Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Ngô Đình Hải 

(Tranh Đinh Trường Chinh)

Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thương thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!…

Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.

Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn. 

Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…

Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:

– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!

Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. 

Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một. 

Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:

– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…

Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!

Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:

– Có nhậu nhớ a-lô nghen!

Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…

Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…

Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ. 

Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:

– A lô! Ông thầy khỏe không? 

– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?

– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…

– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…

– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…

Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó. 

Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.

Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:

– Sang dữ bây!…

Nó cười:

– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…

Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:

– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?

– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…

Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…

Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:

– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…

NĐH

Read Full Post »

Tản văn: Nguyễn Thị Việt Hà

Cũng như một cái ôm vậy, trong ký ức, sự quen thuộc và hoài niệm của món ăn thấm đẫm sự chăm chút của những người thân quen làm ấm lòng, xoa dịu cả những ngày khó khăn đang trải qua.

Hai mươi năm về trước, buổi đó vừa qua một cơn dông, Cái Bát tựa như một hòn đảo nhỏ xung quanh bốn bề là nước, lau sậy mịt mù. Từng đám ruộng không còn bờ ranh, lúa ngoi mãnh liệt trên mặt mùa nước nổi. Cậu của tôi xách giỏ, cầm đèn pin đi theo tiếng ếch nhái gọi nhau ở những đám ruộng xem xép nước để tìm bắt.

Đêm mùa mưa năm đó, gió hất từng cơn lạnh lẽo, lòng tôi trống trải hơn cánh đồng. Những giấc mơ tuổi trẻ tan vỡ như ánh lân tinh bắn lên mặt nước mỗi lần con cá nhảy. Cậu tôi nhanh tay chộp từng cặp ếch nhái mập ú bỏ vào giỏ. Tôi đi theo vụng về cũng bắt hơn chục con, chủ yếu là nhái. Chừng hơi hai tiếng, nhắm chừng giỏ đã nằng nặng, hai cậu cháu trở về nhà. Chừa một ít rộng trong lu, còn lại, cậu làm sạch và nấu cháo ngay trong đêm. Tôi cầm đèn pin đi ra bên hông nhà, nhổ vài củ nghệ, cắt mấy bụi hẹ, bẻ thêm hai ba trái ớt hiểm. Cậu làm nhái, tôi bắc xoong vo gạo nấu trên bếp lửa cháy bập bùng. Thịt nhái làm sạch, sấy mỡ tỏi đổ vô xào chung với nghệ tươi đâm nhuyễn vắt lấy nước, bỏ thêm vài lát nghệ vô đảo cho thơm. Khi gạo nở bung như bông mai trắng bay là đà thì cho thịt nhái vô, nêm nếm thêm, chừng năm phút thì cho hẹ, tiêu, ớt rồi bắc xuống bếp.

Nhà cậu tôi bên bến sông, một nửa trên bờ, một nửa bắc sàn lãn leo ra mé sông. Cháo nhái ăn mùa mưa, mà phải ăn ngay giữa đồng, giữa sông mới thấm. Tô cháo nóng hổi, ăn tới đâu ngon run người tới đó. Thịt nhái ngọt, cháo hoa bùi, tiêu thơm, ớt cay, mùi của nghệ, của hẹ không trộn vào nhau mà như lần lượt thẩm thấu vào vòm miệng người ăn. “Ăn đi con, thịt thà cá mú ở đâu cũng không ngon hơn chén cháo này. Đừng tủi hờn gì nữa, nghèo mà vui…”. Tôi im lặng, hít một hơi dài, nuốt thật sâu nỗi cô đơn của một tuổi trẻ tẻ nhạt vào lòng. Chén cháo nhái, ngon như chưa bao giờ ngon hơn thế!

Tôi mê đắm những bữa ăn nơi cửa biển Cái Đôi, xóm tôi vào độ cuối năm hay chung tay làm một bữa tất niên tập thể. Chọn một ngôi nhà rộng rãi nào đó, ai có gì thì hùn đó, không quy định món trước: Người mang đến con gà, con vịt; có người xách lủng lẳng mớ cá biển, có người đem tới mớ cá đồng, rau củ đủ loại; và, tất nhiên không thể quên góp vào vài chai rượu cho người lớn, nước ngọt cho tụi nhỏ. Nhà nào sẵn món gì thì đem đến món ấy, không ai đi xét nét từng món hay so đo chuyện “phần hùn” nhiều hay ít. Đem đồ đạc đến thì cũng tự động xắn tay áo vào bếp để chế biến, nấu nướng, nhờ nhiệt tình góp sức nên chỉ trong thoáng chốc đã bày biện ra mâm, ngó cũng ê hề không thua bất cứ đám tiệc nào thời ấy: Từ các món để “lai rai” như gà xé phay trộn gỏi chuối, cá khô trộn gỏi xoài, cá lóc nướng trui… cho đến các món ăn cho “chắc bụng” là cá khoai tươi nấu cháo, cá lạt phi lê nhúng dấm ăn với bún, bánh xèo… Khi xong xuôi các món chính, còn dư lại mớ cá hủn hỉn (gồm nhiều loại cá nhỏ) với mấy quả chuối chín muồi, dì Sáu đem kho ớt, nấu canh chuối và “tiên đoán”: “Dám chắc, lát nữa món này sẽ được ưa nhứt, hết nhanh nhứt cho coi!”.

Bữa tất niên tập thể đó, mọi người tới để vui nên tất cả mệt nhọc của cả năm đều gác lại hết, để rộng chỗ cho tinh thần “chơi tới bến” của bà con. Người ta ăn nhiệt tình, ca hát nhảy múa hăng say, rồi kể chuyện mình như bày cả ruột gan ra cho người khác thấy. Tới giữa bữa, khi nhiều món khác vẫn còn chưa hết thì món cá hủn hỉn của bà Sáu đã được vét sạch trơn. Mớ cá vụn kho ớt thiệt cay, có thêm tóp mỡ, mấy củ hành tím cắt đôi ba lại trở hấp dẫn vô cùng, dẫu ăn với chén cơm trắng hay với bún hoặc dùng làm thức nhắm khi uống rượu đều tương hợp lạ lùng. Còn chén canh chuối chín kia lại giống như món canh giã rượu, giúp người say cầm cự qua nhiều bận rót xoay vòng.

Tôi xa Cái Đôi Vàm ngót nghét mười năm. Tiệc tất niên tập thể sau khi tôi rời đi chỉ diễn ra thêm một lần nữa rồi ngưng hẳn. Có lần tình cờ gặp người Cái Đôi ở Cà Mau, mới hay bà Sáu và nhiều người hồi đó đã lần lượt nối nhau về miền xa thẳm. Ừ thì… Chừng đó năm, thời gian đời người ai cũng ngắn dần rồi hết. Riêng hương vị cũ tôi vẫn nhớ y thinh, nhiều khi lật đật đi mua đồ nấu, nhưng vị chỉ nhang nhác giống. Có lẽ thiếu đi nhiều thứ “hồi đó” quá nên không sao giống như nguyên bản. Mãi sau này, về nhà anh Đô ở Cái Nước Biển, anh hỏi ăn gì để chị Hòa – vợ anh nấu cho. Tôi nói, đổ lú có nhiêu cá vụn vặt nho nhỏ đem kho ớt với nấu canh chuối chín. Anh cười ha hả nói, tôm sú, cá đối trứng đầy bụng không ăn đi ăn những món ngộ. Vậy mà tới lúc chị Hoà làm xong, mấy món ngon ế hơn món “ngộ” mà tôi thèm… Chỉ khi ấy, nỗi nhớ xóm Ba Khía nhỏ với những người dân đi biển của tôi mới dễ chịu hơn; sự an ủi mà những món ăn mang lại thật khó có thể so sánh được, có chăng là chỉ thua kém những lúc bạn được ở bên những người thân yêu.

Với tôi, món ăn do mẹ tôi nấu người khác khó thể ngon hơn, nhất là món canh chua trái cóc. Không phải mẹ tôi là “đầu bếp cừ khôi” của xóm mà vì nhờ có tình thương của người nấu được nêm nếm vào trong món ăn. Ngày đó, mỗi khi tôi đi học có chuyện căng thẳng, khi về ăn cơm mẹ nấu, mọi thứ đều nhẹ hẳn đi. Có lẽ đồ ăn được làm từ đôi tay mẹ là nguồn ấm áp dịu dàng chiếu rọi cuộc đời trần trụi tầm thường của tôi. Sau này tôi đi làm xa, đối mặt với bao nhiêu chuyện buồn vui trong đời, tinh thần xuống dốc, tôi trở về với mẹ, được mẹ nuông chiều nấu cho những món tôi nhớ để lên “dây cót” tinh thần cho tôi, tiếp thêm nguồn năng lượng để tiếp tục chinh phục thử thách phía trước.

Việt Nam đa dạng thổ nhưỡng, nguyên liệu chế biến các món ăn cũng rất phong phú. Món ngon Việt Nam ít giống với bất kỳ món ăn phương Đông nào bởi nét riêng ở cách nêm nếm gia vị, thành phần và phương pháp chế biến. Ngay cả trong một nước, cách nấu và nêm nếm gia vị ba miền Bắc – Trung – Nam cũng hoàn toàn khác nhau với điểm chung là tôn trọng hương vị nguyên bản của nguyên liệu. Sức hấp dẫn của nền ẩm thực còn đến từ sự mộc mạc, dung dị mà đậm đà bởi cách chế biến và văn hóa kế thừa – sáng tạo qua các thời kỳ. Món ăn không chỉ để no bụng, còn để chữa bệnh và an ủi tâm hồn. Có người xa xứ, định cư nước ngoài mấy mươi năm, Tết đến vẫn làm mâm cơm thuần Việt cúng tổ tiên ông bà với thức món đều phần lớn là những món ăn nơi quê nhà. Để rồi mỗi năm trở về Tổ quốc lại tìm dưa cà mắm muối khi xưa để không quên hương vị cũ.

Một ngày như bao ngày, đi qua một góc phố phảng phất hương canh chua của bữa trưa đầy nắng, bước chân khựng lại vì bắt gặp hương vị cũ, mắt bỗng cay xè bởi quá nhớ cơm mẹ nấu, thời gian không cho phép ai quay lại, tôi đã xa lắm những ngày còn nhỏ. Từng chi tiết trong quá vãng hiện về rất rõ, cả ngôi nhà đã thuộc về người khác, cả quê nhà đã rời đi lâu lắm, cả mẹ tôi đã về miền thiên cổ… ký ức lách qua trầm mặc đời người mà nhắc tôi nhớ đủ đầy.

Ăn uống đâu chỉ là chuyện…ăn uống, đó còn là “cách ăn, nết ở”, nếp nhà, phong tục tập quán; là linh hồn của hạnh phúc yêu thương, nơi nuôi dưỡng tình cảm của biết bao thế hệ. Không phải là mâm cao cỗ đầy mà chính là hình ảnh cha ta, mẹ ta nấu từng món ăn trong gian bếp nhỏ mang lên cho con cái với tất cả sự chăm chút, chu đáo chất chứa trong ấy sẽ theo ta cả cuộc đời.

Read Full Post »

Xao động xuân thì

Nguyễn Thị Mây

             Đặt thùng tưới xuống đất, tôi thở phào nhẹ nhõm. Vậy là xong! Mấy chục gốc mai trong vườn vừa được tắm mát, chúng hân hoan chìa những chiếc nụ bum búp, be bé đón nắng. Đó là niềm hy vọng của ba tôi, giấc mơ làm giàu của ba sắp trở thành hiện thực.

             Mấy hôm trước, ba bảo tôi vặt lá mai. Theo dự tính của ba thì đây là thời điểm thích hợp nhất. Hái lá sớm quá, chưa tết, mai đã ra hoa. Còn chậm, tết xong, mai mới từ từ nở thì … xuân muộn. Chắc hẳn không ai thèm chọn mua những cây mai như thế. Và, ba sẽ bán ế, giấc mộng vàng tan vỡ. Gia đình lại được dịp xào xáo. Ba mẹ thay phiên trách móc nhau. Tết sẽ buồn như … chết. Vì thế, tôi phải ra tay nghĩa hiệp, giúp ba ép mai nở đúng giờ giấc. Tôi ngắt lia, ngắt lịa, từng chiếc lá thi nhau lìa cành. Chúng bay tản mạn quanh tôi nửa như luyến tiếc nguồn cội, nửa như chế giễu: “Chưa hết đâu, còn phải quét lá nữa, bé ạ!”. Thấy vẻ mặt ủ rũ của tôi, ba an ủi: “ Bao nhiêu lá là bấy nhiêu tiền đó con!”. Tôi chẳng phấn khởi chút nào. Những điều ba nói thường ít có sức thuyết phục đối với mẹ và tôi. Bởi lẽ, kế hoạch nào của ba cũng vĩ đại nhưng thành quả đạt được luôn … hạn chế. Làm việc gì ba cũng phô trương ầm ĩ nhưng thu hoạch thì lặng lẽ, im lìm.

             Sau mấy lần đi buôn chuyến bị lỗ đến cụt vốn, ba chuyển sang nghề trồng cây cảnh. Ông đoán trước một tương lai xán lạn chưa từng thấy. Một vốn, chín mười lời! Theo ba, xã hội ngày càng đổi mới, phát triển. Đời sống nhân dân thoải mái, sung túc nên nhu cầu giải trí cũng được nâng bậc. Ngoài những phương tiện hiện đại như truyền hình màu, cát – xét, xe máy, … Phong trào chơi hoa kiểng, cây cảnh cũng rầm rộ. Thú vui tao nhã này được rất nhiều người ủng hộ. Từ nhà nghèo đến nhà giàu đều yêu thích. Không có một biệt thự nào vắng bóng cây cảnh trong nội thất. Thiếu màu xanh cây lá như thiếu khí trời và không có cây cảnh, chủ nhân ngôi nhà trở nên kém thẩm mỹ, trình độ văn hóa xem như còn thấp. Người ta đua nhau bỏ tiền ra mua tiếng lịch lãm, tao nhã. Ba tôi lý luận: “Cái gì nhà giàu thích thì báu và lên giá!Để minh họa, ba kể rằng:

             Ngày xưa, có hai vợ chồng nhà kia đã nghèo còn đông con. Họ làm lụng quanh năm suốt tháng vẫn không đủ sống. Một hôm, chịu hết nổi cảnh bữa no bữa đói, hai vợ chồng bàn nhau tìm cách tự tử cho rảnh nợ. Họ dắt đàn con vào rừng sâu tìm trái độc. Ở đó, họ bắt gặp một loại trái kỳ lạ, vỏ vàng xanh, ruột màu cam và hột lại đen bóng, mọng nước. Đoán chắc là trái độc, họ chia nhau ăn rồi chờ … chết. Nhưng, một lúc sau, họ chỉ thấy … no và còn có cảm giác khỏe khoắn như vừa được tẩm bổ. Hai vợ chồng chợt tỉnh ngộ. Họ thấy chết là ngu ngốc. Quanh họ còn biết bao điều bí ẩn, hay ho trời sinh ra để cho con người hưởng. Chưa chi đã vội đầu hàng hoàn cảnh. Hai vợ chồng liền dắt đàn con … về nhà. Hằng ngày, họ thay phiên trở vào rừng hái trái cho gia đình đỡ dạ. Nhưng, ăn hoài, họ phát ngán, bèn đem trái ra chợ bán. Lúc đầu, người nghèo mua ăn vì giá rẻ. Số tiền bán trái rừng vừa đủ để đổi gạo sống qua ngày nên hai vợ chồng gọi nó là Đu Đủ. Lâu dần, những người giàu cũng “thèm trái lạ”. Từ khi họ bắt đầu để ý tới đu đủ thì nó trở thành mặt hàng cao cấp, quí báu và giá bán tăng gấp mấy lần. Ba tôi kết luận: “Cây cảnh cũng thế. Loại nào, cây nào nhà giàu để ý có thể bán một hai chỉ vàng như không. Đây là cách làm ăn hợp thời, vừa mau phát đạt vừa được xem là nghệ nhân”.

            Để thực hiện ý định, ông vào rừng truy tìm cây quí. Ngày nào cũng vậy, sáng sớm, ba đã ra đi và đến mặt trời chếch bóng, ông mới quay về. Cái sọt cột sau poọc – ba – ga đầy nhóc cây là cây. Khi thì mai già, lúc lại toàn bồ đề con hay cây xanh. Ba giải thích, loại này quí lắm, chỉ cần nhìn mấy cái gốc, nó ngoằn ngòe cong queo tựa như những chú rắn bé tí cuộn vào nhau dưới vòm lá xanh um. Những nhánh bằng thăng nho nhỏ trông hao hao mấy cụm mây màu lục trôi là đà trên mặt đất.

             Tôi thắc mắc:

             – Sao chỉ toàn là lá, chẳng có hoa làm sao đẹp?

             Ba nạt ngang:

             – Đâu phải cứ phải hồng, đỏ, tím, vàng mới đẹp. Màu xanh là màu … hy vọng. Con nít mà biết gì?

             Thấy sắp có “chiến tranh”, mẹ vội kéo tôi vào nhà, để ba mặc tình trồng trọt, tỉa tót.

 Chỉ trong vòng mấy tháng, khoảng sân nhỏ nhà tôi rợn ngợp màu xanh cây cảnh. Chỗ này toàn mai, chỗ kia cau kiểng, chỗ nọ bồ đề. Ba tôi chỉ chừa một lối đi hẹp ơi là hẹp. Vậy mà ông vẫn chưa hài lòng, cứ tiếp tục vào rừng. Mẹ tôi thường rầu rĩ  than thở:

             – Ôi, chắc ba con định lập một khu rừng tại trung tâm thành phố đây mà!

             Nhưng, chiều nọ, ba tôi trở về với dáng vẻ “thân tàn ma dại”, mặt mày hốc hác, kinh hoảng như vừa gặp yêu quái trong rừng. Cái sọt trên poọc – ba – ga biến mất. Cả cây cuốc và dao phay cũng chẳng thấy. Sau một hồi thở dốc, lấy lại bình tĩnh, ba thều thào:

             – Đúng là đồ … ăn cướp mà!

             Mẹ tôi hết hồn, kêu lên:

             – Trời, ông gặp cướp à?

             Ba khua tay, múa chân:

             – Bà coi, cây mai đó là của tôi. Tôi đã “xí phần” lâu rồi. Tôi làm một cái rào để bảo vệ nó. Vậy mà sáng nay có mấy thằng ôn hoàng tới đào.

             Mẹ tôi nổi nóng:

             – Sao ông không đòi lại?

             – Đòi chứ sao không? Tôi đâu có sợ tụi nó.

             – Rồi sao? Mẹ tôi hỏi.

             Ba tiu nghỉu:

             – Tụi nó không trả còn vây đánh tôi. May là tôi … có võ, không thì làm sao chạy thoát về đây.

            Trong lúc tôi che miệng cười khúc khích thì mẹ tôi ấm ức:

             – Tức chết đi được! Còn cái sọt đâu?

             – Tôi bỏ luôn rồi. Tụi nó tới bốn thằng. Vả lại cái cuốc của tụi nó dài và bén lắm. May là chiếc xe đạp gởi ngoài bìa rừng…

             Ba lí luận:

             – Bà với con phải biết “ Mãnh hổ nan địch quần hồ”.

             Từ đó, ba tôi không vào rừng nữa mà bắt đầu giai đoạn tỉa tót, uốn nắn. Ba mua hàng kí lô dây chì để tạo dáng cho cây cảnh. Ông quấn quanh thân cây, bắt nó ưỡn ẹo đủ cách. Cây vươn cao, cây khom khom, lùn xuống, trông chúng co rúm thấy mà tội nghiệp. Thoạt nhìn như những tên tử tội bị trói, chờ giờ xử trảm. Mấy gốc bồ đề được ươm trồng trong những cái chậu tuyệt đẹp nhưng phải kèm cặp, chống chỏi đủ thứ vì hai phần ba rễ khoe mình trên mặt chậu, phần còn lại chỉ cắm hờ hững xuống lớp đất. Đau khổ nhất là mấy chục cây mai. Chẳng biết ai bày cách mà ba chặt ngang thân chúng. Ba cho rằng làm như vậy mai sẽ đẹp hơn. Khi mọc nhành mới, cành lá sẽ xum xuê. Tất nhiên hoa sẽ nhiều. Nhưng lúc bấy giờ, nhìn chúng, tôi muốn khóc, tưởng mình đang đứng giữa một nơi hoang phế, chết chóc với hàng mai cụt ngọn.

            Chưa hết, ba tôi còn bỏ ra hai chỉ vàng để mua về mấy cây si già cỗi. Ông chọn chỗ tốt gần nhà để dễ trông chừng. Nhưng, cây chưa kịp bén rễ thì “không cánh mà bay”. Sau một đêm mưa dông, sáng, ra vườn, ba kinh hoảng gào lên “Trời ơi là trời”. Tôi và mẹ chạy tới cũng hoảng hồn vì chẳng thấy mấy cây si. Tại đó, còn lại những cái lỗ sâu hóm, lưng lửng nước. Chưa bao giờ tôi thấy ba đau khổ như vậy. Ông không ăn, không ngủ mà chỉ … nhậu và nhậu. Ông say lúy túy. Hết chửi đời đến chửi trời, chửi đất. Ông tự làm khổ mình cho đến khi … ngã bệnh. Đã vậy, năm đó, tết đến, mấy cây mai cụt ngọn không chịu ra nhánh nhanh chóng. Chúng chậm chạp nhú vài ba cụm lá non xèo. Báo hại ba tôi thêm chán nản. Ông ủ rũ suốt ngày như cây nhớ rừng, xơ xác.

             Mẹ và tôi yêu ba lắm. Vì thế, cả hai âm thầm góp sức chuyển biến khu vườn này. Mẹ về ngoại xin mấy chậu Thiên Tuế. Tôi học hỏi các bạn cách trồng hoa hồng, hoa cúc, mãn đình hồng, … rồi ươm cây vào chỗ trồng cây si dạo nọ. Mấy chục gốc mai dường như thấu hiểu lòng tôi cũng vội vàng đâm chồi nẩy lộc, cành lá xum xuê, báo trước một mùa xuân tươi đẹp. Cây cối trong vườn thi nhau xanh tốt, nhẫy nhượt. Ngoài việc chăm bón, tôi còn bảo vệ cây trồng bằng cách treo trước cổng một cái bảng to tổ bố với hàng chữ: “ Coi chừng chó dữ và điện 220”. Kết quả, mùa đông sắp tàn, xuân sắp đến, toàn bộ cây cảnh không bị tên trộm nào để ý. Có lẽ những mặt hàng này chỉ thông dụng, không quý lắm. Dù sao, nó cũng giúp tôi nuôi dưỡng niềm tin. Tôi chẳng có tham vọng làm giàu mà mơ ước được sống hạnh phúc với ba mẹ trong mái ấm gia đình.

             – Cô bé … ơi cô bé!

             Giật nẩy mình, nhìn ra cổng, tôi trông thấy hai người lạ ăn mặc sang trọng, một già, một trẻ đến bên rào. Tôi lễ phép hỏi:

             – Dạ thưa, hai ông định tìm ai?

             – Có phải đây là vườn hoa kiểng của ông Hai Phi không cô?

             – Dạ phải! Tôi đáp.

             – Tôi là người quen cũ của ông Hai, muốn gặp để hỏi mua ít cây cảnh. Người đàn ông lớn tuổi bảo.

             Tôi mừng quýnh:

             – Dạ, mời hai ông vào.

             Người đàn ông còn trẻ trêu chọc:

             – Không mở cổng làm sao vào, cô bé?

             – Dạ, xin lỗi, tại mừng quá nên cháu quên.

             Gã con trai nói với người cùng đi:

             – Chú thấy chưa, người ta chờ mình từ lâu lắm.

             Tôi nguýt dài và nghĩ thầm: “Người đâu mà nhiều chuyện thấy bắt ghét”. Tôi liền hù:

             – Coi chừng chó dữ đó, ông kia.

             Hắn quay lại cười, nhe hàm răng trắng như … răng chó!

             – Hổng dám sợ đâu mà hù. Làm như người ta là con nít không bằng.

             – Chó dữ thiệt đó, coi chừng …

             Hắn lại cười:

             – Người dữ thì có!

             Tôi đỏ mặt, định cãi thì người đàn ông cao tuổi lên tiếng:

             – Trà, không được trêu chọc người ta.

             Trà làm bộ le lưỡi rồi tủm tỉm cười, thấy phát ghét. Mời hai chú cháu vào nhà gặp ba, tôi trở ra vườn ngồi chống càm bên hàng cúc đại đóa, lòng bỗng dưng buồn bã khác thường. Rồi đây những hàng cây, những đóa hoa đẹp sẽ rời bỏ nơi này về nhà khác. Chúng góp phần trang trí, tô điểm mùa xuân của một chỗ nào, không phải nhà tôi. Rồi đây, khi nhà nhà rực rỡ, lộng lẫy để đón giao thừa thì nơi này sẽ chỉ còn trơ khoảng sân cằn cỗi, bạc màu. Thảng hoặc sót lại vài loại cây hay hoa kém hương sắc. Cuối cùng, nỗi buồn cũng thấp thoáng quanh tôi.

             – Người đẹp hay hoa đẹp?

             Tôi giật mình quay lại. Gã “nhiều chuyện” lại làm tôi bực mình.

             – Vô duyên!

             Tự động ngồi xuống bên tôi, gã … bắt đầu nhiều chuyện:

             – Hình như trên trán tôi có hai chữ “vô duyên” thì phải?

             – Vô … duyên! Tôi buột miệng.

             Trà bật cười:

             – Thấy chưa? Lại vô duyên. Có lẽ hai đứa mình “vô duyên nên đối diện cứ … cãi liền”.

             Tôi che miệng cười khúc khích. Tưởng tôi hài lòng, Trà liền tấn công:

            – Bé cười, tôi mừng như chết đi được sống lại.

             – Xạo!

             – Hai đứa mình hợp nhau lắm chứ bộ. Cùng xạo có cỡ. Nhà không có nuôi chó mà dám treo bảng hù dọa.

             Trà bước đến bên rào, ngắt một cọng dây tơ hồng đưa ra trước mắt tôi:

             – Bé nè, dây điện 220 đây phải không?

             – Ừ đó, rồi sao?

             – Tốt, sẽ có người trèo rào vào hái trộm hoa.

             Trời! Liệu gã này có phải là kẻ gian không đây. Tôi liền đề cao cảnh giác. Chỉ vào cây cuốc đặt gần đó, tôi thản nhiên bảo:

             – Thử xem rồi sẽ biết.

             – Hãy đợi đấy, cô bé!

             Đêm nào tôi cũng thức rình đến khuya lơ khuya lắc. Không có ai lẽn vào vườn. Ngày Tết càng gần, cây cảnh trong vườn càng xanh tốt, ngào ngạt hương thơm, tôi càng lo lắng, sợ kẻ gian cướp mất công lao động khó nhọc bao ngày và mang theo cả niềm hy vọng của ba. Bây giờ, tôi lại mong bán được cây càng sớm càng tốt.

             Không uổng công chờ đợi, số mai trong vườn được người săn cây cảnh và cả những người yêu hoa thật sự tới mua gần hết. Các loại hoa cũng đem lại lợi nhuận đến cho gia đình tôi khá cao. Đúng lúc ấy, Trà và chú anh quay lại. Người đàn ông cao tuổi chọn mua mấy chậu thiên tuế. Còn Trà, anh ra vườn, sau một hồi ngắm nhìn, Trà chọn cả chục chậu hồng với giá mỗi chậu một trăm ngàn đồng. Trao tiền cho  tôi xong, trước khi ra về, Trà dặn dò:

             – Giữ giùm tôi nghe, cô bé. Hôm sau tôi cho người tới chở.

             Những đóa hồng nở rộ, tươi vui. Ong bướm dập dìu trong vườn hoa. Ai đi ngang cũng trầm trồ, khen ngợi. Vậy mà Trà đâu chẳng thấy. Anh đã trễ hẹn hai ngày. Ba mươi tết rồi còn gì nữa. Mặt trời chếch bóng đằng Tây. Đêm sắp về. Giao thừa gần kề. Không lẽ anh quên mấy chậu hoa ở đây. Thấy tôi nóng ruột, đi ra đi vào, ngồi đứng không yên, ba tôi bảo:

             – Ối, hơi đâu con lo. Họ là người quen cũ của ba. Hai chú cháu giàu lắm. Một triệu đồng  đối với họ có đáng là bao.

             Mẹ tôi cũng an ủi:

             – Ừ, kệ nó. Ai biểu mua mà không nhớ, ráng chịu. Đâu phải lỗi tại mình.

             Tôi thở dài:

             – Dù biết thế nhưng con vẫn thấy không ổn đâu ba mẹ. Chẳng lẽ tốn tiền mà không mua được gì. Làm sao đây ba?

             Ba nổi nóng:

             – Ai mà biết! Khi không họ đem tiền tới đây chớ ba có ép buộc gì đâu!

            Bỗng nhiên mẹ tôi tròn mắt, đưa một ngón tay lên môi:

             – Mẹ nghi quá! Hay là thằng này … khùng!

             Tôi bật cười nhưng sau đó cảm thấy mẹ nhận xét có phần hơi tàn nhẫn. Xem ra, Trà cũng … dễ thương chứ bộ.

             – Không phải vậy đâu, ảnh khôn thí mồ!

             – Vậy con ở đó đoán già, đoán non một mình đi. Để mẹ lo nấu nướng, rước ông bà.

             Thời gian như ngừng lại trước thềm năm mới. Đêm trừ tịch len lỏi vào khu vườn tĩnh mịch của tôi. Mùi khói nhang từ trong nhà lan tỏa, quyện lẫn hương hoa ngọt lựng, thanh thoát. Tôi bồi hồi đón giao thừa và chờ đợi những điều mới lạ đến với mình, dù vui hay buồn.

             – Chào cô bé! Chúc cô bé một năm vui vẻ, hạnh phúc!

             Trà đã đến, tuy có hơi muộn nhưng dù sao cũng còn kịp nhận hoa, không phải chờ sang năm mới, tôi mừng quýnh, reo to:

             – Anh Trà! Tới nhận hoa phải không?

             Trà mỉm cười vui vẻ:

             – Không, anh tới để chúc tết hai bác và tặng hoa cho bé.

             – Tặng hoa cho em! Hoa gì?

             Trà chỉ những chậu hoa hồng:

             – Tất cả những chậu hoa này, anh xin tặng cho bé.

             Quá sức tưởng tượng của tôi. Cả chục chậu hồng, lẽ nào anh … khùng thật. Tôi cảm thấy bứt rứt không yên:

             – Mua hoa để tặng người bán hoa à? Em không dám nhận đâu!

            – Sao vậy?

             – Như thế chẳng khác nào khi không mà nhận tiền người lạ.

            Trà đưa hai tay lên trời như cầu cứu:

             – Trời ơi là trời! Còn khách khí nữa, rõ khổ! Mình có phải là người lạ đâu. Chú anh quen ba em thì hai đứa cũng … quen luôn.

            Trà bỏ hai tay vào túi quần, đi tới đi lui một hồi rồi ngừng lại, nghiêm chỉnh hỏi:

             – Bây giờ chịu nhận chưa?

             Tôi thản nhiên:

             – Chưa.

             Trà phì cười, anh cú nhẹ vào đầu tôi một cái:

             – Ngu quá! Thôi thì cho anh gởi lại đây, qua tết anh mang đi.

            Tôi thắc mắc:

             – Qua tết còn mang đi tặng ai được nữa?

             – Chờ rằm tháng giêng, anh đem vào chùa để cầu … duyên. Còn em, nếu em không thích hoa thì anh sẽ tặng “quả” vậy.

             Trà đứng thẳng người, tay phải đưa lên ngực, giọng trang nghiêm như đang tuyên thệ:

             – Anh xin tặng “quả tim” của anh cho em. Chịu chưa?

             Vừa thích thú vừa thẹn thùng, chẳng biết làm sao, tôi nguýt Trà một cái rồi bỏ chạy vào nhà. Trà và tiếng cười đuổi theo.

             Tôi bắt gặp ba mẹ đứng bên hiên tự lúc nào. Cả hai nhìn chúng tôi rồi bảo nhau:

             – Mùa xuân thật tuyệt vời!

……

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Những ngày cuối năm…Ở nơi này, với một người già xa xứ…nỗi quay quắt nhớ về quê hương, những năm tháng xa mờ trong dĩ vãng…

Thành phố Qui Nhơn, nơi ghi dấu chân tôi của những ngày thơ ấu và nhìn tôi lớn lên ở tuổi thanh xuân….

Biển và sân ga của thành phố quê hương tôi, luôn là nơi chốn ghi dấu bao kỷ niệm , hành trang mang theo suốt một đời xuôi ngược, mỗi khi đưa tâm tư về những ngày tháng cũ, ngậm ngùi , nhớ thương khôn nguôi

Trên chặng đường dài xuôi ngược của cuộc đời…Mỗi lần nghe tiếng nói thân thương của người dân ” Xứ nẫu” …Tôi lại ngậm ngùi thương cảm và chạy đến làm quen…

Là tôi đó: đứa bé gái nhà quê…ngày nào bên bờ ruộng nương khoai của một làng quê nghèo cơ cực của Xứ Nẫu ngày nào…

Đã bao thập kỷ đi qua trong cuộc đời lưu lạc…dã bao mùa Xuân trên xứ xa…mỗi lần Tết đến Xuân về…đứa bé ngày nào..

.Nay là bà lão già lưu lạc xứ người ta….

Khi mỗi lần Tết đến…lòng chạnh bâng khuâng da diết nhớ về những ngày tuổi nhỏ….

Ngày ấy đã qua rồi…Thật xa…trong trí nhớ già nua của lão bà xa xứ:

Những ngày tuổi nhỏ được theo mẹ đón đưa những người bà con tận

phương xa về thăm nhà vào những ngày giỗ lớn trong họ tộc, hay những

đám cưới gả trong họ hàng.

Nhất là những ngày giáp Tết…

Tôi luôn theo chân mẹ tham gia….và cũng

từng đỏ hoe đôi mắt khi mọi người nói câu giã biệt…

Đứa bé trong tôi

ngày ấy cũng biết khóc theo khi thấy cảnh tạ từ…

Sân Ga…Tiếng Gà gáy…Luôn là nỗi nhớ khôn nguôi suốt cuộc đời tôi:

Niềm vui hớn hở lúc chờ dưới sân ga , Tiếng còi tàu và tiếng ầm vang nghiến vào đường rây khi con tàu ghé vào sân ga…vẫn như vang vọng đâu đây.

Cái cảm giác tươi vui của đứa bé chạy theo mọi người hóng chuyện, hầu như không mấy kẻ quan tâm đến đứa bé đi theo, bé mọn và là một vai phụ nhỏ mọn…

Góp vài nụ cười cùng mọi người…liếc mắt nhìn những quà cáp của người về từ

xa…và chờ mong một chút quà được phân chia của người mới đến.

Niềm vui thật bé nhỏ nhưng đượm nỗi hân hoan của một lần

đón đưa…hay tiễn biệt.

Một chút vui của những ngày bé dại

Tiếng Gà gáy …thay chiếc đồng hồ báo thức mỗi sáng tinh mơ, giục giã mẹ con tôi lên đường đến chợ dọn hàng hóa cho Mẹ tôi buôn bán nuôi sống chị em tôi.

.Những đón đưa …và tiếng hú của những con tàu luôn gợi nhớ

trong tôi về những ngày xa xưa ấy.

Tiếng gà gáy thức tỉnh mẹ con tôi bắt đầu một ngày bương bả kiếm sống

+++

Cũng tại sân ga này của những ngày bắt đầu tuổi mới lớn, cùng bạn

bè rời thành phố đi ứng thí ở những trường xa nhà….

Mẹ tôi cũng đưa

tôi ra sân ga, với những bịn rịn và những dặn dò khi đưa tiễn, dù cũng

chỉ năm ba ngày.

Cũng chỉ là một lần xa nhà ngắn ngày nhưng sao mắt mẹ và mắt tôi

vẫn đượm buồn và khi con tàu bắt đầu hú lên những tiếng còi giục

giã…tôi vẫn nhìn thấy mắt mẹ đỏ hoe, mắt tôi đượm buồn… cuống quít.

Rồi năm tháng đi qua…sân ga và những con tàu luôn là nỗi nhớ

dậy lên trong suốt cuộc đời tôi của những lần trở về thăm nhà…Khi

tôi trưởng thành và đi lấy chồng xa….niềm nhớ nhung mong đợi trong

tôi lớn dần theo năm tháng.

Vẫn nhớ hoài những lần đưa con về nhà thăm mẹ vào những ngày cuối

năm…

Sân ga luôn là nỗi háo hức, một sự mong chờ dõi mắt, khi con tàu

giảm tốc độ khi tiến vào sân ga…nỗi vui mừng òa vỡ trong tôi, qua

mắt nhìn dò kiếm những người thân…cố chen nhau ra khỏi toa tàu …và

được ôm mẹ ngọt ngào trong vòng tay ấm …

Mẹ ơi , con đã trở về….

Kia rồi, mẹ tôi, chị tôi, em tôi, và những đứa cháu nhỏ …hình

ảnh của tôi ngày xưa…

Hình ảnh gợi nhớ một thời bé dại…luôn là sự

háo hức trong tôi trong những lần trở về thăm mái nhà xưa mà tôi luôn

nhớ về trong suốt cuộc đời xuôi ngược, tháng năm trôi trong sự xa cách

mỏi mòn nỗi nhớ nhà.

++++

Bây giờ…những lần trở về thăm nhà của tôi không tính bằng đơn

vị tháng của mỗi năm mà là từng bao nhiêu năm của từng thập kỷ.

Từ lúc mẹ tôi lên chuyến tàu đêm rời thành phố Quy nhơn vào

Saigon tiễn gia đình tôi lên sân bay quốc tế TSN….đông đúc những

người đưa tiễn , với quần là áo lượt. và hoạt náo những thanh âm, lần

ấy tôi đã đi một chuyến thật xa…hết nửa vòng trái đất.

.Buổi tiễn đưa lớn nhất trong cuộc đời mà tôi còn nhớ mãi…thay

đổi cả vận số một đời tôi…

Đứa bé nhà quê theo mẹ trên sân ga ngàycũ

Thiếu nữ tỉnh lẻ ngày nào dắt díu đám con thơ về thăm mẹ vào

những ngày giáp tết…

.Một người già vọng nhớ quê xưa , một lữ khách tha phương

.nay muốn trở lại thăm nhà…nằm trên sàn nhà mát lạnh…Lơ mơ nghe tiếng gà gáy…vọng từ xa…

Lòng háo hức được trở lại với quê hương ….

Một nỗi buồn thao thiết, khi bỗng dưng nghe mặn ở vị giác, vì biết lần trở lại mái nhà xưa tôi không còn nhìn thấy dáng mẹ già dưới sân ga cũ.

+++

Ngày ấy… Một ngày đầu thập niên Chín mươi…

Mẹ tôi đáp chuyến tàu nhanh vào Saigon đưa tiễn chúng

tôi rời đất nước ra đi, nhưng …

lần ấy mẹ tôi lại không ra sân bay

đưa tiễn chúng tôi, người chỉ vào với chúng tôi trước một tuần, nấu

cho chúng tôi những món ăn ngon mà các con và tôi ưa thích, chuẩn bị

vật dụng và vài món cho các con tôi mang theo bằng tất cả tấm lòng của

mẹ…

Rồi mẹ tôi nấp sau cánh cửa lúc cả nhà tôi lên xe.

Trên sân bay với đông nghịt những người đưa tiễn, nhưng tôi vẫn

thấy thiêu thiếu hình bóng thân thương của mẹ.

Tôi dõi tìm lần cuối trước khi bước vào phòng kính mà người ta gọi

là “phòng cách ly” …khi đã bước vào đây là tất cả sẽ xa lìa mọi sinh

hoạt bên ngoài và xa cách muôn trùng khi phi cơ cất cánh…

.Giã biệt đất nước, giã từ quê hương, giã từ những người thân và

giã từ hình ảnh thân thương của mẹ tôi.

Có lẽ giây phút này mẹ tôi đang ngồi một mình trong căn nhà nhỏ,

với những giọt nước mắt nhỏ thầm xuống bàn tay run vì nhớ thương con

cháu, khóc thầm trong niềm vui và nỗi buồn xa cách cho một lần biệt ly

mà không đưa tiễn….

Những lần tôi trở vể thăm quê nhà không có bóng dáng mẹ tôi đón

đưa hay tiễn biệt vì tuổi già và bệnh tật…

Những lần sau nữa của những chuyến về thăm quê… khi mẹ đã

không còn., một mất mác lớn nhất trong cuộc đời và tất cả những gì

thuộc về người chỉ còn là kỷ niệm.

.Niềm vui và nỗi háo hức trong tôi không như xưa với nỗi chờ

mong mỏi mắt.. khi trở về nhà không còn thấy bóng mẹ…mà chỉ còn thẫn

thờ thắp mấy tuần nhang và viếng mẹ với những cánh hoa vô hồn nơi

nghĩa trang Ghềnh Ráng.

.Sân ga và những con tàu chợt đến chợt đi….như những thay đổi

của những lần trở lại, vẫn thoáng buồn và không mang cho tôi những

xúc cảm ấm nồng…chỉ là sự bàng hoàng khi con tàu vào bến với những

con đường mới mở, những bảng hiệu mới sơn và nhũng bạn bè xưa cũ không

còn, và nhất là những người thân yêu nhất của tôi cũng đã lìa xa…

Bao năm qua… Khi bước chân tôi trở về hay ra đi…không còn

nhìn thấy hai con mắt đỏ, và những giọt nước mắt âm thầm nhỏ xuống của

mắt mẹ thân yêu….

Bây giờ …

Khi mỗi lần tôi trở lại thành phố xưa..

Khắp nơi .ngập tràn những bóng đèn xanh đỏ, những con đường mới mở rộng thênh thang…

Những tượng đài lạ lẫm…Không thể nào nhận biết họ là ai lại được dựng lên đất Xứ Nẫu quê tôi????

Tôi sẽ về thăm biển, thăm lại mái trường xưa, thăm bè bạn, thăm học trò cũ của tôi thuở mới bước vào đời.

Tất cả ẩn mờ trong con mắt mờ, mũi đỏ và bàn tay run lau vội giọt nước vô tình nhỏ xuống giữa trời xuân.

.Thoảng trong hương xuân còn sót lại nơi thành phố cũ dấu yêu, chắc còn vương lất phất cơn mưa bụi,

Hương xuân đã về bên đó chưa???

Người về quê cũ…con tàu đợi

Cha mẹ còn đâu…mấy kẻ chờ

Trở lại sân ga ôn chuyện cũ

Sương sa mái tóc bóng trăng lu

Trở lại sân ga…về thăm biển

Hoàng hôn sắc tím chút… niềm riêng

Atlanta… Xuân Ất Tỵ

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Read Full Post »

Bèo nổi mây chìm

     Nguyễn Trí        

Tuấn. Năm mươi lăm tuổi. Một vợ bốn con. Một trai ba gái. Sáu cháu ngoại và ba thằng rể. Trưởng nam của Tuấn tên Hùng, năm nay ba mươi lăm tuổi nhưng chưa vợ. Chả là năm hai mươi, đang sinh viên năm hai, một tương lai đầy tươi sáng… vậy mà Hùng bỏ cửa bỏ nhà đi một mạch những mười lăm năm. Hai mươi cọng mười lăm vị chi ba mươi lăm tuổi Hùng mới trở về ôm mẹ mà Kiều rằng dại rồi con biết khôn làm sao đây.

          Chớ đi đâu mà dữ thần và dại khôn gì ở đây vậy?

         Để nói sơ về Hùng tí xíu. Hồi nhỏ Hùng ú nu như em bé trên hộp sữa Sma. Cu con là nụ cười tươi của bà ngoại Sáu Kỳ. Ông Sáu qua đời nếu không có thằng bụ bẩm Hùng dám bà Sáu chết theo quá. Hùng còn là tài sản quý báu để cả họ nhà Sáu Kỳ đem khoe. Mười hai năm từ cấp một cấp hai cấp ba Hùng có đúng mười hai năm học sinh giỏi toàn diện. Vào đại học nhẹ như sương như khói – vì thế cho nên – cả họ ngoại xem Hùng như tài sản quý để khoe cũng là phải quá. Hùng lại kế thừa nét đẹp trai như tài tử xi nê của ông cha tên Tuấn. Thiệt mà nói, Tuấn không đẹp, không duyên ơi là duyên với nụ cười có cái răng khểnh và thiệt thà như đếm còn lâu mới được là rể nhà Sáu Kỳ. Sáu Kỳ bốn đứa con gái đẹp như Thúy Kiều Thúy Vân. Gã làm thuê tên Tuấn xuất xứ tận miền Trung xa lắc, không đặc biệt dễ mà lọt mắt xanh cô Thúy con gái thứ ba của Sáu Kỳ. Nhà Sáu Kỳ cố cựu miền Đông nên đất đai kha khá. Rể Tuấn được cha vợ cho năm sào rẫy và cắt cho chút đất cất nhà. Tuấn làm bảo vệ cho một trường tiểu học, bà xã Thúy bán ba cái bút chỉ văn phòng, thức ăn vặt và giải khát các loại ở căn-tin trường.

          Gia cảnh nhà Hùng vậy là ngon. Đẹp trai, con nhà không giàu không nghèo học giỏi. Người vậy, nữ thần tình yêu còn đứ đừ nói chi bạn cùng lớp cùng trường. Khổ cái, con ngươi ta chỉ có một trái tim. Trong vô số bóng hồng sa mạc vây quanh Hùng thích đúng một Minh Thùy. Thùy xinh ơi là xinh, cô là mộng mỵ của hầu hết trai đẹp trong cho đến ngoài cổng trường. Năm lớp mười hai Minh Thùy rực rỡ như hoa, trai xếp hàng theo cô cả cây số. Mới lớp chín Hùng và Minh Thùy đã đôi bên cùng liếc đôi lòng cùng ưa. Ở cái thời sống thử, được tới luôn bác tài, không được thì chia tay. Hùng và Minh Thùy khỏi nói ai cũng biết cái sự yêu của trai thanh gái lịch. Minh Thùy không chứ vào được đại học cả hai chung một phòng trọ là có quá. Vậy là đẹp trai lên phố trọ học, xinh gái được bố mẹ tậu một xe nước mía, một tủ thuốc lá trước sân nhà. Quán của xinh gái kề quốc lộ nên nước mía ngọt là một, thuốc lá thơm là hai, nụ cười chủ quán là ba lôi bọn mê nhan sắc đến tỏ lời ong ve. Khi ván chưa đóng thuyền thì không của riêng ai  – Chiến – huấn luyện viên một lò võ nói vậy khi bê một cây si to đùng đặt trước quán nước mía. Chiến Võ – tên thường gọi –  không những đẹp trai còn hùng dũng như Mike-Tyson thời thịnh. Mỗi khi đến quán Minh Thùy anh mặc quần Jean, áo thun ba lỗ để khoe cái gọi là cường tráng.

        Chiến Võ biết Minh Thùy đang cặp kè với Hùng nên can ke Hùng đến thăm tình là có mặt. Chiến hơn Hùng ba tuổi tức hai mươi ba. Tuổi nầy là chúa của tự mãn và hiếu thắng. Võ nghệ đầy mình nên Chiến ra cái vẻ đàn anh:

  • Mới về hả mậy? Học hành sao? – Anh nói đầy ngạo nghễ.
  • Mắc chi mày mà hỏi?

   Với Hùng hơn ba tuổi không là cái nghĩa địa gì nhưng Chiến Võ thì:

  • Mày có học mà mất dạy quá. Mày tao với người lớn là mất dạy nghe em.

      Rõ là Chiến cố tình sĩ nhục Hùng trước mặt Minh Thùy. Chả nói chả rằng Hùng đi một hơi về nhà lòng đầy giận dữ vì ghen. Vào phòng riêng lấy khẩu súng điện nhét vào lưng quần. Khẩu súng nầy Hùng mua từ một bụi đời ở Sài Gòn. Mua vì thích và để chơi chứ Hùng chả có ý chi. Và khi nhét khẩu súng vào lưng quần Hùng cũng chả có ý chi nếu không tình cờ gặp Vàng, Nhứt và Tú, ba thằng bạn không vào nổi cấp ba đang ăn đang chơi quậy quọ ra trò mỗi khi xỉn rượu.

       Bạn bè lâu ngày gặp nhau không vô quán đâu có được. Ba thằng lôi Hùng vào “Mộc Tồn quán” làm cái lẩu cầy. Đang buồn bực Hùng cũng nhấp môi chút chút. Nhấp môi với một kẻ chưa từng rượu cũng là đáng nói. Nghe Hùng chửi thề Tú – từng bị kỷ luật khi cự lại thầy chủ nhiệm – nói:

  • Gì mà chửi thề. Có gì nói tao xử cho.

      Vậy là Hùng kể về một Chiến Võ bố láo bố toét. Tú rằng, võ chơi theo võ tao đếch sợ thằng nào. Nó ở đâu mày dẫn đến tao xử cho. Vàng và Nhứt có ba xi đế vào người trời còn chả sợ lọ chi võ. Vậy là chơi xong một chai ba xị cả bốn lên đường. Ba xị bốn thằng mỗi thằng ba ly xây chừng đủ để ngà. Rượu ngà ngà thì trời là mãnh vung bể. Trên hai chiếc 125 phân khối bốn thằng dừng xe ở quán nước mía Minh Thùy. Nhìn Chiến Võ đang bên cô chủ cười cười nói nói Hùng nóng như hơ. Đẹp trai học giỏi đốp liền chứ sợ à:

  • Hồi nãy mày nói tao mất dạy. Dám nói lại tao kêu mày bằng cha.

   Thấy người yêu hung tợn Minh Thùy vội chạy lại:

  • Thôi mà… bỏ qua đi Hùng ơi.

    Được người yêu ôm eo ếch, chục thằng Hùng cũng xìu nói chi một. Nhưng Tú thì không. Có rượu và thầy chủ nhiệm còn cự – nghe đâu – Tú còn cải lại cha… thì Chiến Võ không là cái đinh rỉ gì:

  • Mày nói lại tao cũng kêu mày bằng cha.

        Nói xong Tú lao đến ra đòn. Nhưng Chiến là huấn luyện viên võ thuật, chỉ hai bước đã ra khỏi quán. Và khi ta có chút nghề đánh với tay ngang nó mới dễ làm sao. Bị một cước vào mặt Tú ngã xuống đường nghe cái bịch và máu mủi tè le. Thấy vậy Vàng và Nhứt nhào vào…  tiếp tục ăn đòn. Khi khổng khi không được thể hiện tài năng trước mắt người đẹp, Chiến Võ cỡi luôn áo thun ba lỗ khoe cơ bắp và sáu múi đẹp ơi là đẹp. Thấy ba thằng bạn ngã ngựa Hùng hất tay người tình rồi vung súng điện. Hai trăm hai mươi vôn thì voi còn ngã nói chi người.

       Cả ba – Tú, Vàng, Nhứt – lợi dụng thời cơ đối phương ngã ngựa lao vào trả đòn. Mày đánh tao sao tao đánh lại y vậy. Hùng cũng ké vài cú đá. Thấy bá quan văn võ người đời đến, cả bốn liền lên xe vù một hơi. Nhưng chạy lên trời cũng bị lôi xuống. Chiến Võ chết vì bị đánh hội đồng.

       Cái chết khởi nguồn từ khẩu súng điện. Bốn trẻ trai chia nhau năm chục năm tù. Hùng hai mươi năm. Ba mươi còn lại cho Tú, Nhứt và Vàng. Nhờ cải tạo tốt nên sau mười lăm năm Hùng về đời nhờ giảm án.

      Đó là lý do Hùng bỏ cửa bỏ nhà đi một mạch mười lăm năm.

                                                                ***

      Hùng về đúng hai mươi tám tết. Một mình. Hành trình cho ngày về là lên xe đò tiếp tục xe buýt và cuối cùng là honda ôm.

       Sao lại một mình?

       Phận tù. Tục rằng “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Mất tự do khổ lắm. Lắm lắm. Thực ra có phần cường điệu khi nói thiên thu tại ngoại. Con người vốn rất dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh sống. Không tự khép mình vào cái khuôn của thì hiện tại là tự sát. Dân chơi có câu “ba năm tù như một giấc ngủ trưa”. Đã là phạm phải xem cõi tù là nhà mới tồn tại. Khi tự do của ta là tường giam thì mọi cái sẽ dần quen. Quen đến độ không ít những con người xem cõi tù là nhà. Hết án về đời lại tiếp tục gây án để vào tù bởi – họ nói – đời chán bỏ mẹ, ủ tờ vui hơn. Hùng sau sáu tháng tạm giam rồi ra tòa. Nơi thụ án cũng bằng nhau với tạm giam. Cũng chừng đó sáng trưa chiều tối ăn ngủ lao động. Trại giam cũng có tivi để giải trí. Có báo để đọc. Lễ lạc tết nhất cũng có ca vũ nhạc kịch. Có cả nghệ sĩ nổi tiếng đến vui chơi cùng phạm… muốn sao nữa bây giờ. Không quen mà được sao?

        Phận tù tội đau khổ là thật nhưng đâu có khổ đau bằng thân nhân của họ. Hãy nhìn ông cha tên Tuấn và bà má tên Thúy của Hùng là biết ngay đau khổ là gì. Hùng ôm án lúc Tuấn bốn mươi và bà xã ba mươi tám. Hai vợ chồng ba cô con gái và cả họ nhà Sáu kỳ không thể tin Hùng phạm tội giết người. Xót xa biết bao nhiêu khi cục vàng của họ bị hai mươi năm tù. Còn quá trẻ và vì đâu mà bèo nỗi mây chìm thế nầy con ơi anh ơi cháu của cậu của dì của bà ơi…

        Tục truyền rằng cõi tù là cõi lớn hiếp bé, ma cũ nạt ma mới. Nghe mấy thằng từng ủ tờ kể bà má tên Thúy lo lắng đến tóp má. Mẹ mà. Ai chả lòng dạ bao la như biển thái bình. Lúc Hùng còn tạm giam má Thúy tuần nào cũng tay xách nách mang thăm nuôi thằng con tội nghiệp. Tội lắm kẻ lỡ lầm một chút mà ôm hận nghìn thu. Nghe nói tạm giam cha ăn hiếp tạm giam con nên, trừ thăm nuôi má Thúy còn gặp riêng cán bộ trại để gửi gấm.

        Hết tạm giam đến tù. Từ nơi cư ngụ Tuấn phải vượt năm trăm cây số đi thăm con. Lúc đầu còn xe đò sau đó honda ôm đưa đến trại. Về sau Tuấn tậu luôn mô tô  cho dễ dàng trong thế cơ động. Muốn gửi gấm nhờ vả phải đến tận nhà cán bộ. Phải thăm dò ai chủ trì phòng con trai mình đang thụ án. Phải gặp vợ của quan anh nhờ nói giúp một tiếng. Anh nói thằng Hùng em tao thì chẳng tù nào dám hiếp. Để anh nói được ba từ “nó em tao” đâu thể bằng miệng mà phải xòe bàn tay đếm ngón tay.

        Sinh viên như Hùng mà lội ruộng, làm vườn, cuốc đất trồng khoai tội lắm. Ở nhà ăn học nào có biết lao động là gì. Lại phải tìm gặp sếp cao nhất để thằng lầm lỡ có một công việc an nhàn. Lại xòe bàn tay đếm ngón tay. Nhưng xòe và đếm lâu nhất là những ngày lễ lạt. Nhờ anh giúp cho cháu nó giảm được ngày nào hay ngày đó. Mỗi năm Tuấn cùng bà xã thân chinh bốn bận vào những ngày lễ lớn và tết nhất thì thu nhập cả một năm coi như xong. Nếu không có cái căn-tin của trường học nơi Tuấn là bảo vệ, chắc chắn Hùng không bao giờ được chân sai vặt trong nhà bếp của trại giam. Rất may cho vợ chồng Tuấn-Thúy – ngôi trường – nơi hai vợ chồng ăn nên làm ra nhờ kiếm bạc lẻ của học sinh tiểu học. Chỉ năm trăm bạc lẻ từ một học sinh của ngôi trường bốn mươi lớp, mỗi lớp ba mươi nhóc thì ngày Tuấn Thúy kiếm triệu là ít. Cũng ngôi trường nầy Hùng hết tiểu học. Hùng được thầy yêu bạn mến bởi ngoan ngoãn và học giỏi. Hùng đã đem vinh dự về cho trường khi quán quân học sinh giỏi toàn diện cấp huyện. Nhờ thành tích nầy mà vợ chồng Tuấn Thúy vẫn bình như vại ở căn-tin. Cô bác bảo rằng gặp người khác thì đừng hòng khi con cái là kẻ giết người.

       Mỗi năm thăm nuôi bốn lần. Chừng đó lần được gặp cha má cũng là một hạnh phúc cho Hùng. Đã biết thích nghi với cõi tù thì phải biết hạnh phúc ở quanh ta chứ chả tìm đâu cho nhọc. Có khi cả họ nhà Sáu Kỳ lên xe bảy chỗ theo 175 phân khối của Tuấn đi thăm thằng cháu tội nghiệp. Quy định của trại giam mỗi lần thăm chỉ một – tối đa – hai người. Muốn chín người phải liên hệ trước qua điện thoại. Và phải xòe bàn tay đếm ngón tay mới thông.

        Đối với cả họ nhà Sáu Kỳ, trước và sau khi Sáu Kỳ qua đời cũng vậy, tiền bạc không là gì. Hùng xé được hai cuốn lịch thì khu vực và đất đai nhà Sáu Kỳ vào quy hoạch làm cao tốc. Cả họ Sáu Kỳ lấy tiền đền bù xây nhà cao cửa rộng trên tái định cư. Tuấn và Thúy cũng chả thua bởi bố vợ khi còn sống cho Tuấn năm sào rẫy và lô đất cất nhà. Thăm nuôi Hùng một năm chục lần còn được lọ chi bốn.

       Vậy mà Hùng về đời sau mười lăm năm chỉ một mình nghĩa là làm sao?

        Số là. Ừ, số là…

                                                             ***

       Số là… biết nói sao nhỉ? Mỗi năm đi thăm con trai bốn kỳ, trại giam như nhà, cán bộ trại chả khác chi bằng hữu, chuyện giảm án ra làm sao vợ chồng Tuấn Thúy không thể không biết. Khi thời gian thụ án của Hùng bước qua năm thứ mười, mười một rồi mười hai… Tuấn mơ ngày con trai về nhà đến cháy bỏng ruột gan. Thời gian lúc nầy trôi đi thật sự chậm với đôi vợ chồng tội nghiệp. Đêm đêm vắt tay lên trán, nghĩ đến thằng con đang âm thầm trong bóng tối của tường giam Tuấn – ngay cả yêu – để giải phóng bản năng còn không muốn. Xòe bàn tay đếm ngón tay và tình thương mến thương vung ra một thời gian dài nên, ở năm thứ mười lăm Tuấn Thúy hy vọng con trai sẽ giã biệt trại giam. Tuấn nghe phó giám đốc trại bảo kỹ luật, lao động và ý thức tốt như Hùng có thể sẽ được về vào một trong nhưng ngày lễ lớn của năm. Nhưng rồi ba mươi tháng tư qua đi, hai tháng chín qua luôn… niềm hy vọng vào ân xá của tết tươi cũng qua đi. Thôi thì chờ năm tới vậy.

       Vậy thì lý do gì Hùng có mặt ở nhà vào hai mươi tám tết?

       Số là… sau một năm ở trại. Nhờ cha má xòe bàn tay đếm ngón tay gửi gấm nên Hùng được vào phụ việc trong nhà bếp. Giàu thủ kho no nhà bếp nên ai thiếu thốn chi kệ, riêng Hùng có da có thịt bởi hơi của dầu mỡ. Gần nhà bếp là căn-tin và trạm xá của trại. Hùng ghé trạm xá và phát giác ra cô y tá trạm đang ôn để thi đại học. Chả là đã hai lần ứng thí mà chả ra cái ôn gì. Là em của giám đốc trại, chỉ ăn và học mà cứ mãi sôi cơm nhưng chửa chín thì đâu có được. Nhớ chữ, Hùng liền thao thao  tám thể mười hai thì, thế nào là chủ động hay bị động trong anh ngữ. Hùng còn nói tiếng anh lưu loát như một ông mỹ con. Toán học hả? Chỉ cần nhìn cái đề ôn thi đại học Hùng đã cho cô y tá biết rằng tù cũng có anh giỏi tận trời. Về nhà cô  méc với anh trai rằng có một tù nhân…

        Ông giám đốc – tội nghiệp quá hoàn cảnh – vợ mất trong một tai nạn. Ông ở vậy nuôi một trai một gái. Trai mười ba tuổi đang lớp tám, con gái kế lớp sáu. Ông phải triệu em gái vào thay mẹ chăm con. Thêm bước nữa ư? Làm sao được khi con cái mới chừng này tuổi. Nhà của giám đốc kề bên trại, cách khu dân cư có ngôi trường con ông đang theo học những ba cây số. Sáng chúng học ở trường, chiều thêm với các thầy cô giáo. Đứa nào cũng giỏi toàn diện nhưng giám đốc biết chúng giỏi bởi ông là giám. Bằng chứng là khi  kiểm tra thằng lớn muốn nhân một đơn thức và một đa thức nó ngơ ra như bò đội nón. Con em còn tệ hơn.

      Vậy là ông giám bèn vời thằng tù về nhà kèm cho cả cô cả cháu cái sự học. Mỗi đêm mà thông qua lớp sáu lớp bảy đến luyện thi đại học thì gã tù tên Hùng quá xá giỏi đa nghe.  Ngon lành nhất là năm ấy cô y tá đỗ đại học. Cô khăn gói lên thành chen chân cùng đô hội. Tù Hùng vẫn đêm đêm ghé nhà ông giám kèm cho đôi trẻ. Thằng anh vào đại học con em cũng vào theo. Đó là những năm tháng đẹp nhất đời Hùng. Nếu không có vụ kèm cặp chắc Hùng tự sát bởi ngộ ra mình dại. Một năm sau ngày thụ án, Minh Thùy của Hùng lấy chồng. Đời mà. Yêu anh em cũng có yêu nhưng chờ thì sao được khi hai chục năm chứ  ngày bữa gì hả anh? Đời chả có cái dại nào giống cái dại nào, nhưng dại nhất chắc chắn là dại gái.

        Hùng nhận ra cô bé lớp mười hai tên Thùy Trâm – cô học trò mà tù Hùng kèm cặp – yêu mình. Tù Hùng hơn Thùy Trâm mười một tuổi. Năm cô mười tám Hùng đã ba mươi. Một số người trên trần gian này bóng thời gian không đi qua họ. Có nhưng rất chậm. Hùng là một. Cả ngày trong bếp với cá mú thịt thà và hơi dầu mỡ lại, kế thừa nét đẹp trai tài tử của cha nên, tù thì tù vẫn cứ phong trai. Gái tham tài trai tham sắc. Hùng quá tài nên Trâm yêu cũng phải thôi. Nhưng Hùng biết mình là ai. Biết lắm. Tù chớ có vọng động bá láp. Mất chỗ đội nón như chơi con ạ.

        Trâm đẹp như á hậu nên trai thanh lịch con nhà theo cô cả tiểu đội. Cha cô là giám đốc, nhà cô cao rộng chả thua ai. Phố phường vui và cái xô bồ của nó hút con người vào với lực nam châm của tam giác quỷ Bermuda. Trâm cũng bị cái guồng của hiện đại hút vào. Năm Hùng lớp mười, cha Tuấn đã tậu cho con máy tính bàn để học. Khoảng cách từ lúc ấy cho đến khi Trâm lên phố thì văn minh internet hiện đại gấp trăm lần. Trai đẹp theo cô ong ve ma mị quỷ sứ đến ghê hồn. Cô bị cái gọi là mê tình bám theo quyến rũ. Vậy là đơn phương trong lòng Trâm sụp đỗ. Cô cũng cặp một anh để cô đơn tan đi.

          Yêu nhau và hẹn ra trường mình cưới nhau em nhé. Trâm ừ –  và – phải chi cô như bạn bè, sống thử trước hôn nhân thì hay quá. Cưới xong cô mới nhận ra mình sai lầm. Chồng. Người mà cô ngộ nhận là yêu, ngay cả yêu anh chỉ biết cho anh. Xong cuộc anh lăn ra khò khò miệng mồm há hốc. Những lúc ấy Thùy Trâm da diết nhớ ông thầy dạy kèm tên Hùng. Một ngày nọ chồng đưa Trâm về thăm cha. Trong lúc cha và chồng chén tạc chén thù. Cha mừng vì sắp có cháu ngoại. Chồng bô lô ba la chuyện làm ăn thì Trâm lẻn vào trại giam thăm thầy. Tù Hùng hỏi:

  • Trâm khỏe không? Hạnh phúc chớ hả?
  • Khỏe thì có nhưng hạnh phúc thì không.
  • Sao vậy?

       Đó rồi cô tựa đầu vai thầy mà khóc. Sau đó vợ chồng Trâm ly thân. Đàn bà khi không yêu họ trơ như đá đàn ông nào chịu được. Huy – chồng Trâm – chân nam đá chân chiêu tâm sự với cha vợ khi con trai đà năm tuổi:

  • Ba hỏi sao ly thân hả? Vợ con không yêu con ba ơi. Cô ấy yêu người khác.
  • Người khác? Ai?
  • Thằng Hùng. Cái thằng tù mà ba nhờ kèm cặp cái vụ học hành đó.

       Để cứu vãn nhân duyên của con cái không ra tòa ly dị. Ông giám đốc với uy quyền sẵn có ký lệnh cho Hùng về trước tết như một đặc ân. Ông nghĩ xa mặt cách lòng. Năm trăm cây số từ trại đến nhà của Hùng thì xa quá là xa.

     Đó là lý do Hùng về vào hai mươi tám tết và chỉ một mình.

                                                                       *** 

      Chả ai có thể hình dung ra niềm vui phải nói là bất tận với cả họ nhà Sáu Kỳ. May mà bà Sáu đã cưỡi hạc chứ sống đến ngày thằng cháu về chắc chết vì sướng. Lòng Hùng cũng vậy. Khi bắt lại được tự do tâm tư con người ta ứ lại vô số nỗi niềm không thể nói bằng lời. May mà hai mươi tám tết nên sau thăm hỏi, láng giềng cũng như anh em họ mạc rút êm để lo cho tết tươi. Ba cô em gái của Hùng – sau mười lăm năm – cũng đã nên bà như ca dao dạy trai ba mươi tuổi đang xoan gái ba mươi tuổi đã toan về già.

        Còn lại Hùng và hai ông bà già. Ôm lấy bà má tội nghiệp Hùng bảo rằng con xin lỗi, con dại quá… dại rồi con biết khôn làm sao hả má? Mười lăm năm tù mà dại rồi không biết khôn làm sao thì biết ai dại biết ai khôn.

       Tuấn nói với con trai:

  • Cuộc sống là một quá trình làm sai và sửa sai. Sai thì sửa. Mười lăm năm tù  cay đắng và đoạn trường lắm nhưng dù sao, đến lúc nầy, mày vẫn đang trên chân mình mà bước. Vẫn đang ngửa mặt hít thở khí trời và tận hưởng tự do. Trong khi đó thằng Chiến mục rửa trong bóng tối của áo quan. Sai lầm của mày tuy đắt nhưng không đắt bằng thằng Chiến.
  • Con hiểu rồi.
  • Ngày mai hãy đi với tao đến nhà thằng Chiến xin lỗi cha má nó. Mười lăm năm chờ đợi của tao và má mày tuy mỏi mòn nhưng, không bằng sự mất mát của ba má thằng Chiến. Hiểu không?
  • Dạ hiểu.

    Hùng đăm chiêu:

  • Không biết anh em nhà Chiến sẽ ra sao khi con đến.
  • Không sao cả. Kinh thánh dạy “Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện để lấy áo trong của anh hãy để  nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, hãy cho, ai vay mượn, đừng ngoảnh mặt đi”. Nhẫn là trên hết.

      Hai mươi chín tết hai cha con đến nhà cha mẹ của kẻ qua đời khi còn rất trẻ là Chiến Võ. Ừ… hai ông bà già và bầy em của Chiến thôi thì chuyện cũ rồi ta cho qua. Sự chân thành của Hùng đã khiến hận oán mười lăm năm qua đi. Chân thành là gì? Là thật với chính mình. Gã tù về đời tên Hùng không còn gì trừ thật với chính mình.

        Về. Ngang qua nhà Minh Thùy ông Tuấn dừng xe:

  • Thăm con Thùy một lát.
  • Thôi ba ơi… chuyện quá cũ rồi. Ai có phận nấy.
  • Phải gặp thôi. Gặp để biết bèo nổi mây chìm vì đâu…

     Minh Thùy hai con. Một trai một gái nhưng không đề huề bởi vợ chồng đường ai nấy đi. Hai con mà không ở được nghĩa là làm sao? Ngộ nhận – nghĩa là – hiểu sai hay nhận thức sai. Sai lầm trong tình yêu đã khiến Minh Thùy trả giá. Nhưng ngộ nhận nầy bắt nguồn từ xốc nổi của Hùng mà ra. Cũng rất chân thành Hùng xin lỗi tình xưa. Con trai Minh Thùy đã mười ba, con gái mười một, cô đủ già để:

  • Cuộc sống là một quá trình làm sai và sửa sai phải không anh? Sai lầm lớn nhất chúng ta mắc phải trong cuộc sống là luôn sợ sai lầm – Elbert Hubhard- đã nói vậy. Vui đi anh. Vui để đối mặt với thử thách và chiến thắng nó mà không mắc phải sai lầm. Và ngay cả khi mắc sai lầm vẫn có thể sửa chữa để thay đổi.

       Hùng nhắm mắt nhìn trời.

                                                 Nguyễn Trí

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

Về giây phút đầu của buổi chiều hôm đó mẹ chỉ nhớ là mình căng mắt nhìn ra bốn hướng và trái tim đập lên loạn xạ. Mẹ tìm con, cố tìm mái tóc dợn sóng của con nổi lên trên tà áo trắng. Mẹ mong nhìn thấy ánh mắt vui mừng của con, hồn nhiên như những bé gái lên mười.

Từ văn phòng về trễ,  mẹ cầm túi thức ăn có một ít trái cây, bánh mì và  mấy hộp sữa cho bữa điểm tâm. Tuy mệt nhọc leo lên cầu thang nhưng mẹ vẫn chuẩn bị sẵn nụ cười để che giấu sự nhọc nhằn sau một ngày buồn bã và nhàm chán. Một nụ cười dành cho con, để con khỏi cảm thấy cái gánh nặng của cuộc  đời buồn bã, con thì thiếu một người cha còn mẹ cũng không có người đàn ông trong mái ấm. Mỗi ngày chúng ta đều sống như một sự thách thức, để tiếp tục, nhưng niềm vui luôn  có trong đôi mắt, một sự đồng loã phát sinh giữa mẹ và con.

          Niềm vui cuối ngày của mẹ là được nhìn thấy con ngồi đợi ở bậc thang trước thềm nhà, miệng ngậm cây bút chì, tay cầm quyển  tập hay có một trang sách mở rộng trên đầu gối; vài sợi tóc lòe xòe trên trán và khuôn mặt rạng rỡ, sống động như chú ngựa con trên thảm cỏ.

Mẹ hổn hển vì leo đến cuối cầu thang. Nhưng không có con ngồi đợi mẹ.

          Run rẩy. Mẹ không mở được cửa! Mẹ bỏ túi thức ăn xuống sàn nhà, mẹ bấm chuông các nhà lân cận. Gọi điện đến trường…

Tất cả đều vô ích.

          Sao lại thế này? con đã biến mất?

          Mẹ lao xuống đường, hỏi tin con ở các cửa hàng thân quen, đến đồn công an, và một nhân viên an ninh khuyên mẹ gọi điện đến bệnh viện trong vùng.

Không kết quả.

          Mãi đến khuya mẹ mới trở về nhà, tuyệt vọng. Trong đêm mẹ không sao ngủ được, mẹ nằm, cửa để mở, hy vọng được nghe bước chân con bước lên cầu thang. Một đêm kinh hoàng, mẹ lục lọi khắp nơi trong nhà xem con có để tờ giấy nhắn nhủ gì không, tìm một vài dấu hiệu mơ hồ nào đó để có thể dắt mẹ  tìm đến bên con. Nhưng hoàn toàn vô vọng.

Đến lúc đó  thì những hồi tưởng từ đâu quay về trong đầu mẹ: buổi sáng trong lúc chải tóc mẹ nghe con khe khẽ hát, con lẩm nhẩm bài thơ, bài học lịch sử hay địa lý gì đó để học thuộc lòng. Rồi sau đó con kể chuyện về bạn bè hay cô giáo. Con, mãi mãi và chỉ con thôi. Con là cuộc đời của mẹ nhưng mẹ không biết con đang ở đâu.

          Sau những tìm kiếm vô ích và vô vọng, mẹ bỗng dưng cảm thấy mình có lỗi. Đáng lý ra mẹ phải đến đón con ở trường và mọi việc đã không thể xảy ra. Những đứa bạn nói rằng đã cùng con leo lên xe buýt, con đã xuống ở trạm dừng gần nhà, con bước đi trên vỉa hè và vẫy tay chào các bạn. Tất cả như mọi lần. Chỉ vài chục mét, đến cửa hàng bách hóa, quẹo trái là con về đến nhà. Ai cũng nói không, nhưng mẹ vẫn cảm thấy mình có lỗi vì có lẽ mẹ đã phải làm một điều gì đó, dù không thể. Mẹ phải làm việc. Mẹ phải cố gắng kiếm tiền để con không thiếu một thứ gì.

            Sau cảm giác tội lỗi thì mẹ bắt đầu có biểu hiện vô cảm. Đi quanh quẩn trong phòng mà chẳng biết thời gian đã trôi qua, ngồi xuống bàn ăn và liên tục nhìn bức hình con trên tờ báo. Mẹ đọc lại tên con, vài chi tiết như chiều cao,  áo quần đang mặc. Mẹ đã ghim tờ thông báo đó lên tủ buffet để bất cứ lúc nào mẹ cũng có thể nhìn thấy.

Mẹ tìm mọi cách để che giấu sự vắng mặt của con trong trái tim mình, và ngày qua ngày, mẹ vẫn tiếp tục chuyện trò với con, như thể con vẫn còn đây, tưởng tượng về những câu chuyện không hề hiện hữu. Vài tháng sau mẹ im, không còn nói nữa. Cuộc đối thoại chỉ có trong đầu mẹ  và mẹ âm thầm bước đi trong các căn phòng, ve vuốt các vật dụng của con, xếp lại hàng trăm lần chiếc áo của con.  

          Mẹ đã trở thành cái bóng của chính mình. Mẹ không ăn. Buổi sáng thức giấc gập mình trên chiếc bàn, nơi mà giấc ngủ đã cho mẹ tạm dừng sự tuyệt vọng.

          Con đang ở đâu? Ở đâu?  Tại vì sao mà con đã không về?

                                                          &&&

          Mẹ yêu ơi, mẹ cứ liên tục hỏi là con đang ở đâu?

          Chắc không xa mẹ lắm đâu, con ở đây,  dưới chân cầu, có lẽ cách mẹ chừng vài kilomét.

          Bọn họ đã ném xác con ngay trong đêm mà con không trở về nhà.

          Con vừa xuống xe buýt và vẫy tay chào bạn bè. Chỉ vài bước là con đến trước cửa hàng tạp hóa. Ông chủ tiệm dường như đang đợi con….

          Con chưa biết phải làm gì thì bị một bàn tay đưa lên bịt miệng, rồi ông chủ kéo con vào phía sau tiệm. Con nghe tiếng đóng cửa và ngay lúc đó con nhìn thấy có mấy người đàn ông như bầy sói đang thở dốc.

  • Xõa tóc ra, mầy sẽ lớn như một cô gái …

Con chẳng hiểu gì cả nhưng linh tính cho hay mình đang là một con thú đang sập bẫy. Hai mắt mở to vì kinh hãi, nước mắt chảy ròng cùng tiếng kêu lạc giọng.

  • Mẹ ơi, mẹ ơi !

Sau đó thì người ta đánh đập con, rồi ép sát người con vào thân hình nhớp nhúa của họ. Hơi thở sặc mùi rượu, họ không chút động lòng trước tiếng khóc tuyệt vọng của con. Họ giữ con bất động. Rồi một cơn đau nhói chạy khắp người con. Con như ngạt thở. Nấc nghẹn theo từng cú ép đẩy của bọn người khốn nạn. Đớn đau lẫn tủi nhục mà trước đó đầu óc non nớt của con chưa  thể nào tưởng tượng.

            Sau đó thì mọi việc chấm dứt. Con không còn là gì, giống như một nùi giẻ để vứt đi. Họ chẳng chút xót thương. Đối với họ con chỉ là một thứ đồ vật, để thõa mãn, dùng xong rồi bỏ. Rồi trong bóng đêm, họ ném xác con xuống dòng sông.

          Giờ thì con ở đây. Nằm giữa những rác rưởi trôi trên sông và những rễ cành lẫn rong rêu đã giữ con lại. Thân xác con chẳng còn lại gì. Chiếc áo trắng đến trường không còn nữa, và giữa những đám rong, những đàn cá bơi lội xuyên qua mái tóc con, còn lũ côn trùng thì nhún nhảy. Đôi mắt của con giờ chỉ là hai lỗ hổng nằm trong hộp sọ, chó dại và chuột nhắt đã ăn mất từ lâu.

          Con rất tiếc đã không thể báo tin sớm cho mẹ về những gì đã xảy ra! Con đã không trốn mẹ, nhưng chính những gã đàn ông mà mẹ nhìn thấy mỗi ngày, họ nhìn mẹ với cái nhìn thương hại, rồi khi mẹ đi qua, họ đưa mắt đồng lõa nhìn nhau như nhắc nhở về những giây phút điên cuồng  khi con lọt vào cạm bẫy.

          Mẹ yêu ơi, con và mẹ có chung một cuộc đời…Người này chỉ sống cho người kia. Thế mà bây giờ bọn khốn nạn đã chia rẽ chúng ta. Con hy vọng là sẽ có một ai đó sẽ tìm thấy thi thể của con. Để chôn cất. Và lúc ấy mẹ sẽ điên lên. Dửng dưng với hết thảy mọi việc xung quanh. Nhưng mẹ sẽ không còn buồn khổ nữa trong sự đợi chờ vô vọng.

                           (Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý : l’attesa)

Read Full Post »

Vạn thọ

Nguyễn Đức Hiển

.

Tháng chạp rồi. Giờ này của 30 năm về trước, đi hái rau heo về ngang xóm rẫy đã thấy chơm chớm vạn thọ trổ những búp tròn như cúc áo. Tới 20 tháng chạp thì người ta bắt đầu nhổ bán. Cái màu vàng của tết quê nghèo thời đó, nhà ai cũng chưng vạn thọ. Sắc hoa tết khiến mọi nhà giàu nghèo đều bình đẳng. Giàu thì chưng từ ngõ vào sân, nghèo thì đôi chậu trước nhà và hai bên bàn thờ. Giàu, thì chơi từ trước tết 10 ngày, nghèo thì trưa 30 tết ra chợ mua hoa ế, vẫn đẹp y vậy.

Vạn thọ, đôi khi tôi nghĩ nó còn là cầu nối hai thế giới, của người sống và của ông bà khuất mặt. Nó được chưng ở nhà lẫn ngoài mộ.

Quê, vạn thọ được trồng ngoài rẫy. Đôi khi là bên những bìa rẫy nho, rẫy bắp. Có những đứa trẻ nghèo được cha mẹ chúng bày trồng vài luống, gần tết nhổ bán kiếm tiền mua áo mới và còn mấy đồng chơi bầu cua tôm cá.

Nhớ ngày còn bé, từ những xóm rẫy vùng cát, xe ngựa chở những mùa vạn thọ về phố rồi lại chở mấy món đồ chợ tết từ phố về quê. Những bụi vạn thọ vàng chanh như màu nắng non, lại có những bụi màu vàng lúa chín, quê mùa mà ấm áp. Nhiều nhà không có hoa mai, bởi nó đắt và không phải bao giờ cũng chọn được cành mai nhiều nụ, nhưng vạn thọ thì nhà ai cũng có, làng quê nào cũng có.

Những năm học đại học, chiều cuối năm đầy gió, ra sau ký túc xá Bình Triệu, cả một vườn mai sắp nở vẫn chưa thấy tết, nhưng rồi ra quán cà phê bên sông ngồi, một cái xà lan chạy qua, trên đó là mấy cặp vạn thọ vàng, chợt nhớ quê nhớ tết đến nao lòng.

Vạn thọ dễ sống, cứ nhổ nguyên bụi về rồi cho vào xô, cho cát vào và tưới nước thì nó tươi màu đến qua tết. Ngày xưa nghèo đến độ xoong cũ, xô nứt cũng thành bình thành chậu chưng vạn thọ, chỉ là dán phủ giấy màu bên ngoài. Để hai chậu vạn thọ hai bên bàn thờ và thắp nhang, màu vạn thọ và mùi nhang là đủ tết. Bàn thờ tết ở quê chỉ nải chuối và vài gói bánh cốm giã tay bọc giấy hồng giấy đỏ mà sao gợi hết sức. Nó tết còn hơn gì.

Có một đêm giao thừa xa quê trên penhouse nhà bạn. Vợ nó đi Mỹ ăn tết với con, có một mình y cũng tha đủ thứ hoa về nhà. Tiền bày biện cái bàn thờ nhà nó chắc cũng đủ vài chục hộ nghèo ăn cả cái tết. Nó mở chai rượu đắt tiền, hai thằng ngồi, uống nhiều mà cứ thấy sao sao. Chiều hôm sau nó lại rủ qua nhà uống rượu và ăn tết quê. Mấy chậu lan đã được cắm vào bình để chỗ khác, hai bên là hai chậu vạn thọ. Đốt tí nhang trầm, cắt miếng giò, nó nói hôm qua nghĩ mãi không biết thiếu gì, ra là thiếu hoa vạn thọ. Rượu đế và vạn thọ mới là tết mày ạ.

Thì ra, ngay với dân làm ăn như nó, ngày tết xa quê cũng bị níu kéo về ngày xưa với ký ức nghèo khó. Và vạn thọ quả là có sức dẫn dụ mãnh liệt.

Có đâu vài năm, tự nhiên vạn thọ ít hẳn, rồi đôi năm lại đây lại ngập tràn, vàng ấm hân hoan đón xuân về. Sẽ có kẻ đa cảm gồng lên ăn tết tha hương để chiều cuối năm gục ngã trước sắc vàng vạn thọ ven đường mà hối hả tìm mua chiếc vé cuối về quê cho kịp tết; sẽ có kẻ vì lý do nào đó mà xa nhà để chiều ba mươi ngồi nhấp ngụm rượu rồi nhìn màu hoa mà nghe vị đắng ly hương. Khi đó, trong một giây, sẽ thấy có những phút lòng yếu đuối đến độ dám từ bỏ thị thành vì màu vàng vạn thọ; sẽ thấy sự thiệt thòi đến cùng tận khi có tất cả mà không có quê để trở về.

Nhưng muốn được khóc cười với vạn thọ như vậy, bạn phải là dân miền Trung, dân xóm rẫy.

Hai năm trước, nhà đã đầy hoa, chiều 29 mình lại chở về một xe đầy vạn thọ. Chỉ là trên lề đường Phan Văn Hớn có một cậu trai loay hoay với nguyên một dải vỉa hè và những chậu vạn thọ sắp ngay hàng thẳng lối, năn nỉ: Anh Hai mua cho em có tết.

Nó lấy tiền thưởng tết mua một xe hoa chở từ Cái Mơn lên mà không bán được. Cho thêm ít tiền bảo mai mà không bán được thì kêu anh ra phụ bán với mày, tao nhẹ vía. Trưa 30 thấy nó alo nói anh ơi em về quê đây, em bán hết trơn rồi, em tính mua biếu anh cặp bưởi mà không biết nhà anh đâu. Bèn nói chờ tí, đừng mua bưởi. Ghé ra cho nó mấy hộp quà mình được tặng. Nó nói vầy tết này em bảnh rồi anh.

Vạn thọ cứ gợi cho mình nghĩ lan man những chuyện ngày xưa. Màu hoa là màu của sum vầy, của ngày tết, màu hoa vạn thọ buổi giao mùa đưa ta về ký ức. Mà không hiểu vì sao cái cây hoa chu kỳ sống có hai tháng rưỡi lại có tên là vạn thọ? Phải chăng mỗi mùa hoa là thêm một cái tết, người già thêm tuổi nên người xưa muốn đếm tuổi bằng những mùa vàng dân dã ấy?

Tất cả cảm xúc:

Read Full Post »

Kẻ lang thang

Leonid Leonov

Dịch giả Tiết Hùng Thái



KẺ LANG THANG
 (1928)

Leonid Maximovich Leonov Sinh ngày 31 tháng năm 1899 mất 8 tháng 8 1994, là nhà văn Nga nổi tiếng,  tác giả Trộm cắp (1927), Rừng Nga (1953) Kim tự tháp (1994)…Được coi là kế tục Dostoievsky ở thế kỷ 20 với chất vắn xuôi đầy suy tư trăn trở

 Trà giống như mùi cỏ mục, đường có vị dầu hỏa. Sađaép dằn mạnh chén trà uống dở xuống bàn, và lơ đãng nghe tiếng ồn ào huyên náo trong quán trọ. Thường trong những phiên chợ ngày chủ nhật cứ vào khoảng giữa trưa là sự sôi động lại tăng lên nhưng Sađaep được vây bọc bởi im lặng hoàn toàn. Anh đột ngột đứng dậy, giơ hai tay ra phía trước, bước về phía cửa sau quán rượu. Coi trọng danh tiếng không chê vào đâu được của quán mình còn hơn con mắt độc nhất của lão, lão chủ quán vội bước theo Sađaep nhưng lão đã nghi ngờ vô ích.

Trong bóng tối mờ mờ màu lục của sân sau, với những vệt sáng lọt qua những kẽ nứt, người khách trọ đang đóng yên con lừa cái của anh ta. Con lừa cái có bộ lông thẳng mượt cố níu lại khi bị kéo ra khỏi máng ăn đầy tú hụ, nhưng người khách trọ không tức giận, thậm chí không hề để ý. Tuy vậy, anh ta cúi xuống nhặt một mẩu vỏ bánh mì bị ai đó ném trên rơm bẩn. Anh ta chăm chú nhìn nó một hồi lâu rồi mới bỏ nó và túi du lịch. Thấy lạ vì hành vi bí ẩn của Sađaep, người chủ quán bước ra khỏi chỗ nấp. Sađaep trở nên luống cuống.

“Mấy con chó sẽ sung sướng thấy cái này” anh ta khẽ nói về mẩu bánh mì.

“Thế ai sẽ sung sướng được thấy anh?” lão chủ quán trả lời nheo nheo đôi mắt tinh quái cười đểu và bước vào trong quán.

Sađaep đánh lừa ra khỏi sân.

Trưa tháng Tư tràn ngập tiếng chiền chiện líu lo. Những vũng nước nhỏ lấp lánh ánh nắng, khắp nơi rầm rì những âm thanh vô nghĩa. Một cảm giác nhẹ nhõm êm dịu gần như say sưa thấm vào lòng người; nhưng với Sađaep mùa muân này, mùa xuân thứ bốn lăm của đời anh, có cái vẻ quá quắt của một thiên nhiên đang phát điên. Lấy từ trong ngực áo ra lá thư của vợ, một lá thư mà vì nó anh đã rời bỏ huyện lỵ sớm cưỡng lại mọi tiếng nói của lương tri, một lần nữa anh cố lần dò theo những dòng chữ nguệch ngoạc chất đầy lo âu của nó. “Chồng yêu quý của em” anh đọc chủ yếu bằng trí nhớ, “Em héo hon gầy mòn xơ xác vì buồn khổ… Chồng yêu quý của em, ngày nào em cũng khóc… Chồng yêu quý của em, em không biết phải làm sao cho qua ngày giờ… Chồng yêu quý của em, chúng ta…”  Những từ ngữ khôn khéo lao xao trong gió và quất vào Sađaep bằng tiếng cười vui vẻ độc ác. Với một sức mạnh như thế anh quất con lừa bằng ngọn roi và con vật thở phì phì một cách khốn khổ trên con đường mòn chán ngắt. 

Cả đời anh, anh toàn gặp vận may khiến người đời phải ganh tỵ. Trong cái năm trước khi anh được gọi nhập ngũ, anh đã cưới Katêrinka, một cô gái lúc nào cũng vui cười; cái vui vẻ trẻ trung của Katêrinka không hề giảm đi khi về ngôi nhà cổ lỗ kẽo kẹt của anh, nơi mà mỗi mùa xuân chim sáo không ngừng hót líu lo bên cửa sổ. Mặc dầu có mọi thứ để chinh phục cuộc sống, Sađaep chỉ thiếu mỗi khả năng cười; nhưng ngay cả sự bất công ấy của tạo hóa cũng mang đến thuận lợi cho anh: người ta sợ anh. Chiến tranh đã chừa cái thân anh, một thân thể cao ráo đỏ đắn trông như một cây thông đứng thẳng trên nền trời hoàng hôn, anh trở về nguyên lành, chỉ bị xây xát nhỏ. Nhưng bỗng nhiên những bất hạnh vụn vặt tầm thường như những con chuột nhắt, bắt đầu gậm nhấm anh. Anh vật lộn với nó suốt năm, tức điên lên, nhưng lũ nó cứ xông vào gặm cái gia tài có tiếng của anh. Vào những ngày tạm hưu chiến, anh cay đắng nhìn lại bản thân mà không sao tìm ra đâu là nguyên nhân khiến anh khánh kiệt. Chỉ đến lúc này, rơi vào sự trừng phạt cuối cùng của số phận, anh mới nhớ lại một cuộc phiêu lưu ở ngoài mặt trận ..và mặc dầu một người mujich thì không xấu hổ về bất kỳ tội lỗi nào được bọc trong áo lính, hồi tưởng này thiêu đốt và cắn rứt anh tận tâm can, không cách nào dứt bỏ được nó.

Vào lúc chiến tranh tạm lắng trung đoàn vô danh của anh kiệt quệ dưới ánh mặt trời phương nam. Ở đó Sađaep lấy một phụ nữ Mônđavi, một người nông dân giống như anh. Cô ấy cũng dịu dàng như Katêrinka của anh, và thật lạ, cô cũng mang cái tên ấy. Cô ta ốm o héo hắt vì mong nhớ chồng đang mòn mỏi trong tù. Cô ta là món hấp dẫn đối với sức lực miền Bắc tràn trề không ngơi nghỉ của Sađaep. Suốt ngày đêm anh ở trong ngôi nhà nhỏ dưới rặng keo của cô, anh ăn gà của cô uống rượu của cô và thường xuyên tán về cái duyên ngầm của cô gái Mônđavi bé nhỏ này với đám bạn. Tình yêu Mônđavi của cô mang lại cho anh niềm vui tạm bợ. Sađaep rời bỏ cô mà không hề tiếc nuối, và những dòng nước mắt của người thiếu phụ đã che không cho cô thấy rằng, cùng với hạnh phúc ngắn ngủi của cô, anh ta mang theo về phương bắc chiếc máy khâu của cô mà anh mê thích trong những giờ phút âu yếm của hai người. Sađaep vẫn không thể nào quên trong mười bảy ngày khắc nghiệt ấy anh đã di chuyển trên tàu hỏa như thế nào, trong giấc ngủ lơ mơ của người bệnh thương hàn, vẫn kẹp chặt lấy vật báu ăn trộm được giữa hai đầu gối. Đối với anh, nó trở nên thân thiết hơn bánh mì hay cuộc sống, bởi vì anh đang mang nó về làm quà cho Katêrinka miền bắc của anh, người mà anh quyết định coi là nền tảng của cái hạnh phúc đẹp như mơ của anh. Nhưng vào một buổi tối, lúc trâu bò về chuồng, anh bước vào đến cổng nhà anh, đói khát và nhễ nhại mồ hôi, lắc lư dưới sức nặng của món quà yêu dấu, thì Katêrinka bắt đầu khóc. Sađaep dừng lại, bằng đôi mắt mờ đục anh nhìn người đàn bà đang khóc, và bộ râu của anh biến thành lửa, như thể anh đang mang trong người dòng máu của ai khác từ chiến tranh về.

Bệnh tật và sự thức tỉnh trước cuộc sống đã mang lại cho anh những kho báu lạ lùng, mà từ trước đến nay vẫn ở bên ngoài lối sống nhạt nhẽo của anh. Anh nhìn với đôi mắt phù thủy mọi thứ xung quanh anh, và, bằng một cách không-mujich, anh mê thích ngắm nhìn mọi thứ, từ  con muỗi đang bay đến cái cây đang mọc; tuy nhiên, người mujich trong anh đã chiến thắng con người. Suốt mùa đông anh làm việc cật lực để khôi phục lại cái trại đã đổ nát, dọn dẹp vườn tược và dựng nhiều tổ sáo đá trước nhà, như cố tìm cách nhử hạnh phúc vào trong ngôi nhà tường đã mọc rêu. Nhưng lũ sáo đá không bao giờ đến ở, những cây táo bị sâu, và tính vui cười của Katêrinka bay đi cùng với tuyết. Rồi anh lo lắng chờ đợi những đứa con, nhưng cho dù đã có lần anh mơ thấy có đàn con lúc nhúc, rốt cuộc vẫn không có đứa con nào. Katêrinka thường chạy sang chơi các nhà hàng xóm, trông nàng có lẽ còn già hơn cả bà mẹ nàng. Nhưng một hôm nàng từ nơi đánh đống cỏ khô trở về trông rạng rỡ và trẻ trung; nàng lặng im buồn bã ngồi bên cửa sổ cả buổi tối. Ban đêm khi trâu bò gia súc trong nhà ngủ cả, Katêrinka bắt đầu cười trong mơ. Từ trên nóc lò sưởi bước xuống, Sađaep sa sầm mặt đứng quan sát nàng; được chiếu sáng bởi ánh trăng rọi qua khe cửa, nàng đang quằn quại lật mình trên giường. Dù cho Sađaep săm soi đến đâu qua khe hở nhìn vào bí mật của Katêrinka, đêm ấy anh cũng không tìm thấy điều gì. Xung quanh tất cả đều vắng lặng, thậm chí không có lấy một cơn gió nhẹ bên ngoài cửa sổ.

Hết mưa thì đến nắng, và nụ cười đã mất trở lại ngôi nhà. Một mình với những ý nghĩ riêng tư, Katêrinka hát những bài hát cũ của các cô gái trẻ, và mặc dầu nàng không giữ được giọng ca đến cuối bài, chồng nàng cũng hứng chí ở mỗi chỗ nàng chuyển tông. Niềm vui lại tràn ngập căn nhà kẽo kẹt này, chim véo von hót trên cây, như thể chúng được mua về để hót. Sađaep ngủ ngon lành như ngọn núi, được gió ru, và chỉ với bức thư cuối cùng này của vợ, dấu vết của một hạnh phúc khác mới đánh thức anh khỏi trạng thái lờ đờ nặng nề. Bỏ dở công việc trên thị trấn huyện lỵ liên quan đến một món nợ, anh quay về nhà, giống như về một nấm mồ không tránh khỏi.

Người chủ quán đã báo trước sự thật, ngay cả những con chó cũng chạy biến đi hết. Không có ai chào hỏi người chủ. Buộc lừa vào hàng rào, Sađaep chăm chú nhìn vào các lỗ cửa sổ gọi mãi không thấy ai trả lời. Một trụ băng dưới mái hiên nhỏ những giọt buồn bã, Sađaep giận dữ quất nó bằng roi da, và tiếp tục đợi, nhưng vợ anh không có đó. Rồi một thằng bé đang bơi thuyền trên mặt ao tan băng kêu lên với anh rằng Katêrinka đang ở khu định cư mới với Seryogia. Sađaep đóng cửa chớp lại và nhìn quanh: con lừa cái nhà hàng xóm đi tìm đực, đang cọ mình vào một thân cây, và hai bà già bên giếng nước trân trân nhìn anh với nỗi bối rối của anh.

Thế rồi, mình mặc chiếc caftan và cầm theo chiếc roi, Sađaep lên đường đến khu định cư mới, và một lần nữa hai bàn tay anh lại giơ ra phía trước, như thể sẵn sàng làm điều gì thật độc ác.

Khi đi qua khu đất nhà thờ, anh cố tìm trong Seryogia đức tính gì đã cám dỗ được Katêrinka phản bội anh. Hắn là một kẻ chơi bời phóng đãng, mơ tái cơ cấu nền kinh tế mujich để cho những quả táo bằng vàng có thể mọc ra từ một mảnh vườn chung. Vì sự phi lý đó hắn đã bị trừng phạt bằng lao động trong ủy ban hành chính huyện. Hắn sống cùng với người anh góa vợ, hai anh em chăng dây đồng lên các cột khắp xung quanh nhà. Những buổi tối mùa đông, bọn thanh niên thường tụ tập ở đó dán mắt nhìn và gật gù kính nể chiếc máy thu thanh tự tạo khi Seryogia lắng nghe những chuyện chưa ai từng nghe…Gần đến nơi, Sađaep nhếch mép cười khẩy và nghiêng nghiêng đầu nhìn ráng chiều tà đang nhuộm đỏ các lùm cây. Các bà già chen chúc trước cổng. Khi đi qua trước mặt Sađaep, ánh nhìn thù hằn trong con mắt họ còn đe dọa dữ dằn hơn cả chiếc roi da Sađaep cầm trong tay. Không có ai trong số họ dám theo chân anh vào trong bóng tối dày đặc phía trong cổng.

Đầu tiên trong tầm mắt của Sađaep chỉ có những vành tím tròn xoay nhún nhảy, nhưng trái tim anh đã đánh hơi thấy sự có mặt tội lỗi của Katerrinka. Sự im lặng không báo trước điều gì tốt lành, và anh nghi ngờ đổi từ chân nọ sang chân kia, không hoàn toàn cả quyết đi ngay vào bất hạnh của người khác. Nhưng điềm báo của anh quả không sai: từ sáng sớm, Seriogia bị một thân cây đổ rơi trúng, và bây giờ nằm trên một chiếc ghế dài giữa túp lều, hắn đang hấp hối. Gương mặt vàng khè của hắn trên chiếc gối bóng lên trong suốt, như có một ánh nến rọi vào. Hắn nằm bất động nhưng trong cơ thể vẫn có những dòng chảy li ti hối hả, và môi hắn hé ra thành một nụ cười khát khao đau đớn. Để làm dịu đi cơn đau của hắn, người ta đã đặt dưới tai hắn chiếc máy thu thanh nhỏ, và chỉ mình nó là còn vẻ sống động với một lóe sáng lạnh lẽo trong bóng tối của căn lều. Sađaep trông thấy vợ. Quỳ sát bên hắn, Katêrinka thương xót nhìn đăm đắm khuôn mặt người yêu và lặp lại từng cử động của hắn như thể chính nàng đang nghe thấy điều đã làm cho Seryogia  nở nụ cười cuối cùng.

Cuộc gặp gỡ lạ thường này đã tiếp diễn từ sáng sớm, và ngay cả Sađaep cũng không dám làm cho nó gián đoạn. Anh ho, và Katêrinka ngẩng lên nhìn quanh. Một làn gió lướt qua trên khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nàng, nàng hình như không nhận thấy chiếc roi da trong tay chồng. Nóng rực lên vì hơi ấm bàn tay nắm chặt của Sađaep, ngọn roi quằn quại cựa quậy, và phải cố gắng Sađaep mới kìm lại được chuyển động tàn độc của nó. Đôi mắt cụp xuống, Sađaep bước đến đầu giường kẻ tình địch của mình không bị gì cản lại.

“Thế nào, tao thấy mày không còn chạy rông như chó dái được nữa rồi thì phải?” Anh hỏi một cách cay đắng, mở lượng tha thứ cho kẻ không còn cần đến nó nữa. Seryogia cựa quậy, và với cánh tay run rẩy, bị cào tướp, hắn kéo mảnh chăn da cừu lên che đôi chân bị dập nát.

“Lạnh hả? Trong khi mày còn sống thì mọi thứ đều lạnh giá; nó sẽ trở nên ấm áp khi mày qua thế giới bên kia” Sađaep nói thêm một cách lạnh lùng và trịnh trọng, và – ngạc nhiên bởi cái sức mạnh nó khiến anh điềm tĩnh đến thế – anh giúp Seryogia kéo tấm chăn lên.

“Xin anh đừng nói chết chóc làm anh ấy sợ, anh ấy đã khốn khổ lắm rồi” Katêrinka thốt lên, một luồng hơi ớn lạnh phả ra từ mặt nàng khiến Sađaep im tiếng, rồi không hề sợ hãi, nàng đau đớn ép chặt thân nàng vào cái xác còn chưa được khóc thương đúng mức, như thể chỉ có nàng ở đó một mình với hắn.

Seryogia thì hình như đang ngủ, chiếc radio rơi khỏi má hắn. Sađaep lén nhặt nó lên và áp nó vào tai mình. Một âm thanh trống rỗng ngèn nghẹt vang lên, và phải gắng hết sức tập trung toàn bộ tâm trí anh mới có thể phân biệt được tiếng kèn co than thở, nó lượn vòng, kéo dài và  uyển chuyển giống như những tiếng thở dài. Tiếng nhạc đến với anh từ nơi xa xăm và bí mật, như thể vượt qua hàng trăm cánh cửa đóng kín; nhưng trong đó vẫn lộ rõ bí mật của Katêrinka, rõ ràng hơn trong cái đêm bão tố ấy nhiều. Như một phản xạ mê tín, anh giật tay ra và liếc vội xung quanh: không có ai đang nhìn anh, và một lần nữa, toát cả mồ hôi và đỏ bừng cả người, anh lại lén lút nghe cái thế giới đầy quyến rũ và kinh khủng của Seryogia. Bản nhạc thay đổi, và một giọng người rì rầm bóng gió, tra tấn Sađaep về chuyện những đứa con mà dù cầu nguyện bao nhiêu đi nữa, số phận vẫn không chịu ban cho anh. Nó tra tấn anh về chuyện những con ngưạ, niềm đam mê xưa cũ và không thể  nào bỏ được của anh, chỉ nghĩ đến nó là mặt anh lạnh buốt. Nó tra tấn anh về mọi thứ thân thiết nhất với một người đàn ông sống trên đời. Lắc đầu như thể né tránh cảnh hạnh phúc gần gũi mê hồn, anh lao ra khỏi căn lều. Ra đến cổng, anh va phải ông bác sĩ mà người anh của Seryogia mời đến. Đến tận khuya, các bà già mới đưa Katerrinka về nhà và để nàng đứng lại trước cửa. Từ trên bếp lò Sađaep trông thấy hai tay nàng quờ quạng trong đau đớn, nàng nặng nề lần vào đến giường. Lòng đầy u uất vì yêu và hận thù, Sađaep trèo xuống khỏi lò sưởi và đến ngồi bên nàng.

Trong nỗi sợ đã chai lỳ, nàng sửa soạn để sẵn sàng chịu trận, Katêrinka nhìn chằm chằm vào gương mặt méo xẹo vì giận dữ của chồng. Lúc này, gần như không dám thở, anh nghiêng xuống và ôm lấy vai nàng.

“Em bé bỏng, tội nghiệp của tôi” anh thầm thì, hết sức khổ sở vì không tìm được lời nào âu yếm dịu dàng hơn.

Nàng chậm rãi lết vào góc, nhưng khi mớ râu dài đỏ quạch của anh vừa quết vào má nàng, nàng giật phắt ra khỏi anh và gào to lên như thể bị bỏng. Bị giáng đòn bất ngờ vì tiếng thét của Katêrinka, Sađaep bối rối đi đi lại lại ở khoảng giữa căn nhà, và, thêm một lần nữa hòn than hồng của lòng khoan dung vẫn ủ lâu trong lòng chưa dùng đến lại rực lên  trong anh. Anh run rẩy bước tới lò sưởi. Vì suốt ngày qua nó chưa được đốt lên, nên lúc này nó lạnh giá và cái giá lạnh thấm vào những hình ảnh tưởng tượng thưa thớt và hoang dại của anh trong giấc ngủ mơ màng. Trong những giâc mơ khủng khiếp ấy có hình ảnh cô gái Mônđavi. Nàng đang vẫy tay ra hiệu chào biệt Sađaep và từ những bàn tay của nàng  thoát ra những âm thanh quyến rũ. Vào lúc trời sắp sắng, trong căn nhà nhỏ không khí rất ẩm ướt. Những bông tuyết tệ hại bắt đầu rơi bên ngoài cửa sổ. Katêrinka đã đi rồi. Sađaep ngồi trên ghế dài, nghe tiếng gì đó rền rĩ dưới lòng đất, rồi anh bước ra vườn, nhưng ở ngoài đó còn khó chịu hơn, nên anh lại vào nhà. Đúng lúc đó, ông chủ tịch Sôrôkin bước vào, mang theo tờ thông báo xử phạt về khoản nợ mà anh chưa chịu trả.

Lùn tịt và huênh hoang như một con chồn hôi, lão mujich này chưa bao giờ được Sađaep ưa. Lúc nào cũng thấy lão hối hả đi đâu đó và hổn hà hổn hển, như thể đang thi hành một nhiệm vụ độc ác nào đó. Lão đặt bản thông báo lên bàn trước mặt Sađaep và ra lệnh cho anh ký vào.

“Tôi chỉ biết đọc chữ in, nhưng không biết viết” Sađaep nói đơn giản.

“Cứ đánh dấu X vào đây coi như anh đã đọc, rồi ngày mai chúng tôi sẽ điền vào” Sôrôkin nói bằng giọng cáu kỉnh.

Hai đôi mắt gặp nhau, và cả hai quay đi như thể người này bắt gặp người kia đang nói dối.

“Tôi đang gặp rắc rối, ông Sôrôkin ạ” chủ nhà thú nhận giọng mờ đục “Thằng Seryogia đã mò vào giường nhà tôi”

“Thế thì có gì lạ?” ông khách lạnh lùng trả lời, thậm chí chẳng thèm đưa đẩy câu chuyện nóng bỏng này bằng một lời bịa đặt tầm phào nhất.

“Katêrinka là vợ tôi… tôi đã  ăn ở với cô ấy mười một năm nay!” Sađaep hét lên, không hiểu sao tự đập vào cổ mình; khi làm thế, bộ râu của anh bắt đầu phừng phừng lên như một bụi cây khô bén lửa.

“Vậy thì sao?” vị khách trả lời, thậm chí còn thờ ơ hơn khi gã vuốt lại cho thẳng các mép quăn của tờ thông báo.

“Tôi yêu cô ấy…” Sađaep cẩn thận nhả ra từng chữ, bằng đủ cách cố làm mủi lòng tay quan liêu này.

Sôrôkin đứng dậy.

“Anh đang nói gì thế, bất hạnh à! Anh gặp vận may thì có. Tay Seryogia chết sáng nay rồi. Bây giờ mọi việc đều ổn” Lão nói với nét mặt độc ác và chán ngấy. Vừa quay đi lão vừa dùng mấy đầu ngón tay gõ lên bậu cửa sổ như gõ trống.

Sađaep ngồi cúi gằm xuống tờ thông báo; tờ giấy sột soạt nhè nhẹ theo hơi thở của anh. Vào cái lúc anh biết tin Seriogia chết, một niềm hân hoan mãnh liệt bùng nổ trong anh, nhưng ngay lập tức anh hình dung ra điều gì sẽ đến – trước hết Katêrinka bị nỗi đau đớn hạ gục, và điều ấy phần nào làm giảm bớt nỗi căm ghét và ghen tuông của anh. Trong trí tưởng tượng bấn loạn của anh, bản thông báo to dần lên, to bằng cả mặt bàn, và cứ to lên mãi; nó giận dữ dựng đứng lên, nó xông vào đánh và bóp cổ anh…Tuân theo một sức mạnh cưỡng bức kỳ lạ, Sađaep vội vã vò nhàu tờ giấy, và bất ngờ bỏ tọt nó vào mồm và chậm rãi nhai cái món ăn bắt buộc và phát ớn này ngay trước mặt ông chủ tích mặt tái nhợt. Rồi sau khi đã nuốt, anh đưa cặp mắt trống rỗng ngó nhìn Sôrôkin, lão ta lúc này trông cực kỳ bé nhỏ.

“Anh sẽ phải trả lời chuyện này” ông khách nói sau một lúc bối rối. Lão lúng túng một lúc lâu cài các cúc áo khoác và đội mũ lên đầu, như thể nấn ná chờ sự hối lỗi cho sự nhục mạ vừa rồi.

“Ông tưởng ông ghê gớm, nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn” anh nói với theo lão ta.

Sau khi Sôrôkin đi khỏi, Sađaep lôi chiếc túi ra và bắt đầu chuẩn bị để lên đường. Trong khi chuẩn bị, anh làm vỡ một chiếc đĩa sứ, và mặc dầu không hề vội vàng, anh cũng không thu dọn các mảnh vỡ. Mặc quần áo xong, anh bước qua mảnh sân ra ngoài đường. Chẳng có gì níu giữ anh ở lại cái ngôi mồ của tình thương bị phản bội này. Hơi ấm của mặt trời bao bọc lấy con người buồn nản ra đi, nhưng dù không có nó thì anh cũng không cảm thấy lạnh lẽo, vì cơn điên giận vẫn còn đang ngùn ngụt trong người anh. Anh dừng lại trước cổng vườn huýt gió gọi mấy con chó đang ngồi bên giếng nước. Chúng vẫy đuôi và vặn vẹo mình một cách khó chịu, nhưng vẫn ngồi. Anh gọi tên chúng, bực bội vỗ mạnh đầu gối, nhưng một con chó quay lưng lại phía anh, còn con kia làm bộ như đang chăm chú nhìn một con rệp bò trên một thân cây mới đốn. Sađaep bỏ đi thẳng.

Đầu tiên anh hướng tới nhà bà chị góa chồng ở huyện bên và xin vào ở nhờ như một người làm công. Chị anh, tóc cũng đỏ quạch như tất cả dòng họ Sađaep, tóc đỏ và dáng vóc cóc cáy vì nghèo túng, gắt ầm ĩ một hồi, nhưng gắt mắng xong lại mang đến cho anh một bát xúp và chỉ cho anh một chỗ nằm chung với bầy con gày guộc của chị. Anh qua một tháng vô gia cư đầu tiên ở đây, cày đất và cầu nguyện ông Chúa mujich của anh giải thoát cho anh khỏi vô vàn những âu lo vô ích. Nhưng rồi một tờ trát đến, gọi anh ra tòa, và Sađaep biến đi phương nào không rõ.

Bây giờ những con đường mở ra trước mặt anh, và anh đến Parôsyatnhikavơ đúng vào mùa cắt cỏ. Siêng năng cần mẫn trong cương vị mới, anh hoàn toàn vừa lòng với đồng tiền công còm cõi mà chủ thí cho. Nhưng rồi một hôm anh vừa ra đến đồng cỏ đang phát cỏ như những người khác thì một người thư ký lù lù hiện ra với một tờ giấy đòi Sađaep. Công việc đang bộn bề giữa mùa thời tiết tuyệt đẹp, nên không có ai để áp giải kẻ tội phạm. Do đó người ta cho con bé Aksiusha mười tuổi đi hộ tống anh năm dặm lên hầu tòa. Lần đầu tiên trong đời, Sađaep bắt đầu cười, anh nắm lấy tay con bé và thẳng hướng lên đường.

Họ ra đi lúc trời còn sương. Gần trưa, một đám mây hồng rực rỡ bồng bềnh trên bầu trời xanh thẳm bỗng chuyển thành cơn giận dữ không sao tả nổi ầm oàng và trải dài mãi ra. Sađaep và Aksiusha  chỉ còn kịp chạy vội đến trú dưới một cây thông trong một cái trảng trước khi cơn mưa như trút đổ xuống những cánh đồng khô bụi. Con bé sợ sấm chớp, nó ép chặt người vào thân cây và run rẩy, nhưng nó không lúc nào buông tay Sađaep ra.  Rồi, lấy thân người che cho Aksiusha  khỏi làn nước, anh bắt đầu kể cho nó nghe những câu chuyện mà mẹ anh đã từng kể cho anh để quãng đời thơ ấu buồn thảm của anh sáng sủa lên đôi chút. Anh kể về những con quỷ lông lá và ngu ngốc gây ra những mối bất hòa, những mụ phù thủy và những nhà thông thái chột mắt, và trong số những con  ma vô hại mà người ta đã nhẵn mặt, chính Ilya là kẻ nắm giữ sấm sét trong tay như nắm giữ những con chim ưng. Sađaep chưa bao giờ kể như thế này cho ai, giọng anh đan xen với tiếng răng rắc trong rừng, và ý nghĩa của câu chuyện anh kể khớp với tiếng sấm và câu chuyện kể hung dữ của cơn dông tố. Aksiusha chăm chú nghe câu chuyện hoang dại của Sađaep hơn là những tiếng gầm khủng khiếp từ những đám mây dông. 

Rồi mặt trời lại bắt đầu trải lên cánh đồng một dải lụa rộng màu xanh biếc, chạm đến cả đôi chân trần của Aksiusha. Mưa ngừng rơi, những giọt còn đọng trên các cành và bay trong không khí long lanh; trong đám cỏ dưới chân họ một con châu chấu không sợ bị người ta dẫm lên, bắt đầu vui vẻ cất tiếng…và chỉ còn ở nơi rất xa, dưới cầu vồng, một cái bụng tối tăm và chưa được thỏa mãn vẫn còn sôi ùng ục.

“Thế nào, chúng ta đi chứ?” Con bé ranh mãnh liếc nhìn anh từ một bên và, nhớ lại lời khuyên răn vui đùa của những người lớn, với đầy tinh thần trách nhiệm, nó kéo tay Sađaep lên đường. Suốt quãng đường lên đến huyện lỵ, anh không trao đổi với con bé – kẻ áp giải không thể mua chuộc của anh – thêm một lời nào nữa, như thể mối nguy hiểm của cơn dông vừa qua không hề làm hai người xích lại gần nhau chút nào.

   Trước rạng đông anh trốn khỏi nhà giam huyện, và một tuần sau anh làm việc như một người gác rừng.

Các vùng miền nam đang trở thành đồi trọc cả, vì trong lãnh thổ của Sađaep dưới mỗi cây đều có một tên lâm tặc. Bọn lâm tặc này hung dữ ghê gớm trong việc bảo vệ cái quyền cướp rừng của chúng. Chúng tóm cổ người tiền nhiệm của Sađaep, thọc một cái sào qua các ống tay áo của anh ta, và tống anh ta đi lang thang ngang dọc khắp khu rừng. Khu rừng này vốn là một khu rừng rậm, hoang, từ thời xưa đã mang tiếng dữ vì những lời đồn đại rằng đến mùa thu, những hòn đá trong rừng thì ca hát, và những cây thông thì chạy từ chỗ này sang chỗ khác. Không có ai sống trong rừng, nên Sađaep nhận lấy chỗ trống. Sađaep đã làm cho người ta sợ vì bộ dạng quái đản của anh. Những kẻ ăn cắp vặt chắc sẽ không có việc làm và con cái chúng không có gì để ăn nếu không có chuyện xảy ra là một buổi tối khi anh đang ngồi chân trần bên một con mương ngắm nhìn lũ cung quăng bơi lượn trong nước, thì một bụi rậm rẽ ra và từ đó bước ra một anh dân quân mặc đồng phục mang theo một tờ lệnh bắt Sađaep. Sađaep cười và đi vào trong trạm gác để đi giày. Khi người dân quân nóng ruột đi theo anh vào, thì thấy trong trạm gác không có ai ngoài một con cú mà Sađaep đã thương hại mang từ trong rừng về hôm trước. Con cú đứng trên bàn và nhìn trừng trừng vị đại diện nhà nước, anh ta chùn lại choáng váng vì sự xúc phạm này. Sađaep đã tan biến trong bóng tối của rừng sâu.

Đây, đêm đầu tiên của cuộc đời lang thang của anh trôi qua trên một chồng gỗ. Đánh thức anh dậy là một con gián chui vào lỗ mũi nở rộng của anh. Một con chim lao như tên bắn trong không trung, và một loại chim gõ kiến đầu đỏ đã chán gõ vào thân cây, đang chăm chú quan sát vị khách mới đến. Sađaep nhớ lại sự việc ngày hôm trước và phá ra cười những con người kỳ cục cứ viết mãi về tội lỗi của anh mà không biết chán. Nhưng tội lỗi vốn thích kéo bè kéo cánh. Ngoài cái tội liên quan đến món nợ chưa trả, và ăn một cách trái phép tờ thông báo, nay lại thêm tội không chịu trình diện trước tòa án; và khi đã bỏ chạy và lẩn trốn như thế này, thì rõ ràng anh đã vĩnh viễn tự tách mình ra khỏi thế giới. Thế là kẻ lang thang ra đời.

Anh ta không còn  ở nơi nào nhất định, mà liên tục di chuyển. Anh cứ đi, và người ta cứ viết. Không ai quan tâm đến bản thân Sađaep, người ta chỉ quan tâm đến những tội lỗi của anh. Lâu lâu, chán với cảnh trơ trọi một mình một bóng vô cồng rồi nghề, anh kiếm một công việc; mùa hè thì chăn cừu, mùa đông thì làm một chân bưu tá trong huyện, mùa xuân anh đóng bè gỗ, và mùa thu tôi gặp anh trên sông nơi tôi đi tìm thứ cỏ diệu kỳ của tuổi thơ mà tôi không biết tên. Có lẽ tôi cũng bị cám dỗ bởi tiếng đập nước kỳ thú. Từ ngọn đồi nhỏ đi xuống, tôi gặp Sađaep; khi anh ta gắng sức làm điều gì trông anh ta như một người phù thủy. Anh đang nằm trên bè gỗ một tay giữ một khúc gỗ và tay kia cầm chiếc môi gỗ hình thù kỳ dị, lâu lâu lại đập chúng xuống nước. Nửa giờ sau khi chúng tôi đã thăm dò đủ về nhau và anh đã tin rằng tôi không có ý định thi hành pháp luật đối với anh, trong lúc mổ mẻ cá mới câu được, anh cười giải thích với tôi cách anh tìm bắt cá trê. Trong những ngày yên lặng, tiếng đập nước của anh vang đi rất xa. Lũ cá trê tò mò về loại tiếng động này kéo nhau đến gần, và giống như chịu một hình phạt về tội tò mò, chúng kéo nhau vào nằm trong nồi xúp của Sađaep.

Chúng tôi ngồi bên đống lửa. Trên bờ sông dốc đứng che phủ bởi những cây anh đào, cây dương tươi tốt, mùa hè đỏ ối buồn bã đang ở vào đoạn cuối cùng tàn tạ của nó. Khói làm  cay mắt tôi, và chả biết cái gì cứ bắt tôi phải liên tục ném cành cây khô vào lửa. Trong cuộc trò chuyện cực kỳ kiệm lời, Sađaep không nói một lời nào về người đàn bà Mônđavi của anh, nhưng tôi thấy dường như anh luôn nghĩ về chị ta, và một ngày nào đó, trang trọng và hiền lành, anh bước vào sân nhà chị trong khi chồng chị đang điên cuồng chửi bới một con lợn. Anh đứng đó một lúc, khiến người chồng cảnh giác chú ý, rồi anh bỏ đi mãi mãi. Tuy nhiên Sađaep không hề xác nhận những hình ảnh phỏng đoán ấy của tôi.

“Một năm nữa, tôi sẽ thành quỷ hoàn toàn, một con quỷ thật sự!” người lang thang nói một cách nặng nhọc, và tôi có cảm tưởng anh đã là thế rồi – hiện thân của một thành kiến mọc sừng. “Một con quỷ, thật đấy! Cậu có thể bước đi xuyên qua người nó, còn nó chỉ cười…”

Nồi cá đã chín, nhưng chỉ có một chiếc thìa. Tôi lên đường, tuy chưa tìm thấy lá cỏ của mình. Ngày trở nên mờ tối, cây cối trông buồn bã, con đường tím ngát màu hoa tử đinh hương, và các cánh đồng đầm đìa ướt. Tôi thấy dường như tôi không nghi ngờ gì về chuyện tôi sẽ gặp một người cưỡi ngựa phóng ngang qua tôi, tay giơ cao tờ giấy về Sađaep, trong đó chỉ thị khâu bó anh ta vào một chiếc chiếu và gửi anh về huyện để thẩm vấn. Lúc đó, tôi hầu như tin vào cái truyền thuyết của người mujich về một con gấu, rằng trước mắt kẻ chứng kiến, gần mép rừng, nó đi ra, cúi chào cái cây mà nó đã sống trong đó cả đời, rồi cứ thế đi mãi vào rừng sâu âm u không bao giờ quay trở lại.

Read Full Post »

Nguyên Hạ – Lê Nguyễn

( Những ngày đợi Tết)

Những giọt mưa triền miên rơi rơi mãi …Một trận tuyết phủ đầy, trắng cả vườn sau sân trước…

Con đường trước nhà ngập tràn một màu trắng đục miên man…

Gần hơn mười năm qua…nơi chỗ tôi đang ở lại có một trận tuyết lớn như năm nay .

Sau ba ngày nằm yên trong nhà chờ Tuyết tan, mọi người túa ra đường chụp ảnh và đùa vui cùng tuyết trắng.

Tuần sau…khi nắng vàng đổ dài trên vạn vật…mọi sinh hoạt lại bình thường, nắng ấm lại chan hòa trên ngọn cây bờ cỏ..

Những chồi xanh đang ẩn mình chờ nắng mới.

Thời tiết năm nay lạnh giá hơn nhũng năm qua …Thành phố Atlanta ,ngập tràn trong giá buốt ….cái cảm giác gây gây lạnh của những ngày đông tháng giá phủ tràn lên nơi tôi đang sinh sống .

..Bây giờ mới giữa tháng Giêng…Cái cảm giác lạnh giá làm tâm hồn mỗi người thêm lạnh lẽo …hay do chính nội tâm tôi cảm nhận trước mọi người …

Lòng tôi chạnh nhớ đến những ngày sắp Tết nơi quê nhà …Cũng những ngọn gió hiu hiu …những giọt mưa phùn mát dịu bắt đầu cho một sắc xuân…

Đâu đây…những giọt mưa phùn còn sót lại ,rớt rơi trên cành cây ngọn cỏ , những chồi non còn ẩn mình ngóng đợi nắng xuân sang

.Ngọn gió heo may của những ngày đông cỏn rơi rớt …cảnh vật sau con mưa sẽ tưng bừng rộn rã .

Những ngày mưa phùn ,gió bấc, tuyết sẽ tan dần, nhường chỗ cho những ngày nắng ráo ,vạn vật chuyển mình để chờ đón chúa xuân..

Thời khắc này làm nôn nao những người sống tha phương, hồi ức trở về trong trí nhớ già nua của người xa xứ…Vọng nhớ về thành phố Qui nhơn…nơi tôi lớn lên từ tuổi thơ cho đến ngà xuất giá.

Những ngày giáp Tết ở quê tôi ,đất Bình định dấu yêu …Xứ Nẫu thân thương cùng tuổi thanh Xuân của đời tôi …hiện ra trước mắt tôi..

Những.ngày xa xưa ấy tôi còn nhớ mãi:

Ôi cảnh tượng thần tiên này làm sao tôi quên được …

Ở quê tôi thường bắt đầu dậy lên từ ngày 23 tháng chạp ,tức ngày đưa ông Táo về trời …

Tiếng pháo bắt đầu râm ran từ sau giờ ngọ ,hầu như nhà nào cũng chuẩn bị một phong pháo để tiễn chân ông Táo..

Thường các chủ buôn giàu có thì mâm cao ,pháo tràng ,heo quay, gà luộc….

Còn cỡ trung cũng sắm chiếc đầu heo, nồi cháo vịt, ,mâm chè

…Với kẻ cùng đinh thì cũng ráng mua bình bông,nải chuối , đĩa thèo lèo…

Mọi nhà đều nổ ran tiếng Pháo tiễn chân Ông táo lên trời..”.Hoài mong người sẽ đẹp lòng báo cáo thành quả của mỗi gia đình trong suốt một năm …và mong ơn trên phù hộ cho năm sau mỹ mãn hơn năm cũ.

Các học trò xa nhà lũ lượt trở lại nhà sau một năm xa cách.

Khách tha phương lo gom góp chút tiền gởi về nhà …

Nghoảnh lại, mới hay đã qua hết một năm phiêu bạt …

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan

Trong lúc gần xa ,pháo nổ ran

Giũ áo Phong sương trên gát trọ

Lặng nhìn thiên hạ đón Xuân sang …

(Thế Lữ)

Bây giờ chúng ta đang chờ đón một cái Tết tha phương ..

.Ngoài kia ,các chợ Tết đã bày bán những hàng hóa xanh xanh ,đỏ đỏ ,những cành mai,cành đào được kết bằng vải lụa hay nylon ,rực rỡ ,vô hồn do bàn tay con người chế tạo …

Hệt như tâm hồn ai dở dang dậy lên một chút bâng khuâng buồn …

Cát bụi tung trời ,đường vất vả .

Còn đời nhưng hãy tạm dừng chân

Tưởng rằng trong chốn xa xăm ấy

Chẳng biết vui buồn đón gió Xuân

(Thế Lữ)

TẾt năm xưa nơi quê nhà là dịp để gia đình đoàn tụ ,mọi người đi làm ăn ở phương xa ,các học sinh đi học xa nhà

Bao người náo nức trở về nhà ăn tết với người thân ,gặp lại cha mẹ ,anh em ,bạn cũ ,Cô láng giềng mỏi mắt chờ mong

.Bao mong đợi hẹn hò ,chỉ mong cho mau đến tết

Bây giờ trên đất khách ,chúng ta không hề có cái cảm giác mong đợi người thân trở về trong ngày giáp tết, ,không còn thấy cái cảnh chạy kiếm tiền gởi cho con trẻ về xe ,trở về mái nhà thân yêu sau bao tháng ngày xa cách …

Không còn nữa cái cảm giác xôn xao khi ngồi trên chuyến tàu đêm mong cho quãng đường ngắn lại

…Chặng đường dài từ Ga Bình triệu đến ga Diêu trì… đi qua những làng mạc xơ xác mái rạ ,những thôn xóm ẩn mình sau lũy tre xanh ,những mùng mền chiếu gối …được đem ra giặt giũ “tất niên” ,

Vẳng từ xa tiếng kêu eng éc của chú heo thịt béo tròn…nay bị đem ra xẻ thịt ,vài nhà đậu tay nhau, chia nhau mấy cân thịt heo để gói bánh chưng , bánh tét.

,Trong sân nhà vài người cùng nhau chùi lại mấy bộ Lư đồng ,ấm tích ..xa xa vài kẻ đang sửa lại bờ giậu,luống hoa vạn thọ ,,Cắt tỉa mấy cành mai vàng, thược dược, đủ mọi sắc màu rực rỡ sân trước, vườn sau

+++

Hàng năm cứ gần ngày Tết đến ,ngoài việc chuẩn bị \bánh mứt ,dưa món ,gói bánh chưng, bánh tét ,Bì nem ,Chả lụa, bánh khô, bánh nổ..

Mẹ tôi còn chuẩn bị cho mỗi đứa con một vài bộ quần áo mới, đôi guốc hoa hoè xanh đỏ ,chiếc vòng đeo tay cùng đôi bông tai óng ánh….là tất cả niềm mong đợi của những đứa trẻ trang lứa với tôi ở thời gian xa xôi ấy , nỗi háo hức mong đợi của đám trẻ nhà quê thuở ấy…là tuổi thơ của chị em tôi.

..Khi tiếng pháo giao thừa nổ râm ran …

Sau khi đã cúng giao thừa …Thời khắc thiêng liêng bắt đầu năm mới

Mẹ tôi len lén tháo cẩn thận từng chiếc hoa tai lóng lánh đeo vào cho từng đứa con …đặt bên gối mỗi đứa bộ đồ xếp thẳng nếp còn thơm mùi mực in của vải ,đặt dưới chân giường đôi guốc mới vẽ hoa hòe ,hoa sói …

Sáng mồng một… chúng tôi chỉ đặt chân lên nó vài lần trong ba ngày tết ,rồi sau đó “chân đất vẫn hoàn chân đất”

…Chúng tôi thừa biết là từ lúc đó những phẩm vật mẹ tôi dày bao khó khổ mới có được …chúng tôi vờ như đang ngủ say, trong niềm vui bất tận.

Mẹ mua guốc mới ướm vào chân con

Con đi lướt thướt trên giường .

Đợi ngày mồng một ra đường mới tinh .

( Thơ Nguyễn Bính)

Sáng mồng một …Chúng tôi dậy thật sớm mặc vội vàng bộ cánh mới tinh ,chân đi guốc mới ,hoa tai ,vòng tay mới …tất cả đều mới ..

.Vọng từ xa ,,,tiếng pháo vẫn nổ râm ran ..chúng tôi chạy sang cửa các nhà trong xóm tìm nhặt những viên pháo sót nhét đầy túi áo…chạy tìm người đốt hộ..”.vì chúng tôi là con gái “…

.Rồi bọn trẻ chúng tôi, hoan hỉ nhận những phong bao lì xì màu đỏ thắm sau khi làm xong thủ tục

“Lí nhí chúc Xuân ông bà ‘”…

Ba ngày Tết sắp qua mau khi thấy mẹ tôi chuẩn bị “Cúng đưa” ,

Tối ba mươi Mẹ tôi đã nấu nướng mâm cỗ thịnh soạn để :

“làm lễ rước ông bà” ,trong ba ngày này ông bà ,những người đã khuất về ăn Tết với con cháu, ngày nào cũng “cúng cơm bữa ” ngày hai bận

.. Mồng ba Tết, mẹ tôi chuẩn bị đưa ông bà ,đồng thời tiễn những bà con ở các vùng quê về Qui Nhơn chơi tết…,sau bữa cơm này họ trở về quê …

Thường sáng Mồng Ba tết, mẹ tôi đi chợ mua thêm cái chân giò heo nhiều nạt ,con gà mái tơ ,mấy trái khổ qua nhồi thịt ,Đĩa chả trứng vịt cuộn tròn làm chả đỏ chả đen( chả khoanh tròn có nhiều thứ bên trong)

…Con gà sẽ được luộc vùa chín tới, chặt miếng xếp vào đĩa ,cái chân giò nấu với bún Tàu ,bát canh khổ qua nhồi thịt ( món khổ qua luôn phải có ),

Mang ý nghĩa “Cho cái khổ qua đi”…

Thêm món lòng gà xào bánh tráng …

Trong các món trong bữa cơm này tôi thích nhất là món này : tôi sẽ kể sơ cho các bạn cùng quê hương Bình Định có nhớ về món ăn này không ???Lòng gà xào bánh tráng …món ăn nhớ đời mà chắc là không một người dân xứ “nẫu” nào trong chúng ta có thể quên được

Lòng gà được xắt nhỏ , ức gà và chén tiết gà đã luộc :Ướp gia vị gồm củ hành tím ,nước mắm ngon ,chút đường ,tiêu …Bánh tráng mỏng bẻ nhỏ ,Chảo dầu phộng khử thơm với hành tím,xào chín mớ lòng Gà ,vớt ra ,cho thêm dầu vào chiên dòn tan mớ bánh tráng với số lòng Gà đã chín tới ,cháy sém ,vàng ươm ,quyện với mùi hành ngò, tiêu tỏi ,trút ra đĩa ăn nóng ,Giòn tan ,vị cay cay của tiêu đen ,thoảng chút đậm đà của nước mắm ngon ..

.Ôi sao mà ngon quá là ngon ,chúng ta không cần phải ăn nhiều món trong buổi cúng đưa nhà Mẹ tôi ,chỉ cần ăn một món “lòng gà xào bánh tráng ‘ của quê tôi …tôi nghĩ cũng có vài anh xa xứ muốn làm rể cho một nhà người Bình Định

..Có lẽ tôi là một người đã được sinh trưởng và lớn lên ở nơi chốn này nên tất cả những tập quán ,đầy tràn niềm luyến nhớ về xứ sở mình nên cảm nhận thế thôi????

,Những món ăn bình dị của xứ sở tôi …chỉ có thế thôi, nhưng,sao mà ngon quá ,sao mà nhớ quá ,sao mà ngậm ngùi nhớ tiếc biết chừng nào mới thôi …. Và nhớ là không quên “nướng hai cái bánh tráng trước khi thắp hương”

+++

Giờ đây nơi chốn xa xăm này ,sống giữa quê người với những phong tục dị biệt …mỗi năm chúng ta được hưởng hai cái tết :Tết Tây và Tết ta

T ất cả những người Việt xa quê cũng cố gắng tập cho con cháu nhớ về CỘI NGUỒN ..

Hằng năm ,chúng ta cũng sắm về những hàng hóa giống hệt những thứ mà ngày xưa chúng ta từng mua sắm khi mỗi khi Tết đến

,Những chậu cúc vàng nở rộ ,những bánh mứt gói kín đủ màu ,đi qua các cửa hàng quần áo ,chúng ta không phải chen lấn mua cho các con những bộ quần áo mới ,không còn được nhìn thấy con trẻ mừng rỡ khi mặc quần áo mới ,không rộn ràng khi mỗi lần tết đến…

Giờ đây mỗi lần tết đến …

Tôi cũng quen với những thói quen muôn thuở …xếp vào xe tất cả những món quen dùng cho ngày tết

,Tất cả nhũng phẩm vật của một lần mừng xuân mới mà không cần ki cóp từng đồng ,không cần phải tính toán khi mua sắm ,nhưng làm sao còn có được những cảm giác hoan hỉ của những ngày xa xưa ấy …nhưng không có được niềm vui rộn rã của năm xưa…những con , những cháu ở trời Tây không như những đứa trẻ nhà quê là tôi. ..của thuở năm xưa.

+++

Tấm lòng của người xa xứ là sự quan tâm đến người thân còn lại bên kia bờ đại dương : góp nhặt từng đồng gởi về cho người thân vui tết…nhiều khi số tiền gởi về : “bằng năm, bằng mười số tiền họ mua sắm cho gia đình họ vui tết bên này.”..

Nỗi nhớ nhung, tấm lòng của kẻ xa nhà thật đằm thắm mà bao người bên kia thấu hiểu: ..nhiều người ki cóp hàng bao nhiêu năm, chỉ đủ chi tiêu cho một lần về quê mình ăn tết, họ trở về với đầy đủ những quà cáp cho người thân…bao hoan hỉ, hay trách cứ của những người được nhận, ( đôi khi còn bị phiền trách vì phẩm chất món quà và đồng tiền chưa như ý họ…)

Nhưng có ai thấu cho kẻ “tha phương cầu thực”, cũng nuốt bao cay đắng , tích góp bao năm cho một lần trở về cố xứ….

Hạnh phúc ngập tràn khi được trở lại quê hương, trở lại mái nhà xưa …sau bao tháng năm xa cách…bao ngày tháng gom góp chắt chiu :” Cho một chuyến về thăm, cho một lần trở lại quê nhà”.

Rồi…khi trở lại…Sau khi bước vào bên kia cánh cửa của sân bay…một lần cuối bị hoạnh hoẹ của nhân viên phi trường đất mẹ…lại bị lột sạch những đồng tiền còn lại…Khi bình yên trong lòng thân bay suốt mấy chục giờ bay xuyên qua nửa vòng trái đất, trở về với công việc, trở về với những lo toan cho hết một kiếp người…

Mai vàng bên ấy

đã

nở

chưa???

Hôm nay là sáng hăm ba

Nhớ đưa ông Táo về thưa Ngọc Hoàng

Những con chim lạc tha phương trở về

Đường xa vạn dặm sơn khê

Những mong đón Tết quê nhà dấu yêu

Tha phương

nhớ

Tết

năm xưa…

Xứ Nẫu

xa xôi…Là quê mình.

Atlanta ( Những ngày giáp Tết)

Nguyên Hạ – Lê Nguyễn

Read Full Post »

Truyện ngắn của Nguyễn Trí

Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tổng cục Lâm nghiệp VN 2020

          Những ai đã từng tham quan rừng cấm X – và – từng được Vị, một kiểm lâm kiêm hướng dẫn viên du lịch làm nhiệm vụ dẫn đường sẽ, không bao giờ quên được anh. Và những ai thêm một lần quay lại X chắc chắn sẽ phone cho điều hành, yêu cầu Vị tiếp tục hành trình. Làm nghề mà được vậy thì quá tuyệt. Và để được vậy người làm nghề phải yêu cái mình đang làm như máu thịt. Hướng dẫn viên du lịch rất đặc thù. Ngoài trừ nói – mà – kiến trong lỗ phải bò ra hỏi ai kêu tui đó, còn phải am hiểu cái mình nói tận chân tơ kẻ tóc. Dân du lịch trước khi đến một miền đất nào đó tham khảo thiếu điều nát cả máy tính. Họ biết về nơi sẽ đến chả thua chi hướng dẫn viên. Chỉ cần không thông một điểm là người hướng dẫn mất linh trong mắt dân phượt liền. Những miền du lịch đã định hình, có bề dày lịch sử hướng dẫn viên phải nhão như cháo ăn liền. Muốn vậy phải đọc và phải đến. Khó, không khó nhưng tất nhiên là không dễ. Muốn khó thành dễ thì những ai chọn hướng dẫn du lịch làm nghề thì tốn không ít thời gian và tiền bạc. Bù lại, khi đã thành nghề anh chị sẽ được biết những kỳ vĩ, kỳ lạ, kỳ quái, kỳ khôi, thậm chí không hiểu làm sao người xưa đã làm được vậy.

        Nhưng rừng thì khác. Rừng xanh là của mẹ thiên nhiên. Rừng thâm trầm bí hiểm như lòng người vậy. Ca dao có câu “dò sông dò biển dễ dò…” Dễ dò, nhưng sông bể lòng người rừng xanh núi bạc là những thực thể không một ai hiểu được. Suốt đời ở rừng như Vị còn mơ hồ thì, khách du lịch chỉ thấy được cái đẹp hiện hữu chứ làm sao biết được sự kỳ bí trong lòng của hoang dã. Có câu chim kêu vượn hú. Nếu chỉ hú thôi là chưa đủ. Vượn còn hót nữa. Những ai từng đến sinh thái X chắc chắn biết. Sáng tinh mơ đang trong chăn nằm thưởng thức sự êm dịu của bình yên thì đột ngột tiếng của – chừng như – hàng trăm chú vượn vang lên lồng lộng. Dàn đồng ca ấy khiến con người ta bật dậy, kẻ mở cửa sổ, người tung cửa cái, tất cả đồng loạt ngước lên những tàng cổ thụ để xem loài sinh vật nào đang tạo ra những âm thanh như tiếng hát của thần thánh thế kia? Nhưng tinh mơ ở rừng sương mù lãng đãng ngay trên đầu du khách thì, trên cổ thụ cao những hai mươi mét ta nào thấy được gì. Du khách ở phố lần đầu nghe âm thanh ấy đã ngơ ngác hỏi và Vị trả lời:

–        Vượn đấy. Chúng hót để chào ngày mới.

     Chiếc Jin130 qua một đoạn đường rừng áng những mười lăm cây số. Du khách sẽ được Vị giới thiệu thế nào gọi là lán. Cũng dễ hiểu. Một đoạn cả vài trăm mét toàn một loại cây được gọi là lán. Lán Bằng lăng, lán Gõ đỏ. Đây là lán Bình linh. Cứ mỗi héc ta rừng nguyên sinh có mười một ngàn loài thực vật  – Vị bảo vậy – và du khách biết vậy. Biết để ngạc nhiên về sự kỳ bí của rừng chứ làm sao hiểu được. Và rừng như vậy được gọi là rừng giàu.

 Nghĩa là sao?

 Vị trả lời:

–        Một hécta cao su có thể thu bạc tỷ nhưng vẫn là rừng nghèo bởi chỉ một loại cây. Còn nguyên sinh giàu có bởi đa dạng thực vật. Thiên hạ có thể trồng một ngàn hecta cao su nhưng không thể trồng được một hécta nguyên sinh. Chỉ thiên nhiên làm được điều này và phải qua hàng ngàn năm mới được vậy. Vì thế, miễn cưỡng lắm người ta mới phá rừng để làm nương rẫy. Vô cớ mà phá là tội ác.

      Xe dừng lại ở một lán cây thẳng băng và đều như so đũa. Vị bảo rằng loại cây nầy có tên là Song Mây. Đứng trước lán rừng nầy du khách khó mà cưỡng lại sự tự sướng bằng cách chụp ảnh. Nắng xuyên qua rừng cây tạo nên những dòng sáng vàng tươi, lung linh như hào quang của điện quang trên đầu những pho tượng ở đền đài miếu mạo… Xe qua những con suối vắt trên đường. Ào… sóng nước tung lên… rất là tuyệt khi hình ảnh được ghi lại trong smart-phone đời mới.

      Xe dừng và, để đến được nơi cần đến phải đi bộ qua một đoạn đường rừng trên dưới năm cây số. Con đường chỉ tám mươi xăng ti mét chiều ngang, trước đây là đường của những người lấy rừng làm mạch sống. Khi X là du lịch sinh thái con đường được tu bổ bằng cách dùng đá núi và xi măng làm bằng để mời gọi du khách. Đường rừng nên cũng lên xuống xuống lên. Đang dẫn đầu Vị dừng lại và chỉ vào một bụi cây bên đường. Du khách ngạc nhiên khi thấy một con rắn lục màu xanh chỉ bằng chiếc đũa con đang ngủ. Đúng là mắt thần. Nhận ra sự khác lạ của màu xanh động vật lẫn trong màu xanh của thực vật không thần là chi? Tất cả tròn xoe mắt khi Vị cho họ mục kích một chiếc lá bằng ngón tay hay một cành khô nhỏ như cây tăm đang di chuyển trên chân của chúng… Có tiếng rú hốt hoảng của một cô gái vang lên. Cô ngồi xuống ôm chân. Ra là có hai con vắt đang đeo trên bắp chân trần. Vẻ hãi sợ hiện lên trong mắt cả tình lang của cô. Không sao đâu – Vị nói – Vắt đấy mà. Nói rồi anh ngồi xuống bắt hai chú vắt vo lại và ném vào bên trong con đường:

–        Có sao không anh? – Cô gái hỏi.

   Vị mở túi dết đưa cho các thành viên trong đoàn mỗi người một lọ “Dep”. Loại thuốc mỡ dùng để chống muỗi và vắt:

–        Không sao đâu. Cô yên tâm.

   Nơi đến cũng phải đến sau ngoài một tiếng băng rừng.  Nhìn cái gọi là bàu. Bàu Sấu. Một du khách kêu lên:

–        Đây là cái biển chứ bàu gì anh Vị.

–        Vâng… mùa nầy diện tích mặt nước từ một đến ba trăm héc ta. Mùa mưa thì những hai nghìn năm trăm hec lận đó anh.

      Các bạn phải – Vị tiếp tục – xuống phà ngang qua sông mới vào được khu sinh thái này. Dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Y, khi xuôi qua đây nó tiếp nhận thêm nước bàu Sấu đổ vào. Chính điều này đã giúp cho đất đai và cư dân sống ở hai bờ ở hạ lưu trù phú. Nếu không có sự cho đi và giữ lại của Bàu Sấu thì điều gì xảy ra? Các bạn hãy hình dung vào mùa mưa, nước của thượng nguồn và, từ những cụm rừng của khu du lịch sinh thái nầy tuôn xuống thì ngập lụt sẽ là điều không tránh khỏi. Và khi nắng hạn đến, nước đổ về chắc chắn không đủ để dòng sông luôn chảy nếu không có sự cho đi của Bàu Sấu:

–        Chắc có cá sấu nên gọi vậy phải không anh? – Một du khách hỏi.

–        Chắc chắn là vậy. Trước đây vài mươi năm, khi rừng còn ở tận quốc lộ thì khu vực nầy là nơi sinh sống của những tộc người thiểu số. Sau môt thời gian dài bị sự thiếu thốn của kinh tế vây hãm, dân cư các nơi đổ về tàn sát rừng để sống. Nếu không có sự cương quyết từ bên trên thì e rằng khu rừng nầy đã bê tông hóa. Bố tôi bảo rằng khi ông vào xứ này lập nghiệp thì cá sấu tự nhiên ở cái bàu này rất nhiều. Ngoài trừ cá sấu còn có những loài ngày nay đã vào sách đỏ như rùa vàng, cua đinh trắng…

–        Ngày nay thì sao anh?

–        Mọi thứ vẫn còn nhưng cá sấu tự nhiên thì hết rồi.

–        Sao vậy?

–        Một số lâm tặc xen vào dân nương rẫy đóng vai hiền tàn sát mọi thứ. Họ bắt cá sấu để làm lương ăn, lấy da để phục vụ cho cái gọi là đẹp và sang cả của con người nên cá sấu ở đây bị tận diệt.

–        Vậy ra bàu Sấu bây giờ chỉ còn là cái tên?

–        Không. Lãnh đạo của bảo tồn sinh thái đã mua và thả xuống đây một loại sấu khác. Cá sấu Xiêm, một trong những loài cá sấu nước ngọt đặc hữu của Đông Nam Á.

     Từ trên khu vực nhà khách của trạm kiểm lâm nhìn những chiếc xuồng con đang dập dềnh trên nước. Một cô gái kêu lên:

–        Eo ơi… có cá sấu mà người ta dám bơi xuồng trên bàu kìa.

–        Có sao đâu – Vị cười – Bơi xuồng tham quan là thường bởi cá sấu không tấn công người. Chúng nằm yên dưới đáy và chỉ nổi lên mặt hồ lúc hoàng hôn. Còn bây giờ có muốn thấy một ngoe để chụp tấm hình cũng khó.

Một khách tham quan hỏi:

–        Rừng ở đây còn nguyên vẹn hả anh?

–        Không anh ạ. Thấy vậy chứ bên trong cũng loang lỗ da beo lắm.  Kiểm lâm cũng như bảo vệ rừng làm việc cả ngày lẫn đêm mà bọn lâm tặc vẫn tác oai tác quái với đầy đủ thủ đoạn.

      Trong một quán cà phê nằm trên một bụi tre rừng. Để dựng được cái quán tạm gọi là độc nhất vô nhị nầy là một kỳ công. Bụi tre được đốn ngang thân và chủ nhân đã lót bên trên một lớp ván dày ba phân để làm nền, và trên cái nền ấy là một nếp nhà dựng bằng tre lợp lá Trung quân. Muốn lên du khách phải chân bước trên cầu tre tay vịn cũng bằng tre nhưng không lắt lẻo hay gập ghềnh gió đưa. Vị nói:

–        Để phát ngang búi tre nầy phải đơn từ và bản vẽ của nó phải do kiến trúc sư đề xuất. Phải đẹp và độc, thậm chí độc nhất mới được duyệt. Ván sàn của nó từ những nhà máy cưa ở phố đưa vào. Dân làm ăn ở đây tuyệt đối không được đụng vào dù chỉ một sợi dây leo…

–        Vậy mà lâm tặc vẫn phá được sao anh?

       Vâng – Vị nói – bọn lâm tặc nằm ở dạng đầu nậu trăm mưu nghìn kế để lấy cho bằng được những cái quý nhất trong rừng nguyên sinh. Chúng ở ngoài phố nhưng của nả vẫn được tập trung tận nhà. Những chiêu thức như dùng tiền mua rừng, mua bảo vệ thậm chí cả kiểm lâm viên hay trưởng trạm chỉ là chuyện nhỏ. Đã từng có vài anh trạm trưởng ra tòa lĩnh án vì thoái hóa bởi mảnh lực đồng tiền thì, kiểm lâm viên hay bảo vệ là khỏi nói. Án phạt nặng nhưng chỉ răn đe kẻ biết còn kẻ không biết là bó tay. Thậm chí đầu nậu còn lợi dụng cái không biết để tư lợi cho mình.

–        Nghĩa là sao? – Du khách hỏi – không biết và lợi dụng sự không biết là thế nào?

        Người sắc tộc thiểu số như Mạ, Chơ-ro… thì rừng là quê hương từ ngàn đời. Đưa họ về một chỗ để quản lý như người Kinh ở các vùng kinh tế mới là không thể. Lợi dụng sự thật thà, bọn đầu nậu đã vung tiền khi chất phát lâm thế ngặt để phục vụ cái họ muốn. Ở bàu Sấu thì rùa vàng hay cua đinh trắng. Thú rừng từ bò tót hay nai chồn cheo mển, cả gấu rừng chúng cũng không tha. Riêng tê giác xem như tận tuyệt. Quan trọng nhất là gỗ quý. Bọn đầu nậu chỉ lấy cái quý nhất của một thân gỗ vài trăm năm thậm chí cả nghìn năm tuổi. Đã có hơn mười vụ bị bắt tại chỗ nhưng phải thả vì – như đã nói – người thiểu số không biết chi kể cả người thuê mướn họ:

–        Sao lại không biết. Vô lý quá.

–        Người thiểu số bây giờ khôn ngoan lắm. Chính những đầu nậu lâm tặc đã dạy cho họ nhưng chiêu thức đối phó mà, giám đốc lâm trường cũng lắc đầu chào thua.

      Một anh thiểu số bị bắt đưa về ban chỉ huy lâm trường. Nhưng anh ta đóng phim không biết nói tiếng kinh thì tài tử xi nê cũng bái làm sư phụ. Ngôn ngữ không thông thì làm sao giải quyết? Một gã khác trọ trẹ tiếng kinh  xin gọi điện về báo cho người nhà đến nộp phạt. Người nhà có lên thiệt nhưng mà là, một cô vợ địu một cu con còn bú và hai tay dắt hai nhóc khác. Ở phòng quản lý ba đứa bé khóc phụ với mẹ xin thả cha về thì, làm sao chả biết phải làm sao. Tốt nhất là thả bởi, khi bị bắt hắn mới thò rựa vào để phát quang nơi muốn khai thác chứ đâu đã làm chi.  Mệt muốn đứt hơi khi là thành viên để bảo vệ một khu rừng mà diện tích những tám mươi nghìn hecta.

–        Anh nói cái quý nhất của một thân gỗ là cái gì?

–        Nu. Anh có biết thế nào gọi là Nu không?

–        Không. Tôi ở phố nên nào biết Nu là gì.

–        Để tôi đưa các bạn đi xem một cổ thụ Bằng lăng có Nu ở khu rừng bên kia bàu Sấu. Một thân gỗ đổ máu và máu cũng đã đổ trên thân gỗ ấy.

–        Dữ vậy à?

–        Vâng. Dữ dội và kỳ dị nhất mà trên ba mươi năm sống ở rừng nầy tôi chưa từng thấy một sự việc nào dữ hơn.

–        Qua bàu bằng xuồng đạp à? Ai chứ tôi thì không dám. – Một du khách nữ nói.

–        Không. Chúng ta có tám người nếu muốn thì thuê một ca nô cho an toàn.

                                                    ***

         Ca nô nổ máy và tài công đưa đoàn tham quan một vòng chu vi của bàu Sấu vĩ đại. Có lên non mới biết non cao, ra biển biết thế nào là xanh thẳm thì, có mặt trên lưng của một diện tích mặt nước ngoài trăm hecta, con người sẽ biết thế nào là xa mà gần gần mà xa. Ngoài trăm hecta thì đương nhiên là hơn cả mênh mông, nhưng cái mênh mông ấy bị chắn lại bởi sự vây hãm tứ phía của rừng xanh. Cảm giác xa gần gần xa khiến du khách có cảm giác hãi sợ và thích thú. Vị lại tiếp tục công việc của mình khi một du khách hỏi Nu là gì.

–        Các bạn có biết cái gù trên vai con bò đực không? – Vị hỏi.

–        Biết. Ở quê tôi gọi là gù.

–        Vâng. Có nơi gọi khối u đó là gù, nơi gọi là nu và thượng thú hạ cầm chỉ có hai con có cái gù nầy. Sa mạc thì Lạc đà, đất liền chỉ con bò đực dùng để kéo xe hay cày bừa. Trên rừng một số ít cây có khối u nầy vì sự biến hóa bất cập nào đó của tế bào thực vật. Khối u theo thời gian sẽ lớn dần trên thân của cổ thụ và được gọi là Nu. Nu ở gỗ nhóm A như Gõ Đỏ, Cẩm Lai, Hương, Giáng Hương… là cực kỳ quý giá. Nếu thân gỗ một khối là một cây vàng thì Nu phải gấp mười lần hơn. Nu nằm vắt vẻo trên một thân cổ thụ có khi cao cả mười, mười lăm mét. Muốn lấy khối u nầy thợ rừng phải hạ cổ thụ. Cổ thụ từ vài trăm đến nghìn năm tuổi thì chu vi những hai ba vòng ôm của người lớn thì chuyện hạ nó là không thể, bởi gỗ nhóm A là tài sản quốc gia. Khai thác mà không có giấy phép là vi phạm pháp luật. Đã có những quyền chức mất tất cả bởi sự tham lam vô độ. Họ cho người lén lút tàn sát để lấy gỗ. Lệnh cấm ban ra ngay cả một sợi mây cùng không ra được cửa rừng nhưng, họ vẫn cho người len lỏi vào và khai thác lúc đêm hôm khuya khoắt. Không ngã được cổ thụ thì họ bắt dàn giáo và lóc từng mảng thịt. Nu nằm cao cỡ nào nếu muốn, họ vẫn có thể cho lìa thân.

    Vị tiếp tục khi đoàn tham quan du lịch rời ca nô đi bộ đến cái nơi tại vị cây Bằng lăng mà Vị bảo là đã đổ máu và máu đã đổ:

–        Nu sỡ dĩ quý giá bởi vân gỗ của nó cực kỳ tuyệt đẹp. Khi xẻ ra ván thì vân của nó uốn lượn như rồng bay phụng múa, khi lại như mây bay giữa trời xanh. Nó thiên hình vạn trạng mà chắc chắn rằng không một họa sĩ nào có thể tưởng ra mà phóng bút. Nó mê hoặc đến đắm đuối cả nhưng kẻ vô cảm nhất. Bọn thợ líu lộng bảo đó là sự mê hoặc của nghìn năm thời gian trong từng thớ gỗ.

–        Líu lộng là gì hả anh Vị?

–        Là loại cưa xẻ bằng tay. Lưỡi của nó mảnh như cưa lộng của thợ mộc. Khi xẻ Nu, bề dày một tấm ván chỉ năm ly nên phải dùng líu lộng. Thợ sử dụng loại cưa nầy phải là tay thượng thừa. Phải chuẩn từng mi li mét một. Sai một chút là tấm ván cả cây vàng đi đứt. Có làm thợ líu lộng mới biết thế nào là “sai một li đi một… cây vàng”.

       Nhưng, Bằng lăng không nằm trong tốp gỗ nhóm A. Không A nhưng lại đặc biệt một cách kỳ lạ. Minh Tàn – một lâm tặc tầm cỡ của rừng X, từng ngồi tù về tội danh phá lâm – đã nói về cái đặc biệt của Bằng lăng như thế nầy:

–        Băng lăng cũng như bóng đá vậy. Một nghìn thằng mới được một. Cả trăm triệu dân mới moi được ba chục tầm cỡ để vào tuyển quốc gia. Nhưng để có một thiên tài thực thụ thì cả thế giới chỉ vài thằng. Sự cá biệt nào cũng rất đặc biệt. Bằng lăng là một loài thực vật như vậy.

       Có bốn loại bằng lăng là Thông, Cườm, Đá, và Ổi. Băng lăng Đá là loại gỗ không được trọng dụng.  Ngay cả cưa máy cũng sợ khi ra ván. Đã cứng thì chớ sớ gỗ của bằng lăng đá nằm ngang nên rất mau lụt cưa. Líu phải dũa bằng tay và mỗi lần dũa một lưỡi líu ít nhất là một tiếng đồng hồ nên, thợ rừng không ai dám đụng vào. Những tên gọi như thông, cườm, ổi thì cây có bề hoành một mét là hiếm. Và mười cây thì bộng ruột hay bù xòe đục lũng thân đã hết sáu, lại rất dễ nứt khi ngã. Nó có thể nứt làm bốn mảnh nếu thế ngã không chuẩn.

     Nhưng cá biệt lại có những cây to những ba người ôm. Đã có những bộ phản bằng lăng hai mét vuông dày hai mươi phân nhưng chỉ hai tấm – và – những bộ phản nầy là độc nhất vô nhị. Đã và đang có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bộ phản như vậy của gỗ nhóm A nhưng Bằng lăng thì chỉ một. Đã và đang có hàng vạn mặt bàn, hông tủ hay mặt bàn thờ bằng Nu của gỗ nhóm A nhưng Bằng lăng thì tuyệt không. Xưa nay chả ai trên trần thế nầy nghe nói đến Nu Bằng lăng thì lấy gì để mục sở thị. Nhưng nói không có là không đúng đâu nghe.

      Nào, xin mời quý vị theo chân Vị đến nơi tại vị một cây Bằng lăng ngoại hạng và vô giá. Nó to những bốn vòng ôm người lớn và, có những sáu cục Nu nằm hài hòa trái phải, phải trái như một chậu Mai Chiếu Thủy tạo hình mẹ bồng con trên thân cao áng chừng ba mươi mét. Sáu cục Nu nhưng chỉ còn năm bởi lâm tặc đã cắt mất một cục ở cao nhất. Và năm lâm tặc chết hết bốn. Một còn lại là đầu nậu Ba Phúc bị chung thân về tội danh cướp giết. Thêm một nữa là…

                                                                ***

          Con đường dẫn vào gốc Bằng lăng tuy nhỏ nhưng khá thoáng. Cả toán du khách cực ngỡ ngàng khi mục sở thị cổ thụ. Ở nguyên sinh thì những cổ thụ như gốc Bằng lăng nầy không phải hiếm nhưng họ ngỡ ngàng bởi những khối u to bằng cả cái bàn nhô ra trên thân cây. Khối u hay còn gọi là Nu nằm cách nhau rất đều đặn. Ba mét cách mặt đất là một khối. Khối thứ hai cách khối thứ nhất chừng bốn mét và nằm ở chiều ngược lại. Thiên nhiên đã tạo ra một kỳ vĩ mà con người không thể nào hiểu được. Vết cắt khối u trên cao cách mặt đất là hai mươi mét. Vị nói:

–        Bọn phá lâm đã dùng cây rừng và đinh để tạo một dàn giáo vững chải từ gốc lên tận cục nu cuối cùng và dùng cưa cá mập để cắt khối u. Nhưng xui xẻo cho bọn chúng là khi cục Nu rơi xuống đã vỡ ra làm bốn mảnh và đập sập giàn giáo làm cả bọn trọng thương.

      Để dựng được bộ giàn giáo vây chung quanh một thân cây có bề hoành những năm mét, cao hai mươi mét thì, chí ít cũng cả tháng. Làm cách nào mà chúng đã qua mặt được bảo vệ rừng và kiểm lâm đi tuần tra? Câu trả lời rất đơn giản. Với diện tích trên dưới tám chục ngàn hec-ta thì từ bảo vệ cho đến giám đốc các lâm trường trong khu bảo tồn, chả một ai dám nói mình tinh thông rừng cấm X. Thậm chí nếu không có tiếng kêu cứu của bọn lâm tặc bị tai nạn thì, chả một ai biết có một cây Bằng lăng cổ thụ có Nu đang hiện diện trên đời. Người giữ rừng không biết vậy làm sao lâm tặc biết mà ra tay trộm đạo?

–        Một ngươi tộc Mạ đã tình cờ phát hiện ra cây Bằng lăng nầy khi theo dấu một con nai lúc đi săn. Anh ta đem chuyện nói với đầu nậu Ba Phúc…

   Phúc theo anh người Mạ vào tận gốc và hắn biết cơ hội làm giàu của hắn đã đến. Nhưng dựng cho được giàn giáo để thu những khối u nầy thì phải có gộc lớn để chống lưng. Ba Phúc gặp tiểu khu trưởng cái tiểu khu nơi mà gốc Bằng lăng đang tại vị là Bảy Hoa. Phúc biết tiền mua được tất cả bởi ai đó đã nói cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng nhiều tiền. Bảy Hoa đã lệnh cho dưới trướng tai không nghe mắt không thấy những gì ở cụm rừng ấy. Và thế là cái giàn giáo đã tại vị sau một tháng ra công.

       Máu của những kẻ lâm nạn tưới đầy gốc cây hòa với nhựa ròng ròng chảy từ vết thương của khối u. Bốn gã lâm tặc chết trên đường đi cấp cứu. Trước khi chết chúng còn kịp khai kẻ đầu têu là Ba Phúc.

       Bảy Hoa bỏ rừng X trốn biệt.

      Vị nói với khách tham quan rằng anh sinh ra và lớn lên ở miền rừng nầy. Rừng với anh là máu là thịt là niềm yêu là sự sống. Anh từng chứng kiến những điều rất dữ dội nhưng chưa lần nào kinh hoảng khi nhìn thấy máu đẫm đầy dưới gốc cổ thụ như lần ấy. Anh cũng không hiểu vì sao khung giàn giáo vững chải ngần ấy lại có thể bị đập sập bởi va chạm. Về điều nầy thì ngay cả một lâm tặc lừng danh là Minh Tàn cũng cho là kỳ lạ. Hắn nói:

          –  Tao đã từng cho gỗ lìa thân mà cây vẫn ung dung đứng. Từng hạ xuống đất những cục Nu còn to và cao hơn. Người ta phải ràng rịt khối u bằng dây dù bẹ ba to bằng ba ngón tay và từ từ cho xuống bằng ròng rọc. Lũ nầy cho rơi tự do là hết số.

    Riêng Vị cho rằng ở rừng có thần. Thần rừng sẽ không dung cho bất kỳ kẻ nào phá hoại. Minh Tàn cũng nghĩ vậy và vì nghĩ vậy nên hắn ta vất cưa vất búa vất rựa và bảo rằng:

–        Tao bỏ nghiệp.

                                                                                                    Nguyễn Trí

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »