-
Đỗ Hồng Ngọc(Vài cảm nghĩ khi đọc Cuối Cùng của Võ Phiến, NXB Thế kỷ 21, 2009).
Cuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc.
Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẽ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc.
Phải, Mộc Mạc. Đó là tựa của một bài Thơ đặt ở trang cuối cùng của cuốn Cuối Cùng, như một khép lại: Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây… Chút nắng vàng giờ đây cũng vội… (Trịnh Công Sơn). Với tôi, Cuối Cùng là bài thơ, một bài thơ Thiền. Nhiều người tưởng Võ Phiến là một nhà văn, hóa ra ông là một nhà thơ. Đọc kỹ đi rồi thấy. Có người mắt tinh đời sớm nhận ra điều đó: “Võ Phiến là thi sĩ. Mà là thi sĩ của trần gian nữa. Dù có khi anh viết bằng văn xuôi”. (Đặng Tiến).
Cuối Cùng của Võ Phiến là một tập sách trang nhã. Bìa cứng cổ điển. Nhưng bìa bọc ngoài lại là một mầu trời xanh và mây trắng với những cái bóng của Võ Phiến. Không phải hình, mà bóng. Một cái lõi, xưa cũ, cứng cáp bên trong; một cái vỏ, bay bỗng, tuyệt mù.. bên ngoài.
Trang cuối không đánh số trang của Cuối Cùng như đã nói là một bài thơ. Mộc Mạc là tên bài thơ đó. Một sự trở về. Về với mộc mạc, với chân phác. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt (Trịnh Công Sơn). Chắc vậy rồi. Với Võ Phiến, chốn về đó là xóm là làng, có con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ, bà con cô bác…
Xưa từng có xóm có làng
Bà con cô bác họ hàng gần xa
Con trâu, con chó, con gà
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.
(Mộc Mạc)“Đều là cố tri”. Họ thân thiết nhau quá, gần gũi nhau quá mà! Đi sao nỡ. Xa sao đành. Chẳng qua gặp thời thế thế thời thôi. Một người như Võ Phiến hẳn “chân bước đi mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà cái thềm nhà cho đến bụi cây khóm cỏ…:” (Quốc văn giáo khoa thư). Rứt sao ra.
Rồi Võ Phiến viết tiếp sau khi ngậm ngùi nhớ những “cố tri” đó của mình:
Múa may mãi chẳng ra gì
Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời.
( Mộc Mạc)Ra gì là ra gì? “Múa may” coi cũng được quá đó chứ! Mọi người đều nhìn nhận Võ Phiến, dù không nói ra mà ai cũng phải gật gù. Đông Hồ khen “nhất” miền Nam. Nguyễn Hiến Lê khen tùy bút sâu sắc, tự nhiên, dí dõm, đa dạng…Đặng Tiến bảo tác giả hàng đầu, Nguyễn Hưng Quốc kêu nhà văn của thế kỷ… Vậy mà múa may mãi chẳng ra gì sao? Tới bây giờ, nhớ Đêm xuân trăng sáng hay Thác đổ sau nhà của ông đọc từ hồi còn trẻ, tôi vẫn còn như nghe nhột nhột ở đùi trong…
Tuyệt vời nhất ở hai chữ: mỗi lâu. Vừa mộc mạc vừa sâu thẳm. Sao lại “mỗi lâu”? Ấy là bởi ông đã đợi chờ, đã nghe ngóng, đã mong mỏi nó “rụp rụp” cho rồi, ai dè nó cứ dùng dằng dủng dẳng, bực cả mình. Rụp rụp như cái dao phay chặt thịt mà ông từng thấy ở một người đàn ông mặc áo thun, bán hủ tíu, quơ dao múa may mấy cái rồi rụp rụp ngon lành. Đầu này nó cứ đủng đỉnh, cứ lằng nhằng. Nó càng đủng đỉnh, càng lằng nhằng ông càng bẽn lẽn vì đã có đôi lần ông làm thơ “giã biệt” gởi cho “những người ở lại’ rồi, thế mà, chính ông lại ở lại. “Quê” quá chứ phải không? Nhưng mỗi lâu rồi thì sao? Thì, khổ thay, cứ mỗi lâu nó lại thêm một cách ly, rã rời! Cách ly? Rã rời? Ông thấy hình như mọi người đâu đó đã sẵn sàng cả rồi, hồi hộp chờ đợi cả rồi, vậy mà chuyện lại không tới. Tẻn tò, tản ra, xa dần, quên lãng… ? Tự ông, ông cảm thấy “ngượng ngập vu vơ”. Ngượng ngập. Vu vơ. Văn viết không ra, chỉ có thơ mới “nói lên” được: mỗi lâu thêm một cách ly rã rời…
Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.
( Mộc Mạc)Người ta thì gần đất xa trời, ông thì gần trời xa đất. Đất lạ, trời quen. Với người xa xứ “lạc loài đến đây” như ông thì cách ly với con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lủ sẻ đã đành là khổ, mà cách ly với những thân tình càng khổ hơn: “Gần đây nhiều lần nghe những trao đổi tưng bừng về các hướng thơ văn cũ mới, bị không khí sôi nổi lôi cuốn mạnh, tôi xun xoe nhấp nhỏm. Bỗng chợt buồn, tặc lưỡi: Mình còn được bao nhiêu ngày tháng? Những chuyện … như thế… trên đời… ối dào! ( Người ơi người ở dài dài, tr45)”. Mãn Giác thiền sư chẳng đã từng than “Sự trục nhãn tiền quá/ Lão đầu tùng thượng lai…” đó sao? Còn “rã rời”. Làm sao mà không rã rời cơ chứ? Có cái gì gắn với cái gì đâu. Toàn tạm bợ, lắp ráp cả đó chứ. Ngũ uẩn giai không mà! Bài thơ “Cũng Hợp” –lại Thơ- mở đầu cho cuốn Cuối Cùng, ông chẳng bảo “lắp ráp” xài chơi, lâu ngày chầy tháng thấy “cũng hợp”, cũng OK. Rồi đến một lúc nghĩ hay là ta… ở lại trần gian luôn chừng nghìn năm nữa cũng được. Để rồi giật mình: đã lắp ráp thì hẳn có lúc phải rời ra. Một câu hỏi đặt ra: Lắp ráp để chi? Để “trưa nào cũng bay” ( tr 139) chớ chi. Hoàn thành nhiệm vụ rồi thì rã. Rã rồi lại ráp không chừng. “Cả năm uẩn chúng quấy ta là thế” (Cũng Hợp). Võ Phiến hiện nguyên hình thành một… thiền sư!
Dặn lòng lòng vẫn nao nao
Ta đi mây ở, trưa nào cũng bayNhưng thiền sư mà có cái chuyện dặn lòng này mới lạ! Dù sao thì cũng chỉ nao nao thôi. Nao nao khác với bừng bừng. Đó là khi ông nhìn những phút “ântình” của chim câu: “…cái đuôi con chim mái, vẹt qua một phía… “. Xong. Rồi bay. Trưa nào cũng bay. Ông thấy “nao nao”. Nao nao quá chớ. Nó đến nó đi hờ hững thản nhiên. Sao trời nỡ đọa đày nhau đến thế? (Cũng Hợp, tr 17).
*
“Cái còn lại của một cốt cách : ít ỏi quá, mong manh quá”. (Hình bóng cũ, tr 32).
Không đâu. Cái cốt cách ở đời của Võ Phiến theo tôi không ít ỏi quá, cũng chẳng mong manh quá. Nó đáng cho ta ngã mũ chào. Với một nụ cười tủm tỉm, hân hoan.Đỗ Hồng Ngọc
(2010)
………..
(*) Hình bóng cũ, Võ Phiến.
Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category
Một cốt cách ở đời
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Võ Phiến, Đỗ Hồng Ngọc on Tháng Mười 8, 2015| 21 Comments »
Tìm hiểu thế giới nhân vật của Võ Phiến
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Nguyễn Mộng Giác on Tháng Chín 29, 2015| 13 Comments »
“Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng phải cầm vũ khí trong tay: anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ… và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc. (more…)
Nỗi lòng của con nhân ngày giỗ cha là thi sĩ
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Lâm Bích Thủy on Tháng Chín 25, 2015| 23 Comments »
.
Lâm Bích Thủy
|
Bài viết dành gởi: : Ông Hữu Thỉnh Chủ tịch Chủ Tịch Hội Nhà Văn Việt Nam và Ông Nguyễn An Pha Chủ tịch Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Bình Định |
| Cha tôi ra đi đúng vào Rằm Trung thu (15-8-1998). Hàng năm, cứ gần đến ngày, mẹ tôi lại chộn rộn nhắc các con, dù ở xa cũng về quê để làm giỗ. Nay, mẹ không còn, biết ai thay mẹ nhắc nhỡ! Song có một điều, đối với cha tôi, ông còn là một người thầy nhân từ, trọng tình, trọng nghĩa với đời, với người; cho dù không ai nhắc, chị em tôi ở hai đầu đất nước, cứ đến Rằm là tự khắc rủ nhau về nơi mà cha đã ra đi, thắp cho ông nén tâm hương tường nhớ để cha đỡ cô quạnh ở nơi suối vàng!
Chắc có bạn biết, cha tôi – nhà thơ Yến Lan-một trong bốn nhà thơ của Tứ Hữu Bàn Thành- đó là dải đất mà người đời thường tâm đắt: “Bình định là đất võ nhưng ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương” Ngoài bút danh Yến Lan, người ta còn gọi ông là linh Lân. Tên ấy, do ông Trần Thống, ở Kiên Mỹ (quê vợ nhà thơ Quách Tấn), đại diện người yêu thơ lúc bấy giờ, lấy tên bốn con linh vật để đặt cho: – Hàn Mặc Tử-long, Yến Lan-lân, Quách Tấn-qui, Chế Lan Viên-phụng. Tuy ngẫu hứng gọi cho vui, nhưng nó lại vận đúng vào nhân cách và phong thái thơ từng người một cách kỳ lạ… Đối với linh lân, nếu bạn nào chưa biết, hãy xem bài viết của nhà văn Lê Hoài Lương:
“ Ôi cái sự tình của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương. Trong nhóm thơ Bình Định, ông là linh Lân. Lân, vận vào ông sao đúng thế. Sách xưa mô tả lân là linh thú, mình giống nai, đuôi giống trâu, móng như ngựa, lưng có lông ngũ sắc, bụng thì vàng, một sừng. Đặc biệt đây là con thú nhân đức, không ăn các sinh vật, đi cỏ không nát! Ông hiền lành đức độ một đời, văn nhân thi hữu nhiều lứa tuổi khác nhau đều chung nhận xét này. Linh lân lành hiền và từng chói sáng trên thi đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn” ít nhất tới giờ mọi người vẫn ngưỡng mộ với Bến My Lăng và Bình Định 1935. Riêng Bến My Lăng cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục những bài thơ hay nhất nước Việt Nam thế kỷ XX .!…. Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của ông cách đây đúng 10 năm (nay là 17 năm NV). Lạ lùng thay lại nhằm đúng vào đêm trăng đẹp nhất trong năm: Trung thu. Ông lặng lẽ về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng cắc múa lân, ông – con linh – thú – lân lành hiền đi không làm đau cỏ! (Báo Bình Định 5/10/2010)
Trong hơn 60 năm cầm bút, tại vùng đất võ Bình Định, cùng thời với Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… nếu kể về công và tâm huyết cho quê thì Yến Lan không kém cạnh ai về tài, tri thức, tầm và sự sáng tạo trong nghệ thuật. Nhưng, thật công tâm mà nói thì không ai gắn bó với quê hương xứ sở bằng Yến Lan. Với quê, nơi chôn nhau cắt rốn; ông dành tình cảm của mình vào bốn bài thơ: Bình Định 1935, Bình Định 1945, Bình Định 1947 và Bình Đình 1976. Ông đã làm cho thị xã An Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung trở nên bất hủ, để người người yêu thơ tìm đến chiêm ngưỡng, bởi vì có cái “Bến My Lăng” do ông đặt tên. Hơn thế nữa; thơ Ông viết về Bình Định với niềm tự hào và vui sống bình dị, thanh bình ở miền có nhiều ánh trăng huyền hoặc. Nhưng đằng sau cái vẻ rất đời thường ấy trong Ông ẩn chứa cả một cuộc tự thanh lọc để giữ chất người của chính mình:
Sự nghiệp văn chương ông chọn để mưu sinh và tâm huyết cả đời, ông đã nghiệm ra nhiều điều và tự đánh giá mình bằng lời trăng trối với con khi biết qũi thời gian không còn nhiều; ông gọi hai con gái lớn lại và nói: “Riêng hai con là phận gái ba mới nói điều này; ba nghèo không có gì để lại cho hai con, nhưng bù lại, suốt đời ba đã phấn đấu, đến giờ các con có quyền tự hào-mình là con của một người làm thơ biết tự trọng và khiêm tốn. Điều này còn quí hơn châu báu, tiền bạc, nhà cửa…” Thực ra, ông không biết rằng, chúng tôi đã rất tự hào về người cha thi sĩ của mình; bởi vì hai đức tính này nghe thì rất bình thường, nhưng đã mấy ai làm được, nhất là vào những thời điểm mà chân giá trị đích thực của con người chưa được đặt đúng vị trí.
Tài năng của ông ư? Vì ông là một nhà thơ khiêm nhường nên ít ai quan tâm đến! Nhưng, ít ai biết, ngay những ngày mới đặt chân lên đất Bắc, khi Bác Hồ kêu gọi các văn nghệ sĩ soạn “Cương lĩnh mặt trận Tổ quốc diễn ca” để truyền bá trong nhân dân. Cùng soạn với ông, còn có 16 nhà thơ khác; nhưng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn tác phẩm của Yến Lan. Và Nhà thơ Hữu Thỉnh – Phó Tổng thư ký thường trực Hội nhà văn Việt Nam, tại lễ tưởng niệm nhà thơ Yến Lan, tổ chức ở Hà Nội, ngày 8-10-1998. đã sơ lược quá trình hoạt động nghệ thuật của Yến Lan: “…Tài năng của Yến Lan sớm nảy nở và sớm được khẳng định. Truyện ngắn đầu tay của Yến Lan bút danh là Xuân Khai được thưởng giải cao của báo Thanh Nghệ Tỉnh khi Yến Lan chưa đầy hai mươi tuổi. Truyện ngắn của Yến Lan liên tục được giới thiệu trên các tờ Tiểu thuyết thứ hai, Tiểu thuyết thứ năm và nhiều tờ báo khác. Yến Lan viết cải lương, viết kịch và thành lập đội kịch mang tên ông. Đoàn kịch Yến Lan với vở “Bóng giai nhân” đã từng lưu diễn ở Huế, Hà Nội. Thanh Hóa…
Còn trong Cách mạng và 9 kháng chiến, đóng góp của Yến Lan cũng được nhà giáo dạy triết học tại Trường Đại học Qui Nhơn, thầy Cao Kế cho rằng: “Nếu có một tác giả nào sau này viết về lịch sử thơ ca Cách mạng của Việt Nam và tỉnh Bình Định thì phải thấy cho hết con người Yến Lan đã đóng góp như thế nào và đánh giá cho đúng cái tác dụng to lớn những bài thơ Yến Lan đã viết khá hay trong những ngày đầu Cách mạng như: “Bình Định 1947”, một bài thơ mà nội dung phục vụ Cách mạng kịp thời và về phương diện nghệ thuật ai cũng phải công nhận là một bài thơ rất hay. Chính những bài thơ ông làm lúc này đã có tác động đến đội ngũ trí thức làm cho họ tin vào Cách mạng và theo Cách mạng…”
Trước những đóng góp thầm lặng của Yến Lan cho nền Văn học Việt Nam và tỉnh Bình Định, Nhà thơ Trần Ninh Hồ đã chia sẻ nỗi day dứt trong lòng: “Vị trí của Yến Lan lớn, nhỏ đến đâu trong thi đàn nước nhà, điều đó còn chờ sự lắng đọng của nhận thức, phẩm bình và thời gian; nhưng có điều dễ thấy ở Yến Lan: Ông là một thi tài thật sự đặc sắc!”
Năm nay, là ngày giỗ thứ Mười Bảy của Yến Lan; tính ra, một khoảng thời gian cũng không phải là ngắn so với đời thi sĩ. Trãi qua khoảng thời gian đó, những oan trái đối với nghệ sĩ trong cái gọi là Nhân văn Giai phẩm, người ta đã sửa sai, người từng bị gán tội oan đã được hoàn lại đúng giá trị, phẩm giá và tài năng, như nhạc sĩ, Văn Cao, nhà thơ Nguyễn Bính, nhà thơ Quang Dũng v.v… đã và đang được Đảng, nhà nước khôi phục quyền lợi mà họ rất xứng đáng được quyền hưởng. Đã có những con đường, trường học mang tên Văn Cao, Quang Dũng, Nguyễn Bính, và cả nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại nơi các ông sinh ra và tại thành phố lớn. Dẫu với Yến Lan, chỉ có thể có tại Qui Nhơn thôi, thì hầu như ông đang bị dần đi vào sự lãng quên, mặc dù khắp các trang web trên mạn dày đặt những thông tin về nhân cách, tài, đức của ông mà với bạn vong niên, đồng niên không thể phủ nhận được; thế mà Ông không có nỗi một con đường đàng hoàng ở thị xã An Nhơn, hay Thành phố Qui Nhơn mang tên ông, hay một phòng lưu niệm để lưu giữ những kỷ vật có thể là báu vật cho các thế hệ mai sau.
“Nhớ đến Yến Lan là người ta nhớ đến một nhà thơ, suốt đời ông sống cho thơ và cho quê, cho đến phút chót… Ông là con người của thơ ca, là những gì mà thơ mang trong mình nó: Thanh sáng, tinh túy và cao thượng. Ông yêu thơ trong thầm lặng như một mối tình dài (…), người làm thơ lớp sau gọi là “bố già” của loại thơ tứ tuyệt, tưởng đã mấy người được như thế” (Ngô Văn Phú).
“Theo cảm nghĩ của tôi, với tài năng và sức lan tỏa của cụ, đáng lẽ cụ phải được quê hương nhìn nhận ngay từ nhiều năm trước. Nhưng những ngày có hân hạnh hầu chuyện cụ Yến Lan, tôi biết tính cụ, ôn tồn, hòa nhã và hết sức tự trọng. Cho dù sự thiệt thòi luôn luôn xảy ra thuở sinh thời, điều ấy có hề chi với con người đã đi qua bao thăng trầm nhân thế, lặng lẽ trọng nghĩa nhân và ái ngại trước trò chơi phù thế ồn ào. (Nguyễn Thanh Mừng)
Và người đọc cho rằng; Thơ tứ tuyệt tài hoa của thi sĩ Yến Lan, những bài thơ như là sự chắt chiu cả cuộc đời lao động nghệ thuật miệt mài và tâm huyết. Nhưng việc nghiên cứu và xuất bản thơ Yến Lan vẫn còn quá ít ỏi, chưa xứng với những đóng góp của ông cho thi ca dân tộc. Bởi vậy, nghiên cứu thơ ca Yến Lan để góp phần xác định vị trí vốn có và những đóng góp của ông trong nền thi ca nước nhà là việc làm cần thiết”
Dẫu rằng thời gian gần đây, một số bài báo trên báo chí cũng như các tạp chí chuyên ngành có quan tâm hơn đến tên tuổi Yến Lan và sự nghiệp văn thơ của ông. Có thể kể ra đây một số cái tên đáng chú ý như: Trần Minh Nguyệt, Xuân Tùng, Trần Ngọc Tuấn, Trần Hoàng Nhân, Mang Viên Long, Duy Phi… nhưng những cây bút trên mới dừng ở kể lại những dòng hồi ức gắn với nhà thơ Yến Lan, những kỉ niệm đẹp về con người chí tình chí nghĩa ấy chứ chưa có một công trình tập hợp đầy đặn nào mang tính nghiên cứu hay hội thảo về thơ Yến Lan như những nhà thơ khác. Ngưỡng mộ tài, đức Yến Lan. Nhà thơ Trúc Thông, một tác giả cách tân thơ Việt Nam hiện nay, nhận xét về thơ tứ tuyệt của Yến Lan đầy cảm phục: “Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại, Yến Lan thuộc loại “bố già”. Một “bố già” hiền lành. Không cân quắc, ngang tàng, vang động. Nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm…”.
Ấy vậy mà những ghi nhận lặng lẽ đó không làm thay đổi được cách nhìn của quê huơng Bình Định đốì với Yến Lan. Bởi, là con của ông, làm sao tôi có thể trả lời, giải thích những câu hỏi mà chỉ những người có trách nhiệm cao nhất về Văn học Việt Nam hay của tỉnh Bình Định mới trả lời được: Chị LBT ơi, chị thử “kêu oan ” cùng lãnh đạo tỉnh Bình Định xem sao. Em nghĩ có thể lãnh đạo tỉnh thiếu thông tin chăng ? Hoặc bộ phận tham mưu quá yếu kém (Khungcuahep:)
Có những day dức trong lương tâm người Bình Định: “Ôi một danh nhân văn hóa Bình Định – Người thổi hồn cho đất và người Bình Định nhưng chưa được Quê hương Ông ghi nhận và tưởng thưởng công lao (Bạn có biết hiện nay, tại Quy Nhơn có rất nhiều tên đường là các nhà văn nổi tiếng Việt Nam nhưng chưa có tên đường Yến Lan và chưa có một nơi để làm Nhà lưu niệm cho đúng nghĩa tại Thị xã An Nhơn). Mong các nhà báo góp tiếng nói để Thi sĩ Yến Lan được an ủi, “ngậm cười” đối với hậu thế và lòng tri ân của quê hương đối với cuộc đời, sự nghiệp đã cống hiến cho quê hương”.
Song nặng lòng hơn là sự hoài nghi … “Tôi thích thơ Yến Lan từ thưở học phổ thông. Ông là một tài năng thơ và một nhân cách mà thời đại ông không đủ bản lãnh và lòng tốt để chấp nhận. Cho nên nếu có bi kịch đến với ông thì hãy biến điều ấy thành thơ. “Lê Hồng Ân” |
| Lâm Bích Thủy |
Tìm Chăm
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Chế Diễm Trâm, Inra Sara on Tháng Chín 15, 2015| 57 Comments »
CHẾ DIỄM TRÂM
Ai đã từng nói chuyện với nhà thơ – nhà nghiên cứu văn hóa, văn học người Chăm Inra Sara, có lẽ đều chung cảm nhận: anh hiền và vui tính. Tôi được đọc thơ anh trước khi gặp gỡ anh, nên tôi chuẩn bị tâm thế để tiếp xúc với một Chăm nhân bí ẩn như trong lòng tháp Chăm, như những bài thơ anh vậy. Bởi vậy, lần đầu nói chuyện với anh, tôi đã phí hoài gần nửa tiếng đồng hồ để xóa đi tâm trạng căng thẳng. Để rồi tôi đã có được một người anh, cả ngoại hiện lẫn nội tính đều rất “thiểu số” – rất Chăm. (more…)
Truyện ngắn Mang Viên Long và sứ điệp yêu thương
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Huỳnh văn Mỹ, Mang Viên Long on Tháng Chín 10, 2015| 21 Comments »
Huỳnh văn Mỹ
“Văn hay không luận đọc dài/Mở ra đầu bài đã thấy văn hay”, có lẽ phải dẫn câu ca dao như là đúc kết cách phê bình văn chương của ông cha ta khi đọc truyện ngắn của Mang Viên Long. Nói cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương rõ là phải nói đến những tiêu chí, nội hàm của cái hay, cái đẹp vốn khá đa diện, nhưng ở truyện ngắn của Mang Viên Long đó là sự dung dị của ngôn từ; cách dẫn chuyện tự nhiên, mạch lạc; câu chuỵện mang hơi thở của đời sống xã hội – điều làm nên hồn phách của truyện hầu tạo sự kết nối người đọc với những nhân vật, tình tiết trong câu chuyện được nhà văn hư cấu. Đáng mừng với Mang Viên Long, ông đã thể hiện được những “tiêu chí” tạm khái quát này ở ngay mỗi tên truyện, ở ngay vài trang đầu của mỗi truyện. (more…)
Giá trị thực của thi sĩ chắc chắn sẽ còn lại với muôn đời.
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged bến My Lăng, Lâm Bích Thủy, Yến Lan on Tháng Chín 5, 2015| 20 Comments »
Lâm Bích Thủy
Năm 18 tuổi, học xong bậc trung học, ba tôi kiếm sống bằng dạy tư tại chùa Ông. Tối đến, ông làm thơ. Thơ ông đăng trên các báo: Phụ Nữ, Tiểu Thuyết Thứ năm (TTTN). Có lẽ ông sinh ra là để làm thi sĩ. Bởi từ những bài thơ đầu, đăng trên báo, người đọc gọi ông bằng cái danh từ dễ thương- Thi sĩ Xuân Khai. Cái từ “thi sĩ” đã gieo vào lòng ông nỗi háo hức tiến sâu vào thế giới của văn chương là vậy! Bởi, nơi này ông có thể giải bày tâm tư, tình cảm và chia sẻ buồn vui (more…)
“Dấu Chân Ngược Gió” của Lê Phương Châu
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, Thơ ca, tagged Nguyễn Lương Vỵ on Tháng Tám 27, 2015| 23 Comments »
NGUYỄN LƯƠNG VỴ
Cuối tháng 7.2015, nhà thơ Lê Phương Châu đã cho ấn hành tiếp tập thơ thứ 8 của mình, “Dấu Chân Ngược Gió” với trên 50 bài thơ lắng đọng suy tưởng, giàu cảm xúc, trải nghiệm phong phú qua một hành trình Thơ đã gần nửa thế kỷ. Điều đáng trân trọng là mối tri tình, tri kỷ đối với Thơ của Lê Phương Châu như ngọn lửa thiêng bền bỉ bất tận, như tấm lòng của nhà thơ luôn khao khát hiến dâng cho cái Đẹp của Đời và Đạo, được kết tinh thành Thơ. Bởi một lẽ đơn giản: Chính Đạo pháp và Thơ đã cứu rỗi Lê Phương Châu có đầy đủ nghị lực, lòng tin yêu trước những ngọn gió đời đầy oan khiên, bi kịch mà bản thân mình đã phải nếm trải và thọ nhận. Trong sáng, kham nhẫn và cô độc, chính là những phẩm chất quí hiếm của hồn Thơ Lê Phương Châu. Những phẩm chất quí hiếm ấy, tôi tin, đang và sẽ mãi đồng hành với Lê Phương Châu trong suốt hành trình sáng tạo thi ca của mình, dẫu rằng, nhà thơ vẫn chọn cho mình cách sống ẩn dật và khiêm hạ: (more…)
Elena Pucillo Truong và những tuỳ bút về văn hoá, con người Việt Nam
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Elena Pucillo Truong on Tháng Tám 15, 2015| 24 Comments »
Những tuỳ bút của Elena Pucillo Truong được nói tới trong bài viết này nằm trong tập “Một phút tự do” do Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ ấn hành năm 2014.
Lê Nhật Ký
![]() |
| Bìa tập sách “Một phút tự do” của, NXB Văn hóa – Văn nghệ, 2014. |
Elena Pucillo Truong là tiến sĩ ngôn ngữ và văn chương, giảng dạy tiếng Pháp và văn minh Pháp tại Đại học Minalo, Italia. Năm 1985, chị lập gia đình, chồng là chuyên gia công nghệ dược – nhà văn Trương Văn Dân, người Tây Sơn, Bình Định, du học Italia năm 1971. Nhiều năm trở lại đây, chị theo chồng về Việt Nam sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Sự thay đổi này đã mở ra cho chị những cơ hội khám phá và hoà nhập vào đời sống cộng đồng dân cư Việt nói riêng, Đông Nam Á nói chung. (more…)
Đôi điều về phủ thành Quy Nhơn
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Phan Trường Nghị on Tháng Bảy 18, 2015| 8 Comments »
Phan Trường Nghị
Năm 1471, hạ xong thành Đồ Bàn, bắt Chiêm vương Trà Toàn đem theo quân thứ ban sư về kinh, chỉ vài tháng sau vua Lê Thánh Tông lập ra đạo thừa tuyên thứ 13 là Thừa Tuyên Quảng Nam. Rồi vị tướng nhiều công trạng trong cuộc chiến tiến binh vào kinh đô Đồ Bàn năm ấy là Trung quân Đô thống Phạm Nhữ Tăng, ông được giao quyền Đô Ty Quảng Nam kiêm Trấn Phủ Hoài Nhơn (more…)
Nhật ký kẻ mị tình – Soren Kierkegaard
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, Văn xuôi, tagged Kierkegaard, QUẾ SƠN on Tháng Bảy 12, 2015| 45 Comments »
Quế Sơn dịch
Nguyên tác tiếng Đan Mạch: Forförerens Dagbog trong tập: Enten-Eller (Hoặc là-Hoặc là), xuất bản lần đầu năm 1843 ở Copenhagen, Đan Mạch.
Bản tiếng Việt dựa trên bản dịch tiếng Anh: The Seducer’s Diary, Nhà xuất bản Princeton University Press, New Jersey, Mỹ, bản in năm 1997; và tham khảo thêm bản dịch tiếng Pháp: Le Journal du séducteur, Nxb. Gallimard, Paris, Pháp, bản in năm 2011.
Phuong Nam Book và Nxb Văn Học liên kết xuất bản, tháng 6-2015, 286 trang.
Các trích đoạn đăng dưới đây đã có sự đồng ý của Phuong Nam Book.









