Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám, 2011

Có một lần ở tại nhà trọ của Lư ở phố Hàm Long, tôi cười hỏi Lưu Trọng Lư: -Lư ơi, bài thơ Tiếng thu có phải thật của cậu không? Có Nguyễn Xuân Huy ngồi đấy, Lư ”cười như nắc nẻ”: -Thằng này mơ mộng thật! Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à? -Thế Lữ làm gì nổi 1 bài thơ như thế. Nhưng tao có đọc 1 bài thơ của 1 thi sĩ Nhật Bổn, giống hệt bài thơ của mày, và bài thơ Nhật cũng tựa đề là Tiếng thu. Lưu Trọng Lư ngó Xuân Huy: -Huy, mầy thấy thằng Vỹ nó điên không? Huy bảo tôi: -Mầy muốn chép tao đọc cho chép. Đây là 1 bài tanka nổi tiếng: Oku yama ni Monoji fumi wake Naku zhika no Koe kiku toki zo Aki wa kanashiki Tác giả là Sarumaru, thế kỷ VIII. Bài thơ này, Michel Revon có dịch ra Pháp văn trong quyển Anthologie des poètes japonais (Ed-Hachette) Combien triste est l’automne Quand j’entends la voix Du cerf qui brame En foulant et dispersant les feuilles des érables Dans les profondeurs de la Montagne. Karl Petit, trong quyển La poésie japonaise (Ed-Seghers) lại dịch đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật: Aux profondeurs de la Montagne Ecartant et foulant les feuilles d’érables Le cerf brame Et à l’entendre ainsi Ah! Que l’automne m’est lourdement triste! Dịch đúng nghĩa ra Việt văn: Trong núi rừng sâu Ta nghe tiếng xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá bàng khô Ôi buồn làm sao! Lưu Trọng Lư cãi liền: -Bài tao còn đoạn trên: Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ. Tôi cười: -Cậu làm bài thơ này hồi năm nào? -Mới đây. -Mới đây, và mấy năm nay trong nước mình làm gì có cuộc chiến tranh, có ”kẻ chinh phu”, có ”người cô phụ”? Tôi cho rằng việc cậu ghép thêm 3-4 câu đó vào bài thơ của Saramaru để thay đổi đôi chút, nhưng cậu lại lấy trọn vẹn bản chính của Saramaru. Lưu Trọng Lư không cãi nữa, nhưng Nguyễn Xuân Huy cười: -Kết luận: Les grands esprits se rencontrent! (từ ”Nguyễn Vỹ-Văn thi sĩ tiền chiến”, NXB Hội Nhà văn in lại, 1994)

muathu3lr0

TRÂN ĐĂNG KHOA: CÓ PHẢI BÀI THƠ TIẾNG THU, LƯU TRỌNG LƯ SAO CÓP CỦA NƯỚC NGOÀI?

Người đầu tiên vu cho Lưu Trọng Lư cái việc làm rất không lấy gì làm đẹp này là ô.Nguyễn Vỹ trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”. Cứ như ô.Nguyễn Vỹ thì Tiếng thu chính là bài tanka của thi sĩ Nhật bản nổi tiếng Sarumaru ở thế kỷ VII. Nguyên văn bài tanka thế này: Oku yama ni/ Monoji fumi wake/ Naku shika no/ Koe kiku zo/ Aki wa kanashiki Cũng theo Nguyễn Vỹ, bài thơ này được 2 nhà thơ Pháp dịch sang tiếng Pháp. Bản của Michel Revon in trong cuốn Anthologie des poètes japonais (Ed.Hachette) nguyên văn như sau: Combien triste est l’automne/Quand j’entends la voix/ Du serf qui brame/En foulant et dispersant les feuilles des érables/Dans les profondeurs de la Montagne Mùa thu buồn làm sao/ Khi tôi nghe tiếng/ Của con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Trong những nơi sâu thẳm của núi. Bản dịch thứ 2 là của nhà thơ Karl Petit, in trong cuốn La poésie japonaise (Ed.Seghers) mà theo ô.Nguyễn Vỹ là đã dịch đảo ngược, nhưng lại đúng với nguyên văn bản tiếng Nhật: Aux profondeurs de la Montagne/Ecartant et foulant les feuilles d’érables/Le cerf qui brame/Et à l’entendre ainsi/ Ah! que l’automne m’est lourdement triste! Ở những nơi sâu thẳm của Núi/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/Và nghe thấy điều đó như thế/ Chao ôi, mùa thu với tôi buồn nặng trĩu. Còn bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư thì nguyên văn như thế này: Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức/ Em không nghe rạo rực/ Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ/ Em không nghe rừng thu/Lá thu kêu xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô. Tất cả là như vậy đấy. Mới hay Tiếng thu của Lưu Trọng Lư và bài tanka Nhật của Sarumaru là 2 tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỷ nay, người ta cứ a dua nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã sao chép của nước ngoài. Cái nghi án văn chương rất oan khuất ấy cứ bám riết lấy Lưu Trọng Lư cả cho đến khi ông đã nằm dưới 3 thước đất. Người khảo sát văn bản này, nhà phê bình trẻ Hoàng Xuân Tuyền, dù có giỏi tiếng Nga và biết tiếng Pháp, nhưng để thận trọng hơn, anh đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh nhờ thẩm định lại. Tế Hanh rất giỏi tiếng Pháp, ông đã dịch nhiều thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh đã kinh ngạc kêu lên: “Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có liên quan gì đến Tiếng thu. Sao lại đổ vấy cho anh Lư sao cóp?”. Sở dĩ có nghi án ấy là vì Nguyễn Vỹ. Sau khi phê phán Lưu Trọng Lư lấy thơ Nhật bản, Nguyễn Vỹ đã đưa ra bằng cớ là bản dịch của mình, nhưng thực ra Nguyễn Vỹ đâu có dịch, ông lấy luôn bài thơ Tiếng thu tráo vào rồi kêu ầm lên là bắt được kẻ gian, những người nhẹ da, u mê tin theo thì chúng ta chả trách làm gì, nhưng những nhà thơ từng giỏi tiếng Pháp, những nhà phê bình nghiên cứu có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi lẵng nhẵng nói theo, mà cứ nói đi nói lại mãi. Đấy mới thực sự là chuyện lạ ở thời đại bùng nổ thông tin này. (VNQĐ 12/2002)

Goi-mua-thu-ve-117275-1

NGUYỄN NAM TRÂN: TIẾNG THU

Riêng tặng anh Đinh Văn Thạnh, người bạn chưa quen.

Một người thân ở Paris, gần đây có viết Mail hỏi tôi xem bài Tiếng Thu (1939) nổi tiếng của Lưu Trọng Lư (1912-1991) có lấy cảm hứng từ một bài thơ xưa của Nhật không? Anh ấy đã đọc ở tờ báo Kỹ Nguyên Mới ở Mỹ cho biết nhà văn Nguyễn Vỹ có lần hỏi bạn ông là Lưu Trọng Lư về điều đó. Lưu Trọng Lư trả lời không là không nhưng Nguyễn Vỹ vẫn chưa hết mối ngờ và đem theo nó vào tận Sài Gòn . Thực tình nếu trí nhớ chưa phản bội tôi thì chính tôi cũng đã có cơ hội đọc điều nầy trong mục Mình Ơi của báo Phổ Thông do cô Diệu Huyền (một biệt hiệu của Nguyễn Vỹ) phụ trách. Báo Phổ Thông thời đó có vài cựu sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản đóng góp khá thường xuyên và được quần chúng, trong số đó có tôi, khá yêu chuộng và lòng mến mộ nước Nhật của tôi cũng bắt nguồn từ đó.Giai thoại Tiếng Thu được kể ra qua cuộc đối thoại giữa Ông Tú và Bà Tú. Ông bà Tú không phải là những nhân vật hư cấu, có chăng là ..cô hàng bán vịt lộn đôi khi xuất hiện trong đó. Bà Tú là nhân vật có thực ngoài đời, em gái ông Vỹ. Ông Trần Tú, chồng bà, gốc ngoài Quảng như ông Vỹ, là một người bạn của cha tôi hồi còn ở Đơn Dương gần Đà Lạt. Một người con của hai ông bà, chị Kim Thoa, là bạn học với tôi năm lớp nhì tiểu học. Theo nội dung của bài báo trên Phổ Thông thì Lưu Trọng Lư có thể đã mượn ý của một bài thơ cổ của người Nhật nhưng qua một bản dịch tiếng Pháp vì ông Lư không biết tiếng Nhật. Tôi bèn suy ra thơ cổ của Nhật Bản thì chỉ có tanka và tập thơ tanka căn bản phải là Kokin Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập). Nhân một ngày thứ bảy rỗi việc, tôi mới ra quán sách trong supermarket ở Tôkyô đọc cọp bản của nhà Chuô Kôron và tình cờ có thêm một số ít tin tức về bài tanka liên quan xa gần đến Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư. Trước hết phải nói là những thông tin của Nguyễn Vỹ rất chính xác vì ông có chua âm Nhật của bài thơ bên cạnh bài báo xuất bản ở Mỹ mà người thân của tôi ở Paris đã đọc. Nguyên tác : Okuyama ni (Trong núi sâu) (5) Momiji fumiwake (Đạp lên lá phong đỏ rẽ lối đi) (7) Naku shika no (Của nai kêu) (5) Koe kiku toki zo (Chính là khi nghe tiếng) (7) Aki ga kanashiki (Mùa thu buồn làm sao) (7) Chúng ta đều biết người Nhật thích thể thơ 5 chữ 7 chữ như Việt Nam thích 6,8. Những bài hát Nhật ăn tiền bây giờ cũng theo thể 5,7. Đọc thơ Nhật như bài nầy thì nên đi ngược từ câu cuối thì mới rõ nghĩa. Vâng, bài nầy đã tìm thấy trong phần Thu Ca của tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập), một tuyển tập thơ quốc âm Tanka (Đoản Ca) của Nhật. Vào đầu thời Hei-an, văn chương chữ Hán chiếm địa vị độc tôn và thơ quốc âm Waka bị đẩy lùi vào bóng tối. Thế nhưng, Waka không vì thế mà mai một hẳn, nó chỉ trở thành một hình thức thơ để tỏ tình cảm riêng tư, sinh hoạt luyến ái nam nữ hay tình tự dân gian. Tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) là tập thơ quốc âm đầu tiên đã được soạn để tiến lên vua theo sắc chiếu, còn được lược xưng là Kokin Shuu (Cổ Kim Tập). Do bọn các ông Ki-no-Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi), Ki-no-Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc), Ôshikôchi-no-Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng), Mibu-no-Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) soạn khoảng năm Engi (Diên Hỷ) thứ 5 (905) theo sắc lệnh của thiên hoàng (thứ 60) Daigô (Đề Hồ, trị vì 897-930). Đây là tập thi tuyển Waka đầu tiên được soạn theo chiếu chỉ và là qui phạm cho những tập soạn theo chiếu chỉ các đời sau.Thi tập nầy gồm 12 quyển, thu thập ước chừng trên 1100 bài thơ, có kèm hai bài tựa (Jo), một viết bằng Kana (tức bài Kanajo) do Ki-no-Tsurayuki và bài kia bằng chữ Hán (Manajo) do Ki-no-Yoshimochi (Kỷ, Thục Vọng) viết. Đặc biệt trong bài tựa viết bằng Kana, không những thuyết về sự hoà điệu giữa cái Tâm và thi Từ mà còn chủ trương về vai trò đối đầu của Waka với thơ chữ Hán, nói lên được ý thức dân tộc của người soạn ra nó. Kokin Waka Shuu chia thành nhiều bộ (bộ lập=budate) tùy theo chủ đề: Xuân (thượng, hạ), Hạ, Thu (thượng, hạ), Đông, Hạ (chúc tụng), Ly Biệt, Ki Lữ (lữ hành), Vật Danh, Luyến (Tình Yêu), Ai Thương, Tạp (thượng, hạ), Tạp Thể (thượng, hạ) Đại Ca Sở Ngự Ca.Về thể điệu, phần lớn là những bài ngắn (Tanka), có một ít bài dài (Chôka hay Naga-uta) và thơ đối đáp (Sedôka). Như đã nói, bài thơ chúng ta đang bàn đến có chép trong phần chủ đề về mùa thu (Thu Ca). Về tác giả, sách cho biết “không biết là ai” nhưng chua thêm ”Trong tập Hyakunin Isshuu (Bách Nhân Nhất Thủ, tức một tập chọn mỗi người nổi tiếng một bài ) thì bảo tác giả là Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu) một nhân vật truyền thuyết có tên trong 36 nhà thơ thời cổ (Tam Thập Lục Ca Tiên) đã soạn”. Hyakunin Isshuu được nhiều người cho là công trình biên soạn của Fujiwara Sadaie (còn đọc là Teika, tức Đằng Nguyên Định Gia) vào khoảng năm 1235 và thơ dựa trên Hyakunin Shuuka (Bách Nhân Tú Ca) tức thơ hay của trăm nhà mà ông đã chọn để viết trên giấy họa để trang trí dinh thự một vương hầu. Hyakunin Isshu (quen gọi tắt là Hyakuninshu) chọn của 100 tác giả mỗi người một bài thơ và lấy những bài đó ở các thi tập soạn theo sắc chiếu, tính từ Kokin-Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) cho đến Shoku-Gosen-Shuu (Tục-Hậu Tuyển Tập). Những bài thơ trong tập sách nầy đều đặc sắc nên được truyền bá rộng rãi về sau dưới mọi hình thức nghệ thuật. Chẳng hạn vào đầu thời Edo, có trò chơi Utagaruta (Ca Gia Lưu Đa) tức trò chơi “ai nhanh tay” bốc những quân bài ( Uta=thơ ca; karuta = Carte ) có in câu dưới của bài thơ trong Hyakunin Isshu là thắng cuộc. Người Nhật hầu như ai cũng biết bài (tạm gọi là) Thu Ca nầy vì nó có trên một trong 100 quân bài của trò chơi đó. Khi giám khảo ngâm câu trên trong yomifuda tức quân bài để đọc thì phải biết mà bốc quân bài có ghi câu dưới trong torifuda tức là quân để bốc. Đây là một trò chơi tao nhã rất phổ biến trong quần chúng vào dịp Tết nhất cho đến tận giờ. Sách đã dẫn (Kokin Waka Shuu, bản Chuô Kôron) cho rằng câu đầu và câu thứ hai không xác định nai hay là người đạp trên lá (đỏ chứ không phải vàng vì Momiji chữ Hán viết là Hồng Diệp tức là lá màu đỏ của cây phong vào thu). Có lẽ là cá hai nhưng cái mơ hồ đó làm tăng thi vị.Hơn nữa, nai của ông Lư nên thơ hơn vì không kêu để gọi nai cái (hay gọi đàn) như nai Nhật mà chỉ im lặng, ngơ ngác đạp lá vàng khô. Không riêng Lưu Trọng Lư, Huy Cận cũng đã viết: Nai con gót lẩn trong mù, Xuống rừng nẽo thuộc nhìn thu mới về. Nai và mùa thu là một chủ đề thường thấy trong tập Kokin Waka-Shuu nầy nhưng bên Tàu thời ấy (Đường) cũng có những bài thi vị dính líu xa gần với nai và núi vắng như Lộc Sài của Vương Duy : Không sơn bất kiến nhân Đản văn nhân ngữ hưởng Phản cảnh nhập thâm lâm Phục chiếu thanh đài thượng Theo người thân tôi ở Paris cho biết thì sau khi nghe Nguyễn Vỹ « kết tội », Lưu Trọng Lư đã giẫy nẫy lên « Nhưng bài thơ tao còn có chinh phu, cô phụ kia mà » vv…Người bạn Paris cho biết thêm là một thân nhân của ông Lư bảo rằng ông ta làm bài thơ nói trên sau khi xem một bức sơn mài có cảnh nai ở trong rừng. Ngoài ra, theo nguồn tin thân cận khác, nhà phê bình văn học Đặng Tiến nói ông Lư đã chịu ảnh hưởng Thu Thanh Phú của Âu Dương Tu. Điều này làm tôi tự hỏi phải chăng một bài thơ thu rất hay của một nhà thơ triều Nguyễn là Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của cụ Đinh Nhật Thận, còn có thể là gạch nối giữa Âu Dương Tu và Lưu Trọng Lư chăng ? Vẫn người thân của tôi ở Paris lại nhắc đến Chanson d’Automne, một tác phẩm trứ danh của Pháp mà ai cũng nằm lòng từ lúc ngồi trên ghế trường trung học.Thơ viết về mùa thu nhiều lắm. Thế thì, ông Lư sanh sau đẻ muộn nầy lấy cảm hứng ở đâu để viết Tiếng Thu đây ? Khi tôi có dịp may gặp nhà thơ Xuân Diệu ở Paris một vài năm trước khi ông mất và có hỏi : Thế bác viết : Tuổi học trời xa, Huế cũng đi, Mấy bài thơ cũ thật tiên tri. Bạn vàng thuở trước nên ông cả, Gái nhỏ khi nao thoắt dậy thì. Có lấy cảm hứng từ hai câu : Đồng học thiếu niên đa bất tiện Ngũ Lăng cừu mã tự khinh phì không ? (vì Xuân Diệu rất sành thơ Đường: con ông đồ Nghệ, đã viết những bài như Nhị Hồ, đã dịch và vác ba lô đi nói chuyện về thơ Đường khắp nơi) thì được ông trả lời « Không. Có thể đó là cái hồn thơ nho nhỏ của « thằng » Xuân Diệu đã gặp được cái hồn thơ vĩ đại của cụ Đổ Phủ ở chổ nào đó thôi ». Cho nên chuyện ông Lưu Trọng Lư có biết bài thơ Nhật kia không thì không quan trọng. Trước hết ông Lư có đủ tài để làm thơ hay như khi ông viết về mùa hạ : Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời, Lúc người con sống tôi lên mười. Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội, Áo đỏ người đem trước dậu phơi. Hay mùa đông : Em chỉ là người em gái thôi, Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi, Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời. thì có gì mà chẳng làm được một bài thơ hay về mùa thu, cũng hay như Vần Thơ Sầu Rụng nói về mùa xuân với “những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây”. Cái quan trọng ở đây là ông Lư đã đẻ ra được cái hình ảnh « con nai vàng ngơ ngác ».Nếu ông lấy cảm hứng từ thơ Nhật thì thi nhân Waka nào đó phải còn phải cảm ơn Lưu Trọng Lư nữa, vì dù có mô phỏng cổ nhân, ông đã đưa hồn thơ Nhật Bản đến cho người Việt Nam. Cũng như Nguyễn Khuyến đã đem Thu Hứng của Đổ Phủ vào thơ Việt khéo đến nổi người ta khó lập ra quan hệ “liên văn bản” giữa: Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái (Nguyễn Khuyến) Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (Đổ Phủ) Phải tinh ý lắm mới nhận ra. Hơn nữa, ông Lư cũng đã đem vào bài thơ nầy một chủ đề mùa thu khác như mùa thu của chờ mong thường thấy trong văn học Trung Hoa, Việt Nam và cả Nhật Bản (rạo rực, chinh phu, cô phụ) như ông đã nói rất đúng. Ngoài ra, cái độc đáo của ông là lối đặt câu hỏi (không nghe?), tiếng động mùa thu (thổn thức, xào xạc) như tiếng thu mà Âu Dương Tu, văn nhân đời Tống đã bắt gặp giữa một đêm mất ngủ trong Thu Thanh Phú, hay linh hồn réo rắt của làn gió thu nghe như tiếng vĩ cầm trong Chanson d’Automne của Paul Verlaine (1844-1896): Les sangots longs Des violons De l’automne Blessent mon coeur D’une langueur monotone… Chưa hết. Tôi nghĩ mùa thu đã nhập vào hồn thơ nhân loại. Thi ca toàn cầu hóa trước khi kinh tế bắt đầu vượt biên giới quốc gia. Mới đây, tôi lại thấy người Trung Quốc dịch bài Waka chủ đề Thu Ca nầy sang tiếng Trung và một giáo sư Nhật Bản dịch thơ Lưu Trọng Lư sang tiếng Nhật. Vậy xin chép lại cả hai bài thơ dịch để quý độc giả thưởng thức. Bài Waka dịch ra tiếng Trung với nhan đề Thâm Sơn Hồng Diệp, Đàn Khả dịch (Nhật Bản Cổ Thi Nhất Bách Thủ (Riben Gushi Yibai Shou) do nhà Xuất Bản Văn Học Ngoại Quốc, Bắc Kinh in năm 1985. Theo Đàn Khả, dựa trên bài tựa bằng chữ Hán của Kokin Shuu do Ki no Yoshimochi (Kỷ Thục Vọng), bài thơ nầy do Ôtomo no Kuronushi (Đại Hữu Hắc Chủ), thi nhân khoảng tiền bán thời Heian (794-1188) viết theo một bài thơ trước đó của Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu), như đã nói trên, là một nhân vật chưa chắc đã có thực: Thâm sơn hồng diệp mãn địa phiêu Túc đạp hồng diệp lộ điều điều Văn đạo lộc minh thanh ai khổ Bi cảm phong hàn thu khí cao Núi sâu lá đỏ rụng đầy Chân khua xác lá dặm dài về đâu Nai kêu ai oán gieo sầu Hơi thu lạnh buốt tầng cao ngập lòng (Nguyễn Nam Trân dịch) Dịch giả giải thích đây là tâm sự của một người đang ở giữa đường đời, như đứng giữa rừng sâu lá đỏ, dưới trời thu lạnh lẽo, tiền lộ mịt mùng, lạc lõng không biết về đâu.Theo lối dịch nầy, chỉ có người đạp trên lá đỏ và chỉ nghe tiếng nai vọng đến từ xa.Lối dịch thế nầy không trung thành với nguyên tác cho lắm, nhưng xem ra cũng có một thi vị riêng. Ngoài ra, vào một buổi chiều trong thư viện, tôi nhân tò mò đọc vài trang của quyển sách nhan đề Lối Vào Văn Học Đông Nam Á (Tônan-Azia Bungaku no Shôtai, Sei-unsha, Tôkyo, 2001), thấy trong phần thi văn Việt Nam, giáo sư Kawaguchi Ken-ichi đã dịch Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư ra Nhật Ngữ như sau: Urumu tsuki no shita ni Kimi wa kikazuya Susurinaite iru aki wo Ura wakitsuma no kokoro ni Kimi wa kikazuya Senjô ni yukishi otto no omokage e no Yamigataki omoi wo Aki no mori ni Kimi wa kikazuya Samayou shika ga kareba wo fumu Sono kasokeki oto wo (Aki no oto) Tuy bản dịch chưa đạt như ý chúng ta muốn nhưng phải nói ông giáo Nhật nầy là người có trình độ và phải rõ về cả hai nền văn học vì ít nhất ông là giáo sư Việt Ngữ Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh, chuyên gia văn học. Thế mà chẳng nghe ông gợi ra một câu hỏi nhỏ về khả năng của nguồn cội Waka bài Tiếng Thu khi ông dịch nó qua tiếng nước ông. Điều đó chứng tỏ Lưu Trọng Lư, nói dại là có chịu ảnh hưởng bài Waka chăng nữa, đã thành công vì “che mắt” được cả giáo sư văn chương kia. Để kết luận, tuy phân tích của Nguyễn Vỹ rất cần cho nghiên cứu văn học nhất là văn học đối chiếu nhưng nếu thế, lập luận của ông cần phải có thêm chứng cứ có tính khoa học và khách quan hơn, nhất là khi luận điểm đó đã bị chính tác giả phủ nhận. Riêng ở cương vị một người thưởng thức, tôi lại muốn đồng ý với Xuân Diệu khi họ Ngô viết (lâu ngày quên đích xác thế nào): Ai đi phân tích một làn hương Hay bản cầm ca, Tôi chỉ mơ, tôi chỉ thương, chỉ chuồi theo dòng ảo tưởng Như thuyền ngư phủ lạc trong sương. mà tôi nghĩ thích hợp cho bài Tiếng Thu nầy. Tôkyô, 4/2004, một ngày nắng nhưng nhiều gió. Nguyễn Nam Trâniếng thu: Nguyễn Vỹ-Trần Đăng Khoa-Nguyễn Nam Trân Đăng bởi cavenui on Tháng Chín 20, 2009 Nai mua thu NGUYỄN VỸ Có một lần ở tại nhà trọ của Lư ở phố Hàm Long, tôi cười hỏi Lưu Trọng Lư: -Lư ơi, bài thơ Tiếng thu có phải thật của cậu không? Có Nguyễn Xuân Huy ngồi đấy, Lư ”cười như nắc nẻ”: -Thằng này mơ mộng thật! Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à? -Thế Lữ làm gì nổi 1 bài thơ như thế. Nhưng tao có đọc 1 bài thơ của 1 thi sĩ Nhật Bổn, giống hệt bài thơ của mày, và bài thơ Nhật cũng tựa đề là Tiếng thu. Lưu Trọng Lư ngó Xuân Huy: -Huy, mầy thấy thằng Vỹ nó điên không? Huy bảo tôi: -Mầy muốn chép tao đọc cho chép. Đây là 1 bài tanka nổi tiếng: Oku yama ni Monoji fumi wake Naku zhika no Koe kiku toki zo Aki wa kanashiki Tác giả là Sarumaru, thế kỷ VIII. Bài thơ này, Michel Revon có dịch ra Pháp văn trong quyển Anthologie des poètes japonais (Ed-Hachette) Combien triste est l’automne Quand j’entends la voix Du cerf qui brame En foulant et dispersant les feuilles des érables Dans les profondeurs de la Montagne. Karl Petit, trong quyển La poésie japonaise (Ed-Seghers) lại dịch đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật: Aux profondeurs de la Montagne Ecartant et foulant les feuilles d’érables Le cerf brame Et à l’entendre ainsi Ah! Que l’automne m’est lourdement triste! Dịch đúng nghĩa ra Việt văn: Trong núi rừng sâu Ta nghe tiếng xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá bàng khô Ôi buồn làm sao! Lưu Trọng Lư cãi liền: -Bài tao còn đoạn trên: Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ. Tôi cười: -Cậu làm bài thơ này hồi năm nào? -Mới đây. -Mới đây, và mấy năm nay trong nước mình làm gì có cuộc chiến tranh, có ”kẻ chinh phu”, có ”người cô phụ”? Tôi cho rằng việc cậu ghép thêm 3-4 câu đó vào bài thơ của Saramaru để thay đổi đôi chút, nhưng cậu lại lấy trọn vẹn bản chính của Saramaru. Lưu Trọng Lư không cãi nữa, nhưng Nguyễn Xuân Huy cười: -Kết luận: Les grands esprits se rencontrent! (từ ”Nguyễn Vỹ-Văn thi sĩ tiền chiến”, NXB Hội Nhà văn in lại, 1994) TRÂN ĐĂNG KHOA: CÓ PHẢI BÀI THƠ TIẾNG THU, LƯU TRỌNG LƯ SAO CÓP CỦA NƯỚC NGOÀI? Người đầu tiên vu cho Lưu Trọng Lư cái việc làm rất không lấy gì làm đẹp này là ô.Nguyễn Vỹ trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”. Cứ như ô.Nguyễn Vỹ thì Tiếng thu chính là bài tanka của thi sĩ Nhật bản nổi tiếng Sarumaru ở thế kỷ VII. Nguyên văn bài tanka thế này: Oku yama ni/ Monoji fumi wake/ Naku shika no/ Koe kiku zo/ Aki wa kanashiki Cũng theo Nguyễn Vỹ, bài thơ này được 2 nhà thơ Pháp dịch sang tiếng Pháp. Bản của Michel Revon in trong cuốn Anthologie des poètes japonais (Ed.Hachette) nguyên văn như sau: Combien triste est l’automne/Quand j’entends la voix/ Du serf qui brame/En foulant et dispersant les feuilles des érables/Dans les profondeurs de la Montagne Mùa thu buồn làm sao/ Khi tôi nghe tiếng/ Của con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Trong những nơi sâu thẳm của núi. Bản dịch thứ 2 là của nhà thơ Karl Petit, in trong cuốn La poésie japonaise (Ed.Seghers) mà theo ô.Nguyễn Vỹ là đã dịch đảo ngược, nhưng lại đúng với nguyên văn bản tiếng Nhật: Aux profondeurs de la Montagne/Ecartant et foulant les feuilles d’érables/Le cerf qui brame/Et à l’entendre ainsi/ Ah! que l’automne m’est lourdement triste! Ở những nơi sâu thẳm của Núi/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/Và nghe thấy điều đó như thế/ Chao ôi, mùa thu với tôi buồn nặng trĩu. Còn bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư thì nguyên văn như thế này: Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức/ Em không nghe rạo rực/ Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ/ Em không nghe rừng thu/Lá thu kêu xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô. Tất cả là như vậy đấy. Mới hay Tiếng thu của Lưu Trọng Lư và bài tanka Nhật của Sarumaru là 2 tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỷ nay, người ta cứ a dua nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã sao chép của nước ngoài. Cái nghi án văn chương rất oan khuất ấy cứ bám riết lấy Lưu Trọng Lư cả cho đến khi ông đã nằm dưới 3 thước đất. Người khảo sát văn bản này, nhà phê bình trẻ Hoàng Xuân Tuyền, dù có giỏi tiếng Nga và biết tiếng Pháp, nhưng để thận trọng hơn, anh đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh nhờ thẩm định lại. Tế Hanh rất giỏi tiếng Pháp, ông đã dịch nhiều thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh đã kinh ngạc kêu lên: “Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có liên quan gì đến Tiếng thu. Sao lại đổ vấy cho anh Lư sao cóp?”. Sở dĩ có nghi án ấy là vì Nguyễn Vỹ. Sau khi phê phán Lưu Trọng Lư lấy thơ Nhật bản, Nguyễn Vỹ đã đưa ra bằng cớ là bản dịch của mình, nhưng thực ra Nguyễn Vỹ đâu có dịch, ông lấy luôn bài thơ Tiếng thu tráo vào rồi kêu ầm lên là bắt được kẻ gian, những người nhẹ da, u mê tin theo thì chúng ta chả trách làm gì, nhưng những nhà thơ từng giỏi tiếng Pháp, những nhà phê bình nghiên cứu có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi lẵng nhẵng nói theo, mà cứ nói đi nói lại mãi. Đấy mới thực sự là chuyện lạ ở thời đại bùng nổ thông tin này. (VNQĐ 12/2002) NGUYỄN NAM TRÂN: TIẾNG THU Riêng tặng anh Đinh Văn Thạnh, người bạn chưa quen Một người thân ở Paris, gần đây có viết Mail hỏi tôi xem bài Tiếng Thu (1939) nổi tiếng của Lưu Trọng Lư (1912-1991) có lấy cảm hứng từ một bài thơ xưa của Nhật không? Anh ấy đã đọc ở tờ báo Kỹ Nguyên Mới ở Mỹ cho biết nhà văn Nguyễn Vỹ có lần hỏi bạn ông là Lưu Trọng Lư về điều đó. Lưu Trọng Lư trả lời không là không nhưng Nguyễn Vỹ vẫn chưa hết mối ngờ và đem theo nó vào tận Sài Gòn . Thực tình nếu trí nhớ chưa phản bội tôi thì chính tôi cũng đã có cơ hội đọc điều nầy trong mục Mình Ơi của báo Phổ Thông do cô Diệu Huyền (một biệt hiệu của Nguyễn Vỹ) phụ trách. Báo Phổ Thông thời đó có vài cựu sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản đóng góp khá thường xuyên và được quần chúng, trong số đó có tôi, khá yêu chuộng và lòng mến mộ nước Nhật của tôi cũng bắt nguồn từ đó.Giai thoại Tiếng Thu được kể ra qua cuộc đối thoại giữa Ông Tú và Bà Tú. Ông bà Tú không phải là những nhân vật hư cấu, có chăng là ..cô hàng bán vịt lộn đôi khi xuất hiện trong đó. Bà Tú là nhân vật có thực ngoài đời, em gái ông Vỹ. Ông Trần Tú, chồng bà, gốc ngoài Quảng như ông Vỹ, là một người bạn của cha tôi hồi còn ở Đơn Dương gần Đà Lạt. Một người con của hai ông bà, chị Kim Thoa, là bạn học với tôi năm lớp nhì tiểu học. Theo nội dung của bài báo trên Phổ Thông thì Lưu Trọng Lư có thể đã mượn ý của một bài thơ cổ của người Nhật nhưng qua một bản dịch tiếng Pháp vì ông Lư không biết tiếng Nhật. Tôi bèn suy ra thơ cổ của Nhật Bản thì chỉ có tanka và tập thơ tanka căn bản phải là Kokin Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập). Nhân một ngày thứ bảy rỗi việc, tôi mới ra quán sách trong supermarket ở Tôkyô đọc cọp bản của nhà Chuô Kôron và tình cờ có thêm một số ít tin tức về bài tanka liên quan xa gần đến Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư. Trước hết phải nói là những thông tin của Nguyễn Vỹ rất chính xác vì ông có chua âm Nhật của bài thơ bên cạnh bài báo xuất bản ở Mỹ mà người thân của tôi ở Paris đã đọc. Nguyên tác : Okuyama ni (Trong núi sâu) (5) Momiji fumiwake (Đạp lên lá phong đỏ rẽ lối đi) (7) Naku shika no (Của nai kêu) (5) Koe kiku toki zo (Chính là khi nghe tiếng) (7) Aki ga kanashiki (Mùa thu buồn làm sao) (7) Chúng ta đều biết người Nhật thích thể thơ 5 chữ 7 chữ như Việt Nam thích 6,8. Những bài hát Nhật ăn tiền bây giờ cũng theo thể 5,7. Đọc thơ Nhật như bài nầy thì nên đi ngược từ câu cuối thì mới rõ nghĩa. Vâng, bài nầy đã tìm thấy trong phần Thu Ca của tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập), một tuyển tập thơ quốc âm Tanka (Đoản Ca) của Nhật. Vào đầu thời Hei-an, văn chương chữ Hán chiếm địa vị độc tôn và thơ quốc âm Waka bị đẩy lùi vào bóng tối. Thế nhưng, Waka không vì thế mà mai một hẳn, nó chỉ trở thành một hình thức thơ để tỏ tình cảm riêng tư, sinh hoạt luyến ái nam nữ hay tình tự dân gian. Tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) là tập thơ quốc âm đầu tiên đã được soạn để tiến lên vua theo sắc chiếu, còn được lược xưng là Kokin Shuu (Cổ Kim Tập). Do bọn các ông Ki-no-Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi), Ki-no-Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc), Ôshikôchi-no-Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng), Mibu-no-Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) soạn khoảng năm Engi (Diên Hỷ) thứ 5 (905) theo sắc lệnh của thiên hoàng (thứ 60) Daigô (Đề Hồ, trị vì 897-930). Đây là tập thi tuyển Waka đầu tiên được soạn theo chiếu chỉ và là qui phạm cho những tập soạn theo chiếu chỉ các đời sau.Thi tập nầy gồm 12 quyển, thu thập ước chừng trên 1100 bài thơ, có kèm hai bài tựa (Jo), một viết bằng Kana (tức bài Kanajo) do Ki-no-Tsurayuki và bài kia bằng chữ Hán (Manajo) do Ki-no-Yoshimochi (Kỷ, Thục Vọng) viết. Đặc biệt trong bài tựa viết bằng Kana, không những thuyết về sự hoà điệu giữa cái Tâm và thi Từ mà còn chủ trương về vai trò đối đầu của Waka với thơ chữ Hán, nói lên được ý thức dân tộc của người soạn ra nó. Kokin Waka Shuu chia thành nhiều bộ (bộ lập=budate) tùy theo chủ đề: Xuân (thượng, hạ), Hạ, Thu (thượng, hạ), Đông, Hạ (chúc tụng), Ly Biệt, Ki Lữ (lữ hành), Vật Danh, Luyến (Tình Yêu), Ai Thương, Tạp (thượng, hạ), Tạp Thể (thượng, hạ) Đại Ca Sở Ngự Ca.Về thể điệu, phần lớn là những bài ngắn (Tanka), có một ít bài dài (Chôka hay Naga-uta) và thơ đối đáp (Sedôka). Như đã nói, bài thơ chúng ta đang bàn đến có chép trong phần chủ đề về mùa thu (Thu Ca). Về tác giả, sách cho biết “không biết là ai” nhưng chua thêm ”Trong tập Hyakunin Isshuu (Bách Nhân Nhất Thủ, tức một tập chọn mỗi người nổi tiếng một bài ) thì bảo tác giả là Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu) một nhân vật truyền thuyết có tên trong 36 nhà thơ thời cổ (Tam Thập Lục Ca Tiên) đã soạn”. Hyakunin Isshuu được nhiều người cho là công trình biên soạn của Fujiwara Sadaie (còn đọc là Teika, tức Đằng Nguyên Định Gia) vào khoảng năm 1235 và thơ dựa trên Hyakunin Shuuka (Bách Nhân Tú Ca) tức thơ hay của trăm nhà mà ông đã chọn để viết trên giấy họa để trang trí dinh thự một vương hầu. Hyakunin Isshu (quen gọi tắt là Hyakuninshu) chọn của 100 tác giả mỗi người một bài thơ và lấy những bài đó ở các thi tập soạn theo sắc chiếu, tính từ Kokin-Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) cho đến Shoku-Gosen-Shuu (Tục-Hậu Tuyển Tập). Những bài thơ trong tập sách nầy đều đặc sắc nên được truyền bá rộng rãi về sau dưới mọi hình thức nghệ thuật. Chẳng hạn vào đầu thời Edo, có trò chơi Utagaruta (Ca Gia Lưu Đa) tức trò chơi “ai nhanh tay” bốc những quân bài ( Uta=thơ ca; karuta = Carte ) có in câu dưới của bài thơ trong Hyakunin Isshu là thắng cuộc. Người Nhật hầu như ai cũng biết bài (tạm gọi là) Thu Ca nầy vì nó có trên một trong 100 quân bài của trò chơi đó. Khi giám khảo ngâm câu trên trong yomifuda tức quân bài để đọc thì phải biết mà bốc quân bài có ghi câu dưới trong torifuda tức là quân để bốc. Đây là một trò chơi tao nhã rất phổ biến trong quần chúng vào dịp Tết nhất cho đến tận giờ. Sách đã dẫn (Kokin Waka Shuu, bản Chuô Kôron) cho rằng câu đầu và câu thứ hai không xác định nai hay là người đạp trên lá (đỏ chứ không phải vàng vì Momiji chữ Hán viết là Hồng Diệp tức là lá màu đỏ của cây phong vào thu). Có lẽ là cá hai nhưng cái mơ hồ đó làm tăng thi vị.Hơn nữa, nai của ông Lư nên thơ hơn vì không kêu để gọi nai cái (hay gọi đàn) như nai Nhật mà chỉ im lặng, ngơ ngác đạp lá vàng khô. Không riêng Lưu Trọng Lư, Huy Cận cũng đã viết: Nai con gót lẩn trong mù, Xuống rừng nẽo thuộc nhìn thu mới về. Nai và mùa thu là một chủ đề thường thấy trong tập Kokin Waka-Shuu nầy nhưng bên Tàu thời ấy (Đường) cũng có những bài thi vị dính líu xa gần với nai và núi vắng như Lộc Sài của Vương Duy : Không sơn bất kiến nhân Đản văn nhân ngữ hưởng Phản cảnh nhập thâm lâm Phục chiếu thanh đài thượng Theo người thân tôi ở Paris cho biết thì sau khi nghe Nguyễn Vỹ « kết tội », Lưu Trọng Lư đã giẫy nẫy lên « Nhưng bài thơ tao còn có chinh phu, cô phụ kia mà » vv…Người bạn Paris cho biết thêm là một thân nhân của ông Lư bảo rằng ông ta làm bài thơ nói trên sau khi xem một bức sơn mài có cảnh nai ở trong rừng. Ngoài ra, theo nguồn tin thân cận khác, nhà phê bình văn học Đặng Tiến nói ông Lư đã chịu ảnh hưởng Thu Thanh Phú của Âu Dương Tu. Điều này làm tôi tự hỏi phải chăng một bài thơ thu rất hay của một nhà thơ triều Nguyễn là Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của cụ Đinh Nhật Thận, còn có thể là gạch nối giữa Âu Dương Tu và Lưu Trọng Lư chăng ? Vẫn người thân của tôi ở Paris lại nhắc đến Chanson d’Automne, một tác phẩm trứ danh của Pháp mà ai cũng nằm lòng từ lúc ngồi trên ghế trường trung học.Thơ viết về mùa thu nhiều lắm. Thế thì, ông Lư sanh sau đẻ muộn nầy lấy cảm hứng ở đâu để viết Tiếng Thu đây ? Khi tôi có dịp may gặp nhà thơ Xuân Diệu ở Paris một vài năm trước khi ông mất và có hỏi : Thế bác viết : Tuổi học trời xa, Huế cũng đi, Mấy bài thơ cũ thật tiên tri. Bạn vàng thuở trước nên ông cả, Gái nhỏ khi nao thoắt dậy thì. Có lấy cảm hứng từ hai câu : Đồng học thiếu niên đa bất tiện Ngũ Lăng cừu mã tự khinh phì không ? (vì Xuân Diệu rất sành thơ Đường: con ông đồ Nghệ, đã viết những bài như Nhị Hồ, đã dịch và vác ba lô đi nói chuyện về thơ Đường khắp nơi) thì được ông trả lời « Không. Có thể đó là cái hồn thơ nho nhỏ của « thằng » Xuân Diệu đã gặp được cái hồn thơ vĩ đại của cụ Đổ Phủ ở chổ nào đó thôi ». Cho nên chuyện ông Lưu Trọng Lư có biết bài thơ Nhật kia không thì không quan trọng. Trước hết ông Lư có đủ tài để làm thơ hay như khi ông viết về mùa hạ : Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời, Lúc người con sống tôi lên mười. Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội, Áo đỏ người đem trước dậu phơi. Hay mùa đông : Em chỉ là người em gái thôi, Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi, Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời. thì có gì mà chẳng làm được một bài thơ hay về mùa thu, cũng hay như Vần Thơ Sầu Rụng nói về mùa xuân với “những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây”. Cái quan trọng ở đây là ông Lư đã đẻ ra được cái hình ảnh « con nai vàng ngơ ngác ».Nếu ông lấy cảm hứng từ thơ Nhật thì thi nhân Waka nào đó phải còn phải cảm ơn Lưu Trọng Lư nữa, vì dù có mô phỏng cổ nhân, ông đã đưa hồn thơ Nhật Bản đến cho người Việt Nam. Cũng như Nguyễn Khuyến đã đem Thu Hứng của Đổ Phủ vào thơ Việt khéo đến nổi người ta khó lập ra quan hệ “liên văn bản” giữa: Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái (Nguyễn Khuyến) Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (Đổ Phủ) Phải tinh ý lắm mới nhận ra. Hơn nữa, ông Lư cũng đã đem vào bài thơ nầy một chủ đề mùa thu khác như mùa thu của chờ mong thường thấy trong văn học Trung Hoa, Việt Nam và cả Nhật Bản (rạo rực, chinh phu, cô phụ) như ông đã nói rất đúng. Ngoài ra, cái độc đáo của ông là lối đặt câu hỏi (không nghe?), tiếng động mùa thu (thổn thức, xào xạc) như tiếng thu mà Âu Dương Tu, văn nhân đời Tống đã bắt gặp giữa một đêm mất ngủ trong Thu Thanh Phú, hay linh hồn réo rắt của làn gió thu nghe như tiếng vĩ cầm trong Chanson d’Automne của Paul Verlaine (1844-1896): Les sangots longs Des violons De l’automne Blessent mon coeur D’une langueur monotone… Chưa hết. Tôi nghĩ mùa thu đã nhập vào hồn thơ nhân loại. Thi ca toàn cầu hóa trước khi kinh tế bắt đầu vượt biên giới quốc gia. Mới đây, tôi lại thấy người Trung Quốc dịch bài Waka chủ đề Thu Ca nầy sang tiếng Trung và một giáo sư Nhật Bản dịch thơ Lưu Trọng Lư sang tiếng Nhật. Vậy xin chép lại cả hai bài thơ dịch để quý độc giả thưởng thức. Bài Waka dịch ra tiếng Trung với nhan đề Thâm Sơn Hồng Diệp, Đàn Khả dịch (Nhật Bản Cổ Thi Nhất Bách Thủ (Riben Gushi Yibai Shou) do nhà Xuất Bản Văn Học Ngoại Quốc, Bắc Kinh in năm 1985. Theo Đàn Khả, dựa trên bài tựa bằng chữ Hán của Kokin Shuu do Ki no Yoshimochi (Kỷ Thục Vọng), bài thơ nầy do Ôtomo no Kuronushi (Đại Hữu Hắc Chủ), thi nhân khoảng tiền bán thời Heian (794-1188) viết theo một bài thơ trước đó của Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu), như đã nói trên, là một nhân vật chưa chắc đã có thực: Thâm sơn hồng diệp mãn địa phiêu Túc đạp hồng diệp lộ điều điều Văn đạo lộc minh thanh ai khổ Bi cảm phong hàn thu khí cao Núi sâu lá đỏ rụng đầy Chân khua xác lá dặm dài về đâu Nai kêu ai oán gieo sầu Hơi thu lạnh buốt tầng cao ngập lòng (Nguyễn Nam Trân dịch) Dịch giả giải thích đây là tâm sự của một người đang ở giữa đường đời, như đứng giữa rừng sâu lá đỏ, dưới trời thu lạnh lẽo, tiền lộ mịt mùng, lạc lõng không biết về đâu.Theo lối dịch nầy, chỉ có người đạp trên lá đỏ và chỉ nghe tiếng nai vọng đến từ xa.Lối dịch thế nầy không trung thành với nguyên tác cho lắm, nhưng xem ra cũng có một thi vị riêng. Ngoài ra, vào một buổi chiều trong thư viện, tôi nhân tò mò đọc vài trang của quyển sách nhan đề Lối Vào Văn Học Đông Nam Á (Tônan-Azia Bungaku no Shôtai, Sei-unsha, Tôkyo, 2001), thấy trong phần thi văn Việt Nam, giáo sư Kawaguchi Ken-ichi đã dịch Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư ra Nhật Ngữ như sau: Urumu tsuki no shita ni Kimi wa kikazuya Susurinaite iru aki wo Ura wakitsuma no kokoro ni Kimi wa kikazuya Senjô ni yukishi otto no omokage e no Yamigataki omoi wo Aki no mori ni Kimi wa kikazuya Samayou shika ga kareba wo fumu Sono kasokeki oto wo (Aki no oto) Tuy bản dịch chưa đạt như ý chúng ta muốn nhưng phải nói ông giáo Nhật nầy là người có trình độ và phải rõ về cả hai nền văn học vì ít nhất ông là giáo sư Việt Ngữ Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh, chuyên gia văn học. Thế mà chẳng nghe ông gợi ra một câu hỏi nhỏ về khả năng của nguồn cội Waka bài Tiếng Thu khi ông dịch nó qua tiếng nước ông. Điều đó chứng tỏ Lưu Trọng Lư, nói dại là có chịu ảnh hưởng bài Waka chăng nữa, đã thành công vì “che mắt” được cả giáo sư văn chương kia. Để kết luận, tuy phân tích của Nguyễn Vỹ rất cần cho nghiên cứu văn học nhất là văn học đối chiếu nhưng nếu thế, lập luận của ông cần phải có thêm chứng cứ có tính khoa học và khách quan hơn, nhất là khi luận điểm đó đã bị chính tác giả phủ nhận. Riêng ở cương vị một người thưởng thức, tôi lại muốn đồng ý với Xuân Diệu khi họ Ngô viết (lâu ngày quên đích xác thế nào): Ai đi phân tích một làn hương Hay bản cầm ca, Tôi chỉ mơ, tôi chỉ thương, chỉ chuồi theo dòng ảo tưởng Như thuyền ngư phủ lạc trong sương. mà tôi nghĩ thích hợp cho bài Tiếng Thu nầy. Tôkyô, 4/2004, một ngày nắng nhưng nhiều gió.

Nguyễn Nam Trân

Read Full Post »

Những nụ hôn

Trần Viết Dũng

Cho anh một nụ lôi thôi
Lần đầu run, lệch tâm môi đôi miền

Cho anh một nụ ngoan hiền
Rơi trong giấc ngủ hồn nhiên trăng tà

Cho anh một nụ thật thà
Ngọn đèn đứng giữa phố nhà hoang mang

Cho anh một nụ hoang đàng
Chim tha trái hạnh lang thang phía chiều

Cho anh một nụ hôn liều
Mai sau nhớ mẹ một điều răn xưa

Cho anh một nụ dối lừa
Trăm năm rồi sẽ trăm mùa ăn năn

Cho anh nghìn nụ ân cần
Kết vòng hoa đến mộ phần…hôn em

Read Full Post »

Cuộc tọa đàm về thơ Trần Dần do Ðại sứ quán Pháp tại VN và Công ty Văn hóa và truyền thông Nhã Nam tổ chức (tối 1-3-2010 tại L’Espace) có sự điềm đạm và sâu lắng của một cuộc tưởng niệm.

Một minh họa của Trần Dần cho bài thơ Ngã tư xưa: Anh muốn rao lên cho làng nước biết/Hôm nay em bạc đãi một người/Nhưng em ơi! Anh chỉ đến ngã tư xưa/Anh đứng dưới một ngôi đèn bỏ

Nhưng khi đã bàn sâu vào thơ và những vấn đề cách tân thơ, Trần Dần hiện lên không phải chỉ với tư cách một nhân vật để tưởng niệm. Ông và thơ ông đang sống như một nhà thơ cách tân, như một người thơ yêu nước (cũng là tên của buổi tọa đàm).

Vẫn còn một chút dè dặt và ngại ngùng sau bao nhiêu biến cố đã qua, sau nhiều điều từng chứng kiến, biết, đọc và nghe nói về Trần Dần và thơ của ông, nhưng những diễn giả trong cuộc tọa đàm thơ Trần Dần: dịch giả, nhà thơ và là người bạn thân Dương Tường, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà thơ Hữu Việt, thạc sĩ vừa bảo vệ luận văn về thơ Trần Dần Hà Thị Hạnh, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhà thơ Nguyễn Duy… đều nồng nhiệt và quả quyết khẳng định vai trò”nhà cách tân số 1″của thi ca VN của Trần Dần.

Người bạn từng chia sẻ những tháng ngày lận đận của ông, nhà thơ Dương Tường nói:”Trần Dần từng viết trong Nhật ký thơ :”Phải có gan bỏ rẻ một cuộc đời cho một thử nghiệm thơ”. Và cuộc đời ông là minh chứng thực tế nhất cho quan niệm ấy.

Trong hoạn nạn, trong bóng tối, trong im lặng, ông âm thầm, kiên quyết và đau đớn theo đuổi những giấc mơ cách tân thơ của mình. Thoát khỏi ảnh hưởng thơ bậc thang của Maiakovski, ông lầm lụi độc hành tìm ra những Mùa sạch, Jờ Joạcx, 177 cảnh…

Nhà thơ Trần Dần (1926-1997) được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. Tuyển tập Thơ Trần Dần (Nhã Nam và NXB Đà Nẵng) được trao giải thành tựu trọn đời về thơ của Hội Nhà văn Hà Nội 2008, và là tác phẩm duy nhất giành giải thưởng văn học nghệ thuật thủ đô năm 2008 dành cho văn học.

Khác với hình dung lâu nay của số đông về những điều chỉ”nghe nói”quanh số phận và thơ Trần Dần, bè bạn, các nhà nghiên cứu, gia đình… đều khẳng định ông là một nhà thơ chiến sĩ với tất cả ý nghĩa tốt đẹp của nó.

Sau giai đoạn làm thơ bí hiểm với nhóm”Dạ đài”thời trai trẻ, từ 1946-1954, Trần Dần nhập ngũ, trở thành một người lính làm thơ, ông đi suốt cuộc kháng chiến chống Pháp với những trận chiến và những tác phẩm đầy tinh thần xung trận: Người người lớp lớp; Ði, đây Việt Bắc

Sự quyết liệt trong cá tính của ông theo ông mãi đến ngày cuối cùng của cuộc đời, trong những câu thơ cuối cùng, nhưng không còn với tính chất đơn thuần là ý nghĩa của câu chữ, mà là sự quyết liệt trong việc tìm kiếm những hình thức thể hiện mới, đẩy tiếng Việt đến chân tường để nó bật ra những nghĩa mới.

Có lẽ với số đông, Trần Dần và thơ ông vẫn còn là một cái gì đó mơ hồ, bí ẩn, khó hiểu. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng rất thẳng thắn và chân tình chỉ ra những sai sót của ban tổ chức khi giới thiệu”Trần Dần là nhà thơ có ảnh hưởng nhiều nhất trong thơ ca VN hiện đại”- không ai, dù yêu Trần Dần đến đâu, có thể nói thơ ông được nhiều người biết, nhiều người đọc đến độ trở nên phổ biến, có ảnh hưởng xã hội.

Nhưng như cách tiếp cận rất chân thành và gần gũi của nhà thơ Hữu Việt:”Bên cạnh những thử nghiệm, có cả thành công và chưa thành công, bên cạnh những câu thơ tuyệt bút, bên cạnh những nỗi đau đời, bất cứ ai cũng có thể tìm thấy mình trong những câu thơ bình thường của ông, sự bình thường, giản dị của một bậc”đại cao thủ”chữ nghĩa: Bài thơ hôm nay tôi viết/ Ðã giống lưỡi lê: đâm/giống viên đạn: xé/ giống bão mưa: gào/giống tình yêu: thắm .

Tại cuộc tọa đàm, nhiều người đã nhắc lại câu thơ bất hủ của Trần Dần:” Tôi yêu đất mẹ đây/có cỏ hoa làm chứng/Tôi yêu chủ nghĩa này/cờ đỏ cãi cho tôi “để cùng lặng người vì cảm phục và thương nhớ Trần Dần.

THU HÀ

Read Full Post »

(Lương y Phan Văn Sang)

Sung là loài cây sống trải rộng khắp nơi trên trái đất. Sung gần gũi
với dân quê hiền hòa chất phát, từ đó có những câu hát, câu ca dao
truyền từ đời này qua đời khác…

…Đói lòng ăn nửa trái sung
Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng…

 

Theo Y học cổ truyền, quả sung có vị ngọt, tính bình, có công dụng
kiện tỳ, ích vị, nhuận phế lợi hầu, nhuận tràng thông tiện…

Quả sung dân dã, quê mùa, nhưng ít ai biết sung có công dụng trị nhiều thứ bệnh.
Khi quý vị vào trang google nhập từ TRÁI SUNG sẽ được nhiều thông tin
phong phú nói về trái sung.
Trái sung tên khoa học là Ficus carica, họ dâu tằm Moraceae L

Trái sung giàu Phenol, axit béo, omega3 và omega6, tốt cho tim mạch.
Chất xơ trái sung có thể giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, đặc
biệt ung thư gan mật, ruột kết và ung thư vú.
Vi chất ổn định đường huyết, ổn định huyết áp…

Đó là những thông tin trong sách báo, trên mạng Internet, nhưng ở vùng
miền Trung vùng sâu, vùng  xa hẻo lánh của quê hương tôi người ta dùng
để chữa hiệu quả một chứng bệnh, đó là bệnh

SỎI MẬT

Nghe qua  khó tin nhưng là việc thật. Bỡi thế người Trung Hoa thường
bảo “ người Việt Nam chết trên cây thuốc” là vậy.

Vào thời điểm những năm sau 1975, đời sống kinh tế và thuốc men rất là
khó khăn khổ cực. đối với mọi người dân, nhất là vùng sâu vùng xa, cho
nên mọi người rất sợ đau ốm.
Câu chuyện xảy ra vào khoảng năm 1976 tại huyện Phù Cát thuộc Tỉnh
Bình Định quê hương tôi.
Hôm đó vào khoảng xế chiều trên bến xe lam, chưa đủ khách nên xe chưa
chạy, trên chiếc xe lam chỉ có 3 người : một bà già ngồi nhai trầu bỏm
bẻm miệng đỏ hoe, nhìn cô gái ( khoảng 20 tuổi ) ốm yếu, da mặt vàng
sạm, với hơi thở yếu ớt nằm ngoặc nghẽo trong vòng tay người mẹ.

Bà già trầu cất tiếng hỏi:
–          Chị ơi, con bé bị bệnh gì mà trông tội nghiệp quá vậy ?
–          Dạ, cháu nó bị sỏi mật, nằm bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn cả
tháng nay, bác sĩ định mổ nhưng xét nghiệm rồi nói cháu nó máu loãng
không đông nên không thể mổ, nếu mổ sẽ không cầm được máu sẽ chết,
thôi thì đưa cháu về cho ăn được gì ăn rồi cháu sẽ chết !
Nói xong 2 hàng nước mắt lăn dài trên đôi má gầy còm của người mẹ.

Nghe xong, bà già tay cầm miếng trầu đang nhai trong miệng vứt xuống
đất nghe cái “bộp”, nói một giọng chắc mẩm :
–          Wééé…ét……Chết chóc cái gì mà chết, bịnh này mà mổ xẻ cái
gì chứ ! Chị nghe lời tôi, về nhà hái một rổ trái sung xanh, xắc mỏng
phơi khô sao vàng cho vào nồi, đổ ngập nước nấu cạn còn nửa nồi cho
cháu uống dần sẽ hết bịnh.

Nghe bà già trầu nói thế  người mẹ mừng quá quên cả cám ơn , về đến
nhà trời cũng đã tối, bà con lối xóm nghe con bé về ai nấy đến thăm,
nhìn thân hình tiều tụy, mê man mà lắc đầu thương xót.
Khi đưa cô con gái vào nằm trên giường, mặc ai thăm thì cứ
đến thăm, riêng bà đốt đèn ra bờ sông soi tìm hái đầy một rổ trái
sung.
Về đến nhà mọi người đến thăm ai nấy đã về hết, chỉ còn
con gái bà  còn  nằm bất động trên giường. Mặc kệ mày !
Bà cặm cụi xắt mỏng từng trái sung, đêm không nắng không phơi được,
hơn nữa thời giờ cấp bách bà chất lửa đốt, bắt chảo lên rang vàng đến
khô giòn từng lát  sung, sau đó cho vào nồi nấu đến khi còn lại 1 bát
lớn thì trời cũng đã khuya lắm rồi.
–          Dậy uống thuốc nè con
–          Ôi ! Con mệt quá…
–          Ráng uống để sống với người ta đi con ơi, không thì con sẽ chết!
Nửa tỉnh nửa mê nghe nói chết, cô con gái  cũng sợ ráng ngồi dậy uống
hết bát thuốc.
Thấy con uống xong, là lúc bà cũng mệt mỏi lắm, nằm ngủ
thiếp lúc nào không hay.

………..

-Má ơi con đói bụng quá !
Đang nằm ngủ ngon giấc, bà mẹ giật mình ngồi dậy;
–          Hã? Con nói gì ?
–          Con đói bụng quá, có gì ăn không ?
Trời đất, con nhỏ nó hồi dương rồi sao ? Nằm bệnh viện cả tháng trời
nó có chịu ăn uống gì đâu, nó chỉ sống bằng thuốc , bằng dịch chuyền
thôi mà, sao nay về nhà nó lại đói bụng đòi ăn ? Vậy là nó hồi dương
và sắp chết thật rồi. Bà thầm nghĩ vậy.
–          Có ăn cũng để má nấu cơm nóng đã chứ. Còn cơm nguội ăn gì được .
–          Kệ má ơi, cho con ăn đi, con đói lắm rồi.
Trời ! Bà còn sợ dữ nữa, nhất định con nhỏ hồi dương rồi, chắc rồi nó
cũng chết, thôi cứ cho nó ăn đại cơm nguội, nếu nó có chết cũng là
chết no. Nghĩ vậy bà bèn lấy cơm nguội với mắm cho nó ăn.

Nhìn nó ăn ngon lành mà bà thấy buồn thương cho đứa con
gái tội nghiệp, rồi đây nó sẽ không còn trên cõi đời này, không còn
trong căn nhà này nữa…

Sau hơn tháng trời xa nhà nằm bệnh viện, sáng nay nó đi
khắp xóm khắp làng gặp nhà ai nó cũng ghé vào nói cười vui vẻ làm ai
cũng lo cũng sợ. Cứ nghĩ cô gái này chết rồi mà hồi dương lại đi thăm
mọi người rồi về cũng  sẽ chết luôn…( dân quê hay quan miệm vậy mà ! )
Đến chiều nhìn đứa con gái xem ra vẫn khỏe hơn, bà nghĩ
bụng : vậy là trái sung đã cứu sống con mình rồi. Bà vui mừng đi tìm
hái thêm mấy  rổ nữa về làm cho nó uống…

Thưa quý vị, trải qua 34, 35 năm nay cô con gái đó, nay đã
trở thành bà nội bà ngoại rồi. Đây là câu chuyện thật 100% ở cùng làng
quê tôi.

Thằng em út tôi ( sinh năm 1977) vào năm 1995 làm ăn ở Sài
gòn cũng bị chứng sỏi mật nằm bệnh viện Bình dân (đã lên lịch mổ), tối
hôm đó tôi có lên thăm thấy mắt, mặt và toàn thân là một màu vàng sạm
( nói xin lỗi, còn xấu hơn da người mới chết ) nhưng sáng hôm sau đã
thấy nó vát mặt về nhà.
-Trời ơi, sao mày không nằm để bác sĩ người ta mổ ?
Thì thằng em tôi nó nó nói: “Thôi, em về uống trái sung, sợ mổ lắm”.
Và thưa quý vị quả thật cho đến hôm nay ( tháng 2-2011) trải qua 16
năm nó vẫn lao động bình thường, sỏi cũng tiêu đâu mất.

Trải qua 12 năm tôi có tham gia chữa bệnh từ thiện ở các phòng khám
của các chùa. Vào năm 2003 tôi đang châm cứu cho một bà bệnh nhân, bà
ấy  bảo:
-Thầy ơi châm giùm tôi chỗ cạnh sườn này. Vừa nói bà vừa lấy ngón tay
chỉ vào.Tôi hỏi
– Sao lại phải châm chỗ này ?
– Tôi bị sỏi mật, còn 1 tháng nữa là tôi phải đi mổ đó.Giờ
châm cho đỡ đau thôi.

Bà còn nói –“bác sĩ cho biết giá mổ xong hoàn tấc là 30 triệu đó”.
Tôi hỏi :
-Vậy ai lo cho bà ?
– Tôi có thằng con làm giám đốc sẽ lo cho tôi về tiền bạc.
Nghe vậy tôi nói nữa đùa nửa thật:
–          Vậy nếu tôi chữa cho bà, đến khi tan hết sỏi, khỏi mổ bà
cho tôi bao nhiêu ?
Thật tình những lương y chúng tôi phần đông ai cũng nghèo, nhưng vì
yêu thích nghề nên ăn cơm nhà đi làm từ thiện miễn phí, giúp cho những
bệnh, thỉnh thoảng cũng gặp được những người gia đình khá giả họ cũng
có bồi dưỡng cho chúng tôi ít nhiều có tiền uống café với anh em , nay
gặp bà bệnh nhân này nói có con làm giám đốc vậy cũng mừng.

Bà ấy nói : Nếu thầy chữa tôi hết bệnh khỏi mổ tôi tạ thầy
10 triệu, nhưng mà…thầy chữa hết không ?
–          Tôi là người lớn, là một lương y không thể nói đùa.
Nghe vậy bà ấy vui mừng 2 bên thỏa thuận bằng miệng với nhau và hứa
ngày mai đến gặp tôi lấy thuốc.
Tôi mướn người đi tìm hái trái sung về sao tẩm chế
biến,thỉnh thoảng hết thuốc bà thường đến gặp tôi để lấy về uống, liên
tục như thế thời gian khoảng 1 tháng, rồi sau đó bà bặt tăm luôn không
thấy đến nữa, mà tôi thì quên hỏi số điện thoại nhà bà. Đến chừng 6
tháng sau bà đến chùa, gặp lại bà tôi rất vui và hỏi :
–          Lâu quá không gặp bà, bà khỏe không ?
–          Khỏe !
–          Vậy sỏi mật bà hết chưa ? Có đi bác sĩ mổ không ?
Bà đáp :
–          À hết rồi, hết rồi thôi đâu có đi bác sĩ chi nữa.
Tôi hỏi :
–          Vậy chứ còn bà hứa sau khi hết bệnh cho tôi 10 triệu bà tính sao ?
Bà cười giả lả : Các thầy có cái tâm đến đây làm từ thiện mà nhắc đến
tiền bạc sao ?
– Trời đất ! Bà nói vậy thôi tôi chịu thua bà luôn.
Từ đó về sau, gặp bà tôi cũng không nhắc đến chuyện đó nữa.

“Làm người thầy thuốc rất vinh hạnh, nhưng cũng lắm phũ phàng” là vậy.
Đây là chuyện có thật trong đời làm thuốc của tôi, bạn bè đồng nghiệp
làm chung với tôi, biết chuyện ai cũng phì cười.

Là một người Phật tử tin sâu vào Phật Pháp, một lương y
tuy có đủ bằng cấp chứng chỉ hành nghề, nhưng xưa nay phần nhiều làm ở
các chùa, tiếp xúc đủ loại bịnh, tuy ít ai biết đến tôi, nhưng tôi
cũng có vài bí quyết kinh nghiệm nhỏ, người ta bảo “ Thầy dở cũng đỡ
xóm làng” ấy mà.Nay tuổi cũng đã xế chiều, trường chay đạm bạc, niệm
Phật phát nguyện vãng sanh, không vì danh lợi, muốn được phổ biến,
chia sẻ cùng Chư Đạo hữu một vài kinh nghiệm nhỏ.
Nói thế chứ cũng tùy theo cơ địa của từng mỗi người, nhưng những
phương tôi chia sẻ từ “cây nhà lá vườn”, bằng trái, hoa, củ quả… uống
vào nếu vô thưởng thì cũng vô phạt.. .
Khi quý vị gặp bệnh này hãy làm bằng cái tâm ( miễn phí )
sau khi thấy hiệu quả cũng xin được chia sẻ lại niềm vui đó đến với
tôi, tôi sẽ tiếp tục phổ biến những phương khác nữa bằng những câu
chuyện như trên.

Thuốc không phân là thuốc mắc hay thuốc rẻ, Thuốc nào trị lành bệnh là
thuốc hay !
Pháp Phật không phân biệt Pháp cao hay Pháp thấp, Pháp nào hạp căn cơ,
cứu cánh là Pháp đó hay !

Read Full Post »

image

Phương pháp trị liệu của LY Yên rất hiệu quả, chỉ sau vài phút bấm huyệt, nhiều BN bị bại liệt đã đi, đứng được, nhiều BN bị câm điếc, nói ú ớ trở nên khỏi hẳn… Hàng trăm người dân chứng kiến đã vỗ tay tán thưởng phương pháp trị bệnh kỳ diệu “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam của LY này.

Chỉ sau vài phút bấm huyệt, nhiều bệnh nhân bị bại liệt đã đi, đứng được, bị câm điếc, nói ú ớ trở nên khỏi hẳn… Hàng trăm người dân chứng kiến đã vỗ tay tán thưởng phương pháp trị bệnh kỳ diệu “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam của lương y Võ Hoàng Yên.

Trong hai ngày 21 và 22-4, lương y (LY) Võ Hoàng Yên (SN 1975, ngụ ấp Cái Nước, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau) – người có đôi bàn tay vàng, được hàng ngàn bệnh nhân (BN) tôn vinh là “thần y” đã đến chùa Thiên Ân (P.Thuận Giao, TX.Thuận An) chữa trị bệnh câm điếc, bại liệt hoàn toàn miễn phí cho người dân.

Phương pháp trị liệu của LY Yên rất hiệu quả, chỉ sau vài phút bấm huyệt, nhiều BN bị bại liệt đã đi, đứng được, nhiều BN bị câm điếc, nói ú ớ trở nên khỏi hẳn… Hàng trăm người dân chứng kiến đã vỗ tay tán thưởng phương pháp trị bệnh kỳ diệu “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam của LY này.

Rủ nhau đi tìm “hạnh phúc”

Trong 2 ngày 21 và 22-4, sân chùa Thiên Ân trở nên chật kín bởi hàng trăm người dân đi xe gắn máy, ô tô từ khắp nơi rủ nhau đến gặp LY Võ Hoàng Yên xin trị bệnh. Có người ở tận Phú Thọ, Hà Nội, Lào Cai cũng rủ nhau vào đây đi tìm hạnh phúc nhỏ nhoi của mình là mong con cháu, ông bà được LY trị khỏi bệnh.

Bà Nguyễn Thị Năm, nhà ở tận Hà Nội, bị té ngã nên bị liệt 2 chân, không đi, đứng được đã 6 năm nay. Tuy nhiên, sau khi được LY Yên bấm huyệt đạo trong khoảng 15 phút, bà Năm đã đứng lên được, đi được trở lại. Nhìn khuôn mặt hạnh phúc của bà Năm sau khi đứng lên và đi lại được, hàng trăm người đứng xem đã vỗ tay tán thưởng.

Lương y Võ Hoàng Yên (trái) bấm khai thông huyệt đạo cho bệnh nhân Đỗ Minh Trường (An Giang)

Sau khi đứng lên đi được trở lại sau nhiều năm ngồi xe lăn, gia đình bà Nguyễn Thị Lan, ngụ P.Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP.HCM đã mừng không thể tả.

Trước khi đưa vào gặp LY Yên trị bệnh, bà Lan ngồi xe lăn, khoảng 10 phút sau khi được LY Yên và nhóm học trò bấm huyệt đạo, đẩy khớp chân, bà Lan đã đứng dậy và đi được.

Nhìn nụ cười hạnh phúc của bà và chồng bà, chúng tôi cũng hạnh phúc lây. “Tôi bị trượt chân té ngã và di chứng là bị liệt 2 chân đã 8 năm nay, đã từng đi chữa trị nhiều nơi và hao tốn nhiều tiền bạc nhưng không hề vơi giảm. Qua bạn bè giới thiệu, tôi đến chùa Thiên Ân thử vận may, nào ngờ…”- bà Lan nói trong niềm vui sướng, sau khi đi được từ nơi chữa bệnh ra đến gần cổng sân chùa.

Theo quan sát của chúng tôi, có rất nhiều trường hợp BN bị liệt nửa người hoặc 2 tay, 2 chân do nguyên nhân bị té ngã đều được LY Yên và các học trò chữa khỏi hoặc vơi giảm hẳn bằng phương pháp bấm huyệt đạo. Trong đó, có cả nhiều quan chức, y, bác sĩ cũng đưa người thân đến chữa trị bệnh bằng phương pháp hiệu quả này và hồ hởi ra về trong vui sướng.

Lúc chưa được trị bệnh, chị Huỳnh Thị Phương Nghĩa (ngụ P.Phú Hòa, TX.TDM) không đi được, tuy nhiên chỉ sau khoảng hơn 5 phút được LY Yên bấm huyệt toàn thân, đẩy chân, đập bàn chân… chị Nghĩa đã đứng lên đi được như một điều kỳ diệu hiếm thấy. Chị Nghĩa cười vui sướng nói: “Tôi bị tai nạn giao thông và bị liệt một chân đã hơn 2 năm nay. Tôi cũng đã từng đi chữa bệnh nhiều nơi nhưng không hết. Do đó, việc LY Yên chữa bệnh khỏi cho tôi hôm nay thật sự là may mắn cho cuộc đời tôi”. Nói xong, chị Nghĩa từ từ bước từng bước chậm chạp ra về trong tiếng vỗ tay tán thưởng của hàng trăm người dân đứng xem.

Phương pháp trị bệnh diệu kỳ!

Chứng kiến hàng trăm người bị bại liệt, câm điếc, thoái hóa cột sống do tai biến được LY Yên và nhóm học trò trị khỏi cho họ bằng phương pháp bấm huyệt theo y học cổ truyền có pha lẫn cái mới riêng của LY Yên, hàng trăm người dân đã thật sự tin tưởng phương pháp trị liệu này.

Ông Đỗ Vy Tân, cán bộ Liên minh HTX An Giang, nói: “Sau khi hay tin LY Yên trị bệnh ở chùa Thiên Ân miễn phí 2 ngày 21 và 22-4, cả gia đình tôi đã thức dậy xuất phát lúc 2 giờ sáng ngày 21-4 để từ An Giang lên Bình Dương điều trị bệnh cho con tôi là Đỗ Minh Trường (SN 1994), bị bại liệt tứ chi, nói ú ớ, mắt mở không ra từ nhỏ. Tuy nhiên, sau khi được LY trị bệnh, cháu đã thuyên giảm hẳn”.

Hàng chục người dân khác bị tai biến, di chứng là bại liệt hoặc câm điếc ở trong và ngoài tỉnh đã được thầy trị giảm hẳn bệnh trong vài phút vẫn không tin vào mắt mình.

Bà Phan Thị Biệt (ngụ P.Lái Thiêu, TX.Thuận An), cười rạng rỡ sau khi được trị khỏi: “Năm nay tôi 79 tuổi, bị di chứng té ngã trở nên tai biến bị liệt nửa người đã 5 năm nay. Tuy nhiên, sau khi được LY Yên bấm huyệt đạo, tôi đã đi được trở lại. Phương pháp trị liệu của LY Yên quả thật là kỳ diệu, hiếm thấy, không thần bí hay mê tín dị đoan”.

Còn ông Nguyễn Văn Bai (SN 1958, ngụ 204 Nguyễn Trãi, Q.1, TP.HCM), cho hay, ông đã bị tai biến nói ú ớ nhiều năm nay, sau khi được LY Yên bấm huyệt đạo ở cổ, lưng, vai, đầu, ông đã nói lại được. “Phương pháp của LY này trị bệnh một cách bình thường nhưng quả là kỳ tích, hiếm thấy”.

Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm, trụ trì chùa Thiên Ân cho biết, phương pháp trị bệnh của LY Yên và các học trò của ông là bình thường chứ không phải là “thần thánh” như đồn thổi. Phương pháp chữa bệnh của LY Yên cũng không có gì huyền bí hay mê tín dị đoan. Đây chỉ là cách bấm huyệt bình thường, giúp khai thông các huyệt đạo của BN, kích thích khả năng bị tê liệt, khiếm khuyết trước đó trở lại bình thường.

“Việc mời LY Yên và nhóm học trò về trị bệnh miễn phí cho bà con ở chùa là việc làm từ thiện, giúp đời, hoàn toàn miễn phí cho BN. Do nhu cầu còn khá nhiều BN muốn được chữa trị, trong thời gian tới, chùa sẽ tiếp tục mời LY Yên và nhóm học trò của ông về đây trị bệnh cho người dân để giúp đời, giúp những người khiếm khuyết vững tin hơn trong cuộc sống” – Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm cho hay.

Lương Y Võ Hoàng Yên: Chúng tôi trị bệnh để giúp đời

Ngày 21-4, sau khi trị bệnh cả ngày mệt lã cả người nhưng lương y Võ Hoàng Yên vẫn cho chúng tôi cuộc phỏng vấn ngắn vào buổi tối xoay quanh cuộc đời và cách chữa trị bệnh của ông.

– Thưa ông, ông cho biết đôi nét về mình?

– Tôi xuất thân từ một gia đình rất nghèo ở ấp Cái Nước, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Hồi đó, nhà tôi nghèo quá không có tiền cho ăn học nên đã gửi tôi vào chùa Hưng Nghĩa Tự (thị trấn Cái Nước). Tại đây, tôi được các thượng tọa chỉ dạy cách chữa bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền. Sau đó, tôi được ở các chùa khác để ăn học, trong quá trình này, tôi tiếp tục học được cách chữa trị bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền. Sau nhiều năm bôn ba với nghề lương y khám bệnh, bốc thuốc, tôi tích tụ từ các phương pháp trị bệnh theo y học cổ truyền và nghiên cứu thành đề tài riêng cho mình trên nền tảng tích tụ từ cái cũ.

– Phương pháp trị bệnh của ông là gì?

– Tôi trị bệnh một cách thông thường, không phải thần thánh hóa như bà con đồn thổi. Tôi xin khẳng định mình đang khám và chữa bệnh theo phương pháp thông thường của đông y, tức khai thông huyệt đạo mang tính khoa học rõ ràng. Trong đó có cái của riêng tôi trải nghiệm từ bấy lâu nay.

Trong quá trình trị bệnh, tôi chỉ giúp bệnh nhân sửa lại khiếm khuyết bằng phương pháp khai thông huyệt đạo trên cơ sở khoa học. Do vậy, đối với nhiều trường hợp bị câm điếc, bại liệt, thoái hóa cột sống do tai biến, tôi sẽ cố gắng trị khỏi cho họ. Cũng có nhiều trường hợp nặng cần phải có thời gian. Riêng nhiều trường hợp quá nặng, tôi cũng đành chịu.

– Tại sao ông không trị bệnh lấy tiền mà miễn phí?

– Thú thật , hồi đó nhà tôi quá nghèo, tôi sống, học tập và lớn lên đều được nhiều thượng tọa giúp đỡ. Trong đó, có nhiều thượng tọa là ân nhân ở Bình Dương. Do vậy, việc tôi khám, trị bệnh hoàn toàn miễn phí cho bệnh nhân là chủ yếu giúp đời, trả ơn cuộc đời.

Nhiều người đặt câu hỏi là tiền đâu tôi sống? Xin thưa với mọi người, hiện nay, ngoài việc trị bệnh và truyền đạt lại cho học trò trị bệnh giúp đời, tôi còn làm Giám đốc Công ty Cổ phần Phú Bình Yên, chuyên sản xuất và trồng cao su ở thôn 3, xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Do vậy, tiền bạc đối với tôi không thành vấn đề mà niềm vui lớn nhất là nhìn thấy những người ngồi xe lăn đứng dậy đi được, những đứa trẻ, người già câm điếc nói lại được những âm từ phát ra, không phải mất nhiều tiền bạc chạy đôn chạy đáo nhiều nơi khám chữa bệnh. Cái đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời tôi.

– Với cách trị bệnh hiệu quả của ông, sắp tới, ông có kế hoạch gì?

– Thời gian qua, tôi đã chữa bệnh bằng phương pháp khai thông huyệt đạo giúp cho hàng ngàn người dân khỏi bệnh. Do vậy, nơi nào mời, tôi sẽ tới giúp họ. Xin khẳng định rằng, phương pháp trị bệnh của tôi hoàn toàn không thần thánh hóa mà trị bệnh theo y học cổ truyền một cách thông thường. Do đó, tôi mong muốn các nhà khoa học cần vào cuộc tìm hiểu và tạo điều kiện để tôi tiếp tục giúp đỡ những bệnh nhân câm điếc, bại liệt… Qua đó giúp họ có niềm vui nhỏ nhoi khi lành những khiếm khuyết. Một lần nữa, tôi khẳng định rằng, phương pháp trị bệnh của tôi có thể truyền đạt lại cho mọi người để cùng nhân rộng, trị bệnh giúp cho những cuộc đời không may mắn.

– Xin cảm ơn ông!

Theo Hồ Văn – BBD

Sự thật về việc chữa bệnh diệu kỳ của một lương y

Bác sĩ Nguyễn Nhật Tân, Chuyên khoa Lồng ngực – Tim mạch Bệnh viện 115 (TP.HCM) bị tai biến, miệng bị méo và đôi mắt khó cử động. Ngay sau khi được thầy Yên bấm huyệt, con mắt của bác sĩ Tân đã cử động linh hoạt hơn và tròng đen thẳng trở lại chứ không bị xếch sang một bên nữa.

Những câu chuyện về phương pháp trị bệnh kỳ diệu của lương y (LY) Võ Hoàng Yên đang là chuyện “nóng hổi” trong giới đông y, tây y. Có người nghe kể lại hay đọc báo tỏ ra hoài nghi, có người đã từng gặp, từng xem cách chữa trị bệnh bằng phương pháp bấm huyệt đạo của ông thì tin tưởng, khen ngợi tài năng hiếm thấy của LY này.

Đặc biệt là đối với những người dân được LY chữa khỏi bệnh tại chùa Thiên Ân (phường Thuận Giao, TX. Thuận An) thì không ngớt lời khen ngợi, tôn vinh phương pháp trị bệnh hiệu quả, nhanh chóng của vị LY này.

Thầy Yên (phải) trị bệnh cho cháu Phạm Hữu Tâm (Đồng Nai)

Mong xã hội ngày càng có nhiều thầy Yên trị bệnh giúp đời

Chiều 23-4, chúng tôi đã trở lại chùa Thiên Ân để tìm hiểu thêm thông tin về phương pháp trị bệnh kỳ diệu của LY Yên. Mặc dù đã xế chiều, nhưng vẫn có nhiều người vào chùa hỏi thông tin về thầy Yên.

Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm, trụ trì chùa Thiên Ân, cho biết, tính đến nay đã 3 lần thầy Yên trị bệnh cho bà con tại chùa. Do nhiều người được thầy Yên trị khỏi bệnh hoặc thuyên giảm nên truyền miệng nhau đến chùa hỏi thăm thông tin.

Đặc biệt là sau khi báo BD đăng bài về phương pháp chữa trị bệnh của thầy Yên, cả ngày 23-4, điện thoại của chùa trở nên quá tải vì khắp nơi điện thoại tới hỏi thăm thông tin về thầy. “Sau khi thầy Yên trị bệnh hiệu quả cho người dân, trong đó có nhiều y, bác sĩ và cán bộ ngành y tế, ai cũng mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên nhanh chóng được nhân rộng để giúp đời” – Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm nói.

Chiều 23-4, bà Võ Thị Năm (SN 1938, ngụ đường Lê Hồng Phong, P.Phú Thọ, TX.TDM) cho hay bệnh của bà đã vơi giảm hẳn.

Trước đó, bà không đi đứng được, các khớp xương chân, cột sống đều tê cứng, miệng nói ú ớ không ra tiếng. Thay vì đi bệnh viện nhưng do biết tin LY Yên đang trị bệnh tại chùa Thiên Ân, bà đã được người nhà “khiêng” đến để thầy Yên trị bệnh. Sau khi được LY Yên đả thông huyệt đạo, bà đã đi, đứng lại được, nói ra thành tiếng.

Bà Năm cho hay: “LY Yên trị bệnh hiệu quả hiếm thấy. Tôi mong muốn phương pháp trị bệnh này cần nhân rộng để mọi người không may mắn tìm lại được niềm vui. Giá như xã hội này, ngày có càng nhiều thầy Yên thì hay biết mấy cho người dân”.

Theo tìm hiểu của phóng viên báo Bình Dương, ngày 23-4, tại khu vực chùa Thiên Ân, người được LY Yên trị khỏi bệnh cũng như những người đã từng chứng kiến hàng giờ đồng hồ việc LY Yên và nhóm học trò trị bệnh cho người dân đều mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên được nhân rộng.

Rất nhiều cán bộ khu phố Hòa Lân 1, P.Thuận Giao, TX.Thuận An cho hay, nếu phương pháp trị bệnh của thầy Yên được nhân rộng thì sẽ giúp được hàng ngàn người bị khiếm khuyết, bại liệt, thoái hóa cột sống, chân tay tê liệt, câm điếc do di chứng tai biến để lại.

Anh Trương Văn Hận (SN 1972, ngụ Sóc Trăng, tạm trú tại chùa Thiên Ân), cho hay: “Trước đây, anh khom lưng, đứng lên ngồi xuống không được do bị thoái hóa cột sống. Tuy nhiên, sau khi được thầy Yên trị bệnh, anh đã lành bệnh, trở lại bình thường và đang làm thợ xây dựng tại chùa Thiên Ân. Do vậy, anh cũng mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên sớm được nhân rộng để giúp những người không may mắn trở lại lành lặn”.

Chiều 22-4, bác sĩ Nguyễn Nhật Tân, Chuyên khoa Lồng ngực – Tim mạch Bệnh viện 115 (TP.HCM) bị tai biến, miệng bị méo và đôi mắt khó cử động, tròng trắng lộ ra nhiều hơn nhưng sau khi được thầy Yên bấm huyệt, con mắt của bác sĩ Tân đã cử động linh hoạt hơn và tròng đen thẳng trở lại chứ không bị xếch sang một bên nữa.

Thầy Yên đùa với bác sĩ Tân: “Tôi và ông trao đổi nhé. Tôi chữa lành 50 ca bại liệt, câm điếc thì ông chữa cho 2 bệnh nhân tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn”.
Nhiều người chứng kiến cảnh bác sĩ Tân mừng rỡ ôm vai thầy Yên và đưa cho thầy tấm danh thiếp đã vỗ tay tán thưởng rất nhiệt tình.
Còn bác sĩ Tân cảm động rưng rưng nước mắt: “Tôi vô cùng cảm ơn thầy Yên. Tôi bị tai biến và nghe tiếng thầy qua một người quen, thế là đi theo thử, không ngờ hiệu quả… thế này”.

Tiến sĩ sử học Đinh Văn Hạnh (Q.11, TP.HCM):

Tôi mong xã hội có thêm nhiều thầy như thầy Yên

Con gái tôi bị bệnh u não 3 năm nay, khi đó, cháu mới 13 tuổi và nay cháu đã 16 tuổi.

Sau những lần trị bệnh và phẫu thuật ở khắp nơi, con tôi vẫn không ngồi, không đi lại được.

Con tôi được thầy Yên bấm huyệt, “chỉnh” cột sống cho bớt vẹo và bước đầu, bệnh có tiến triển, con gái tôi tự ngồi được một lúc không cần người đỡ.

Tôi mong rằng, những người thầy thuốc gia truyền có tay nghề giỏi như thầy Yên cần tiếp tục chữa bệnh cứu người.

Là người làm cha đang tìm mọi cách chữa chạy cho con, tôi cũng mong sao thầy Yên có một địa điểm cụ thể để có thể đem con mình đến chữa bệnh nhiều lần.

Những BN bại liệt không đi đứng được, thầy Yên chữa cho lành bệnh, tự đi đứng lại được quả thật là điều kỳ diệu!

Ông Nguyễn Trung Hiếu, Nguyên Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Bình Dương:

Cần tạo mọi điều kiện cho thầy Yên giúp đời

Cách đây 2 tháng, tôi đã từng gặp thầy Yên để bấm huyệt đạo trị bệnh. Lúc đó, cánh tay phải của tôi bị thoái hóa, không giơ lên được, không móc bóp túi quần sau được.

Tôi cũng đã từng đi châm cứu cả tháng trời nhưng không hết. Sau đó, tôi gặp thầy Yên đả thông huyệt đạo trong vài phút là hết hẳn cho đến bây giờ.

Cánh tay phải giơ thẳng lên được như xưa. Do vậy, tôi mong rằng, xã hội cần tạo điều kiện tốt nhất cho thầy Yên trị bệnh, giúp đỡ những người không may mắn.

Tôi nghĩ rằng, với phương pháp trị bệnh hiệu quả của thầy Yên được nhận rộng thì nhiều BN đỡ phải hao tốn tiền bạc, thời gian để đi trị bệnh khắp nơi.

Theo Hồ Văn – Quỳnh Như (BBD)

Read Full Post »

Trương Văn Dân               

                               

Chuyến về Việt nam lần ấy, Quang mang trong lòng nhiều nỗi lo âu.

Mấy năm qua tình hình Âu châu đã trải qua rất nhiều chuyển biến. Việc loại bỏ biên giới để  liên kết các nước thành viên trong một tổ chức chung đã kéo theo nhiều xáo trộn về kinh tế. Thêm vào đó việc sát nhập các đại  công ty còn làm thặng dư nhân lực. Công nhân bị sa thải, các hãng nhỏ bị phá sản và bóng ma thất nghiệp lâu nay chập chờn ẩn hiện đang dần dần lộ ra rõ nét, trở thành nỗi ám  ảnh cho mọi người. Công việc cố định và đời sống bảo đảm, một đặc tính truyền thống lâu đời của nước Ý cũng đang dần dần biến chất. “Tăng di động”, tiếng gọi thôi thúc theo mô hình Mỹ đang là một triết lý về phát triển kinh tế ở đây. Nhưng nếp sống của người Mỹ, vốn thờ ơ  với nơi sinh trưởng và hời hợt trong quan hệ láng giềng , nay sống tiểu bang này, vài tháng sau lại khăn gói lên đường chạy về tiểu bang khác, không đợi thời gian bén rễ…liệu có dễ thích ứng với những tập quán của mình chăng? Quang suy nghĩ miên man và mấy tháng qua đầu óc anh vô cùng căng thẳng. Công ty anh đang làm có nguy cơ bị sáp nhập vào một tổ chức siêu quốc gia đã và đang thực hiện sự  tập trung kinh tế, nhằm bảo đảm độc quyền phân phối trong chiến dịch toàn cầu.

Bởi thế, sau hơn ba mươi năm sống và làm việc ở Âu châu, trong chuyến về thăm nhà lần đầu Quang vừa muốn nghỉ ngơi, vừa muốn tìm một cách nghĩ Á Đông nào đó khả dĩ giúp anh quên đi nỗi  ưu tư về một tương lai mù mịt, lâu nay  cứ  ám  ảnh trong hồn.

Ngồi trên máy bay Quang nhớ lại cuộc đối thoại giữa Trung và Hưng vài hôm trước ở nhà mình. Hai người bạn có quan điểm hoàn toàn trái ngược. Khi Trung chỉ trích xã hội hiện tại thì Hưng đã hùng hồn biện hộ :

– Tao thấy không nên phủ nhận xã hội hôm nay. Bọn mầy không thấy là điều kiện vật chất đã hoàn toàn tiến bộ trong những thế kỷ sau này sao? Ngày xưa phần lớn trẻ em chết  yểu ở những năm đầu và rất nhiều phụ nữ từ trần trong thời kỳ sinh nở. Lúc xã hội còn phôi thai đời sống thực nhọc nhằn và khốn khổ.  Người ta sống trong những căn nhà không sưởi ấm, ăn uống thiếu thốn, trẻ em không được học hành và sinh mạng luôn luôn bị đe dọa vì bệnh dịch. Hôm nay tất cả những vấn nạn đó đã được giải quyết nhờ tiến bộ kỹ thuật và phát minh y học.  Những việc nặng nề, lập đi lập lại hôm nay đã không còn nữa; các phương tiện lưu thông  đã  thành cực nhanh và trong nhà đâu có thiếu những máy móc giúp chúng ta tiết kiệm thời gian  trong  những công việc lặt vặt và chán ngấy mà trước đây chúng ta phải bỏ ra hàng giờ mơi lo cho xuể. Đừng!  Tao mong rằng bọn mầy đừng luyến tiếc quá khứ, mang nặng cái tinh thần hoài cổ để làm chậm bước tiến hoá của loài người.

Không! Không thể nào sống như quá khứ. Xã hội nhất định  không thể đi lùi , nó phải đi tới và nếu cần, sửa chữa những sai lầm để vươn  lên. Tao mong là bọn mày hãy từ bỏ những quan điểm lạc hậu. Còn tao, tao tin là với sự trợ lực của computer, loài người sẽ còn tiến bộ hơn, không phải chỉ để sinh tồn mà còn để sống một cuộc sống tốt đẹp. Bọn mầy không thấy là toàn thế giới đã bị “ tóm”  vào một mạng lưới đó sao? Ngồi thoải mái trong căn nhà ấm cúng mà chúng ta vẫn có  thể đi từ thư viện Nữu Ước, viện bảo tàng Luân Đôn đến việc viếng thăm một ngôi chuà cổ ở Bắc Kinh trong thời gian thực?

Nhưng lập luận của Trung cũng không kém phần sắc bén :

– Không ai phủ nhận sự tiến bộ kỹ thuật. Nhưng sự tiến bộ ấy dùng để làm gì? Đời sống xã hội chỉ chạy theo vật chất và bỏ quên con người. Chính vì thế mà nguy cơ tha hoá đã và đang xuất hiện, sự ô nhiễm môi sinh, thất nghiệp lan tràn và những khoảng cách không thể nào lấp nổi giữa những xã hội giàu sang với những nước kém mở mang. Hiện nay trên thế giới có hơn 800 triệu người nghèo đói, và trong đó  có khoảng 200 triệu trẻ em dưới 5 tuổi đang thiếu ăn, suy dinh dưỡng. Phương tiện di chuyển tối tân, thông tin nhanh chóng để làm gì, khi những bất công này càng ngày càng trở nên trầm trọng?

Nhưng ngay trong lòng xã hội Tây phương cũng không phải không có  những phần tử kém may mắn, bị hất sang bên lề vì không hội nhập được với đời sống mới. Họ lạc lõng  và bơ vơ trong một nền văn hoá càng ngày càng sa đoạ và chủ nghĩa vật chất đang phát triển đến độ hung hãn nhất. Mầy không thấy TV và ciné chỉ thuần chiếu những phim khêu gợi dục tình và bạo lực đó sao? Chúng ta đang hưởng thụ một cách thô bạo và giải trí  bằng cách xem giết chóc với sự  tàn nhẫn  ở mức cao nhất. Xã hội băng hoại này đã phát sinh ra chính trường đầy những kẻ đầu cơ chính trị, tham lam, những bác sĩ chỉ nghĩ đến chuyện kiếm tiền thay vì chữa trị, lớp quan toà chỉ thích hạch hỏi để biểu thị quyền uy hơn là thi hành công lý, còn hãng xưởng thì đầy rẫy những kẻ kiêu căng, nịnh bợ, đầu óc lúc nào cũng mang một ước mơ tiến thủ và làm sao chèn  ép  để đè bẹp đồng nghiệp, bạn bè mình.

Thú thực có đôi lúc tao cảm thấy nghi ngờ cái mỹ từ gọi là văn minh tiến bộ. Trên phương diện vật chất  chúng ta đã đi một bước khá dài so với những thế kỷ trước nhưng về phương diện tinh thần thì vẫn nghèo như xưa, chả tiến được chút nào; bằng cớ là chúng ta vẫn tiếp tục những sai lầm quá khứ. Những lỗi  lầm đó tao thấy càng ngày càng nặng nề thêm, hậu quả tất yếu của  hoạt  động kỹ nghệ nên chưa bao giờ chúng ta ý thức về sự hiện hữu của đời mình hay đặt lên nghi vấn là tại sao mình mãi làm như thế. Toàn bộ thời gian chúng ta tự giam trong cô độc, xung quanh chỉ toàn máy móc mà vắng bóng con người, để quần quật sản xuất và tích lũy cho nhiều sản phẩm. Rồi với nhịp độ càng ngày càng tăng, một ngày nào đó chúng ta sẽ đồng hoá với nhịp máy, trở thành phẩm vật, để cuối cùng âm thầm biến mất, như hàng triệu  đồ vật đã ngày đêm  tạo ra hay mua sắm.

 Những năm gần đây các cơ quan truyền thanh và báo chí còn không ngừng nhắc đến toàn cầu hoá nhằm thúc đẩy sự tiến đến một nền kinh tế duy nhất trong đó các lục địa sẽ liên kết với nhau qua mạng lưới điện tử. Chưa ai hình dung được xã hội đó sẽ như thế nào, nhưng tao chắc chắn là con người sẽ càng ngày càng ngăn cách  nhau hơn, sự tiếp-xúc-Thực-giữa-người-và-người sẽ  giới hạn vì đã được nối-Ảo-với-nhau trong một vũ-trụ-siêu-kỹ- thuật. Con người lúc ấy sẽ biến thành một công cụ kinh tế, ai ai cũng suy nghĩ và hành động giống nhau, cùng cúi đầu vận hành theo những giáo điều có sẵn. Và các sắc dân sẽ vĩnh viễn mất đi bản sắc dân tộc của mình.

Thực là phi lý cái hệ thống kinh tế mà người ta tin là tiến bộ và sẽ cứu thế giới: Nó không đặt  căn bản trên tinh thần cộng tác mà chỉ khai thác nguyên lý cạnh tranh, nhằm nâng cao lợi nhuận. Thương trường thành chiến trường, đó là triết lý sống  mà xã hội Tây Phương đang áp đặt lên toàn thế giới.

Cuộc tranh cãi sôi nổi, và hôm ấy Quang thấy mình thật khó mà tán thưởng bên này hay phản đối bên kia. Ai cũng có lý riêng, nhưng nghĩ kỹ  anh thấy mình  tâm đắc với những suy nghĩ của Trung hơn. Nhiều lần anh cảm thấy hoang mang về đời sống Tây phương. Không phải anh là loại người mang nặng lòng hoài cổ, nhưng gần đây với sự phát triển ào ạt  của computer, đôi lúc anh có cảm giác là đời sống của con người đã bị bỏ quên, dễ dàng bị xoá đi như một file trong bộ nhớ.

Ngày xưa mọi chọn lựa đều có một giới hạn, con người chỉ có một ý nghĩ, một con đường. Hôm nay khả năng chọn lựa có nhiều, nhưng bù lại anh thấy mình như mất định hướng và phân vân hơn về ý nghĩa đời mình. Ngay việc mua sắm cỏn con anh cứ cảm thấy mình bị giằng co vì trăm lời mời mọc. Các phù thủy hiện đại, những nhà “tiếp thị” đang tung buà hoá phép để tạo sinh một Tôn Giáo Tiêu Dùng: Thứ tôn giáo chủ trương tích luỹ vật chất, du lịch hàng loạt. Nó không cần nhà thờ hay chùa chiền vì đã có các trung tâm thương mại: để gặp gỡ  và sinh hoạt, để trao đổi, bán buôn. Đó là nơi vui chơi, giải trí. Tất cả mọi nơi trên thế giới đều như nhau. Và giống nhau.

Thế giới hiện đại hình như đang đánh mất tất cả những nấc thang giá trị và không còn gì nữa, không còn lý tưởng, không còn niềm tin, không còn điều gì vĩ đại để tin theo, vì xung quanh chỉ có một ước muốn duy nhất: kiếm tiền để thoả mãn vật chất.

Nhưng quả thật đời người chỉ có một mục đích duy nhất ấy hay sao? Có lúc nhìn quanh anh cảm thấy đời mình như vô nghĩa. Anh luôn mệt mỏi vì nhịp sống máy móc, ràng buộc bỡi nhiều thứ bổn phận khác nhau. Những chiếc hoá đơn chạy đến dồn dập, đôi khi trả giá cho những nhu cầu không-thật-sự-cần-thiết. Trong khi đó mọi  quan hệ công việc càng ngày càng giả tạo, khó khăn. Xung quanh anh, bạn bè lúc nào cũng thiếu – hay tưởng mình thiếu – thì giờ, và chẳng bao giờ có lúc dừng chân. Không lúc nào anh không cảm thấy cô độc và bất an, vì những điều này, điều nọ phải làm, vì những hoá đơn này, chi  phí kia phải trả. Cuộc sống của anh và bè bạn luôn chìm ngập trong âu lo hay  trực diện với những tháng ngày buồn nản, đều đều, trống trải, có khi anh thấy như đi vào bế tắc. Sau một ngày căng thẳng vì công việc, đêm về với giấc ngủ trăn trở, sáng thức dậy là chỉ nghĩ đến chạy. Như một phản xạ. Và tất cả đều chạy. Mà chạy đi đâu? Không ai biết . Nhưng đã có mấy ai bình tĩnh dừng chân? Đổi hướng. Hay can đảm  đi tìm một lối sống khác.

Quang về đến Việt nam  ngay giữa thời mở cửa. Thời đại kinh tế thị trường. Ai ai cũng bàn về sự bùng nổ về xây dựng. Những hàng cây trước căn nhà của  người anh ở Sài Gòn đã bị đốn ngã để mở rộng lòng đường. Thành phố bắt đầu mọc lên những toà nhà chọc trời bằng bê tông. Quang chợt nhận ra  là càng ngày chúng ta càng sống xa rời thiên nhiên. Hình như Âu châu đang bắt đầu nhận ra sai lầm đó và đang tìm cách cứu vãn trong khi thành phố Sài Gòn lại đang muốn trở thành một thành phố Tây phương, nhập cảng vô tội vạ những mô hình phát triển của người mà không chút đắn đo, gạn lọc.  Mỗi năm hàng nghìn người dân quê rời bỏ ruộng vườn… để sống chui rúc trong các khu ổ chuột bên lề thành phố, trong những toà nhà ciment, trong các chung cư một, hai  phòng…

Một buổi chiều khi đi ngang trường cũ Quang trông thấy những đứa bé mình trần trùng trục đang bươi bươi đống rác dưới chân cầu Trương Minh Giảng. Có em bốc bằng tay để tìm những đồ thừa  giữa một mùi xú uế bốc lên lợm giọng. Bên cạnh đó, một bà lão khệnh khạng, bước thấp bước cao, tay cầm xị rượu uống từng ngụm, rồi chốc chốc lại cười lên khanh khách.

Quang rồ máy chạy đi, nhưng về phía chợ  anh còn thấy một thanh niên cụt cả hai chân, chiếc nón mê đeo trước cổ, vừa lết vừa ca một bài ca não ruột . Phía bên phải , trên lề đường, trước một căn nhà đóng cửa, có hai người nằm ngủ, co ro dưới một mảng thùng giấy rách bươm đắp lên tận cổ. Quang xót xa nhìn những sản phẩm của  cuộc chiến chưa được lãng quên và sản phẩm của thời đại kinh tế hôm nay, rồi cảm thấy là cả hai đều có cùng một cường độ  tàn ác như nhau.

*

Những ngày đầu sống gần gũi với gia đình thật là vui vẻ. Nhưng, giống như những lần trước, chỉ  hơn tuần lễ chung đụng Quang buồn bả nhận ra những va chạm khó thể hàn gắn lại trong gia đình và thân tộc. Không khí có khi  căng thẳng nặng nề. Chiến tranh lạnh âm ỉ giữa bà con, cô, chú thì anh có thể phớt lờ, nhưng cuộc tranh cãi khá gay gắt giữa mẹ và chị dâu đã làm anh  đứt ruột. Không biết tại sao họ luôn luôn mâu thuẩn với nhau như thế. Nhiều khi anh thấy thực không có gì đáng để xung đột cả. Anh chưa bao giờ bận tâm phân tích để tìm xem  ai trái ai phải, vì  anh  thấy cả hai đều hẹp hòi và cố chấp những điều rất nhỏ nhoi, do những thành kiến bắt nguồn từ thủa xa xưa nào. Nhưng anh thấy mẹ thật tội nghiệp. Dẫu sao bà cũng đã lớn tuổi, thường tủi thân và nhiều nước mắt, cả ngày chỉ biết lên chuà lễ Phật rồi về nhà nặng nhọc leo lên lầu thắp nhang  trước bàn thờ người chồng vắn số. Thời gian còn lại bà lặng lẽ ngồi thu hình  ở góc nhà như một cái bóng , không ai gợi chuyện, hỏi han. Anh ứa nước mắt.

Nếu một mai mẹ có mệnh hệ gì, chắc cũng chả ai hay !

*

Chán ngán cuộc sống  tù túng và không khí ngột ngạt của Sài gòn nên Quang đã đáp xe lửa về Quy Nhơn  sớm hơn dự định. Nhưng ngay hôm vừa đến, cái nóng  oi nồng của thành phố đã làm anh uể oải. Buổi chiều anh lấy xe Honda của em gái chạy dọc theo đường Nguyễn Huệ. Bãi biển lúc ấy khá vắng người. Anh dựng xe trong sân một quán nước và gọi ly chanh muối.

Quang nằm duỗi chân trên ghế bố, gió biển hiu hiu mát nên anh thiêm thiếp. Bỗng một bọn trẻ ở đâu ào tới, vừa văng tục với nhau vừa giành nhau mời anh mua kẹo, mua báo mua vé số…

– Đi ra chỗ khác !

Bà chủ quán vừa cầm cây chổi vừa tiến tới với bộ dáng đầy hăm doạ. Lũ trẻ chạy tán loạn. Bà nhìn Quang như phân trần :

– Ông coi chừng bọn nhãi này. Vừa làm  ồn vừa hay cắp vặt.

Nói xong bà đi cất chổi và trở lại quầy, nhưng sau đó có lẽ thắy vắng khách nên bà đi sang quán bên trò chuyện.

– Mời chú mua…

Một thằng bé chừng 11-12 tuổi đang tiến đến. Không hiểu có phải tại  vết thẹo dài trên mắt trái đã làm Quang có ác cảm  hay bực mình vì sự yên tĩnh bị quấy rầy. Anh lớn tiếng:

– Không bán mua gì cả! Đi chơi chỗ khác.!

Thằng bé sững sờ nhìn anh. Vết thẹo bên mắt trái nở to hơn nên trông nó càng đáng ghét. Nhưng lạ thay, giọng nói của em lại vô cùng lễ độ :

– Cháu mời chú, chú không mua thì thôi chứ sao lại mắng cháu?

Quang chưng hửng. Đột nhiên anh thấy mình vô lý. Nhưng giọng lý sự của thằng bé làm anh tự ái nên chỉ yên lặng chứ không mở lời xin lỗi. Mặt anh vẫn còn hầm hầm nhìn nó.

Đó là một thằng bé ốm tong teo, tóc hớt ngắn, mặc một chiếc quần đùi đã bạc và trên người khoác một chiếc áo nhà binh hơi quá khổ. Trông dáng điệu có vẻ xốc xếch nhưng không  dơ bẩn .

– Cháu ngồi chỗ kia, không làm phiền chú đâu. Khi nào  đói bụng, mời chú mua dùm cho cháu nhé !

Giọng nói lễ phép đã làm nguội nỗi bực dọc của Quang. Nhưng anh không nói gì thêm, quay nhìn ra phía biển rồi lim dim đôi mắt.

Lát sau khi Quang tỉnh ngủ, anh thấy thằng bé vẫn còn ngồi dựa lưng vào một gốc dừa đang chăm chú viết, thúng  quà bánh được đậy nắp và bỏ qua một bên.

– Này, em bán gì đấy ?

Thằng bé vội xếp sách, ôm thúng quà chạy tới .

-Dạ bắp nấu. Mời chú mua dùm cho cháu. Vừa nói em vừa lưạ một trái đưa cho Quang.

Vừa  ăn bắp Quang vừa hỏi chuyện. Cõ lẽ sau khi nghỉ ngơi một lát, tinh thần khoan khoái nên giọng anh ôn hoà:

– Lúc nãy chú thấy cháu viết gì đó?

– Dạ thưa cháu đang làm bài tập.

– Cháu học lớp mấy ?

Mặt em bé hơi sững lại. Quang thấy  em buồn buồn .

– Dạ lớp bảy. Rồi em hạ thấp giọng và nói tiếp :

– Nhưng hai năm nay cháu không có thời giờ đến trường nữa.

Quang  ngạc nhiên.

– Ủa ! Không đến trường sao cháu còn làm bài tập ?

– Thưa chú, cháu muốn đi học nhưng không có thì giờ đến trường. Cháu muợn tập của bạn để học thêm lúc rảnh.

Quang ồ lên một tiếng. Giờ anh mới vỡ lẽ. Trong một thoáng anh chợt nhớ tới  những đứa trẻ cùng tuổi Âu châu, giờ này đang ở trong một căn phòng ấm cúng và đầy đủ tiện nghi, đang say sưa điều khiển những trò chơi điện tử. Chúng không cần chơi với ai và cũng không chịu học.

Trước mắt anh giờ đây là một thằng bé chững chạc, và hoàn toàn khác hẳn  những đứa bé thị thành  mà anh từng gặp trên đất Ý. Đây là hình ảnh của một người đã trưởng thành, là một thứ trái-cây-chín-sớm bỡi gió bão cuộc đời .

– Cháu tên gì ? Quang vừa hỏi vừa lựa thêm vài trái bắp nữa bỏ vào túi nylon.

– Dạ tên Bảo .

Quang đưa tiền cho Bảo. Thấy em đang đếm tiền để thối lại, anh bảo thôi, cứ giữ lấy nhưng Bảo vẫn dúi số tiền đã đếm vào tay anh. Quang hơi bất ngờ, nhưng thấy thằng bé biết tự trọng anh không nài thêm; tuy nhiên anh nhanh trí mua thêm một trái nữa  rồi bỏ hết số tiền thối vào túi Bảo.

– Cám ơn chú . Chiều mai  chú xuống tắm nhớ mua dùm  cho cháu nhé!

Chiều ấy ở biển về, Quang thấy lòng lâng lâng vui vẻ. Khi đi qua công viên, anh chia bắp cho một bọn trẻ con đang đánh bi dưới  bóng cây. Lũ trẻ reo lên mừng rỡ. Quang mỉm cười bước đi và đầu óc anh cứ vương vấn hình ảnh Bảo. Hình như trong trí anh lúc này, chiếc thẹo  không những đã không làm cho  em xấu xí mà trái lại, nó còn làm nổi bật lên đôi mắt đầy nghị lực, tự tin ở sức mình và chất chứa trong lòng một niềm tự trọng.

Sáng hôm sau ra biển thì Quang lại gặp Bảo. Lúc này em đang bán báo. Anh mua hai tờ và cũng như hôm trước, khi trả tiền, anh đành phải lấy thêm mấy tờ khác nữa thì Bảo mới chịu nhận lại số tiền thối mà anh đã quyết định  chối từ.

*

Suốt một tuần ngày nào cũng thế. Buổi sáng Quang  thấy Bảo bán báo và buổi trưa thì bán các thứ quà vặt. Lúc nào anh cũng thấy em vui vẻ và lễ phép. Những lúc rảnh anh để ý thấy em chăm chú đọc sách hay hí hoáy làm bài tập.

*

Một buổi tối sau khi tan  buổi trình diễn văn nghệ, Quang vừa bước ra thì thấy Bảo đang ngủ gà ngủ gật trước rạp Trưng Vương. Gần nửa đêm rồi. Gió khuya không lạnh lắm nhưng anh thấy em bé đang run run dưới manh áo mỏng. Quang hỏi :

– Bảo ,coi bộ cháu mệt rồi sao không về nghỉ ?

– Không . Cháu chưa mệt. Cháu chờ vãn hát để bán cho hết số bánh chưng vì để lâu rất dễ bị hư. Thường thường khi tan hát khán giả sẽ mua hết.

Quang định hỏi  thêm, nhưng đông người quá anh thấy không tiện. Làn sóng người đang ào ạt  túa ra.

Sáng hôm sau  gặïp Bảo ở biển. Anh hỏi :

– Chú thấy cháu  làm việc nhiều như vậy. Lúc nào chú cũng thấy cháu bán hết thứ này đến thứ khác, từ sáng đến tối. Cháu dành tiền để làm gì?

Anh thấy mặt thằng bé tái đi. Em mở to mắt nhìn Quang, không đáp, rồi quay nhìn ra biển.

Quang hỏi dồn  :

-Bộ cháu  tính tiêu gì lớn lắm  hả? hay dành tiền mua xe gắn máy?

-Dạ thưa không. Cháu cần rất nhiều tiền, nhưng không phải để tiêu hoang.

Rồi như nghĩ sao em nhìn anh một giây rồi ngập ngừng:

– Dạ cháu có ý…

Nhưng đột nhiên Quang đọc thấy trong mắt em một cái nhìn ngập ngừng của một kẻ chưa sẵn sàng thổ lộ một tâm sự. Anh hơi ân hận, nên vội ngắt lời để em khỏi phải khổ tâm :

– Chú  chỉ tò mò vậy thôi. Cháu không bắt buột phải trả lời!

*

Bẵng đi vài ngày, vì lên Pleiku thăm thân nhân nên Quang đã không còn nghĩ đến thằng bé. Nhưng khi về lại Quy Nhơn thì một buổi sáng anh lại gặp Bảo ở biển.

– Này Bảo, chú sắp đi rồi. Chú có thể giúp cháu được gì không ?

Quang thấy nét mặt em hơi buồn, nhưng cuối cùng em lắc đầu, nhìn anh :

– Bấy lâu nay chú mua giùm hàng cho cháu là cũng đã giúp cho cháu nhiều rồi vậy .

Rồi em quay đi. Quang không biết nói gì thêm. Anh yên lặng nhìn theo, và sau đó  chỉ còn nghe tiếng rao của em như chìm trong gió biển.

*

Một buổi chiều chúa nhật lúc Quang lái xe Honda chạy dọc theo bờ biển  để hóng mát trước khi rời quê hương thì  thấy Bảo. Mới đầu anh định kêu em, nhưng không hiểu sao  lại đổi ý. Có lẽ tại Bảo hôm nay rất khác thường. Em mặc một chiếc áo sơ mi trắng, aó bỏ trong chiếc quần Jean đã bạc màu. Trên tay phải em cầm một gói giấy và tay trái cầm một bó hoa nhỏ. Quang bỗng nổi ý tò mò. Nhất định là chiều nay em không đi làm, và trông bộ dáng  tung tăng kia thì chắc là em đang vui lắm. Giữ khoảng cách, anh chậm rãi đi theo, dù trong tâm anh không tin là em bé mới lớn kia đang làm gì mờ ám .

Khi đến trước cổng bệnh viện thì Bảo rẽ vào trong. Quang không biết làm sao, nhưng rất nhanh, anh vội vã đi gửi xe Honda rồi hớt  hải chạy  theo.

Quang vừa đi trên con đường lát gạch vừa quan sát khu bệnh viện. Mấy dãy lầu thấp một tầng, quét vôi vàng trông cũ kỹ và buồn thảm. Đã nhiều năm không tu bổ gì thêm nên bệnh viện Quy Nhơn trông như hoang phế.  Anh theo thằng bé bước lên lầu. Vừa đi hết cầu thang, anh đã nghe mùi cồn hoà với mùi thuốc sát trùng xông lên khứu giác. Trên những chiếc giường sơ sài trải chiếu, nhiều người bệnh la liệt nằm tréo đầu lại với nhau. Một số mặc pigiama trắng, băng bó quấn trên đầu hay tay chân đang đi lại ngoài hành lang. Có vài người chống nạng. Vài cô y tá bưng chiếc khay đã sờn, trên đó nằm loe hoe vài lọ thuốc. Tất cả vẽ nên khung cảnh của một bệnh viện nghèo. Rất nghèo. Quang lần bước đến bên cửa nhìn vào và trông thấy thằng bé đang loay hoay bên một chiếc gường kê ở góc phòng. Trên  chiếc bàn con gần đó có một bó hoa cắm trong ly, một đĩa cam sành và vài hộp tân dược. Sát đầu giường anh còn thấy  dựng một đôi nạn gỗ. Lúc ấy Bảo đứng một bên, đang xoa bóp cho một người đàn bà có khuôn mặt rất giống  em. Bà ta khoảng  chừng bốn mươi tuổi. Quang chú mục nhìn vào. Không bao giờ anh quên được đôi mắt  của người đàn bà đó. Cái nhìn đầy âu yếm và trên môi đang nở một nụ cười như vừa kiêu hãnh vừa mãn nguyện.

Quang biết chắc đó là hai người hạnh phúc nhất trần gian.

Nếu không tự kiềm chế  thì có lẽ Quang đã bước vô để góp vào niềm vui của họ, nhưng anh thấy mình không có quyền xen vào để làm rối cuộc họp thân mật của gia đình của Bảo.  Anh yên lặng đứng nhìn và lòng cũng vui lây.

– Thưa ông tìm  ai ạ?

Quang giật mình, quay lại. Đó là một người đàn bà mặc áo trắng, khuôn mặt hiền từ, đang bước về phía anh . Anh ra dấu để bà ta yên lặng và hạ thấp giọng :

-Dạ, tôi theo một em bé vào đây? Vừa nói anh vừa ra dấu chỉ vào phòng.

-Uả, ông có quen với em Bảo hã?

Quang ngạc nhiên. Ở đây người người la liệt, làm sao mà một bà y tá  luôn bận rộn  lại nhớ cả tên một em bé vô danh như vậy? Anh vắn tắt kể đã quen biết Bảo trong trường hợp nào, và hôm nay  vào đây chỉ do một sự tình cờ.

-Đó là một em bé tuyệt vời. Bà y tá chép miệng.

-Uả, bà biết  em Bảo rõ lắm sao?

-Ở đây ai mà không biết Bảo. Tất cả đều thương mến và cảm phục em.

Thấy Quang trố mắt ngạc nhiên, bà y tá dịu giọng nhìn  anh:

– Nếu ông muốn nghe chuyện em Bảo thì mời ông vô đây.

Quang theo bà bước vào phòng. Sau khi cầm phích nước rót trà vào chén để mời Quang, bà cũng hớp một ngụm rồi chậm rãi kể:

Bảo  không phải là người Quy Nhơn. Hình như  cha mẹ  em ở Đồng Phó hay Định Quang gì đó, tôi không còn nhớ rõ. Cha Bảo sinh sống bằng nghề thợ may nhưng hình như vì thời buổi khó khăn, ở quê không ai may vá gì nên khoảng năm 82-83 ông dẫn gia đình  về Quy Nhơn sinh sống. Nhà em ở trong khu sáu. Cha Bảo là một thợ may khá lành nghề nên đời sống gia đình tương đối sung túc, Bảo được  cha mẹ cho ăn học đường hoàng. Nhưng đầu năm 90, lúc Bảo vừa lên sáu, cha em bỏ đi đâu biệt tích. Có người đồn là ông ta đã  đi theo vợ bé vào Sài Gòn, có người nói là ông ta đã bí mật làm hồ sơ để đi bảo lãnh với  một tình nhân trẻ tuổi. Thực  không ai biết đích xác là chuyện gì đã xảy ra. Tuy  đứt ruột nhưng mẹ Bảo vẫn tiếp tục tảo tần nuôi em ăn học, chỉ tiếc là thời gian sau này kinh tế khó khăn, em phải bỏ học để đi làm giúp mẹ.

Nhưng bất hạnh không dừng lại ở đó. Mấy tháng trước mẹ em gánh hàng rong đi bán thì  bị  một tên say lá xe Honda hất ngã, lưng bà đập vào lề đường và từ đó một chân bị liệt, không đi đứng gì được nữa. Kinh tế gia đình đang lúc khó khăn giờ lâm vào  cảnh vô cùng túng quẩn. Hiện nay em không còn ai là người thân, trừ người mẹ bệnh tật mà ông vừa thấy đó.

Bà y tá rưng rưng nước mắt :

– Không ai tưởng tượng nổi sự can đảm vả đức chịu khó của em. Sau khi mang mẹ đến bệnh viện, em phải quần quật  làm việc suốt ngày để tự kiếm sống, ngoài ra còn phải thăm nuôi và  kiếm tiền để thuốc thang cho mẹ. Một mình  cáng đáng mọi việc nhưng lúc nào em cũng vui vẻ, không bao giờ than thân trách phận. Thì giờ rảnh  em còn tranh thủ học thêm  nên ai thấy cũng đều thán phục. Mỗi chiều chủ nhật em thường đến đây tự tay săn sóc mẹ, và ông biết là từ sau giải phóng, bệnh viện đâu có kinh phí nhiều, hầu hết  thuốc men đều phải mua ngoài. Thuốc tây thì đắt đỏ, vậy mà tuần nào em cũng mua được cho mẹ những toa thuốc cần thiết mà bác sĩ đã ghi. Thời gian gần đây  em còn thố lộ với tôi là sẽ cố gắng kiếm nhiều  tiền để có thể mang mẹ vào Sài Gòn chữa trị cho chóng khỏi.

Câu chuyện kể đến đây thì cả Quang và bà y  tá cùng lặng thinh. Thời gian như ngừng lại và không gian như yên tĩnh lạ thường. Quang mơ hồ như nghe thấy một tiếng chuông chùa từ xa đưa lại và những điều vừa nghe như gợi dậy trong anh một sự hồi sinh. Bỗng dưng Quang xấu hổ nghĩ rằng lâu nay mình đã để cho niềm thất vọng lôi cuốn và đã đánh mất niềm tin ở con người. Giờ thì anh nhận ra niềm an vui là sống thế nào để có ích cho người khác và dẫu nghèo khổ đến đâu, khi biết yêu thương, người ta sẽ hạnh phúc. Đó là một điều đơn giản. Nhưng lòng anh lâng lâng và thanh thoát như vừa khám phá  một chân lý cao siêu.

Cảm xúc lạ lùng và kỳ diệu ấy đã bắt nguồn từ  sự hy sinh quên mình của một đứa trẻ.

Quang lấy xe Honda và chạy về phía biển. Anh dựng xe lên bãi cát  rồi bước dọc theo mé nước, có khi dừng lại, đứng ngắm một hồi lâu. Trời đã bắt đầu tối, những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời  và trên mặt biển có những làn hơi nước bốc lên như một làn sương mỏng.

Đêm ấy Quang cứ suy nghĩ mãi.  Mình có thể làm gì để có thể đổi thay số phận của nhiều người? Có thể làm gì để  gỡ bớt  gánh nặng oằn vai của một đứa trẻ đầy phẩm giá?  Anh phân vân vô kể. Mấy năm trước anh thường tự hào – và tự phụ – là có thể cáng đáng mọi gánh nặng cho những người thân còn sống ở Việt nam. Nhưng thực tế  phũ phàng đã làm anh đứt ruột. Nhiều đêm anh lặng lẽ khóc ray rức bằng trái tim rướm máu của mình. Thôi. Có lẽ không nên tự cưu mang cho mình những món nợ tinh thần  là hay hơn cả. Mỗi người đều có một định mệnh và chỉ có thể sống theo cách của họ mà thôi…

Nhưng buổi sáng trước khi rời Quy Nhơn anh chạy đi tìm Bảo để đưa cho em tất cả  số tiền còn lại. Bảo ngơ ngác chưa biết phản ứng ra sao. Khi em cố  chạy theo để gọi       “ Chú ơi, con không dám nhận đâu! “  thì Quang đã rồ máy Honda chạy mất. Gió thổi bạt về phía sau, tiếng anh khàn và đục  “Giữ đi cháu, cháu sẽ xử dụng nó một cách xứng đáng hơn chú nhiều.“

Trưa hôm ấy chuyến xe lửa  từ Ga Diêu Trì mang Quang về thành phố và  buổi tối khi ngồi trên máy bay về lại Ý anh  thấy lòng  thanh thản, như vừa trút xong những lo lắng của mấy tháng vừa qua. Từ chuyến về thăm nhà lần ấy, nếu làm một cán cân kinh tế, Quang thấy anh là người có lợi .  Anh chỉ cho Bảo một số tiền nhỏ mà đổi lại, Bảo đã dạy anh một bài học yêu thương, nhân nghĩa, hiếm hoi lắm trong thời đại hôm nay.

      

Milano 9-1996

Read Full Post »

Cau

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

Trong các làng quê, cây tre được trồng nhiều nhất, đứng thứ hai là cây cau. Tre trồng thành hàng, thành lũy bao bọc lấy xóm làng, cho người ta gọi cuộc sống trong các làng quê đó là “cuộc sống sau lũy tre làng”. Ít có nhà không trồng cau. Các ngôi nhà vườn, thường trồng cây theo câu nói dân gian: “Phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối” để vừa cho khí hậu mát mẻ, vừa cho cảnh quan đẹp, lại cũng vừa cho lợi ích kinh tế.

        Cây cau đẹp thật. Thân cây thẳng, cao. Đọt cau là một khóm tàu lá xanh đậm nổi lên dưới vòm trời xanh lơ. Hồi nhỏ, nhìn tàu cau trên cao, tôi thường bảo đó là chiếc lược trời, rồi chiếc lược má tôi, chị tôi cầm trên tay chải tóc, dắt trên mái đầu kia là những chiếc lược trời thu nhỏ lại. Chim vẫn bay về làm tổ và rộn tiếng ca trên những ngọn tàu cau. Người đi đường, nhìn vào một xóm nhà, thấy hàng cau khi thì lặng yên, khi phất phơ cùng ngọn gió nồm mát mà cảm giác, đó là cảnh yên ả, thanh bình của một miền quê. Người đi xa lâu ngày, trở về, trông cho mau tới chỗ đầu làng để được nhìn thấy hàng cau nhà mình. Ở nông thôn, nhiều nhà trồng cả một vườn cau liên phòng. Mỗi cây cau thường có dây trầu quấn lấy. Cái rễ của dây trầu mọc từ gốc trầu đến đọt trầu vẫn bám chặt vào thân cau, dẫu phải gió mưa cũng không sờn, không rời? Có phải chăng, vì lẽ đó người ta đã lấy trầu cau làm vật nghi lễ cho cưới xin, như muốn nói lên một điều mong muốn bền vững cho lứa đôi?

Trồng cau được nhiều lợi ích. Cau trổ buồng về đêm. Một đêm yên tĩnh, cái mo cau rụng xuống, là lúc cái buồng cau và hoa cau nở xòe và tỏa hương thơm cho đêm trường. Cau một năm bốn mùa hoa trái. Mỗi mùa cau, buồng trổ trước được gọi buồng chị, buồng trổ sau gọi buồng em. “Buồng chị – buồng em”, nghe thân thương như mấy chị em nhà nọ! Từ khi cau trổ buồng, người ta theo dõi buồng cau lớn lên mỗi ngày: Thuở đầu là cái “quả cau nho nhỏ / cái vỏ vân vân” (Ca dao), cho tới khi cau chín, vỏ ngã từ màu xanh đậm sang màu đỏ tươi. Chẳng biết bác nông dân nào giỏi liên hệ, đặt tên cho phần chóp của quả cau là cái cau? Và lũ trẻ nhỏ các xóm quê vẫn vừa chơi “đánh trổng âm u” vừa hát: “Hú hồ…hú hột / Cơm sốt cơm nhão / Cá đão hồng đơn / Cá sơn, cá diếc / Cá liệt ăn trầu / Bỏ cau bỏ vú / Vú già vú non / Có đứa cầm hòn / Mà u mà chạy / Chạy thẳng vườn cau / Mà ngồi mà nghỉ…” (Đồng dao). Buồng cau không chờ chín mới hái mà hái lúc nào, tùy ở nhu cầu. Vào bữa cưới xin, thì cần một buồng cau xanh, nhưng phải là cau dầy (cau vừa nhai, không phải cau non mà cũng không phải cau già) để xong lễ, theo tục lệ, cầm đi biếu bà con, hàng xóm. Nhai trầu thì nhai cau tươi (cau dầy) hoặc cau khô ngâm nước cho mềm. Gặp khi cau nhiều quá, nhai tươi không hết, thì đem bổ ba, bổ bốn, phơi khô để dành nhai dần.

Đời là một cuộc đổi thay. Trải nhiều năm nay, lớp người ăn trầu ít dần, cây cau bị bỏ quên. Người ta chỉ trồng cau cảnh, và có ai đó vì “thương hoài ngày xưa” của bà mình, đã không chặt hạ cây cau đứng trong sân. Ngày nay, nghe nói có chỗ thu mua quả cau tươi, cho nên ở vài nông thôn, vài hộ nông dân bắt đầu để ý tới cây cau: cau được trồng và chăm sóc trở lại. Nhớ hồi 9 năm kháng chiến (1945 – 1954), bộ đội, dân quân sắm ống cau khô, ống muối hột đeo bên hông làm thuốc cứu thương dự phòng, thay thuốc kháng sinh.

Trên đây mới nói về hữu ích của hột cau. Cây cau, còn bao hữu ích nữa: Thân cau làm cột nhà, bắc cầu phập phù qua mương nước, sả dọc làm đòn tay nhà, chẻ nan đan rá cải, bọc vườn rau, chận lũ gà xộc vào bươi bới. Tàu cau tước lấy sống lá bó chổi, lấy mo làm gàu xách nước (uống cho mát), làm quạt mo quạt phành phạch lúc đêm Hè, nắm cơm dỡ cho người đi đường xa. Nhớ thuở đi học trường Tiểu học xa nhà, sáng nào tôi cũng được má dậy sớm, nấu cơm dỡ, nắm trong mo cau cấp cho tôi mang đi học. Thường, má vẫn gói kèm theo nắm cơm bì muối đỗ (có khi bì muối mè). Tôi cũng không quên kỷ niệm những lần chờ đợi chiếc tàu cau từ màu xanh chuyển sang màu vàng, rụng xuống, để kịp nhặt lấy, làm con ngựa tàu cau cỡi quanh sân nhà mình, rồi quành ra ngõ xóm để chơi với bạn.

Dầu sao, lợi ích văn hóa, tinh thần của cau mới đáng kể hơn. Từ ngàn xưa, đã có sự tích trầu cau để “vinh danh” một mối tình ngang trái mà chung thủy. Ông bà mình vẫn lấy “Miếng trầu là đầu câu chuyện” (Tục ngữ) trong mọi lễ nghi, ứng xử, tiếp đãi nhau. Để nên miếng trầu, không thể thiếu miếng cau (vẫn đi với trầu và cả miếng vôi, miếng rễ…). Ông tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo chống Pháp, hồi kháng thuế (1908) ở Bình Định, bị Công sứ Pháp và Tổng đốc Bình Định bắt bỏ tù. Ở trong lao tù chịu nhiều thiếu thốn, ông thường than vãn: “Có miếng trầu mà không miếng cau / Có miếng rễ mà không miếng thuốc” (Vè ông Tiến sĩ). Trong tình yêu nam nữ ngày xưa, không thể thiếu miếng trầu, miếng cau. Nhờ có nó mà tình yêu trở nên thi vị: “Trầu xanh, cau trắng, chay (quả chay) hồng / Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên” (Ca dao) “Nhà em có một giàn giầu / Nhà tôi có một hàng cau liên phòng / Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” (Tương Tư – Nguyễn Bính). Lễ hội mùa Xuân – mời trầu là dịp cho nam nữ thanh niên gặp gỡ và trao nhau duyên mới trong cảnh đất trời tươi đẹp của mùa xuân mới. Xưa nay, cái quạt lông gà của ông quân sư Khổng Minh thì được người ta khen, còn cái quạt mo của mấy ông thầy dùi  bày dại, bị người ta mắng: “Đồ quân sư quạt mo”. Cái quạt mo của thằng Bờm, dẫu xưa mà thời nào cũng có người thích đi tìm một lời giải mã mới cho câu chuyện.

Chuyện bên lề của cây cau là trèo cau, bẻ buồng. Tôi dám chắc, là trẻ thơ trong các làng quê, ít chú nào không một lần trèo cau. Trèo cau bẻ buồng, thì người lớn không sai bảo, vì sợ nguy hiểm. Nhưng mấy chú bé tinh nghịch vẫn lén người lớn mà trèo cau bắt tổ chim non. Chim sáo, chim sẻ… vẫn làm tổ trên ngọn cây cau. Một tổ chim bị bắt đem đi mất, là trong vườn diễn ra một cảnh chim trời tao tác, bay đi tìm chim non thất lạc, nhưng thường là vô vọng. Người hái cau “không chuyên” tròng cái nài (làm bằng bẹ chuối khô) vào đôi bàn chân mà cứ nhún nhảy tại chỗ, lưng tom lại, hai tay ôm ghì thân cau, mặt ngước nhìn đọt cau, không chịu trèo. Vì anh ta nhát. Trái lại, người trèo cau “chuyên nghiệp”, không cần nài, thoắt cái, anh ta đã ở trên ngọn cây, bẻ buồng, cột dây thả xuống. Trong vườn cau liên phòng rậm rạp, các ngọn cau giao nhau. Bởi đó, người hái cau cứ nhẹ nhàng, nhanh nhẹn chuyền từ đọt cây cau này sang đọt cây cau kia, khỏi mất công trèo lên tuột xuống nhiều lần. Trẻ con thành phố mà về quê, nhìn thấy anh “thợ” hái cau chuyền trên đọt cây cau, đàng nào cũng liên hệ tới mấy chú khỉ leo trèo không ngớt trong sở thú, trong thảo cầm viên chú thường ra chơi.

Chợ quê ngày xưa, sắp bày một dãy hàng cau. Người mua đông, vì nam giới, nữ giới đều ăn trầu, biếu trầu, mời trầu nhau. Đến cuối năm là mùa cưới, hàng cau bán khá chạy. Người mua cau cho đám cưới hỏi, thường mua nguyên buồng trăm trái, có dư. Ý chúc cho đôi lứa sánh duyên được câu “Bách niên giai lão” có dư. Người mua cau ăn, mua vài chục trái. Người mua cau sỉ, tính cau bằng thiên (= ngàn) trái. Chắc ngày xưa, ông Biện Nhạc buôn trầu, không khỏi  kèm theo mua sỉ bán lẻ cau tươi? Chọn cau, thường người ta chọn buồng trái mởn đều mà xanh đậm, vú cau tròn đều mướt rượt. Người mua cũng cần bổ cau cho xem hột. Cau được bổ bằng dao cau (con mắt dao cau là con mắt sáng, hay liếc). Cái dao cau thật sắc, bổ cau phải ngọt xớt, không cho bị nhầy nát ruột cau. Trái cau phơi ruột ra đó, cho người xem: trắng, mịn, mềm, vừa nhai, không sâu đục…là cau ngon.

Những hàng cau, bụi tre, bến nước, mái đình…tạo nên mảnh hồn làng thiêng liêng, người ta lấy đó làm cội nguồn, biết đâu là nguồn cội của mình: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên” (Đây thôn Vỹ Dạ – Hàn Mạc Tử). Quê tôi bây giờ, cũng như nhiều quê khác, cây cau còn lại rất ít và cũng khó gặp người ăn trầu. Tôi nhớ những hàng cau liên phòng, những vườn cau xanh chim chóc bay về.

H. K. B

 

Read Full Post »

Ta giữa đời nhau

Lâm Cẩm Ái
Giữa núi cao
Giữa biển rộng
Giữa sông dài
Em đứng giữa đời lạnh buốt vai ,
Giữa xuân
Giữa hạ
Giữa đông
Em giữa mùa thu nắng úa vàng ,
Giữa đời anh
Giữa đời em
Ta giữa đời nhau chẳng buộc ràng .
Rong rủi đời mai sau gặp lại
Cũng như là những kẻ đã đi qua
Trong muôn kẻ , ai mà nhớ được
Có kẻ nhìn , đôi mắt nhớ thương ai ?
.
Trời cứ thế mưa dầm lâu thấm đất
Em cứ thế muộn phiền hóa ngu ngơ
Tương tư tháng ngày em quên mất
Lặng ngắm mây trôi biết mấy chiều !

 

Read Full Post »

Tấm ảnh cuối cùng của mẹ.

Nam Thi


Ngày giỗ cha
Chúng con về lại nhà xưa
Mang theo tấm ảnh cuối cùng của mẹ
Chụp một năm trước ngày mẹ qua đời.

Mẹ ngồi trước hàng tử kinh
Màu hoa tim tím lung linh
Giỗ cha đầu mùa Hạ
Hoa tử kinh năm nào cũng nở.

Trong tấm ảnh đã phai mờ
Bàn tay mẹ gầy guột, buông xuôi
Bọn trẻ chúng con đứng vây quanh người,
Đâu biết được
Năm sau mẹ qua đời
Bệnh lao thời kỳ cuối
Chỉ có mẹ biết thôi.
Di ảnh của mẹ
Thay lời trăn trối.

Mẹ ra đi giữa những ngày lửa khói
Chúng con bữa no, bữa đói.
Tháng Bảy đồng khô cỏ cháy
Bồ không còn hạt thóc
Khoai lang, khoai mỳ thay cơm
Con ghẻ lở, hắc lào, đầu cạo trọc…
Trước khi ra đi…mẹ khóc.

Hòa bình thoáng qua,
Lại những năm tháng chiến chinh
Đạn nổ quanh nhà,
Lô xô áo lính
Thân chị một mình trong căn nhà cuối xóm
Tuổi xuân qua đi bao giờ không hay
Con ở chiến trường xa không hẹn ngày trở lại…

Ngày giỗ lần thứ sáu mươi của cha
Con cũng sáu chục tuổi rồi.
Chúng con nay đầu đều bạc
Bạc hơn tóc mẹ ngày xưa.

Con đứng trước sân nhà
Chính nơi ngày xưa mẹ con mình chụp ảnh
Đầu mùa Hạ
Hoa tử kinh nở rộ đầy cành.
Vẫn màu tim tím ấy lung linh.

Tây Sơn, 31-7-2007

Read Full Post »

Thơ Nam Thi

G I Ấ C   N G Ủ  

                                   

Ta rơi xuống vực sâu

Bóng tối đắp đầy nấm mộ

Giấc ngủ triền miên của đất

Triệu triệu năm sau

Bùi ngùi tỉnh giấc.

 

Ai đào xới nấm mồ

Tìm lại những giấc mơ

Với mối tình hóa thạch.

Triệu triệu năm sau

Bao dung lòng đất

 

L U Â N   H Ồ I                                  

 

Trong bất tận luân hồi

Có bao lần hóa kiếp:

Con giun, con dế, con người,…

Có còn được gặp?

 

Trong vô cùng vũ trụ

Những hạt bụi vô danh

Tình cờ, rất tình cờ

Hóa thân em và anh.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »