên quá , và nàng không thể nói cái điều nàng quyết tâm sẽ nói trong hôm nay

Đã bao lần , nàng quyết tâm dứt áo , nhưng chỉ cái níu tay nhẹ của người đàn ông làm nàng xiêu lòng ,đổi ý ,  hỡi ơi ! nàng yếu đuối hơn hơn bất cứ một sinh vật yếu đuối nào trên trái đất , và người đó , người đứng trước mặt nàng đây , thì lại mạnh mẽ ,  cứng cõi và nàng luôn bị cuốn hút trong quỹ đạo của chàng , chàng không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ chàng để cho nàng được tự do suy nghĩ , bày tỏ những đều nung nấu nàng trong những tháng ngày trống trải ,  những tháng ngày phải đối diện với nỗi cô đơn dằng dặc,  chàng luôn biết cách hướng nàng vào chủ đề chàng đặt ra, hãy  vui cho đời đở trống trải , chàng dặn nàng như người mẹ chăm con , chàng luôn kể những chuyện vui cười , những câu nói tiếu lâm , sống động và nàng cười theo nụ cười của chàng , vui theo nỗi vui của chàng .  Chàng độc đóan , ích kĩ , chàng tham lam vì bên cạnh chàng luôn có một người nữ trung thành , tận tụy ,  không hề biết đòi hỏi một yêu cầu nào cho bản thân mình , chỉ biết yêu chàng ,  tìm mọi cách để vừa lòng chàng ,  như vậy đó , họ yêu nhau vừa trọn chín năm .

Ngọn đồi nầy là nhân chứng cho tình yêu của họ , nàng thuộc lòng lối đi lên đồi , những hàng thông trồng ngay ngắn , thứ tự , mùa nào lá cũng xanh . Những lần không hẹn hò , nàng nhiều lần đến đây , và ôm mặt khóc , nước mắt rơi xuống chân cỏ dại và cứ như thế buổi chiều  đến thật nhanh trong tâm hồn nàng .

Hai người cùng bước về phía bên kia đồi , phía nầy dốc hơn phía bên kia . Phía nầy ít cỏ hơn phía bên kia , từ phía nầy nhín xuống , thành phố thấp thóang sau màn sương mỏng , qua ba con đường ở một ngã rẻ , có nhà nàng , hiu quạnh như chiếc tem thư.

– Hôm qua , có một cô bé quá giang xe  .

Chàng hay có kiểu nói bỏ lững , kiểu để người khác hiểu sao thì hiểu , muốn ghen tuông , muốn giận hờn thì chàng sẽ thanh minh , sẽ vỗ về ,  sẽ an ủi nàng . Rồi chia tay nhau , rồi đợi chờ một lần hẹn hò khác , bắt đầu bằng điệp khúc chuông điện thoại reo, và một tình yêu dai dẳng đến chín năm trường .

– Hôm qua , người đó đến chơi nhà .

Không biết , từ bao giờ nàng bị lây cách nói bỏ lững của chàng , và nàng nhìn nụ cười của người trước mặt , thấy thật khó khăn để nói tiếp .

Người đàn ông đã nói hộ cho nàng :

–  Người ấy ngỏ lời cầu hôn .

Nàng gật đầu và cuối đầu vì không đủ can đảm  nhìn sắc thái thay đổi của người đàn ông :

– Bao giờ  cưới .

– Tháng sau.

Bây giờ , thì nàng ngước lên , nhìn khuôn mặt yêu dấu một lần cuối , sự việc không ngờ dễ dàng đến thế .  Chàng không hề giận dữ , đôi mắt chàng xa xôi , lạ lẫm nhưng cuốn hút vô cùng

Nàng sẽ không bao giờ được nhìn lửa thương yêu từ đôi mắt đó , sẽ không bao giờ đến ngọn đồi nầy để ngắm chiều rơi , để nghe tiếng thở dài của nhau mà so tính -ai vui hơn – ai buồn hơn .

–  Nhanh thế .

Âm thanh khô khốc , như nhát dao cứa tâm hồn nàng . Chàng không đòi hỏi người đối diện một điều gì  , chỉ là sự tự nguyện . Sự tự nguyện kéo dài chín năm làm nàng mệt mõi , đau đớn . Bây giờ , để kết thúc sự tự nguyện lại càng đau đớn thêm .

– Ta về thôi .

Trước khi  bước về phía bên kia đồi để đi xuống, nàng nhìn thành phố  trong đêm , những ngọn đèn lấp lánh , không còn nhìn thấy ba con đường và lối rẻ , không còn nhìn thấy ngôi nhà hiu quạnh  như một cái tem thư .  Chiều lịm dần .

Read Full Post »