Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một 9th, 2014

Thơ Nguyễn Hải Thảo

 

1090226061327

.

CHIM SẺ VÀ TÔI

.

Tôi không yêu

Lũ chim Hoàng Yến, chim Công, chim Phụng…

Những loài chim sặc sỡ, kiêu sa…

. (more…)

Read Full Post »

Hoàng Mai ( P3 )

Huỳnh Ngọc Nga

da-lat-suong-som-7

CHƯƠNG BA

 

TRỞ  VÊ

 

Chiếc xe khách bỏ Trần vào buổi sáng tinh sương ở ngay nơi chàng đã cùng Hoàng Mai rời Ngọc Sơn Tự hơn nữa tháng trước. Mặt trời vẫn còn chưa thức hẳn, lấp ló xa tít phía đông nhạt nhòa vài tia sáng mong manh. Trần không vào chùa theo cổng chánh mà men theo con đường nhỏ để lên đồi, hơi lạnh miền núi khiến chàng khẻ se người nhưng chàng không quan tâm lắm, điều chàng muốn bây giờ là ra bên bờ suối nhỏ để xem Hoàng Mai có ở đó để chờ chàng đến tìm hay không. Chân bước nhanh, đôi khi nhảy từng hai ba bậc thềm đá xanh trên đường, trong đầu chàng một khúc phim đang quay lại buổi chiều hôm đó, buổi chiều có tiệc mừng ngày cưới hai mươi lăm năm của vợ chồng Hùng mà chàng và Hoàng Mai đã được mời tham dự.

 

Hùng là một doanh thương tên tuổi trong ngành thầu khoán cầu đường, ăn nên làm ra theo thời buổi kinh tế thị trường mở cửa nên anh chàng “phất” lên nhanh chóng. Tiệc mừng được tổ chức trọng thể tại một nhà hàng khá đặc biệt chỉ dành cho khách đại gia. Khi đưa Trần và Hoàng Mai đến ngồi vào chổ đã dành sẳn, Hùng cười nói với bạn:

 

– Nhà hàng tên gọi Từ Hy như mầy thấy đó, hôm nay vợ chồng tao đãi mọi người một trong bảy món độc đáo của bà hoàng nầy khi thết tiệc chào các sứ thần châu Âu(**) . Mầy và Hoàng Mai chờ nghen.

 

Nói xong Hùng bỏ đi đón khách mời khác vừa đến, Hoàng Mai ngạc nhiên hỏi Trần:

 

– Bà Từ Hy là bà nào vậy anh? Các món đặc biệt của bà ấy là món gì vậy? Anh biết không, nói em nghe với.

 

Trần vừa nhìn lướt qua tờ thực đơn để trên bàn vừa trả lời người yêu:

 

– A, đó là bà Vua gần cuối triều Mãn Thanh bên Tàu, bà nầy độc đáo về mọi thứ,  kể ra dài dòng lắm. Nhưng ở đây người ta nhớ đến bà ấy bằng những món ăn vô tiền khoáng hậu đuợc bà dùng để đãi các sứ thần châu Âu.  Toàn những món kinh dị – Trần hóm hĩnh nhìn Hoàng Mai, cười nói tiếp – em muốn nghe không? Chỉ sợ nghe xong em bỏ nơi nầy mà chạy trốn đó thôi.

 

Tò mò lẫn kiêu hảnh, Hoang Mai nói ngay:

 

– Em mà sợ các món ăn à? Thú dữ trên núi em còn không sợ, không lẻ em sợ những món đã được làm sẳn dọn lên bàn. Anh coi em như con nít phải không?  Kể em nghe hết các món kinh dị đó đi, em hứa sẽ không bỏ chạy đâu.

 

– Nhớ giữ lời nha cô bé.  Nghe đây, để làm các sứ thần châu Âu phải ngạc nhiên trước ẩm thực “đại cường Trung quốc”, bà Vua nầy đã truyền lịnh cho đầu bếp hoàng triều làm bảy món như sau: Sâm Thử, Não Hầu, Tượng Tinh, Trư Vương, Phương Chi Thảo, Sơn Dương Trùng và cuối cùng là trứng Công. Để khỏi dài dòng nói rõ cách nào có các “nguyên vật liệu” cho các món đó, anh chỉ sơ lược đại khái thôi và cho em  nghe món ăn được ăn thế nào.  Chẳng hạn như Sâm Thử là chuột con được tạo qua ba đời chuột bằng sâm nhung đại bổ, người ta ăn chuột sống lúc chưa mở mắt nên gọi là chuột bao tử, bỏ vào miệng cắn một cái còn nghe chuột kêu chít chít đó, em tin không?.  Ăn món nầy cải lảo hoàn đồng, cường dương bổ thận, đúng món cho những cặp vợ chồng đang tuổi “hấp hôn” hoặc những đôi tình nhân như hai đứa mình.

 

Trần cười khi nói đến đây nhưng ngưng ngay khi thấy Hoàng Mai nhăn mặt khó chịu, tưởng nàng không thích lối nói đùa của mình Trần vội nghiêm giọng nói tiếp:

 

–  Món thứ hai là Não Hầu, tức óc khỉ, được lấy từ khỉ sống và cũng ăn liền tại chổ. Nhưng ơ kìa !!!…..Hoàng Mai, em sao vậy? Sao mặt em tái xanh vậy? Coi chừng em ngồi ngay luồng gió bị trúng gió rồi đó. Em ngồi đây, để anh nói Hùng đổi chổ ngồi cho chúng ta.

 

Trần dợm chân định đứng dậy  tìm Hùng lúc đó đang bận chào đón khách nhưng Hoàng Mai kéo tay chàng lại và trong tiếng thở nhanh, nàng nói:

 

– Sao con người ác vậy? Bày chi những món tàn nhẩn vậy hả anh?

 

Trần chợt hiểu ra, chàng cười:

 

– Đã nói rồi, chỉ kể các tên món ăn thôi cũng đủ làm người yếu bóng vía như em hoảng sợ rồi. Lát nữa mấy món đó đem lên em sẽ thế nào đây? Khổ thật, anh cũng không ngờ thằng Hùng dám chơi món độc nầy.

 

– Sao? Món gì sẽ có trong tiệc hôm nay?  – Giọng Hoàng Mai hoảng hốt.

 

Trần chỉ tay vào tờ thực đơn :

 

– Em đọc đi, món chót là món Não Hầu đó.

 

Hoàng Mai tái mặt, tay chân lạnh ngắt, lấp bấp nàng nói:

 

– Não hầu!!! Em không thể ăn món đó được. Anh, anh cũng đừng ăn món ghê rợn dã man đó nghen anh. Mình đi về thôi anh, em sợ lắm.

 

– Không được – Trần ôm vai cô gái – mình đã đến, không thể đi ngay bây giờ được. Em có nói là không sợ gì hết và hứa không bỏ chạy mà. Thôi, cố can đảm lên em, chừng nào tới món ăn đó, mình không ăn là được rồi. Nếu em không muốn nhìn thì nhắm mắt lại, có sao đâu.

 

Suốt buổi tiệc, mọi người ồn ào ăn uống, huyên thiên cười nói, chụp hình kỹ niệm, đúng là không khí một ngày lễ tiệc nhưng Hoàng Mai vẫn co ro, ủ rủ. Trần ái ngại nhưng không muồn làm giảm cuộc vui của bạn nên cố gắng trấn an người yêu. Cuối cùng thì món ăn đặc biệt như lời Hùng nói đang được chuẩn bị đưa vào bàn. Hùng đã đứng lên trịnh trọng giới thiệu bằng sự hãnh diện của người thực hiện được món ăn “vương giả” nầy để thết đãi bạn bè:

 

– Các bạn thân mến, để đáp tạ sự chiếu cố của các bạn trong ngày vui của vợ chồng chúng tôi, mời các bạn thưởng thức món Não Hầu, đặc sản siêu việt của nhà hàng Từ Hy nầy. Các bà, các cô ai nhạy cảm xin đừng nhìn khi các đầu bếp hành sự mà chỉ nên mở mắt ra khi món ăn đã được hoàn tất. Chúng ta có tất cả hai mươi người, sẽ có bốn Hầu vương cống hiến món ăn nầy cho chúng ta hôm nay. Bảo đảm, sau buổi ăn các bà, các cô sẽ hài lòng về người yêu hoặc ông xã của mình. Nào, xin mời quý vị.

 

 

 

Hùng vừa dứt lời, từ cửa bếp của nhà hàng bốn người phục vụ xách bốn cái lồng sắt tròn bước ra. Mỗi lồng có cửa  mở ra, khép vào dễ dàng,  mặt trên lồng bịt kín như giống như bốn cái trống. Bên trong mỗi lồng có một chú khỉ nhỏ, mỗi chú bị căng tay chân để không thể vùng vẩy. Trên mặt lồng được khoét một lổ hổng vừa cho một phần đầu khỉ ló ra kèm theo một cái gông nhỏ làm khỉ không xoay trở được. Mỗi lồng được đặt trước năm thực khách, trớ trêu làm sao người phục vụ lại đặt đúng vào trước mặt Hoàng Mai. Trần vội xua tay ra dấu cho người phục vụ đem lồng khỉ dời sang chổ một trong năm người khác trong nhóm của chàng. Nghiêng người vào tai người yêu, chàng khẻ hỏi:

 

– Em có muốn đi ra ngoài một chút không?

 

Nhưng Hoàng Mai dường như không nghe gì hết, như có ma lực thu hút, mắt cô dán chặt vào chiếc lồng khỉ, chú khỉ bên trong nhìn cô ú ớ  những tiếng thảm thương, nước mắt cô tự dưng tràn tuôn như suối. Cô  run lây bẩy  khi chiếc búa nhỏ trong tay người phục vụ đập mạnh lên phần đầu ló ra của chú khỉ và anh ta nhanh nhẹn dùng một lưỡi dao mỏng sắc bén gọt ngang phần đầu đó, khỉ con không kịp có một tiếng kêu. Gương mặt người phục vụ vẫn lạnh lùng không chút xót thương,  một chén nước sâm nhung nóng hổi xối nhẹ lên phần óc trong đầu khỉ cho tái, bớt màu đỏ sẩm. Cuối cùng anh ta dùng nĩa bạc gạt bỏ phần da đầu và các mảnh xương sọ vụn, xong thay muổng bạc để múc óc khỉ ra ngoài bỏ vào từng chén của thực khách. Thao tác của người phục vụ món Não Hầu thiện nghệ như những đường gươm, đao của một tên đao phủ, vô tri, tàn nhẩn. Mỗi một lồng khỉ có một tên đao phủ như thế. Trần dù lo lắng cho Hoàng Mai nhưng tai vẫn nghe trong bàn tiệc đâu đây có tiếng kêu thảng thốt của bên nữ giới và vài tiếng cười thích thú của cánh mày râu như thỏa thuê hài lòng khi nhìn cái chết tàn khốc của những chú khỉ vô tội. Trần chuẩn bị đón nghe tiếng thét vì sợ hãi của Hoàng Mai khi chú khỉ bị hành hình nhưng chàng ngạc nhiên khi thấy cô chỉ ngồi im bất động với khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Rút khăn tay lau khô mắt ướt của nàng, Trần cười nhẹ, giọng khoả lấp, chàng nói như phân bày cùng ngừơi ngồi bên cạnh:

 

– Bà xả tôi yếu bóng vía lắm, chuyện gì cũng khóc được – và khẻ vuốt tóc cô gái, chàng tiếp – nín đi em, mọi việc đã xong rồi. Em có dám ăn thử không?  Để anh xem món óc khỉ nầy thế nào mà Hùng nó quảng cáo rùm beng như vậy..

 

Trần vừa dứt lời Hoàng Mai đã xô ghế đứng lên, không một lời nói, cô gái lặng lẽ bước về phía cửa đi ra ngoài trong lúc mọi người chăm chút ngó vào chén óc khỉ được người phục vụ múc sẳn để trước mặt. Tiếng cười nói oang oang của Hùng từ đầu bàn ngôi chủ tiệc chen lẫn lời phẩm bình món óc khỉ cùng tiếng cụng ly mời nhau loảng xoảng, không khí ồn ào hổn độn, chẳng ai để ý đến sự ra đi thầm lặng của Hoàng Mai, ngay cả Trần cũng ngở là cô gái ra ngoài để tránh món ăn khủng khiếp đối với nàng rồi sau đó sẽ quay trở vào.

 

Trần không ngờ đó là những hình ảnh cuối cùng của Hoàng Mai vì ngồi chờ qua hơn năm, mười, mười lăm phút rồi gần nữa giờ sau vẫn không thấy nàng trở lại, Trần đã ra ngoài tìm cô gái nhưng bóng nàng đã bặt tăm. Tiệc bên trong vẫn chưa tàn vì còn chờ màn uống rượu sâm ngâm rắn hổ, Trần lòng nóng như lữa, linh tính báo cho chàng biết có chuyện gì đó chẳng lành đang xảy ra. Không thể đứng chờ, chàng quay vào bên trong, để không làm đứt ngang cuộc vui của mọi người, Trần đến bên một người hầu bàn nhờ anh ta cho người cùng chàng đi lùng xục chung quanh nhà hàng tìm kiếm Hoàng Mai. Nhưng chỉ hoài công, cô gái biến mất không để lại dấu vết gì cả dù sau đó Hùng phát hiện ra diễn tiến của câu chuyện nên đã cùng Trần và mọi người chia nhau làm một cuộc truy lùng vô vọng đến gần giữa khuya. Trần đến sở công an địa phương báo tin mất tích của Hoàng Mai và về nhà với hy vọng thấy nàng đang chờ ở đó. Thế nhưng chàng lại phải thêm một lần thất vọng, trong nhà lặng tanh không bóng người, đồ vật vẫn y nguyên không xuy xuyển. Dưới thềm nhà ngay mép cửa ra vào, một mảnh giấy viết vội với tuồng chữ của cô gái : “Muốn gặp em hảy về bên suối cũ”.

 

Trần không cần chờ đợi đến sáng hôm sau, chàng phóng người ra bến xe khách miền Đông, mua vé đi ngay chuyến nữa đêm về sáng và bây giờ chàng đang leo dốc để đến bên suối như lời hẹn của Hoàng Mai. Chiếc am nhỏ của sư Duy Trí im lìm trong hương trầm khói nhang buổi sáng, am vắng vẻ chứng tỏ sư đã lên đây thật sớm để đốt nhang lể Phật rồi trở về chùa. Trần lần ra bờ suối, chỉ nghe tiếng chim ríu rít trên cành mà chẳng thấy bóng Hoàng Mai.

 

Có tiếng sột soạt sau lưng, chàng quay lại và trong tích tắc chàng thoáng vui khi thấy con vượn lông vàng đang đu mình trên một nhánh cây gần đó, nó nhìn chàng chăm chăm, một cánh tay  níu nhánh cây, cánh tay còn lại để sau lưng như đang cất dấu một vật gì. Trần xoay người định men theo bờ suối đi dọc về bên kia đồi, nơi có thôn bản của Hoàng Mai  bỗng nghe vật gì rơi sau lưng, cứ tưởng con vượn vàng trửng giởn như ngày đầu chàng mới đến nên chàng quay lại định mắng nó vài lời nhưng nhìn xuống đất chàng thảng thốt khi thấy quyển nhật ký quen thuộc của Hoàng Mai. Chung quanh không một bóng người, trên cây cao con vượn vàng vẫn chăm chú nhìn chàng như thôi miên, như thách đố, cánh tay dài dấu sau lưng giờ buông thỏng, Trần nhíu mày suy nghĩ sự lạ lùng đang diễn ra về quyển nhật ký của Hoàng Mai. Ai đã đem nó liệng dưới chân chàng khi giữa đồi không mông quạnh chỉ có chàng và con vượn vàng lém lĩnh. Trần cúi xuống lượm quyển nhật ký rồi ngước nhìn con vượn , chàng hất hàm nói với nó:

 

– Phải “cô” liệng quyển sổ nầy cho anh không? “Cô” ăn cắp của Hoàng Mai phải không? Liệu hồn nhen. Hoàng Mai đâu rồi? “Cô” biết thì chỉ cho anh, anh sẽ tha tội.

 

Rồi ngồi xuống một tảng đá gần đó, Trần mở quyển nhật ký để xem Hoàng Mai có viết gì thêm trong đó ngoài những trang chàng đã đọc trước đây không. Mắt Trần dừng lại ở những trang cuối chi chít những nét chữ quen thuộc của Hoàng Mai, không phải những lời ghi nhớ mà là một bức thư, bức thư gửi cho chàng:

 

Anh yêu,

 

Hảy tha lổi cho em vì em đã bỏ đi không một lời chào từ giả, nhưng xin hiểu giùm em, mọi việc xảy ra ngoài sức chịu đựng của em, em không thể không có phản ứng gì khi nhìn đồng loại của em bị thảm sát trước mắt em vì một buổi tiệc vui của con người.

 

Anh đang ngạc nhiên đấy phải không? Ngạc nhiên vì em đang dùng danh từ đồng loại để ám chỉ những chú khỉ con, nạn nhân của món Não Hầu “vương giả”, đúng không? Vậy thì anh hảy bình tỉnh để nghe một sự thật mà em đã dấu kín bấy lâu nay. Em không phải là người, không phải đồng loại của anh. Em chỉ là một con vượn và nguồn cội của em đã nằm trong cái tên mà anh vẫn nghĩ là tên một đóa hoa mai. Anh nghĩ lại đi, Mai còn có nghĩa là khỉ /vượn và Hoàng là màu vàng, Hoàng Mai là con vượn lông vàng…….

 

Trần ngừng đọc, miệng há hốc, đưa tay dụi mắt rồi móc túi lấy đôi kính cận đeo vào, đọc lại từ đầu những lời nhắn gửi của Hoàng Mai vì chàng có cảm giác mình đọc lầm những lời trong đó.

 

Vâng, em là con vượn vẫn thường đem mít tố nữ và những quả bơ xanh cho anh, vẫn thường ngồi nhìn anh gõ máy viết bài. Nhưng đừng nghĩ em là hồ ly yêu mị như những chuyện hoang tưởng trong sách vở. Em là vượn vàng tại núi nầy đã trên ngàn năm nay, từ thuở nơi đây chưa có bước chân người. Hấp thụ khí thiêng núi đồi, âm dương trời đất em sống và luân hồi trong bao nhiêu kiếp vượn mà vẫn không quên tiền căn nguyên thủy của mình. Cho đến một ngày, cách đây hơn ba trăm năm, có một nhà sư bỏ thế tục một mình tìm về góc núi dựng một thảo am để yên tịnh tu hành. Ngày qua ngày, người tụng những hồi kinh huyền diệu, tiếng mỏ, lời kinh sớm chiều biến thành quen thuộc với em. Ban đầu em chỉ đến với tính tò mò của một con vượn đồi hoang, dần dần em thấm đậm lời kinh và như Phật đã dạy, dù thú, dù người tất cả đều là chúng sinh với bản ngả chân tâm luôn ẩn náu bên trong, vì vọng thức che mờ nên chân tâm không xuất hiện, chỉ chờ lúc khai thông bi trí mở ngỏ sở năng để tiến đến đạo quả Niết Bàn. Bao nhiêu kiếp em vẫn chưa được thành người dù vẫn hoài vọng không nguôi, có lẻ nặng nề tiền căn, nghiệp chướng không lành. Giờ nghe kinh em bắt đầu tu tỉnh, sớm tối đến trước Phật đài âm thầm học đạo. Nhà sư mất, nhưng em vẫn tiếp tục con đường đạo hạnh, theo tháng ngày em tự chuyển hoá thành người dù chẳng qua cuộc tử sinh. Niết Bàn em chưa đủ căn duyên đến được, nhưng em có khả năng biến hóa nhiệm màu. Ngọc Sơn Tự được dựng lên hơn một thế kỷ sau, em thường đến chùa nghe pháp trong những ngày an cư kiết hạ của sư trụ trì. Chút phép màu giúp em len vào làm con nuôi một gia đình người kinh lập nghiệp bên kia đồi, em sống bình thường như người trần thực thụ dù thỉnh thoảng vẫn tinh nghịch trở lại thân vượn để vui thú leo trèo. 

 

Trần lại ngưng đọc, mồ hôi thấm đẫm dù hơi sương sáng vẫn chưa tan, đưa mắt lên cành cây có “nàng”  nhưng con vượn lông vàng không còn ở đó nữa, chàng dượm chân định đứng lên đi tìm “nàng” nhưng không hiểu nghĩ sao chàng lại ngồi xuống và đọc tiếp.

 

Cho đến một ngày anh đến nơi hoang dã nầy, hình như giữa anh và em có nợ duyên tiền kiếp từ thuở nào hay sao mà vừa trông thấy anh, em đã nghe bồi hồi vọng khởi trái tim người và em tìm mọi cách để thân cận cùng anh. Thoạt đầu em không muốn rời xa miền núi nhưng cứ nghĩ đến lúc phải xa anh lòng em lại lao xao và như anh thấy đó, chuyện ông chúa bản đòi cưới em là cái cớ em dựng lên để chúng mình có nhau bên đời.

 

Em xuống núi, trước vì tình yêu anh, sau để tìm hiểu cho biết tường tận thế nào là “con người” vì thực sự tuy đã mang lốt người nhưng em vẫn chưa thấu đáo bản năng rốt ráo của chủng loại nầy, nhất là những người miền Kinh mà em vẫn luôn được nghe người miền núi nói đến với nhiều khác biệt.

 

Giờ thì em đã hiểu, con người thật quả siêu việt hơn muôn loài, nhất là người miền Kinh, sự siêu việt mà anh đã giảng dẫn cho em nghe dựa trên trí thông minh và đạo đức của họ. Thoạt đầu, em vô cùng thán phục khi nghe anh nói về con người và thật sự hảnh diện vì mình đang sống kiếp người. Nhưng không bao nhiêu ngày hoà nhập trong giòng đời phố thị em khám phá ra rằng em đang hụt hẩng bởi những sự thật khá đau lòng. Sự thông minh của con người không đi đôi cùng đạo đức, bao nhiêu nghịch lý giữa thuyết và hành trên hai bản năng đó khiến em sợ hải, em thấy con người thật giả dối và độc ác. Đạo đức gì khi đồng loại giết hại, làm đau đớn nhau chỉ vì một cuộc chơi, vì tranh đua vật chất, lợi quyền. Loài thú cũng có loài dữ tợn nhưng có thể vì thiếu thông minh nên không biết làm màu đạo đức để che đậy sự dữ dằn của chúng, chúng cắn xé, giết hại lẫn nhau vì đói, vì tranh giành trống, mái chứ không thông minh để lấy đó làm cuộc mua vui. Em tin những nghịch lý em ghi lại trong quyển nhựt ký nầy chỉ là phần nhỏ của bao sự phi lý khác của con người.

 

Khốn khổ thay, chính em cũng đang có một nghịch lý của riêng mình. Vì dù thất vọng về con người em vẫn muốn làm người để có được tình yêu của chúng ta, tình yêu của Bạch Viên – Tôn Các thời đại mới. Vì anh, em đã giả vờ không nghe con người khi giận dữ nhau thường mang tên con thú ra nguyền rủa, ví von. Vì anh, em đã cắn răng nhìn đồng loại em bị giam cầm trong vườn Bách Thú. Em tự hứa sẽ cố gắng sống bằng trái tim, lấy lương tâm hành xử, em sẽ là một người tốt giữa những người không tốt như đóa sen hồng trổi dậy giữa bùn đen. Em sẽ tập viết văn, làm thơ như những áng thơ văn trong các quyển sách anh mua cho em vì trong muôn ngàn tính xấu của con người, văn thơ nhân loại là hoa thơm, mật ngọt quyến rũ tâm hồn em như tia nhìn của anh ngày đầu đã làm em xao xuyến.  Trong văn, thơ có tình yêu và tình yêu là chung điễm giữa thú và người, có phải có lần anh đã nói với em như thế không?

 

 Tất cả tưởng chừng như suông sẻ để chờ ngày anh lo xong thủ tục ly dị cùng vợ anh và quay lại nơi nầy cưới em như thông lệ đạo đức tốt đẹp của con người. Nhưng…, trời ơi, ai xui chi có buổi tiệc kỹ niệm ngày cưới của vợ chồng Hùng và tại sao anh lại dẫn em đến làm gì trong ngày vui đó. Gọi là ngày vui sao lại nhẩn tâm lấy mạng sống của những con thú hiền lành vô tội làm trò tiêu khiển trong chuyện tiêu pha, ăn uống? Sao không dùng số tiền to lớn phải trả cho sinh mạng những dĩa óc khỉ dã man giúp cho bao nhiêu người nghèo không cơm ăn, áo mặc? Con người cười sao được trong tiếng thét đau thương của con thú, nhất là loài thú mà sách vỡ anh cho em đọc đã nói đó là nguyên thủy của con người? Đầu óc em quay cuồng khi chú khỉ trên bàn nhìn em như trách móc, em chết sững giây phút đó để không nhắm được mắt, không đứng dậy nổi để tránh né cuộc thảm sát rùng rợ đó. Cho đến lúc anh vô tâm nói là để anh thử món Não Hầu xem sao mà bạn anh phô trường quảng cáo thì em không còn chịu đựng nổi nữa. Anh, con người duy nhất em dựa vào để tin tưởng, để yêu thương. Anh, con người đã giảng cho em nghe những đức tín cao quý của nhân loại. Vậy mà giờ phút đó anh có thể hỉ hả nghĩ đến việc nếm thử món ăn ghê tởm, độc ác như vậy ư? Tất cả như xụp đổ dưới chân em. Em trả lại anh tình yêu con người, em trả lại đời lốt người xinh đẹp. Nếu trí thông minh nhân loại nghĩ ra được những món ăn, những trò đùa đi ngược lại với đạo đức lương tâm mà họ tự hào thì em cũng sung sướng trở lại kiếp vượn núi đồi, thà rừng rú không văn minh tiến hoá nhưng ít ra trái tim con thú của em và đồng loại vẫn thiện lương hơn trái tim đạo đức giả của con người.

 

Đừng nhớ thương em nữa, cứ coi như Bạch Viên đã về cùng trời đất cho Tôn Các trở lại với vợ hiền bên kia xứ Ý. Hảy để em nghĩ tình vợ chồng của con người không thua tình lứa đôi của vài loại thú luôn chung thủy trước sau không dời. Vợ anh không phụ anh vì người đàn ông khác, đó là con đường để anh trở lại, vì tình yêu chỉ cần có thế mà thôi. Nếu là người cha tốt, xin nghe những lời cuối nầy của em để các con anh còn một mái gia đình vẹn toàn cha lẫn mẹ. Trái tim con vượn mong ước điều an vui như vậy, không lẽ anh để kém Hoàng Mai?

 

Bức thư chấm dứt ở đó, không có lời chào cũng không có chữ ký như những bức thư  thường tình, quyển nhật ký hảy còn nhiều trang giấy trắng như cuộc tình của Trần và Hoàng Mai bỏ dỡ nữa đoạn đuờng. Trần xếp quyển sổ nhỏ lại, đầu óc thẩn thờ, trong thoáng chốc hình như trống rỗng. Hoàng Mai đã tu luyện ngàn năm sao không thông lý lẽ đất trời, không thấy vạn vật vũ trụ được cấu tạo qua muôn hình vạn trạng, nào phải đâu chỉ có sông, biển, rừng, núi, đất liền, ao, đầm, sa mạc và nào phải đâu chỉ có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Trong những cơ bản đó là cả những tiến trình nhào nặn biến chuyển lẫn nhau. Sao nàng không lấy chữ trung dung để nhìn về nhân thế mà thấy thiện, ác đâu đâu cũng hoà lẫn với nhau và thưởng & phạt là câu nhân quả. Sao Hoàng Mai không nghĩ trần gian lúc nào cũng đâu phải như ý ta mong. Thú hay người đều có những hay, dỡ của riêng từng loài, bởi con người bước tiến bay xa hơn thú nên cái dỡ của họ cũng xấu xa hơn thú. Hoàng Mai đã từng tu tịnh, nghe pháp sao không nhớ lời Phật dạy câu “vạn hữu do Tâm” để vững vàng trước bao diễn biến chung quanh. Nếu có dĩa Não Hầu tàn nhẩn thì cũng có những nhà thương, bác sĩ thú y luôn chăm sóc nhữnh con vật bịnh tình, thương tích. Nếu có những tên đồ tể giết vật không gờm tay thì cũng có những hiệp  hội, tổ chức luôn lên tiếng lẫn hành động bảo vệ môi sinh, thú vật không ngừng nghỉ. Chuồng thú giam hảm đâu chỉ thú vật mà con người cũng có những chuồng người để hành hạ lẫn nhau.  Con người tuy biết chơi trò hủy diệt nhưng cũng biết thế nào là xây dựng, tái tạo, hưng chấn khi cần.Vạn hữu sinh diệt không ngừng nhưng đạo đức muôn đờì vẫn tồn tại. Người hay thú đều luôn  theo đường mạnh được, yếu thua để dành nhau đi về phía trước, để hưởng lợi quyền, để còn sự tồn sinh. Nhìn chi phiến diện một chiều, đau chi một dĩa não hầu để bỏ công ngàn năm tu luyện, để gảy đổ một mối duyên ước hẹn tự bao đời hở Hoàng Mai.

 

Trần thở dài, gấp quyển sổ lại bỏ vào túi xách và đứng lên. Nắng đã lấp lánh sau lá cây ngàn. Những lời cuối trong thư khiến chàng giao động, Hoàng Mai đã nhắc đến vợ, con chàng với lời khuyên trở về với gia đình chứ không phải lời hẹn chờ chàng trở lại, nghĩa tình keo sơn hơn nữa tháng mặn nồng giờ chỉ là một giấc mơ hoa.  Còn vài hôm nữa dù muốn hay không chàng cũng phải lên đường, bỏ lại nơì nầy một kỹ niệm lạ lùng khó quên, bỏ lại nơi nầy hư ảo một mối tình như liêu trai chí dị, kễ người đời nghe biết có mấy ai tin. Ừ thôi, anh về cùng gia đình đây Hoàng Mai, nàng Bạch Viên kỳ bí của anh, anh sẽ làm hài lòng con vượn vàng duyên dáng, sẽ để các con anh không buồn chuyện xa cách của mẹ cha, chỉ hy vọng vợ anh sực tỉnh giấc mơ chính trị để quay về thiên chức vợ ngoan, mẹ hiền. Vì ước vọng của em, vì hạnh phúc của gia đình anh, anh sẽ trở về như Từ Thúc trở về từ động hoa ngàn.

 

Trần lấy quyển nhật ký ra, xé một trang giấy trắng, rút viết viết vội mấy hàng rồi đem tờ giấy đó ghim vào gai một cành cây bên bờ suối, nơi mà “nàng vượn” chắc chắn sẽ tìm đến khi chàng quay gót ra đi. Đó là bốn câu thơ của Bùi Giáng trong tập thơ Mưa Nguồn chàng tặng cho nàng, kỹ niệm thân yêu cuối cùng chỉ còn lại bằng thơ, bằng mật ngọt con người mà Hoàng Mai ví von ưa thích:

 

              “Em về mấy thế kỷ sau

                Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không

                Ta đi gửi lại đôi dòng

                Lá rơi có dội ở trong sương mù”

 

Nhìn lần chót cảnh vật chung quanh, ngước lên cao như tìm bóng vượn vàng, chàng chợt thấy “nàng” ngồi trên chảng ba một cây cao cuối dốc đồi, mừng rở Trần chạy nhanh về hướng đó, miệng kêu liên hồi :

 

–  Hoàng Mai, Hoàng Mai…chờ anh, Hoàng Mai !!!!

 

Trong lúc chạy, một nhánh cây rừng vướng chân Trần, chàng ngả sấp xuống đất,  nghe như có vật gì “nàng” vượn cũng vừa liệng bay vào đầu đau điếng, chàng ngất đi, chợt nghe ai lay động bờ vai mình và bên tai có tiếng nói thâm trầm của sư Duy Trí:

 

–  Chú Trần, chú Trần, tỉnh lại đi, ngủ mê mơ thấy gì mà kêu la dữ vậy?  Viết lách kiểu gì đến độ phải ngủ gục trên bàn như vầy không biết nữa?

 

Trần ú ớ vài tiếng rồi mở choàng mắt, đầu chàng đang nghẻo gục trên bàn cạnh máy vi tính, kề bên  chàng sư Duy Trí đứng đó tự bao giờ. Thì ra chàng đang mơ, giấc mơ con vượn vàng trong truyện chàng đang viết, ngoài kia trời vừa hưng hửng sáng. Trần ngồi thẳng người dậy, lắc đầu, bẻ cổ, vươn vai làm vài động tác thư giản xong đưa tay che miệng ngáp dài, cơn buồn ngủ hình như vẫn còn. Chàng nhìn anh, mỉm cười:

 

–  Em thức gần suốt đêm viết cho xong đoạn cuối bài.  Xong rồi mệt quá nên em ngủ gục lúc nào không hay đó chứ. Anh lên đây lâu chưa?

 

– Cũng hơn nữa tiếng rồi, thấy chú ngủ ngon anh không dám đánh thức. Anh thắp hương, tụng niệm một khóa kinh vừa xong thì nghe tiếng chú ú ớ mê sảng gọi tên ai đó nên anh phải lay chú dậy. Chiêm bao thấy gì mà mớ dữ vậy?

 

– Có gì đâu anh, em kết thúc xong cốt chuyện viết thì ngủ gục lúc cái đầu còn chưa thoát ý của bài nên mới sanh ra chiêm bao mộng mị lung tung đó thôi. A, anh à, xưa có người nằm ngủ lúc nồi kê mới nấu, mơ thấy trọn đường công hầu khanh tướng, sau cùng thân bại danh hư thì tỉnh giấc lúc kê cũng  vừa chín tới. Bây giờ em nằm mơ thấy  nhân vật trong chuyện mình viết thì giữa giấc mơ , chuyện viết và em có  khác gì giấc kê vàng đó đâu.

 

– Giấc mơ rồi tan, đời người rồi cũng sẽ tàn. Giữa mơ và tỉnh, giữa thật và hư nghĩ cho cùng tất cả đều quy về với hư không chú à. Mọi thứ đều huyển hoặc do tâm vọng động biến hiện từ lục căn, ngủ uẩn mà ra, chỉ có chân tâm thường tịnh là viên mãn không thay. Sách nhà Phật có nói rằng “Tâm động dụng động. Động tức là dụng. Ngoài động không tâm. Ngoài tâm không động. Động chẳng là tâm. Tâm chẳng là động…….

 

Sư Duy Trí còn định nói tiếp nhưng nhìn vẻ mặt ngớ ngẩn của Trần khi nghe lời thiền, sư bỗng bật cười:

 

–  Con vượn vàng biết nghe kinh giỏi hơn chú nhiều. Kìa, mới nhắc là đã thấy nó rồi. Thôi, chú ở đây, trưa xuống chùa dùng cơm chay cùng anh và chư tăng. Anh đi nghen.

 

Trần giật mình nhìn ra liếp cửa trong lúc sư Duy Trí xuống đồi về chùa, “nàng vượn” quả thật đang ngồi trước cửa nhìn vào, Trần hít thở sâu cho thật tỉnh táo rồi nhìn lại “nàng” với chút ngờ, chút ngại nghi. Như sực nhớ ra điều gì, chàng mở vi tính vào ngay trang có bài viết với tựa đề Hoàng Mai, chạy dài xuống đoạn cuối quả đúng bốn câu thơ của Bùi Giáng kết thúc chuyện tình của chàng và Bạch Viên thời đại mới, có chữ ký của chàng và ngày tháng, nơi chốn hoàn tất bài viết rõ ràng. Trần nhíu mày ngẫm nghĩ về chàng, về giấc mơ “nàng vượn” và chuyện viết Hoàng Mai, tất cả quả đúng như sư Duy Trí nói, “tâm động dụng động” đây rồi. Đọc lại đôi ba lần bài viết cẩn thận, xong rồi Trần  bấm nút cho “Hoàng Mai” di hành từ  đồi núi Blao Ngọc Sơn Tự thẳng về Viên Giác Tự  ở Hannover để ông chủ bút Phù Vân định đoạt số phận của “nàng”. Một đời vượn vàng bao ngàn năm biến hoá, một mối tình nữa tháng đoạn đoài thương, cuối cùng gói trọn vào vài mươi trang viết và một tích tắc bấm “clic” của vi tính,  thoáng chốc bay đi, còn biến ảo nào hơn. Điện thư đi thì lại có điện thư về, trong ngổn ngang thư đến Trần ngạc nhiên khi thấy có thư của vợ chàng với đôi hàng vắn tắt:

 

“Anh yêu, Em đã thất cử. Hảy tha lổi cho em. Em và các con chờ anh về.

 

Lại là lá thư không chữ ký  nhưng với lời mời gọi của tình yêu gia đình. Trần đưa tay bấm vào mặt để nghe đau và biết đó không phải là mơ, cũng không phải là bài viết mà là thực tế đời thường. Trần mỉm cười một mình, quay nhìn “nàng vượn vàng” đang đong đưa trên cành cây ngoài cửa am, nhập nhằng giữa thực và hư  chàng đưa tay chào và lẩm bẩm, nhại lại những câu thơ  cũng của Bùi Giáng tiên sinh:

 

Xin chào em giữa con đường

                              Yêu thương phía trước, miên trường phía sau.

 

 

                                      HUỲNH NGỌC NGA

                               Torino, ITALIA – 26.06.2013

 

 

 

 

————————————————————————————————————————–CHÚ THÍCH:

 

(*) Tô Võ : một sứ giả người Hán bị giam cầm ở miền băng giá xứ Hung Nô xưa, gặp        và kết duyên cùng 1 con vượn cái. Sau Tô Võ được trả về xứ sở, bỏ nang vượn ở lại.

 

(**) Từ Hy và 7 món ẩm thực đặc biệt được trích trong tài liệu trên internet.

 

 

Read Full Post »