Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2012

Thân thiết Tết Thìn

Phạm Viết Kha

                                            Tặng xunau.org ngày gặp mặt 8/1/2012

Thắm thoắt tết Tây tới Tết ta
Thanh tao thù tiếp tại tiệc trà
Thư thả tâm tình thêm thắm thiết
Thân thương thích thú tình thiết tha

Trân trọng tết tình thân
Thế  thua thời thiệt tết tinh thần
Thế thời thời thế tình theo thế
Tiếp thu tân, thôi thúc thượng tần

Trăm tay, triệu trí thẳng thắn tìm
Tâm thành tuệ trí trọn trái tim
Trọng trí, trọng tài thời thế thắng
Thức thời tri thức trọng tìm tin

Từ thuở tổ tiên tác tạo thành
Tiền trào tự thế tiếp tục tranh
Thần tốt, tướng tài… tình thủ túc
Tâm thành, trí tuyệt thù thất thanh

Tết Thìn tâm tĩnh trí thảnh thơi
Thế tuyệt tìm truy tránh thiệt thòi
Thắng thua tự tại ta tất thảy
Thế thời tiến thủ tại ta thôi

Tiệc trà thân thiết trước tết Thìn
Tay trong tay trân trọng thân tình
Ta tự thân ta tìm tinh túy
Trang trà tiếp tửu… tỉnh tình tinh

Read Full Post »

Ngô Nguyên Nghiễm

Photo Thái Phiên

U tịch đá xanh, ngày trở lại
Triền cao thoai thoải nắng chơi vơi
Ráng bay một góc trời biên giới
Khách cũng bay về như lá rơi

Khói nhà ai chảy hiên hè sau
Góc nhỏ âm buồn tiếng võng ru
Ngơ ngác hàng tre mùi vọng cổ
Độc huyền đục ngọt gốc đêm sâu

Quanh quẩn đường dài, có dép cỏ
Mười năm mài thủng gót phong trần
Về đây, gió ngựa đùa khinh bạc
Bạc áo trung niên, bạc tóc xanh

Ồ chút rượu đùa trái đất lăn
Thơ vừa rót xuống chén tri âm
Bỗng nhiên thấy rụng vài hơi thở
Đủ cuốn vèo đi lá nguyệt rằm…

Cố xứ, mùa thu vàng ngẩn ngơ
Vàng ươm phố núi, hạt mưa khô
Thương hồ chết lặng trên sông
Hậu Gác mái, rồng bay, đá lạnh hờ

Thoảng nghe mấy khúc hát đồng dao
Ớn lạnh thiên nhiên gió đổi màu
Thổi áo phong sương lầm tóc bạc
Đầm đìa khí hậu cháy đêm thâu

U tịch đá xanh, mờ thế trận
Bờ cao mây vén mộ âm âm
Lỡ vương vấn lá, hoa chèn núi
Bút chỉ người xưa ngủ ngửa nghiêng

Chớp mắt con kênh biên giới lạ
Chảy quanh ngọn thốt nốt sau nhà
( Bỗng nhiên thơ ấu hồn năm tháng
Cây gáo vàng xưa mới trổ hoa )

Vàng thẳm con đường hoa cúc nở
Âm vang tu hú rụng hoàng hôn
Ráng chiều nhuộm đỏ trời biên thổ
Và nhuộm tang bồng khách viễn phương

Đá rịn mồ hôi ngày trở về
Đàn voi lầm lũi hồn sơn khê
Lung linh đáy suối phơi hình tượng
Gói bóng giang hồ, gói bản quê

Bên kia vách núi nhà san sát
Sơn lộ quanh co cát bụi bay
U tịch đá xanh, âm tiếng hót
Loài chim sơn dã nhảy đâu đây…

Ồ chút rượu đùa trái đất lăn
Rồng bay, sang sảng giọng nam non
Ngày đi núi chất trên vai rộng
Và nhốt trăng vào túi rỗng không

Thắm thoát mười năm đầu bạc phếch
Nuôi thơ chưa lớn được giang hồ
Ngày về, bạn hữu ngồi phong ấn
Thẹn với cây đa gốc miếu xưa

U tịch đá xanh, ngày trở lại
Triền cao thoai thoải nắng chơi vơi
Ráng bay một góc trời biên giới
Khách cũng nặng lòng đếm lá rơi…
8.1998

Read Full Post »

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc) đã từng gây xôn xao trong đời sống âm nhạc miền Nam. Cả thơ lẫn nhạc đều rất tuyệt vời…
Bìa bản nhạc Ngày xưa Hoàng Thị và Chân dung Phạm Thiên Thư – Ảnh: H.Đ.N

Từ tiếng hát cao vút của Thái Thanh, những ca từ của Ngày xưa Hoàng Thị chấp chới đi vào hồn người: “Em tan trường về,  đường mưa nho nhỏ. Chim non lề đường, nằm im giấu mỏ. Anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…”. Phải nói rằng, dạo đó thơ Phạm Thiên Thư là hiện tượng, bởi sau thành công của Ngày xưa Hoàng Thị, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thêm liên tiếp những ca khúc từ thơ Phạm Thiên Thư: Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu… Người ta đua nhau tìm đọc thơ Phạm Thiên Thư – một tu sĩ Phật giáo – bởi hơi hướm thơ vừa nhuốm mùi thiền vừa vương tình trần. Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư quá hay mà thơ 4 chữ (như bài Ngày xưa Hoàng Thị) lại cũng tuyệt… Chẳng thế mà tập thơ Đoạn trường vô thanh (hậu Kiều) của ông được trao Giải nhất văn chương – thể loại trường ca (Sài Gòn – năm 1973)… Rồi người ta đoán già, đoán non cô Hoàng Thị Ngọ là ai mà có sức hấp dẫn đến thế, khiến cho người thơ đã nương cửa Phật vẫn phải vướng mùi tục lụy?

“Anh tìm theo Ngọ…”

Phải đến 40 năm sau tôi mới có dịp diện kiến nhà thơ Phạm Thiên Thư, khác với những gì tôi mường tượng: tác giả Ngày xưa Hoàng Thị không mang dáng dấp thư sinh, nho nhã mà đẹp như một… “lão ngoan đồng”. Ông hiện là chủ quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải (Q.10, TP.HCM), tên quán chắc là để nhắc nhớ đến ca khúc Đưa em tìm động hoa vàng nổi tiếng một thời? Câu đầu tiên ông “chào” tôi là một câu lục bát: “Dễ gì được một vần thơ/Mà nghe nghiệp chướng, lại ngờ tiền oan”. Rồi ông kể về Ngọ: “Rất đơn giản, tôi tuổi Thìn (1940), còn cô ấy tuổi Ngọ (1942) cho nên được bố mẹ đặt luôn tên là Ngọ. Cách nhau 2 tuổi nhưng học cùng lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ) ở trường Trung học Văn Lang (khu Tân Định). Ngọ có dáng người thanh mảnh với mái tóc dài thả ngang vai. Mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô ấy đứng đầu hàng bên nữ, tôi đứng cuối hàng bên nam, tha hồ ngắm… Vào lớp, cô ấy ngồi bàn đầu, tôi bàn cuối. Ngọ học rất giỏi, còn tôi chỉ giỏi… đánh lộn (gia đình tôi vốn có truyền thống võ thuật). Có lần thầy giáo gọi tôi lên trả bài, tôi không thuộc nhưng thay vì lên tận bàn thầy giáo trên bục giảng, tôi chỉ đi đến ngang chỗ Ngọ ngồi thì dừng lại. Ngọ biết ý, mở cuốn tập ra cho tôi… liếc, đọc vanh vách!

Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân, nhà Ngọ ở Trần Quang Khải, cũng cùng khu Tân Định nên đi về chung đường. Mỗi lần tan trường, cô ấy ôm cặp đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Tóc Ngọ bay bay trên đôi vai gầy nhỏ nhắn. Có những hôm trời mưa lất phất, cô ấy đưa cặp lên che ngang đầu. Tôi thấy thương quá, muốn làm một cử chỉ gì đó như là để chở che nhưng… thở mạnh còn không dám, nói chi là…

Đậu tú tài xong tôi vào Đại học Vạn Hạnh”… “Tại sao ông lại trở thành tu sĩ Phật giáo?”. “À, như đã nói, gia đình tôi vốn có truyền thống con nhà võ, từng lập “Học hội Hồ Quý Ly” quy tụ cả trăm người, khiến chính quyền miền Nam lúc ấy nghi ngờ, phải giải tán. Năm 1964 tôi “trôi dạt” vào “ăn cơm chay” ở các chùa: Vạn Thọ (Q.1), Kỳ Quang, Bà Đầm (Q.Phú Nhuận), rồi Đại học Vạn Hạnh… Cho dù đã nương thân vào cửa chùa nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường cũ, hình ảnh cô học trò ôm cặp, tóc dài bay bay trong gió vẫn thấp thoáng đâu đây… Và rồi những tứ thơ tràn về: “Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Chim non giấu mỏ/Dưới cội hoa vàng/Bước em thênh thang/Áo tà nguyệt bạch/Ôm nghiêng cặp sách/Vai nhỏ tóc dài… Em tan trường về/Cuối đường mây đỏ/Anh tìm theo Ngọ/Dáng lau lách buồn… Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Trao vội chùm hoa/Ép vào cuối vở/Thương ơi vạn thuở… Ôi mối tình đầu/Như đi trên cát/Bước nhẹ mà sâu… Mười năm rồi Ngọ/Tình cờ qua đây/Cây xưa vẫn gầy/Phơi nghiêng dáng đỏ/Áo em ngày nọ/Phai nhạt mấy màu/Chân theo tìm nhau/Còn là vang vọng… Dáng ai nho nhỏ/Trong cõi xa vời/Tình ơi… Tình ơi!”…

“Tại sao nhạc sĩ Phạm Duy biết thơ ông để phổ nhạc?”. “Là thế này, năm 1968, tôi có ra tập thơ đượm mùi thiền Phật giáo, in rất ít, chỉ để tặng bạn bè. Cụ Nguyễn Đức Quỳnh (nhà văn) đọc thấy thích mới giới thiệu với nhạc sĩ Phạm Duy, và nhạc sĩ đã phổ 10 bài đạo ca của tôi. Đó là cái duyên để đến năm 1971, nhạc sĩ Phạm Duy lại phổ nhạc bài Ngày xưa Hoàng Thị. Lạ một điều là bà xã tôi bây giờ lại rất giống Ngọ, có thể nói là một chín, một mười”.

Người viết tuy ngồi trong (động) Hoa Vàng nhưng tiếc ngẩn ngơ vì không được may mắn diện kiến nữ chủ nhân để ít ra cũng có thể hình dung được một nhan sắc thuở nào…

Hà Đình Nguyên

Read Full Post »

Văn Công Mỹ

.

Tranh Đinh Cường

Đôi khi ngồi lại bên quán nọ

Ngó con cá quẫy nhánh sông này

Thấy trong bèo bọt chùm hoa nở

Chút bùi ngùi lạnh sớm sương bay

 .

Đã biết bến bờ bên bồi lở

Trăm năm được mất lẽ vô cùng

Một buổi mai này thân nín thở

Cũng là hạt bụi hóa hư không

 .

Miệng người nhiều ngoa ngôn ảo dụ

Thôi làm nít nhỏ hát nghêu ngao

Làm thân bèo dạt trong mưa lũ

Nặng nhẹ trần gian với tay chào

 .

Ô hay bữa nọ trong quán nhỏ

Có kẻ trầm tư hát một mình

Mộ phần đã sắp ngày tương ngộ

Tiếng vọng lăn dài đến vô minh.

 

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Âu yếm. Tranh sơn mài.Phạm Lực

Từ trước tới nay, nói về “thơ tình” hay “mùa xuân” thì người ta chỉ nhắc tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh … chứ mấy ai biết đến tình và xuân trong thơ linh Lân tức Yến Lan của Bàn Thành tứ hữu của miền đất vang lừng thế võ.

Ai đâu biết, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ của nhà thơ Yến Lan. Những con suối tình đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ Yến Lan. Đầu năm đến với thơ tình và xuân của Yến Lan để rung động trước vẻ đẹp của non sông đất nước và tình người cũng là để nhà thơ dắt ta đi qua cuộc hành trình nhân thế với những nét tế vi của cuộc sống.
Đề tài về tình yêu văn học nhân loại “nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển” Đặc biệt là thơ mới 1930-1945 luôn choáng ngợp trong mọi cung bậc của tình yêu. Người ta cho rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác.” Đóng góp của ông trong mảng đề tài này là cái chất riêng khó gặp ở phong cách thơ khác cùng thời. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” từng đánh giá thơ Yến Lan “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích.”
Sắc xuân và tình yêu của linh Lân như những con suối âm thầm chảy cả một đời thơ:
Mây mãi sa đà đình núi cao
Chim say tổ ấm chẳng rời nhau
Nếu không ngọn suối ra sông lớn
Một chút tình quê biết gửi đâu”
Ơn suối

.

Thật vậy, nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu được nhận định “Vừa có cái cao khiết của tâm hồn vừa có cái cường tráng lành mạnh của nhục thể” thì tình yêu trong thơ Yến Lan rất chân thật trong cảm xúc bởi được bao phủ lớp sương khói bàng bạc, huyền diệu, thơ mộng. Cảnh vật, con người được ông tả hết sức bình thường nhưng được nhà thơ phủ lên không gian thơ một lớp sương khói của thời gian.
Ai về xóm Cửi năm năm trườc
Đều thấy em ngồi dệt đoạn tơ
Quanh em vàng tựa trời gieo xuống
Vàng ở trong màu xuân lắm thơ
Vàng
Hình ảnh đẹp của cô thôn nữ đang ngồi quay tơ, dệt vải bình thường nhưng hình ảnh bình thường ấy của cuộc sống được nhà thơ vẻ đậm nét huyền diệu. Người đọc được chìm trong không gian vàng huyền hoặc, nhẹ nhàng và thơ mộng
Không biết tự bao giờ, nỗi buồn đã đi vào thơ ca, trải dằng dặc theo cuộc sống nhân loại. Với Nguyễn Du đó là nỗi đau của đời: Trong “Kiều”
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Còn nữ sĩ Xuân Hương là nỗi buồn, ngán ngẫm cho duyên phận không trọn vẹn như mong ước (Tự tình)
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẽ tí con con
Xuân Diệu thì ngẫn ngơ buồn vì cô đơn bơ vơ, ngay trên mảnh đất quê hương
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Hàn Mặc Tử thì tái tê:
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)

.
Với tính cách hiền hòa, kín đáo và tế nhị, thơ tình Yến Lan không thể hiện sự đòi hỏi của ham muống mãnh liệt. Cả với nỗi buồn phải chờ đợi mỏi mòn Yến Lan cũng trải nó ra man mát:
Lầm lũi em đi chẳng nói năng
Vắng em anh cũng thắt buồng gan
Gần nhau hay phải xa nhau mãi
Mặt biển tình ta dải thẳng băng
Cam chịu

.
Tình yêu trong thơ ông dù dang dở, song không phải “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ Dzếch), bởi cái triết lý rất nhẹ nhàng mà thâm thúy của ông về qui luật cuộc đời:
Cái triết lý về thời điểm hạnh phúc cứ theo mãi kiếp người, dằn vặt, trăn trở. Cảm nhận về tình yêu thì nhẹ nhàng, trong sáng nhưng lại khắc khoải khôn nguôi
Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm
Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm
Một mảnh hồn ta còn đọng mãi
Trên vành nong úa sắc thời gian
(Mùa xuân này lạnh lắm em ơi).

.

Viết về tình yêu, Yến Lan thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền và bến”. Đó là hình ảnh trở đi trở lại như một bài ca dao, nhưng thơ Yến Lan vẫn rất mới, mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ. Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên; Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn luôn vận động, biến chuyển với cái triết lý riêng của nó. Đó là nỗi buồn về những cuộc tình dang dở, là nỗi khát khao được yêu âm thầm mà mãnh liệt, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:
Ta đang sống vì có người đã chết
Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa
Đời lớn nhanh và mạnh như bẹ dừa
Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ
Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ
Mơ giờ mơ của bao cửa không gian
Mơ hồn xuân như đã mở thiên đàng
Tôi sống khỏe và hoa hồn độ nở
Những giọt bông hường

.
Tình yêu đôi lứa trong thơ Yến Lan không dữ dội, cuồng nhiệt mà đằm thắm, thiết tha lắm!

.
Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng
Phải là ý ngọc, phải tim vàng
Phải là trọn vẹn, là trong sáng
Là một bài thơ khắc chữ nàng
(Đồng nội hồn tôi)
Còn thứ tình nào mảnh liệt hơn thế khi dòng trường giang không còn cuộn sóng và lòng người trở thành một bến đò của dĩ vãng, của ngàn năm đợi:

.
Em đi bờ bãi cũng theo đi
Sóng lặng trường giang trải phẳng lì
Từ ấy lòng anh làm cố độ
Câu thơ chờ đợi hóa chòm si
(Cố độ)

.
Quê hương trong mỗi người là sự mặc định của số phận. Người ta có thể có nhiều vợ, nhiều chồng nhưng quê thỉ mỗi người chỉ một mà thôi. Chính vì triết lý rất đời ấy, tình quê của Yến Lan không bao giờ đổi thay, không bao giờ chối bỏ.
Sống đời nô lệ, bị áp bức thơ ông thể hiện trạng thái “đau, ngơ ngẩn, sầu muộn, quặn mình, nức nở” đến tái tê trong “Bình Định vào năm 1935”.

.
Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở
Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi

.

Bao đời nay, thi sĩ yêu trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than. Không hiểu sao, chỉ riêng Bình Định quê tôi, vầng trăng lại phát ra thứ ánh sáng đến diệu kỳ, lạ lẫm, để các thi sĩ sinh ra trên dải đất này đều bị ám ảnh. Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn, trăng ở xa đến vậy mà ông đã sở hữu được  để rồi: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” Ông say ánh trăng như ma cà rồng say máu:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
Say trăng

.
Ánh trăng trong thơ Xuân Diệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người:
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi
………
Trăng sáng , trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ
Với Yến Lan trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó như chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

.
Trăng đi từ tóc đi vào máu
Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân
Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá
Như má yêu môi, đến đến gần
(trích)    Bệnh trăng
Bởi vì chỉ có mình ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc nâng niu vỗ về khi ông vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng dưới ánh trăng “Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng.. Từ đó ánh trăng là tình yêu là cội nguồn  Cho nên có hệ lụy là:

.
Từ thuở lên hai đã yêu trăng
Đã bồng đã ấp, đã nâng niu
Ban ngày tôi ngủ trong lòng mẹ
Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều.
(trích)    Bệnh trăng

.
Yến Lan đã nhẹ nhàng, đỉnh đạt bước vào làng thơ cùng “Bến My Lăng” với hình ảnh ông lái đò u buồn đợi khách trên bến sông đầy trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt bao năm, mãi đây vẫn còn ám ảnh lòng khách thơ.
Khi dòng thơ mới chiếm lĩnh trên văn đàn, các thi sĩ thi nhau làm thơ tình yêu. Thơ tình Xuân Diệu thật giản đơn và hời hợt “Đố ai định nghĩa được chữ yêu” Không ai trả lời nên ông giải bày tiếp “Có khó gì đâu một buổi chiều/Gặp người con gái ngây thơ ấy/Rồi thương, rồi nhớ thế là yêu” Có lẽ tình yêu quá đơn giản như thế nên cuối cùng cuộc tình của ông không trọn bề.
Tình yêu đôi lứa mấy ai đong, đo, đếm, diễn tả được, cho dù muôn vạn chiếc máy tính siêu hiện đại. Thời gian, mọi thứ trở nên bất lực nhưng tình yêu trong thơ Yến Lan thì không, nó trở thành vĩnh cữu……..

.
Dồn lên thành thạch nhũ
Lớp phấn -đá – tình – em
Cuồn cuộn như bão tố
Cơn gió lộng hồn anh
Thời gian vút mủi tên
Em kể gì năm tháng
Tảng thạch nhũ tan ra
Bên gối người sấp mặt
Cơn bảo cũng chan hòa
Con suối tình dào dạt
Tình yêu của nhà thơ thật giản dị, hạnh phúc khi cuộc sống thanh bình ở một vùng quê, lúc ông cháu dạo chợ ngày Tết cổ truyền khiến ông trở nên tươi trẻ hơn

Ta đến hàng đồ chơi
Ngựa gỗ chen gà đất
Xem nghệ nhân vẽ vời
Có đậm màu dân tộc
Ta đến hàng sứ, sành
Chọn bình hoa chậu kiểng
Vui còn chú môn sinh
Đem biếu chùm lan biển

.
Sắc màu mùa xuân, hương vị Tết tràn ngập trong thơ ông mặc dù xuân nhà ông đến muộn hơn:
Vụng sắm cành đào không kịp tết
Ra giêng chợt hé một vài bông
Xuân người lả tả bay đi hết
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng .
Xuân muộn

.

Ngoài sắc xuân, tình đời, tình người nhà thơ không ước mơ gì lớn, ông chỉ chọn cho mình cái quí hơn – đó là tình người :
Mơ một mùa xuân đẹp
Tình đời rộng bao la
Chớ vin nhà chật hẹp
Cổng khép người lại qua

.
Thơ tình của Yến Lan thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng tha thiết và nồng nàn. Thế mà đến giờ tôi chưa nghe ai nhắc một câu thơ tình nào của ông. Tiếc thật!…

Read Full Post »

Nam Hoài (Nguyễn Hoài Nam)

Mấy năm rồi, tôi vẫn vẽ đều, và tranh cũng đôi lúc bán được.

Tôi đã không biết đến một nhà phê bình nào cả, rằng tranh phải sao mới là hay, và thế nào thì bị coi là dở. Tôi chỉ vẽ vì phải sống, và đã sống được bằng nghề. Trước khi phải tốn tiền cho màu và cọ, tôi phải đi kẻ biển, vẽ bảng số xe, cắt chữ…

Ngày nay, bán được nhiều tranh chưa có nghĩa là hay, và cũng thế, tranh hay chưa chắc đã bán được.

Đúng là tôi vẽ chưa hay, nhưng tranh của tôi bán chạy. Tranh vẽ để đẩy đi nhanh, thì chỉ có loại hàng mỹ nghệ. Ừ thì tôi nhằm vào lớp những người mới vừa giầu lên. Họ mua tranh không phải để giữ lại làm của, chỉ vì treo lên thế mới sang, mới đúng kiểu phòng khách . Giá tranh vì vậy cứ đứng ở cái tầm ấy, dễ vẽ dễ mua. Người ta vẫn gọi là tranh chợ. Những tranh kiểu này, tiền làm khung còn mắc hơn tiền tranh.

Ơn trời, vợ tôi bây giờ không dám quăng đi những mẩu vẽ phác của tôi nữa. Em vuốt chúng lại cho thẳng, cẩn thận để lại trên giá vẽ . Lâu rồi, em không còn giục tôi phải đi ăn cơm cho đúng giờ, hay phải tắm liền đi không lại cảm. Biết tôi đã vẽ là lúc đang có hứng, dù ngày hay đêm, em cũng chỉ nhắc tôi: Anh bệnh rồi đó. Có chuyện gì lại khổ vợ con. Người ta có thể chưa khổ hẳn vì nghèo, nhưng sẽ khổ ngay nếu ngày mai chưa có tiền đi chợ. Gạo ăn đong là thế.

Vợ tôi đã bắt đầu hiểu một ít về tranh pháo, nhưng tôi biết chắc là từ bé đến giờ, trừ những bài phải học thuộc lòng thời đi học, chưa bao giờ em thích thơ cả. Cũng may, nghề vẽ coi vậy mà được hơn, vì văn thơ mà bị chê, bị “đánh” thì rồi có thể đau mà muốn chết đi được. Cái sự bị chê của nghề vẽ nó đến chậm hơn, khi ta chợt biết là mình dở thì đã già rồi. Tuổi già không cho phép ta buông bỏ cái gì, vì không còn kịp để làm lại một cái khác. Nên ta vẫn cứ tiếp tục dở như thế, y như cũ.

Bạn nói với tôi: ông yêu nghề, say nghề, làm nhiều, nhưng không có tài. Tiếc cho ông, nhưng cũng đừng nản, vì ông ở trong cái số nhiều. Cứ vẽ thế đi. Tôi cãi lại bạn: chưa làm được gì nhưng đã làm, thì là quý rồi, ông ạ. Ông cứ thử vẽ đi, như tôi xem.

Tranh vẽ để sống và tranh vẽ cho mình rất khác nhau. Họa sĩ vẫn có chốn riêng của mình, để làm cái mình thích, làm cái chưa làm được. Người ta sẽ phán rằng đó là cách để thoát vào một cõi khác, để trốn mình, và chỉ có mình ta nơi ấy, ta mới được là ta. Tôi chẳng trốn ai cả, nhưng sẽ làm vậy nếu hai tháng liền không nộp đủ lương cho vợ.

Nên bạn vẫn khen là tôi vẽ đều tay.

Đến một lúc nào đó, ta có thể muốn được nghỉ ngơi đôi chút. Và được làm thật cái mình thích. Nó là cái không bán được, và phải được làm khi không bị ai nhắc về cái nợ áo cơm. Thật không có gì thú hơn. Và tôi bắt đầu với chân dung tự họa. Người ta thường làm thế khi đã có một chút danh. Tôi không thấy xấu hổ về điều này. Khi đã là gì đó, đã nổi lên, ai cũng muốn để đời gương mặt của mình. Có thể không được nhiều người thích, nhưng ngày sau còn có cái để mà bàn. Thì tôi cũng đâu có ngại gì.

-Anh cứ vẽ anh đi, nhưng để cho xong thì em thấy còn lâu đấy. Tôi biết vợ thương tôi, tránh cho tôi phải nhớ là mình vốn xấu trai. Lại nữa, em sẽ không bao giờ nói là tôi chẳng có tài. Tôi biết vợ tôi luôn nhớ, là tháng này tôi sẽ phải làm xong cái gì, vì đã có đơn đặt hàng từ trước cả rồi. Vợ tôi chỉ sợ tôi sẽ bỏ thời giờ vào đó nhiều hơn cái mức cần. Và nồi cơm vì vậy cũng sẽ vơi đi. Nên tôi phải tạm gác lại cái mà tôi thích. Cái cần của tôi bây giờ là cái cần của người khác, của người đã bỏ tiền ra đặt tranh tôi . Áo tứ thân, nón lá, giếng làng, phố cổ, rồng phượng, hoa văn, gạch non gạch già, loằng ngoằng thư pháp…

Vậy là tôi đành để “tôi” lại đấy. Tôi vẽ “nàng”.

…Trong đời, có nhiều lúc ta lẫn lộn về thời khắc. Tôi không nhớ được là ngày ấy hay bây giờ, đang buổi sáng, hay chiều tối. Tôi chỉ thấy là mình đang sung sướng. Nàng của tôi mặc áo dài. Bao nhiêu đó là đủ để tôi vẽ không biết mệt. Tôi như nghe thấy từng giọt nhỏ mồ hôi đang lăn nhẹ trên cổ em.

Áo dài thật khó vẽ . Vì chính nó luôn đẹp, bút mực đã khó tả nổi, thì cọ vẽ càng khó hơn. Đó là cái cuốn hút từ dưới lớp vải mỏng của cái quần dài.

Tôi đưa cây cọ qua lại mà chưa bắt đầu gì cả, dấu không cho em biết là tôi đang ngắm em. Phải thuộc từng nếp gấp, để rồi sau đó chỉ vẽ bằng trí nhớ thôi, mới lột được cái thần. Bây giờ em đang có hình hài mà như không có. Và tôi chỉ cần cái cảm nhận này, đủ để phác được thật nhanh chân dung em. Trong một lúc, tôi quên là không cần phải cố nhiều đến vậy, vì tranh chợ đâu cần phải quá hay. Không, tôi phải vượt qua cái ngưỡng đó. Tôi không muốn là tới lúc này, tôi vẫn đứng ở chỗ của họa sĩ hạng hai.

Diễm nghiêng đầu nhìn tôi, nói như thật:

-Em biết tỏng anh ra rồi.

Tôi vẫn im lặng. Đừng làm rối anh.

Nhưng Diễm luôn là người không vừa:

-Em biết anh cũng chẳng sắt đá gì …

Đã bảo mà. Chẳng người mẫu nào nhiều lời như em.

-Anh có tin là anh coi cũng được không. Có nét đấy. Em mà vẽ anh, thì ối người phải mất tiền. Coi kìa, cái mặt khó đăm đăm, cá tính đấy. Em thích.

Diễm cứ lấp lửng, chẳng biết em thích tranh tôi hay là thích tôi. Nhưng tôi là người biết sợ. Vì ai mà phải có cái mặt khó nhìn vậy, thì em biết rồi. Trước mặt Diễm, tôi mà tỏ ra bắt được của là chết chắc. Diễm có biết là mỗi ngày, người nào vẫn hỏi anh: sắp xong chưa không. Kỳ này, cả hai con đóng học phí một lần đấy anh ạ. À, xăng lên tới mười chín ngàn rồi.

Ừ, nhớ rồi vợ ạ. Thì đang vẽ đây mà.

Diễm vẫn không chịu ngừng lại:

– Anh. Hiếm gặp đấy. Nếu không rung lên, thì sẽ chẳng bao giờ làm gì được đâu.

Bực quá. Cây muốn lặng rồi, sao gió chẳng đừng. Nếu không có bà ấy ở đây, thì đừng bảo là anh nhát. Nhìn tôi, Diễm hiểu ngay tôi định nói gì:

– Chị ấy đi rồi. Cứ tin em đi. Vì hôm nay em bận đồ, có nude đâu mà lo.

Em thêm:

– Mà có gì thì vẫn có sao. Cùng lắm thì là yêu chứ gì.

Thôi, hay là anh đừng vẽ áo dài nữa. Áo tứ thân – nhưng hai dây, e ấp, hay hơn nhiều, new, lại dễ bán.

Chẳng cần đợi ý của tôi thế nào, em đã có ngay cái mẫu mới. Mẫu này biểu cảm hơn nhiều, nên họa sỹ tôi cũng phải theo đà thôi. Dựng hình thì lâu, chứ xóa đi thì chỉ cần cái cọ lớn. Tôi liền có một bản phác mới.

Diễm lại nói, tôi không biết em đọc ở đâu ra, cái chuyện mà chính tay trong nghề như tôi mà chưa từng biết:

– Tại sao đặt tên tranh là “Nụ hôn” mà chỉ vẽ có một mắt, vì khi ấy còn thấy gì nữa. Con mắt còn lại vẫn phải mở, để trông chừng xem liệu có ai thấy không!.

Diễm đã không còn ngồi ở đó từ lúc nào.

-Để em thử, xem anh còn thấy gì. Chán anh.

Liền đó tôi bị ngạt thở. Tôi đã không biết sau đó mặn ngọt thế nào, thấy hay không thấy, là đêm hay là ngày… Tôi như bị kéo tuột xuống , một nơi nào sâu lắm. Tôi trôi như thế mãi mà không thể thoát ra được. Thà rằng chạm tới đáy cho rồi đi, cứ rơi mãi thế này thật không chịu nổi.

Bỗng nghe giọng ai thật quen :

– Em, em nào?. Con nào?.

Trước khi bị chết ngạt, tôi còn kịp la lên : Không phải tôi. Cái tật tôi quen chối . Chẳng biết ất giáp thế nào, cứ chối đã. Chính Mậu tiên sinh đã dặn kỹ: Tốt nhất là đừng nhớ tên ai, cứ gọi chung là em.

Tôi gạt cái chân của vợ đang đè nặng lên cổ tôi, và kịp biết lúc này đã gần sáng rồi. Anh mơ gì mà không la cho to hẳn lên, cứ em em trong cổ họng. Tôi hiểu ngay là đã sơ sẩy vừa gọi tên ai rồi. Tôi đã mơ như thế, và còn nhiều nữa, nhưng tôi sẽ không kể ra hết đâu.

Thế. Đừng hòng bắt vở anh. Tôi cười để khỏi phải trả lời. Sao thì em biết rồi, còn phải hỏi. Em, có thể là mai lan cúc trúc, cũng có thể là vợ anh.

– Em!

-Ừ. Vợ tôi tỏ ra rộng lượng:

-Anh làm em sợ. La cứ như bị chết đuối ấy.

-Thì em bỏ nốt cái chân kia ra.

…Tôi không có ý còn muốn nằm nán lại, để khỏi bỏ dở cuộc mơ. Vợ tôi đã đi ra, tôi nghe không lầm, là em đang đọc thơ:

Những nỗi buồn

không chịu gọi tên …

Em làm thơ từ khi nào vậy. Nhưng đó thật là một gợi ý hay. Chắc em đang tính chép nó vào đâu đó, không thì lại quên. Dào, già rồi còn thơ thẩn …

…Sáng hôm sau, tôi thấy cái vỏ thuốc lá mà tôi mang về hồi hôm, được vợ tôi đặt ngay ngắn trên giá vẽ. Ngoài vỏ bao có những dòng nguệch ngoạc của tôi, viết trong lúc chưa say: Những nỗi buồn không chịu gọi tên.

 

 

namkts57

Read Full Post »

Đa mang này tên anh

Trần Mai Hường


Thế là xa…

Gío lạc giọng hỏi những điều cắc cớ

Gío vô tâm thả muôn ngàn lát vỡ

Nỗi buồn dài như sông…

.

Có những lúc em không hiểu nổi mình
Không hiểu tại sao hôm nay đất trời bất thường đến vậy
Và hình như…
Hình như có gì trỗi dậy
Nảy xanh mầm tương tư…

.

Em đã đằm mình vào đám lục bình biếc tươi kia
Giấu run rẩy suốt một chiều nắng mỏng
Anh làm sông cuộn khát khao thành sóng
Vây bủa lục bình em

.

Có một bài thơ bất chợt ghé trong đêm
Đêm rộng lắm
Thơ mong manh quá đỗi…
Em xô lệch giữa điệp trùng dấu hỏi
Đa mang này tên anh.

Read Full Post »


Đúng ngay ngày rằm tháng chạp ( 15-1-2012), ĐẶC SAN “Người BÌNH ĐỊNH” Xuân Nhâm Thìn sẽ chính thức ra mắt  tại TP.HCM.

Xuân này, đặc san “Người Bình Định” ra đời và đến với bà con Bình Định, nhất là bà con Bình Định tại TP.HCM. Đây là phiên bản mới của Đặc san “ Đất Võ”, là tiếng nói của Đồng hương Bình Định tại TP Hồ Chí Minh, với chủ đề “TỰ HÀO VÀ KẾT NỐI ”, là nơi thông tin giới thiệu ý chí – khát vọng vươn lên của người Bình Định xa quê, trong đó chủ yếu là người Bình Định tại TP.HCM; đồng thời sẽ “chắt lọc” chuyển đến cho các thế hệ người Bình Định tại TP.HCM về truyền thống và niềm tự hào về quê hương Bình Định.

ĐẶC SAN “Người BÌNH ĐỊNH” Xuân Nhâm Thìn  ( Do Thường trực Ban LLĐH TẠI TPHMC chỉ đạo và SaigonLife styles thực hiện) đến với bạn đọc theo các chủ đề như: Vui xuân, Hoạt động Ban LLĐH BĐ năm qua, khát vọng vươn lên của những người con BĐ, tự hào quê hương Bình Định… với nhiều tin, bài hấp dẫn như:

+ Người BĐ xa quê làm lãnh sự danh dự Bồ Đào Nha tại VN – Ông Trần Kim Chung, CT group
+ TS Trần Du Lịch ĐBQH -Tiếng nói của người BĐ trên diễn đàn Quốc hội
+ Người được phong PGS trẻ nhất VN năm 2010 – TS Từ Diệp Công Thành – GV ĐHBK TP HCM
+ Gặp gỡ “ tác giả bài hát Mừng tuổi mẹ” NS người BĐ Trần Long Ẩn- khi Xuân về
+ Giám đốc BV Thống Nhất ( gốc BĐ) Nguyễn Đức Công
+ Tiếng hát cô gái xứ dừa BĐ – Cẩm Ly.
+  “Bình Định – Chợ ngàyTết”.
+  Hình ảnh Rồng trong các thế võ BĐ
+  Vua quang Trung và Võ học BĐ
+ Phóng sự ảnh:
Lãnh đạo tỉnh Bình Định gặp mặt Doanh nghiệp người Bình Định tại TP.Hồ Chí Minh, hình ảnh họp ĐH BĐ tại TP.Hồ Chí Minh Tết Tân Mão – 2011, họp Đồng hương các huyện xã : Hoài Nhơn- Phù Mỹ- Tây Sơn- Tam Quan, Mỹ Lợi… Thông tin về ban LL ĐHBĐ tại TPHCM nhiệm kỳ 2012-2017, Giải bóng đá Quang trung cup,Hội trại SV 2012

+ Sáng tạo mới về nhà ở – Biệt thự bằng Container: “Bật mí” nơi ở của vợ chồng anh Văn Công Mỹ- thành viên tổ chức họp mặt xunau.org ngày 8-1 sắp đến
+ Những chi tiết  mới lạ khi Cô dâu Ý Elena- phu nhân nhà văn – dịch giả Trương Văn Dân nói về quê chồng qua ghi chép của Tuấn Nhật

Đặc biệt, có sự cộng tác của những VNS quen thuộc của BĐ và xunau.org:
Nhà báo Quang Khanh, Nhà thơ, nhà báo Lệ Bình, nhà văn Lê Hoài Lương, Huỳnh Kim Bửu, Trần Hà Nam, Đặng Quốc Khánh, Trần Đình Lương, Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Thị Phụng, Cao Tam, Rêu, Mai Khoa, HS Duy Hồng, NSNA Đào Tiến Đạt…
Khổ 21×29 In 4 màu giấy coucher  – SL: 3000 bản
Thông tin hấp dẫn!
Bà con ĐHBĐ khi tham dự họp mặt ĐHBĐ xuân Nhâm Thìn  2012 ( diễn ra từ 8-12 giờ ngày 05-2 tức ngày 14 tháng giêng tại hội trường Thống Nhất- 135 NKKN Q3) sẽ được nhận báo biếu 1 người / 1 đặc san Xuân. Ngoài việc làm quà biếu và gửi cho Tỉnh, số còn lại sẽ được giải quyết (giá nội bộ) khi có yêu cầu của bà con ĐHBĐ
Vì số lượng có hạn, nếu có nhu cầu xin liên hệ sớm:
Ông Lê Sa Long- UV Ban LL ĐH BĐ tại TPHCM phụ trách truyền thông- TB tổ chức thực hiện “ NGƯỜI BÌNH ĐỊNH”
qua đt 0903 302 328- mail: lesalonghsvn@gmail.com hoặc phocuoisaigonvn@gmail.com

Nhân dịp Tết đến, Xuân về, Đặc san “Người Bình Định” xin gửi đến bà con Bình Định và bạn đọc lời cầu chúc VẠN SỰ NHƯ Ý !
CHÚC BẠN ĐỌC MỘT NĂM MỚI VẠN SỰ NHƯ Ý!
ĐS NGƯỜI BÌNH ĐỊNH

Read Full Post »

Huế và em

Nguyên Hùng

Em đưa anh về thăm Huế mới
Thăm lại Phú Xuân, Thuận Hóa một thời
Trời Ngự Bình xanh cao vời vợi
Nước sông Hương êm ả lững lờ trôi.

Thăm Đại Nội thử làm vua chốc lát
Để cả đời thư thái phận thường dân
Rời đỉnh phù du, vui niềm vui thường nhật
Được nói cười thỏa thích giữa người thân.

Đi thuyền rồng trên sông đêm nghe hát
Ta ngược dòng về khúc Nam Ai
Cầu Trường Tiền vắt ngang làm khung nhạc
Mỗi bóng người qua – một nốt nhạc ngân dài.

Ta bên nhau suốt chiều dài đất nước
Để Xuân nay dừng chiêm ngưỡng Huế xưa
Thắp nén nhang viếng tiền nhân thuở trước
Hỏi Huế bây giờ đã trẻ lại chưa?

Em đưa anh về thăm chốn cũ
Tìm lại tuổi xanh áo trắng phượng hồng
Em và Huế đang ngược thời thiếu nữ
Anh xin làm bến đợi phía cuối sông.

10-2011,

Read Full Post »

 

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm)

Tôi nhớ hồi tuổi mình còn thơ, tôi vẫn trông cho mau tới Tết để được hưởng nhiều thú vui, trong đó có thú vui được xem tranh Tết. Những bộ tranh Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận, Phù Đỗng Thiên Vương phi ngựa sắt diệt giặc Ân, Bà Triệu cưỡi voi bành vàng ra trận, Trần Quốc Toản tuyển quân, tập trận sẵn sàng đánh đuổi quân Nguyên… rất phù hợp với tuổi tâm sinh lý, trí tưởng tượng của tuổi thơ. Sau này lớn lên trong vùng quê Phủ An, tôi hiểu ra rằng, ở đây người ta có cái thú treo tranh Tết, như thú dán câu đối Tết, làm thơ khai bút đầu Xuân.

Những bộ tranh Tết dễ gặp nhất hồi cách đây mấy mươi năm là tranh tứ bình (mỗi bộ có bốn tấm đăng đối) vẽ tứ thời hoặc tứ dân, kế đó là những tranh vẽ theo tiểu thuyết Tàu, theo truyện cổ dân gian Việt Nam…
Tranh “tứ thời” thì vẽ mùa Xuân – hoa mai nở, mùa Hạ – cây tùng xanh đậm (hoặc cây lan xanh mượt) mùa Thu –  hoa hoàng cúc, mùa Đông – khóm tre (tức Mai –  Tùng – (hoặc Lan) – Cúc – Trúc). Cũng có khi vẽ  Đào – Hà – Cúc – Mai. Vì hoa sen (Hà) nở về mùa Hè; hoa mai nở sớm vào tiết trời Đông giá, để cho người ta còn gọi là Hàn mai.
Nhưng cũng thật linh động, vì có những bộ tứ thời vừa vẽ cảnh vừa vẽ vật. Những con vật thêm vào thường là con hươu sao, chim họa mi, trĩ, sẻ,  yến, vịt, gà trống, bướm… Chúng đậu trên cành cây (cảnh), thường đủ đôi trông vẻ tình tứ (trông vẻ tình tứ như những người yêu nhau hoặc cả một đàn ríu ran.
Người ta còn có thể gặp những bộ tứ thời lấy biểu trưng khác: Mai – Hạc – Dung – Trĩ  hoặc Cúc – Phượng – Tùng – Công, tức không theo ước lệ sẵn có mà thực tùy hứng.
Tôi còn nhớ một bộ tứ bình đã gặp được ở nhà từ đường một họ lớn ở làng Thuận Thái, xã Nhơn An (An Nhơn – Bình Định). Bộ ấy vẽ: Mùa Xuân cây hoa cúc và con chim yến – mùa Hạ bụi chuối và con voi – mùa Thu hoa sen và đôi cua – mùa Đông cành mai và con họa mi.
Mỗi lần được xem một bộ tranh tứ thời, tôi không làm sao khỏi liên hệ đến những bài thơ vịnh tứ thời được yêu thích. Bốn bài thơ thất ngôn tứ tuyệt vịnh tứ thời của nữ sĩ Ngô Chi Lan (thời Vua Lê Thánh Tông) là bốn bức tranh cảnh vật bốn mùa được thu nhỏ lại, đặt bên cạnh nhau một cách đăng đối. Và đây, bài  Xuân từ: “Sơ tình huân nhân thiên tự túy / Diễm dương lâu đài phủ noãn khí / Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa / Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp si” được Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch: “Hun người nắng mới như say / Lâu đài ấm áp nhuộm đầy dương quang / Cách rèm liễu biếc oanh vàng / Quanh hiên cái bướm mơ màng trong hoa”, thực là một bức tranh Xuân nhỏ mà đủ cảnh đủ tình để cho người xem lấy làm thích thú lắm.
Tranh “tứ dân” không được phong phú bằng tranh đề tài “tứ thời”, nhưng khá linh hoạt: Bộ tranh “Ngư – Tiều – Canh – Độc” này thì vẽ cảnh một người ngồi thạch bàn câu cá, một tiều phu trẻ gánh củi trên vai, một nông dân đứng bên cạnh con trâu, một thầy đồ đang giảng sách cho học trò; nhưng bộ kia lại vẽ cảnh một lão ngư trên chiếc thuyền dăng câu, một lão tiều gánh củi về, một nông dân với con trâu đang cày ruộng, một anh học trò đang đọc sách.
Bộ tứ bình được coi là qúy khi dưới mỗi cảnh có đề thơ vịnh, đó là tranh “nhất thi nhất họa”, thi họa đi đôi với nhau đã khá quen thuộc. Ngoài ra, còn có thể có tranh đề tài “tứ nghiệp”: Cầm – Kỳ – Thi – Họa (hay Cầm – Kỳ – Thi – Tửu), rất ít gặp.
Những tranh tứ bình, phần nhiều được in màu, do Nhà Tín Đức Thư Xã ở Chợ Lớn – Sài Gòn xuất bản; nhưng cũng có những tranh thủy mặc nhập từ Trung Quốc. Mỗi lần Tết đến, tôi vẫn được theo ba, má đi chúc Tết, đi mừng tuổi, được bạn học ở trường Phủ An mời đến nhà chơi. Nhờ đó, tôi đã tới nhà ông Cử Nhì, ông Tú Kép, ông Đốc Lãng, ông Huấn đạo Nghĩa…. Nhờ đó, tôi biết, tranh tứ bình là thú chơi của người phong lưu, tao nhã.

Tranh tiểu thuyết Tàu lấy đề tài trong tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, một loại tiểu thuyết hấp dẫn đối với đại chúng. Mỗi bộ tranh có 4 tấm, mỗi tấm 3 ô bằng nhau, tổng cộng thành 12 ô, tóm tắt từ đầu đến cuối truyện. Ở vùng Phủ An rất dễ gặp những bộ tranh Tam Quốc diễn nghĩa, Tây Du ký, Thủy Hử… Kế đó là tranh vẽ theo truyện cổ dân gian, truyện thơ Việt Nam: Quan Âm – Thị Kính, Thạch Sanh, Phan Trần, Lục Vân Tiên, Mục Kiền Liên…Bên cạnh, còn có những bộ tranh vẽ đề tài lịch sử nước nhà: tranh Trưng Nữ Vương đánh quân Nam Hán, An Dương Vương – Mỵ Châu – Trọng Thủy, Lý Thường Kiệt đánh đuổi giặc Tống …
Các loại tranh từ tiểu thuyết Tàu trở xuống thường gặp ở các nhà bình dân. Tranh in màu lòe loẹt trên nền giấy trắng.

Tranh Đông Hồ sản xuất ở làng Hồ – Hà Bắc. Những bức thường gặp là Đám cưới chuột, Thầy Đồ cóc, Hứng dừa, Đánh ghen, Kéo co, Đánh vật… vừa khôi hài vừa có ý nghĩa ngụ ngôn, khiến người xem tranh có mối xúc cảm và không khỏi liên hệ mà ngâm ngợi: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong /Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm). Tiếng là tranh dân gian nhưng không phổ biến ở quê tôi, nó có mặt ở nhà có học thức, giới yêu nghệ thuật truyền thống.

Tranh độc bản chỉ có một tấm duy nhất. Những bức Chim ó đậu trên mỏm đá cao, Chim sẻ đậu cành trúc (trúc –  tước), Lã Vọng ngồi câu cá bên bờ sông Vị Thủy…là những bức có thể gặp. Những tranh đó, có tấm sơn mài, tấm in trên giấy với màu sắc tươi đẹp, nghe nói có nguồn gốc từ Trung Quốc nhập sang. Nhà treo tranh này, chủ nhân chắc là người có tâm chí, hoài bão gì đó muốn mượn tranh nói hộ thay mình.

Tranh thư pháp lấy nghệ thuật viết chữ trên nền giấy trắng hoặc trên nền lụa đào mềm mại để làm thú thưởng ngoạn. Tranh thư pháp ta thường gặp là những tấm viết chữ Phật, chữ Tâm (thường kèm theo câu Tâm tự lưu thủy). Nghệ thuật viết đại tự những chữ Phước, Thọ, Càn Khôn, Thái Sơn… như “phượng múa rồng bay” trên nền giấy bồi trắng hoặc đỏ đậm để thờ Gia tiên cũng thường có mặt trong dịp Tết. Những ông đồ nghèo có hoa tay viết những chữ này đem ra chợ Tết bán. Tới thời Nho học suy tàn (đầu thế kỷ XX), nghề viết đại tự cũng suy tàn theo, người thưởng thức, người thuê mướn đều không còn. Hình ảnh ông đồ ngồi viết bức (tấm thờ) ở “bên phố đông người qua” đã “xuống cấp” lắm và đã được nhà thơ Vũ Đình Liên khắc họa một cách đáng thương: “Ông đồ vẫn ngồi đấy / Qua đường không ai hay / Lá vàng rơi trên giấy / Ngoài trời mưa bụi bay”.

Tranh bích họa là tranh vẽ trên tường nhà. Hồi cách đây mấy mươi năm, trong các vùng quê Bình Định có những nghệ nhân làm nghề vẽ dạo. Cứ đến khoảng đầu tháng Chạp Âm lịch, không biết từ đâu, nghệ nhân đeo khăn gói vào các làng, tìm nơi vẽ dạo lấy tiền. Nhiều nhà giàu giữ nghệ nhân ở lại trong nhà mình vài ba hôm để vẽ tranh. Nghệ nhân vẽ những bức tranh trên tường vôi trắng mới quét (để đón Tết). Tranh vẽ bát tiên hay cảnh tứ thời, tứ dân bằng mực Tàu đen nhánh và son đỏ tươi. Những bức tranh tường đó được quen gọi là những tấm “bích họa”. Nhà chùa cũng hay mời nghệ nhân về chùa vẽ các sự tích Phật Thích Ca: thường là sự tích Thái tử Tất Đạt Đa xuất gia, Phật thành Đạo và thuyết pháp ở vườn Lâm Tỳ Ni…

Tranh thêu trên lụa, nĩ thường thêu mãnh hổ, kỳ lân… Có những tấm to đến 1m x 1m, treo lên trông như “chúa tể sơn lâm” thật, muốn nhảy ra vồ người xem. Tranh thì ghê thế mà chẳng biết chủ nhân có gởi gắm điều gì không? Ở Đập Đá có gia đình ông Tư Hồng làm nghề thêu tranh truyền đến ông là đời thứ 4. Thời nay, nghề thêu máy đã thay cho nghề thêu thủ công.
Màn, sáo tuy có chức năng che chắn… nhưng đó cũng là những bức tranh đẹp. Màn đan bằng nan tre thật mảnh (không lớn hơn que tăm mấy), nhuộm màu; sáo luồn bằng những ống trúc nhỏ bằng chiếc đũa, dài ngắn khác nhau chừng vài ba phân, nhuộm màu, được sắp xếp tạo thành những bức tranh với đủ hoa văn, họa tiết. Sáo cũng là một loại màn, nhưng gọi “sáo”, vì khi gặp gió, các ống trúc rung lên thành tiếng vi vu lừng giai điệu, giống như tiếng con chim sáo nghệ huýt gió. Tranh, bức treo trong nhà; màn, sáo treo ngoài hiên, hành lang dọc nhà. Tranh trên màn, sáo thường là cảnh chùa Một Cột, nông dân cày đồng, lão ngư bơi thuyền câu cá, bụi trúc, cành mai, cô gái mặt đẹp như trăng rằm, đầu đội nón bài thơ… Màn, sáo do thợ thủ công trong vùng An Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước … làm, rồi đem ra bày bán ở chợ Phủ, các chợ quê. Màn, sáo thường “đi” với nhà lá mái, nhà lợp ngói Tây, cửa pa – nô lá sách cho hợp. Nay, nghề màn sáo gần như đã thất truyền.

Hàng tranh bán khá chạy trong các phiên chợ Tết; nói chi chợ Phủ, đến chợ quê cũng bán được tranh như thường. Trên đường làng trong mấy ngày Tết, người ta dễ gặp những tốp đàn ông cắp trên tay chai rượu trắng ngần, gói trà Tàu, vài bộ tranh Tết, vài tấm bức thờ …đủng đỉnh về chợ. Họ vừa đi vừa nói chuyện, có vẻ hài lòng lắm, vì đầu óc họ đang tưởng tượng ra cảnh nhà mình đã được quét dọn lau chùi sạch sẽ rồi, đã trồng xong cây nêu, chưng chậu hoa, dán câu đối, nay lại treo thêm tranh Tết, tấm bức thờ …chắc chắn phải sáng rỡ lên, sẽ làm cho không khí đón Tết tươi vui hẳn lên.

Tết nhứt thời bây giờ, người ta lo mua sắm đồ ăn thức uống, ít ai có ý tưởng mua tranh, nếu có ai nhớ đến tranh thì tự an ủi, đã có tranh trên tờ lịch thay thế. Mấy ông chủ quán trà cung đình ở thành phố Quy Nhơn ra thành phố cổ Hội An mua tranh thư pháp, tranh thủy mặc về treo. Ai dám chắc, các vị đó vị nghệ thuật hay vị kinh doanh? Đi chúc Tết năm ngoái, tôi có dịp được thưởng lãm tranh đại cảnh ở nhà một vài đại gia: Tranh “Vạn lý trường thành”, tranh bầy ngựa của Từ Bi Hồng… Bộ nào cũng 4 tấm to, treo choán hết những mảng tường rộng.

H. K. B

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »