Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

 Nguyễn Thị Mây

.

Ngôi nhà đứng chơ vơ, trầm mặc bên sườn đồi. Sương mù bảng lảng, phủ mờ mái ngói rêu phong xám xịt. Hàng cây lạnh lùng xòe nhánh lá rậm dầy, nối tiếp nhau một dãy. Trời thưa nắng, lối đi u tịch lạ lùng. Lá vàng xao xác dưới chân. Tôi chợt quặn lòng nhớ em và mùa đông năm cũ.

          Ngày đó, cũng trên đường này, tôi gặp em. Cô gái có khuôn mặt bầu bĩnh, thơ ngây. Đôi bím tóc dài buộc nơ màu tím. Tay cắp chiếc giỏ mây đáy tròn, em vừa đi vừa hát. Giọng lảnh lót, trong veo, vui nhộn. Tôi mơ hồ thấy một dòng suối từ thượng nguồn đang rì rầm qua khe núi, tràn xuống sườn đồi. Nước reo cùng tiếng gió, tiếng chim chìa vôi buổi sáng. Trời bỗng dưng xanh. Cây lá bỗng dưng  tươi  tắn và tôi bỗng dưng vui.

          Tiếng hát chợt ngừng bặt. Không gian chùng xuống, lặng đi. Tôi ngỡ ngàng nhìn cô gái đang dùng chân hất tung những chiếc lá khô. Hai cánh môi mím chặt, mắt long lanh ngấn nước.

          Tôi buột miệng:

          – Cô bé làm sao thế?

          Giật mình, em quay phắt lại. Nét mặt ủ dột thoáng sợ sệt:

          – Ơ, ông là ai? Tới đây làm gì?

          – Nhà tôi trọ dưới chân núi kia. Tôi đi dạo…

          Hình như em không để ý đến câu trả lời của tôi. Em mãi nhìn xuống những mái nhà lô xô thấp thoáng theo triền dốc  và những bóng người li ti di động không ngừng

Tôi giải thích:

– Họ đang họp chợ ở đó.

Em nhìn tôi, hỏi như nói một mình:

– Chẳng lẽ  mùa đông tới rồi sao?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái. Em quên ý niệm về thời gian hay là không muốn nhớ? Em còn quá trẻ. Điều gì đã ẩn nấp trong lòng em, nhuộm xám ánh mắt nai tơ như thế .Tôi xác nhận:

– Mùa đông đã về.

Như bừng tỉnh, em kêu lên:

– Tôi thù ghét mùa đông!

Em bỏ chạy, đôi bím tóc đong đưa. Chiếc bóng nhỏ khuất sau ô cửa mở.

Những ngày kế tiếp tôi không gặp em. Hôm nào tôi cũng thơ thẩn lên đồi, men theo con dốc cũ, tìm đến tảng đá, ngồi ngóng về phía nhà em và chờ đợi. Chẳng biết để làm gì. Tôi cảm thấy bồn chồn, ray rứt không yên nếu không đến đó một lần trong ngày . Quyển sách mang theo, tôi chẳng đọc được chữ nào. Tôi nhìn đăm đăm vào trang giấy và không thấy gì hết. Bực bội, nhắm mắt, tôi lại thấy rất rõ, không phải chữ mà là em, cô gái tóc vấn bím, mang hài thêu màu đỏ. Bàn chân nhỏ hất tung những chiếc lá vàng.

Đúng lúc tôi quá nãn thì em xuất hiện. Không phải từ trong nhà đi ra. Em khệ nệ vác một bó cây khô ngược dốc. Hai bím tóc quấn quanh đầu như vương miện. lưng áo màu tím đẫm mồ hôi. Đôi gò má ửng hồng nhưng ánh mắt vẫn buồn, ngơ ngác.

Em không trông thấy tôi. Ném bó củi xuống, em ngồi bệt dưới tàn cây đại thọ. Đưa tay quệt mồ hôi trán, em lẩm bẩm:”Mệt quá! “

Tôi bật dậy, đứng như trời trồng mất mấy giây mới định tỉnh. Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:

– Cô bé …làm gì đó?

Em giật mình, đứng lên rồi lại ngồi xuống,  thở phào:

– Cũng là ông! Làm người ta hết hồn!

Tôi cười, đưa tay sờ càm:

-Cô bé cũng làm tôi giật mình.

– Tôi!

– Tiếng ông là đại từ chỉ người già. Lẽ nào tôi hóa lão sớm thế?

Cô bé trừng mắt;

– Còn tiếng “cô bé” chỉ hợp với những đứa bé gái hỉ mũi chưa sạch.

– Vậy là mình gọi nhau không đúng cách rồi. Tôi phải sửa lại thế nào, cô bé?

– Không cần thiết vì tôi chẳng muốn làm quen với ông.

– Nhưng tôi muốn.

Em lại trừng mắt với tôi, trông rất dễ thương.

Em buột miệng;

– Vô duyên!

Không nói gì nữa, em đến bên bó củi, nhấc lên, quay đi. Tôi vội đuổi theo:

– Giận sao, cô bé?

Em tránh sang bên, lầm lũi đi. Tôi đứng lặng giây lâu. Em dần xa. Tôi bàng hoàng như sắp đánh mất một cái gì rất quí. Tôi hớt hải đuổi theo. Chẳng biết lớ ngớ thế nào lại giẫm phải đá, trợt chân, lăn mấy vòng. Tôi kinh hoàng kêu lên:

– Ôi, chết tôi rồi!

Em nghe thấy, liệng bó củi xuống đất, chạy trở lại bên tôi;

– Trời, ông có sao không?

Tôi sượng sùng, nén đau, lắc đầu;

– Không, không sao!

Tôi gượng đứng lên nhưng   chân phải đau nhói. Hình như đã bị bong gân rồi. Tôi bóp nhẹ vào đó. Em bảo:

– Đâu, để tôi xem!

Nhưng rồi em chẳng biết làm gì hơn là đưa một ngón trỏ khều nhè nhẹ vào chân tôi. Nghĩ ngợi một hồi, em bảo:

– Phải rồi! Ông ngồi đây chờ nghe, tôi về nhà nhờ mẹ tới giúp ông.

Em chạy đi, lát sau, trở lại cùng với mẹ. hai người dìu tôi về nhà.

Đó là một ngôi nhà cũ kĩ và bé nhỏ giữa núi đồi hùng vĩ. Nó đứng trơ trọi cách xa làng bản như muốn được yên tĩnh, hòa nhập vào thiên nhiên hiền dịu. Tường nứt nẻ. những vết rạn nứt như nét vẽ đường chấp nối của những tảng đá núi chồng chất lên nhau. Mấy ô cửa đã ố màu, lỏng lẻo, mối mọt. sự tàn lụi thấp thoáng quanh đây, gợi buồn se sắt.

Gian nhà trước hai bên trưng bày trái ngược, hỗn độn. mỗi bên một hình thể khác nhau. Bên trái, trên tường treo những bức tranh  rất đẹp. Cạnh  cửa sổ là chiếc bàn mặt vuông, cẩn đá hoa bóng loáng. Ngoài lọ đựng bút, còn có một bình hoa bất tử.  Liền đó, chiếc tủ kiếng khá lớn chứa đầy sách và tranh vẽ.

Bên phải không rộng rãi, tao nhã như chỗ đối diện nó. Chỗ này tạp nhạp đủ loại vật dụng. Một chiếc bàn tròn và sáu cái ghế. Trên đó, bình tích, ly tách, gạt tàn thuốc, rỗ may…Không còn chỗ trống, bụi phủ mờ mờ. Trong góc nhà, tủ quần áo đặt cạnh tủ chén, giữa những chồng bát là tô, đĩa , muỗng, đũa ngà. Ngăn dưới, con búp bê tóc vàng hoe bị mớ vải thêu phủ quanh. Nó như ngạt thở tìm cách nhô đầu lên một chút.

Mẹ em  có tính cách rất khác em. Bà hay nói, nói liên tục, âm sắc, nhanh, Chốc chốc, bà cất giọng líu ríu. Tạo nên một luồn âm thanh nhào lộn, cuộn xoắn lấy khoảng không gian chật hẹp trong nhà. Tôi mệt mỏi lau mồ hôi trán. Em đưa mắt nìn tôi rồi thẩn thờ quay đi. Thỉnh thoảng, em gắt lên ”Mẹ à!”. Bà không hiểu ý em lại nói.

Qua lời bà, tôi biết được gia cảnh nhà em. Ba em đã bỏ đi khi gió chướng tràn về, bứt lìa những chiếc lá vàng khỏi nhành cây, ném tả tơi trên triền dốc vắng. Mẹ em nghi ngờ chồng say mê một người đàn bà khác dưới thị trấn. Bà cho rằng đó là một con yêu tinh đã đưa móng vuốt ra chộp lấy người đàn ông tài hoa, lãng mạn và yếu đuối. Ba em là một họa sĩ chuyên vẽ tranh tàu. Những bức tranh thủy mạc của ông được người vùng nầy ưa thích lắm. Mẹ em mang ra cho tôi xem mấy bức họa của ông. Tranh sơn thủy, chim, hoa và người. toàn bộ cảnh sắc được ghi chép lên giấy hoặc khung lụa với hai màu đen trắng. Chúng gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Mỗi bức mang một phong cách khác nhau. Ba em đã dùng đường nét để tả tình, dùng màu sắc đậm nhạt để để gợi tình cảm nơi người nhìn ngắm. những bức vẽ cảnh núi đồi rất độc đáo. Chỉ với khuôn khổ nhỏ bé mà ông thể hiện cả một dãy núi rừng trùng điệp. Khi vẽ nó, có lẽ ông đã ngắm nhìn thiên nhiên với nhiều góc độ khác nhau. Từ xa đến gần, từ gần ra xa. Từ trên nhìn xuống rồi từ dưới nhìn lên. “Luật xa gần” trong hội họa dường như không có chút ảnh hưởng gì đối với ông. Người họa sĩ qua nét cọ đã thu xếp lại thiên nhiên lên khung vải. Lạ nhưng không sai. Khác thường nhưng không tách rời hiện thực. Dưới mỗi tấm tranh đều có đề thơ và đóng dấu. Tôi lâng lâng trong niềm cảm phục người nghệ sĩ tài hoa và buồn buồn bởi những trắc trở tình duyên, hoàn cảnh sống của ông. Tôi hiểu vì sao ông rời bỏ nơi nầy. Tôi biết lý do ông vẽ tranh tả người đều là người lạ. Không có khuôn mặt trong tranh nào là của mẹ em. Ở bà, ông chỉ nhìn thấy có một nửa điều mình cần thiết. Tiền và tài tề gia, nội trợ. Một nửa phần còn lại nằm trong dáng dấp người trong tranh. Nàng đẹp, tinh khiết như nắng mai. Lặng lẽ như rừng thông vắng gió.

Người họa sĩ ấy đã ra đi, tìm kiếm mẫu người như ý. Chẳng biết ông có bắt gặp hạnh phúc hay là chỉ làm rối rắm thêm đời mình trong buổi xế tà? Và, tạo thêm nỗi đau day dứt, không nguôi trong lòng em từ thuở bình minh của cuộc đời.

Tôi yêu em. Người con gái mang hài bằng vải thêu màu đỏ. Tôi muốn lửa tim  mình sưởi ấm lòng em, làm tan biến lạnh lùng quanh em. Để em yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống với bao điều tươi đẹp, thú vị bất ngờ.

Tôi  mơ tưởng. Tôi khát khao. Tôi phác họa  một mái ấm có em hồn nhiên, yêu đời, yêu tôi. Tôi vẽ trong trí dáng em thong dong áo trắng, hài vải hoa tung tăng  bên tôi trên lối mòn đầy xác lá thu. Em nhón chân, bước sẽ. sợ lá vàng nhầu nát, đớn đau.  Và, em hát rộn  vui như tiếng chim chìa vôi hót chào buổi sáng.

Tất cả những điều đó, bây giờ ẩn kín trong kí ức tôi, để mỗi độ

Đông về lại chổi dậy , gợi buồn se sắc. Tôi chưa kịp tỏ tình, em đã bỏ đi sau ngày mẹ mất. Em nhường ngôi nhà cho cha và người đàn bà lạ. Em theo người dì đi về phía phố đông. Có người bắt gặp em ra vào ở một trường Đại học. Tôi định đi tìm em. Nhưng cuộc sống tất bật, đầy lo toan cứ lôi tuột tôi xa dần kỷ niệm ngọt ngào.

Thôi, tạm biệt em. Em hãy vui sống đời đáng sống! Ngôi nhà cũ , con dốc ngập lá vàng rơi, em và tôi hãy xem như một bức tranh xưa. Bức tranh nhen nhóm chút nhớ tiếc giữa những tháng ngày đối mặt, vượt qua thách thức cuộc đời. Em hãy về phía mùa Xuân rực rỡ em nhé!

NGUYỄN THỊ MÂY

.

Read Full Post »

Kho báu

Đặng Chương Ngạn.

.

“Gió gì như gió Pha Xang Gió xô, gió đập, gió phang vào người!” “Đừng ngu mà đến Pha Xang Sểnh tay mất vợ, chàng ràng mất con”

Lão Vâu đã nghe những câu ca dao như vậy khi lão đi qua các thị trấn, thị xã, thành phố, làng quê… quanh Pha Xang. “Đến Pha Xang, gặp tang thương”, “ Ngáo ngơ đến đất Pha Xang, Thân bại, danh liệt, tan hoang cửa nhà”- những câu bài răn dạy như vậy có thể nghe từ miệng những đứa trẻ nhỏ ở bất cứ đâu ngoài cao nguyên. Đó là những bài học từ xa xửa, xa xưa, cha ông họ để lại cho con cháu. Chớ qua Pha Xang, chớ qua vùng gió. Ở đó, không phải gió, mà là bão, là dông quanh năm. Không ở đâu gió dữ dội, triền miên như Pha Xang, ngày gió, đêm gió, gió như một con ngựa hoang đốc chứng phi mãi không nghỉ. Nó chạy nước đại, nhảy chồm chồm, lồng lộn điên dại. Cơn gió Pha Xang ấy, như ma, nó bắt người, cuốn người qua luôn thế giới bên kia. Trong con mắt của mọi người sống bên kia cao nguyên thì Pha Xang là vùng đất chết, vùng đất địa ngục, hầu như họ không lai vãng tới. Mà muốn đến Pha Xang cũng quá bất tiện: ô tô, xe máy không có đường đi, tất cả chỉ bằng ngựa, và đôi chân lội bộ. Hiếm hoi, đôi khi, có những nhà thám hiểm, nhà sưu tầm cổ vật, nhà nghiên cứu sinh vật…mới liều mạng đặt chân tới.

Nhiều người trong số họ, qua đất Pha Xang đã biến mất không còn tăm tích…

Kho báu. Truyện ngắn dự thi của Đặng Chương Ngạn
Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest

Hầu hết, những người sinh ra ở Pha Xang cũng đã rời mảnh đất đó ra đi…

Khi bà Ing mù, câm, điếc chết thì cả vùng Pha Xang chỉ còn lại mình lão Vâu. Những người bình thường đều đã bỏ Pha Xang từ lâu. Có điên mà bám lấy Pha Xang, sống ở Pha Xang. Ngày trước, những hậu duệ của ông tổ Pha Xang còn nhẫn nhục, cam chịu…lầm lũi bám lấy mảnh đất này vì không biết gì ngoài Pha Xang và vẫn luôn nghĩ ở bên kia núi phía Tây, phía Nam, Bắc đều là những vùng gió như cao nguyên Pha Xang mà thôi…

Bà Ing mù, câm, điếc ở lại Pha Xang vì không có con cái, không ai đưa bà đi qua bên núi và với một người phụ nữ già mù, điếc, câm, lẩn thẩn thì sống ở Pha Xang không hẳn là thảm hoạ.

Lão Vâu ở lại vì đau đớn, vì tủi hổ sau vụ khai quật mỏ dưới lòng đất tổ tiên thất bại, ở lại vì không muốn qua bên kia núi để chạm mặt đồng hương tha hương ở đấy, ở lại vì sâu thẳm trong tim, lão vẫn tin cha ông đã chọn nơi này để sinh sống chắc phải có nguyên cớ lý lẽ của nó. “Lý lẽ gì – mấy đứa cháu vặc lại lão – cha ông chúng ta bị lưu đày thôi! Chắc chắn bị lưu đày, còn không có ai điên đi chọn Pha Xang!” – “ Chắc ông tổ chúng ta là một tội phạm!” – “Ai lưu đày ông tổ chúng ta”- “Thì nhà vua, triều đình chứ ai!”- “Nhưng có ai canh giữ đâu mà cứ phải sống ở đây?”- “Bây giờ thì thế, chứ ngày xưa là bị canh giữ đấy, bốn mặt núi lính canh nhung nhúc, lăm lăm vũ khí trong tay, những kẻ bị lưu đày muốn trốn cũng không được!”-“Chúng ta bây giờ đâu phải kẻ tội phạm mà chấp nhận lưu đày ở chốn khốn nạn này!”

Lão cũng đã đi qua núi bên kia, đã để một phần đời bên kia núi học hỏi, kiếm tiền, nhưng lão ra đi với dự định sẽ quay về. Lần đầu qua bên kia núi, lão bị luôn mấy ngày chếnh choáng, bước đi chệnh choạng đôi lúc ngã oạch xuống đường. Sau này, lão mới biết có một bọn người cũng chếnh choáng như dân Pha Xang, đó là bọn thuỷ thủ đi biển nhiều năm khi bước lên bờ. Quen bước đi trên con tàu chòng chành lại bị say với đất liền bằng phẳng… Còn dân Pha Xang thì luôn nghiêng ngả vì gió. Rồi lão cũng quen với các đô thị, làng mạc không có gió như Pha Xang. Bên kia núi, thiên nhiên đẹp rực rỡ, tươi xanh, êm đềm quanh năm…Lão gần như hoà nhập với bất cứ cư dân nơi đâu lão đến. Khó nhất với lão là tiếng nói cứ âm vang như tiếng cồng… Dần dần, lão cũng tập được cách hạ giọng để nhỏ lại, nhỏ đến mức thỏ thẻ nhẹ nhàng. Nhưng, nhiều khi lão cũng không tránh được cái nhìn kỳ thị của người bên kia núi vì cái đầu nhọn nhọn của dân Pha Xang mà không giấu vào đâu được: “Lại một ông đầu nhọn! Ê đầu nhọn, mày có nhận việc này không? Thằng đầu nhọn mày bán hàng gian đấy hả? Ê thằng đầu nhọn mày làm gì như mèo mửa vậy?”

*

Tại sao người Pha Xang đầu lại nhọn, có lẽ là do gió… Đi lại trong vùng gió để khỏi bị đẩy ngã chỉ có cách cúi thấp người xuống, nghiêng người theo chiều gió, hướng đầu về phía ngọn gió. Đứa bé Pha Xang ngay từ bé, lần đầu tiên ra khỏi nhà đã học được cách di chuyển như vậy. Cả cơ thể thu lại gọn nhất, tay xếp dọc thân, bàn chân dạng ra tư thế chống đỡ, phần đầu thân thành một khối nhọn để giảm tối đa lực cản gió. Cái đầu của người Pha Xang có lẽ do gió mài mãi, mài mãi qua nhiều thế hệ mà thành nhọn hoắt. Chắc phải mấy trăm năm, gió mới đủ thời gian để biến một cái đầu người tròn như quả bóng, thành hình nhọn như đầu trái đu đủ, mà trái bóng, trái đu đủ …người Pha Xang cũng chỉ biết đến khi đi qua dãy núi phía Tây, phía Đông sang vùng dân bên ngoài. Ở Pha Xang không ai biết đến những trái cây như vậy vì chẳng có cây trái nào tồn tại trên mặt đất với gió Pha Xang. Ừ, cái đầu người Pha Xang, đúng giống luôn quả đu đủ vì nó nhọn ở đỉnh rồi được vuốt theo hình chỏm, đó có lẽ là dạng hình học phù hợp với chuyển động của gió nhất. Không chỉ đầu, cả cái vai người cũng xuôi xuống, khi hai tay nép vào sát thân, người Pha Xang trông không khác gì cái chuông nhà chùa. Đúng kiểu khí động học…

Lên sáu tuổi, lão chứng kiến một người đàn ông mất vợ trong đám cưới ở Pha Xang. Lỗi tại người chồng mang từ bên kia núi về một chiếc váy cưới theo mode may chân quá rộng, khi cả hai đang đi từ nhà gái qua nhà trai thì gió cuốn luôn cô dâu, chiếc váy rộng không khác gì chiếc dù đưa cô dâu lên cao chục mét trong sự bất lực ngơ ngác của nhà trai, nhà gái. Rồi ném cô dâu xuống chân đồi bên cạnh. Chôn cất cô dâu xong, chú rể lao đầu xuống vực tự tử vì đau buồn…

Cha ông Pha Xang vẫn luôn dặn con cháu: “Có qua eo Khế ban trưa – Buộc dây mà giữ chẳng đùa được đâu”. Cái eo Khế, cha ông vẫn truyền lại, cứ vào buổi trưa, gió xoáy tại đó mạnh gấp 10 nơi khác. Hễ đi qua đấy phải đi ít nhất hai người và nhớ buộc dây níu vào nhau, trì thêm một cục đá để khỏi bị gió nhấc xuống hồ nước ngay đấy.

Lâu lắm rồi, có một ông bố sểnh tay, con bị cuốn xuống hồ, ba ngày sau vẫn chưa thấy nổi lên…Ông bố cứ ngồi bất động bên hồ nước, hai thay chắp trước ngực cầu xin trời đất. Khi dân làng thấy ông ấy cứ quỳ như vậy ngày này, qua ngày khác, ra gọi, thì ông đã chết cứng từ lúc nào. Chết vì đau đớn, vì oán hận gió Pha Xang. Hồi nhỏ, có lần, lão Vâu hỏi cha về câu thành ngữ: “Gặp gió Pha Xang, hổ vàng vội biến”. Cha lão ậm ừ nói rằng vào đời ông tổ thứ tám, có một con hổ vàng xuất hiện ở Pha Xang. Nó săn người, săn heo, gà nuôi dưới hầm… Trai tráng rủ nhau săn nó, bị nó săn lại, chết mất nhiều mạng. Nhưng ít lâu sau thì con hổ biến mất, các cụ cho rằng nó không chịu được gió Pha Xang. Nó biến… Người ta còn đồn, gió Pha Xang thích bắt người, nhất là vào tháng ba, gió cuốn kiểu vòi rồng, ẩn hiện như ma tháng bảy: “Gió tháng ba, ma tháng bảy”. Nhiều người, đêm tháng ba ra đường, bị gió đưa đi mất, đôi người được tìm thấy thì như bị ám mất hồn, tự chui vào hang đá mà không chui ra được.

Khi lão sinh ra, dân Pha Xang còn bám trụ lại cao nguyên chỉ còn mấy nhúm người. Họ đều sống chui nhủi trong những căn nhà khoét sâu xuống mặt đất của tổ tiên, đúng ra phải gọi là những căn nhà hầm để tránh gió. Lão chỉ được ngoi lên khỏi mặt đất trong một vài sự kiện quan trọng để di chuyển đến ngôi nhà hầm khác: ngày giỗ tổ, ngày đầu năm mới, nhưng đều được cha mẹ bồng trên tay hay dắt đi. Lần đầu tiên, khi bốn tuổi, nhân lúc cha mẹ đi vắng, lão tự rời nhà một mình. Gió đã cuốn bay cái thân thể đứa bé chưa đến 10 kg của lão nhẹ nhàng như lăn một cuộn rơm khô. May lão rơi xuống hõm đất gần nhà và được giữ lại, nếu không sẽ bị cuốn đến rặng núi phía Tây cao nguyên. Khi cha mẹ lão cùng người làng tìm được, lão đã tím tái. Một đứa trẻ ở Pha Xang muốn một mình di chuyển trên mặt đất, phải được dạy cách đi, phải học, phải tập… như dân ở bên kia núi học chạy xe đạp, xe máy vậy. Phải biết cách trụ chân trên nền đất, di chuyển từng bước, cách thu mình lại để giảm lực đẩy của gió, và cách xác định hướng gió khi muốn rời nhà, không được đi theo hướng gió, sẽ bị đẩy ngã sấp mặt, không được đi ngược chiều gió vì sẽ không bước chân lên nổi, phải đi nghiêng, đường đi cắt chéo qua ngọn gió.

Không có gì trên mặt đất tồn tại với gió Pha Xang, không có cây cối nào sống nổi với gió Pha Xang. Gió dữ dội, gió triền miên, gió thổi không ngừng không nghỉ suốt ngày đêm, xé nát tua lá cây, tuốt sạch lá cây, và làm thui bất cứ chồi nào nhú ra cũng như mầm cây mới ngoi lên. Người cao nguyên không thể trồng trọt, nuôi bất cứ cây con nào trên mặt đất.

Chỉ những người Pha Xang chưa bao giờ rời quê hương đi xa, suốt đời chỉ quanh quẩn gần nhà, mới sống gắn bó với Pha Xang đến trọn đời. Còn ai ở cao nguyên đã qua bên kia núi, chứng kiến cuộc sống nhẹ nhàng tươi vui của những vùng đất khác thì trước sau hầu như đều rời bỏ Pha Xang. Nếu họ có trở về Pha Xang thì cũng chỉ sống một thời gian ngắn để tìm cơ hội đưa con, cháu, người nhà ra đi. Gia đình nào khó khăn cũng cố gắng cho một đứa con qua núi: “Phải rời Pha Xang mới có tương lai!”, “Ở bên kia núi có thể làm một năm đủ sống mấy năm”. -“ Ở Pha Xang vắt mũi không đủ nuôi miệng”.

Lão được gửi qua bên núi khi mới lên 10 tuổi. Một người bà con nhận nuôi, cho lão đi học, hơi muộn hơn trẻ con bên núi nhưng rồi lão đã vượt kịp. Lão học xong trường nghề, đi làm và kiếm được tiền…

*

Lão đã đi loanh quanh gần hết thế giới. Lão nhận ra nhiều người Pha Xang sống rải rác ở khắp nơi. Rất dễ nhận ra dân Pha Xang trong cộng đồng người: nhận ra bởi tiếng nói to như dân đi biển, bởi cái chân to bè, ngón chân cắm xuống đất, nhận ra bởi cái dáng đi nghiêng và phần thân cúi xuống, nhận ra bởi cái đầu nhọn. Nhiều người Pha Xang, sống nhiều năm ở bên ngoài hay là đời con, đời cháu giọng nói đã nhẹ đi, dáng đi không nghiêng nữa, nhưng vẫn nhận ra bởi cái đầu nhọn. Cái đầu nhọn chắc phải qua hàng chục đời mới hi vọng che giấu được… Mỗi khi gặp đồng hương lão lại tìm cách bắt chuyện: “Có nhớ Pha Xang không?”- “Không. Nhớ gì vùng đất khốn khổ ấy! À, đôi khi nhớ người thân”- “Đó đâu phải quê hương, đấy là nơi đày ải!”-“Trời, sao có một vùng đất khủng khiếp thế”-“Vẫn nhớ gió Pha Xang. Gió gì như điên, như dại!”. Đôi khi lão lại hỏi: “Có quay về Pha Xang không?”, hầu như tất cả lắc đầu: “Tổ tiên là tù nhân. Tôi đâu có phải là tù nhân!”-“Không lẽ tự đưa mình về lại vùng đất chết”-“Về nơi lưu đày ư?”

Lão Vâu trở lại Pha Xang đưa tang mẹ khi còn trai trẻ. Lão ở Pha Xang mấy tháng trời đi từ nhà này qua nhà khác thăm thú họ hàng và cứ nghĩ mãi về câu hỏi: Tại sao tổ tiên lại chọn mảnh đất này? Chọn vì cảnh đẹp ư? Pha Xang chẳng có cảnh vật nào. Chọn vì đất đai ư? Thiếu gì đất để sinh tồn trên thế giới, mấy trăm năm trước quanh Pha Xang còn bao chỗ hoang vu. Chọn vì?… Cuối cùng lão nghĩ đến những tài nguyên dưới lòng đất. Dưới lòng đất Pha Xang phải có mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ titan, mỏ kim cương… Thì cha ông của những người Ả Rập đã chọn cả một vùng đất sa mạc cháy khô đó sao? Phải có bao nhiêu vùng đất màu mỡ lại đến mưu sinh trên sa mạc khô cằn, chỉ cát là cát, kiếm miếng nước uống đã quá khổ. Ai hay, dưới sa mạc là những mỏ vàng đen. Con cháu họ nay khui lên bán trở thành tỷ phú, họ thành những quốc gia giàu có trên thế giới! Chắc chắn dưới lòng đất Pha Xang là những mỏ tài nguyên!

Có nhiều người Pha Xang có ý nghĩ giống lão. Đôi khi gặp an ủi nhau, nghĩ về đều đó để có chút gì ấm áp với quê hương. Rồi lão kêu gọi họ họp lại bàn với nhau việc sẽ khảo sát tìm các mỏ khoáng sản ở Pha Xang. Cùng vận động, gom góp tiền bạc, để thuê thiết bị… Khi đầu lão bắt đầu có đôi sợi tóc bạc, Hội đồng hương quyết định kéo nhau về Pha Xang, khai quật tài sản cha ông dưới lòng đất tổ tiên. Họ đi đến từng nhà, hào hứng về một tương lai giàu có: Biết tại sao cha ông chọn đất Pha Xang không? Vàng đấy, dưới đất chúng ta là vàng, mỏ vàng.

Mắt người dân Pha Xang sáng rỡ lên: “Thật thế à?”

*

Cuộc đời lão và cả cao nguyên chết, tan lụi sau vụ khai quật …

Lão sống cho giấc mơ ấy, niềm tin ấy. Lão cố làm bất cứ việc gì để có tiền, lão nhẩm tính số tiền để có thể thuê máy khoan, chi phí cho việc khoan từng ngày khi lưu lạc, kiếm sống. Những người Pha Xang khác trong hội cũng vậy. Phải hơn chục năm, gom góp được khá nhiều tiền, lão mới dám hô hào mọi người cùng về quê.

Hội đồng hương ký hợp đồng thuê máy, thuê thợ khoan, chấp nhận giá thuê cao gấp ba, gấp năm vì chẳng ai muốn đến cái vùng gió chết tiệt. Mà không cẩn trọng gió xô đổ cả giàn khoan, không đùa. Cả vùng Pha Xang háo hức, nín thở chờ kết quả vụ khoan thăm dò. Đêm ngày, có hàng ngàn con mắt dán vào những chiếc cần khoan đang hối hả quay. Mũi khoan đầu tiên: chỉ có đất và cát. Mũi khoan thứ hai: vẫn chỉ cát và đất. Mũi khoan thứ ba: đất, đá, cát, sét nâu, sét vàng… Sau nửa năm, với hàng trăm mũi khoan, không có một mảy vàng, than hay dầu dính vào mũi khoan, cần khoan, hội đồng hương sạch bách kinh phí. Mọi người chán nản rời đi. Lão vẫn không cam chịu thất bại, lão đổ hết vào đấy tất cả tài sản người cha để lại, cả những thứ đồ gia bảo mà lão không bao giờ dám đụng đến để khoan tiếp mấy chục mũi tìm kiếm nữa, vẫn chỉ moi lên đất, cát, bùn đen tanh tanh mùi cây cỏ phân huỷ… Lão trắng tay.

Lão liều kêu gọi những người dân Pha Xang còn ở lại quê bỏ tiền. Lão lấy tính mạng, danh dự ra thề thốt. Những người Pha Xang đang đói ăn, nhưng tin về một tương lai tươi sáng theo lời lão đã chắt bóp góp tiền để khai quật thêm mấy chục vị trí mà lão cam kết phần đất ấy chắc chắn có mỏ tài nguyên… Nhưng ruốt cuộc chỉ là bùn, cát, đá, bùn, cát, đá…

Người dân Pha Xang đói rạc vì đã dốc hết chút tài sản cuối cùng gom góp cho dự án khai quật. Nhưng đói chưa phải là đều khủng khiếp, điều khủng khiếp nhất là chút niềm tin, chút hi vọng vẫn ấp ủ về đống của cải của cha ông dưới mặt đất không còn… Họ chết vì thất vọng.

Họ chết vì tin chắc rằng cha ông xưa đã bị lưu đày đến vùng gió khốn này này

Lão cũng lăn ra ốm, tưởng chết, và đã buông xuôi để chết. Nhưng rồi vẫn sống…

*

Những người Pha Xang không chết vì đói, vì thất vọng, đã lũ lượt kéo nhau rời bỏ quê hương sau cuộc khai quật.

Với họ cao nguyên không có gì ngoài những cơn gió man dại thổi suốt ngày đêm đến héo cả người. Rời khỏi vùng đất lưu đày chết tiệt của tổ tiên để tìm đường sống cho mình, cho con, cho cháu…

Chỉ còn lão Vâu, bà Ing mù, câm, điếc, cụ Thõng và mấy người già gần đất xa trời ở lại. Những đám thanh niên kéo nhau thành tốp, khi rời Pha Xang thường vẫn ghé qua chỗ lão: “Đi thôi cụ Vâu, đi cùng bọn cháu. Quê hương không phải là nơi chúng ta sinh ra mà nơi nuôi ta sống. Bên kia núi là quê hương cụ ạ!”, “ Ai không gắn bó với nơi chôn rau, cắt rốn hả cụ, nhưng Pha Xang có gì để chúng ta có thể sống, có gì để chúng ta hi vọng!”- “Một vùng đất không có một bông hoa, một cánh chim, và dưới lòng đất không có một gram quặng…”

Cụ Thõng ở lại vì đã gần trăm tuổi. Cụ muốn được chết ngay trên mảnh đất đã sinh ra: nếu đây là mảnh đất lưu đày thì cụ cũng đã bị lưu đày gần hết cuộc đời rồi, thêm ít năm lưu đày cũng không sao. Đã sinh ra bất hạnh, chết luôn nơi bất hạnh, qua đó nằm trong nghĩa trang của những người hạnh phúc cũng cô đơn lắm.

Cụ Thõng và những người già ra đi. Lão chuyển bà Ing đến ở cùng để chăm sóc. Đôi khi lão cố trao đổi với người đàn bà điếc, mù… bằng thứ ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt lão học được sau nhiều tháng sống chung:

– “Bà có biết gì về vùng đất bên kia núi không?”

– “Nó như thế nào?”

– “Không có gió. À, gió nhẹ nhàng. Gió mơn man trên tóc, da người. Có thể xây nhà trên mặt đất”.

– “Lạ nhỉ? Không ở nhà dưới mặt đất”.

– “Có thể bước đi nhẹ nhàng trên mặt đất”.

– “Thế à. Không phải giữ mọi thứ khỏi bị gió cướp”.

– “Không. Ở đấy gió không cướp. Có thể để các đồ vật đâu đó trên mặt đất”.

– “Lạ hé. Không bị gió cướp”.

– “Có thể trồng cây trên mặt đất”.

– “Heo, gà, vịt…thì sao”.

– “Chúng bay nhảy trên mặt đất, tự đi tìm thức ăn, gió chỉ đùa vui mà không cuốn chúng đi”.

– “Vậy há?”

– “À, ở đó mùa xuân hoa nở thơm ngát, chim hót trên cành cây, có bươm bướm bay”.

– “May cho tôi bị mù điếc để không cảm thấy những thứ ấy không có ở Pha Xang”.

– “Phải. Bà đã hạnh phúc khi mù, điếc…!”

Bà Ing mất sau nhiều ngày hấp hối. Khi chết, đôi môi khô héo của người đàn bà tàn tật nở một nụ cười. Nụ cười hiếm hoi ở Pha Xang. Nụ cười duy nhất của người Pha Xang khi đi về cõi bên kia. Khó khăn lắm, một mình lão cũng lo được cho bà Ing nơi an nghỉ cuối cùng.

Pha Xang, giờ chỉ còn mình lão. Cao nguyên mênh mông của cha ông xem như lão cai quản. Mà lão đúng là chủ của vùng đất này vì ai rời đi sang bên kia núi cũng bảo: cho cụ đất nhà tôi đấy. Cụ muốn làm gì thì làm…

*

Hai khối hộp chữ nhật lão nhìn thấy gần eo Gió vào một buổi sáng.

Có lẽ nó đã xuất hiện ở đấy nhiều ngày vì hơn một tuần qua bị cảm sốt, lão không thể ngoi lên khỏi mặt đất. Hai khối nhà sơn xám, sáng đèn. Lão biết đó là hai cái container văn phòng (lão đã thấy ở các công trường xây dựng bên kia núi).

Gần như lão đã bò trên mặt đất để có thể đến vị trí container nhanh nhất. Lão phải dùng cả cùi chỏ nện vào cửa mới có người ra mở. Mấy thanh niên trẻ đang châu đầu vào cái bảng cảm biến lằng nhằng công thức, giật mình khi thấy lão: “Chào cụ. Cụ ở đây?”- “Ờ hờ…”- lão hắng giọng vì kinh ngạc cho cuộc gặp bất ngờ. “Chúng cháu xin lỗi vì đã tìm quanh đây để xin phép nhưng không thấy ai. Đây là đất của cụ”- “Ờ hờ…”. Mấy thanh niên trẻ mời lão ngồi xuống ghế, rót từ bình ra thứ nước trong veo mời lão. Rồi họ gọi điện qua container bên cạnh. Lúc sau, một người thanh niên đội nón bảo hộ, đeo kính mắt lồi bước qua: “Cháu phụ trách ở đây. Chúng cháu thuộc một Viện khoa học”- “Sao các anh lại đến đây?”-“Chính cháu là người đề nghị Viện khoa học được đến đây. Cháu đề nghị vì hồi nhỏ cháu có đọc mấy dòng trong nhật ký của người cố viết về một vùng đất mà ông cố gọi là “vùng gió”.-“Vậy, ông cố đã đến đây?”-“Cụ không đến, mà hơn trăm năm trước, cụ cố đã sống ở đây. Cụ rất muốn thế giới biết về “vùng gió”, “những người đầu nhọn” và cụ muốn nghiên cứu về điều đó, nhưng cụ cố đã không hoàn tất dự định vì đã mất trong một tại nạn leo núi”- “ Cụ cố là người Pha Xang?”- “ Vâng, và cháu là một người trong huyết quản mình có máu của người Pha Xang. Cháu tên là Khai ạ!”. Người thanh niên đeo kính bỏ nón bảo hộ xuống. Lão Vâu nhận ra cái đầu của người thanh niên vẫn có một chút xuôi xuôi ở đỉnh. Lão Vâu cảm động rơi nước mắt, chồm qua bàn ôm chầm lấy Khai và siết chặt.

Chấm chấm nước mắt, người thanh niên cười: “Cháu là người Pha Xang. Nhưng đã là người Pha Xang lưu lạc. Vẫn còn ký ức Pha Xang nhưng không còn quyền sở hữu đất đai của tổ tiên ở Pha Xang. Máy bay trực thăng đã hạ phòng nghiên cứu chúng cháu xuống đây 10 ngày, giờ cháu mới may mắn được gặp chủ đất. Chúng cháu đã đo đạc, thu nhập số liệu, nghiên cứu hơn một tuần.”- Khai chỉ ra ngoài cửa sổ văn phòng, lão nhìn theo: bên đó có nhiều thiết bị lạ hoắc cái nằm, cái đứng, cái dựng cao chục mét: “Ông ạ, Pha Xang đang nắm giữ một mỏ vàng to lớn nhất hành tinh này đấy!”- Lão phát một câu: “Làm đếch gì có vàng, chúng tôi đã khoan nát đất cao nguyên này, chỉ có đá, đất, bùn!…” -“Có vàng. Thực ra, còn quý hơn vàng, vàng Pha Xang là mỏ gió. Mỏ gió!”. Lão há hốc mồm: “Mỏ gió!”-“Thứ đó có người mua, bán được à?”-“Bán được, đắt giá, sẽ có nhiều người mua”. Lão hỏi đi hỏi lại hàng chục lần. Lão nắm chặt hai bàn tay của Khai. Rồi lão khóc nức nở: “Cháu ơi, ta đã tìm gần hết đời, lật tung cả đất đai tổ tiên lên vẫn không biết cha ông để lại gì cho con cháu. Đã tận cùng thất vọng. Không ngờ, nay cháu đã tìm thấy!”

Hôm đó, lão ở lại ăn tối với mấy thanh niên trẻ. Lão uống whitky, ăn thịt hộp, mấy thứ này lão chẳng lạ gì hồi còn qua bên kia núi học hành, kinh doanh. Nhưng cũng đã rất lâu lão không mó tới… Lão về đến cái nhà hầm đã quá nửa đêm.

Lời của đứa cháu Khai, mà đám thanh niên gọi là giáo sư, cứ ong ong trong tai lão: Thời năng lượng vàng đen than đá đã qua từ lâu, thời năng lượng dầu mỏ cũng sắp qua rồi, năng lượng thuỷ điện cũng sắp hết thời. Than, dầu gây ô nhiễm cho trái đất. Sẽ bị cấm sử dụng. Nhưng không cấm thì con người cũng đã khai thác gần như cạn kiệt. Số dầu mỏ còn trữ lượng sử dụng chỉ tính bằng năm. Thuỷ điện con người phải giá quá cao cho việc ngăn chặn các dòng chảy tự nhiên của các con sông, các nhà môi trường đã đấu tranh bắt ngưng hoạt động nhiều nhà máy thuỷ điện… Năng lượng thiên niên kỷ tới của con người là gió… Con người đã khai thác năng lượng gió từ nhiều năm trước, nhưng kể từ đây với những phát kiến mới về cách thu nạp, sử dụng gió, con người mới thực sự bước qua kỷ nguyên năng lượng gió ….

Gió Pha Xang trên vùng đất cao nguyên này có những chỉ số tuyệt vời về tốc độ, độ ổn định mà trên thế giới không nơi nào có. Thật tuyệt vời cha ông từ ngàn năm trước đã đặt chân đến cao nguyên này và chiếm giữ nó cho con cháu… Cha ông ta đã chọn Pha Xang cho con cháu trước cả ngàn năm!… Đêm ấy, Lão Vâu lại khóc thút thít như một đứa trẻ: lão cùng bà con đã đào nát đất Pha Xang, khoan xuống đất sâu trăm mét, không ngờ thứ tổ tiên để lại cho con cháu là thứ ở trên trời, ngay trước mắt, lão vẫn chạm vào nó hàng ngày…

Trong lần gặp sau, Khai cho lão biết rằng: thời gian tới sẽ có rất nhiều tập đoàn năng lượng “nhảy” vào Pha Xang sau khi Viện nghiên cứu công bố tài liệu nghiên cứu. Lão sẽ phải có chiến lược, sách lược để hợp tác với họ sao cho có lợi nhất cho Pha Xang. Sẽ phải đấu giá, tập đoàn nào mua gió Pha Xang cao nhất mới chấp nhận cho đầu tư. Đất Pha Xang người Pha Xang nên giữ quyền sở hữu, chỉ cho họ thuê theo hạn định, gió bán từng gói theo thời gian…

Lão nghe ù cả tai. Nhưng lão biết rằng điều đó không khó gì với con cháu Pha Xang đang lang thang kiếm sống khắp hành tinh này, không khó gì khi có những hậu duệ Pha Xang như Khai. Lão cần gọi họ về cùng với Khai, họ sẽ bàn nhau, họ sẽ tự định đoạt tương lai lâu dài nguồn tài nguyên của tổ tiên.

*

Lão lại đi qua bên kia núi.

Lão vẫn nghĩ sẽ không bao giờ đi qua bên kia núi, vậy mà cuối đời một lần nữa lại đi.

Lão lại tìm gặp từng người đầu nhọn như hồi lão kêu gọi thăm dò, khai quật lòng đất. Nhưng lần này, dễ dàng hơn nhiều, với tập tài liệu của Viện nghiên cứu trong tay, lão chỉ photo và phát cho đám dân đầu nhọn khi lão gặp ở bất cứ đâu. Lão biết thông tin này sẽ loang ra khắp thế giới theo hiệu ứng domino…

Sau ít phút giây ngỡ ngàng, họ đều bật ngửa ra về nguồn tài nguyên cha ông để lại.

Cũng có những đứa đầu nhọn mất nết bảo lão: “Lại như vụ khai quật mỏ ấy à?”- Lão đáp lại: “Tổ tiên nào cũng để cho con cháu gia sản. Gia sản gì thì phải đi tìm. Có tìm mới thấy!”

Người đầu nhọn kéo nhau trở về Pha Xang…

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Những ngày đầu năm luôn là thời gian chúng ta nhìn lại mình …

Cuộc sống luôn mãi không có sự công bằng ,

Mỗi con người là một tinh cầu khác biệt…

Hãy cứ cân bằng lại bản thân và những người xung quanh để bước đi mà không phiền não, không hổ thẹn với bản thân với tha nhân.

Mỗi ngày trôi qua…ta còn cái cảm giác được ngủ ngon trên chiếc giường của mình, giang rộng đôi tay, nhắm nghiền hai con mắt, mộng tưởng về những hồi ức xa xưa…

Đó chính là hạnh phúc mà ta còn có được.

Thời gian …và công việc làm người ta quên hết mọi việc xung quanh, công việc đa đoan làm tâm hồn mụ mẫm, thơ văn chữ nghĩa không màng ghé thăm…

.Mỗi ngày ngắm nhìn những bông hoa lặng lẽ khoe màu theo từng mùa mưa nắng…rồi lặng lẽ úa tàn theo quĩ đạo bất biến của vũ trụ.

Vậy là cũng đã may mắn lắm thay.

Những lối rẽ của đời người rồi cũng lướt qua, những nghịch cảnh cuộc đời cho ta thêm mạnh mẽ vượt qua bao cơn gió ngược, bao mảnh vỡ cuộc đời luôn để lại trong ta không chút nhạt phai.

Năm tháng sẽ xóa nhòa bao khổ hận, sẽ qua đi theo thời gian, nhưng chữ ân tình , chút tình thâm luôn còn mãi trong tâm thức mỗi người lúc buổi chiều tà.

Lợi danh há tựa bóng mây chìm nổi

Chữ ân tình luôn còn mãi không phai

Khi về già mới nhận ra rằng : ” Tình yêu…có không trong cuộc đời này…cũng chỉ là thứ yếu “

Cuộc sống đời thường của hai người với nhau : ” Không mệt mỏi chán chường nhau …chính thực là hạnh phúc trần gian”

Buổi thanh xuân ai cũng coi trọng chữ tình, vật quí cõi trần gian..

.Nhưng qua bao sóng gió cuộc đời, sự chán chường nhau trong đời sống, …lúc chia ly mới biết mình đã làm đúng và không hối tiếc việc đã làm…

Bà lão ly hương , nhớ cố hương khi mỗi lần năm hết…thời gian rượt đuổi nhạt nhòa trên mái tóc, bàn tay khô cứng với những đường vân tay bất biến theo tháng năm…

Một thoáng Xuân về khắp đó đây cái cảm giác lạnh buốt bàn tay chợt mới hay:

Cũng sắp xuân về nơi xứ lạ

Bùi ngùi vọng nhớ đất nước xa

Bao mùa Xuân đi qua trên mái tóc

Nhớ quê nhà lữ khách khẽ thở ra….

.Mấy lần trở lại nhà vào dịp Tết, hưởng lại không khí thân quen nơi quê nhà …

Những con đường ngày cũ đã thay tên, những đèn màu xanh đỏ, tiếng nhạc réo rộn ràng, thành phố cũ nay không còn như ngày xưa tôi đã từng ghi lại trong bộ nhớ già nua

Người lữ khách già nua trở về quê cũ …

Mong tìm lại chút hương xưa…

Tất cả đã thay đổi dưới mọi hình thức và không còn một chút gì mà tôi hằng tưởng tượng trong đầu óc tụt hậu của mình….

Bao nhiêu năm bươn chải nơi xứ người với tâm thức bôn ba, chắt chiu cùng cơm áo gạo tiền, bên những cảnh vật hầu như không thay đổi theo năm tháng, vẫn từng ấy công việc, với từng ấy màu sắc, với từng ấy người khách hàng khác màu da và chủng tộc, dễ tính và rộng rãi với cuộc sống đủ đầy và thánh thiện.

Trở lại mái nhà xưa, lòng nôn nao với biết bao ngỡ ngàng vì cảnh vật lắm đổi thay…

Tìm lại những bạn bè thân quen ngày cũ, lắm đứa đã không còn…còn lại những bạn bè mới quen, hay đã gặp trong nỗi niềm quên quên nhớ nhớ, khoát lên mình họ những tấm áo nhạt nhòa màu sắc, hoạt náo giữa sắc màu, thời trang và tuối tác không cân xứng, lạ lẫm giữa mắt nhìn của một người già “tụt hậu là tôi”…

Thấy hơi sai sai đúng đúng …nhưng cũng vui mắt hơn là phải nhìn thấy những cụ già cùng thời tôi mà ở nơi này tôi từng gặp..

Ở nơi này, tôi đã từng nhìn thấy những lão ông , lão bà cùng thời tôi, ngày cuối tuần hay nhóm họp ở các hội Cao niên, hội người già, họ cũng ca hát, xưng tụng nhau những chức vụ của một thời quá vãng, cũng nhảy nhót, khoe quần là áo lượt…

Nhưng vẫn u uất một nỗi buồn hầu như họ đang trách cứ thời gian không dừng lại.bỡi hầu như họ chưa làm xong phận sự cho đất mẹ…nay bóng ngã về chiều.

Ngẫm rằng: Nhũng ngọn nến đà sắp tắt đang bùng lên thắp sáng những niềm riêng…

Quay lại chỗ của mình …

Những năm tháng nhạt nhòa phủ đều lên mái tóc , với những sợi bạc đìu hiu, chầm chậm bước chân thân quen với những cảnh vật không hề thay đổi theo năm tháng….

Mới hay xứ sở này, nơi chỗ mình đang sống gởi ; ” Lại không mấy đổi thay “,

Đất nước tôi tuy không tiến bộ hơn người nhưng thay đổi bộ mặt bên ngoài nhìn chóng mặt khi mỗi lần trở lại thăm quê nhà qua biết bao tháng năm nhung nhớ… Thật giả bất phân, hay chỉ là ‘Phồn hoa giả tạo”….

.Cảnh vật đổi thay và tình người biết sao ơi hỡi….

Những năm tháng qua đi trong cuộc đời …bương bả lướt qua những cơn gió ngược, lượm lặt lại những mảnh vỡ cuộc đời đã ghi dấu trong lòng mỗi người không chút nhạt phai..

.Hỉ, nộ , ái , lạc…là những thường tình mà ai cũng từng bước qua trong cuộc đời.qua rồi những niềm vui và lao khổ.

Năm tháng qua thật nhanh và mất hút trong màn sương của cuộc sống : Lại một năm mới chạm ngõ nhà ta từ đêm qua…

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Nhân nghĩa bỏ sót một chữ tình

Ngày đầu năm để chút thời gian nhìn lại mình….

Trong nỗi buồn đơn độc, chợt ngẫm ra rằng ;’ Muốn tìm ra một tâm hồn đồng điệu thấu hiểu nhau trong cuộc đời, thật khó hơn tìm kim nơi biển bắc”

Người xưa đã từng thảng thốt gởi lại ngàn sau :” Quen biết khắp thiên hạ…Tri âm hỏi mấy người”

Rằng hay đời người là ngắn ngủi, mấy ai tìm ra người cảm thông thương yêu nhau chân thực, những người đã và đang có được hạnh phúc trần gian ấy, thực là hạnh phúc …

Kiếm tìm một tình cảm thiêng liêng xứng đáng theo góc nhìn của mình :” Một người chính thực là một con người mạnh mẽ, không hèn nhát khi gặp cảnh trái ngang, biết bảo vệ và nâng niu những gì đối phương mến thích, biết chở che khi ta gặp oan khiên”

Biết trân trọng và luôn coi chữ ‘kim tiền”…là gió thoảng mây bay…Không lấy cái của nngười…

Không cần phải gần nhau mỗi ngày như hình với bóng nhưng thấu hiểu và luôn dõi bước tìm nhau trong từng ngõ tối cuộc đời, bảo vệ nhau , giúp đỡ nhau trong tâm khảm cuộc đời nhau…

Phải chăng vũ trụ này vẫn còn lại hai hạt cát vô danh, được hiện hữu trong cuộc đời trên biển cát …khi mỗi lần bị những đất cát cuộc đời bãi bôi, lợi dụng, rẻ khinh..

. Hạt cát vô tình lại thêm lần giang tay cứu đỡ dắt díu nhau , cảm thông không mời gọi.

Giữa trần thế, tôi chính là hạt cát..

Trôi lênh đênh…theo năm tháng hao gầy

Chỉ người biết…Tôi chính là hạt cát

Hạt cát vô tình rơi rớt biển xa…

Buổi sáng hôm nay …ngày đầu năm 2025…một ngày được nghỉ ngơi trong ngôi nhà tĩnh lặng…âm thầm nghe tiếng súng nổ râm ran …

Bắt đầu cho một năm mới…

Những chữ viết phát ra từ tâm tư của một người già cô độc…Lặng thầm và lặng lẽ…trút hết tâm tư gói ghém mảng ưu phiền…

Xin cám ơn tất cả những tâm tình mà nhân thế đã gởi trao…

Xin cám ơn những hồng ân từ các đấng tối cao ban tặng

Ngày đầu năm mới…Xin gởi trao lời cảm tạ

Atlanta Ngày đầu năm 2025

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Read Full Post »

Đào Thị Thanh Tuyền

.

Trước đó là quãng thời gian đầy sóng gió với gia đình chúng tôi (tôi, Khang và Nhím), đặc biệt là Khang, anh phải gồng toàn bộ gánh nặng gia đình khi ấy. Thế nhưng với tôi, không thể có khoảng thời gian và không gian nào êm đềm hơn thế trong cuộc đời của mình.

Mùa hè năm đó Nhím chuẩn bị vào lớp 9. Chúng tôi dọn về Th. sau khi Khang vấp một cú lừa, gần như trắng tay trong một phi vụ làm ăn, không dính vào vòng lao lý là may! Tôi, cách đó không lâu, một ngày, chợt phát hiện mình không còn khả năng làm mẹ vĩnh viễn bởi một khối u hiện hữu trong cơ thể có nguy cơ chuyển thành K. nếu không phẫu thuật sớm.

Tôi suy sụp nhìn Khang đầu bù tóc rối, ánh mắt vô hồn. Bé Nhím nhìn ba mẹ và mím môi xếp sách vở vào thùng, lấy băng keo dán kín, chờ đợi một chuyến chuyển nhà, quyết không rơi một giọt nước mắt và không bước chân ra khỏi nhà dù bạn bè nó suốt ngày gọi điện thoại rủ đi đâu đó để chia tay.

Đêm trước ngày phẫu thuật, tôi chỉ nói với Khang một câu rằng biết đâu tôi không qua khỏi và Khang hãy gắng nuôi Nhím đến bờ đến bến, sau đó giữa chúng tôi là khoảng không im lặng đến ghê người. Tôi không hiểu Khang nghĩ gì và tôi biết chắc chắn rằng khi ấy, tôi không quan tâm đến điều đó nhiều lắm. Những suy nghĩ trong đầu tôi bị chẻ vụn, xáo lên, trộn xuống lộn xộn.

Đêm dài như vô tận! Ánh đèn néon cùng với màu tường sơn trắng tạo thành một màu chói lóa. Tôi nhắm mắt. Không nôn nao, không chờ đợi. Phía trước mặt là bức tường chắn ngang, không có con đường đi tiếp nhưng cũng không thể ngoái về phía sau, nơi có những con đường đã đi qua nhiều gập ghềnh, xô lấn; vinh quang cũng có mà đắng cay cũng từng.

Thỉnh thoảng có tiếng chuông điện thoại reo lên và giọng khàn đục của Khang trả lời ai đó, rồi mọi thứ chìm vào yên lặng khiến tôi có cảm giác tiếng máy điều hòa dường như to quá, nó vang lên rồi ong ong trong đầu tôi những âm thanh hỗn tạp không phân biệt là của đường phố, hay tiếng sóng biển, hay tiếng gió mưa gào thét. Rồi bỗng dưng những âm thanh ấy chợt tắt ngúm và tôi như người đang chạy nước rút, bị hụt chân, mất thăng bằng ngã chúi nhủi.

Sau này, Khang nói có lúc anh thấy tôi lim dim, lơ mơ, rồi tôi nói thầm điều gì đó, rồi lại mở to đôi mắt nhìn lên trần nhà không chớp và anh bỗng thấy tôi xa lạ, một người nào rất khác chưa hề một lần quen biết!

Sáng hôm sau, Khang tiễn tôi một đoạn ngắn trong hành lang bệnh viện, tôi không quay đầu lại bởi bước chân và ánh mắt tôi phải bám theo tấm áo blouse trắng trước mặt. Mọi thứ sau đó diễn ra rất nhanh cho đến khi tôi thấy lạnh, rất lạnh, run lên từng cơn, lập cập, tôi lập bập trả lời cô y tá những câu hỏi gì đó rồi chìm vào vô thức cho đến khi những cơn đau dồn dập thúc tôi tỉnh dậy.

Những ngày sau đó, tâm trí tôi chỉ chú mục vào cơn đau và cố gắng làm mọi cách xoa dịu nó. Tôi hoàn toàn không quan tâm Khang làm thế nào để có cho tôi những chén cơm mềm, canh nóng hay Nhím ở nhà ăn gì. Mối quan tâm của tôi lúc đó chỉ là nhịp thở. Tôi tập trung vào nó, hít thở và đếm, và cảm nhận được sự huyền nhiệm của thời gian qua từng giây, từng phút, từng giờ đồng nghĩa với cơn đau lui dần từng chút một cho đến ngày tôi đi đứng bình thường và chúng tôi dọn về Th.

Nơi gọi là nhà chúng tôi khi ấy là một dãy nhà cấp bốn, gồm ba phòng mà Khang ký hợp đồng thuê trong thời hạn mười năm của một trung tâm thể dục thể thao sau khi anh trúng thầu quản lý sân quần vợt cũng từng thời gian ấy. Trung tâm có một nhà thi đấu, câu lạc bộ bóng bàn, quần vợt, võ thuật và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn cho những trận thi đấu cấp thành phố. Khang đem tiện nghi về cho gia đình chúng tôi sao cho mọi người không cảm giác đang ở nhà thuê.

Bé Nhím có một phòng riêng đầy đủ mọi thứ phục vụ học tập và giải trí. Kế đó là phòng tôi và Khang, còn lại một phòng dành cho bạn bè thân thiết đến chơi, ở lại. Phòng nào Khang cũng sửa sang thật đẹp, ấm cúng, anh muốn khách đến với gia đình chúng tôi được thoải mái như ở nhà họ. Khang còn chu đáo mang về hai con chó nhỏ đẹp như hai con chó bông, một con Nhím đặt tên là Lu, một con tôi đặt tên là Rem.

Phía trước nhà có cái sân rộng, Khang mua vài cây lớn về trồng tạo bóng mát, trong đó có một cây sa kê. Anh đặt bên dưới gốc cây một cái xích đu, mấy bộ bàn ghế thấp, thế là có ngay một nơi để anh tiếp khách và phục vụ nước giải khát cho khách chơi thể thao.

Từ vị trí giám đốc một doanh nghiệp, dưới tay có vài chục nhân viên, Khang chấp nhận và vui vẻ lui về làm ông chủ hàng nước, chủ yếu có tiền cho tôi đi chợ, cho Nhím đi học thêm. Việc chính của anh là những cú (mà anh gọi là) “áp-phe” anh có được từ sân quần vợt. Với một người chơi quần vợt giỏi và dễ tạo mối quan hệ thì đây rõ ràng là một thuận lợi.

Phía sau nhà là sân bóng đá, cỏ xanh trải dài ngút mắt, chưa bao giờ tôi đi bộ hết một vòng. Tôi thích ngồi hàng giờ ở đó những buổi chiều thả suy tư mình đi từ miền này đến miền khác của ký ức. Tầm năm rưỡi chiều, nắng vừa tắt, trong khi chờ Nhím đi học thêm về và Khang vẫn còn hào hứng với những pha cắt bóng ở sân quần vợt thì tôi lững thững ra sân cỏ. Lu và Rem lũn cũn chạy theo.

Nơi ấy có sẵn hai cái ghế dài cùng một cái bàn và một cái ghế dựa là những thứ phục vụ cho trận bóng đá còn lại chưa dọn dẹp. Đến tối có người mang tất cả vào nhà và sẽ mang ra vào hôm sau để phục vụ các trận bóng đá khác.

Khi tôi ra sân, lúc nào cũng có một nhóm con nít đi học bóng bàn sớm tranh thủ tạt vào chạy nhảy, hay mang banh vào đá, hay chơi với Lu và Rem. Chúng mê hai con chó đến nỗi có đứa sẵn sàng hi sinh gói bánh snack hay ổ bánh mì thịt để dụ Rem chạy theo chúng lòng vòng trên sân cỏ, có đứa thích thú ngã lăn quay theo Rem và Lu khi chúng đùa giỡn nhau.

Những suy nghĩ của tôi cứ miên man, khi thì theo bước chân chạy nhảy của bọn trẻ, khi thì say sưa với trò vật lộn của Lu và Rem, khi thì dõi theo đường lăn của trái banh quần vợt màu xanh mà bọn trẻ quăng ra để nhử Lu. Tôi kéo hồi ức về tuổi thơ, về tuổi dậy thì, về những ngày trong trường đại học và về Khang.

Ngày tôi đưa Khang về nhà, mẹ tôi, một phụ nữ đơn thân, có cái nhìn hơi kỹ tính về đàn ông nói với tôi rằng Khang có gương mặt hiền, nhưng đôi mắt lại đầy tham vọng. Người như thế không bao giờ bằng lòng với những ngày thật bình yên. Với anh ta, đó chỉ là những năm tháng phí hoài hay để dừng lại chờ một cơ hội khác. Khi ấy tôi không quan tâm nhiều đến lời nhận xét của mẹ bằng cái gật đầu của bà chấp thuận cho chúng tôi có một đám cưới.

Rồi Nhím ra đời, lúc nào cũng cười. Mẹ tôi nói nụ cười của Nhím sẽ giúp chúng tôi làm ăn khá, nhưng liền sau đó bà lại chép miệng bảo đôi mắt của Khang sâu quá, khi tối, khi sáng quá!

Quả đúng vậy, Khang làm ăn lên như diều. Một phân xưởng rồi hai phân xưởng, một miếng đất rồi hai miếng đất… Tôi nghỉ việc, về nhà quản lý sổ sách, lo toan gia đình, đưa đón Nhím đi học…

Nghĩ đến quãng thời gian đó, tôi thường phóng tầm mắt nhìn bao quát hết sân cỏ rộng có tiếng cười giòn tan của lũ trẻ. Có mùi cỏ ướt vừa được tưới nước lẫn với mùi đất và mùi nắng nương theo gió lúc nhạt, lúc nồng. Và gió. Gió mơn man, lúc nhẹ nhàng, lúc suồng sã, khi nồng nàn, khi âu yếm, khi phóng khoáng, lúc bao dung… Tôi hít mãi mùi cỏ ướt, ngắm mãi mặt sân cỏ, tâm trạng không buồn, không vui, chỉ thấy lòng rất thanh thản.

Đến khi chiều dần sụp xuống hết, lũ trẻ lần lượt được ba mẹ đón về nhà, Lu và Rem mỏi mệt, lười biếng, nằm phục dưới chân tôi vụt ngẩng đầu, nghe ngóng rồi phắt nhanh phóng ra phía trước khi có tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím đi học về. Tôi trở về phòng chuẩn bị cơm nước cho ba người. Tham gia một chút với Khang cùng bạn bè ngồi uống bia sau trận đấu, chấm hết một ngày. Những ngày có những buổi chiều rất bình yên.

Hè năm sau đó Nhím thi đậu vào trường chuyên. Khang nghĩ xa hơn là Nhím cần nên đi du học sau này và tôi thấy anh có những buổi tối ngồi ở bộ bàn ghế dưới cây sa kê đốt thuốc liên tục. Tôi chợt nhớ lời mẹ tôi đã ra người thiên cổ rằng đôi mắt Khang khi thì tối quá và lúc thì sáng quá!

Hai năm sau, Khang để lại cho tôi sân quần vợt cùng quán nước, anh trở lại S. nói là cần phải gầy dựng lại những gì đã mất.

Những buổi chiều thật bình yên của tôi thưa dần dù sân bóng vẫn còn bọn trẻ chơi đùa với Lu và Rem và mùi cỏ lúc đậm, lúc nhạt phảng phất đến chỗ tôi ngồi trên cái xích đu. Tôi không còn thì giờ ra ngồi trên cái ghế dài trên sân bóng đá, tôi bận thu tiền, tính giờ và phục vụ nước cho khách.

Nhím đi học thêm nhiều hơn, những bữa cơm của chúng tôi hoặc sớm quá hoặc tối quá. Chúng tôi không còn những sinh hoạt gia đình giống như những gia đình bình thường khác. Thỉnh thoảng Khang về, nếu không làm vài set với bạn bè thì anh lại ngồi rất lâu dưới gốc cây sa kê và hút thuốc. Giữa chúng tôi khi ấy chỉ là những kế hoạch cho Nhím, thỉnh thoảng Khang nhắc đến khoản tiền tích lũy để gia đình có thể trở về những ngày xưa ở S.

Tôi nói với Khang rằng tôi thấy mỏi mệt, tôi thích những ngày thật bình yên có Khang, có Nhím và tôi có cái sân cỏ rộng để thả suy tư của mình trong buổi chiều tắt nắng. Khang nhìn tôi lạ lẫm, trong ánh sáng nhập nhoạng chiều chuyển sang đêm, tôi vẫn cảm nhận được những luồng tối sáng hiện ra trong đôi mắt anh, đó là lần đầu tiên tôi lờ mờ hiểu được những điều mẹ tôi đã dự đoán.

Mọi sự trôi đi như thế…

Ngày có tin Nhím đậu vào đại học y khoa thì tôi là người sau cùng biết tin Khang có người đàn bà khác cùng một đứa bé mới sinh. Nhím hình như không còn biết cười từ ngày ấy. Từ một đứa linh hoạt, vui tính, hồn nhiên, sôi nổi, nó bỗng nhiên trầm xuống và ít nói hẳn đi. Tôi đóng cửa quán nước buổi chiều và trở lại sân cỏ cùng với Lu và Rem giờ đã lớn không còn thích thú gì với những trò chạy nhảy của bọn trẻ ngoài mấy gói bánh snack.

Tôi ngồi mãi cho đến khi bóng tối phủ đầy cùng tiếng muỗi vo ve bên tai và Nhím bước ra ôm vai tôi, hai mẹ con vào nhà ăn cơm rồi tắt đèn đi ngủ sớm. Cả Nhím và tôi đều biết chúng tôi sẽ có những đêm rất dài, triền miên không ngủ được!

Khang trở về ngày tôi chuẩn bị đưa Nhím vào trường. Tôi đưa cho Khang tờ đơn ly hôn đã viết sẵn. Khang sang lại câu lạc bộ cho người khác quản lý khi chưa hết hạn hợp đồng. Tôi làm một con tính trừ, những buổi chiều bình yên của tôi chỉ có được hai năm. Quá ngắn cho một đời người, nhưng có lẽ quá dài cho một người như Khang. Với tôi, tôi không biết mình đã thật sự tận hưởng hết những buổi chiều thật bình yên đó hay không, chỉ biết mọi thứ đã chấm hết, một phần đời ngắn trong một đời dài…

Hai năm sau, Nhím có được học bổng đi học nước ngoài. Tôi quay lại Th. mua một miếng đất ở vùng ngoại ô và cất ngôi nhà nhỏ. Tôi tìm lại dãy nhà ba phòng ngày xưa và vòng ra sân cỏ. Mọi thứ vẫn vậy, sân cỏ vẫn êm đềm và mùi cỏ vẫn lẫn mùi đất cùng mùi nắng, nồng nàn. Hết bọn trẻ này lớn lên có bọn trẻ khác tìm đến câu lạc bộ bóng bàn.

Tôi ngồi lại một chút rồi đứng lên khi thấy lồng ngực mình nặng trĩu và mắt cùng sống mũi thì cay quá! Và đêm ấy, tự dưng tôi bật tiếng khóc thật to trong căn nhà còn nồng mùi sơn mới. Tôi, Khang, Nhím, Lu, Rem và sân cỏ… Những ngày bình yên ấy sao ngắn ngủi đến vậy? Tôi tự hỏi nhiều lần câu ấy cho đến khi thiếp đi trong một giấc ngủ đầy mộng mị…

Ba năm sau, tôi nhận được tin Khang bị ốm nặng khó qua khỏi. Báo tin cho tôi là một người bạn thời đại học. Anh nói với tôi rằng Khang bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Tôi nên đi thăm Khang, nếu không còn tình nghĩa vợ chồng thì cũng là bạn bè những năm trong trường đại học.

Tôi sắp xếp mọi thứ, quay lại S. và ở với Khang ba tuần cuối cùng trong bệnh viện. Người phụ nữ sau này của anh cũng là một người quen biết cũ của chúng tôi. Giữa chúng tôi không còn thù hận, hờn ghen khi Khang nằm đó, gầy gò, dúm dó trong những cơn đau. Tôi nhớ lại những chén cơm mềm, canh nóng quãng thời gian tôi phẫu thuật. Đã trải qua, tôi biết chắc chắn giờ đây Khang chẳng nghĩ gì xa hơn đến việc làm sao dứt khỏi sự đau đớn. Trong mắt Khang, bóng tối phủ đầy, thảng hoặc lóe lên vài luồng ánh sáng rất nhạt và yếu ớt!

Có một lần, duy nhất, Khang tỉnh táo sau giấc ngủ dài không bị cơn đau hành hạ, Khang hỏi tôi Nhím sau này sẽ về hay ở lại? Tôi nói không biết. Giữa ba chúng tôi dường như từ rất lâu đã muôn trùng xa cách rồi!

Tôi điện thoại cho Nhím: ba có thể không qua khỏi, con thu xếp về gặp ba một lần cuối. Nhím chưa sắp xếp được ngày về thì Khang ra đi vào một buổi chiều có nắng vàng thật rực rỡ bên ngoài khung cửa sổ. Một chiếc lá chao nhẹ, rơi xuống, sau đó nhiều chiếc lá thi nhau lìa cành bởi một cơn gió ở đâu đột ngột thốc đến. Vợ Khang gào khóc. Tôi không khóc được như vợ của Khang, hình như nước mắt chảy ngược vào trong đã từ lâu lắm rồi!

Nhín nghẹn ngào với tôi qua điện thoại rằng mấy năm rồi con chưa thấy ba, mẹ thì con vẫn thấy hằng ngày qua webcam… Trước khi chấm dứt, Nhím bỗng nói: “Có bao giờ mẹ nghĩ ngược lại rằng mẹ có lỗi với ba?”.

Tôi không có thì giờ suy nghĩ về điều Nhím nói bởi còn phải phụ với vợ Khang lo cho Khang lần cuối.

Đêm cuối cùng ở S., tôi và vợ Khang có một bữa tối cùng nhau trong một không gian thật yên tĩnh, có tiếng nhạc nhè nhẹ, có bình hoa thật đẹp trên bàn và có cả nến. Vợ Khang nói với tôi những điều tương tự như lời của Nhím. Chị nói chính tôi đã đẩy Khang vào cuộc đời chị.

Những ngày đó, khi mà tôi chìm đắm trong khoảng trời bình yên của riêng mình thì Khang đã rất cô đơn. Ở tuổi 45, Khang còn quá trẻ để cột mình vào những buổi chiều nhàn nhạt ấy. Cuối cùng chị nói tôi chưa bao giờ yêu Khang như Khang đã yêu tôi. Tôi chỉ yêu khoảng trời nhỏ bé mà tôi cho rằng đã rất bình yên đó, và ôm một hi vọng hão huyền là có thể trói người đàn ông nhiều tham vọng, không bình thường bằng những điều tầm thường đến vậy!

Tôi trở về Th. và tìm lại sân cỏ ngày trước. Ngồi trên ghế dài, tôi chợt nhớ vô cùng tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím và tiếng cười to của Khang trên sân quần vợt. Chẳng lẽ đời người không có quyền tìm cho mình chốn bình yên? Ngày xưa có lần mẹ tôi cũng nói nhiệm vụ của tôi là phải đi theo những bóng tối và ánh sáng trong đôi mắt Khang, như Rem và Lu luôn phải nghe ngóng tiếng chuông xe đạp của Nhím.

Tôi ngồi mãi không muốn đứng lên dù bóng tối đã phủ đen sân cỏ và những con muỗi bắt đầu bản nhạc rất khó chịu bên tai khi nhận ra một điều, trong những ngày tôi cho là bình yên đó, cả tôi, Khang và Nhím đều cô đơn! Khang đứng trong bóng tối khao khát về ánh sáng.

Nhím cô đơn trên con đường đi tìm tương lai và tôi, tôi cô đơn bởi (vô tình hay cố ý) không muốn nhận ra ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng để hiểu về người đàn ông có một thời là của tôi giờ vĩnh viễn dừng lại trên con đường đi không dài của đời người.

Read Full Post »


Trương Văn Dân

.

Sáng hôm ấy Trung ra đón Thuý ở bến xe Quy  Nhơn. Khi bước xuống xe nàng nhìn anh ngạc nhiên.

– Hôm nay là lần đầu tiên em thấy anh đội mũ.

           Trung chỉ cười không đáp, nhưng khi hai người ngôi trong quán nước thì Thuý lập lại câu nói lúc nãy.

– Ủa trời nóng sao anh không gỡ mũ?

– Em thấy anh thế nào?

– Bình thường thôi. Nóng, gỡ mũ  đi anh!

           Trung cười, nói thật tình:

– Kệ! Chiều hôm qua anh chưa đi nhuộm. Anh sợ mọi người thấy tóc anh bạc quá.

– Ui chao, sao anh ngốc thế? Ngốc! Ngốc! Ngốc!

          Trung sững sờ nhìn Thuý. Giọng nói và nét mặt nàng nghiêm trang, không có chút gì đùa giỡn.

– Người ta nhìn thì mặc người ta, em không quan tâm! Vậy là anh chưa thật sự hiểu em. Có những lúc anh ngây ngô thấy ghét. Cũng may là em rất nhạy cảm với anh, em nhận ra liền những cảm xúc của anh.. chứ anh ngốc lắm. Đấy, khi nói đến tóc bạc.. anh đã vội giải thích cho em theo kiểu sợ em thấy anh già. Đó cũng là một trong những điều anh chưa hiểu. Anh đã chẳng nói với em rằng vẻ ngoài chỉ thu hút lúc ban đầu thôi sao? Chúng mình vẫn chỉ thích nhau ở vẻ ngoài thôi sao? Riêng em, dù anh có lớn hơn em ba con giáp hay có già hơn 100 tuổi nữa thì em vẫn yêu anh. Em chỉ muốn nhìn xem anh có phải vì nhớ thương em mà bạc tóc không. Nếu vì nhớ em thì một sợi bạc là một sợi tình. Biết chưa? Ngốc!

– Trời, em có nhiều ý lạ và hay lắm. Hơn cả nhà văn nữa!

– Anh đừng có đánh trống lảng! Từ giờ về sau anh đừng nhuộm tóc nữa. Nhuộm nhiều bị ung thư á. Để rứa cho tự nhiên như ba em ngày trước, ba không nhuộm tóc mà có xấu đi mô!

– Không phải xấu đẹp.. mà vì tóc bạc không đều. Bên phải bạc nhiều… bên trái thì đen.. buồn cuời lắm.

– Điều anh nói chỉ đúng có một phần thôi. Nhưng… em thích kiểu bạc không đều, rứa … mới thích. Già đều.. thì nói làm chi. hihi

           Nói xong Thuý gỡ mũ của anh xuống và vuốt ve những sợi tóc bạc của anh. 

– Anh cứ để tóc vậy nhé! Đừng nhuộm, nhuộm nhiều không tốt anh à.

– Nhưng anh không muốn thấy mình già so với em đâu. Cho nó ngang lứa chút! Chứ thật lòng anh không có ý làm mình trẻ hơn.

 – Để màu tóc vậy em càng thương anh nhìu hơn. Anh và em không yêu nhau bởi vẻ ngoài. Mà yêu tâm hồn của nhau. Em yêu chàng dù tóc không còn xanh. Yêu trái tim không tuổi. Yêu đôi mắt ẩn chứa cả một trời trăn trở.Yêu tất cả những gì thuộc về anh.

– Trong đời anh, chưa bao giờ được gặp một người như em cả! Quá hiếm hoi. Duy nhất!  Và yêu thương  anh bằng một tình yêu sâu thẳm.

– Em hạnh phúc khi nghe anh nói vậy. Trước đây em cũng không tin rằng trên đời lại có một người như anh. May mà mình gặp nhau chứ không thì em không thể nào biết tình yêu đẹp đến vậy, tưởng chỉ có trong tiểu thuyết. Nghĩ lại thì em đã không uổng phí mấy mươi năm chờ đợi.

            Em yêu và tin anh nên em ban tặng hết những gì em có. Và em sẽ còn làm nhiều hơn nữa để anh không bao giờ hết yêu thương em, để anh không thể tìm được người thứ hai như em có thể hiến dâng tất cả miễn là được nhìn anh hạnh phúc.

– Mình sẽ ở bên nhau mãi nhé!

– Dạ! Em sẽ không bao giờ muốn rời xa anh. Trong lòng em chưa nửa lần có ý nghĩ sẽ xa anh nếu em còn sống.  Hôm nay em còn nói thật với anh điều này nữa nè: Em thèm yêu anh và khao khát được anh yêu nhưng nếu không có anh, không còn anh thì em sẽ giết chết cảm xúc đó. Em quyết rồi. Em sẽ triệt tiêu cảm xúc đó.

– Trời, đừng em! Trung biến sắc và run giọng. Không thể xảy ra chuyện đó. Không!

– Em nói thật lòng! Từ lúc ân ái với anh em thề  rằng từ nay sẽ không còn người đàn ông nào có thể chạm đến người em được nữa. Sự dâng hiến cùng anh đã làm cho thân thể em trở nên thiêng liêng thì làm sao em có thể chia sẻ với những kẻ khác được? Trước đây em cũng đã từng sống mà không cần nó. Em chỉ muốn dành cho anh và cho anh mà thôi. Nếu không có anh hay vì lý do gì mà mình không còn bên nhau nữa thì em cũng không cần giao thoa thân xác làm gì…

– Trời ơi em nói làm anh lạnh cả mình. Và yêu thương em mà không biết nói thế nào. Chỉ biết là tình yêu dành cho em choáng ngợp tim anh. 

          Sau một nụ hôn thật sâu, Trung  run run nói:

– Cảm ơn em yêu! Cảm ơn em yêu! Chúng ta yêu nhau  và không cần tuổi tác.

– Đúng rồi! Còn khi nào ai hỏi, em sẽ nói: Tuổi của em là của một người đàn bà từng trải  mà vẫn cảm thấy mình như một cô gái, có lẽ “chớm già” để có thể lùi lại, nhưng vẫn còn “quá trẻ” để thôi mơ mộng!

            Còn anh, với tính cách trẻ trung thì sẽ không bao giờ già được. Anh rất trí thức, dịu dàng, ân cần đối với em và đồng thời cũng hết sức say mê trong cách hưởng thụ cảm giác ái ân. Em nhận biết và rất yêu cái tính cách độc đáo đó trong anh: bên cạnh cái lý trí sáng suốt thông tuệ còn có một cảm xúc nhục cảm tràn trề. Có lẽ chưa mấy ai biết sống như anh, trong khi ân ái có thể bỏ quên  hết hiện tại một cách tuyệt đối, dạt dào và say đắm như chạm vào đáy sâu bản thể.  Anh mở tung hết mọi ngọn nguồn cảm xúc để tung tăng bơi lội trong đỉnh điểm hoan lạc của cõi người.

         Tinh thần của anh trẻ trung như thế nên em tin là anh không thể nào già. Những nếp nhăn trên trán anh không phải là dấu hiệu của tuổi già mà chỉ là bằng chứng của kinh nghiệm, của nụ cười, nước mắt, cuả cuộc đời từng phấn đấu không ngừng nghỉ. Theo em, đó là một kho kinh nghiệm và những trang sách mở ra cho người đọc, nên từ nay em sẽ đọc nó với lòng khát khao hiểu biết và yêu thương.

 – Hôm nay sao em nói hay một cách xuất thần thế? Em làm anh nhớ là có người nói về tuổi già, không biết đã đọc ở đâu “Xin đừng ai xóa nếp nhăn trên trán tôi, để tôi còn được ngạc nhiên trước vẻ đẹp của cuộc sống, đừng xóa nếp gấp quanh miệng tôi, nó cho tôi thấy mình đã cười hay hôn bao nhiêu lần; Xin cũng đừng ai làm mờ túi mắt tôi vì nó cho tôi biết những lần mình đã khóc. Nó rất đẹp và là của tôi, chỉ có tôi mới có!”.

       Tuổi tác không quan trọng, vì tất cả những gì đã không xảy ra trong một đời đều có thể xảy ra trong một tích tắc.

         Tuy nghĩ vậy nhưng mình cũng phải nhìn vào thực tế. Vì có lúc anh cũng lo sợ là thời gian trôi vùn vụt và sợ một đời cũng chưa đủ để yêu nhau!

– Không quan trọng dài ngắn bao nhiêu! Vì mỗi giây phút bên nhau đều có ý nghĩa. Nếu đời này chưa đủ, mình yêu thương sang cả kiếp sau… đời đời… kiếp kiếp.

        Từ ngày quen anh em nhìn cuộc đời bằng đôi mắt lạc quan. Nhìn nhận mọi thứ xảy ra xung quanh mình cũng hiền hơn. Không tiêu cực, gay gắt như trước.Tình yêu của anh thay đổi em từ trong sâu thẳm.

– Khi hạnh phúc ta bao dung hơn.Trước đây anh cũng nhìn đời bi quan, cảm thấy như đi trong bóng tối, rồi khi gặp em thế giới này như đẹp lung linh. Anh vui vì thấy em vui. Em phải khỏe mạnh và tươi trẻ.

– Dạ, phải khỏe mới vui sống và có được hạnh phúc. Trước đây em chỉ  làm việc và đi ngủ. Ngủ dậy làm việc tiếp vì quan niệm chiếc giường là nơi để chợp mắt lấy lại sức để mai làm việc. Em cứ tưởng sẽ phải sống cho đế hết đời, làm việc, ăn, ngủ, làm việc, ăn ngủ.. mà không biết đó là sống mòn. Giống những người con gái ở quê em, con Quý, con Hồng, con Thu, con Nhạn… suốt đời lam lũ, quanh năm chỉ chừng ấy công việc. Lấy chồng qua mai mối, rồi sinh con, sinh cháu… mà chưa hề biết tình yêu là gì, không hiểu cảm xúc yêu thương là gì, đời sống vợ chồng chỉ là một cách góp gạo thổi cơm chung, trong gia đình chỉ toàn là cam chịu, thực hiện cái nhiệm vụ truyền giống chứ không có quyền gì khác.

         Tất cả đều chấp nhận cuộc sống buồn tẻ để chờ ngày nhắm mắt mà không ai dám nghĩ đến việc thoát ra.

        Trong một bối cảnh như thế thì em có hy vọng gì gặp một người đàn ông nào đó yêu thương em và em cũng yêu thương người đó? Hồi đó em không có khái niệm về tình yêu. Hạnh phúc đối với em là điều xa xỉ. Em rất sợ người ta cưới về để vùi dập như các bạn ở quê. Sáng chồng say, chiều chồng xỉn.

– Cuộc sống giống như một dòng sông, có lúc êm đềm và cũng lắm khi ghềnh thác nhưng không bao giờ ngưng chảy em à… Nó có thể để lại trong ta nhiều nỗi đau và vết thẹo nhưng dù sao thì ta cũng cần phải sống.

– Vâng! Em đang sống và mỗi ngày em phát hiện ra ở anh nét duyên mới. Anh là người trí tuệ, nhưng quan trọng hơn anh có một trái tim nhân hậu và biết sống cho bản thân mình, biết đập nhịp cho tâm hồn mình mà không vì một ai hay một điều gì khác. Khi anh cảm thấy có đủ theo cách sống của mình là dừng, không tiếp tục bán sức khoẻ kiếm tiền mà dành thời gian để làm những gì mình thích. Tiếp xúc với anh em được mở rộng tầm nhìn và con tim.

 ( trích tiểu thuyết Lỗi Định Mệnh )

Read Full Post »

Nguyên Hạ- Lê nguyễn

Jingle Bells, Jingle Bells, jingle Bells…All the way…

Oh! What fun it is to ride in a one- horse open sleugh…

Tiếng nhạc bập bùng réo rắt của âm thanh phát ra từ máy hát của quán Cà phê cạnh nhà phát ra thoáng xa gần, rộn ràng và vui nhộn…

Đêm nay Chúa hài đồng sẽ Giáng sinh xuống trần, ngày mai tôi được nghỉ học …

Đang mơ màng trong dòng nghĩ suy chắp nối, bỗng một cục gạch rớt cái cộp bên chân tôi, điểm xuất phát là từ kẻ hở của hai mái tôn, tôi cúi nhặt và dư biết là của thằng bạn nhỏ sau nhà .

Nội dung thư gói cục gạch như sau:” Tối nay đúng 7 giờ,chờ tui chỗ ghế đá trước cổng trường Nữ Trung Học. Có chuyện rất quan trọng.”

Kí tên : Bạn Thân.(nhớ đúng hẹn)

Tôi đọc đi đọc lại mấy lần, lòng hơi vui vui vì đêm Giáng Sinh tôi cũng chưa biết làm gì, có đứa bạn thân của tôi ở chung đường hứa mượn xe Yamaha của chị nó xuống chở tôi đi một vòng thành phố rồi về ngủ, chỉ có vậy.

Bây giờ lại có cái hẹn với thằng bạn nhỏ sau nhà , không biết chuyện gì đây???

Thường thì nó chỉ nhờ tôi đạp lại cho nó cái quần bị rách đáy, tra lại hột nút áo sứt sẹo hay thỉnh thoảng ủi dùm nó cái áo cái quần trong các buổi lễ của trường, trả công tôi nó giải dùm cho vài bài toán Lý hóa mà tôi dốt đặc, nó và tôi xấp xỉ tuổi nhau, cùng học một lớp từ bé nhưng khi thi đệ Thất vào trường công , nó giỏi toán nên thi đậu, còn tôi thi rớt nên học trường tư.

Mẹ nó chết sớm, cha nó lấy vợ kế sinh thêm đàn con năm đứa nữa, suốt ngày nó phụ dì nó bế em , nên người nó choắt cheo, hay tại nó tuổi khỉ nên cả xóm vẫn gọi nó là “Thằng Cu Khỉ”, nó còn có tên trong giấy tờ là Thân vì cha nó đặt theo 12 con giáp

Khi đã vào trường Trung học, đứa nào cũng chỉnh tề với quần Tây xanh áo sơ mi trắng, còn tôi áo dài trắng đàng hoàng, hai đứa qui định lại là không kêu tên ở nhà nữa mà gọi nhau bằng tên trong giấy khai sanh, thời gian này thật khó cho bọn trẻ chúng tôi nên chúng tôi hay xưng với nhau là Ông và bà.

Đúng thời gian nó hẹn trong giấy, tôi nhờ Loan chở tôi đến điểm hẹn, nó đã ngồi chờ sẵn chỗ ghế đá, quần áo chỉnh tề, đầu chải rẽ, tôi chạy vào hỏi:

_Chừng bao lâu hở ông, để tui còn nói Loan trở lại đón tui ?

_ Chắc chừng nửa tiếng

Trở ra dặn cô bạn, tôi trở lại vẫn thấy nó ngồi đó , hai tay nắm chặt vào nhau coi bộ lạnh lẽo lắm, miệng hát nho nhỏ, mắt nhìn xa xăm…

_ Có chiện gì mà ông hẹn tui ra đây? nói đi mau lên

_ Từ từ, có chứ sao không

Tôi cứ thấy nó nhìn ra mấy cái tàu từ xa tỏa những ánh đèn sáng chớp, lâu lắm không thấy nó nói gì, tôi hỏi lại lần nữa, đồng thời quan sát nó một chút..

Sao bỗng nhiên hôm nay đóng thùng, chân mang giày, đầu chải rẽ làm hai , miệng cười chúm chím, thỉnh thoảng lại búng tay, coi điệu nghệ lắm, tôi đi vòng ra sau, rẽ sang trước nhìn nó hồi lâu, Hổng biết hiện tượng gì mà thằng “cu Khỉ” bữa nay coi lạ và mặt thấy hơi “gian”.

Nó nhích chỗ và bảo tôi ngồi gần nó.

_ Chiện gì? bộ rách quần nhờ tui nhiếp hả, mau lên tui lạnh rầu nghen

Những ngọn gió biển thổi vi vu làm tay chân tôi lạnh cóng, tôi nghe hai hàm răng nó đánh vào nhau lụp cụp, giọng thằng Cu Khỉ bạn tôi bỗng run run, hai bàn tay lóng cóng.

_Bộ lạnh tay hả? nó xích gần định nắm nhờ bàn tay tôi cho đỡ lạnh, tui xích ra

_Tui nói rầu nghen, có chiện gì nói mau đi,

Gió biển từng cơn thổi vào làm hai chân tôi lạnh run, tôi cúi xuống chụp con gì đang bò cắn chân

_ Bộ lạnh chân hả?

Gió vẫn thổi làm tung mấy lọn tóc hồi chiều tôi mới cuộn bằng mấy cái ống nhựa chuẩn bị cho Đêm Giáng Sinh, tôi đưa tay vuốt ngược ra sau, bây giờ qua ánh đèn hắt ra từ cột đèn bên hông công viên Qui Nhơn, tôi thấy môi thằng Thân bạn tôi mím chặt có vẻ quyết liệt lắm, nó xích lại gần tôi hơn và thốt thêm mấy câu không ăn nhập vào đâu;

_ Ăn cơm chưa ?

_ Ăn rầu

_Ăn chè chưa ?

_Chè đâu ăn ?Ông bao tui hả?

_ Hổng phải, chè má nấu

_ Lãng chưa, má tui bữa nay không nấu chè

_Chứ nấu gì?

_Nấu củ mì, hẹn tui ra lạnh muốn chết hỏi mấy chiện lãng xẹt.

Gió biển thổi mạnh , hất tung mái tóc ra sau, nó lóng cóng đưa tay lên mái tóc tôi…

_Tóc lạnh hả ?

_Nè nè… đầu tui để thờ cha thờ mẹ nghen, chớ hổng phải để cho ông rờ nghen…la nó xong tui nhích xa chỗ nó hơn, nó líu quíu cứ nhìn xuống đất kiếm tìm cái gì đó, gió vẫn thổi tung mái tóc tôi thoảng mùi sà phòng thơm hiệu Cô Ba, tôi mới gội và cuốn lại kỹ càng để đi chơi Giáng Sinh, tôi nhìn nó mấy lần có vẻ lạ lẫm lắm và cũng thấy nó liếc tôi mấy bận.

Bỗng từ ngoài mé đường tiếng còi xe của con bạn tôi tới đón tôi đi mất, ngoái nhìn lại thằng bạn nhỏ tôi lóng cóng dắt xe ra mé đường đạp thẳng.

Ngồi sau xe bạn tôi, xe chạy về hướng nhà thờ Chánh Tòa với tràn ngập những xe cộ đổ về nhà Thờ Lớn, chen lấn nhau bên máng cỏ , có nhiều thiên thần và các Thánh đang quây quần bên hang lừa, đèn chớp nháy xanh đỏ, mọi người đang tưng bừng chào đón Chúa Hài Đồng

Bạn tôi tra gạn tôi mãi về cuộc hẹn hò của đêm Giáng Sinh , tôi kể nó nghe và hai đứa cười một bữa no nê, cuối cùng nó suy luận;

_Hay nó muốn mới mày ăn chè, tao nghe nó có hỏi ăn chè chưa ?Hay nó muốn tỏ tình với mày ?

_ Tao hổng biết, nhưng bữa nay nhìn mặt nó gian lắm, mai mốt nó qua vá quần tao tra là ra hết

Một tháng trời không thấy bóng dáng thằng bạn tôi, cũng không thấy cục đá nào quăng qua khe vách nhà sau, tôi cũng mong nó xuất hiện coi thái độ nó ra sao sau lần hẹn hò ấy.

Bỗng một hôm thấy nó bương bả chạy vào tiệm chị tôi, trong lúc tôi đang giúp chị, nó chạy vào buồng thử quần áo của tiệm , cởi cái quần xanh bị sổ một mảng to và hối tôi đạp lại dùm, cơ hội tới để tra hỏi chuyện “Đêm Giáng Sinh”

_Thân ơi , ông ra tui hỏi rầu mới làm, sao bữa hổm ai xúi ông làm cái giống gì mà ông không nói cho tui biết

_Đâu có gì nà.

_Ông không nói thiệt tui quăng cái quần ông ra giữa đường cho xe cán nghen.

Nó hoảng hồn vì sắp tới giờ đi họp nhóm, vả lại đang mặc cái quần xà lõn, chạy ra đường lúc này thì quê chết, lúc đó chúng tôi cũng đã học lớp Đệ Tứ

_Nói thiệt đi, tui mới may cho ông, nó gãi đầu mấy lần, mặt mày khó khổ lắm.

_Nói hông, ai xúi gì ông phải hông? không nói tui quăng ra đường nghen.

_ Tui nói nghe rầu bỏ nghen, Lũ bạn tui nó nói tụi nó đứa nào cũng có bạn gái , đứa nào cũng biết “Hun”, nói tới đây nó nghẹn họng tắt ngang

_Trời đất, dzẫy bữa đó ông muốn lấy tui làm thí nghiệm hả???

Tức mình quá tui quăng cái quần của nó ra mé đường, nhìn nó cười khiêu khích

_sao nói kể rầu, hổng quăng ra đường mà giờ quăng?

_Tui nói không quăng ra giữa đường cho xe cán chứ có nói không quăng ra mé đường không? ông chạy ra lượm dzô đây tui làm cho

Nó lum khum chạy vội ra mé đường nhặt cái quần như tìm ra báu vật, đưa cho tôi với cặp mắt lấm lét. Tôi thấy tội nghiệp nên mới ngồi vào máy, nhưng chỉ đạp có một đường chỉ, nó năn nỉ đạp thêm cho mấy lần nữa

_Không, tui làm vậy cho ông bỏ cái tật nghe lời tụi nó nghen, mặt ông cũng gian lắm, lần sau còn nữa là biết tay tui. đồ quỉ. nhớ chưa?

_Biết rầu…nó mặc quần vào , cái mặt sượng trân, ra xe đạp một nước.

Những kỷ niệm của một thời cắp sách thì nhiều lắm, nhưng mỗi lần khi nghe những bài hát của mùa Giáng Sinh tôi lại chợt nhớ lại kỷ niệm này, nhớ về đứa bạn nhỏ ngày nào của một thời vụng dại, tuổi mới lớn và những kỷ niệm khó quên, đã bao nhiêu năm qua, bao thập kỷ đã đi qua, khi cơn gió Tuyết mang cái lạnh của đêm Đông úp chụp xuống vạn vật, khi những cây thông thắp sáng trên mọi nơi trong thành phố này, vẳng nghe tiếng nhạc âm vang từ môt góc phố hay từ một ngõ ngách nào …

Trong sâu thẳm của lòng tôi vẫn nhớ như in những hình ảnh thân thương của một thời tuổi nhỏ.Không biết bây giờ, bao thập kỷ đã đi qua, người bạn nhỏ ngày xưa của tôi, khi mùa Giáng sinh về có còn nhớ đến kỷ niệm đầu đời mà anh muốn thử nghệm với cô bạn nhỏ năm xưa chăng?

Bao năm lưu lạc xứ người …Tôi đã kiếm sống bằng nghề ” Sửa quần áo “…mỗi lần vá lại chiếc quần thủng đít cho người ta…Tôi lại nhớ lại những lần vá hộ chiếc quần, tấm áo rách vai cho người bạn nhỏ ngày xưa…Lòng ngậm ngùi thương cảm.

Bây giờ mỗi người đều đã đầy đàn con cháu, còn nhớ về nhau khi âm hưởng của những câu ca vẳng tiếng xe ngựa trượt trên Tuyết mùa Đông:

Mùa Chúa sinh ra đời…

Một trời sáng trong an lành…và một vùng Tuyết ôm cây cành,

Một ngày sáng bao la tình, một nỗi sướng vui hồi sinh.

Mừng ngày Chúa sinh ra đời, người người đó đây vui cười.

Rộn ràng hỉ hoan chào đón chào đón Ngôi hai Thiên chúa Giáng Sinh ra đời..

.

(Lời Nhạc sĩ nguyễn Duy phổ nhạc)

Những câu hát bập bùng thánh thoát từ xa đưa hồn tôi lạc trở về những ngày Giáng Sinh xưa cũ…

Boong bing boong…..Boong bing boong…

Jingle bells…Jingle Bells…Jingle bells

Atlanta . Mùa Giáng Sinh 2024

Nguyên Hạ- Lê nguyễn

Read Full Post »

Những mùa cưới đi qua

Ái Duy

.

Mùa cưới, lắm khi tay nhận thiệp miệng chúc mừng mà lòng thì héo hon vì cứ nghĩ tới cái thủ tục đầu tiên khi đi dự. Thân thì bao nhiêu mà sơ thì chừng nào mới vừa đủ phong bì theo thời giá và địa điểm tổ chức. Khách băn khoăn một thì chủ nhân ngay ngáy mười, đôi bên đều lắm nỗi niềm khó nói vì dù sao cũng là một ngày vui trọng đại trong đời người. Không mời thì trách, mời ít cũng khó coi mời nhiều cũng ngại ngùng. Cao điểm một tháng được lẫn bị mời tới bốn đám cưới xính vính nửa tháng lương. Vào tiệc cưới ngoại trừ của siêu sao ra thì trăm cái như một, giống từ cái giao diện cho tới kịch bản menu, tàn tiệc về tới nhà toàn đi kiếm mì gói. Đôi khi giật mình thảng thốt không biết đám cưới nọ kia mới năm ngoái đây mình có tham dự không bởi chẳng có gì để nhớ để lưu.

Vậy mà đám cưới từ vài chục năm trước của thời bao cấp lại nhớ như in. Thập niên 80 ở phố nhà nhà khó khăn chạy ăn tính từng bữa nhưng chuyện cưới xin vẫn phải duy trì. Cái thời mà “mình cưới nhau đi anh”, “em lấy anh nghe” chỉ cần về thưa cha mẹ rồi chọn ngày lành tháng tốt nào gần nhứt. Không phải xanh xao theo dõi giá vàng, không lo đi đặt tiệc cưới dành chỗ trước nửa năm, không áo váy lăng xăng cho vài album ảnh trên rừng dưới bể. Cặp nhẫn vàng tây 3 phân cho cô dâu chú rể đeo lúc làm lễ là nghi thức tối thiểu còn phải đi mượn nói gì bông tai dây chuyền. Áo dài cưới cũng vậy, đi mượn hoặc thuê, sang lắm mới đi may cho dù chỉ bằng những loại vải tơ rẻ tiền.

Thiệp cưới ngày ấy được in sẵn bán đầy ngoài tiệm, mua về chỉ điền tên hai họ và ngày giờ tổ chức là xong. Thiệp mời thường ghi rõ tiệc mặn hay ngọt để khách liệu bụng. Hầu hết được tổ chức tại nhà tự biên tự diễn, dăm ba bàn vài chục quan khách, người nhà nước thì có khi xin nhờ được cái sân của cơ quan. Nhà hàng tiệc cưới là cụm từ không xuất hiện ở thời điểm này, MC nhờ ai dạn miệng trong họ là ổn. Thỉnh thoảng thấy trai tráng vô trong xóm xin chặt mấy tàu lá dừa về làm cổng là biết có nhà sắp đám cưới. Tiệc mặn còn chút no nê rộn ràng dù chỉ vài ba món nhưng đã là đủ sang, chứ tiệc ngọt chỉ nước trà thuốc lá và các loại bánh kẹo thanh tao suốt buổi. Đời mình cũng vài lần dự tiệc cưới đãi ngọt thập niên 80, nhớ là bánh kẹo khi ấy cũng là hàng công ty xí nghiệp tuồn ra từ mấy cửa hàng thương nghiệp nhìn bao bì cũng bắt mắt chớ không phải loại quê mùa kiểu bánh ít bánh bò. Giờ tới thời ăn cái bánh cục kẹo cũng phải thận trọng kén chọn, nghĩ lại không hiểu sao ngày xưa tiệc cưới ngọt cỡ đó mà vẫn vui vẻ hả hê.

Đám cưới mình nhờ có bà má giỏi gia chánh nên thích đãi mặn, trưa đãi hai họ chiều đãi bạn bè vì cái phòng chỉ đủ chứa khoảng hơn ba chục khách. Có rượu đóng chai bán ở các cửa hàng mậu dịch, si rô nước đường màu mè tự nấu. Trừ ba món chính thì có thêm món tráng miệng là chuối rim đường dẻo quẹo nguyên trái, xong tiệc chắc ai cũng tèm lem. Rồi cũng đàn địch hát hò xóm làng bu lại coi ngoài cửa sổ. Những năm đó Nha Trang cũng có vài tiệm cho thuê đồ cưới và trang điểm cô dâu, phổ biến nhất là áo dài có thêm áo choàng ren bên ngoài, đầu đội khăn đóng hoặc bới tóc cao gắn lọn giả. Nhà trai qua rước dâu sang lắm thì thuê xe lam 3 bánh hoặc dàn xe xích lô, tới đầu ngõ có pháo hồng rộn rã chào đón. Thợ chụp ảnh cưới toàn bị dặn, chụp vừa đủ cuộn phim đen trắng 36 kiểu thôi. Thợ chụp xong 3 ngày sau mới đem ảnh tới xấu đẹp gì cũng ráng chịu, may mà gia chủ được khuyến mãi thêm tấm ảnh phóng lớn 18×24. Mà là bức chân dung cô dâu chú rể vốn chụp đen trắng được ông thợ ảnh tô màu makeup huyền ảo ngắm mãi thấy cũng được được.

Thời nay tiệc cưới nhà hàng đặt vài chục bàn là bình thường, khách không tới đủ dư lại chừng năm bàn là thấy rầu. Ai cũng biết giây phút trọng đại nhất của cô dâu chú rể sau khi tan tiệc là kiểm đếm tiền mừng, thu mà đủ bù chi là đại phước bằng ngược lại thì chắc đợi trả hết nợ cưới xin mới vui nổi. Khách dự cưới bây giờ chỉ bỏ phong bì vô thùng gọn lẹ trước khi an tọa hoặc chuyển khoản nếu vắng mặt, chẳng cần cô dâu chú rể ra chào đón rồi lễ mễ nhận quà như ngày xưa. Quà cưới thời bao cấp khó khăn thuần túy là quà, không hề có một cái phong bì nào kể cả cơ quan đoàn thể đại diện tới chúc mừng cũng chỉ là quà. Quà cưới trước hết phải mang ý nghĩa thiết thực nhưng cũng gói gọn cái tình cái nghĩa. Chắc bây giờ không ai tưởng tượng ra nổi, quà cưới ngày ấy có khi là bộ thau rổ nồi niêu gói bằng giấy hoa cột nơ đẹp đẽ, cái gương soi treo tường, mấy tấm hình cưa lọng khắc gỗ, phích nước, bình hoa, chén bát, cuốn album giấy… Bạn kể, có lần đám cưới của người bạn là cựu chiến binh, vậy là đồng đội cùng nhau góp tiền lại để mua 2 cái lốp xe đạp xong quấn giấy màu kỹ càng. Tới đám cưới bèn quàng vô cổ tân lang tân giai nhân thay vòng hoa. Tiệc xong khui quà bạn mừng muốn khóc, thời đó lốp xe đạp được bán phân phối xếp hàng chờ duyệt chua cay.

Đám cưới, nói cho cùng chỉ là một nghi thức ra mắt gia đình bà con họ hàng cùng bạn bè thân quen, không hề là yếu tố quyết định nên hạnh phúc lâu dài của người trong cuộc nên chung vui thì cũng vui sao cho trọn vẹn mọi bề. Có lần tình cờ chứng kiến đám cưới vô cùng giản dị, ấm áp và sâu lắng của một cặp đôi mà ngưỡng mộ quá, trong sân vườn nhà tân lang và tân giai nhân nhẹ nhàng tay trong tay tới từng bàn khách nhận chúc phúc, tiệc nhẹ đủ nhấm nháp, nhạc vừa đủ lâng lâng, không tiếng MC và thực khách líu lo gào thét, và tất nhiên cũng không có cả thùng đựng phong bì. Và tôi luôn nhớ, người mẹ đã mất của mình cũng chỉ được làm đám cưới sau năm mươi năm chung sống cùng chồng có với nhau mười mặt con, gần hai chục đứa cháu chắt nội ngoại…

(Ái Duy)

Read Full Post »

Truyện ngắn Trần Minh Nguyệt.

Trời đã vào thu, khí trời se lạnh, tôi cuộn mình trong chiếc chăn mỏng và cảm thấy thật dể chịu. Ánh trăng rằm tháng bảy chiếu qua khe cửa sáng vằng vặc. Mùi hương của cây hoa Nguyệt Quế thoảng đưa hòa cùng tiếng côn trùng râm ran đây đó trong vườn tạo nên một bản nhạc đồng quê tuyệt diệu. Dòng đời vẫn trôi một cách vô tình và lặng lẽ. Mới ngày nào tôi vẫn còn là một cô bé con ngơ ngác mà giờ đây đã hơn nửa cuộc đời rồi. Những kỉ niệm vui buồn ùa về trong tâm trí tôi- chúng dẫn dắt, lôi cuốn  tôi vào những giấc mơ có lúc thật êm đềm, đôi khi khắc khoải buồn vương … Mẹ sinh ra tôi cũng vào một đêm cuối thu- một đứa trẻ sơ sinh lẽ ra bú no là ngủ, nhưng không hiểu sao tôi lại rất ít ngủ mà khóc ngoằn ngoặc suốt ngày đêm. Bà mụ đỡ sốt ruột vì tiếng khóc của tôi làm cho những đứa trẻ khác giật mình khóc theo và không để cho ai được ngủ yên . Vì vậy, tôi khóc ròng rã hai ngày- đến ngày thứ 3- khi tắm cho tôi xong, bà lén cho tôi uống thuốc an thần nhẹ ( sau này có người phát hiện nên mẹ tôi mới biết). Và tôi “ bị ” cho uống thuốc an thần liên tục trong bảy ngày khi mẹ tôi còn nằm lại nhà hộ sinh. Có lẽ trí não non nớt của tôi không chịu nổi sự tác động quá lớn của loại thuốc kích thích này nên tôi đã phát triển không bình thường như những đứa trẻ khác. Mọi người trong làng khi nhìn tôi,ai cũng xót xa cho cha, mẹ tôi .Họ không nói ra nhưng ai cũng nghĩ là tôi bị “ không bình thường”.  Người lớn nhìn tôi thương hại, trẻ con thì không thèm chơi với tôi, và thậm chí chúng không dám để tôi đến gần. Hàng ngày tôi chỉ có một việc là đứng ngắm mình trước gương, lặng lẽ -bất động… Tới tuổi đi học- tôi không học được chữ nào cả,dù mẹ tôi có kiên nhẫn cố gắng chỉ dạy cho tôi học như thế nào đi nữa. Không ai biết thuốc an thần trong đầu tôi dần dần giảm đi tác dụng như thế nào ( hay đã có tác dụng gì?) chỉ biết có một ngày bỗng dưng tôi đọc được sách, làm được toán. Tôi không học từng chữ-từng câu như bọn trẻ-nhưng tôi đọc được sách, báo. Tôi chỉ đứng nhìn thầy cô giáo dạy toán ( lớp 3) chơi thôi-nhưng sau đó, tôi làm được những bài toán lớp ba, thuộc loại khó. Vậy là tôi phải cắp sách đi học như bao đứa trẻ khác chứ không còn được đứng hằng giờ soi mình trước gương nữa. Trí óc tôi phát triển bất ngờ, nhưng tính tình tôi vẫn “quái dị “, vẫn  thuộc dạng không bình thường, không giống ai cả. Tôi học rất giỏi –cả lớp không theo kịp – tôi chỉ nghe thầy cô giảng, hay chỉ đọc qua-là nhớ, là thuộc lòng, không cần về nhà học nữa -nhưng khi đi ra đường là  bị những đứa trẻ khác lại ném đá vào tôi, trêu chọc tôi- vì có lẽ, lúc đó chúng trông tôi rất ngớ ngẩn, khác lạ?. Lâu dần, tôi có cảm giác, mình giống như một con thú hoang bị chạy lạc xuống đồng bằng xa lạ vậy!. Ngày đầu tiên vào lớp 10- thầy giáo chủ nhiệm chọn lớp trưởng, thầy đọc tên tôi đầu tiên vì trong kỳ  thi chuyển cấp tôi đạt  điểm số khá cao. Nhưng khi tôi đứng dậy, ông nhìn tôi một lúc với ánh mắt nghi ngờ- ông trầm giọng- nói :” Em chắc không thích hợp để làm lớp trưởng đâu”. Ánh mắt của học sinh trong lớp đổ dồn về phía tôi- một cô bé lôi thôi, lếch thếch với vẻ mặt ngờ nghệch vậy mà  sao có điểm  đậu cao vậy?. Sau phút ngạc nhiên, họ phá lên cười như nắc nẻ làm thầy giáo chủ nhiệm cũng cười theo. Tôi cảm thấy xấu hổ không biết trốn vào đâu nữa. Và sau hôm đó tôi sống lặng lẽ, cô độc hơn. Tôi không tìm nổi được cho mình một người bạn nào cả. Tôi càng lặng lẽ bao nhiêu, thì bạn cùng lớp lại để ý đến tôi nhiều hơn. Có thời gian rảnh là họ lại tìm kiếm đủ mọi cách để chọc phá tôi, để lấy tôi làm trò tiêu khiển! Họ “cặp đôi” tôi với người này người khác, họ kéo tóc tôi và làm đủ mọi thứ mà họ thấy vui là được. Họ chỉ tha cho tôi khi giáo viên vào lớp hoặc tôi ôm mặt khóc. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ lại rất rõ những cành tượng đau lòng , tồi tệ đó của bọn họ.-  có lúc tôi nghĩ, mọi chuyện ác tâm kia  như chỉ vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi.Thầy Thanh dạy sử – hôm nào vào lớp cũng gọi tôi lên kiểm tra bài cũ, nhưng thầy không hỏi những gì liên quan đến bài học mà hỏi những câu hỏi lạ kì – chưa  có một lớp học nào trên thế giới học sinh “ bị”  hỏi như vậy. Thầy hỏi tôi :” Sao em biết mùa thu?”. Sau một lúc ngỡ ngàng tôi vẫn trả lời thầy” Thưa Thầy,! mùa thu có lá vàng rơi”. Hôm khác thầy lại hỏi ” Dấu hiệu nào báo hiệu mùa xuân?”. Tôi ngờ nghệch trả lời” Dạ! Mùa xuân có chim én bay”. Và sau những lần như vậy , cả thầy và học sinh trong lớp  đều cười nghiêng ngã. Tôi thộn mặt ra không biết mình làm sai chuyện gì nữa? Chuyện này vẫn tiếp diễn cho đến khi bài kiểm tra một tiết và 15 phút được phát ra- tôi được một số điểm cao nhất nhì lớp. Lúc đó thầy Thanh không còn gọi tôi lên kiểm tra bài cũ theo kiểu quái ác như vậy nữa. Một hôm, lớp tôi có buổi lao động tập trung, dọn vệ sinh sân trường. Đang làm việc thì trời đổ mưa. Tôi và các bạn nép vào hành lang để tránh cơn mưa lớn. Tôi mê mãi ngồi nhìn mưa rơi trên mái tole nhà để xe- tôi nhìn say sưa đến nỗi khi thầy Nam dạy Lý ngạc nhiên đập mạnh vào vai tôi- tôi mới giật mình tỉnh giấc – trở về với thực tại. Lúc đó trời đã sẩm tối , các bạn trong lớp đã ra về từ lâu rồi. Vậy là ngay hôm sau, ngoài biệt danh ” ngớ ngẫn” ra, tôi còn có thêm biệt danh mới là ” ma nhập”  nữa! Một trò đùa tinh quái nữa đã làm tổn thương tôi, nhưng tôi chỉ biết im lặng! Thời phổ thông- cái thời đẹp nhất của cuộc đời đi học của tôi đã trôi qua lặng lẽ và tẻ nhạt như vậy đó. Có nhiều chuyện không vui, lạ lùng-đau lòng khác mà  tôi không dám  bảy tỏ- đành chôn nó vào trong sâu thẳm trong tâm hồn mình. Gợi nhớ làm gi khi quá khứ chỉ là một chuỗi những bất hạnh không thể chia sẻ? Năm năm đại học, tôi học xa nhà, bắt đầu cuộc sống mới thật lạ lẫm .Tôi ở tập thể, ở chung với tám người bạn gái khác từ nhiều miền của đất nước. Ai cũng vui, và đối xử với tôi thật dịu dàng. Nhưng bản tính “quái dị” lạnh lùng của tôi như một bức tường vô hình ngăn cách tôi với mọi người. Nỗi ám ảnh của tuổi thơ  bị  “phân biệt”, không được thấu hiểu-an ủi,  đã làm tổn thương tâm hồn tôi quá nhiều chăng? Trang giấy trắng tâm hồn tôi đã bị bôi đen  bởi bao vết bẩn của bạn bè và thầy giáo vô tâm chăng?  Ngoài một buổi học ở giảng đường,  tôi  đắm chìm vào những quyển sách- đó là thế giới riêng, thế giới trong mơ của tôi. Rồi lần lượt những đứa bạn cùng phòng của tôi có đôi có cặp- vào ngày nghỉ lễ, vào ngày cuối tuần họ rủ rê nhau đi chơi- khu nhà trọ còn lại một mình tôi- tĩnh lặng lạ thường. . Tôi cũng đã tìm được cho mình một người để thương yêu- nhưng đó là một hình ảnh – một ảo ảnh-chỉ sống trong trí tưởng  của tôi mà thôi!. Tôi thường mơ nghĩ đến hình ảnh thân yêu ấy: Anh ấy hiền từ, thánh thiện và yêu thương tôi thật nhiều. Và nhờ vậy- anh ấy đã giúp tôi bớt cô đơn trong cuộc sống. Từ ngày ra trường đến nay, tôi xin được một nơi làm ổn định, một công việc tôi yêu thích. Ngày ngày tôi được gặp gỡ nhiều người, tính tình tôi bớt nhút nhát hơn. Bạn bè, đồng nghiệp vào ngày nghỉ rủ tôi đi uống cà phê, nói chuyện phiếm. Dần dần tôi vui vẻ và hòa nhập với cuộc sống hơn. Nhưng trời vốn vô tình, khi tôi vui và hạnh phúc lên một chút thì sức khỏe của tôi ngày càng sút kém đi. Máu  ở mũi tôi tự dưng chảy nhiều, cơ thể tôi mỏi mệt, không ăn uống gì được Tôi phải uống thuốc giảm đau đều đặn mỗi ngày.và làm xong việc là tôi hầu như nằm bẹp dí trên giường. Người thân, bạn bè tôi, ai cũng xót xa cho tôi nhưng cũng chỉ an ủi tôi đôi câu… Những lúc phải  cam chịu những nối khổ đau thân xác ( và cả tâm hồn) – tôi chỉ muốn tự giải thoát lấy cuộc đời của mình. Tôi muốn chấm dứt mọi khổ đau, mọi nỗi vui buồn trong cuộc sống. Tôi không muốn bị những cơn đau đớn hành hạ nữa. Tôi không tìm được niềm  an vui trong cuộc sống,  thì đành phải rời bỏ nó đi vậy. Sống để làm gì khi không có một mục đích, một con đường nào tươi sáng để bước tới ? Đã có lúc tôi nghĩ và muốn làm như vậy … Giờ đây-những áng mây mờ như dần tan đi -tôi sống vui hơn cho dù sức khỏe vẫn còn yếu lắm!  Vẫn buồn  vu vơ như trước- nhưng trong lòng tôi đang xanh mầm  tin yêu- niềm tin yêu đến với tôi  tình cờ như một cơn gió mát dìu dặt đêm trăng..  Tôi sẽ yêu cuộc sống của chính mình, sẽ mãi  an vui với hiện tại là sẽ có ngày mai.  Tôi luôn hi vọng-sau “ cơn mưa,  trời sẽ sáng”- bởi vì không có ai mãi mãi phải  chịu khổ đau khi họ luôn tin yêu cuộc sống và vươn tới bằng chính trí tuệ và tâm hồn trong sáng của mình! Tôi nhớ lại lời một người thân dặn tôi mỗi buổi sáng trước khi tôi đi làm:- Phải yêu lấy bản thân mình, trước khi yêu những gì khác- đừng để ai cũng lo lắng cho mình.- Phải sống vui ở hiện tai,  thì tương lai sẽ tốt đẹp!- Chạy xe nhớ cẩn thận giùm. Tôi mỉm cười- lòng cứ mong sao cho trời mau sáng, để được nghe những lời yêu thương kia thì thầm. Một ngày mới lại bắt đầu trong tình thương yêu trời biển…./.

Read Full Post »

Huỳnh Ngọc Nga

(Thương kính tặng thầy Nguyễn hữu Khánh

Kính thầy,

Khóa A2 chỉ còn hơn tuần nữa là chấm dứt, như lời đã nói hôm nào, Nga trao thầy quyển vỡ nầy để thầy ghi lại những gì đáng nhớ của hai khóa học đã qua.

Đời người có những đoạn đường ta đi hoài không hết, và đường học vấn có lẻ là một trong những đoạn dài bất tận đó. Bỏ ghế nhà trường hơn mười năm, Nga cứ tưởng mình mất rồi cái vô tư của tuổi học trò. Thế nhưng dung rủi cuộc đời đẩy đưa Nga tiếp tục con đường đã bỏ, Nga hân hạnh gặp ở Pháp văn một cô Thoại Anh hiền lành dễ mến, và ở Anh văn có thầy, một người tận tụy nhiệt tâm. Nga kính trọng thầy trong nghĩa thầy trò và khâm phục những kiến thức nơi thầy mà Nga đã biết. Cô học trò của thầy học dốt nhưng thích nghe và tìm hiểu, Nga mong sẽ được học hỏi thêm những điều hay lạ mà thầy sẽ ghi lại nơi đây.

Một ngày nào đó thôi không còn trở lại ghế học trò, nhìn lại trang vở nầy như nhìn thấy một đoạn đường Nga đã bước.

“ No one knows what will happen “

Giờ thì Nga ngừng đây, và như trong lớp học :”Thank you and good bye teacher”.

Huỳnh Ngọc Nga

Saigon, 20.03.1982

Gửi chị Ngọc Nga,

Hai khóa học đã qua. Cái đáng nhớ nổi bật có lẽ là sự làm việc hết sức, hết lòng ở cả hai phía, người nói, người nghe. Kỹ niệm cũng còn là đây đó một nụ cười, một câu nói, một dáng vẻ biểu lộ, một quyển sách, một dòng chữ nhắc nhở…….

“Có những con đường ta đi hoài không hết, và đường học vấn có lẻ là một..”. Đi học là đi trên đường làm người và ta làm người trên con đường học vấn. Thường thì cuộc đời chấm dứt mà con đường vẫn vô cùng. Chỉ có cái ý thức về sự vô cùng, cái ý thức ấy có thể giúp ta nhìn ra, để từ đó có an nhiên tự tại……

Và, trên con đường học vấn, học hành ấy, cái hiểu được, nghe được có khi ẩn, khi hiện. Tất cả còn tùy ở một tấm lòng, một tâm hồn. Ta có thể hạnh ngộ với người, với ta. Sự gặp gỡ ấy soi sáng, làm rực rỡ con đường ta đi.

“The only thing that is permanent is change.

And, the kingdom of happiness “is within you“.

28.03.1982

*

* *

Tôi xếp quyễn Lưu Bút lại, nhìn tờ lịch trên tường rồi ngó mông lung qua khung cửa. Torino bây giờ đang mùa lá đổ, bên quê nhà ắt hẳn đang vào độ mưa dầm. Hai mươi năm chẳn đã trôi qua, bao lần rồi tôi đã đi tìm kỹ niệm một thời trong quyễn vỡ bé nhỏ nầy, những kỹ niệm có bạn bè thân thương, có thầy, cô kính mến, tất cả đã được gói trọn bằng những giòng chữ đơn sơ, chân thật. Nếu những bài viết của bạn bè là những vui đùa nghịch ngợm, thì những bài viết của thầy cô là những nhắn nhủ dạy khuyên. Tôi thường dừng lại trên trang giấy có bài viết của thầy để nhớ lại những chiều tan sở, đạp xe đến trường. Đại Học Tổng Hợp học thêm những khóa sinh ngữ cần thiết, dành làm hành trang cho một chuyến đi xa mà lòng tôi thực tình không mong mỏi.

Ngay từ khóa Anh văn đầu tiên, tôi đã may mắn được học lớp do thầy hướng dẫn. Thầy là giáo sư Việt văn của trường nữ Trung học Lê văn Duyệt cũ, dạy thêm ngoại ngữ có thể để nâng cao thu nhập gia đình hoặc để choán lấp khoản trống thời gian trong ngày còn lại. Thầy hiền lành, tận tụy với đám học viên đủ mọi hạng tuổi, mọi trình độ. Tôi vẫn thường say sưa theo dõi những bài ngoài chương trình của thầy về sử, địa, tin tức thời sự quốc tế, kiến thức thầy rộng lớn quá đối với đầu óc thiển cận của chúng tôi.

Khóa học thứ hai tôi và các bạn cùng lớp hài lòng khi được học lại với thầy lần nữa. Thời gian đã khiến thầy trò thân nhau hơn, thầy thường đến sớm hơn và hay nán lại năm, mười phút khi tan lớp để chuyện vãn với chúng tôi. Tính hòa đồng cộng thêm sự nhiệt thành tận tâm của thầy đã khiến lớp học của chúng tôi vui nhộn, linh hoạt hơn các lớp khác. Nhưng đó cũng là khoảng thời gian tôi sửa soạn rời xa quê hương. Ngày mãn khóa, chúng tôi tổ chức liên hoan tưng bừng khác hẳn những khóa học thường, trong tiếng cười nói tươi vui của bè bạn chung quanh, tôi bỗng nghe lòng chùn xuống khi nghĩ đến ngày mai tôi không còn dịp để trở lại chốn nầy. Đây, những người bạn sau cùng của tháng ngày đến lớp. Đó, vị thầy khả kính cuối cùng tôi có được trước lúc ra đi. Tôi đi tìm gì ở xứ người khi thân tình nơi đất mẹ vẫn đậm nồng tha thiết?

Hai mươi lần bốn mùa luân chuyển đổi thay để tôi biết đã hai mươi năm tôi sống đời viễn xứ. Thời gian như con sông trôi dần về phía trước trong lúc tâm tư tôi trôi nhẹ ngược giòng, ngày lễ Nhà Giáo sắp đến, tôi chợt dưng nghe thèm viết một cái gì gởi về quê hương với ước mong thầy và các bạn tôi sẽ đọc đuợc để cùng nhau nhớ lại một thời thân ái.

Tôi bước trên đường đời với nợ áo cơm chưa trọn mà khoảng cách với điểm tận cùng đang bị thâu ngắn bởi thời gian, tôi cũng đã dừng chân tách bước trên con đường học dù chưa tắm gội nhuần nhuyển bao tinh hoa của biển học mênh mông. Nhưng tôi đã tìm được niềm vui, hạnh phúc ngày hôm nay bằng cách sống an nhiên tự tại giữa cuộc sống với bao thăng trầm biến chuyển như lời thầy nhắn nhủ, và lời cảm tạ nầy xin được gởi đến thầy với tấm lòng kính mến của cô học trò cũ năm xưa, mong thầy nhận để biết rằng giữa đường học và đường đời có một lần nào đó thầy trò ta đã hạnh ngộ cùng nhau.

HUYNH NGOC NGA

Read Full Post »

.

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

.

Các em thân mến,

Còn mấy ngày nữa là đến ngày 20 tháng 11 , cô lật mở lại những trang viết mà các em đã ghi lại những lời nói với cô trong đêm ngày 5 tháng 5 năm 2010, ngày cô về thăm nhà và do sự sắp xếp của trò Lê sa Long mà cô trò mình được gặp nhau…

Cô thật vô cùng xúc động và không ngờ cô trò mình lại có được cái diễm phúc ấy, đó cũng là nhờ công khó của các em, LSl và Hiền lớp trưởng đã bỏ bao nhiêu công sức để tập họp các em từ mọi nơi trở về họp mặt trong đêm ấy…

Bây giờ ngồi nghĩ lại, lật xem lại những chữ viết của các em trong cuốn sổ Lưu niệm mà Long đã đem theo cho chúng ta ghi những cảm nghĩ cho cô ở đó…Nhìn lại những tấm hình chúng ta chụp với nhau …Từng khuôn mặt các em của ngày xưa, những đứa trẻ mới bước chân vào trường Trung học, những khuôn mặt bé thơ dễ thương trong những tấm thân gầy gò, những cuộc đời cơ cực như nhau…

Và cũng những con người ấy…hôm nay chững chạc biết bao, cò các em nữ thì xinh đẹp và em nào cũng đã có một gia đình hạnh phúc…có em còn làm bà nội bà ngoại của con nít…thật vui sao.

Mỗi lần nghĩ về các em, những khuôn mặt cô còn nhớ như in: Trương Trọng Hiền, lớp trưởng với khuôn mặt trắng hồng và giọng nói “cà lăm”, Bích Tiên và Tuyết Hồng, Hiếu Hòa, Ngọc Hồng…bốn bông hoa xinh xắn và cũng học khá giỏi với môn Anh Văn mà cô giảng dạy cho các em một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ…Cô cũng đã cố gắng truyền đạt cho các em một cách chính xác trong sự hiểu biết của mình…Cô còn nhớ ngày ấy thỉnh thoảng thiếu giáo viên cô còn dạy thêm những giờ toán cho lớp các em nữa…

Trong số các em hôm gặp lại, cô nhớ mãi em Nguyễn đình Hoàng và em Lê Sa Long là ngày xưa rất giỏi toán, còn các em nữ thì giỏi Anh Văn…sau những tiết học cô vẫn thường cho các em hát với nhau, lúc ấy em Trần Duy Việt là hay hát cho chúng ta nghe nhất, bây giờ Việt cũng đã là một Giảng Viên âm nhạc và cũng là một ca sĩ nổi danh , em đã hát những bài hát cho chúng ta nghe quá hay, quá truyền cảm, cô không nghĩ rằng em Việt của lớp chúng ta lại có ngày hát hay như vậy.

Thường trong một lớp học thì chỉ những em cá biệt thì các thầy cô giáo mới nhớ mãi nhưng không biết vì đâu …mà sau hơn ba mươi năm gặp lại các em, những khuôn mặt rất bình thường như em Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Yên Ngày xưa em bé xíu giống như em Trang Kim yến, Thái đình Hùng , Minh Thuyền, Nguyên Thị Vân, Tuyết Nga, Văn sang,Nguyễn thị Lan, đỗ Thanh, Nam Hà…

alt

Khi gặp lại các em, cô vẫn nhớ như in từng khuôn mặt bé xíu ngây thơ của ngày xưa…Bây giờ các em cũng đã ngoài bốn mươi, xấp xỉ tuổi năm mươi và cô cũng đã chập choạng trước ngưỡng cửa sáu mươi…Thời gian trôi nhanh quá phải không các em?

Gặp lại các em, trong niềm vui bất tận, cô trò mình có ít thời gian thăm hỏi nhau về cuộc sống về công việc…cô chỉ mong biết các em có thành đạt với xã hội và trào lưu tiến hóa của cuộc sống…để mừng vui hoan hỉ vì các trò xưa của mình nay cũng góp mặt rạng rỡ với đời…

Bây giờ trò Lê Sa Long ốm yếu của ngày xưa …bây giờ đã là một họa sĩ tài ba, một giảng viên đại học, đem tài năng sẵn có ra giúp đời và em chính là gạch nối thâm tình cho bè bạn…

Nguyễn Khánh Toàn cũng là một Bác sĩ, làm việc tại quê nhà, ngày xưa em không mấy nổi trội nhưng khi ra góp mặt với đời em lại là thành công trên bước đường sự nghiệp và giúp đời.

Các em nữ cũng thành công không kém như Ngọc Hồng, Tuyết Hồng, các em cũng là những nàng tiên áo trắng, đem đôi đũa nhiệm mầu giúp đỡ tha nhân…

đó cũng chỉ là một số ít các em mà cô đã gặp trong một lần hội ngộ…còn bao nhiêu em khác , những học trò cũ thân thương của cô ngày nào đã tung bay khắp mọi miền trên đất nước và cả trên khắp cùng thế giới…Các em đã thay cô trên bục giảng…các em đã thay cô lật tiếp những trang sách mới…Những bước khởi đầu là chúng ta đã gặp nhau giữa những ngày đất nước đang thu về một mối…

Những khổ đau, nghèo đói , túng cực mà cô trò mình đã nhận chịu trong thời gian ấy, hãy cho chúng đi vào dĩ vãng của thế kỷ 20…bây giờ những tháng ngày rộng mở của một thế kỷ mới cũng có những đổi thay…các em vẫn còn tuổi trẻ để làm nên một trang sử mới cho cuộc đời mình, cô mong ước các em sẽ tạo cho mình một trang sử sáng sủa hơn thế hệ của cô các em nhé.

Các em thân mến,

altXã hội cũng gồm nhiều thành phần con người mới tạo nên xã hội, công việc nào cũng tốt, nếu ta đem hết con tim và khối óc ra làm việc cọng với sự kiên nhẫn…Cô tin rằng các em cũng sẽ thành công …Và hãy nuôi dạy tốt những đứa con ngoan…đó lới chính là tình yêu và hạnh phúc của mọi người và niềm kỳ vọng của cô muốn nhắn gởi cho những học trò thân yêu của cô nơi thành phố Qui Nhơn ngày nào

Cô vẫn biết các em đã rất cố gắng trên bước đường vào đời, lấy học vấn làm bước tiến, nhưng vì trong hoàn cảnh và đúng thời điểm… đất nước chúng ta đang giữa hai bờ ranh của hai chế độ, một số đông các em sinh ra trong gia đình của xã hội miền Nam, những năm tháng bao cấp của chế độ mới… đã không cho phép các em bước vào con đường thăng tiến, các em không thể bước chân vào các trường đại học thời bây giờ, các em đã phải xếp bút trở về nhà sống những tháng ngày “tiếc nuối chuyện công danh”..

.Cô hiểu, biết và thương cho các em lắm, những học trò của cô trong cảnh ngộ này.Những oan khiên ấy các em đã phải nhận chịu…lịch sử của dân tộc sẽ còn ghi khắc muôn đời…và trong trái tim của người giảng dạy…Những giọt nước mắt gởi tặng các học trò tôi…khi mỗi lần nhắc lại.

Nhìn lại những học trò giỏi giang của cô ngày xưa như em Trọng Hiền, N.đ Hoàng , Bích Tiên, là những em ưu tú và ham học , nhưng vì hai chữ “lý lịch”… mà các em phải dừng lại bước đường sự nghiệp, công danh cho cả cuộc đời…Tội cho các em dường bao.

Nhưng hôm nay được nhìn thấy các em vẫn tạo dựng một gia đình hạnh phúc với những đứa con ngoan.. bằng đôi tay của những người lao động…mà các em vẫn thành công…Cô

thật vui mừng và muốn chia sẻ nỗi niềm riêng cùng các em, cùng sự sẻ chia và lòng ngưỡng mộ…các em thật giỏi giang khi bước xuống cuộc đời.

Các em thân yêu của cô,

Bây giờ ngồi ôn lai nhưng kỷ niêm đã qua, cô nhớ mãi những năm vào ngày 20 tháng 11, là ngày Hiến Chương của các nhà giáo, nhà trường hướng dẫn cho hoc sinh đem hoa tăng cho các thầy cô giáo…ở thời của cô chỉ đi Tết Thầy vào ngày mồng ba Tết mỗi năm mà thôi. sau này khi các giáo viên miền Bắc đưa phong trào này vào với chúng ta…Cũng là một truyền thống hay cho chúng ta xích lại gần nhau hơn phải không các em thân yêu???

Những năm đầu tiên tiếp nhân những hiểu biết mới, cô cũng không dám nói nhiều , vì sợ sự khốn khó của gia đình các em khi phải mang thêm một phần chi trả cho con trẻ, nhưng các em cũng mua hoa đem tăng cô nhiều lắm, cô còn nhớ mãi…

Những bó bông điêp bông Trang bày bán ở chơ khu 6, mỗi em mua cho cô môt bó, hôm ấy khi ra về cô chở đầy môt giỏ xe đap…về nhà cô lấy môt châu nước lớn thả hết vào để ngắm nhìn trong thõa thích vì đó cũng chính là lần đầu tiên cô đươc tăng hoa…

Và lần thứ hai là ngày Hôi Ngô sau 30 năm xa cách, cô trò mình lai găp nhau và cô lai nhân từ những hoc trò cũ của cô những lẳng hoa hồng đủ màu khoe sắc…Niềm vui và nỗi xúc đông dâng tràn khi chúng ta quây quần bên nhau trên quán cà phê đêm ấy …cô trò mình đã kể cho nhau nghe những biến cố xảy ra trong cuôc đời mỗi người, cô đã chan hòa niềm vui và hạnh phúc trong tình cảm ấm nồng hòa niềm vui sướng biết bao.

Chúng ta chia tay nhau và hen nhau hai năm sẽ hôi ngô tai Qui nhơn môt lần…bây giờ đã gần đến hạn kỳ mà cô vẫn chưa biết có giữ tròn lời hứa cùng các em không???Xin các em hãy tha lỗi cho cô nếu cô lỗi hẹn.

Mỗi lần nghĩ đến Bích Tiên phải ngồi gần môt ngày xe để về Buôn Mê Thuôt, Duy Viêt phải nghỉ day mấy ngày , trở về lai thành phố núi xa xôi, Lê Sa long phải đi hơn bảy trăm cây số với bao nhiêu chuẩn bi cho môt lần hôi ngộ và Hoàng và Hiền phải bỏ công việc để theo cô về quê để cô trò mình lại được hàn huyên bên nhau vài giờ phù du cho thõa lòng mong đợi..Cô thât xót lòng, ngâm ngùi thương cảm và không cầm đươc nước mắt.

Các em thân mến,

Ngày 20 tháng 11, cũng chỉ là một ngày kỷ niệm, nhắc chúng ta nhớ về nhau, thăm hỏi nhau giữa tình nghĩa của người học trò cho người thầy của mình và chỉ xảy ra ở xứ mình, ở các nước Tây Phương …chân tình ấy mấy khi có được.

Thường trong ngày này thì các thầy cô giáo nhân nhũng lời cám ơn , những bông hoa của các hoc trò trao tăng …Nhưng với riêng cô, cô xin gởi tất cả những ân cần, những yêu thương chân thành trong trái tim cô, xin trao về tất cả các em, những học trò cũ của cô, có em cô

quên, có em cô nhớ đươc..

.Các em chính là những bông hoa đẹp nhất mà cô hái được, các em chính là niềm tự hào trong trái tim cô…Cho dù ngày xưa cô cũng chỉ day các em môt vài niên khóa..

.Nhưng nhưng ân tình sâu đâm mà mình còn dành mãi cho nhau khi mỗi lần nhớ về người cô giáo cũ…mà các em còn thấy thương mến, kính trọng…đó chính là niềm vui to lớn nhất của người thầy giáo, các em chính là những bông hoa ngát hương mà cô đã có được, xin cám ơn thượng đế đã cho cô có cái duyên được có những tháng ngáy cầm phấn, những tháng ngày thần tiên bên đám trò nhỏ thân yêu của trường cấp 2 Ngô mây ngày nào …của thế kỷ trước…

Xin cám ơn nhưng học trò của tôi

Xin cám ơn tất cả những luyến thương mà các học trò cũ đã dành cho cô

Cô xin ghi tất cả vào trái tim cho đến phút lìa xa cõi nhân gian.

Bao năm ly xứ-thân dầu dãi

Gót mòn, chân mỏi, cánh tay buông

Mong ngày trở lại ngôi trường cũ

Gặp lại trò xưa-Tóc điểm sương

Atlanta 18th november 11

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »