Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín, 2011

Trăng mơ


Nguyễn Thị Phụng

 

https://i0.wp.com/farm3.anhso.net/upload/20110929/11/o/anhso-115159_DSC06144.jpg
Cũng là trăng mà hôm rằm tháng tám
Trống rộn ràng vang tận mây xanh
Cũng là trăng mà đông chí rét căm
Chỉ côn trùng rộn rã…

Dù vẫn biết tình đời như thế cả
Trăng mặc nhiên hiện hữu giữa trần gian
Bởi thương mình nên chẳng thở cùng than
Ai muốn bảo trăng già non cũng được!

Vâng đã yêu trăng đâu hề từ khướt
Đêm dịu dàng đằm thắm nên thơ
Suốt bốn mùa trăn trở ước mơ
Như trái đất chung tình mà thích nhỉ!…

Read Full Post »

Vất vả xứ người

Chỉ vài hôm, sau cái ngày bước chân đến xứ người, một anh bạn ở cùng trại tỵ nạn đã định cư trước chúng tôi chừng vài tháng, có nhã ý mời gia đình chúng tôi cùng đến dự buổi họp mặt cuối tuần tại nhà của một người quen, vừa mới gặp nơi sở làm. Chúng tôi thuộc diện “ con bà phước ”, không thân nhân tại xứ người cho nên cũng thấy vui vui khi được mời dự tiệc .


Thật ra, đó là những buổi “nhậu” của những người đến trước , đã có công ăn việc làm tạm ổn định .

Ngồi vào bàn tiệc, anh bạn cùng trại đã giới thiệu tôi với những người cùng bàn. Có lẽ do chưa quên cái thói quen, như lúc ở trại tỵ nạn cho nên anh đã nhắc đến danh xưng trước cái tên, khiến cho tôi hơi ngượng !
Một người trong bàn tiệc bổng nói lớn :

–         “Sĩ” gì ở VN , chứ qua đây thì ai cũng bị “lòi xỉ” hết !

Theo sau đó là những tràng cười lớn trong lúc mọi người cùng nâng ly chúc mừng buổi hội ngộ. Người bạn nhìn tôi với vẻ e ngại . Tôi vẫn ráng giữ bình tĩnh trong suốt buổi tiệc, nhưng lòng tôi cứ như bị cắt ra từng mảnh nhỏ. Mặc dù khi ra đi, tôi đã chấp nhận bỏ lại tất cả và biết rằng câu nói của ai đó không hề sai. Nhưng nó đã gợi nhắc cho tôi hiểu được cuộc sống của mình sẽ bắt đầu rất chông gai !!
Và suốt những đêm sau đó tôi không tài nào ngủ được .

Vợ chồng tôi có cái may mắn là được một Hội Nhà Thờ bảo trợ, cho nên mọi thứ cần thiết trong cuộc sống khi mới tới đều có đủ. Cũng chính vì vậy mà chúng tôi đã ở một vùng khá xa người Việt định cư. Chúng tôi chọn lối sống “cô lập” và dành nhiều thì giờ tìm hiểu thông tin rồi quyết định theo học các khóa Anh ngữ , để chuẩn bị định hướng cho cuộc sống riêng mình. Chúng tôi cảm thấy thoải mái với cuộc sống đang có mà không một chút gì băn khoăn .

Một hôm chúng tôi thử làm một chuyến đi xa, tìm đến khu phố có đông người mình sinh sống . Lần đó chúng tôi gặp lại vài người quen lúc còn ở trại tỵ nạn, mới vỡ lẽ ra rằng những người cùng chuyến bay đến Úc đều đã sắm “xế hộp” và mọi thứ trong nhà có vẻ “ cập nhật ”…
Chúng tôi thì chẳng có xe , TV thì không màu, bàn ghế tủ giường thì đều là đồ “Hội” (không phải là đồ hiệu đâu nhé). Chúng tôi được thuyết phục và cũng đã xiêu lòng nên quyết định dọn về ở gần vùng người Việt, mong kiếm được việc làm , tăng thêm ngân sách để “nâng cấp” cho cuộc sống gia đình .

Ban sáng thì tới lớp học Anh ngữ, chiều tan trường về thì vào xin làm (tạm thời) ở một xí nghiệp dây chuyền , nơi mà người phải chạy đua với máy . Công việc không khó nếu mình biết nhanh tay , nhanh trí mà lại có đồng lương cao .
Tôi làm việc rất siêng năng, vì muốn giữ chỗ làm và quyết chí tậu cho được một cái “xế hộp” cho thỏa lòng mơ ước . Người đứng coi máy là một thanh niên trẻ gốc Hoa , không khó mà cũng không dễ cho nên tôi cũng ít bị khủng hoảng tinh thần trong lúc làm việc .

Một hôm, dây chuyền bị ứ đọng mà anh chàng đứng coi máy thì lại phản ứng hơi chậm cho nên máy bị hỏng. Anh đã mạt sát tôi bằng những từ rất khiếm nhã và chửi tôi là thằng ngu đần. Có lẽ vì sợ trách nhiệm cho nên anh ta đổ hết lỗi cho tôi khi trình với ông sếp.
Tôi đã khóc, có lẽ tôi khóc không phải vì tủi thân khi nghe những câu chửi giận dữ từ họ. Nhưng mà tôi đã khóc chỉ vì sợ rằng giấc mơ ngồi xế hộp sẽ khó thành hiện thực. Một lúc sau tôi vơ vội cái túi xách và đến gặp ông sếp để nói vài lời xin lỗi. Cũng không quên cám ơn ông , đã giúp đỡ để tôi có việc làm trong mấy tuần qua. Rồi chào “vĩnh biệt” ra về .

Ông  ngạc nhiên quay lại nhìn tôi rồi hỏi , bằng giọng nói dịu dàng hơn lúc nãy :

–         Tại sao lại về, chưa hết ca làm mà sao lại đòi về . Mầy giận tao hả ?

Tôi không biết trả lời làm sao. Tôi cố dấu hai dòng lệ chảy dài nhưng chắc ông đã thấy. Ông vỗ vai tôi và chỉ tay về phía cái máy bên cạnh, rồi nói :

–         Từ rày trở đi mầy chỉ làm tại cái máy nầy thôi đấy nhé (dĩ nhiên là khác người điều khiển máy)

Công việc tại cái hãng nầy thì không khó nhưng phải làm dài giờ. Tôi không có thời gian rảnh để hoàn tất bài tập tại nhà , của lớp học Anh ngữ. Sức học tôi bị sa sút và bị cô giáo nhắc nhở. Thế là tôi lại bị mất ngủ nhiều đêm sau đó. Tôi đang đứng trước ngã 3 đường mà không biết phải chọn đường nào để đi :

–         Tiếp tục theo đuổi việc làm để đạt được giấc mơ “nâng cấp ” ?

–         Tiếp tục theo đuổi việc học để mong kiếm được một mảnh bằng tại xứ người ?

Cái khó là tôi không biết nên chọn đường nào cho đúng. Nhớ lại người mình có câu : “sai một ly, đi một dặm”, khiến cho tôi càng khủng hoảng tinh thần hơn nữa.

Cuối cùng, tôi đã phải quyết định từ bỏ công việc đang làm để tìm một việc làm ngắn hạn hơn. Và rất may tôi đã nhận được một công việc, vài giờ vào mỗi buổi tối trong tuần. Công việc thì thoải mái vì không có ai “dòm ngó” mà tiền lương thì khá cao .
Nếu lúc đó có ai hỏi, đang làm nghề gì thì tôi sẽ tự hào mà nói rằng : “tôi đang làm công việc văn phòng ”. Vâng, thưa các bạn đó là cái công việc dọn dẹp vệ sinh (hút bụi sàn nhà , lau bàn , đổ rác , lau cầu tiêu .. cho văn phòng làm việc của một công ty rất lớn , có nhiều tầng). Tôi cứ đánh lận con đen như thế, nhỡ có ai mà biết được thì tôi sẽ bảo :

–         Ờ .. đó là công việc dọn dẹp vệ sinh văn phòng, nói cho gọn là làm văn phòng, cũng vậy thôi !

Thời gian đã giúp tôi quen dần với những công việc như thế . Cũng nhờ đó mà có một ngày tôi đã viết thư gởi về VN, cho Mẹ. Tôi đã viết :

–         Mẹ ơi, con đã tìm lại được những gì mà con đã mất ..

Và Mẹ tôi đã khóc , lần nầy thì khóc cho một niềm vui !

Người gốc Nẫu

Read Full Post »

Thổ ngữ Nam Bắc

Bắc bảo Kỳ , Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi
Ôi ! Bắc quở Gầy , Nam than Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ
Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng
Bắc nói trổng Thế Thôi , Nam bâng quơ Vậy Đó
Bắc đan cái Rọ , Nam làm giỏ Tre,
Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào
Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng
Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô
Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê
Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi ! Bắc hô: cút xéo.
Bắc bảo: cứ véo ! Nam : ngắt nó đi.
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác
Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay.
Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó.
Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam : ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội.
Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy
Bắc quậy Sướng Phê , Nam rên Đã Quá !
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc.
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng.
Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo.
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa.
Bắc vua Bia Bọt , Nam chúa La-De
Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam : Thơm Thơm đậu phọng
Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ
Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn
Nam toe toét «hổng chịu đèn», Bắc vặn mình «em chả»
Bắc giấm chua «cái ả», Nam bặm trợn «con kia»
Nam mỉa «tên cà chua», Bắc rủa «đồ phải gió»
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ
Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm.
Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan
Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh cực !”,
Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê !”
Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu …

Read Full Post »

Sen

                           Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

              

      Ở vùng quê tôi có nhiều đầm sen. Người quê tôi lời ăn tiếng nói khá phong phú. Cũng cái vũng trồng sen thôi, nhưng vũng trồng sen mênh mông ở giữa đồng thì gọi là đầm sen hay bàu sen, vũng trồng sen ở trước đình chùa thì gọi là hồ sen, còn cái vũng trồng sen nho nhỏ ở bên nhà, bên đường cái quan gọi là ao sen. Hoa sen có sen hồng, sen trắng, sen vàng và sen nào cũng ngát hương. Trong đầm sen thường mọc lẫn hoa súng, cùng họ hàng với hoa sen. Có người vì yêu quá đã gọi hoa sen là hoa ”quân tử”, hoa súng là hoa ”tiên tử”.

(more…)

Read Full Post »

Ngoài xứ dừa Bến Tre ra thì không có nơi nào ở nước ta nhiều dừa như ở Tam Quan, Bình Định. Với người dân xứ dừa thì sản phẩm nước  mắm dừa được chế biến từ dừa đã quá quen thuộc.

Nếu ai lần đầu tiên được nếm món nước mắm này có lẽ cũng dễ nhầm tưởng đây là loại nước mắm được chế biến từ cá bởi nó cũng có màu vàng, có vị mặn và thơm ngon.

Theo các cụ cao niên, do ngày xưa giao thông đi lại khó khăn nên việc vận chuyển cá mắm từ vùng này sang vùng khác tương đối khó khăn nên người dân ở xứ dừa tự nghiên cứu để sản xuất loại nước mắm này bởi muốn làm ra nó không phải đơn giản.

Để làm ra mẻ nước mắm dừa thường rất nhọc công, mất thời gian. Bởi để chế biến được từ  2 đến 4 lít mắm dừa phải mất một ngày và khoảng 20 lít nước dừa già.

Dừa già hái đươc chặt vỏ lấy nước cho vào xoong nấu đến khi sôi. Sau đó thì chụm lửa riu riu giữ cho độ sôi đều, lưu ý mở vung. Khi còn khoảng 2 lít thì nước dừa ngả màu vàng, lúc ấy cho muối vào vừa đủ mặn đặt xuống, để nguội, cho vào chai là đã có món nước mắm dừa. Sản phẩm nước mắm này cũng có màu vàng, vị mặn và để lâu mấy cũng không hư, lại có mùi vị thơm ngon đặc biệt nên được xem như một món đặc sản của xứ dừa.

Ngày nay nước mắm dừa rất ít được chế biến rộng rãi, phổ biến mà chỉ ở số ít gia đình có truyền thống để làm quà hay đãi khách đặc biệt mỗi khi đến nhà.

Điều thú vị của nước mắm dừa  là không chỉ được dùng làm nước chấm, nước mắm dừa còn được dùng như một loại gia vị đặc biệt trong các món ăn, nhất là các món chay. Chính vì vậy đây được xem như loại nước mắm phù hợp dành cho mọi người trong chế biến thực phẩm.

Theo Laodong

Read Full Post »

(ĐVO) Một số tài liệu lịch sử xác nhận rằng, vua Quang Trung đã sai sứ thần tới Đại Thanh cầu hôn công chúa – con gái được cưng chiều nhất của hoàng đế Càn Long. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay lại phủ nhận điều này.
Thực hư cuộc cầu hôn giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh là như thế nào? Sách Hoàng Lê nhất thông chí chép rằng: “Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, bèn sai bầy tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây”.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện cũng ghi: “Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được”.

Vua Quang Trung. Ảnh minh họa

Theo hai tài liệu trên, việc Quang Trung xin cưới một công chúa của Càn Long mới chỉ trong dự định của một ý đồ liên quan đến vận nước của hai bên. Vua mong muốn bành trướng lãnh thổ Ðại Nam về phương Bắc và bằng mọi cách đòi lại cho được 2 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây – vốn thuộc nước Nam Việt thời Triệu Ðà (năm 207 trước Tây lịch), mà nhà Hán đã thôn tính.

Sắc mệnh sai sứ thần sang nhà Thanh cầu hôn

Vào tháng 4 âm lịch năm 1791, vua Quang Trung gửi một sắc mệnh cho Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng, có nội dung như sau:

“Sắc Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công tiên gia lĩnh Bắc sứ kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông, Tây lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ.

Thận chi! Thận chi!

Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành.

Tha nhất tiền phong, Khanh kỳ nhân dã, khâm tai sắc mệnh.

Quang Trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật”.

Tạm dịch:

“Sắc sai Hải Dương, Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công được tiên phong làm Chánh sứ đi sứ nhà Thanh, kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn công chúa để khiêu khích tự ái vua Thanh.

Cẩn thận! Cẩn thận!

Hình thế dụng binh là ở chuyến này cả. Ngày kia làm tiên phong chính là khanh.

Sắc mệnh nhà vua.

Ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791).

Như vậy, đoàn sứ của Vũ Văn Dũng lên đường sang Đại Thanh để bệ kiến vua Càn Long hai việc: xin cầu hôn và xin đất đóng đô. Thực chất, theo một số nhà nghiên cứu hiện nay, đó chỉ là cái cớ vì thực tâm, vua Quang Trung muốn dụng binh đánh Trung Quốc và Vũ Văn Dũng chính là vị tướng tiền phong trong tương lai.

Càn Long chuẩn thỉnh cầu… Quang Trung băng hà

Sau khi sứ thần Vũ Văn Dũng dâng tấu xin Càn Long ban cho hai yêu cầu nói trên, vua nhà Thanh đã chuẩn y lời cầu hôn của hoàng đế Quang Trung, sai bộ Lễ sửa soạn nghi thức cho việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang nước Nam. Còn việc xin lại hai tỉnh, Càn Long ngoài mặt đồng ý, nhưng thực tế chỉ muốn trao cho Quảng Tây làm đất đóng đô, coi như “của hồi môn” cho con gái “rượu”.

Tuy nhiên, ở đời mấy ai học được chữ ngờ! Chỉ sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận được tin chẳng lành là vua Quang Trung đột ngột băng hà. Mọi việc trở nên dang dở… Lúc đó, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ viếng:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long cũng thảo một bài thơ viếng hoàng đế Quang Trung. Sứ nhà Thanh đã đến tận mộ ông ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Cho đến nay, thời điểm mất của vua Quang Trung vẫn được các tài liệu cổ ghi khác nhau. Sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn ghi ông mất tháng 7 âm lịch năm 1792. Hoàng Lê nhất thống chí chép ông mất tháng 8 âm lịch năm 1792. Theo lý giải của Hoàng Xuân Hãn trong La Sơn phu tử, cả hai sách ghi đều không sai. Quang Trung mất vào khoảng 11 h đêm ngày 29 tháng 7 âm lịch, khoảng đó là giờ tý, nghĩa là bắt đầu được tính sang hôm sau; mà tháng 7 năm đó là tháng thiếu, ngày 29 là ngày cuối tháng, nên sau 11h đêm đã chuyển sang tháng 8. Theo Hoàng Xuân Hãn: “Ghi tháng 7 hay tháng 8 thực ra chỉ chênh nhau khoảng nửa giờ”.

Ngay sau khi đại phá quân Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, vua Quang Trung tìm cách xóa bỏ thù hằn bằng việc chiêu hàng, nuôi dưỡng hàng vạn tù binh nhà Thanh và thu dọn, cúng tế chiêu hồn quân Thanh; thực thi chính sách hòa giải với cường quốc phương Bắc và triều cống, xin phong vương. Bằng một kế sách ngoại giao khôn khéo, mua chuộc được các cận thần nhà Thanh (Phúc Khang An, Hoà Thân…), Nguyễn Huệ đã được vua Thanh chấp nhận cầu phong để nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Lê làm chủ Đại Việt.

Read Full Post »

 Phạm Văn Phương

Ta chẳng còn ta ngày tháng cũ
Mười lăm năm một dịp quay về
Em chẳng còn em thời thiếu nữ
Đôi bờ sương đục đã phân chia

Mười lăm năm lẻ về An Túc
Song thưa, nghe lọt gió tư bề
Mưa trút một trời Tây Sơn Thượng
Mơ màng ly rượu sánh trăng quê

Mơ màng một dáng em như liễu
Môi mắt xinh tươi dưới cội đào
Mơ màng con sẻ bay ngoài dậu
Đôi tà áo lụa trắng chiêm bao

Mơ màng ta thấy ta như cỏ
Bâng quơ vướng víu dưới chân người
Ta thấy em buồn như bữa nọ
Mà ta khờ khạo mãi rong chơi

Mà ta đâu biết em như gió
Thổi bung ngọn cỏ buổi ta về
Mà ta đâu biết em như lửa
Cháy bùng một ngọn giữa đêm khuya

Mười lăm năm lẻ ta về lại
Em chẳng còn em thuở ban đầu
Ta chẳng con ta ngày tháng cũ
Đôi bờ sương đục dưới thung sâu

Quái lạ, mà sao ta cứ nhớ
Chiêm bao áo lụa trắng đôi tà
Ta thấy ta buồn hơn lá cỏ
Em buồn  bữa nọ có hơn ta?

Ta buồn, em hỡi- ta buồn lắm
Mười lăm năm trước cũng lâu rồi
Gió thổi ngút một trời An Túc
Mà lòng hồ dễ đã xa xôi ?

Read Full Post »

K H I GIAMAHAVU . . . “I U”.

Thuận Nghĩa.

 
Tôi thường nhận được những tài liệu về tuổi già viết bằng tiếng Việt, Anh, Pháp với bản dịch tiếng Việt từ bạn già khắp nơi trong và ngoài nước. Khi thì những chỉ dẫn về những dấu hiệu của chứng đột quỵ, đau khớp, đau tim,…; những phương pháp tập luyện, dưỡng sinh, vân vân và vân vân. Nếu dùng công cụ tìm kiếm của google với những từ khóa “ lão khoa, bịnh người cao tuổi…” bạn sẽ có núi tài liệu, phải sống 200 năm mới đọc hết. Nếu có chí học các phương pháp tập luyện, nào là dịch cân kinh, yoga, thiền …mỗi ngày phải có 48 giờ mới đủ thời gian thực hành, không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập ma.
Một số bạn già của tôi mách cho nhau những bài thuốc “cải lão hoàn đồng “, bài nào cũng “hay lắm”; hoặc tìm ăn các thứ đặc sản như rắn, rết, bọ cạp, kỳ đà, cắt ké,…con gì cũng bảo “ep-phê”. Phổ biến nhất là các thứ rượu thuốc, ngâm đủ thứ cây con, để càng lâu càng “tốt”. Một bác sỹ danh tiếng bảo với tôi rằng dựa theo kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm những thứ cây con ấy lâu ngày bị phân hủy khiến rượu thuốc không khác gì nước cống, chỉ khác nhau mùi vị. Chắc là phải tham khảo ý kiến nhà văn Trương Văn Dân, vốn là chuyên gia hóa dược làm việc lâu năm ở Ý, để biết thực hư thế nào. Ớn nhất là các loại rượu pha máu tươi, tim, mật của thú hoang dã như rắn, gấu, bò tót,…Các chuyên gia y tế cho rằng trong các loại máu động vật có những loài ký sinh, vi trùng, vi khuẩn có thể cộng sinh với loài vật nhưng rất nguy hiểm cho người.
Có lẽ, những thức ăn đặc sản, rượu thuốc ấy là những thứ doping, có tác dụng sinh lý thì chưa chắc nhưng tâm lý thì nhiều – liệu pháp tâm lý đôi khi cũng cần để người già có cảm giác …không già hoặc ít già so với tuổi tác thật.
Mới đây, một ông bạn là bác sỹ hưu trí, gửi cho tôi “Mười lời khuyên dành cho người cao tuổi”, tóm tắt như sau:
(1) Hãy vui vẻ với mọi người, (2) Làm chương trình xài hết tiền mình có, đừng tìm vui trong việc làm tiền, tích cóp của cải, (3) Hãy sống với thực tại vì “ Ngày hôm qua thì đã qua. Ngày mai thì chưa đến, thậm chí không bao giờ đến”, (4) Hãy vui vẻ với cháu nội-ngoại nhưng đừng tự nguyện làm người giữ trẻ trọn thời gian, (5) Chấp nhận già, yếu, bệnh tật…và cái chết vì đó là quy luật sinh, lão, bịnh, tử. (6) Vừa lòng với những gì bạn có, đừng nhọc sức tìm kiếm những gì bạn không/chưa có vì thời gian không còn nhiều nữa, đã trễ rồi, (7) Vui với người phối ngẫu ( vợ/chồng), con cháu, bạn bè. (8) Giả có ai yêu bạn, người đó phải yêu chính bạn chứ không phải những gì bạn có, (9) Tha thứ cho  người và cho mình, và (10) Làm quen với cái chết vì chết là một phần của cuộc đời. Đừng sợ.
Những lời “khuyên” đại loại như trên có lẽ phổ biến, bất kể đến từ Tây hay Đông. Những ai đang cố gắng vô ích với rắn, rết, bò cạp,…giống như Tần Thỉ Hoàng tìm thuốc trường sinh bất tử thì tham khảo điều (5), (6), và (10). Những ai đang sống với con cháu chú ý điều (4), tuy nhiên nếu bạn không có khả năng độc lập về tài chính, phải sống nhờ con thì đành chấp nhập là babysitter, thậm chí làm “o sin”vậy. Tục ngữ có câu “mẹ già bằng ba con ở”, chứng tỏ chuyện mẹ già làm o-sin đã có từ xửa từ xưa. Thế nên ông Đặng Tiểu Bình có lời khuyên nên dành dụm chút tiền cho tuổi già có thể “tự lực cánh sinh” là vì vậy. Cũng có người, nhất là ở nông thôn, chia của cải cho con cái, không giữ lại chút tài sản nào để “dưỡng già”, thành trắng tay, phải ăn nhờ, ở nhờ con cái ngay trong nhà của mình. Cho nên bạn cần tham khảo điều (2), phần nào để dưỡng già, phần nào để lại cho con cháu. Tục ngữ có câu: “Đời cua cua máy; đời cáy cáy đào”. Ngay cả Bill Gates, ông chủ Microsoft, tiền rừng bạc biển mà chỉ dành cho con 10 triệu dollars, một số tiền nhỏ trong khoảng 40 tỷ  tài sản. Còn những lão vẫn còn ham chạy theo tiền bạc, kiếm danh vọng…thì miễn bàn. Mười lời khuyên nầy có lẽ xuất xứ từ phương Tây, nhưng xem ra nội dung các điều (3), (9) và (10) cũng tương tự nhân sinh quan phương Đông- nhất là Phật – ở chỗ “sống với hiện tại”, “Tha thứ cho người và cho mình” va “ làm quen với cái chết vì cái chết là một phần của cuộc đời”( tức sinh-lão-bệnh-tử).
 
Tôi thì quan tâm đặc biệt điều (8):“ Giả có ai yêu bạn, người đó phải yêu chính bạn chứ không phải yêu những gì bạn có”. Đúng rồi, không thể bỏ sót mục nầy vì chẳng lẽ người già không yêu ai và không được ai yêu – yêu ở đây là tình yêu trai-gái. Quả vậy, trên xunau.org và những trang khác có vô số thơ, văn về đề tài iu iu mà đa số tác giả là các ông bà U 60, 70, đã đành hầu hết là những hoài niệm nhưng biết đâu trong đó vẫn có iu theo thì hiện tại. Tại sao không? Tình Yêu đâu có tuổi.
Trở lại lời khuyên ở Điều (1) “Hãy vui vẻ với mọi người”. và Điều (3) “Hãy sống với thực tại”. Tình yêu trong thì hiện tại giúp cho ta “sống với thực tại” (Đ.3) và được“vui vẻ” (Đ.1), NẾU…Thế đấy, cuộc đời luôn lè kè chữ “nếu”. “Nếu” là điều kiện cần và đủ. Chẳng hạn, nếu bạn được phép iu, đủ sức iu, …và trước hết nếu có ai đó iu bạn. Nhưng cái “Nếu” tối quan trọng là ai đó “phải yêu chính bạn chứ không yêu những gí bạn có”. Nhân vật người Úc gốc Việt trong truyện “Sống để trả nghiệp” của Đinh Tấn Khương  (trên xunau.org) khôn ba năm dại một giờ giao trái tim và hốt tiền vợ con cho cô sinh viên bạch cốt tinh đến nỗi thân bại danh liệt theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, sống dở chết dở để “trả nghiệp”. Nếu anh ta cảnh giác đặt câu hỏi “ cô ta yêu tiền hay yêu người” thì có lẽ đã không bị rơi vào bẫy tình, giả có lỡ rơi vào thì cũng biết bỏ của chạy lấy người, đâu đến nỗi bị thằng tình địch trẻ khỏe ném xuống lầu đến chấn thương sọ não. Nói thì dễ nhưng cái bẫy nào cũng được ngụy trang khéo léo, khi đã “mù con mắt” rồi làm sao nhận ra nó. Xét cho cùng, trong thời buổi nầy cái gì cũng có giá, chẳng ai cho không cái gì, kể cả cái gọi là “tình yêu”. Sự thật đôi khi phũ phàng nhưng dẫu phũ phàng cũng là sự thật.
 
Thà rằng cứ yêu “lặng lẽ” như Nguyễn Quy hoặc “ lặng thầm” như Nguyễn Thị Tiết cho chắc ăn. An toàn là trên hết. Nhớ nhé các GIAMAHAVU…iu*
Thuận Nghĩa.
19-9-2011

Read Full Post »

Con đường đi dạy

Hà Thanh

Ngày xưa con đường đi dạy

Cây dài bóng mát đu đưa

Bay bay  đôi tà áo lụa

Con đường là nhạc là thơ

.

Bây giờ con đường đi dạy

Chang chang nắng lửa trưa hè

Mịt mù mưa dầm tháng bảy

Chiều về nơm nớp kẹt xe

.

Thăm thẳm con đường đi dạy

Nhọc nhằn con đường áo cơm

Tuổi mình gối chồn chân mỏi

Đường dài như càng dài hơn

.

Không còn hoa cài nắng đổ

Không còn con đường mưa thơm

Mỗi ngày con đường đi dạy

Dài theo quãng đời ly hương.

Read Full Post »

Đặng Hoàng Thám
Đồi Thi Nhân. Ảnh: Mai Lý

(TBKTSG Online) – Có dịp đến thành phố biển Quy Nhơn, thủ phủ của tỉnh Bình Định, hầu như ai cũng muốn tìm đến Ghềnh Ráng – Tiên Sa để thưởng ngoạn vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban tặng cho dải đất ven biển nầy. Danh thắng Ghềnh Ráng ở phía đông nam Quy Nhơn. Từ đầu đường Hàn Mặc Tử chạy dọc theo biển, đi khoảng 2,5 cây số về phía nam, ta sẽ đến Ghềnh Ráng.

Mua vé vào cửa (6.000 đồng/người), du khách vào cổng rồi đi lên “dốc Mộng Cầm” chừng 150 mét là đến trung tâm khu du lịch Ghềnh Ráng; từ đây sẽ tha hồ phóng tầm mắt quan sát cảnh sắc thiên nhiên trong một khu vực rộng khoảng 35 héc ta.

Từ trên đồi Thi Nhân rợp bóng những cây bàng xum xuê, những gốc sứ trắng, hoàng lan, xoan, tràm hoa vàng… dọc theo những bậc đá quanh co, khúc khuỷu, du khách thả bộ xuống sát mé biển. Những lúc biển yên sóng lặng, ta thấy rõ hàng vạn viên sỏi lớn nhỏ, nhiều màu  sắc, chồng, sắp lớp lên nhau dưới làn nước trong xanh như ngọc bích. Nơi đây gọi là bãi Đá Trứng. Đặc biệt, phía trên bãi có một mạch nước ngầm từ khe núi chảy ra, tạo thành hai giếng nước ngọt hình lòng chảo nằm kề nhau, đường kính miệng rộng hơn một mét. Những khi biển động, những lượn sóng bạc đầu vỗ mạnh vào những ghềnh đá, tung bờm bọt trắng xóa tung cao trông rất đẹp mắt và lãng mạn!

Bãi Đá Trứng. Ảnh: Mai Lý

Dọc lối đi theo sườn núi sát biển, du khách gặp nhiều cảnh quan độc đáo. Do trải qua hàng triệu năm, bị mưa nắng xâm thực, trên một phiến đá lớn có hình nổi lên trông giống như mặt người. Đi một quãng, du khách sẽ gặp một khối đá trông tựa đầu con sư tử đang chồm ra biển, gần đấy có một hòn đá nhỏ giống như người vợ bế con ngóng chồng, dân gian gọi là đá Vọng Phu. Ngoài ra, ở đây còn có hai khối đá lớn chồng xếp lên nhau, chênh vênh như chực rơi xuống, gọi là hòn Chồng.

Cạnh bãi Đá Trứng là bãi tắm Hoàng Hậu, non nước hữu tình, cảnh quan xinh đẹp, nghe đâu xưa kia chỉ dành riêng cho hoàng hậu Nam Phương, vợ vua Bảo Đại. Từ bãi Đá Trứng nhìn về phía Bắc, ta sẽ thấy một góc trong toàn cảnh thành phố biển Quy Nhơn hiện đại, xinh xắn với kiến trúc hài hòa chạy dài đến đầm Thị Nại, bán đảo Phương Mai và khu công nghiệp Nhơn Hội.

Trên đồi Thi Nhân có nhiều chòi lá nhỏ, thấp thoáng, lẫn khuất giữa muôn vàn hoa kiểng xinh tươi. Du khách sẽ gặp nhiều loài hoa đẹp như liễu đỏ, hồng nhung, soi nhái, sứ trắng, hoàng anh, hướng dương, dạ thảo… Cạnh lối đi lên đồi, trên một tảng đá to bằng nửa gian nhà có khắc chữ “Trí” (tên thật của thi sĩ Hàn Mặc Tử) theo lối viết thư pháp.

Có thể đi xuyên qua vạt rừng nhỏ vòng qua đồi Thi Nhân, cũng có thể đi từ cổng lên một quãng ngắn, rẽ qua con đường nhựa phía tay phải, vượt lên những bậc tam cấp đến viếng thăm ngôi mộ mới của nhà thơ tình lãng mạn lừng danh: Hàn Mạc Tử.

Phần mộ thi sĩ Hàn Mặc tử. Ảnh: Mai Lý

Mộ ông nằm dựa lưng chừng núi, giữa không gian thoáng đãng nhìn ra biển khơi bao la lộng gió. Chung quanh mộ có nhiều hoa  kiểng. Cảnh quan sáng đẹp – an nghỉ nơi đây, có lẽ thi sĩ không còn buồn nữa! Hầu như quanh năm suốt tháng có rất nhiều người ghé thăm, thắp hương tưởng niệm, đồng cảm với ông. Những ngày mang chứng bệnh nan y, an dưỡng ở trại phong Quy Hòa gần đấy, cảnh vật trữ tình, thơ mộng của Ghềnh Ráng đã là nguồn cảm hứng lai láng của người nhà thơ tài hoa bạc mệnh nầy:

“Ai mua trăng, tôi bán trăng cho

Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Chẳng bán tình duyên ước hẹn thề”…

Địa danh Ghềnh Ráng – Tiên Sa còn gắn với một sự tích. Ngày xưa, có một cô con gái đẹp người, đẹp nết sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Khi lớn lên cô gái có một tình yêu thắm thiết với một chàng trai cùng làng. Nhưng nhan sắc của nàng đã khiến tên quan huyện  háo sắc say mê. Bằng mưu kế xảo quyệt, hắn tìm cách chiếm đoạt nàng. Cô gái sợ quá bỏ trốn trong khi người yêu nàng bị hắn bắt đi lính thú rồi đày ra biên ải.

Gềnh Ráng hướng nhìn về thành phố Quy Nhơn. Ảnh: Mai Lý

Tên quan cho quân đuổi theo. Bị truy đuổi bén gót, cô gái chạy trốn vào núi Vũng Chùa. Lúc cô sắp sửa sa vào tay bọn ác, bỗng trời nổi cơn giông tố, sấm  giăng chớp giật ầm ầm, đá lở cát bay mù mịt! Và kỳ lạ thay, núi bỗng nứt ra một khe lớn, nàng chạy vụt vào trong đó rồi biến mất! Khi giông bão tan, khe núi ấy biến thành một dòng suối, uốn lượn lờ xuôi chảy xuống vịnh biển. Người đời gọi đó là Suối Tiên.

Chàng trai vượt biển tìm người yêu, trên đường gặp  bão. Thuyền đắm.  Chàng đuối sức rồi ngất xỉu, sóng biển đưa chàng tấp vào Ghềnh Ráng. Khi tỉnh lại, chàng thấy bóng người yêu đứng bên dòng suối vẩy gọi, chàng chạy lại với nàng và hai người sau đó cùng biến mất. Dân gian cho rằng họ đã thoát tục thành tiên.

Ghềnh Ráng ngày nay đã được quy hoạch, xây dựng thành một quần thể du lịch với nhiều hạng mục có giá trị văn hóa… Khu mộ Hàn Mặc Tử được tôn tạo, có nhà lưu niệm, giới thiệu thân thế, cuộc đời và sự nghiệp thi ca của nhà thơ. Vào những dịp lễ, tết, ở đây có tổ chức hội đánh bài chòi và các trò chơi dân gian phục vụ khách tham quan, du lịch.

Read Full Post »

Older Posts »