Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Trên khắp thế giới không một đất nước nào chuẩn bị đón Tết như đất nước tôi.., rộn ràng và trang trọng khắp mọi nhà , khắp cùng tổ quốc tôi.

Những ngày cận tết nơi này…Trong trí nhớ già nua của một lão bà ngoài ” Thất thập” …Ngẫm lại chuyện ngày xưa”’

+++Tiếng Pháo vẳng từ xa đã râm ran nổ từ sáng ngày 23 tháng Chạp, những ngày giáp Tết dậy lên từ ngày này, tục lệ này không biết có từ bao đời,

Chiều qua Mẹ tôi đã mua sẵn ba con cá chép rộng sẵn trong chậu, bộ áo giấy cúng”” Ông Táo”, mâm quả, giấy tiền vàng bạc cùng những thứ để nấu xôi chè và một cỗ pháo đỏ, trước khi đi chợ sớm người còn dặn tôi ở nhà đem bánh pháo ra phơi khi nắng lên để chiều nay khi đốt tiễn ông Táo tiếng nổ được kêu hơn.

Buổi chiều khi mâm cỗ được đặt lên chiếc bàn nhỏ đặt riêng giữa nhà, mùi hương bay ngào ngạt,

Mẹ tôi thắp nhang lên bàn thờ ông bà , sau đó đốt một bó nhang lớn và lâm râm khấn vái ..

“Xin ông bà Táo về chầu trời mang theo những ước nguyện của gia đình, xin cho thựợng đế ban cho gia đình này năm tới được những điều tốt đẹp, và nhắn Ông bà táo về trời mang đi những điều xui xẻo, những chuyện không vui của năm qua.

Xin cho ba đứa con gái của con được thành gia lập thất với người ” Ngồi bàn giấy” …( Những lời cầu xin của mẹ hàng năm…ba chị em tôi chưa có đứa nào tìm ra một chàng trai ” ngồi bàn giấy”…để mẹ tôi được an lòng )

Những lời cầu xin tôi chưa từng nghe trọn nhưng tất cả với tấm lòng thành mà mẹ tôi muốn gởi gắm cho ông bà Táo mang đi…hầu như ông bà Táo vẫn làm ngơ…

Sau khi khấn vái xong chờ cháy gần hết bó nhang, Mẹ tôi cho treo phong pháo dài trước cửa, màu đỏ thắm của những chiếc pháo kết xen nhau, điểm kèm những chiếc pháo tống to bằng cổ tay tôi, lủng lẳng trước cửa nhà.

Vẳng bên tai xa xa những tiếng pháo nổ râm ran…giờ phút chờ đợi nhất của bọn trẻ tôi.

Bọn trẻ chúng tôi đã âm thầm thông báo nhau biết nhà nào sắp nổ pháo, chúng tôi chầu chực sẵn bên hông nhà để chờ nhặt những chiếc pháo sót, quang cảnh thật là nhộn nhịp và háo hức.

Khi tiếng pháo bắt đầu rền vang, chúng tôi chen nhau lượm những viên pháo chưa nổ kịp, trộn lẫn trong những xác pháo hồng tung tóe sau tiếng đì đùng, những xác pháo vương vãi trên nền xi măng, những chiếc pháo còn dính chiếc tim màu trắng đục là niềm vui háo hức của bọn trẻ chúng tôi.

Hơi khói cay nồng xộc vào mũi , làm cay mắt, nhưng tất cả thật vui và hoạt náo trong lòng lũ trẻ.

niềm vui chúng tôi nhân lên khi đì đùng ở các nhà lân cận

Sau khi lượm ở nhà mình xong, xếp cứng trong túi áo, chúng tôi lại bương bả chạy sang những nhà khác, lại chen lấn, lại kiếm tìm và vui mừng đem về những chiếc pháo còn mới nguyên và đang hăng hắc mùi thuốc pháo, sau khi đã thu về một số phẩm vật đầu tiên cho mình, bọn trẻ bắt đầu đốt lẻ tẻ những viên pháo vừa nhặt được

.Tuy tìm kiếm và chất đầy hai túi áo nhưng chưa lần nào tôi dám cầm que diêm châm vào ngòi pháo vì sợ cháy tay và sợ tiếng nổ điếc tai, tôi thường chạy tìm thằng Ku , đứa bạn nhỏ xóm bên ( nó nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng gan dạ hơn tôi, vì nó là con trai), hay chạy kiếm các anh họ tôi đốt hộ, và sau khi đã tiêu pha hết chỗ pháo của mình, chúng tôi lại hăm hở đi nhặt ở các nhà đầu làng cuối ngõ.

Rồi đúng mười hai giờ đêm Giao thừa…

Lại một lần nữa tiếng pháo rộn ràng từ khắp mọi nhà nổ vang trong niềm vui rộn rã

+++

Ngày tháng vẫn cứ trôi…

Qua hai lần thế kỷ…và cũng gần “Bảy thập kỷ ” qua rồi…

Sau này khi lớn lên một chút, tôi đã trở thành cô thiếu nữ, biết ngồi phụ mẹ xếp mâm quả, thay mẹ nấu xôi chè, bắt ghế treo phong pháo đỏ trước nhà vào sáng mồng một .

Cái cảm giác nao nao nhớ lại những ngày xưa bé, mới hôm nào còn lượm pháo nhờ bạn đốt, bây giờ chúng tôi là những thanh niên nam nữ, mỗi đứa đi học một trường xa, vào những ngày giáp Tết, trở về nhà nhìn nhau thẹn thò nhớ về những ngày xa cũ cùng chen nhau trước cửa nhà ai lượm hoài những viên pháo sót.

Ôi, những viên pháo sót của tuổi thơ tôi…

Năm tháng …và cuộc đời vẫn cứ trôi, chúng tôi lớn dần theo bao mùa Pháo nổ, mỗi người rồi có một cuộc đời riêng, những ngày cuối năm ở một nơi xa xôi nào đó trên quê hương nhưng ở một thành phố lạ, nhớ quắt quay tiếng pháo buổi chiều xưa, bao công việc cuối năm với bao bộn bề, nhưng tôi cũng cố bương bả trở về nhà trên chuyến tàu đêm.

Trở về đoàn tụ trong căn nhà xưa bên gối mẹ.

Ngồi trên con Tàu lạnh buổi chiều Xuân, nhìn quang cảnh hai bên làng mạc khi con Tàu đi qua, nồi bánh chưng đang đưa hơi khói tỏa trong buổi chiều Xuân, của những mái nhà hai bên khung cửa sổ con tàu.

Những bước chân vội vã của khách bộ hành rảo chân trên đường cái quang rộn rã. ..

.Những mùng mền , chiếu gối đang giặt giũ tất niên trước những mái tôn xiêu

Tiếng gọi nhau rôm rả, bước chân những đứa bé vui rộn rã háo hức chờ đón chúa Xuân

Tất cả mọi nhà đang chuẩn bị chờ.đón giao thừa

Niềm vui của mọi nhà gói ghém trong từng mái ấm

Háo hức cùng nhau đón Xuân sang

Tiếng pháo xa xa nổ rộn ràng

Xáo xác mọi nhà hồng xác pháo

Lặng thầm sau cửa Mẹ chờ mong

+++

Rồi năm tháng vẫn lặng thầm đưa tiễn nhau qua bao mùa Xuân của cuộc đời, Bao thập kỷ qua đi trên mái tóc

Đã bao lần Tết đến mà không thấy người xưa trở về căn nhà cũ…

Bóng mẹ già mỏi mòn bên cánh cửa ngóng trông đứa con xa

Rồi cũng đã bao mùa xuân qua…Không còn nghe tiếng pháo…

Những buổi sáng mồng một trong căn nhà ngày xưa không còn thấy bóng dáng những đứa trẻ chen nhau nhật pháo sót,

Những mùa Xuân không tiếng pháo,..

Cô thiếu nữ ngày nào ra đi biền biệt khi tiếng pháo vu qui nổ vang lần cuối trước sân nhà …ngày xa xưa ấy…

Bóng mẹ già mòn mỏi những buổi chiều Xuân…

Không biết có ai còn nhớ ” Cô gái năm xưa cùng những viên pháo sót được mươn bạn đốt dùm”…

Qui kỳ hà nhật thị

Lão cận cố hương mai

Không biết bao giờ người xưa mới quay trở lại nhà , gốc mai già cỗi chỉ còn lại những bông hoa nở muộn, người con gái năm xưa đã bao năm trường biền biệt,

Từng năm khi Xuân về trên đất Mẹ, vẫn vọng nhớ về những ngày xưa xa lắc mà không sao trở lại bên mái nhà xưa mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp, ngồi sắp xếp mâm giấy tiền đưa ông Táo

Ở một nơi xa …bên kia nửa vòng trái đất xa mờ …

Khi mùa Xuân về trên đất mẹ.

Người con gái năm nao vẫn luôn lặng thầm nhớ hoài và thèm những miếng bánh chưng do chính tay mẹ gói.

Hương vị ấm nồng bên bếp lửa hồng của căn nhà mới sơn còn vương chút vôi mới,

Mấy chị em hăm hở chen chúc nhau trước chợ Hoa chỗ công viên của thành phố Quy Nhơn, trả giá mua cho được mấy chậu Cúc nở kịp ngày xuân, hay một cành mai vàng đúng độ,

Trang trọng giữa nhà , với những tấm thiệp chúc Xuân được viết bằng tay của bạn bè trao nhau ngày ấy…

+++

Những mái đầu xanh của ngày xưa ấy, nay đã thay màu theo tháng năm, những cuộc đời đã lật sang trang sách mới, chỉ nhớ lại tháng năm xưa trong nỗi nhớ lặng thấm, cành Mai cũ và những viên pháo sót.

Bây giờ tất cả chỉ còn là nỗi nhớ tiếc, trong cái lạnh căm của mùa Đông nơi đất khách, chỉ là chút nhớ nhung vọng tưởng mà thôi, ở đây mùa Xuân chỉ thấy những Bông Tuyết trắng lạnh ngập hồn, lạnh thấu tâm can, lạnh khô máu thịt, lạnh cứng tim hồng ,

Ngoài trời chỉ sót lại những cành cây trơ trụi lá và những bông tuyết phủ dầy …

Một người già …bên trong cánh cửa lặng thầm ngắm từng hạt Tuyết rơi…

Hồn lửng lơ… mơ về Xuân quê Mẹ.

Mơ về Tết cũ nơi quê Mẹ

Hoài niệm mà thôi đã ngậm ngùi…

Ở đây

Cũng có bánh chưng xanh

Dưa kiệu, dưa hành cùng bánh mứt

Không chút hương Xuân đến bên mành

Con tim

canh cánh hoài xuân cũ

Nỗi lòng vò võ suốt năm canh

Gởi theo gió thoảng bông hoa tuyết

Tiễn cả xuân qua đã bao niên

Rộn rã

Xuân sang sáng ngập nhà

Như người vừa tỉnh giấc nam kha

Một mình tĩnh lặng ngồi gõ phím

Trãi nỗi lòng đếm ngày mau qua…

Tết này

Ta trở lại quê ta

Bao nhiêu thập kỷ …bàn tay đếm

Lâu quá không còn nhớ bao niên…

Trong tĩnh lặng của mùa Đông tôi chợt nghe vài tiếng pháo vẳng lại từ xa, hình như là tiếng pháo nổ lẹt đẹt, những viên pháo sót tôi đang nhờ đứa bạn nhỏ xóm bên…

Châm ngòi rồi bịt tai chạy trốn trong xó cửa.

Ôi, những ngày Tết quê xưa…

Nhớ hoài những viên pháo sót.

Ngày trở về thành phố cũ..

.Không còn nghe tiếng pháo nổ đì đùng

Chỉ nghe nhịp đập con tim đang loạn nhịp vì nỗi háo hức của kẻ tha phương tìm về bến cũ, mái nhà xưa .

Atlanta ( Những ngày chờ mong một chuyến bay…2026)

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Tản văn Sơn Trần

.

Tháng Chạp bồng bềnh trôi giữa tiết trời se lạnh cùngtừng cơn mưa phùn lất phất, mơn man. Nắng chưa đủ ấm vì không gian còn phủ đầy những áng sương. Mây một chiều ơ hờ giăng tím, cố tình gợi khơi trong tâm hồn người xa xứ sự nhớ nhung và hoài niệm chốn yên bình. Một năm trôi đi quá nhanh, mới khe khẽ chạm thu, lác đác lá vàng rơi, nay mùa đông cũng đã chùng chình rời đi như trong lời bài hát cũ… Tháng Chạp đã về khiến chúng ta ngỡngàng, đôi khi chưa kịp nghĩ lại những gì đã trải, để vững tin bước tiếp trên đường đời. Tạm quên đi những âu lo và nhiều dự định chưa thành, tháng Chạp về cùng những yêu thương…

Tôi đi về phía làng, bờ hoa dại ven mương và hương lúa vào kỳ ngậm đòng từ cánh đồng theo gió nhẹ len vào, ngọt đằm và mê mải. Con đường bao quanh làng sau nhiều năm vẫn vậy, nối làng với đồng, với sông, với chợ, dẫn tôi đi qua những kỉ niệm thuở thiếu thời. Tôi bỗng thấy mình bé dại giữa bao nhiêu sự đổi thay của quê nhà, nhưng lại không hề quên lãng những điều đã khắc khảm trong tim. 

Đây là dòng sông, trong đục hai mùa mưa nắng. Sông oằn mình, cuộn trôi vào mùa mưa lũ, sông thong thả, nhẹ nhàng soi ánh mặt trời mỗi độ hè sang. Sông chảy qua cuộc đời, bồi đắp buồn vui cho những phận người bé nhỏ… Sông là hình ảnh quen thuộc, hình hài được thiên nhiên tác tạo, phần nào biểu hiện cho vẻ đẹp của một vùng đất, để ai đó nếu xa quê, sông luôn chảy tràn trong kí ức…

Đây là cánh đồng, nơi cất giữ tuổi thơ và nuôi dưỡngkhát vọng cho bao thế hệ. Những đụn khói đốt đồng, những sợi rơm vàng vương vãi dọc đường đê, những cụm lúa rài, những mùa nước nổi… Bát cơm ngày giáp hạt, bước chân trâu qua vũng bùn mùa hạn… Tiếng bầy vịt kêu váng lên khi lùa về chuồng, tiếng côn trùng rỉ rả trong góc tối, bụi bờ… Đấy là vị quê, tiếng quê, dễ gì quên được…

Tháng Chạp đã về, cõng nỗi nhớ quê nhà khi cơn mưa bất ngờ đi ngang lúc hoàng hôn. Tôi giật mình, ngước nhìn con đường vừa qua, con đường rợp xanh bóng lá. Để uớt mình trong cơn mưa lạnh, trầm tư điều vừa thoáng nghĩ… Hình như đất trời tháng Chạp có vẻ nồng nàn, quyến dụ hơn. Có điều gì đó tươi mới trong từng hạt mưa rơi nghiêng xuống tóc, len qua vai và đầm đìa lưng áo. Tôi nhìn ngắm vòm cây, lúc này bóng tối đang dần xâm chiếm, lá xạc xào và gió đung đưa. Tôi đi trong mê mải, để kiếm tìm, đúng hơn là để tận hưởng chút hương mùa xuân đang giấu mình trong đợt mưa bất chợt. Tôi đang đi tìm chút kỉ niệm xa xưa?  Sự đồng thoại của hiện tại và quá khứ, của yêu thương và giãi bày vừa cất lên. Cơn mưa ngọt mềm, khe khẽ chạm vào kí ức, bật tung nỗi niềm đã đưa tôi về một miền xưa đầy nhung nhớ, đấy là miền yêu thương của những tháng năm dẫu đã xa nhưng chưa hề vơi cũ. 

Một chiếc lá vàng sấp ngửa, rồi nằm lặng lẽ dưới chân, chùm hoa bên rào ướt mưa rũ mềm dưới ngọn đèn đường hắt bóng. Hoa nở báo xuân về, những bông hoa khiêm nhường tô điểm cho sắc mùa thêm đầy sức sống…Tôi lắng lòng suy nghiệm về đời hoa như cuộc đời mỗi con người, không thể nào thoát ra khỏi quy luật của tạo hóa. Nhưng khi tháng Chạp về, kết thúc một năm, để rồi bắt đầu những tháng ngày nối tiếp đầy mong đợi, cuộc đời con người sẽ đón nhận nhiều niềm vui, và hoa lá cũng đưa mình vào dòng chảy bất tận của thời gian để sinh sôi và dâng hiến.

Hình như mỗi khi tháng Chạp về, cái thời khắc đáng nhớ ấy, luôn đem đến cho con người những suy tư, trảinghiệm. Dải sương trắng mơ hồ, những chiều gió bấc phai dần trong tiết trời se lạnh khiến lòng người chậm lại trong nghĩ suy và nhìn nhận… 

Tôi đã thực sự trở về quê sau nhiều năm ở phố, gom nhặt cho riêng mình những hồi ức đẹp khi tháng Chạp vừa chạm bước. Tôi thấy mình nương theo những tháng ngàyđã cũ thật bình yên để hòa vào những nhớ thương thuở nào trong một buổi ban mai tinh khiết. Tôi nhủ lòng, nghĩ về ai đấy, dù đã xa quê hay còn gắn bó đời mình trên đồng đất quê nhà thì những đẩy xô hiển nhiên của cuộc đời hay sự trôi chảy vô tình của thời gian cũng không thể làm con người lãng quên những niềm thương đã từng  có được. Con người ta có yêu thương thì mới trưởng thành và bao dung, con người ta biết quý trọng những thời khắc trôi qua mới ghi khắc những gì giá trị để cuộc đời thêm ý nghĩa. Và tôi chợt nghiệm ra rằng, tháng Chạp là khoảng thời gian đẹp nhất để chúng ta níu giữ và trân quý từng bước chuyển mình của đất trời để mùa xuân đi qua không lặng thầm và vô ích.

                                                                                      Sơn Trần

Read Full Post »

Mùi cổ tích

Ngô Đình Hải

.

Hẻm nhỏ, lại là hẻm cụt. Nhà cũng nhỏ san sát nhau. Hai nhà đối diện nhau cái lối đi chỉ vừa đủ cho hai người qua lọt. Chỗ ăn ở còn thiếu, kiếm đâu ra cái sân với cổng rào! Đứng nhà bên này qua nhà bên kia, phước từ trước ra sau. Ban ngày còn nhịp đập người qua lại. Chiều tối, người ta kéo nhau ra chật cứng, con nít chơi một chỗ, đàn ông tụm nhau lại lai rai, bàn chuyện …thế sự, đàn bà thì ngồi ngay trước cửa tám chuyện gía cả, chợ búa. Người không rõ mắc bệnh vô nghĩa!

Hẻm lâu đời, dân tứ quê hương về từ hồi non hồi nào, đeo nhau mà sống, rồi ở miết suy ai chịu tới đi. Lâu hai, ba đời thì như nhà thầy giáo Lân. Mới lắm như vợ chồng con Bé Ba cơm tấm cũng có gần hai chiến năm!

Ở lâu, tới số nhà mình “bộ” mấy cũng không ai nhớ. Khách lạ cứ tới đầu hẻm, réo một cái tên, là có người liền kề. Tới cách sống cũng gần như nhau. 

Đàn ông làm đủ thứ nghề, đàn bà thì đu ra cái chợ chồm hổm, gần khu gò mả mà kiếm ăn. Chợ không có tên, nhưng mua thứ gì cũng có. Người mua, người bán quá quen nhau, bữa trưa nào hụt mua thiếu cũng được. Một phần đời của dân trong hẻm gửi ở chợ này. 

Nhà giáo Lân cuối hẻm. Gọi thầy, là trước đây đã dạy, sau “giảm biên chế” về bán vé số, cũng ngay trên chợ, tránh xa sự trợ giúp trong vòng xin vui lòng. Được cái, trong xóm ai cần gì, liên can tới chữ nghĩa, giáo Lân cân tuốt. Viết giùm cái đơn, khai xin cái lý lịch hay chiều tối, dạy thêm cho mấy đứa nhỏ còn đi học trong xóm, giáo Lân đều làm tới nơi tới chốn. Tất cả đều là…miễn phí! Bù lại, chiều nào tan chợ, giáo Lân cũng có tô bún hay rào cơm tấm ế của xóm chợ cho. “Mồ côi” vợ, sống cu ki một mình, coi như cũng tạm ổn. Sống bất cứ ngày nào tính ngày đó. 

Chợ Xóm có cái giờ sống riêng. Tối 8,9 giờ, xóm đã im re, 2,3 giờ sáng mới lục đục lên đèn, những cái bếp lửa tối. Bún riêu, phở, bún bò, cơm tấm, xôi,…mạnh ai ai nấu, để đáp trả mang ra chợ bán. 

Giáo Lân cũng không ngoại lệ. Khuya dậy, nấu ấm nước, pha ly cà phê, bắc cái ngồi trước cửa. Ngồi trong cái vũng tối lấp lánh ánh sáng của một số nhà bên cạnh. Thoải mái nghỉ ngơi. Lẫn trong cái mùi đất, mùi sương còn sớm trên cây cỏ là mùi hương, quế của nhà con lành đang nấu phở, mùi cay nồng của ớt sa tế cho bát bún bò của nhà thằng Tý.

Giáo Lân cho qua hết. Lão chờ cái khác! Một chút nhẹ nhàng hơn, lãng mạn hơn, len lỏi đưa vào mũi. Cái mùi thanh thoát như con gái mười tám. Cái mùi vượt qua những thứ tầm thường, luôn ở trên vị trí của mình. Cái mùi như những chuyến xe đưa quà Lân về thời thơ mộng! Cái mùi nối liền cánh đồng lúa ngút ngàn với con diều của Lân trong những thời kỳ nghỉ hè thuở nhỏ. Cái mùi không thể trộn lẫn ở bất cứ đâu! New new model! Mùi của những hột ngọc nhỏ trắng phau, thơm phức, bốc lên từ cái bếp nấu xôi của bà Bé! Không có mùi hương quyến rũ và gần gũi hơn nó. 

Hãy thở cho no nê cái mùi thanh bạch đó, cho tới khi nó không còn mảnh nào trong không khí nữa. Giáo Lân mới đốt cháy thuốc và thưởng thức ly cà phê đột phá của mình, trong cái tiếc rẻ, như người vừa tỉnh sau cơn mộng đẹp, hay vừa để trượt khỏi tay một phần đời của mình…

Bà Bé bán xôi trên chợ, ở đó mấy căn. Hai đứa con gái lớn sẽ đi may ở Khu Công nghiệp, cuối tuần mới về. Mình bà loay hoay với nếp với đậu. Chỉ có hai thứ xôi duy nhứt. Xôi đậu xanh, đậu đập, ăn với muối mè, đường cát. 

Xôi nấu xong, phê ra hai thúng, hai đầu gánh. Gói mồi nóng đầu tiên, gói bảo hiểm, tặng cho bộ Lân trước, rồi mới phải bó lên chợ. Xôi ghi sổ, năm nửa tháng trả một lần. Giáo Lân lo nợ tiền, còn bà Bé nhớ gói xôi. Hai thứ gói thay đổi, mỗi ngày một gói khác nhau. Vậy mà giáo dục Lân ăn ghiền, ăn không biết chán…

Cái gì lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành thói quen. Nghèo cũng là một thói quen quen thuộc của khu chợ. Người ta chấp nhận tự quên đi nhiều thứ, để bằng lòng với cái mắt trước.

Đã nói là dân tứ xứ mà. Trung,Nam,Bắc có đủ. Đạo gì cũng được, thờ cúng ai cũng có cái gì khác nhau đâu! Đàn ông chỉ cầu mong cho có đủ sức để ra đường kiếm ăn, đàn bà cầu từng buổi chợ đông để ngày mai còn mua bán tiếp. 

Rốt cuộc, nghèo thì đã nghèo rồi, cực cũng đã cực rồi. Dân trong hẻm chỉ như vậy là được.

Dịch cả tháng này, mỗi ngày trên mỗi lan rộng. Ngó đâu cũng được tìm thấy. Người lớn đi về tĩnh lặng. Trẻ con lẩn trốn trong nhà. Hẻm vắng hơn và tiếng ồn ào hơn. Gánh xôi bấp bênh. Bánh chè chao đảo. Ế thì tặng về cả nhà ăn thay cơm, mai lại nấu lại bán. Chợ còn đó, lo gì đói! Lo lắng và sợ hãi là những thứ xa xa, rảnh rỗi mà quan tâm tới nó.

Cho tới bữa sáng có ánh sáng đóng cửa cửa hàng vì có người bị nhiễm bệnh. Thu nhỏ lại, rào kín bưng. Con hẻm tối nay sáng đèn hơn, trùm nền sáng nặng nề thứ nhẹ lên mọi thứ. Y tế mới xuống thử nghiệm, im lặng không ra đường, chờ kết quả. Chưa ai chịu đi ngủ, mà mai có cần dậy sớm đâu? Người ngồi trước nhà, miệng che khẩu trang thì thầm bàn tán. Những tiên đoán chờ đợi và cái nghi hoặc cứ đeo đẳng, tăng dần cho đến muộn.

Đêm Yên Thắng, cái Yên Thắng không bình thường trước lúc cô độc. Giáo Lân không thể ngủ được. Chờ, không biết chờ gì. Lâu dài, có tiếng nhím xe tình thương ngoài đường vọng lại. Ngày mai chắc chắn sẽ là một ngày dài lắm đây. Chợ nghỉ, dậy sớm làm gì? Nhà thằng Tý, con lành, bà Bé dậy sớm làm gì? Không có xôi thì chiên cơm nguội. Nhiêu đó mà thắc mắc, thoải mái, lạ thiệt chứ! Cứ như vậy mà nó hành giáo Lân gần trắng đêm. Cho tới khi mũi lão như nở ra, mắt lão như sáng lên. Lão nằm hít đầy đệm lót kẹp, cái mùi thơm quen thuộc đang len qua khe cửa, chui tọt vào trong mùng. Cái mùi mơ hồ như những câu chuyện cổ tích lão nghe hồi nhỏ. Các mục phù thuỷ, công chúa, hoàng tử theo cái mùi xưa và quyến rũ đó, làm giáo Lân quà đi…

Có tiếng kêu cửa. Giáo Lân bùng nổ. Bà Bé cầm tay cầm Xôi còn bốc khói:

– Bin nay không có bán! Còn ít nếp với đậu tôi nấu cho hết. Thầy Hai ăn đi, Xôi mới nấu xong còn nóng, không có thiết đâu…

Giáo Lân chấm ra. Người ta giang dây kín con hẻm từ ai hồi đáp:

– Cám ơn bà. Bịnh tật có ai muốn đâu. Sống chết có số. Trời kêu ai ai dạ…

Bóng mờ, đã bóng những chiếc áo xanh, áo trắng ngoài đầu hẻm. Giáo Lân kéo ngồi ngồi cứng ra ngoài, bốc tay từng miếng xô đưa lên ngôn thật chậm, như lịch từng ngày trong đời mình. Buồn với vui, nếp với đậu, ngọt ngào như nhau. 

Ngoài hẻm, y tế đang gọi từng người, sắp xếp đồ đồ đi cách ly. Có tên con Lành, bà Bé và hình như có cả tên tuổi. 

Giáo Lân vẫn bốc xôi, vẫn bột đều đều. Lão già rồi, inu vàng gì. Cuối cùng quá già thấy mình như cây tôi già, vỏ bong tróc xì vì mưa nắng trước hẻm. Nó ở đó lâu quá rồi, giờ bứng mang đi nơi khác, chắc chắn có gì sống nổi!

Ngày mai, ngày mờ hay những ngày còn lại, biết đâu…Ừ! Biết đâu cái mùi đã già đi qua biết bao nhiêu phiền muộn không còn nữa. Hay sẽ không tìm thấy lão nữa. Cũng có thể không tìm thấy lão trên cõi đời này, nên trôi dần, trôi dần vào dòng sông xưa xưa. Dòng sông mang cái mùi…Cổ tích!

NĐH

Read Full Post »

Phiên chợ trong ký ức

.Ái Duy

.

Không biết có ai còn nhớ cái chợ bên đường chỉ chuyên bán hàng ăn sáng, họp từ tinh mơ cho tới giữa trưa là tan sạch sẽ, không để lại dấu vết. Chợ nằm ngay ngã tư giữa khu phố thị dân nghèo, tỏa ra bốn hướng, ngay trước cửa các ngôi nhà, ven hàng rào, dưới gốc cây. Có không dưới hai chục hàng ăn uống cố định đủ thể loại để phục vụ cho bữa sáng, chưa kể xe cà rem, xe bong bóng, gánh đậu hũ, hàng bầu cua xóc đĩa lưu động… Hàng gánh mâm thúng bày ra cả hai bên đường, khách ngồi trên những đòn gỗ quanh cái bàn thấp lè tè, san sát đấu lưng vào nhau, xe cộ đi ngang phải len lách. Đi rảo một vòng đầu chợ tới cuối chợ không tới trăm mét đã con mắt, cồn cào cái bụng.

Một phiên chợ chỉ họp buổi sáng

Chợ có bao giờ tôi cũng không rõ, chỉ nhớ hồi 5, 6 tuổi cứ mỗi sáng mở mắt là cầm mấy đồng bạc cắc của má phát cho tự đi ra đó ăn, chỉ cách nhà chừng vài chục mét, góc Bạch Đằng – Mạc Đĩnh Chi khu Xóm Mới Nha Trang. Phía ngoài là gánh hàng xôi, góc này là bà Bắc chuyên xôi bắp, xôi cúc; xéo bên kia đường còn 2 hàng xôi khác nữa. Rồi hàng khoai củ, bắp luộc để trong rổ kê trên một cái ghế thấp. Tiếp đó là bánh căn, bánh xèo, bánh canh, mì Quảng, bún bò, bún riêu, phở, bánh bèo hỏi, cháo, bánh mì, bánh ướt, bánh đúc… Gần như không thiếu món ăn sáng nào vì chợ có đã lâu, người dân tụ lại mua bán, hễ thiếu thứ gì lập tức có gánh hàng mới bổ sung ngay.

Ngã tư Bạch Đằng – Mạc Đĩnh Chi bây giờ. Ảnh: G.C

Còn có thêm hàng bán cơm rượu ngọt lịm ngồi sau lưng cột đèn mới ngộ, nhớ cô bán hàng múc vô chén cho khách mà dè sẻn như đong như đếm, làm cho đứa nhỏ cứ ước sau này có cả thau ăn cho đã. Đứa nhỏ đó chỉ có vài đồng cắc má phát cho mỗi sáng tự đi ăn, đủ cho một món đơn giản nhất như gói xôi hoặc ổ bánh mì chan nước. Nói thêm, bánh mì chan nước là món phổ biến thuở ấy, xẻ ổ bánh ra và chan vào đó thứ nước sốt béo ngậy toàn nước màu lẫn chút tóp mỡ, thêm chút dưa hành. Có khi nó lấy đồng bạc cắc đặt đại vô ô đánh bầu cua thử thời vận rồi ôm bụng đói về nhà, để rồi tự hứa với lòng đời này sẽ không bao giờ thèm chơi đỏ đen nữa. Nó cũng thích nhịn ăn mua bong bóng nhưng không mang về giấu được nên đành chịu.

Bà ngoại tôi có một gánh bánh canh bột gạo cá mối bán mỗi sáng ở dưới gốc cây nhãn khu chợ này. Tối đến, tôi theo ngoại ra Núi Một lấy bột, 4 giờ sáng ngoại nổi lửa bếp củi lách tách, 5 giờ đã gánh ra. Cá mối lành, ăn mát, hợp với trẻ nhỏ, người bệnh, ngoại mua về lọc xương nấu lấy nước, còn phần phi lê giã làm chả. Tiếng chày nện thình thịch trên cối đá mỗi trưa theo tôi vào giấc ngủ suốt thời thơ ấu. Hôm nào bán ế tới 9 giờ còn cũng phải gánh về để kịp đi chợ lấy cá mối bạn hàng để dành, nồi bánh canh bột gạo giờ đó đã nở lềnh ra, lắm khi phải ăn trừ cơm. Người dân trong xóm kêu ngoại là bác Bảy bánh canh, còn có bà Bảy mì Quảng nức tiếng, bà Ba cháo lòng không hề kém cạnh, chị Thơ bèo hỏi, cô Năm bánh căn… Sau ngoại lớn tuổi nên nghỉ bán, chỗ ngồi đó lập tức được người khác tới thay thế chớ không có chuyện sang sạp.

Mỗi buổi sáng lại nhớ một phiên chợ xưa

Chợ hưng thịnh nhất là sau năm 1975 cho tới cuối những năm 90. Chợ nhiều người biết đến hơn chớ không chỉ người dân trong vùng, tính ra cũng thật tiện lợi, ghé vô muốn ăn gì cũng có, không phải băn khoăn suy nghĩ. Tới giai đoạn dọn dẹp lòng lề đường thì khu chợ cũng bắt đầu bị giải tán và dần dần thu hẹp lại, chỉ còn những nhà cho thuê chút mặt tiền đủ cho gánh hàng ăn lùi vào thì còn tồn tại. Lần hồi vắng vẻ thưa thớt, người mua kẻ bán đều buồn thiu, hàng ăn bình dân cầm cự mãi rồi cũng biến mất nhường chỗ cho những cửa hàng mọc lên thay thế. Ngay cái tên khu Xóm Mới bây giờ cũng được gọi bằng tên khu Bàn Cờ.

Thi thoảng gặp người năm cũ vẫn hay nhắc nhớ về cái chợ ăn sáng thân thương này, nhớ món nọ món kia, nhớ người này người nọ. Người mới thì chắc khó hình dung ra chợ gì họp chút buổi sáng, toàn hàng ăn. Bây giờ đi qua đi lại hằng ngày, ngó góc này thấy trong ký ức hiện lên hàng bánh canh, góc kia là mì quảng, bún bò, góc nọ xe kẹo kéo…, thấy cả con bé ngái ngủ cầm đồng bạc cắc trong tay ngơ ngác mà nó cứ tưởng mình thông minh láu lỉnh lắm.

Sáng sáng, mỗi lần phân vân ăn gì, ghé mua ở đâu là lại thấy nhớ cái chợ này quá đỗi.

ÁI DUY

Read Full Post »

Trương Văn Dân

.

  Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.  

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.

Tôi như chợt thấy một đời người dồn lại.

Chính vào giây phút đó, tôi ý thức rõ ràng rằng những người tuy đã mất đi nhưng vẫn còn hiện hữu, ở đây, lúc này, tuy vắng mặt mà hiện diện cùng tôi.

 Tất nhiên tôi không thể nhìn thấy họ như bóng dáng xưa. Nhưng nếu hiểu theo lời của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì: “Ngày mai, tôi sẽ tiếp tục hiện diện. Nhưng bạn sẽ phải rất cẩn thận mới có thể nhìn thấy tôi. Tôi sẽ là một bông hoa hay một chiếc lá. Tôi sẽ ở trong những hình dáng đó và vẫn gửi cho bạn một lời chào. Nếu bạn đủ nhận biết, bạn sẽ nhận ra tôi, và bạn có thể mỉm cười với tôi. Tôi sẽ rất hạnh phúc ”.

                                        &

 Năm mươi năm dồn nén như một chiếc lò xo, nhưng khi bung ra thì những  gì xảy ra trong suốt quãng thời gian đó đồng loạt thức dậy. Chập chờn nhảy múa trong một bầu trời đầy sương mù của ký ức.

Chỉ là một tình cờ hay có một sự sắp xếp nào đó của hoá công? Cách đây mấy tháng, một người bạn mất liên lạc hơn 40 năm tình cờ thấy và kết bạn với tôi trên Facebook. Dũng tìm được tôi nhờ đọc một bài báo trên BBC[1] tiếng việt  kể về chuyến bay vào tâm dịch Italia để gặp Elena ngay khi nước này dịch Covid.19 đang bùng phát mãnh liệt mà phần lớn các chuyến bay về Milano đều bị huỷ bỏ.

Mấy tuần sau anh gửi qua email mấy tấm hình mà tôi đã quên đi, không còn nhớ. Đó là bức hình chụp vào sáng ngày 21/12/1971  khi chúng tôi, một nhóm sinh viên 13 người vừa đặt chân đến sân bay quốc tế Fiumicino ở Roma.  

    Đoàn “nai vàng ngơ ngác” đến sân bay Fiumicino, Roma 21.12.1971. Ngày đầu ở Ý.

 Nhìn bức ảnh, cảm xúc trong buổi chiều 50 năm trước như vừa trỗi dậy. Những thanh niên lần đầu xuất ngoại, làm quen, nói cười rối rít, ai cũng cố tỏ ra mình cứng rắn để che giấu những lo âu về con đường trước mặt. Mặt đăm chiêu, ngồi trịnh trọng trên chuyến bay Air Vietnam từ Sài Gòn qua Bangkok. Thế nhưng lớp vỏ mạnh mẽ như lớp sáp tan chảy khi máy bay cất cánh. Tiếng nhạc trong khoang đang mở to lời hát  “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An: “Xin một lần xiết tay nhau một lần cuối cho nhau, Xin một lần vẫy tay chào thôi dòng đời đó cuốn người theo” thì có tiếng thút thít từ các ghế ngồi. Một người, hai người… rồi tất cả đưa mắt nhìn nhau, khuôn mặt nhạt nhoà.

           Chờ cảm xúc lắng xuống, tôi ngồi nghĩ lại. Sau bao năm vật đổi sao dời,  tuy khởi điểm là đi chung một chuyến tàu nhưng dòng đời đã cuốn chúng tôi, mỗi người trôi theo một định mệnh khác nhau.  Ai thuận buồm, ai ngược gió, quay cuồng “như lá úa trong cơn mưa chiều…” thành công hay thất bại gì thì cũng chìm trong bể khổ của đời.

                                            

Bắt đầu từ chuyến bay định mệnh ấy là những ngày tháng xa quê hương, bè bạn và những người thân.  Mọi gian khổ vất vả thì chịu được mà sự cô đơn, trống vắng thì nó mênh mang mà  không biết tỏ bày hay chia sẻ cùng ai.

Niềm an ủi lúc đó là được nghe một giọng nói thân quen, nhưng đó là điều không tưởng. Sinh viên thì nhà làm gì  có điện thoại mà gọi bằng gettone qua điện thoại công cộng, chi phí một cuộc gọi đường dài có khi bằng sinh hoạt cả tháng!

Gettone là đồng xu nhỏ, có một rảnh ở giữa và bỏ lên một khe nằm trên máy điện thoại. Sau khi kết nối nó sẽ rớt vào máy, thời gian rớt được tính bằng khoảng cách từ nơi gọi đến nơi nhận. Gần chậm, xa mau. Khi gọi xa thì tiếng gettone rơi nhanh như nhịp tim người gọi. Khi thời lượng tương ứng với số tiền trả sắp hết máy rung chuông báo, nếu không nạp kịp gettone là cuộc gọi bị ngắt!

 Thập niên 1970 tôi thường gọi Elena bằng cách này. Ngày nào ăn chiều xong chúng tôi cũng nói chuyện với nhau vài phút, nhưng cũng có khi cao hứng, nói với nhau cả nửa tiếng hay nhiều hơn. Vì là điện thoại công cộng nên có nhiều người khác đứng chờ bên ngoài. Có khi sốt ruột họ gõ cửa cabin hối thúc. Đứng bên trong, tôi xoè bàn tay trái đang nắm một mớ gettone, nhìn thấy, họ lắc đầu, miệng làu bàu rồi bỏ đi tìm máy khác!

Những khi nói nhiều, tiếng gettone rơi làm mình chóng mặt mà ở đầu giây bên kia còn  nghe tiếng mẹ Elena mắng: nói gì mà lâu dữ vậy!

Vì gọi điện khó khăn và đắt đỏ như thế nên mỗi khi gọi bạn bè ở xa như Pháp, Đức, Thụy Sĩ… thì chúng tôi xem như mời bạn cà phê, nói lâu hơn là xem như mời bữa ăn trưa, liên lục địa.

Vào năm 1981, lần đầu tiên tôi hẹn hai em Xuân, Minh vừa mới định cư ở Sidney (Úc) đến nhà cô dượng Tàu Năm để chờ nghe điện thoại, giọng chúng tôi run lên vì hơn 10 năm anh em mới nghe được giọng nói của nhau. Người nghe, kẻ nói đều đã chuẩn bị sẵn nội dung, tranh thủ nói nhanh để nói được nhiều!

                                                &

Những bức thư cất giữ trong chừng ấy năm làm tôi nhớ tới một thời đã qua và âm hưởng vẫn còn đọng tới bây giờ. Nó như những chiếc cầu cho tôi nối lại với cuộc đời chìm sâu trong kỷ niệm.  Mỗi khi nhận được thư của ba tôi, có khi viết tay, có khi đánh máy, tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần, dù đó là những bức thư thật dài, có khi hơn 10 trang giấy. Ba tôi đánh máy rất nhanh, còn viết thì thư ông chỉ có tôi là đọc  “ro ro” còn các em tôi thì vừa đọc vừa phải… đoán.

Sau khi buông thư tôi thường nằm dài suy nghĩ. Có khi tôi nghe như từ những bức thư đang thở ra hơi thở của ba tôi và trên sàn nhà đang thầm thì bước chân của ông, rõ ràng đến nỗi tôi suýt buột miệng gọi ông. Có khi tôi chăng nghe mà chỉ thấy những khuôn mặt xa xôi hiện về. Nhạt nhòa, nhưng vẫn thấy ba má và tất cả  các anh em Hiếu, Nga, Nguyệt, Xuân, Minh và tôi đang ngồi chen chúc quanh bàn ăn ấm cúng. Có lúc tôi mơ chân trần bước đi trên cát biển Qui nhơn, thỉnh thoảng ra mé nước nghe sóng vỗ dưới chân. Tuổi thơ của tôi đã trôi như một dòng sông và những lúc lặng lẽ ấy chỉ còn lại những hoài niệm mà thời gian đã mang đi xa lắc.  Đôi lúc tôi thấy tiếc nuối nhưng chỉ một thoáng thôi, vì nhiều nỗi lo toan khi nhìn đến thực tại nơi đất khách.

          Những ngày sau 1975 thời gian rảnh rổi không nhiều vì từ một chàng công tử vô tư tôi phải vừa làm vừa học. Áp lực kinh tế, học hành, tôi phải thanh thủ học trên xe bus lúc đông người mỗi khi đi đến chỗ làm hay lúc về nhà.

          Trong những lúc mềm lòng, tôi rất cần một bàn tay để nắm. Nghe được một giọng nói thân thương, không cần họ làm gì để giúp mà chỉ cần biết có ai đó quan tâm đến mình.

 Nhưng xung quanh nào có ai đâu! Không có sự chọn lựa nào khác là tự bước đi bằng đôi chân, nhận lấy trách nhiệm cho cuộc sống và tương lai của mình.

Hồi đó, trong suốt bao nhiêu năm… tôi mong chờ những bức thư như một bộ hành mơ nguồn nước trong sa mạc. Gửi thư đi, trung bình 3 tháng mới nhận được trả lời. Biết thế, nhưng viết xong thì ngày nào cũng chờ. Mỗi sáng ra khỏi nhà đều nhìn vào hộp thư, dù biết chắc là không có mà lòng vẫn hụt hẫng.

Những bức thư thường làm tôi bâng khuâng, rộn ràng, đầy ắp niềm vui song cũng man mác, bồi hồi.

Vì những điều kiện khách quan nên tôi không được sống gần ba mình. Thế nhưng trong thời gian ít ỏi đó những bài học của ông vẫn theo tôi suốt cuộc đời. Những lời dạy từ  nhỏ vẫn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách cũng như quan niệm về cuộc sống.

Trong thư, ba dặn ra xứ người con sẽ phải hoà nhập vào văn hoá và xã hội mới nhưng đừng để bị làm mờ cái gốc của mình.

Tôi nằm lòng lời căn dặn đó. Sống nhiều năm ở trời Tây, mà khi về Việt Nam ít ai nhận ra tôi là “Việt Kiều” vì  phong cách dân dã chân quê, như bùn đất quê hương vẫn còn bám từ bấy đến nay. Tuy đã từng ngắm tuyết ở trời Âu nhưng cũng đã từng tắm truồng trên dòng sông Côn; Từng ở khách sạn 5 sao lộng lẫy ở nước ngoài nhưng cũng đã từng ăn bát cơm nóng nấu trong nồi đất vào ngày mưa ở Vĩnh Thạnh, nhìn gió núi lùa qua cửa sổ, thấy người thân ở quê ngoại rét run người với chiếc áo phong phanh… bấy nhiêu năm, tuy sống xa nhà mà nề nếp, thói quen, tính cách của ngày xưa vẫn con đậm nét.  Tiếng Việt của tôi vẫn như xưa,  thời gian đầu có chút bỡ ngỡ về vài từ mới nhưng chỉ nghe qua một lần là nhớ, và tuy sống ở nước ngoài 50 năm nhưng tôi chưa bao giờ        “độn” thêm từ ngoại quốc nào trong giao tiếp, tôi nghĩ viết “chúc mừng năm mới” là đủ nghĩa chứ thấy không cần phải viết “happy new year” làm gì.

Có thể nói cái tâm là ba tôi đã dạy cho tôi. Sau 1975, ông biết tôi sẽ gặp khó khăn và những buồn phiền không thể tránh: “Đã làm người, thì con phải chấp nhận gánh vác. Đôi khi còn phải gánh cả những việc oan ức…” “ Nhưng dù thế nào cũng không được thù hận và đánh mất niềm tin vào tính thiện lương của con người ”. “ Nếu có điều kiện thì cứ giúp người, thà bị sai lầm còn hơn là ân hận ”..

             Trong những bức thư ấy có điều tôi hiểu ngay nhưng cũng có những lời dạy, mà mãi nhiều năm sau, quá tuổi 60, nghiệm ra tôi mới hiểu. “Sống là phải làm tốt vai trò và bổn phận của mình trong xã hội, nhưng cố bỏ cái tôi để sống an nhiên và hạnh phúc với chính mình.” “ Tài năng gì cũng chỉ là bọt bèo. Đừng kiêu căng hay đuổi theo ảo ảnh; Danh tiếng, địa vị gì cũng đều phụ thuộc vào lời khen chê của kẻ khác. Đừng để tâm trí mình dao động vì những việc nằm ngoài tầm kiểm soát đó để không bị biến thành con rối của miệng đời.”

          …Rồi biến cố đau buồn.  Vẫn còn trẻ và đẹp nhưng  trái tim ông đã lặng lẽ ngừng đập. Ông chỉ sống vừa đủ lâu để thấy những thay đổi của đất nước và lòng người.

Nhưng ba tôi không mất. Ông chỉ nằm an nghỉ trong trái tim tôi mà thôi.

                                                &

Những bức thư ấy là những nhịp cầu nối liền khoảng cách và kết nối tình thân. Xa bỗng hóa gần.

 Ngày xưa… liên lạc với nhau rất khó! Nhưng hôm nay, với phương tiện sẵn sàng, mọi cuộc gọi đều tức thời và miễn phí nhưng con người lại ít kết nối với nhau! Ai cũng than rằng mình rất “bận”. Là không có thời gian? Nhưng có thực là chúng ta bận đến nỗi  đến không thể gửi một tin nhắn vài phút để hỏi thăm, để biết là mình đang nghĩ đến và chia sẻ với người thân?

 Đúng là cuộc sống hôm nay tất bật, nhưng một cuộc gọi, một tin nhắn để biết rằng đang nghĩ đến nhau là luôn cần thiết.

           Với một khoảng cách quá xa, có khi cách nhau nửa vòng trái đất, thì một tin nhắn có nghĩa là ta vẫn hiện diện khi… đang vắng mặt. Người ở xa cũng không đòi hỏi gì nhiều. Một cuộc gọi ngẫu nhiên, để một thoáng quên đi những bận bịu cơm áo thường ngày hay tạm quên đi những muộn phiền không đáng nhớ. Nghe giọng một người quen ở xa là một niềm an ủi. Biết rằng trên đời này còn có ai đó nhớ đến mình.

           Gọi thăm thôi. Cần chi mục đích? Vì thực ra mục đích quý báu nhất là thăm hỏi mà không có mục đích nào.

          Nhưng dường như mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi cú điện thoại đều vì một điều gì. Không cần, không liên lạc!

 Ngày nay, con người thực dụng nên cân đong đo đếm tình cảm bằng những điều kiện sinh tồn chăng? Đôi lúc vì dửng dưng mà ta làm nhạt nhòa những tình cảm đẹp, đánh mất những hạnh phúc giản đơn.

Với các lý do “gần như” hợp lý, nhiều người biện minh cho sự bận rộn vì nỗi lo cơm áo, mà thực tế là trên mạng xã hội hằng ngày họ vẫn đưa hình khoe con khoe cháu, tiệc tùng ăn uống hay hiện diện ở các địa điểm du lịch đấy thôi.

 Hãy sử dụng tốt thời gian vì không ai biết mình sẽ còn bao lâu nữa.

Hơn hai năm bị mắc kẹt Covid ở Ý, tôi đã nhận ra: có một số người nếu không chủ động tìm, họ chẳng bao giờ hỏi đến. Nhờ thời gian đó mà hiểu ai mới thật sự là người quan tâm đến mình.

May là suốt những ngày bị cách ly ở Milano vì  Covid.19… tôi đã sống toàn tâm toàn ý với tình yêu văn chương. Đọc và viết rất nhiều. Tôi dành trọn ngày đêm để viết những quyển sách của mình, thi thoảng sửa lại một vài truyện ngắn hay dịch vài đoạn văn hay. Trên bàn làm việc luôn có một bình hoa nhỏ đa sắc mà Elena đã trang điểm cho không gian sáng tác. Phòng làm việc có một cửa sổ lớn nhìn ra ngoài, bầu trời có khi xám xịt, có lúc trong sáng tùy theo mùa. Những lúc nghĩ ngợi, tôi thường nhìn cây lê đơm hoa trắng muốt báo  mùa xuân, rồi hoa rụng báo mùa hè, rồi lại lá lại vàng để báo thu sang, sau đó thì trút lá, cành trần trụi trong sương tuyết khi một mùa đông đang đến. Hoa lê trắng còn nở lần thứ hai để mùa xuân khác đến rồi sẽ sớm trôi qua vào mùa hè, mùa thu và mùa đông thứ hai. Thế giới, ký ức về Việt Nam như càng ngày càng xa.

 Thế rồi, đùng một cái, ánh sáng như chói chang rực rỡ hơn từ cái thế giới sáng tạo chiếu vào cái không gian chật hẹp tù túng của những ngày bị cách ly, khi tiểu thuyết Ước Hẹn Cuối Cùng bước vào giai đọan cuối. Nhìn khuôn mặt rạng rỡ của tôi, Elena liền hỏi: anh viết xong rồi hả? Năm mươi năm qua, không cảm xúc nào của tôi mà không bị vợ mình phát hiện.  Suốt hơn hai năm tôi đắm mình cho tiểu thuyết, miệt mài buồn vui hạnh phúc khổ đau cùng nhân vật. Câu chuyện trong tiểu thuyết vô vàn đắm say mà cũng đầy thăng trầm, sầu khổ. Nhưng câu trả lời của tôi là một tràng cười. Điều kỳ lạ là tiếng cười của mình làm tôi kinh ngạc. Cảm tưởng như 50 năm về trước tôi đã nghe chính giọng của mình trong một máy ghi âm trên băng casette. Lúc đầu tôi hoàn toàn không nhận ra, tuy nó đúng là giọng của tôi, nhưng đó là cái giọng mà người khác nghe chứ không phải cái giọng mà bản thân tôi nghe được như máu thịt đến từ bên trong của con người mình.

Suốt hai năm qua tôi âm thầm và im lặng làm bạn cùng nhân vật, hòa mình với những đau thương, chết chóc nên tôi như đã quên đi thực tại. Cười như thế nào? Và bây giờ giống như lần đầu tiên tôi nghe tiếng mình cười.

Lệnh giãn cách lúc này đang nới lỏng và sắp chấm hết. Tôi sẽ được tự do bay về Việt Nam để gặp lại bạn bè và lo việc in ấn tác phẩm tâm huyết của mình. Thế nhưng khi dịch bản thảo ra tiếng Ý- L’ultima promessa- cho hai người  bạn thân thì họ khuyên nên in trước bằng tiếng Ý vì bối cảnh tiểu thuyết ở Milano và những vấn đề liên quan đến văn hóa và luật pháp ở Ý…

 Tôi sẽ làm gì với ánh sáng chói chang của những ngày “tự do” sắp tới? Tôi sẽ làm gì với những thói quen cũ, gặp gỡ bạn bè bị gián đoạn sau một thời gian dài? Một quyển sách sắp in không thể trả lại cho tôi những ngày bị cướp mất vì đại dịch. Nó như một đứa con sắp được sinh ra, cần phải chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, giúp nó tránh những cạm bẫy, những phê phán, đố kỵ hay yêu thương chào đón… tất cả những hệ quả mà mình đã mường tượng trong lúc hình thành câu chữ. Vâng, tôi biết khi sách ra đời, nó cũng không thể nào tránh được những hệ lụy như một con người, cái đề tài mà trước đây tôi đã từng trăn trở khi viết tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần.

Milano 10.2022

https://www.facebook.com/xuan.truong.967/posts/pfbid0FFTLTjRWF37HZZ7whyzECQncZH9cqc2TJEJAjwz4v8YikkQsxPgBSmNcCQjhuEbVl?__cft__%5B0%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__cft__%5B1%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__tn__=%2CO%2CP-R%5D-R  19.6.2023

Xuan Truong cùng với Minh Truong và  8 người khác

Một truyện ngắn hay cho ngày Father’s Day của nhà văn Trương văn Dân.  Xin mời đọc:

BỨC ẢNH VÀ CHỒNG THƯ CŨ.

Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.


[1] https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-52089979?fbclid=IwAR3B-XnOx36srzUb5qkbVbwLumAjeZvl6Uld_e6QJUDnLQrysJazTeANZlw

Read Full Post »

Săn mây

Đinh Lê Vũ

.

Văn phòng My làm việc có chín người. Anh Trân làm trưởng đại diện, quản lý tám nhân viên. Tổng công ty ngoài Hà Nội, năm thì mười họa mới thấy một lần. Chỉ có chín anh em, nên y như trong một gia đình. Anh Trân là ông bố, chị Chi là bà mẹ, đám lau chau còn lại là bầy con. Trong giờ làm cũng như ngoài giờ, đi đâu cũng có nhau.

Minh họa: VĂN TIN
Minh họa: VĂN TIN

Đùng một cái, ông bố về hưu. Không chỉ vậy, anh Trân còn dự định về hưu sẽ sang nước ngoài ở với con. Viễn cảnh xa xôi nghìn trùng hiển hiện trước mắt. Đứa nào cũng buồn, mà không nói ra.

Cả nhóm tính làm một sự kiện gì đó, thiệt long trọng, để chia tay anh Trân. Ban đầu, dự tính sẽ ăn tối với nhau ở một nơi thiệt xịn xò. Nhưng vẫn chưa đủ. Tình cảm dài, mười mấy năm chia ngọt sẻ bùi với nhau, một bữa tối sao đủ. Thêm chuyến đi chơi xa mới thỏa. Để sau này, có cái mà nhớ lại.

Anh Văn hăng hái với ý tưởng đi chơi nhất. Anh nói đi đâu để anh cầm tài tổ chức cho. Măng Đen là hợp lý nhất. Từ Tam Kỳ, chạy vô Quảng Ngãi, rồi rẽ lên Măng Đen. Chừng hai trăm cây số. Gói gọn trong hai ngày cuối tuần.

Sẽ đi ngang qua đèo Vilolak, cảnh tượng vô cùng kỳ vĩ. Nghe qua là thấy thích rồi. Anh Văn lo thuê xe, đặt phòng, lên lịch trình. Chuyến đi là để anh Trân có chút kỷ niệm đẹp với mọi người, trước khi về hưu.

Hào hứng vậy, nhưng gần tới ngày đi, có mấy người thoái thác. Ai cũng có lý do. Cuối cùng, còn lại anh Văn, người cầm tài tổ chức và Loan, Tiến, My là mấy đứa tre trẻ, ham vui. Anh Văn băn khoăn: Ít người quá, mình có đi không? My nói: Chuyến đi là cho anh Trân. Ảnh muốn đi, tụi mình sẽ đi.

Vậy là đi. Chốt lại, còn năm người, tính cả anh Trân, là ba nam hai nữ. Thuê chiếc xe bảy chỗ. Đặt cái phòng dorm ở một homestay trên Măng Đen, mấy anh em ở chung với nhau. Cái homestay là do anh Nam, bạn của anh Văn giới thiệu. Anh Nam là nhiếp ảnh gia tự do sống ở Quảng Ngãi, ảnh ngao du khắp nơi, chỗ nào cũng biết.

Mới đầu, chỉ là anh Văn hỏi anh Nam vài thông tin về Măng Đen, rốt cuộc, anh Nam là thành viên thứ sáu trong đoàn. Anh Văn nói, anh Nam nhiệt tình, lại rành Măng Đen, chắc chắn sẽ đưa mình đến vài chỗ thú vị. Chưa gặp anh Nam mà ai cũng hào hứng.

Anh Nam gợi ý khởi hành sớm, ba giờ sáng lên đường. Để kịp săn mây trên đèo Violak, mùa này mây phủ trên đỉnh đèo rất đẹp. Anh Trân lùng bùng: Đi chơi chi sớm quá, như đi ăn trộm. Nhưng thấy mấy đứa nhỏ háo hức, anh cũng miễn cưỡng xuôi theo. Anh cũng chỉ mới nghe nói, chưa săn mây bao giờ. Dễ chi được đi săn mây.

Xe đến đỉnh đèo Violak gần sáu giờ sáng. Trời chưa sáng hẳn, mây mù giăng kín đỉnh đèo. My tưởng chỉ có mình nhóm My săn mây, ai dè lên tới nơi, cũng thấy kha khá người và xe. Đứng nhẩn nha một lúc thì nắng lên. Lúc này, trời trong vắt, mây gom lại thành cụm lững lờ, hiền hòa. Cảnh tượng như cảnh tiên. Ai cũng tranh thủ tạo dáng chụp ảnh, để lưu lại chút gì đó thật đặc biệt với mây, để khoe lên Facebook.

Chỉ anh Trân là thờ ơ. Anh leo xuống xe, ngó qua, rồi leo lên xe lại, thiêm thiếp ngủ. Anh than: Tau đi xe nhiều không bao giờ say xe, răng đi cái đèo ni, mệt khiếp. Loan đang nghiêng đầu tạo dáng, nghe anh nói, quay lại, nhìn anh thông cảm: Anh chờ tụi em chút xíu, chụp xong tấm ảnh, tụi em lên liền.

Chút xíu của Loan là gần hai tiếng đồng hồ. Không riêng Loan, cả anh Văn, cả Tiến, cả My đều say sưa, tới lúc anh Văn kêu lên xe còn ráng bấm thêm chỗ này một kiểu, chỗ kia một kiểu.

Anh Nam trở thành nhân vật trung tâm, vì anh chụp ảnh đẹp, lại mang theo flycam. Anh chụp ảnh cho mấy đứa bằng flycam, còn tranh thủ quay mấy đoạn phim ngắn cho trang web du lịch anh cộng tác. Đứa nào cũng vui, cũng hí hửng, không đứa nào nhớ tới anh Trân đang chờ trên xe.

Lúc cả bọn quay lại, anh Trân không còn ngủ nữa. Anh ngồi sõng soài, dựa vào lưng ghế, nhìn xa xăm. Anh hỏi đúng một câu: Đi được chưa, mà đứa nào nghe cũng nem nép, không biết anh có chi không vui mà tự nhiên kiệm lời quá.

Cả nhóm rồi cũng tới được Măng Đen đúng ngọ, sau khi dừng lại ăn mì gói, uống cà phê quấy quá ở cái quán nhỏ trên đỉnh đèo. Anh Nam đưa cả nhóm đến ăn trưa ở quán lẩu, có nhiều món đặc sắc, đặc biệt là món lẩu xuyên tiêu, nước cay sè.

Cả bọn húp nước lẩu sì soạt, khen ngon tới tấp, anh Trân chỉ nhấm nháp chiếu lệ, anh không ăn cay được. Ở văn phòng, mỗi lần đi ăn ở đâu, chị Chi hay dặn chủ quán làm suất ăn không cay cho anh, lên Măng Đen thì không đứa nào nhớ chuyện đó.

Bước ra khỏi quán lẩu, đứa nào cũng hồ hởi: no quá, ngon quá, mà không nghe anh Trân nói gì. Anh Nam hỏi: Ăn ngon không anh, anh trả lời uể oải: Cũng tạm. Hỏi vặn thêm thì anh nói chả cá ngon, măng trộn thì hơi tệ. Anh không nói chi tới món lẩu.

Chỉ có My là thấy anh có vẻ trầm ngâm, nhưng ý nghĩ này cũng thoáng qua trong đầu My, rất nhanh. Còn cả một buổi chiều, rồi sáng mai với nhiều tiết mục hấp dẫn. My phải chợp mắt một chút để buổi chiều, mặt tươi tỉnh mà chụp hình.

Buổi chiều, cả nhóm đi tham quan khu nhà cây, lòng vòng ở dãy chợ phiên cuối tuần, đứa nào cũng vui một cách bận rộn, tận dụng từng khoảnh khắc. Bỏ lại không khí văn phòng sau lưng, không còn sếp, không còn nhân viên, chuyến đi này là để anh em vui với nhau, nên phải hết mình.

Nhảy sạp, kéo nhau ghé mấy quầy hàng trong khu chợ phiên thử hết các món đặc sản… tụi nhỏ làm anh Trân theo đuối đơ. Anh đã đến tuổi bắt đầu chậm chạp rồi. Thâm tâm, anh muốn chuyến đi này là dịp để anh em ngồi sum vầy, tâm sự. Để anh hiểu mấy đứa hơn, mấy đứa hiểu anh hơn. Làm việc chung với nhau, không phải lúc nào anh cũng thoải mái, mở lòng được.

Anh tưởng chuyến đi sẽ rất gắn kết, cởi mở, nhưng nó không được vậy. Có điều gì đó rất khác, trong cách mà mấy đứa nhỏ đối với anh. Tụi nó vẫn quý anh, nhưng không còn cái trang trọng, chừng mực như ở văn phòng, nơi mà nhất cử nhất động của anh đều được quan tâm, mọi ý kiến của anh đều được lắng nghe. Anh thấy ngậm ngùi, rõ ràng là không thể không thấy ngậm ngùi, hụt hẫng.

Đêm ở núi rất sâu. Càng về đêm trời càng lạnh. Ngồi uống rượu với cả nhóm trong căn nhà gỗ của homestay, có lúc, My còn nghe được tiếng lá rơi khẽ khàng, tiếng gió đuổi nhau ngoài kia xao xác.

Anh Nam mượn ở đâu cây guitar mang ra đàn hát tặng mọi người, giọng anh ngọt và ấm: Rồi mai đây, khi mình xa nhau, nhớ đến nhau hoài.. (*). My thấy mình như say chếnh choáng, không biết là say đêm, say rượu, hay say giọng hát.

Tàn cuộc rượu thì đã quá mười hai giờ đêm. Mọi người nhìn quanh, lúc này mới nhận ra anh Trân đã không còn ngồi ở đó nữa. Mấy đứa rón rén vô phòng, đi thật nhẹ, không ngờ cũng làm anh Trân thức giấc.

Anh hỏi: Giờ này mấy đứa mới đi ngủ à? Anh Nam, có lẽ thấy áy náy, buột miệng rủ: Sáng mai, em đi săn mây, cách homestay mình ở chưa tới ba cây số. Mọi người đi với em đi, không đi thì tiếc lắm.

Loan, là đứa cả ngày nay chụp ảnh nhiều nhất, chơi nhiệt tình nhất, lên tiếng hỏi: Mấy giờ mình đi, anh Nam? Nam cười: Sáu giờ sáng. Anh Văn với Tiến gật đầu: Tụi này ok. Anh Trân lừ khừ: Tính sau đi. My lắc đầu: Em không đi, mệt lắm, em ở nhà ngủ.

Buổi sáng, anh Trân là người dậy sớm nhất, chừng bốn giờ sáng đã dậy rồi. Lúc mọi người xôn xao gọi nhau, ảnh đã ngồi thiền xong. Nam hỏi: Đi không anh? Ảnh ngần ngừ nhìn quanh, thấy My vẫn đang ngủ, ảnh nói: Thôi, để anh ở nhà với My.

Mấy đứa rời homestay đi săn mây. Tưởng là chỉ đi chừng một tiếng đồng hồ thôi, ai dè cảnh đẹp quá, mây trắng quá nên mấy đứa quên cả giờ giấc, lúc về, Nam lại phát hiện bỏ quên đồ, phải quay lại tìm.

Mấy đứa đi với Nam quay lại tìm đồ, hứng lên đi ăn sáng luôn, mặc anh Trân với My ở nhà chóc ngóc chờ. Tề tựu tới homestay thì đã gần mười giờ sáng, thấy anh Trân với My đang ngồi thu lu, mỗi người mỗi góc, mấy đứa biết là có chuyện rồi. Nên líu ríu dọn đồ, líu ríu kéo ra xe.

Mọi thứ trôi qua có vẻ bình thường, lịch sự, nhưng vì lịch sự quá nên ai cũng cảm nhận rõ ràng là đã có chuyện. Mà chuyện gì ta? Lẽ ra, chương trình của ngày thứ hai sẽ đi cà phê ngắm hoa hồng, ghé chùa Khánh Lâm, rồi ăn trưa, ghé tắm suối trên đường về.

Nhưng lúc lên xe, nhìn vẻ nghiêm nghị khác thường của anh Trân, không ai dám nhắc tới cà phê, tắm suối. Tới khi đi dạo trong khuôn viên chùa Khánh Lâm, anh Nam mới rón rén hỏi anh Trân: Mình ghé tắm suối không anh? Anh Trân lắc đầu: Chạy về thẳng Tam Kỳ đi!

Suốt chặng đường về, không khí trên xe rón rén một cách lạ kỳ. Nam nói chuyện điện thoại liên tục như để khỏa lấp cái im ắng khó chịu. Văn, Tiến cắm cúi lướt Facebook. Loan giả bộ ngủ gà ngủ gật. Cả Văn, cả Tiến, cả Loan đều bồn chồn, mong xe nhanh về tới Tam Kỳ, để tách My ra hỏi: Có chuyện gì vậy?

Về tới nhà rồi My mới nói: Có chuyện gì đâu, anh Trân ảnh buồn. Nói là rủ ảnh đi chơi chia tay, mà tụi mình cứ đu theo ông Nam săn mây, mấy cũng anh Nam này, anh Nam nọ. Không phút giây mô tụi mình dành cho anh Trân, ngồi với ảnh, tâm sự với ảnh. Anh Nam đi chuyến này là kết hợp đi làm, chớ đâu phải dẫn mình đi chơi. Ảnh có quen biết chi với anh Trân đâu mà nhiệt tình dẫn đi, chia tay với tiễn biệt.

(*) Lời ca khúc “Rồi mai đây”, nhạc ngoại quốc, lời Việt của Trường Kỳ.

.

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Sáng hôm nay mặt trời lên sớm hơn mọi bữa , bóng nắng bao trùm vườn sau sân

trước, mấy con chim trốn lạnh đã chấp chới bay lượn trên dãy hàng thông sau nhà

Mới ngày hôm qua …cơn bão tuyết dự đoán sẽ đổ vào thành phố này cuồng nộ…

Mọi người chuẩn bị bao nhiêu là thực phẩm trong mấy ngày, chợ búa xáo xác những người chen nhau mua tất cả mọi thứ cho gia đình …

Bỗng những hạt mưa…trong nắng , rớt xuống, vội vàng, óng ánh như dãi

lụa được pha màu đan xen, bóng mượt và óng ả….hạt nào cũng to như hạt cườm trong suốt…

Là một cơn mưa đá dai dẳng , âm thầm rơi xuống thành phố Atlanta vào ngày thứ Bày.

Sáng chủ Nhật không có nắng ấm để làm tan chảy những hạt đá nhỏ li ti, đọng lại trên bờ cây ngọn cỏ như những hạt kim cương lóng lánh khắp đó đây…

Sáng thứ Hai …lại một ngày nắng đẹp, trường học đóng cửa, học sinh được ở nhà cuộn tròn trong chăn ấm…Hảng xưởng đóng cửa, phố xá lại bình yên .

Buổi trưa ngày thứ hai gia đình các con tôi, các cháu tôi lại cùng nhau “Kéo ghế” ở một nhà hàng Tàu mới mở gần nhà

Nắng vàng đang rộn rã khắp nơi

Hàng cây bên hai bên đường vẫn còn vương vãi những sợi nước trong veo kết chùm.

Bên kia cao ốc loang loáng những hạt nắng về …ẩn lấp lánh sợi tuyết tan nhấp nhô như giang tay hứng lấy từng hạt mưa giăng còn rơi rớt

+++

Ngày mai …

Hai bên đường , nhất là đọan đường ra các xa lộ, những bông hoa dại được thành phố gieo

trồng một lần cho đẹp bức tranh thành phố, cùng nở rộ như những tấm thảm hoa,

Mỗi lần đi qua những rừng hoa ấy tôi thường lái thật chậm để thỏa thê ngắm nhìn,

Đôi khi dừng lại ghi vài tấm hình , xa xa cũng có một số người xuống xe vào giữa rừng hoa đủ màu

Cùng nhau ghi hình kỷ niệm cùng mùa Xuân mới trở lại cùng đất trời.

.

Tôi bước ra khoảng trống của trời cao xám đục, ngửa mặt hứng những hạt

mưa tung vãi…hơi lạnh còn lẩn khuất đâu đây, mùa đông vẫn còn âm ỉ đó đây.

Mưa như thấm vào chân tóc…ủ ê nỗi buồn tôi tan loãng vào cõi hư vô…

Tôi đưa tay vuốt nhẹ cánh tay trần loang loáng những hạt mưa…nhớ vạt

áo ngày nào của một thời xa cũ…

Hạt mưa quê tôi sẽ âm ỉ từ ngày qua ngày khác

Những cơn mưa ở đây chỉ lóang lóang từng vùng rồi trơn tuột vào cõi hư vô,

Bóng nắng sẽ phủ đầy sau cơn mưa bất chợt, đôi khi chỉ một đọan đường mà tôi

mới vừa qua, bên kia thì ráo hỏanh khô queo, đúng là cơn mưa xứ người ta .

Đúng là thượng đế vẫn ưu tiên cho đất nước này hơn xứ sở nghèo nàn của

dân tộc tôi: Bão tuyết hay Mưa giông ở đây chỉ là tưới giúp những cây trồng thêm sắc thắm tươi, những con đường không hề ngập ngụa, nước không dâng cao ngập úng những con đường khó khăn lưu thông xe cộ…

Những trận mưa quê tôi dai dẳng suốt bao ngày, nước tràn đồng gây bao cơn bão lũ…

Nước tràn đồng, gây khổ cho đám dân nghèo cơ cực lại thêm muôn phần cơ cực,

Thành thị sau những trận mưa , nước ngập khắp phố phường, bế tắc mọi giao thông.

Trách ông trời cao đổ bao khổ hận xuống các vùng quê nghèo hay nơi phố phường đô hội

cũng bị tan tác vì những cơn mưa hay trách kẻ chức trọng quyền cao cướp đi sự bình yên của mọi

người vì chỉ biết gom cho hầu bao thật đầy mà quên đi việc phải làm cho quốc gia đại sự…

(Là những công trình bảo vệ môi trường và chống ngập quê nghèo cho đám dân nghèo quê tôi…)

+++

Mưa ơi, mưa cứ rơi hoài…rơi mãi nhé.

Chiều ơi, chiều cứ buông….cùng tiếng gió thì thầm

Gió ơi, gió cứ hòa cùng mưa…tạo nên những âm hưởng ngậm ngùi, tan

hoang… gió nhé….

Sấm sét vẫn chập chùng soi sáng niềm riêng và cháy bùng một góc trời

và tâm hồn cháy bỏng những ưu phiền.

Đất và trời mãi cách xa nhau quá làm sao thấu hết vạn nguồn cơn…

Tôi ngồi bên trong khung cửa …chờ mong thời khắc qua mau …Để được lên một chuyến bay xa…

,Ngoài kia vẫn còn xôn xao ánh nắng vàng lung linh trong giá lạnh buổi tàn đông…

Tôi bàng hoàng nhìn thấy nỗi buồn từng giọt…

Rơi xuống mắt môi tôi trống trãi

Hạt mưa vương tóc ướt

Thấm da thịt dỗi hờn

Run run môi mím chặt

Giá buốt nhòa đáy tim.

Ôi chao, những hạt mưa phơn phớt cuối mùa của buổi chiều nơi này.

Bất chợt…

Khuấy lên trong riêng tư của đáy tâm hồn những ưu tư thầm

lặng, của nỗi sầu không tuổi không tên, không kể lể, không thốt câu

tâm sự…

Những ngón tay bâng quơ, khép vội,

Tôi rùng mình khẽ khàng quay lại…

Ngoài kia….những hạt mưa vẫn đơn côi lướt vội

Tôi thèm chạy ra giữa Parking trống trơn, ngửa mặt hứng mưa tuôn như những

ngày bé dại thật xa…

Một mình băng mình ra ngoài phố xá …

Những con đường thật xa

mờ trong ký ức một đời tôi,

Những con đường làng quê tôi , con đường làng

ngày xưa tôi đã sống suốt tuổi thơ ở đó.

Một mình băng qua những con đường quen thuộc của những tháng năm xa…

Nơi thành phố Quy Nhơn …sau lưng tôi bỏ lại

Những con đường của thành phố Quy nhơn trong tôi còn nhớ mãi… . Con

đường Võ Tánh, Trần Cao Vân, Gia Long, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ, Nguyễn Thái học, Cường Đễ …( Đó là những con đường mà tôi còn nhớ được)

Trở về lối cũ vào nhà tôi …với áo dính da , tóc rối mù vì những

giọt mưa không hò hẹn, những hạt mưa làm tím môi, nhói lạnh tim hồng.

Mưa rơi,hạt xuống lòng tôi

Mưa rơi ướt tóc…Ướt đôi vai gầy

Chiều nay, mưa rớt nơi đây

Chiều mưa bên ấy…còn ai ngóng chờ???

Bây giờ, tôi muốn một mình ruổi rong trên những lối đi ướt cơn

mưa…những con đường lớn rộng che chắn bỡi những tán cây ủ rũ, che

phủ cả trời mây…

Những chiếc xe phóng nhanh lướt vội, những cái đầu

nhoài ra cảm thông và thúc hối…

Người… là một kẻ bất hạnh lỡ xe, một lữ khách xa nhà không biết luật lệ

xứ người, một kẻ khốn cùng với chiếc xe cà tàng chết máy…đó là trong

tâm ý của những kẻ qua đường…

Tôi chính là kẻ mơ màng giữa cơn mưa, một tâm hồn mỏng manh bé mọn,

chợt buồn, chợt vui, chợt thương, thoáng nhớ…mộng tưởng những chuyện

không bến không bờ, tất cả cũng chỉ là hư vô không thực…

Tôi chui mình vào xe…lướt qua những con đường mới quen

Những vũng nước mưa còn đọng trên lối đi trước mặt, nhẹ chân ga và xua

đuổi những bến mơ…

Chỉ những lúc tâm hồn tĩnh lặng tôi mới thả hồn

theo tay lái đi qua hết con đường mới quen Pleasant Hill Thành phố Lawreceville … rộng lớn với những xe cộ ngập tràn.

Không định hướng mà vết xe lăn mãi ruổi rong vào con đường rộng

mở…lối vào nhà tôi.

Chỗ của tôi

Con đường trở về nhà

Những hàng cây đang rộn rã nở những chùm hoa trắng đục của cây mận cây đào

cây Lê, cây táo, và những mầm non đang nhú trong những chậu đất mà mấy tháng qua, che chắn những giá rét trời đông,

tôi đã ươm trồng,

Mai này khi lìa xa nơi này, chúng sẽ nhu nhú những chồi non mơn mởn…chờ đón tôi trở lại nhà sau một thời gian dài tung tăng nơi thành phố cũ…

Đây mới là chỗ của tôi,…Con mèo nhỏ có biết rộn ràng chào mừng chủ nhân trở về ngôi nhà ấm áp.

Chiều chưa xuống tôi sẽ ra vườn sửa sang lại những hoang hóa của dư âm mùa đông giá.

Chuẩn bị cho khu vườn mùa Xuân khi tôi trở lại chốn này.

Những hạt mưa ngày hôm qua …

Đã giúp cho những

bông hoa trong vườn thêm sức sống cho ngày mai khi tôi trở lại

+++

Chỉ còn mấy chục giờ phù du..

.Tôi sẽ lên chuyến bay xa… cách quê hương tôi hơn nửa vòng trái đất…

Một cách diệu kỳ tôi sẽ từng bước dạo khắp vùng trời dấu yêu xưa…

Tôi đành đoạn ra đi…Nay tìm lại

Tôi cũng còn có một chỗ để đi về.

Xin chào Việt Nam …Là đất nước, là quê hương tôi đó

Xin chào thành phố Quy nhơn…Là trái tim hồng tôi bỏ lại.

Xin chào tất cả gia đình, bà con tôi, bạn bè tôi, những học trò cũ thân yêu của tôi….

Xin chào tất cả…

Một người già Tha phương nay tìm lại

.Tôi cũng còn có một chỗ để tìm về…

Tôi cũng có một quê hương để mà thương mà nhớ.

Atlanta Ngày 27 tháng Giêng năm 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Hồn ma

âu thị phục an

.

Khuya.

Không gian ẩm lạnh rơi trên tóc, trên vai tôi.

Ánh trăng yếu ớt soi những cành lá rung rinh trong bóng tối im lìm.

Cánh tay Phùng vẫn quàng nặng qua vai tôi, vẫn im lìm từ khi tôi rấm rức khóc.

Nước mắt có nói lên được gì, có xóa được gì của ngần ấy tháng năm chồng chất lên đời người, có giúp tôi tuôn trào được mọi u uất trong tim?

Khó quá. Khó quá. Tôi bất lực lúc lắc đầu. Tôi chà qua chà lại khuôn mặt mình trên hai cánh tay đang ôm lấy đầu gối. Bàn tay Phùng vỗ về nhè nhẹ.

Bóng tối như đồng lõa với hai con người đang đau đớn.

Cơn mưa buổi chiều còn để lại cái ươn ướt trên những ngọn cỏ mà chúng tôi đang giẫm lên. Mây đen chờn vờn che khuất mặt trăng đêm rằm, những tia sáng lờ mờ soi không rỏ tấm ảnh trên bia của ngôi mộ mà chúng tôi đang ngồi cạnh.

Hơi thở nóng của người đàn ông phủ ấm vùng gáy làm tôi rờn rợn. Tôi lại cọ quậy và Phùng lại vỗ vỗ trên vai tôi, “Nín đi em.” Nghe vậy tôi lại khóc hung. Phùng nói “ Khi nào em có thể thì kể anh nghe nha.”

Đến đây thì tôi không còn chịu nổi nữa, tôi vùng ngẩng đầu lên và quay sang nhìn Phùng, tia mắt chúng tôi chạm nhau, và tia mắt Phùng vội né. Cơn tức trào lên ngực tôi, khao- khát- cũng- trào- lên- ngực-tôi, răng nanh tôi mọc dài ra, và tôi cắn ngập lên cổ Phùng. Máu người đàn ông ngọt lịm.

Ánh trăng bị mây che khiến cho đêm khuya chợt tối sầm khi tôi nằm đè lên Phùng, tôi cười khoái chí khi Phùng cố ngồi lên và đẩy tôi ra. Tôi thở hào hển vì phấn khích. Khi quá yêu một người nào đó thì chỉ còn một cách là giết chết người đó đi thôi. Tôi quơ tay cầm lấy con dao nhọn và đâm phập lên tim Phùng.

Mà không, tôi vẫn còn thút thít khóc một cách hiền lành trong tay Phùng khi ánh trăng ló ra.

Tôi yêu anh từ năm mười lăm tuổi, khi hàng đêm, trong mùng, chị Hai  tôi thì thào kể về anh cho tôi nghe. Chị kể tới đâu tôi mơ màng tới đó, nhất là lúc Phùng hôn chị lần đầu dưới gốc dừa sau nhà. Chị kể lúc Phùng ôm siết chị vào lòng và môi tìm môi ra sao, và bàn tay anh xoa nắn vú chị như thế nào, khi đó tôi cũng rùng mình ngất ngây theo chị. Và cũng từ đó, mỗi khi Phùng ghé nhà xách theo cây đàn cùng chị Hai dợt văn nghệ cho trường thì tôi hay núp trong buồng lặng lẽ ngồi nghe say đắm tiếng đàn và tiếng hát của Phùng. Tim tôi thường run lên khi có lúc nào đó, Phùng vô tình nhìn lướt qua tôi, hoặc có khi anh mỉm cười chào tôi, tôi muốn ngất.

“Kể cho anh nghe đi, vì sao chị Hai của em chết?” Phùng thì thào qua tóc tôi.

Chuyện đó quá lâu rồi, gần bốn mươi năm có lẽ, một người chết non và một người thì biền biệt không biết đi về đâu. Tôi thì lặn ngụp trong dâu bể cuộc đời. Nghe Phùng hỏi, tôi lại thấy cay đắng, cùng lúc, nỗi hờn giận dâng tràn trong tôi.

Nhiều năm tháng tôi và chị Hai như hòa nhập vào nhau khi cùng yêu một người đàn ông. Chị vui là tôi vui. Chị khóc là tôi khóc. Ngày hay tin Phùng cưới vợ chị run lẩy bẩy và khóc suốt, tôi thì nghe lạnh buốt toàn thân trong nỗi mất mát vì không còn được nhìn thấy anh nữa. Sau đó, chị tôi thường hay nôn ọe. Phát hiện chị có thai, ba tôi đánh đập chị tàn nhẫn, những lúc đó, đôi mắt chị nhìn tôi lạc đi như một đôi mắt chết. Mỗi khi ba tôi quất roi lên cơ thể chị, tôi cũng oằn oại như chị, tôi khóc, nhưng chị thì không khóc. Chị bặm môi nhăn mặt chịu đau, chỉ có đôi mắt to là cứ nhìn xoáy vào tôi chừng như ứa đầy nước mắt.

Cái đêm Phùng và chị quấn lấy nhau sau vườn, tôi ngồi canh ở bụi chuối gần đó. Tôi nín thở khi nghe tiếng chị Hai rên rỉ kêu đau rồi khóc rưng rức. Tôi nghe tiếng Phùng vỗ về nho nhỏ. Rồi lại nghe chị rên rỉ. Những tiếng động lạ lùng. Những tiếng thở. Tôi cứng người khi nghĩ đến đôi môi của Phùng và những ngón tay dài ngoằng của anh đang lướt trên thân thể chị. Tôi nhắm mắt. Tay Phùng cũng lướt trên tôi.Tôi lịm người trong bóng tối. 

Chị Hai không đi đâu xa. Đúng vào ngày cúng bốn mươi chín, chị nhập vào tôi nói cười khúc khích rồi hờn dỗi khóc lóc làm cho cả nhà sững sốt và sợ hãi. Nhưng riết rồi cũng quen, tính chị hiền lành nên chị cũng là con ma hiền, không ai sợ mỗi khi chị về nữa. Chỉ có điều tôi không còn được trò chuyện với chị, tôi chỉ gặp chị trong những giấc mơ buồn thảm. Có lần chị dắt một bé gái và khóc với tôi nói ráng tìm ba của nó.

Phùng vén tóc tôi. Những ngón tay lạnh ngắt chạm vào má tôi. Tôi biết mình khao khát như thế nào khi muốn ngậm những ngón tay ấy. Mắt anh long lanh dưới ánh trăng mờ nhạt. Tôi nói: “Sau khi anh lấy vợ thì chị Hai phát hiện có thai. Ba đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Em đã tiễn chị tới bờ sông, em đòi đi theo nhưng chị không cho, sau đó vài ngày xác chị nổi lên ở đầu cầu chợ.”

Phùng há hốc nhìn tôi. Cơ thể anh run lên. Cùng lúc đó một cơn gió lạnh thổi qua khiến tôi rùng mình ôm chặt lấy anh. Chưa bao giờ tôi thấy hạnh phúc như lúc nầy, bên Phùng, sau quá nhiều năm tháng nhớ mong.

Phùng khóc. Anh gục đầu lên tấm bia mộ chị Hai.

Trong tấm ảnh, mái tóc đen huyền của chị chợt dài ra vươn về phía người tình cũ, như một quấn quít không rời.

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

 

       ( Nguyên tác : Un istante di liberta’)

          Bản dịch của Trương Văn Dân

.

 “ Kính chào bà tiến sĩ De Rossi”

          Tôi vừa bước ra thang máy thì một trong các cô thư ký đã mang đến tách cà phê đầu tiên trong ngày. Tôi nói đầu tiên vì sau đó hãy còn nhiều tách nữa, không biết là bao.

          Một cô thư ký khác vội chạy đến giúp tôi cởi chiếc áo choàng, còn tôi, bó mình trong chiếc tailleur cực kỳ sang trọng, đi vòng qua phía sau vị trí điều hành, đặt chiếc cặp da có đựng notebook lên bàn làm việc.

 Biết bao kẻ muốn được mó tay vào chiếc máy tính cá nhân này! Chỉ cần nhấn vài nút bấm là tất cả những áp phe quan trọng của các công ty lớn, những chuyển dịch hằng triệu đô la  trên sàn chứng khoán sẽ tuần tự hiện lên bằng các mã số, để đảm bảo an toàn.

Một cú nhắp chuột… thế là tất cả những kế hoạch chi tiết và toàn bộ hồ sơ tuyệt mật của công ty Intracodex sẽ nằm gọn trong tay tôi. Định bật máy và liếc mắt vào công việc …nhưng mùi cà phê thơm phức đang kích động khứu giác làm tôi dừng lại.

Cầm tách cà phê nóng, tôi bước đến cạnh bức tường và nhìn xuống dòng đời từ tầng thứ 23! Ở trên đây không bao giờ nghe thấy tiếng ồn đô thị và dường như trong không gian luôn có một lớp sương mù nên quang cảnh trông có vẻ lãng đãng, giống như nhìn từ một giấc mơ.

 Rồi trong lúc áp môi lên tách cà phê lên tôi bất chợt nhìn thấy bóng mình phản chiếu lên tấm kính.

Tôi đang đứng đối diện với tòa nhà bằng kính. Mái tóc đen và dài, chiếc tailleur  trang nhã bó sát người, như thể người thợ may khéo léo ướm xấp vải vào thân mình trước khi đo cắt. Đôi chân khỏe và dài, còn được kéo dài thêm với đôi giày son cao gót. Chuyên nghiệp, quyền hành và nữ tính. Tất cả những vũ khí tối cần cho thế giới này. Thế giới của tôi.

Nhưng nét xanh xao tái nhợt trên khuôn mặt dường như tương phản với đường viền bằng son đỏ trên môi. Hai bờ môi thẳng nếp, mỏng manh mà sắc bén như một lưỡi lam, lạnh lùng như cái nhìn khinh mạn khi tôi quắc mắt. Bỗng dưng tôi không thể nhấm tiếp mùi vị cà phê. Hình như lúc này nó có vị chát của acit.

Phản chiếu trên tấm kính tôi nhìn thấy sau lưng mình cô ba cô thư ký tay cầm xấp hồ sơ đang chờ tôi ký. Cả ba căng thẳng đi qua đi lại sau lưng, hồi hộp chờ tôi quay mặt để trình bày công việc, báo cáo những cú điện thoại, nhắc nhở các cuộc hẹn và chờ tôi ra lệnh…nhưng tôi không thể tách đôi mắt đang nhìn bóng mình trên kính. Tôi không còn nhận ra mình nữa… sao mà tôi có thể biến thành một con người khô cứng và lạnh lùng đến thế?

Mười năm trôi qua như một ánh chớp… và bất thình lình tôi cảm thấy chúng đè nặng lên vai, một con mụ già cáu gắt. A! đúng rồi, đây chính là cái tôi đang nhìn thấy trên kính, một mụ đàn bà khô khốc, khó tính và cáu kỉnh. 

Tất cả bắt đầu như một phản ứng.

“ Con sẽ không bao giờ giống mẹ! ” tôi nghe vọng lại tiếng mình hét vào mặt mẹ. Bà yếu đuối, vâng lời, cam chịu, thụ động và chấp nhận mọi thứ… không bao giờ dám phản ứng, ngay cả những lúc ba tôi đối xử với bà bằng bạo lực, trước khi ruồng bỏ. Thế mà bà vẫn nhẫn nhục và chịu đựng. Rồi, không thèm nói một lời, ông lặng lẽ bỏ đi. Bỏ lại bà một thân một mình với nhiều món nợ. Gồm cả giấy cầm cố căn nhà.

Và chỉ vài ngày sau đó mẹ con tôi phải dọn đi.

Và thế là tôi không thể sống giống mẹ mình. Tôi không cần trái tim. Tôi không còn tình cảm. Chỉ lao đầu vào việc học, làm mọi thứ để tích lũy kinh nghiệm, dẫm đạp lên mọi thứ và mọi người. Tôi là mẫu người đàn bà của sự nghiệp, hay đúng hơn là một gã đàn ông trong thân xác một con đàn bà. Bởi vì tôi không còn giới tính, không có tình yêu; dĩ nhiên tôi vẫn có đàn ông, nhưng họ chỉ là những công cụ để tôi sử dụng rồi quên ngay, vì họ không cho tôi được gì mà tôi cũng chẳng để lại cho họ chút gì.

Cho đến lúc ấy tôi chưa bao giờ dừng lại để nhìn thấy mình đã trở thành người như thế nào. Chắc rồi…tôi đang đứng trên đỉnh cao của danh vọng, vị trí cao ngất mà mọi người thèm muốn… nhưng đó thực ra là thứ danh vọng gì? Bao nhiêu người đang cho rằng tôi đang thành đạt.

Đúng rồi, mà “đạt” được gì? Đã bốn mươi tuổi mà tôi không có một mái gia đình, không có một đứa con, chẳng có một ai đó thỉnh thoảng hỏi tôi có khỏe không và quan tâm đến việc tôi có vui vì những công việc của mình không. Không ai cả. Gia đình, thậm chí một người bạn.

Chậm rãi, tôi xoay lưng lại, thật khó nhọc rời hình ảnh của mình trên kiếng. Bàn tay tôi run rẩy khi đặt tách cà phê lên bàn. Bỗng dưng tôi cảm thấy như có một cơn nôn mửa đang trồi lên từ phía dưới.

Tôi đã không muốn sống như mẹ mình, nhẫn nhục, cam chịu…nhưng vì thế mà tôi đã trở thành một bản sao của ba tôi. Tôi hận ông! Thế nhưng bây giờ tôi thấy mình giống ổng, tôi đã cư xử với mọi người giống ổng, có khi còn tệ hơn.

Đối với tôi không còn ai cả, không một người nào, chẳng chút tình cảm…và tiền bạc thực ra chỉ là một phương tiện để tiếp tục dẫm đạp lên người khác.

Lạnh lùng và minh mẫn, tôi mạnh mẽ bước đến chiếc ghế bành bọc da và chễm chệ thả người lên đó trong lúc ba đôi mắt đang hồi hộp nhìn tôi từ phía bên kia bàn giấy.

“Mấy cô nhìn cái gì? Đặt mọi thứ lên bàn đi. Một lát nữa tôi sẽ gọi!”

Tôi nói to, làm cả bọn giật mình.

Ngay lúc đó tôi cũng chẳng nhớ tên của bọn họ là gì. Tôi chỉ muốn ngồi lại, một mình. Tôi mệt mỏi lắm rồi! Trong lúc ấp đầu vào giữa hai tay, bàn tay áp chặt vào mắt để khỏi phải nhìn thấy sự thật đang phản chiếu từ khung kính. Hằng ngàn khuôn mặt, tất cả đều là những góc cạnh của chính mình. Tất cả để cuối cùng chỉ còn lại một mình. Cô độc. Cô độc trong công việc. Cô độc giữa đám đông. Hoàn toàn cô độc. Cố tình cô độc. Rồi, như bất thình lình, cơn nôn mửa vụt biến thành cơn giận dữ, và bằng tất cả  sức mạnh, tôi cầm lấy chiếc tách cà phê, ném thẳng vào mặt kính.

Vô ích!

Mặt kính chỉ hơi rạn một chút chứ chẳng hề hấn gì. Đó chỉ là hành động vô ích nhằm giải thoát cơn giận. Thôi, đủ rồi! Tôi thấy mình ngạt thở. Tôi không thể nào tiếp tục ngồi đây.

  Phủ vội chiếc áo khoác lên người, tôi cầm chiếc túi xách rồi chạy ào ra thang máy.

Bàn tay run rẩy, tôi nhấn nút đi xuống, im lặng chờ xuống mặt đất, luồn lách giữa dòng người vô danh mà chưa bao giờ tôi muốn thân quen. Ra ngoài thôi, hít chút không khí giữa đất trời mở rộng.

Ánh nắng ngoài đường làm tôi lóa mắt. Một tay che mắt, còn tay kia  nắm chặt bâu áo khoác để che cơn gió lạnh vừa ập đến lúc bước ra khỏi cửa. Cho đến lúc đó, đối với tôi chưa bao giờ có nắng, có mưa, có ánh đỏ hoàng hôn hay tiếng cười, giọng khóc.

Máy bay, điện thoại di động, bàn giấy, máy tính…tất cả khô khan, vô cảm…tôi luôn luôn chạy đua với thời gian mà chẳng biết mình đi đâu, ngược lại, hình như chỉ để rời xa thêm cái cuộc đời mà tôi muốn có mà chỉ lúc này tôi mới biết là mình đã đánh mất. Tôi đã sinh ra mà chưa từng sống và lúc này mới đau đớn nhận ra là cả cuộc đời mình trống rỗng và vô ích.

Thiếu chút nữa là tôi bị một chiếc xe hơi đụng phải. Tôi ngơ ngác không biết mình đang làm gì và cứ băng qua đường mà không nhận biết. Nhưng không phải phản xạ đã giúp tôi tránh được tai nạn… mà có một  bàn tay vừa nắm cánh tay tôi, giật mạnh. Tôi xoay người theo bản năng để nhìn xem đó là ai.

Một đôi mắt màu hạt dẻ là cái đầu tiên mà tôi nhìn thấy. Nhưng nó không xa lạ với tôi. Đó là  đôi mắt của một trong ba cô thư ký…

Sao lại có thể như vậy được?

“ Tôi đây, Lidia đây mà, thưa bà tiến sĩ. Bà theo tôi… chúng ta đến chỗ kia ngồi một lát nhé!”

Như đứa bé, tôi để cô gái kéo mình đến một chiếc băng dài, tâm trạng gần như vui thích vì có một ai đó để ý và quan tâm đến mình.

“ Đây rồi, bà đã đỡ chưa? Có chút nắng nữa. Sau mấy ngày mưa mặt trời sẽ sưởi ấm chúng ta.”   Có lẽ tôi chẳng nghe cô ấy nói gì nhưng tôi bắt đầu thấy mình bình tĩnh lại, giọng nói của cô gái làm tôi an tâm.

Cô ta tiếp tục mà dường như tôi không hiểu hết những gì cô ta nói. Điều bất ngờ là những giọt nước mắt bỗng dưng lăn dài xuống má, chảy xuống cằm và tôi phải dùng bàn tay để lau. Lidia vội lấy khăn giấy và nhẹ nhàng chặm mắt cho tôi. “ Bà cứ để tôi lau cho, còn mấy vết đen nằm dưới mắt nữa kìa!”. Lâu lắm rồi chẳng còn ai  để ý và chăm sóc tôi. “ Bây giờ đỡ rồi đấy. Đi! Chúng ta phải về lại văn phòng …”  

Tôi vùng vẫy, cố gỡ bàn tay của cô gái đang nắm chặt lấy cánh tay mình.

Cô ta giữ lại trong khi tôi cố vùng ra để trốn chạy, thật xa cái tòa tháp mạ vàng lâu nay cứ làm mình ngộp thở.

“ Mình đi lên nhé… còn bao nhiêu việc phải làm. Bao nhiêu hồ sơ đang chờ bà ký….Bà chưa thể  bỏ đi được đâu…”

Bàn tay thép của cô gái như đang siết chặt hơn. Lidia kéo tôi, và từng bước chúng tôi bước vào cửa tháp, bên trong những bức tường bằng kính và tôi như không còn sinh lực, cứ để mặc cho cô ta kéo mình vào bên trong nhà ngục.

Read Full Post »

Bi kịch vàng

                                                                    

    Truyện ngắn của Nguyễn Trí

.

     Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

       –  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

        Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

       Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

     Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

       Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

     Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

     Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:

  • May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

     Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:

  • May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

   Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

     Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.   

                                                                                    ***

    Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

     Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.  

     Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

       –  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

    Sau bữa tiệc cha tôi nói:

  • Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

    Nhưng Văn nói với tôi:

       –  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lảnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cái tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

       –  Nó nói gì?

        –  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?

  • Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
  • Ừ…

     Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật giáo. Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:

  • Lên chùa để tâm được tỉnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

         Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

     Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:

  • Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
  • Anh em cả mà. Có gì mà giận?
  • Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
  • Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.  

    Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:

  • Để chú động viên nó vào.

   Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:

  • Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.

   Và đời không đơn giản.

                                                                               ***

        Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:

  • Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.

     Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:

  • Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

       Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn. Mơ cái gì nhỉ? Tôi chắc trăm phần trăm rằng do miếng ăn mà ra cả. Người ta mơ về một thừa mứa vật chất ở xứ sở mà người thất nghiệp có nhà nước cung cấp cho cái ăn cái mặc. Và khẳng định rằng xứ ấy là thiên đường.  

     Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

     Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

     Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

      –  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

       –  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

     Văn cũng mày mi tau tớ:

       –   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

    Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

     Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.  

      Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:

  • Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

   Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

       Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

       May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

                                                                            ***  

      Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:

  • Ra sao rồi?
  • Nói chung là ổn.
  • Vợ con sao?
  • Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
  • Giờ muốn gì nữa không?
  • Muốn khi chết được chôn trên đất này.
  • Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
  • Tha phương nhớ nhà lắm.

   Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

  • Sao mà như nước với lửa vậy?

      –   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

    Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

      Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

      Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

    Nhưng.

    Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

                                                                       ***

     Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

     Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

    Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

    Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

                                                                                                    Nguyễn Trí

1 – thơ Nguyên Sa

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »