
Archive for the ‘Văn xuôi’ Category
Hai Lá Tre
Posted in Văn xuôi, tagged Cao Thị Hoàng, Trần Bảo Định on Tháng Chín 14, 2019| 22 Comments »

Thảo nguyên sau cánh cửa
Posted in Văn xuôi, tagged Ái Duy on Tháng Bảy 5, 2019| 12 Comments »
Truyện ngắn Ái Duy

Như thường lệ, sau khi đã chuẩn bị xong xuôi hành trang lên đường đi đâu đó tôi mới ghé nhà ba má báo cáo. Biết chắc đầu tiên sẽ nghe ba càm ràm đi gì mà đi miết, đôi khi cũng bị làm mặt giận ít ngày, và thi thoảng thì được cho thêm lộ phí vào giờ chót. Má thì khác, lúc thì toa rập giấu ba, bộ ổng không biết mày bao nhiêu tuổi rồi sao, lúc thì mừng vui khuyến khích đi đi con, thậm chí còn không giấu vẻ ganh tị. Qua được ải song thân, dù đôi khi buộc phải nói dối hoặc cãi bướng mà thấy nhẹ nhõm như đặt được một chân lên máy bay. Nhiều khi nghĩ cũng mắc cười, sao thấy mình hoài không lớn nổi trong mắt ba má. (more…)
Chung một đam mê
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, Văn xuôi, tagged Elena Pucillo Truong, Sâm Thương, Trương Văn Dân on Tháng Tư 26, 2019| 5 Comments »
Elena Pucillo Truong

Có những cuộc gặp gỡ trong đời đã giúp cho ta hiểu là tất cả chúng ta chỉ là những con cờ được sắp đặt và di chuyển trên một bàn cờ vô hình, như một bàn mạt chược vô tận, trong đó định mệnh, người chơi cờ duy nhất có quyền quyết định những cuộc gặp, nắm lấy cuộc đời ta rồi lôi kéo hay thay đổi dòng chảy.
Đó là điều mà tôi đã cảm nhận trong thời gian đầu ở Việt Nam, thời mà tôi đến và chỉ lưu lại một ít thời gian. Cùng với chồng tôi, trong một quán cà phê có nhà văn Nguyên Minh tôi đã gặp gỡ nhà văn nhà biên kịch kiêm đạo diễn Sâm Thương. (more…)
Bóng chiều
Posted in Văn xuôi, tagged Hoàng Thanh Hương on Tháng Ba 25, 2019| 11 Comments »
Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương

Thái Phiên photo
- 1. Góc phố ẩm thấp, tăm tối như một nghĩa địa, cô ngồi dưới gốc cây to, ngước lên đám lá đang lắc lư ngỡ có cả ngàn hương linh đậu trên từng ấy lá thô lố mắt nhìn xuống, lép bép miệng bình luận kẻ phờ phạc dưới đất. Cô gai gai toàn thân, chân nhừ nhức vì đôi dép dây bó thít, cái khăn quàng cổ như xiết ngược khiến cổ họng ngộp ngộp. Cô tưởng mình sắp chết ở nơi đây, chết đường chết chợ nơi góc phố ẩm thấp, tăm tối như nghĩa địa này. Cuối con phố là nhà anh. Khi người dân trong xóm phát hiện ra xác cô, họ sẽ hốt hoảng tri hô, sẽ dạt chạy tán loạn. Người sống luôn sợ hãi người chết, họ sợ các linh hồn và lý giải sự tồn tại của chúng một cách huyền bí, bất an. Kẻ ác thường không muốn tới những nơi linh thiêng. Họ sợ. Có những điều người sống giấu che được người sống nhưng người chết có thể biết rõ. Anh thể nào cũng đến, thể nào cũng nhận ra cô, xám ngắt, nhàu nhĩ dưới gốc cây quen thuộc đầu phố này. Cô chịu không thể đoán tiếp anh sẽ cư xử ra sao trước tình huống này, nhiều khả năng anh sẽ bỏ chạy về nhà, thất thần, ôm ngực sợ hãi, cô vợ anh sẽ chẳng hiểu gì cả, sẽ cũng thất thần sợ hãi. Kẻ sống thường sợ hãi những xác chết dù chúng vô hại ngay thời điểm ấy. Linh hồn cô sẽ bay đuổi theo bám riết lấy anh, đậu trên vai anh, chui tọt vào ngực anh tạo thành một quầng u ám giá lạnh, ngăn cản anh và cô vợ trên chiếc giường tân hôn mỗi ngày mỗi đêm. Nghĩ thế cô mỉm cười hả hê. Nghĩ thế cô nhíu mày xấu hổ. Cô đấy ư. Người đàn bà thất tình đầu óc thường quay cuồng ám muội đen tối với trăm ngàn ý nghĩ trả thù kẻ bội bạc. Cô là đàn bà. Cô đang thất tình. Cô đang muốn chôn sống anh cùng cô ả đang bên anh hân hoan hạnh phúc. Chiều sẩm sẩm, gió lạnh. Chiều tháng 10, trời tối nhanh hơn, cô ngồi đây đủ lâu. Người ta nói con phố này trước kia là nghĩa địa, nhà nào làm trên đất này cũng mời đủ thầy cúng, thầy phong thủy về van vái xin cầu, sắp đặt cổng cửa, bếp giường, tủ kệ để yên an cư trú. Cô nghe nhiều chuyện ma, xem nhiều phim ma, lúc sợ lúc không nhưng tạm hiểu ma cũng như người, có thứ ma lành hiền dễ thương, có thứ ma độc ác, quỷ quyệt chuyên hãm hại người sống. Ma cũng giống người, chiến đấu với nhau để giành những thứ chúng muốn. Nếu cô chết, cô sẽ là ma quỷ quyệt, cô sẽ khuấy đảo cuộc sống hiện tại của anh, bắt anh phải trả giá cho những gì anh và gia đình anh gây ra cho cô và đứa con đã chết. Cô ngước nhìn đám lá lắc lư trên cao, nhíu mày tìm kiếm, hoài nghi trong đám lá kia có một chiếc là nơi linh hồn đứa con tội nghiệp của cô trú ngụ. Nó đang nhìn cô oán thán, nó đang trừng mắt giận dữ và nguyền rủa người mẹ độc ác nỡ dứt nó khỏi vòm bụng ấm áp, cắt đứt mạng sống của nó trong tích tắc bốc đồng ngu xuẩn. Cô rùng mình ngồi nép vào gốc cây, rên rỉ. Những xe máy rồ qua. Những ô tô vù qua. Chẳng ai để ý một ả đàn bà nhàu nhĩ đang ngồi đợi chết.
Bóng mây cuối chiều
Posted in Văn xuôi, tagged Mang Viên Long on Tháng Ba 6, 2019| 4 Comments »
Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG.

Kính tặng những bà mẹ bất hạnh.
Thạc đẩy cửa, bước vào – liếc nhìn vào giường bà Sửu đang nằm, giọng lạnh lùng:
-Mẹ sao mà nằm hoài vậy?
-Tao hơi mệt, nằm chút rồi dậy.
-Lúc nào cũng nghe bà kêu mệt!
-Tuổi trên sáu mươi rồi, muốn mệt lúc nào thì mệt – tao đâu có muốn vậy.
Thạc đi thẳng lên gác. (more…)
Cội mai ở lại
Posted in Văn xuôi, tagged Hoàng My on Tháng Hai 3, 2019| 2 Comments »
Bến xuân
Posted in Văn xuôi, tagged Tiểu Nguyệt on Tháng Mười Hai 3, 2018| 10 Comments »
Truyện ngắn
Tiểu Nguyệt

Hạ đạp xe qua khúc cua rồi rẽ vào đường Hoàng Diệu, con đường mà ngày xưa bọn con gái trường nữ tụi nàng hay gọi là “con đường tình ta đi” mỗi khi đến lớp. Hàng me hai bên đường rợp mát, yên vắng, với những chiếc lá me bay bay nên thơ, để các nàng võ vẽ tập gieo vần mơ mộng. Hạ mỉm cười nhớ lại những bài thơ mộng mơ ngày nào, sao mà ngây ngô, sao mà dễ thương lạ.
Ngày ấy, sáng nào nàng cũng đến rủ Ngân cùng đi học, hai đứa vừa đi vừa ngân nga vài câu trong một tình khúc nào đó yêu thích, trên con đường thơ mộng ấy. Tà áo vừa rộng, vừa dài, xúng xính, xùng xình của Hạ, nhìn vào là có thể đoán biết mặc bính áo của người khác. Nàng luôn mặc áo dài của chị gái đã chật bỏ ra, có khi dép đứt, phải lấy sợi dây ny lon cột lại, xỏ ngang một khúc cây ngắn, vẫn reo vui, hồn nhiên đến lớp. Chiếc quần trắng bị sên “cạp” lủng lỗ, đi bộ thì thôi, nhưng nếu đi xe đạp thì phải cột túm ống quần lại, giống đi thăm ruộng vậy. Thế mà Hạ chẳng biết mắc cỡ, tỉnh bơ trước cái nhìn diễu cợt của bạn bè cùng trang lứa. Dù vậy, các bạn luôn dành cho Hạ lời khen xinh xắn, dễ thương, có đôi mắt sâu thẳm cuốn hút. Đám bạn trong lớp cũng tỏ ra ngưỡng mộ Hạ vì các bài tập luôn đạt điểm cao nhất. (more…)
Ngõ hoa
Posted in Văn xuôi, tagged Mang Viên Long, Ngõ hoa on Tháng Mười Hai 1, 2018| 15 Comments »
Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG.

Cô bạn giới thiệu cho Thuận căn phòng có chiều dài 5 mét, chiều rộng 4,5 mét – tổng cọng hơn 22 mét vuông, như ở tầng trên. Đến xem, Thuận đề nghị lấy phòng dưới đất, bởi còn chút khoảng sân có bóng cây, có thể đi lui đi tới được. Bà chủ nói đã nhận lời một cô giáo mới vừa chuyển đến dạy ở thị xã niên khóa nầy rồi, đành chịu.
Lúc đứng ở khoảng hành lang hẹp tầng trên, Thuận nhìn sang dãy phố đối diện, thấy ngôi nhà kiểu vila thời Pháp có trồng nhiều hoa, nghĩ có thể thư giãn đôi chút mỗi sáng khi vừa thức dậy. Căn phòng nầy là phòng trọ thứ ba Thuận đi tìm thưê trong gần tuần lễ nay tương đối tốt, nên đã đặt cọc tiền trước ba tháng cho bà chủ nhà. (more…)
Elena Pucillo Truong – Đi ngược để xuôi dòng
Posted in Văn xuôi, tagged Elena Pucillo Truong, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trương Văn Dân on Tháng Mười Một 10, 2018| 3 Comments »
Nguyễn Thị Tịnh Thy

Vợ chồng nhà văn Elena Pucillo (giữa) và Trương Văn Dân đang tâm sự về tình yêu và trang viết – Ảnh: L.Điền
Trong làn sóng di dân của nhân loại từ xưa đến nay, người ta thường bỏ nơi nghèo khó để đến xứ giàu sang, bỏ nơi lạc hậu để đến vùng văn minh… Nhưng ở thế kỷ XXI này, có một nữ tiến sĩ người Ý lại đi ngược so với mọi người; chị bỏ nơi giàu sang, văn minh để về với nghèo khó, lạc hậu. Đó là Elena Pucillo Truong. (more…)
Chuối trổ buồng
Posted in Văn xuôi, tagged Trần Bảo Định on Tháng Mười 22, 2018| 64 Comments »
Trần Bảo Định

1.
Má mất trước hòa bình.
Ngày về, tôi nghe chòm xóm kể lại: ”Mảnh đạn pháo ”mồ côi” từ căn cứ Đồng Tâm bắn đã cắt lìa sự sống của má tôi!”. Ngôi nhà ba gian, hai chái lợp lá dừa nước thuộc mấy đời người, giờ chỉ còn lại mớ tro tàn bay tứ tán. Lần hồi, xóm giềng giúp tôi dựng lại ngôi nhà trên nền đất cũ, cái nền đất mơ ước hòa bình, và thấm máu mẹ tôi.
– Bảy! Dựng nhà xong, cháu nhớ trồng chuối lập vườn, nha!
Bác Hai nhắc. Chắc là bác sợ tôi quên.
Tôi nói trả treo:
– Trồng chuối cũng chỉ là cách nuôi ma quỷ. Người ta nói: đêm đêm nó hiện về kêu, tiếng kêu khóc rợn người!
Bác cười sặc sụa, buông thòng một câu:
– Ngày trước, má cháu muốn biến khu đất vườn tạp nầy thành vườn chuối!
Bồi hồi, tôi nhớ lại.
Bến nước nhà tôi ngó qua bên kia là doi đất Hốc Đùn (1) giữa đôi bờ sông Bảo Định. Sanh thời, má tôi thích trồng cây chuối, mặc kệ người ta hay chê bai: trồng chuối là ”trồng chúi nhủi” (!?). Có lần má nói: ”Hòa bình, má sẽ lập vườn trồng chuối, và chuối đó phải mang thương hiệu ‘Chuối Bến Chùa’!
– Chuối có nhiều giống. Vậy, má dự định trồng giống chuối nào?
Tôi hỏi, má chợt cười: ”Giống chuối nào má cũng trồng, không phân biệt”.
Má giải thích:
– Tùy đất chọn giống, không thể tùy giống chọn đất.
Rồi, má nói thòng câu: ”Con người ta thì cũng vậy, thôi! Tùy việc chọn người, không thể tùy người chọn việc”.
Lát sau, má nói chắc cứng:
– Xẻo đất vàm Bến Chùa được bồi lắng bởi phù sa hỗn dung từ hai dòng sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, nên có khả năng giúp các giống chuối nhanh chóng phát triển, tươi tốt.
Giờ thì, tôi thực hiện điều mong ước của má!
Giống chuối cao đòi hỏi không gian, giống chuối lùn thì không. Buổi trưa bóng đứng, tàu lá chuối buồn rũ nắng. Bâng khuâng, tôi nhìn đọt và búp chuối chênh vênh phơi cái noãn nà, khiến kẻ chặt lòng cũng không thể không là khách tình si. Buộc miệng, tôi ngâm nga:
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem (2).
Những bông chuối lay động; tiếng xạc xào nửa như hớ hênh, nửa như khép nép run rẩy rụng cuống hoa. Nhớ và thương má tôi, người trở thành thiếu phụ trong những ngày đầu binh lửa qua làng. Mắc võng dưới tán cây vú sữa, tôi đọc đi đọc lại ”Suối về Hoa Nghiêm” (3), và từ nơi sâu thẳm của đứa con đã lên tuổi lão, tôi trào dâng niềm xúc cảm, bởi:
Mẹ mãi muôn đời mẹ của con
Dù Nam Hải cạn Thái Sơn mòn
Trái tim in bóng THỜI mơ MỘNG
Tuổi ngọc ngà vương nét lệ son
mà thi sĩ Trần Quê Hương đã vắt máu tim mình dệt thành những vầng thơ về Mẹ!
Trong tâm tưởng, tôi nghe tiếng róc rách của suối, tiếng gọi rạt rào về cõi HOA NGHIÊM bằng những trang kinh quý báu cho người. Bỗng dưng, tôi nhớ chuyện nhà:
” – Trời khuya rồi đó, con!
Má nhắc tôi.
– Dạ!
Dòng sông quê bàng bạc trăng sương.
Tôi lững thững bước qua thềm cửa, hình như bóng trăng lẽo đẽo theo sau níu gót chưn. Tôi ngoái lại, trăng xoay mặt về phía vườn chuối, và trăng xoải mình bơi ra vàm rạch Bến Chùa mênh mông nước.
– Con đi ngủ đây, má!
Nói là nói vậy, chớ thiệt ra, tôi nào có ngủ nghê gì được đâu. Bởi lẽ, trong tôi co cụm bao điều trăn trở, và dàn trải những dự phóng tương lai bất định của trai thời loạn: Chiến tranh!
Tiếng pháo gầm xa như tiếng sấm nổ của cơn mưa đầu mùa. Má tôi lụm cụm ngồi dậy.
– Bảy! Ngủ thức, con?
Nằm im, tôi giả đò ngủ.
– Cái thằng nầy, thời giặc giả mà mới đó đã ngủ say rồi!
Má cằn nhằn, sự cằn nhằn pha lẫn tiếng thở dài ngao ngán bom đạn.
– Xuống tảng-xê, nhanh lên, con!
Má lay chưn tôi theo nhịp thúc giục.
Tiếng súng nổ như bắp rang ở hướng cầu Bến Chùa ”.
Hoàn cảnh cũ tuy đã xa lắc xa lơ, nhưng tôi không thể nào quên và cũng không thể nào không nhớ đoạn thơ trong bài thơ ”Mười năm con lớn” của ông:
Con nhớ mỗi lần nghe súng, mõ
Đầu đàn ngoại gọi ”Dậy con ơi!”
Dậy liền xuống đất chun hầm trốn
Lo lắng nằm run…vái Phật Trời
Và, đêm thổ huyết trăng vàng úa, tật nguyền trên quê hương tôi!
2.
Vườn chuối mượt xanh, cây chuối đã ba mùa trổ bông kết trái thành buồng trên mảnh đất từng bị đạn bom chà đi xát lại và nay, vẫn còn phảng phất mùi thuốc súng. Tôi giật mình, ngậm ngùi khi đọc thơ ông:
Nước nhà gặp thuở can qua
Chiến chinh máu lửa chan hòa lệ dân
Vì tình chung gác tình thân
– Em ơi! Hãy nhớ duyên trần trăm năm…
Lời người ra đi dặn dò người ở lại, và người ở lại cũng dặn dò người ra đi: ”Mau về, con khóc đợi chàng đó nghen!” trong ”mắt đẫm châu tràn” tiễn ”người đi tận mù tăm sương ngàn…”. Những câu thơ mang nội hàm bình dị không hẳn là bình dân, rất dung dị đời thường đã rót vào lòng người đọc sự thổn thức không thể cưỡng lại.
Chàng thi sĩ – đứa con yêu dấu của rạch Bến Chùa, vùng đất đã từng nổi tiếng mận Hồng Đào một thuở – đã y bát đi khắp nẻo đường quê hương, và chàng gửi lại ”Suối về Hoa Nghiêm” với hai khúc đoạn: ”Tình ca 25 năm”, ”Cây Tùng – Phương Hồng Cỏ và Biển Khơi”. Tôi thẫn thờ nhìn bông hoa chuối màu tím trước cơn gió dữ tạo tiếng gió xé lòng tử biệt:
Con gái hai mươi thành thiếu phụ
Khóc tình chưa cạn lệ chia ly
Rồi nay lại khóc thân đơn lẻ
Anh hỡi! Sao mà vội sớm đi?
Phận người trong kiếp trầm luân chìm bể khổ, và ông đã ngộ ra từ cái giác nơi trái tim tinh khôi khi bước vào tuổi mười ba. Dưới bầu trời xanh và mây trắng, ông mất cha rồi mất mẹ, thân côi cút nương tựa ngoại… những ngày! Ông tìm về… Về HOA NGHIÊM bằng tất cả tấm chơn tình tận hiến.
Đêm đồng bằng xuống nhanh như cố xua đuổi ngày. Trăng – Trời trong thể trạng Trời – Trăng, và nếu vì một lý do nào đó, Trời – Trăng thiếu Mây – Nước, thì Trời – Trăng kia cũng chẳng còn ý nghĩa gì đối với thế gian. Mẹ tạo con và con thì không thể tạo mẹ. Tôi đã đọc thơ thi sĩ Trần Quê Hương cho bác Hai và bà con trong xóm cùng nghe. Thơ của ông chẳng khác nào ban mai mồi nắng, truyền ấp áp và quang hợp sự sống. Đó là điều cảm nhận không riêng gì bác Hai mà của cả mọi người. Với thiên hạ, chẳng xa lạ gì ông; với người Mỹ Tho dưới mái tịnh xá Ngọc Tường trong chiến tranh hay hòa bình, thì ông mãi mãi vẫn là người thân ruột rà. Người ta trọng ông vì cái nghĩa, mến ông bởi cái tình, thương ông từ cái chất phác, hồn hậu và nhứt là, ông cúi mình xuống nâng mọi người giác ngộ cái cần giác ngộ trong cõi vô thường. Vì vậy, thơ ông không cần dụng công chắc lọc chữ gọi là sang hoặc hàn lâm mà vẫn đi vào lòng người đọc sự nhẹ nhàng, tinh tế như lời ru của mẹ, như câu hò, câu ca dao thấm đượm tình quê.
Tôi nói nhiều về thơ ông, có lẽ do chủ quan và cũng có lẽ do đồng cảm. Song, phải thú nhận rằng, tôi không cầm được nước mắt khi chạm vào thơ ông viết về Mẹ!
Mẹ ông hay mẹ tôi, hoặc bất cứ bà mẹ nào trong thế gian nầy, chắc đều có cùng mẫu số chung là ”banh da xé thịt” đẻ con! Ông bộc bạch tâm tình:
Hỡi ơi! Rêm nhức cùng da thịt
Mẹ lại vì con cam chịu mà
cho tới lúc ông chào đời:
Vừa ra lòng mẹ oe oe khóc
Tiếng khóc con xua hết tủi hờn!
Tự dưng, tôi liên tưởng cây chuối vườn nhà – chỉ là chúng sinh – ; vậy mà nó cũng phải trải qua thời khắc ”banh da xé thịt” để trổ buồng; đồng thời cho ra đời mầm sống mới, gìn giữ giống nòi! Tôi đã nhớ ra, có lần bác Hai chỉ vẽ:
– Chuối chỉ trổ buồng về đêm!
Tôi hỏi: ”Vì sao?”. Thong thả, bác nói chậm rãi:
– Đêm càng sâu, không khí càng lạnh, nhứt là dưới phần gốc chuối và từ đây, cái lạnh truyền khắp thân cây. Thân cây chuối run bần bật và phát tán thanh âm ”nghiến ken két” .
Rồi, bác nói người yếu bóng vía, nghe thanh âm đó giữa đêm khuya khoắt cũng có thể điếng hồn, chết giấc.
Tôi ê răng. Bác cười:
– Đó là, tiếng kêu rên của bẹ bắp chuối đang lúc bung quài chuối non chào đời!
Tôi xẻn lẽn, nhận ra cái ngớ ngẩn:
– Vậy mà, cháu…
– Cháu tưởng rằng: trồng chuối là nuôi ma quỷ!
Bác đỡ và nối lời tôi.
*
Chết ngất đôi giờ cho con mẹ
Lọt lòng ra khỏi bến tình nhau
Câu thơ của ông đã gợi trong tôi hình ảnh chẳng khác gì buồng chuối non bung ra khỏi bẹ bắp, thật kỳ lạ – mà cũng rất kỳ diệu! – mơ hồ tựa người chui ra, và không rõ bắp chuối lấy nước trong vắt ở đâu mà nhễu thành giọt… thành giọt giống như nước ối của mẹ sanh con. Cái ”bến tình nhau” của thi sĩ là mối dây vi diệu cột chặt tình mẫu tử phải đạo làm người. Tôi thương cảm thi sĩ như tôi thương cảm tôi, bởi thi sĩ và tôi, cả hai đều không còn cha mẹ, để:
Đêm đêm thắp ngọn đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con (Ca dao).
Trong vòng đời nghiệt ngã, thi sĩ đã tự giác nhi giác tha:
Phải tự lòng mình trau luyện lấy
Tự mình thức tỉnh trước đời mình
Trăm năm hồ dễ ai còn thấy
– Sinh giả danh hề, tử giả sinh?
Đêm tàn. Trời sáng hửng, và thi sĩ đã:
Giã từ nhân thế trần gian giả
Năm tháng phiêu bồng thoảng tháng năm.
3.
Thực tại, người ta thường ngộ nhận bịnh ”chùn đọt chuối” với bông hoa chuối, nó giống nhau mà không phải nhau. Bông hoa chuối màu tím, thiên hạ hay gọi: ”Màu tím buồn châu thổ” vì thương nhớ mẹ. Cây chuối trổ bông sau hơn nửa năm hoặc cả năm trồng. Bác Hai dặn tôi không được cắt tỉa lá xung quanh bông chuối. Bác nói: ”Dưới ánh nắng mặt trời, lá bảo vệ bông chuối”.
Thiên nhiên tuyệt diệu!
Cái tuyệt diệu của thiên nhiên là: Cây chuối cần nước. Mất nước, cây chuối khô héo, lụn tàn và chết. Nhưng, nếu nước ngập tràn gây úng thì cây chuối không thể sống. Sự cân bằng môi sinh nó quan trọng biết dường nào. Vả lại, cây chuối cần và đủ không gian sống, chất lượng sống trên vùng đất vốn trù phú, phù sa màu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long.
– Đừng tiếc chồi nhỏ dù rất nhiều, cháu hãy mạnh tay chặt bỏ.
Bác Hai khuyến cáo và biểu tôi chọn để lại một chồi vượt trội hơn các chồi khác. Bác nói: ”Đó là cách tốt nhứt giữ cho cây khỏe mạnh và buồng chuối trĩu trái, thơm ngon”!
Quê tôi, thường hay gọi buồng là nải. Thực tế trái chuối ra nải treo, nải treo thành tầng, mỗi tầng gọi là nải, mỗi nải có nhiều trái và các nải gọi chung là buồng chuối. Khi bông chuối thu hẹp cánh, buồng chuối lồ lộ trên quài thì tôi cắt bỏ những phần thừa cây chuối. Có lẽ, một câu thơ, một bài thơ hay tập thơ chắc là cũng vậy thôi, và thi sĩ Trần Quê Hương đã làm được điều đó một cách tinh tuyển hết sức tự nhiên đối với thi phẩm ”Suối về Hoa Nghiêm”!
Bắp chuối, chính là bông đực và bông đực, không khả năng sinh sản nên người ta phế bỏ. Khi lá cây chuối bắt đầu rụng và chóp bông nhỏ trên đầu trái chuối khô héo là lúc thu hoạch trái. Bác Hai chỉ chặt nhát dao giữa thân cây chuối, tôi làm chưa đúng, bác cằn nhằn: ”Đã biểu chặt chéo giữa cây phía đối diện buồng chuối”, và bác nói thêm: ”Uốn cong cây, rồi cắt buồng ”.
– Cháu nhớ giữ lại một chồi cây, nó sẽ thay cây mẹ ở ngày mai!
Bác Hai cẩn thận nhắc chừng tôi.
Đêm quê nhà.
Trăng Vu Lan bồng bềnh, đùn đục sương xứ sở. Nằm nghe tiếng chuối ”nghiến ken két” trở dạ ngoài vườn, tôi bâng khuâng trong nỗi cảm hoài ”Suối về Hoa Nghiêm” qua từng câu thơ thi sĩ Trần Quê Hương, và với tôi, đã quá đủ chất liệu làm nên trang sử thi về Mẹ thuần khiết tâm hồn Việt!
TBĐ.
…………………………………………….
(1) Nay là ấp 5, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
(2) Ba tiêu (cây chuối), Nguyễn Trãi (Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, 1976).
(3) Tuyển tập thơ : Suối về Hoa Nghiêm – Tặng phẩm dâng đời – Tâm hồng mười phương (trích), Trần Quê Hương, Nxb Tổng Hợp, 2015.
