Feeds:
Bài viết
Bình luận

Bài thơ cho tuổi sáu mươi

Nguyễn Kim Huy

.

Tuổi sáu mươi, tôi trở lại bản thân mình

Đứa trẻ nhà quê sinh ra da khét nắng

Miếng sữa mẹ đầu đời thơm mùi khoai mùi sắn

Chén mắm cá cơm cá nục mặn mòi mỗi bữa tôi ăn

Tuổi sáu mươi, tôi dừng lại những băn khoăn

Làm sao trả được hết ơn cuộc đời, ơn mẹ cha sinh ra, ơn những người giúp tôi khôn lớn

Và tự nhủ mình thôi nguôi giận nguôi hờn

Những ai đó có khi làm mình buồn tủi

Tôi ngồi gỡ những kỷ niệm đời tôi

Như người đánh cá chăm chú gỡ những con cá mắc lưới

Con cá to, con cá khoẻ

Càng giãy dụa càng mắc sâu

Những kỷ niệm càng đẹp, càng khắc khoải cùng nhau

Càng rối bời tấm lưới lòng tôi giăng trải

Ngày còn thơ nơi xóm nhỏ tôi mê hoa mê trái

Suốt ngày lội dọc sông Trầu

Bắt con cá rô, hái chùm dủ dẻ

Trong nắng mai lên căng ngực hít gió đồng

May lớn lên tôi không trở thành kẻ lông bông

Cũng học hành, cũng có nghề có nghiệp

Có anh em bạn bè, có vợ có con có cháu đời mai sau nối tiếp

Nhưng ngọn gió điệp trùng phóng khoáng trên cánh đồng ngợp lúa vàng xưa vẫn nhiều khi làm tôi trăn trở khát khao

Những tự do không trói buộc hồn mình

Dẫu biết nói làm sao cho nỗi niềm tôi cạn tỏ?

Nói làm sao cho cạn tỏ nỗi niềm tôi

Bài thơ này tôi viết cho tuổi sáu mươi, mai tôi thành người khác

Mai tôi hát bài ca lão giả

Bên khúc sông xưa lồng lộng gió đồng

Dọc bờ sông vẫn nở nhiều hoa trái

Bước qua đó là lòng tôi thắm lại

Tôi làm cuộc trở về nguyên vẹn những niềm mơ…

7.12.2022 – NKH

.

Thiêu hủy bài thơ

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Tựa như bạn đánh rơi
từng con số thật nặng
như giá xăng
từng cây số được xếp chồng trong túi áo

Tựa như bạn đánh rơi phụ âm cuối
sự mát lạnh từ vầng trăng
và đêm chẳng thể viết thành lời
sau giấc mơ
trăn trối

Tựa như chiếc bóng nằm nghiêng trên lưỡi cuốc
trong giấc mơ của cha
xới lên từng giọt mồ hôi
tựa như nhọc nhằn từng nụ cười
bạn không thể đánh rơi
nỗi lo của mẹ

Thiêu hủy bài thơ
và rút từng lời nói
của thời gian
như sáng nay đã khuyết một góc đường
có chùm trạng nguyên vừa trụi lá
bạn sẽ đổ lỗi cho một số lý do
về cái máy tính bị tắt nghẽn
và bạn sẽ biết
tình yêu cuộc sống
lớn hơn mười ngón tay
hơn sự phàn nàn
về số tiền lương ít ỏi mà bạn nhận cuối tháng
bạn hãy chấp nhận
tham gia với đám đông
để đi tìm cầu vồng
mọc sớm

Thiêu hủy bài thơ
tựa như điều bạn đang đợi chờ
và không thể nói
tôi đang rơi
vào cơn buồn ngủ

và chẳng có bài thơ nào kể lại cho bạn nghe
về câu chuyện thiên đường
hay địa ngục

Trần Vấn Lệ

Sài Gòn mưa xưa đẹp: ào ào xuống, hết liền! Nay, Sài Gòn hết duyên? Mưa liên miên từ Tết…

Mưa phùn và giá rét giống giống ngoài Bắc ghê! Mưa nhiều lúc não nề: Mưa gì ướt cả mắt!

Ai cũng chối mình khóc, làm sao chối được gương? Cái mặt soi buồn buồn, phấn son tô bỗng nhạt.’

Phải nói như hờn mát! Mình hờn mát với mình… còn hơn là làm thinh! Trời ơi mưa buồn quá..

Me Sài Gòn rụng lá, mưa rụng lá nhiều thêm! Đường Duy Tân chắc quên những đôi nhân tình cũ?

Ờ nhỉ mà ai nhớ người đang đi trong mưa? Chuyến vượt biên bao giờ, không bao giờ đến bến!

Những lời tình tự hẹn… tất cả thành mưa rồi? Chờ chờ hoài một người không về cho thấy mặt!

… thì mưa bay vào mắt chớ biết bay vào đâu!

*

Sài Gòn nhiều nhà lầu. Nhiều nhà không có mái… Anh ơi buồn em trải che mưa cây sầu riêng…

Ước chi có anh bên hứng em mưa trên tóc! Ước chi em được khóc trên bờ vai cố nhân…

Sài Gòn đang vào Xuân, mưa phùn từ hôm Tết. Chuông Nhà Thờ ngân mệt… bây giờ nhường gió mưa!

Trần Vấn Lệ

(9:17am, 02.02.2023)

Nguyễn Thanh Quang

.

​Tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam từ khi khởi thảo đến khi hoàn tất khoảng hai thế kỷ. Dựa vào những tư liệu hiện có, người ta đã chia ra làm bốn thời kỳ: thời kỳ phôi thai, thời kỳ hình thành, thời kỳ phát triển và thời kỳ hoàn tất. Bình Định, vinh dự là vùng đất phôi thai, sáng tạo chữ Quốc ngữ (TK XVII), truyền bá, phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ (TK XIX-XX), nơi “dòng sông chữ Việt” không ngừng chảy.

​Chữ Quốc ngữ ra đời từ các giáo sĩ dòng Tên trong thế giới nhà thờ Công giáo, thâm nhập vào cuộc sống, xã hội như một đột phá, một cách mạng về chữ viết, được hoàn thiện dần và trở thành chữ viết Quốc gia, vai trò quyết định là những trí thức Việt Nam, những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, các cộng đồng cư dân, là Nhà nước Việt Nam độc lập. Chữ Quốc ngữ có tác động toàn diện và rất mạnh đến sự phát triển của văn hóa Việt Nam.

Từ Cư sở Nước Mặn

​Trong địa hạt tôn giáo, các miền truyền giáo tại Việt Nam được các thừa sai dòng Tên ở Macao thuộc tỉnh dòng Nhật Bản thành lập, ở Đàng Trong vào năm 1615 [1] và ở Đàng Ngoài vào năm 1627 [2].

​Đầu thế kỷ XVII, Xứ Quảng là một miền đất chung bao gồm cả Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, được coi là nơi mở đầu trang sử khai đạo chính thức ở Việt Nam. Do vậy, các học giả nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ thường cũng tính thời điểm khởi nguyên công việc sáng chế loại chữ mới này ở Việt Nam mà cụ thể là ở Đàng Trong, ở Xứ Quảng vào năm 1615, khi các nhà truyền giáo dòng Tên mở đạo ở Việt Nam và hoạt động của họ được ghi lại trong các tài liệu lưu trữ khá đầy đủ. Tuy nhiên, xét riêng về phương diện lịch sử chữ Quốc ngữ, thời điểm quan trọng nhất phải là khi thiết lập cư sở Nước Mặn, thuộc phủ Qui Nhơn (ngày nay thuộc xã Phước Quang, Tuy Phước, Bình Định) vào năm 1618.

Những bản dịch các văn bản Ki-tô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618 tại cư sở Nước Mặn. Tại đây, linh mục Bề Trên Buzomi cùng Pina và Borri nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi uyên bác về chữ Hán có tên rửa tội là Phê-rô. Bản phúc trình của cư sở ghi: “Người ấy (một nhân sĩ thân quen với đoàn truyền giáo) có một người con trai mười sáu tuổi, là thanh niên lanh lợi và thông minh nhất trong vùng; anh này lại viết chữ Hán rất đẹp, được dân chúng hâm mộ vô cùng… Anh tên thánh rửa tội là Phê-rô, nhờ có tài hay chữ nên giúp linh mục rất nhiều trong việc dịch kinh Pater noster, Ave Maria, Credo và Mười Điều Răn ra tiếng địa phương…”[3].

​Trong bức thư đề ngày 17.12.1621 Gaspar Luiz chép: “Cuốn giáo lý mà người ta đã biên soạn bằng tiếng Đàng Trong, giúp ích rất nhiều, vì không những trẻ em học thuộc lòng sách đó, mà người lớn cũng học…” [4]. Theo linh mục Léopold Cadière, quyển sách giáo lý nầy được sáng tác bằng ngôn ngữ Đàng Trong [chữ Nôm]…. Ban đầu tiếng Việt được phiên âm bằng mẫu tự châu Âu để cho các thừa sai tiện dùng kèm với chữ Nôm người Việt sử dụng, dần dần bản phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự châu Âu trở thành hình thái đầu tiên ghi âm Latin hóa ngôn ngữ Việt Nam, một hình thái chữ Quốc ngữ “tiền Đắc Lộ”. Chúng ta có được một số chứng từ về những hình thái đầu tiên của việc Latin hóa trong Bản tường trình của linh mục Borri [5].

Tập sách “Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong” là những ghi chép của linh mục Christoforo Borri, xuất bản bằng tiếng Ý lần đầu tiên năm 1631, chữ Quốc ngữ Borri đã sử dụng trong đó là chữ Latin hoá được ông ghi chép khi ông ở Nước Mặn với hai linh mục Buzomi và Pina từ năm 1618 đến 1621. Theo tác giả Hoàng Xuân Việt: “Ông Thanh Lãng đã đếm được trong bản dịch của Bonifacy có đến 94 từ Quốc ngữ, và trong một tài liệu viết tay, ông viết: “Có rất nhiều chữ mang hình thức hệt như ngày nay. Thí dụ: tui, biết, Macao, mọi, càn.v.v…”” [6].

​Hội An là điểm xuất phát truyền giáo buổi đầu, lập giáo đoàn tại Nước Mặn – cư sở truyền giáo tiên khởi do các linh mục Buzomi, Pina, Borri đảm nhiệm, các giáo sĩ đã đi tiên phong trong việc sáng chế ra chữ Quốc ngữ. Poulo Cambi/Qui Nhơn là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ – chữ Quốc ngữ “tiền Đắc Lộ”.

Đến Nhà in Làng Sông

Ba nhà in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam: Nhà in Nhà Chung (Sài Gòn) của giáo phận Tây Đàng Trong, Nhà in Làng Sông (Qui Nhơn) của giáo phận Đông Đàng Trong và Nhà in Kẻ Vĩnh (Hà Nội) của giáo phận Tây Đàng Ngoài.

Báo cáo tình hình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1872, viết năm 1873 của Giám mục Charbonnier, có ghi: giáo phận có 3 nhà thuốc và 1 nhà in [7]. Báo cáo hiện tình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1885 của Giám mục Van Camelbeck Hân, về thiệt hại nhân sự và cơ sở vật chất do Văn Thân như sau: “cơ sở vật chất bị phá hủy 17 cô nhi viện, 10 phước viện, 4 nông trại, 2 tiểu chủng viện, 2 nhà phát thuốc, 1 nhà in,…” [8].

Căn cứ các báo cáo này, nhà in Làng Sông của giáo phận Đông Đàng Trong có trước thời điểm năm 1872, bị phá hỏng năm 1885. Có thể nhà in Làng Sông được xây dựng cùng thời với nhà in Nhà Chung của giáo phận Tây Đàng Trong (1867) [9] và nhà in của giáo phận Tây Đàng Ngoài [10]. Ấn phẩm của Mémorial Làng Sông/Qui Nhơn ra số cuối cùng tháng 12.1953.

Một trang Mémorial thống kê sách đã in của nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Sách học được xếp mục đầu tiên với những loại sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư Sơ lược. Bản kê có ghi giá tiền từng đầu sách.

Trong năm 1922, nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của nhà in Làng Sông/Qui Nhơn trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3.407.000 trang in [11].

Đáng chú ý, nhà in Làng Sông đã in nhiều loại sách của các cây bút Quốc ngữ nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ như: Chuyện đời xưa (tái bản lần thứ 2) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (2 tập) của Pierre Lục; 30 đầu sách của Lê Văn Đức gồm nhiều thể loại: Tây hành lược Ký, Đi bắt ăn cướp (tuồng), Tìm của báu (tiểu thuyết), Chúa Hài Nhi ở thành Nadarét (kịch), Du lịch Xiêm….

Nhà in Làng Sông (Qui Nhơn) cùng với Nhà in Nhà Chung (Sài Gòn), và Nhà in Kẻ Vĩnh (Hà Nội), là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển, truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX.

Hệ thống Trường Quốc ngữ Đông Đàng Trong

Việc chữ Hán bị bãi bỏ trong kỳ thi cử năm 1915 ở Bắc kỳ và chấm dứt trên cả nước năm 1919 ở Trung kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho chữ Quốc ngữ đi vào trường học. Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương – Albert Sarraut ký Quyết định thành lập Bộ Học chính tổng quy (Règlement général de s’Instruction publique). Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương – Merlin ký Quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy 3 năm đầu cấp tiểu học.

Dưới thời Pháp thuộc (1924-1945), ở tỉnh lỵ và vài huyện lớn có trường Tiểu học, các tỉnh lớn có trường Sơ học hay Tiểu học dành riêng cho nữ sinh. Trung bình, mỗi tỉnh có từ 2-4 trường Tiểu học, mỗi trường có từ 100 đến vài trăm học sinh. Các thành phố lớn có trường Cao đẳng tiểu học, như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn (Bắc kỳ); Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Qui Nhơn (Trung kỳ); Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ (Nam kỳ).

Ở Trung kỳ có 3 trường thi Hương ở: Huế, Vinh và Bình Định, khi đặt ách đô hộ, thực dân Pháp cũng mở tại nơi này 3 trường công lập đầu tiên gọi là trường Collège. Trước năm 1920, Qui Nhơn có trường Pháp – Việt (Ecole Franco Annamite) từ lớp 5 (Cours enfantin) trở lên. Niên khóa 1921-1922, mở thêm lớp Đệ nhất niên (Cour Première année), đổi tên là Ecole plein exercice de Qui Nhơn, bắt đầu có hệ cao đẳng Tiểu học (Primaire supérieur). Sau đó, lấy tên trường Collège de Qui Nhơn, có 10 lớp cho 10 cấp học, dạy bằng tiếng Pháp, trừ môn Hán văn và Quốc văn. Trường Collège de Qui Nhơn thu nhận sĩ tử của 9 tỉnh Trung kỳ, từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên. Số thí sinh dự thi vào lớp Đệ nhất niên có đến hơn 1.000 người, nhưng trúng tuyển chỉ 50 thí sinh, trong đó có 5 thí sinh người dân tộc.

Từ năm 1910 – 1930, giáo dục Quốc ngữ được hình thành có tính chất hệ thống. Ngoài hệ thống trường công lập, còn có hệ thống trường do Giáo hội Công giáo xây dựng. Tờ Mémorial de Qui Nhơn tháng 5 năm 1924 có in bức “Thơ chung về sự thành lập trường Quấc ngữ” của Giám mục Đamianô [12]. Ngoài ra, để đôn đốc các linh mục quản xứ, Giám mục Đamianô cũng đã có “Lời riêng cùng các Cha” [13].

Theo thống kê trong Mémorial de Qui Nhơn tháng 2 năm 1927, Địa phận Đông Đàng Trong có tất cả 57 trường. Trong đó, Hội An 1 trường, Quảng Nam 4 trường, Tam Kỳ 3 trường, Bồng Sơn 8 trường, Tây Bình Định 8 trường, Đông Bình Định 15 trường, Phú Yên 2 trường, Khánh Hòa 8 trường, Phan Rang 4 trường; Bình Định, chiếm hơn một nửa số lượng trường cả địa phận: 31/57 trường. Thống kê trong Mémorial de Qui Nhơn tháng 5 năm 1928, Địa phận có 1.576 học sinh, trong đó Bình Định có 939 học sinh, chiếm gần 2/3 học sinh toàn địa phận; bình quân 30 học sinh/trường, riêng trường Gagelin, Kim Châu, Bình Định số lượng học sinh đông gấp 6 lần bình quân: 182 học sinh.

Và “Trường Thơ Loạn”

​Văn học nghệ thuật đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá và phát triển chữ Quốc ngữ. Tiêu biểu như: Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Tự Lực Văn Đoàn, phong trào Thơ mới,…

​Phong trào thơ mới chỉ hình thành hơn mười năm (1930-1945), nhưng đã khép lại dòng văn học quy phạm, chuẩn mực. Với sự bùng nổ của ngôn từ đã đem đến một thi pháp mới, đưa thơ Việt Nam vào quỹ đạo của văn học thế giới. Nếu nói thơ mới mở ra một cuộc cách mạng trong thi ca, thì có thể xem “Trường Thơ Loạn” là hiện tượng độc đáo và bí ẩn nhất của phong trào thơ mới. Khởi nguồn của trường thơ này chính là nhóm thơ Bình Định: Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn, Chế Lan Viên (Long, Lân, Qui, Phụng). Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng dòng thơ ấy đã băng qua bầu trời thi ca Việt Nam như vầng sáng, vừa rực rỡ vừa kinh dị, báo hiệu sự phát triển và phá cách của thơ hiện đại [14].

Cùng với nền giáo dục Quốc ngữ, một hệ trí thức mới được sản sinh, góp phần đáng kể vào sự nghiệp chấn hưng văn hóa dân tộc. Kể từ sau năm 1945, chữ Quốc ngữ đã trở nên không thể thay thế trong công cuộc truyền bá, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công đã đưa lại địa vị ngôn ngữ chính thức của Quốc gia cho tiếng Việt – chữ Quốc ngữ. Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam. Và Qui Nhơn/Bình Định – nơi “dòng sông chữ Việt” chảy xuyên suốt từ lúc phôi thai hình thành chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ XVII đến giai đoạn truyền bá, phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.

​NTQ

CHÚ THÍCH:

[1] Nicola da Costa “Annua do Collegio de Macao desde Janeiro de 615 ate o outro de 616”, đề ngày 17.01.1616 tại Macao (ARSI, JAP-SIN, Vol.114, trang 1-9).

[2] Alexandre de Rhodes, Divers Voyages et Mission, Cramoisy 1653, trang 91.

[3] Báo cáo năm 1618 của Francesco Eugenio đề ngày 21.01.1619 tại Macao trong Lettere Annue Del Japonne, China, Goa, et Ethiopia, Lazaro Scoriggio, Napoli 1621, trang 400-401.

[4] BAVH, Juillet-Déc. 1931, Lettre du Père Gaspar Luis sur la Concincina, trang 127-128.

[5] BAVH, Juillet-Déc. 1931, trang 420.

[6] Hoàng Xuân Việt, Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007, tr. 125.

[7] AMEP. Donatien Éveillard (1835-1883) Fiche Individuelle, la fiche biographique, Numéro: 795.

[8] AMEP. Rapport des Évêques, Rapport n0 41, Mgr Charbonnier, Cochinchine Orientale, 1873.

[9] AMEP. Rapport n0 8, Mgr Isidore Comlombert, Cochinchine Occidentale, le 15 Octobre 1893.

[10] Giám mục Puginier. Báo cáo địa phận Tây Đàng ngoài năm 1873 có một nhà in thạch bản và hai nhà in typô (Kẻ Vĩnh, Kẻ Sở).

[11] AMEP. Rapport des Évêques, Rapport n0 553. MGR. Gallioz, Chapitre VI, Groupe des Missions de Cochinchine et du Cambodge .

[12] Xem Mission de Quinhon, Mémorial de Quinhon 1924, Imp. Làng Sông 1924, tr. 67.

[13] Xem Mission de Quinhon, Sđd, tr. 24-69.

[14] Võ Như Ngọc, Trường Thơ Loạn – Thi pháp tượng trưng đa ký hiệu, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020, tr. 20.

Lục bát tháng Giêng

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

.

Tháng giêng cựa mình tách vỏ

Mần xanh ứa nhựa non tơ

Mưa giăng ướt đầm nỗi nhớ

Hoa đào bung cánh ngẩn ngơ

.

Khát khao chờ mùa xuân mới

Mẹ ươm hạt giống sang mùa

Hoa mai, hoa hồng, hoa cúc

Điệu đà khoe sắc trong mưa

.

Kỉ niệm nhớ bến sông xưa

Cánh buồm thuận dòng căng gió

Chờ nhau xuân về gõ cửa

Trầu têm cánh phượng thêm nồng

.

Nắng non trời đất ánh hồng

Cánh đồng mạ xanh ruộng ngấu

Lời chào mừng xuân nồng hậu

Nghiêng xuống tháng Giêng ngọt ngào!

25/01/2023

Tháng Giêng

Vũ Lệ Hương

,

Mùa xuân dệt tấm lụa hồng

Quàng lên bầu trời xanh thắm

Mắt ai mơ màng say đắm

Tóc mềm thơm ngát hương đưa.

.

Gót hồng qua khu vườn xưa

Bướm ong vẽ vòng ẩn dụ

Môi thơm ngọt ngào thức giấc

Ta về phố cũ xanh rêu.

.

Hoa hồng lặng im không nói

Dội về nỗi nhớ quê xưa

Miền quê một thời thơ trẻ

Tầm xuân thơm dọc lối về!

.

Tháng giêng thả trần đam mê

Hạt mầm ươm từ mùa trước

Đàn ai ngọt mềm như nước

Xôn xao bốn phía mùa xuân.

.

Bao lo toan chợt trong ngần

Mưa bay nảy chồi muôn lối.

Ai khép đông tàn hờn dỗi

Em về gõ cửa tháng giêng!

Gửi lại hạt đau thương

Đặng Phú Phong

.

Hạt đau thương gieo vào tôi từ nhỏ

Mỗi xuân về đâm lộc nở hoa

Hoa đau khổ cơ hồ đa sắc

Màu trộn màu đâu giữ nét ban sơ

.

Chàm pha đỏ cho thân hình lở loét

Nâu trộn vàng đất cát bám đầy tay

Mùa hạ trắng sao vấy màu bùn sét

Để hoa hồng cúi mặt lắt lay

.

Thánh giá đâu cho tôi xin thứ tội

Tay run run học lần hạt Mân côi

Vườn địa đàng có còn bỏ ngõ

Hạt giống tôi mang. gửi lại cho trời

.

Tòa sen đâu tôi ngẩng đầu. thành kính

Từng cánh sen cong vút đóa vô thường

Mùi sen ngát. chín tầng. xin gửi gắm

Giữ đi thôi, này hạt đau thương

.Đinh Lê Vũ

.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Còn nắm tay nhau

Còn nhìn thấy ánh mặt trời rực rỡ ngoài kia

Thì cuộc đời nhẹ tênh

Những muộn phiền trôi đi hết.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Nhìn vào mắt nhau

Thì mây trên cao vẫn là mây trắng

Thì nắng ngoài kia vẫn cứ nắng vàng

Thì em bên đời vẫn mãi có anh.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Còn nhìn thấy nhau

Những cơn gió mùa đông buốt lạnh sẽ không

còn nữa

Tàn tro của tháng ngày khốn khó xưa

sẽ không còn nữa

Mùa xuân tinh khôi quay về ghé qua ô cửa

Gọi mời.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Còn yêu thương nhau…

Ban mai xuân

Trần Hà Yên

..

Nắng vàng ươm mật ngọt rót đầy ngõ xóm

gió mơm man thì thầm hôn môi mắt em ngời

hơi ấm mùa xuân nồng ấm cả đất trời

gốc mai già trước sân cũng bừng vui khoe sắc

.

Ta nghe đó đây

bản giao hưởng mùa xuân đã cất lên dìu dặt

cánh én bay về thơm cỏ mật đưa hương

tíu tít sân nhà đàn em nhỏ thân thương

áo váy rộn ràng tiếng cười vang xóm nhỏ

.

Phố phường vui

những con đường trải dài quanh ta đó

người xe tấp nập đua chen

.

Phiên chợ họp ven đê

hàng hoá ùn ùn chất đầy các lối

mẹ đi chợ về thúng đầy ắp hương xuân

cô gái đứng chờ ai mà đôi mắt trong ngần

ngúng nguẩy đuôi sam vân vê tà áo

.

Ban mai xuân bừng lên

trái tim ta líu lo chân sáo

nhảy nhót yêu đời

trong lồng ngực đương xuân

Mở mắt ngày đã trôi

Hoàng Thanh Hương

.

Tôi gọi xóm tôi là xóm vũ phu. Ấy là tôi gọi thế, chứ xóm này có tên hẳn hoi. Bệnh đánh vợ nó lây qua đường không khí, đầu tiên là nhà Mãn, gã đánh vợ huỳnh huỳnh, tuần nào cũng đôi trận, lý do nào cũng chính đáng cả. Vợ đánh phấn nó bảo chỉ đi làm đĩ mới dồi phấn trắng dày mặt thế, vợ nó đón con về muộn 5 phút nó tát bốp má phải gắn ngay cho thị cái tội đứng buôn dưa lê với trai… Con vợ thua thằng chồng 5 tuổi, học chưa hết cấp 2, phụ tiệm làm tóc cho cô họ, thằng này làm thợ hồ đời bố truyền đời con. Làm theo mùa xây dựng. Hết mùa ngồi nhà vá xe, uống rượu vặt. Thằng này ghen bệnh hoạn, trong đầu nó lúc nào con vợ cũng có dấu hiệu sắp đi ngoại tình. Vợ nó đau lòng, uất ức nhiều lần bỏ đi nhưng nó tìm, năn nỉ cầu xin tha thứ, khóc lóc hứa sửa thói hư và ngoen ngoét luôn mồm chỉ vì “anh yêu em quá, anh lo mất em”. Bài này, mấy câu trơn nước bọt này chả cứ con vợ học hết lớp 2 mủi lòng, tôi tin chắc 90% phụ nữ nhà ta sẽ xuôi giận, sẽ tặc lưỡi cho qua chuyện, lại ậm ừ biện minh là do chồng nó yêu mình mới thế, thôi thì về cho con nó có bố, cho thiên hạ nó khỏi xầm xỉ xầm xì cái thứ gái bỏ chồng… thế là cắp giỏ trở về cùng chồng. Đàn bà cả tin, nông cạn là chuyện muôn đời, đặc tính giống cái thay đổi sao được. Tôi cũng đàn bà, có khi tôi còn dại bằng 10 con vợ thằng thợ hồ xóm tôi ấy chứ.

Một đêm cả xóm đồng loạt mở cửa lao ra đường nghiêng ngó, tiếng la hét kêu cứu chữa cháy, mùi khói, mùi xăng, mùi quần áo, đồ nhựa ăn lửa khét sặc. Nhà thằng Mãn nhốn nháo. Nhà thằng Mãn lửa cháy rừng rực. Tôi chạy tìm vợ nó. Không thấy. Tôi chạy tìm con nó. Không thấy. Chồng tôi theo mấy ông hàng xóm quần đùi lộc cộc tạt cát, tạt nước ầm ầm vào nhà thằng thợ hồ. Tôi chạy loăng quăng miệng gọi ời ời, đám đàn bà xóm tôi cũng chạy loăng quăng gọi vợ con thằng thợ hồ ời ời. Đến khi lính cứu hỏa đến được cái xóm nằm trong con hẻm nhỏ xiu ba lần cua trái – phải – trái thì nhà thằng thợ hồ đã như đống rác lún ngún những sợi khói mỏi mệt. Cả xóm nhem nhuốc về nhà lúc trời sắp sáng. Cả xóm buồn buồn, một nỗi buồn chẳng gọi được thành tên.

Tôi gặp Sa lần đầu vào một chiều, nó bắt quen với tôi khi hai chị em ngược hướng nhau trên đường đón con. Nhìn nó xinh xắn, gái một con nở nang trắng trẻo đằm thắm. Tôi bảo: Lúc nào rảnh lên nhà chị, cho con bé lên chơi với Nêmô. Nó vâng nhẹ rồi đi. Con bé Ti giơ đôi tay nhỏ xíu như bông cúc trắng vẫy vẫy làm trái tim tôi đập bình bịch. Tôi thèm một đứa con gái, khát khao. Nhưng bà bói bảo tôi kiếp này không có phước đậu thai con gái. Suốt đời làm chỉ nuôi trai thôi… À quên, tôi chưa giới thiệu tên mẹ Ti cho quý độc giả. Nó tên Sa, Võ Thị Phù Sa. Cái tên chẳng đụng hàng. Cái thời đầu năm 80 của thế kỷ 20 mà cha mẹ nó ở vùng nông thôn sông Hồng quanh năm lũ lụt đã biết đặt tên con đẹp thế thì cũng lạ đấy. Cái tên đẹp như nó. Nước giếng làng nó làm con gái đứa nào cũng da trắng tóc dài đen mướt. Mười tuổi đứa nào cũng biết bơi như nhái. Dòng sông yêu những đứa trẻ con nghèo khó. Hà bá chỉ ăn đứa xấu bụng, đứa ác. Phù Sa 18, nó theo cô vào Tây Nguyên. Cô nó có tiệm uốn tóc nhỏ trong chợ thị xã. Nó bắt đầu học việc. Nó trở thành ô sin, học trò, bạn tâm tình của cô.

Chồng bảo đêm qua đi nhậu anh gặp con Phù Sa, nó làm tiếp thị bia tiger, nhìn mãi mới nhận ra nó em ạ. Hả? Nó sao làm nghề đó được? Anh cho nó 200 ngàn, nó không lấy. Anh có hỏi được nó đang ở đâu không? Tôi nghe trong bụng ran ran. Thằng Mãn sau vụ đốt nhà, công an bắt rồi thả, nó bỏ xóm đi luôn. Xóm có nhà anh Đông bác sĩ, chị Hải kế toán ngân hàng, em Ngân giáo viên Anh văn thỉnh thoảng lại làm một cơn rộn ràng, rượt đuổi chửi hét chẳng khác gì phim Hồng Kông. Quanh quẩn những chuyện đời sống va chạm kiểu tiền vay tiền nợ, nhà anh nhà tôi, ghen tuông bóng gió, tự ti tự ái chồng thấp vợ cao, con anh con tôi con chúng mình. Đời là chuỗi luẩn quẩn những chuyện ái ố hỉ nộ, dân xóm đa phần theo Phật mà ai cũng chẳng thể tĩnh tâm lâu bền. Xóm có hơn 30 nhà, hơn nửa là công chức viên chức nhà nước, kẻ làm quan to thì lương lậu nhiều, nhà xe to, kẻ lính lác thì lương ba cọc ba đồng, sấp ngửa làm thêm mới đủ ăn. Nhà quan to cửa đóng then cài, chó dữ xồng xộc gầm gừ, xóm có việc chung nhồ ra nộp thùng bia, uống tượng trưng một ly rồi giơ tay chào như Tôn Trung Sơn, rồi chắp tay sau đít khệnh khạng về, quan to phải lo việc nước thời gian đâu mà tụ họp xóm giềng quê kiểng. Quan to về, các quan bé, lính lác, dân lao động tự do ngồi quây lại cụng ly côm cốp, hô vô vô, nói râm ran đủ thứ chuyện trong nước quốc tế, chuyện dân sự quân sự, chuyện ăn ở phúc phần… chả ai nhắc gì đến chuyện rượt đuổi chửi hét, đàn ông thằng nào cũng chứa một bụng sĩ diện. Cái gì xấu là giấu như mèo giấu cứt. Nhà báo, kế toán ngân hàng, giáo viên, hướng dẫn viên du lịch gặp cơn điên tiết của mấy lão thì cũng bầm da tím thịt, nhắm vào tay đùi lưng bụng còn giấu che bằng trang phục chứ vào mặt thì phấn kem tô đắp lên vẫn lồ lộ, lên cơ quan nói bị té xe, va cửa, đồng nghiệp ừ ừ xuýt xoa trước mặt, sau lưng xì xào lao xao đến hết tuần, hết tháng, hết năm, chẳng ai cắt phép chờ hết bầm vì chồng uýnh để đợi đi làm, thời buổi của khó người đông, sểnh ra là mất chén cơm hộp sữa cho con như chơi. Thế nên, cơ quan nào người cũng đông lúc nhúc nhưng làm việc chỉ nửa số ấy, còn một nửa cứ lượn lờ đến tháng nhận lương, săm soi, bóc móc nhau những chuyện vụn vặt đời tư. Tôi sợ hai từ đồng nghiệp, trải qua 4 cơ quan, tôi cảm nhận rõ giá trị của hai từ này, loại vô tư cả tin như tôi từng tai bay vạ gió mấy phen nên khiếp.

Minh họa: Lê Cù Thuần

Tôi gặp mẹ Ti tại nhà hàng Bum, nó chạy ào đến ôm chầm tôi, khóc tu tu. Chị ơi đời em sao mà khổ như chó. Tôi vỗ vỗ nó nhẹ giọng: “Chó cũng có con sướng con khổ”. Ngồi xuống kể chị nghe giờ ở đâu, con Ti đâu, đủ ăn không? Nó lại ôm chầm tôi, khóc tu tu. Tôi vỗ nó nhè nhẹ. Nó nức nức kể lể sau khi thằng Mãn đốt nhà, nó ôm con nhảy xe về quê, nhưng đi đến Quy Nhơn nhảy xuống, nó sợ về quê thằng Mãn tìm về gây sự, ở phố biển nó có con bạn làm nhân viên massage ở khách sạn T, nó ôm con ở nhờ nhà trọ của bạn. 5 ngày, 10 ngày, tiền hết, bạn nuôi không thấy khó coi, nó bảo bạn xin cho chân phụ bếp trong khách sạn, lương 100 ngàn/ngày. Nó làm được gần tháng, hôm nào về nhà cũng nhem nhuốc dầu mỡ, toàn thân ám khói ám mùi thức ăn, tay chân bong tróc vì nước ăn. Bạn nó thủ thỉ, xinh như mày đi làm massage với tao kiếm tiền dễ, trắng trơn sạch đẹp. Nó ngắm bạn, nó nghĩ hai đêm rồi chịu, nó nghĩ phố biển này là xứ người, có ai biết nó là ai mà ngại điều tiếng, nó bán lả lơi cười cợt kiếm tiền chứ không bán thân. Nghề mới. Nhan sắc sẵn, kĩ thuật bạn dạy, khéo léo trời cho nó nằm trong top đắt sô nhất của khách sạn. Nó và bạn như đôi chim cứng cánh tha hồ tung hoành và tích cóp. Nó gửi tiền về cho mẹ xây lại cái bếp, sửa lại cái sân, rào lại vườn chuối, đào lại cái giếng, mua cái xe máy Tàu cho thằng em đi học trên thị trấn, mua cho bố mẹ cái nệm kimdan, mua con bò cho mẹ thả bãi… Gần một năm làm ở khách sạn T, nó gặp lão, nó phục vụ lão – khách VIP, cao sang lịch lãm. Lão làm nó nhìn đàn ông bớt xấu xa. Lão và nó thành một đôi tình nhân già trẻ khập khẫng nhưng tình ấm áp mặn nồng. Nó thôi đi làm nhân viên massage, về huyện B mở quán cà phê nhạc Trịnh, xa rời chỗ đám đàn ông phố thị quen mặt biết tên để yên ổn với cuộc sống mới cùng lão. Tưởng đời sẽ yên, một đêm, một nhóm đàn ông đàn bà xông vào quán nó, đập phá tan nát mọi thứ, lột quần áo đánh nó rách bươm thịt da, mái tóc dài đen mượt bị sởn đến ót, con gái nó được con bé phụ bưng cà phê ôm kịp nhảy qua bờ rào chui vào bếp nhà hàng xóm nấp. Nó câm lặng chịu trận, không gào la, chỉ giơ tay đỡ đòn, nước mắt chảy thầm từ khóe mắt xuống mặt, xuống cổ, xuống ngực trộn với máu, bụi, đất mặn sạp, chát nghét trong khoang miệng. Lũ đánh ghen đi khuất, xe lão phanh két, hàng xóm cuốn chăn phụ lão bế nó lên xe đưa đến viện. Nó sống trong lo sợ, luôn giật thột khi nghe tiếng chân người vào nhà, tiếng xe đỗ sịch, tiếng phụ nữ gọi cửa, đêm nó không dám tắt điện ngủ, lão vẫn luôn ở bên nó nhưng lòng nó không còn yên ổn. Bác sĩ bảo nó cần yên tĩnh nghỉ ngơi, cần thay đổi nơi sống để quên. Ký ức vốn khó quên, ký ức hãi hùng càng khó quên. Một đêm, nó bồng con, khoác túi, bắt xe ngược về phố núi. Mặc lão tìm kiếm, mặc lão năn nỉ, hứa hẹn. Một đêm sau đó khá lâu, lâu đủ để tóc nó dài đến ngang lưng đen mướt, các vết rách thịt da ngày nọ đã mờ phẳng, lão nhắn: “Anh đã ly hôn, xong mọi thủ tục, em ở đâu, anh đón mẹ con em về!”. Nó không hồi âm. Nó bảo muốn tìm một người đâu khó gì trong mấy tỉnh miền Trung – Tây Nguyên này phải không chị, nhưng lão đã không tìm thì phải, hoặc lão không muốn tìm… nên em chẳng muốn quay về dù lòng em thương lão đứt ruột. Tôi hỏi nó hay tin gì thằng Mãn không? Nó bảo chồng cũ nó chết rừng hơn năm rồi, nó đi chặt thuê gỗ cho mấy thằng buôn lậu, bị cây đè chết. Sau khi đốt nhà nó cũng không đi tìm mẹ con em. Em không tính về với lão thật à? Thôi chị ạ, đời người là duyên nợ, em nợ lão đến đoạn đó là đứt duyên rồi, cái gì xong cho xong luôn để bắt đầu vào đoạn khác, vui buồn sướng khổ có căn kiếp rồi. Tôi ôm nó vỗ vỗ. Đàn bà sinh ra đã vốn khổ, mạnh mẽ mà sống em ạ. Đức năng thắng số. Nó khóc tu tu. Nó bảo lâu rồi em không khóc. Nó hỏi chị có hạnh phúc không? Tôi bảo chắc là hạnh phúc vì vợ chồng chị lâu nay ít cãi cọ đánh đập nhau. Trả lời xong tôi chợt thấy mình vô duyên, chả lẽ tôi – người đàn bà đã học hết bậc đại học, cử nhân luật, viên chức nhà nước, kết hôn 12 năm rồi lại chỉ bám vào một tiêu chí “ít cãi cọ đánh đập nhau” là “Hạnh phúc”?. Tôi chợt nghĩ đến mấy chị em công chức, viên chức trong xóm trên, mấy chị em bán buôn tự do nơi xóm dưới, mấy ả đồng nghiệp và bao người phụ nữ thân/sơ tôi gặp, tôi quen biết, tôi quan hệ giao du, họ có cảm giác giống/khác nhau khi bị chồng chửi đánh vì 1.001 lý do đúng/sai?. Đàn bà dĩ nhiên nhiều dạng, nhiều loại nhưng đặc tính cơ bản nhất vẫn là phức tạp. Xong cứ hằm hè nhau làm chi, mở mắt/nhắm mắt ngày trôi, đêm đã trôi, cuối cùng phận người cũng chỉ là tro bụi.