Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2012

Võ sư Diệp Lệ Bích (53 tuổi), Chưởng môn Bình Thái Đạo, quê ở huyện An Nhơn, hiện sống ở Northampton – Vương quốc Anh. Để góp phần khôi phục, phát triển và quảng bá Bình Thái Đạo, võ sư Diệp Lệ Bích đã tận dụng những tiện ích của Internet để dạy võ qua mạng. Hiện nay, bà còn ấp ủ dự định kinh doanh những sản phẩm đặc sản của Bình Định nói riêng và Việt Nam nói chung với mong ước giới thiệu những tinh hoa ẩm thực và tài năng của người Việt ra thế giới.

 
Võ sư Diệp Lệ Bích (người đứng thứ 7 từ trái qua) và các võ sinh tại Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền lần 3 tổ chức tại TP Quy Nhơn vào tháng 8.2010.

 

Từ dạy võ trực tuyến…

Với sự phát triển không ngừng của Internet, phương pháp dạy và học trực tuyến đã không còn xa lạ. Tuy nhiên, việc lựa chọn hình thức này để dạy và truyền bá võ còn khá mới mẻ. Từ năm 1998 đến nay, bên cạnh việc khôi phục và mở các trường dạy võ Bình Thái Đạo ở trong và ngoài nước, võ sư Diệp Lệ Bích đã tiến hành dạy võ qua mạng. Hình thức này đã góp phần không nhỏ vào việc truyền bá những tinh hoa của Bình Thái Đạo và giúp cho những người yêu mến môn võ này ở khắp thế giới dễ dàng tiếp cận hơn.

Võ sư Diệp Lệ Bích tâm sự: “Bình Thái Đạo vừa có những đòn thế uyển chuyển, mềm dẻo, linh hoạt vừa đòi hỏi người sử dụng phải có công lực, biết cách phát lực, di chuyển, tấn công nhanh nhẹn… Vì vậy, càng ngày càng có nhiều người không chỉ ở Việt Nam mà khắp nơi trên thế giới, khi gặp gỡ tôi qua mạng đã tâm sự rằng họ muốn học Bình Thái Đạo nhưng không có điều kiện. Xuất phát từ thực tế ấy, từ năm 2007, tôi bắt đầu thu nhận đệ tử trên mạng và đào tạo trực tiếp, nói chuyện, giảng bài, hướng dẫn cách thức tập luyện và dạy võ qua hệ thống webcam. Chúng ta phải tận dụng mọi phương tiện để đẩy mạnh việc truyền bá cho võ cổ truyền dân tộc!”.

Không giống như những môn học chỉ mang tính lý thuyết, đối với môn võ, người học cần phải được trực tiếp hướng dẫn. Để khắc phục điều này, võ sư Diệp Lệ Bích đã tận dụng tối đa những tiện ích của công nghệ để truyền tải đến người học từ những hình ảnh cơ bản đến thực hành. Từ trực tiếp giảng bài, “minh họa” cụ thể các thế võ, đến đưa những clip mẫu, chỉ dẫn qua hệ thống loa… để người học cảm thụ và làm theo.

Với hình thức dạy võ độc đáo này, Bình Thái Đạo đã dần dần “lan tỏa” rộng khắp. Hiện nay, võ sinh của Bình Thái Đạo lên đến hơn 2.000 người và không ngừng tăng lên trong thời gian gần đây, trong đó có rất nhiều võ sinh là người nước ngoài.

…đến quảng bá đặc sản Việt Nam

Không chỉ tâm huyết với việc mở rộng mức độ phủ sóng võ Bình Định, võ sư Diệp Lệ Bích cũng ấp ủ kế hoạch quảng bá nhiều đặc sản Việt Nam với mong muốn “giới thiệu tài năng và sự khéo léo của người Việt” đến với bạn bè quốc tế.

Những lần trở về Việt Nam, đến đâu, võ sư cũng tìm hiểu và khám phá những đặc sản độc đáo. Những sản phẩm được làm bằng tay thể hiện sự tài năng và khéo léo của người Việt như: tranh cát, tranh gạo, tranh bút lửa, áo dài thêu, nón ngựa, tranh sơn mài, tranh thêu tay; hay những đặc sản Việt dân dã: rượu Bàu Đá, bánh tráng, nước mắm, bánh xèo, bún Song Thằn, phở… chị tìm mọi cách để giới thiệu với bạn bè nước ngoài những thức ngon vật lạ ấy.

Võ sư Bích cho biết: “Sống ở nước ngoài lâu năm, tôi biết, người nước ngoài rất thích những gì được làm từ tự nhiên hoặc được làm bằng tay, bằng sự sáng tạo thật sự không qua máy móc hay sản xuất hàng loạt. Mà đối với người Việt mình thì có rất nhiều sản phẩm được làm thủ công rất đẹp và sáng tạo. Tôi đang lựa chọn những sản phẩm mang đặc trưng của vùng miền và độc đáo nhất để sắp tới, sẽ xây dựng một website nhằm giới thiệu các sản phẩm này. Bên cạnh việc xây dựng website, sang năm mới, tôi sẽ mở một tiệm ăn giới thiệu các món ăn của Việt Nam như: bánh xèo, phở… Tôi muốn toàn thế giới có thêm những cảm nhận tốt đẹp về tài năng của người Việt qua những sản phẩm làm bằng tay độc đáo, sáng tạo, và biết thêm về Việt Nam qua những món ngon từ dân dã đến đặc sản”.

  • Mai Hồng

Read Full Post »

Tết không về nơi xóm trọ

Hà Thanh
.
Tết không về nơi xóm trọ
Hắt hiu mấy mảnh đời buồn
Những đời hàng rong, vé số
Tết về càng nhọc nhằn hơn.
.
Tết không về ông hành khất
Thân phận què quắt lết lê
Sống nhờ cơm thừa thiên hạ
Mơ gì xuân về ngoài kia
.
Mơ gì thằng bé mì gõ
Lóc cóc tiếng rao đêm buồn
Mòn chân phố nghèo xóm vắng
Vai gầy ướt đầm hơi sương.
.
Mơ gì ơi cô gái nhỏ
Tăng ca không đủ tiền nhà
Đồng lương nhỏ nhoi còm cõi
Bao năm không về thăm cha.
.
Có người sống đời xóm trọ
Oằn vai gánh nặng nợ nần
Mười năm tha hương lưu lạc
Mơ gì sum họp ngày xuân
.
Có người nghèo không biết tết
Câu thơ từ xưa vọng về
Có người thầm rơi nước mắt
Chợt nghe cõi lòng tái tê
.
Mùa xuân đã về đầu ngõ
Có người cúi mặt thở dài
Ứng đồng lương còm ăn tết
Lấy gì qua được giêng hai
.
Hai ba cúng đưa ông táo
Nhà ai thoang thoảng hương trầm
Có người thì thầm khẽ nhắc
Mới thôi đã trọn một năm


Read Full Post »

Tạp Bút
Mang Viên Long

Dường như từ khi bước qua khỏi tuổi 60, người ta thường có nhiều thời gian hơn cho những giờ phút “ ngồi mà nhớ lại “? Ngồi yên một mình trong vườn, hay bên hiên vắng vào buổi sớm mai mặt trời chưa  sáng rõ hay khi chiều tà còn vướng vất chút nắng hanh vàng góc cuối chân trời phía xa, để tỉnh giác mà nhớ lại bao chuyện dã qua trong ngày, trong đời – như một cái thú luôn hấp dẫn và mời gọi cho tuổi già?
Những ngày gần cuối năm – tôi thường thức dậy sớm hơn, cảm thấy lòng thư thái và bình lặng hơn khi ra ngồi ở chiếc ghế mây cũ dưới gốc cây hoa sữa bên hiên nhà. Nhín ngó trời đất êm ả một mầu  nắng rất mỏng, rất tươi của  mùa xuân đang khẻ khàng bước đến…để đón đợi một ngày mới! Phút giây lặng lẽ trải lòng cùng trời xanh, đất rông- và thiên nhiên hiền dịu tươi mát ấy đã cho tôi một ngày an vui với bao công việc cuối năm đang chờ đợi …
Có thể cái giá lạnh và ẩm ướt của những cơn mưa dầm, những ngày gió giật bão dông đang lùi xa, nhường lại cho cái nắng ấm, gió hiền của mừa xuân đang lướt đến đã làm cho lòng ta nhẹ bớt đi bao nỗi lo toan, bao điều trăn trở như bầu trời dổi thay trong trẻo và thênh thang trên cao kia chăng? Mùa xuân với cỏ cây hoa lá trổi dậy sức sống xanh tươi dường như cũng đã chuyễn hóa được bao tâm hồn u buồn, bao cảnh đời bất hạnh vươn lên một năng lực tiềm ẩn về một tương lai mới mẻ, an lành hơn cho đời mình!? Tôi chợt nhớ câu thơ của Tống Anh Nghị đã ám ảnh tôi từ nhiều năm nay – nhất là mỗi khi xuân về: “  Mỗi lần xuân, đời tôi – tôi lại bắt đầu…” . Mỗi lần hết năm cũ- mỗi lần  sang xuân mới – cũng chính là mỗi lần tâm hôn ta bước sang một trang đời khác với bao ước mơ & hy vọng? Tâm hồn ta như cũng nảy mầm, trổ nụ cùng với sự đổi thay mầu nhiệm của đát trời ? Có lẽ nhà thơ đã “ bắt gặp “ ý tưởng ấy khi “ ngồi mà nhớ lại”  vào mỗi lúc xuân về?
Dù cho sống trong bất cứ  hoàn cảnh riêng lẻ nào, sa chân lỡ bước vào tình huống bi đát nảo – thì mùa xuân bao giờ cũng an nhiên và công bình mang lại cho tất cả lóng khát khao thương yêu, nỗi mong chờ hy vọng cho tháng ngày dài sắp trôi qua đời mình tựa đôi bàn tay mầu nhiệm của Mẹ hiền xoa dịu bớt những vết thương đau. Bởi vậy – mùa xuân còn là mùa thiêng liêng của những lời nguyện cầu, của khát vọng,  thương yêu dành cho tất cả!
Hơn 60 mùa xuân đã lướt qua đời mình – tôi chiêm nghiệm được rằng: “ Mùa xuân luôn thủy chung với những tấm lòng thành, luôn sẻ chia với bao cuộc đời trong sáng, và cũng mãi mãi là tia nắng ấm cho nỗi khát vọng vị tha dựng xây cuộc sống !”.  Tôi luôn tự nhủ: Hãy bắt đầu mùa xuân từ tâm hồn mình trước khi đón chờ mùa xuân của đất trời chuyễn đến…Và hãy ưu tiên dành thời gian cho Tình Thương Yêu, bởi đó chính là thời gian quý báu nhất của đời sống!
Tôi vẫn thường thức giấc vào khoảng 4 giờ sáng – thói quen nầy đã có từ lúc nào tôi không để ý, nhưng tôi không thể làm khác! Hôm nay, không biết sao – tôi lại thức dậy sớm hơn, bật chiếc điện thoại để ở đầu giường thấy mới chỉ được 2 giò 12.  Tôi nhớ đêm qua, tôi ngủ sớm hơn lệ thườg – một giấc ngủ quên bất chợt, cứ chìm dần vào giấc ngủ mê đến nổi chưa kịp móc mùng như thường đêm…Tôi chợt nhớ, từ ngày đất trời chuyễn tiết xuân – mùa xuân đã gọi tôi thức dây sớm chăng?
Nằm yên – cố dỗ thêm giấc ngủ, nhưng không thể được. Tôi vẫn thường dỗ giấc ngủ bằng thầm niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát miên mật, nhưng sáng nay – tôi lại tỉnh táo, không thể dễ dàng chợp mắt trở lại thêm chút nào?
Tôi quyết định xuống giường khi trời còn mập mờ ánh sáng – phía ngoài khung cửa sổ là một mầu xám  và lạnh lẽo. Hình như đang có sương mù…Tôi khẻ khàng xuống gác, mở cửa, bước ra hiên: Khu chợ phía trước nhập nhoạng bóng người, từng bóng người di chuyễn thầm lặng, và có trên 10 chiếc xe honda kềnh càng bao giỏ chất đầy, cao lêu nghêu phía sau, chờ rời khu chợ tản về các miền quê mang theo hàng hóa rau quả cho các phiên chợ cuối năm hối hả…
Ngồi vào chiếc ghế dựa bên hiên nhà, dưới gốc cây hoa sữa – trong nỗi yên bình trống vắng của tâm hồn và cảnh vật buổi sáng ngày vào xuân – tôi nhớ đến buổi sáng của ngày 27 tháng Chạp cách nay gần 60 năm…
Mấy ngày trước trời mưa bay bay, khu chợ trong cảnh chiến tranh hoang tàn xám xịt – một mầu trống vắng, hiu quạnh. Mực nước sông phía sau nhà tôi vẫn còn đầy, con nước lũ của mùa mưa bão vẫn cuồn cuộn suốt ngày đêm.  Khoảng hai giờ sáng ngày 27 tháng Chạp năm ấy ( 1952 ) – người giúp việc cho gia đình có nhiệm vụ chăm sóc riêng cho mẹ tôi nơi căn nhà nhỏ đưới phố đã đập cửa gọi anh tôi – báo tin : “ Cậu ơi! Mẹ cậu đã chết rồi! “.  Người anh cả của tôi mở tung cửa, vội vàng khoát tấm áo tơi lá kè, chỉ kịp quay lại nhìn hai chị em tôi đang từ trong bồ lúa đã leo ra đứng co ro bên cạnh – ấm  ức khóc : “ Má đã chết rồi! Hai đứa ở nhà ngủ đi! Trời lạnh, còn sớm lắm… “
Mấy ngày sau, hình như đúng vào sáng ngày Mồng Một Tết – tôi đã đọc được câu này trên vách tường nhà của anh tôi viết bằng than: “Kể từ 2 giờ sáng ngày 27 tháng Chạp âl 1952, tôi mãi mãi không còn thấy hình bóng mẹ tôi nữa! ”. Cũng như anh tôi – hai chị em tôi đã mất Mẹ từ năm ấy – năm chị tôi được 12 tuổi. còn  tôi vừa tròn 8 tuổi!
Cho đến buổi sáng hôm nay – ngày 27 tháng Chạp năm 2012 – tôi đã bước vào tuổi 68 – nghĩa là, tôi đã xa mẹ tôi gần 60 năm! Sáu mươi năm, hơn nửa thế kỷ – tôi đã phải sống không cha mẹ ( cha tôi đã chết khi tôi còn là một bào thai 6 tháng trong bụng mẹ ) – nhớ sao hết bao nỗi khổ đau, phiền lụy của một kiếp sống như một thân cây giữa khu rừng hoang cô tịch? Vậy mà tôi đã sống. Đã lớn lên. Bằng đôi chân & tâm hồn & trí tuệ của mình để không lãng phí một kiếp làm người khó khăn bao nỗi mới thành tựu!
Sáng nay – sau gần 60 năm, cũng nơi khu phố chợ này- cũng tại căn nhà cũ thuở xưa – trời không mưa bay, chí có sương mù nhẹ. Con phố rộng đang thức dậy – để bắt đầu một ngày vào xuân nhộn nhịp. Phía đông, ráng mây đỏ hồng, hứa hẹn một ngày nắng dẹp. Mùa Xuân hôm nay khác mùa Xuân 60 năm trước. Cảnh vật đã muôn vàn đổi thay – khác lạ, nhưng lòng tôi, vẫn một mầu buồn thương nhớ! Vẫn cô độc trong đời sỗng bất hạnh. Vẫn ngơ ngác trước cuộc truân chuyên của đời người, đời mình như cách nay gần 60 năm…
Tôi ngồi lặng yên nhớ Mẹ – nhưng tôi không còn giữ được chút gì của mẹ bên cạnh đời tôi: Chưa được một lần hôn lên đôi má của mẹ để có thể nhớ ( dầu ngày nào bà cũng cho gọi tôi vào hôn lên trán bà), chưa được một lần cầm lấy tay mẹ âu yếm để nhìn ngắm, cho đến chưa nói được cùng mẹ một lời nào thốt lên tự đáy lòng thương yêu của mình! ( cho dầu từ khi biết nói mẹ đã tập cho nói nhiều câu…). Tôi chưa làm được chút gì cho mẹ, ngoài nhận của mẹ bao biết bao tình thương yêu, sự chăm sóc, và nuông chiều hết mực dành cho đứa con trai út xấu số!
Mẹ có thể ngờ rằng, gần 60 năm sau ngày mẹ đã đi xa – đứa con 8 tuổi ngày nào chỉ biết rong chơi – bây giờ đã trưởng thành. Là cha của bồn đứa con đã tốt nghiệp đại hoc và chúng đang sống có ích.  Là ông ngoại của 5 dúa cháu. sắp sửa được làm  ông nội… Đang ngồi đón xuân – nhớ mẹ mà không cầm được những giọt nước mắt thương nhớ ngậm ngùi?
Một ngày xuân mới đang đến kia rồi – mặt trời đã bắt đầu rực rỡ ráng mây sắc hồng phía đông. Tôi đốt thêm một điếu thuốc, và mỉm cười, đứng dậy…

Những Ngày Vào Xuân Nhâm Thìn

Read Full Post »

Theo quan niệm phương Đông, chuyện xông đất, xuất hành đầu năm mới ảnh hưởng đến vận mệnh gia chủ cả năm. Vì vậy, lựa chọn người xông đất, hướng xuất hành đầu năm cũng là mong một năm may mắn.

Sáng mồng Một đầu năm hết sức quan trọng, người nào cũng giữ gìn từ lời ăn tiếng nói cho đến việc đi đứng, thăm hỏi lẫn nhau. Họ mong mỏi buổi sáng đầu năm có người ăn ở hiền lành, làm ăn phát đạt, tính tình vui vẻ… bước chân vào nhà trước nhất.

Đó là tục xông nhà, xông đất, có nơi gọi là đạp đất. Thời gian xông nhà tốt nhất vào buổi sáng mồng Một Tết. Người đi xông đất, ngoài những lời cầu chúc tốt đẹp dành cho gia chủ còn phải ăn mặc thật đẹp và mang theo một chút quà Tết.

Quà ở đây không nhất thiết là quý giá, nhiều hay ít, mà chỉ có tính cách tượng trưng và phụ thuộc vào mức độ quen biết gia chủ thân hay sơ. Nó có thể là một chai rượu Tết, một gói trà ngon, một chiếc bánh chưng hay một phong bánh ngọt.

Xông đất xong còn mừng tiền, chủ yếu là cho trẻ con gia chủ. Sau đó chủ nhà cũng hoan hỉ chúc tụng lại vị khách xông nhà và thết đãi một vài món ăn hay thức uống.

Chuyện ăn uống này cũng chỉ mang tính tượng trưng cho có lệ, như ăn vài miếng bánh, miếng mứt, uống một ly rượu hay chén trà. Nhà nào đã có người đến xông đất rồi thì việc tiếp khách trong ngày mồng một Tết không có ảnh hưởng gì đến gia chủ kể cả người tốt vía lẫn xấu vía.

Ngoài việc sửa soạn một mâm cúng giao thừa, trong tập quán của rất nhiều gia đình, người ta hay tìm người để xông đất. Những kiến thức mang tính tri thức được vận dụng để chọn thêm, đó là tuổi của tam hợp cục như: Dần – Ngọ – Tuất (Hỏa cục); Thân – Tý – Thìn (Thủy cục); Tỵ – Dậu – Sửu (Kim cục); Hợi – Mão – Mùi (Mộc cục) để chọn tuổi người đó vào năm mới.

Đó là tuổi của Sinh – Khắc – Chế – Hóa mà Sinh được chọn. Và, đó là tuổi mà mệnh của người đó cùng với năm mới là tương sinh theo lục thập hoa giáp.

Vậy năm Nhâm Thìn chọn tuổi nào xông đất?

Năm nay thuộc về hành Thủy lại có Thìn thổ của Thập nhị địa chi. Thân thuộc hành kim, lại cùng thuộc Thủy cục, ta có Thổ sinh Kim rồi. Lại chọn người tuổi Giáp Thân có mệnh thuộc hành Thủy, thế là người xông đất và năm mới cùng một hành (Người sinh năm 1944). Đây là tuổi hợp để xông đất.

Nhà nào đã có người đến xông đất rồi thì việc tiếp khách trong ngày mồng một Tết không có ảnh hưởng gì đến gia chủ kể cả người tốt vía lẫn xấu vía

Một tuổi nữa cũng tốt là tuổi giáp Tý vì Tý, Thìn đều cùng thuộc Thủy cục, Giáp Tý thuộc hành Kim vậy người có tuổi Giáp Tý (Kim) cùng năm mới (Thủy) cùng tương sinh với nhau.

Các tuổi hợp khác là Canh Thân, Mậu Thìn, Bính Tý cũng là những lựa chọn tốt. Điều tốt xấu luôn được chiêm nghiệm qua cả 1 năm sắp tới. Vậy ta chuẩn bị tốt và hài lòng về con người ta chọn thì bước vào năm mới đã có sẵn một niềm tin an lành.

Đầu năm qua đêm giao thừa đến ngày mùng 1 Tết, mọi người đều ra đường để hưởng cái xuân khí đầu năm, để gặp nhau chúc tụng những lời chân thành may mắn. Người xưa gọi là xuất hành đầu năm.

Xuất hành đầu năm để tìm tài thần, hỷ thần là những yếu tố tạo cho cuộc sống thêm tươi đep khi kinh doanh thu được tài lộc, niềm vui đến ngày ngày.

Ngày mùng Một năm nay là ngày Quý Mùi thì ta sẽ chọn hướng Nam và Đông Nam, tính từ nhà mình ra để đi. Đường làng lối xóm đã ấn định, phố xã, ngõ ngách cũng có sẵn khi xuất hành ta đi theo hướng như trên, nếu gần mà chưa được hướng thì thêm một đoạn nữa, miễn sao là nhập được đúng hướng trong lần xuất hành đầu tiên.

Giờ xuất hành :

Theo Xuất hành Bảo kinh của Trung Hoa, đầu năm gặp ngày Quý Mùi là ngày Hàn Tín dẫn quân lên điện, khuyên nên xuất hành giờ Mùi, giờ Ngọ sẽ gặp nhiều việc mừng vui. Theo Hiệp Kỷ biện phương thư thì các giờ Dần Mão và Tỵ là giờ Tốt cho việc xuất hành, Theo cách tính giờ Hoàng Đạo thì trong ngày vẫn còn giờ Thân tốt.

Tóm lại những giờ Tốt trong ngày có thể xuất hành :

Giờ Dần : 3 đến 5 giờ sáng. Giờ Mão : 5 đến 7 giờ sáng.

Giờ Tỵ : 9 đến 11 giờ sáng. Giờ Ngọ : 11 đến 1 giờ chiều.

Giờ Mùi : 1 đến 3 giờ chiều. Giờ Thân : 3 đến 5 giờ chiều.

Như vậy, suốt sáng cho tới chiều, ngày đầu năm xuất hành hái lộc chỉ nên tránh giờ Thìn là 7 đến 9 giờ sáng mà thôi.

Read Full Post »

Tiễn H…

NGUYỄN NHƯ TUẤN


Nâng ly, hề nâng ly
Đời ta như quán trọ
Chợt đến rồi chợt đi
Lẽ thường tình trời đất
Bóng tà huy trăm năm
.
Bạn mời, hề nâng ly
Hành hương về cố quận
Thoảng mơ bay dại ngàn
Xa xanh là vô hạn
Trời rộng bóng đường quan
.
Bạn đi xa, ừ nhỉ
Đời lảng mạn cuộc chơi
Áo giang hồ rũ rợi
Phơi ở cuối chân trời
Mảnh buồn rơi quăn thắt
Cố hương! Hề cố hương
Đời ta – ly rượu đắng
Nhấm tím chiều cô thôn
Hồn thả lung linh khói
Mờ mịt đến đoạn trường..

NNT

Read Full Post »

Con ngựa già của cha tôi

Nam Thi


HỞI là tên con ngựa già của cha tôi. Đó là con ngựa duy nhất mà tôi đã cỡi trong đời. Tôi chỉ nhớ tên nó, ngoài ra không biết gì về hình dung, vóc dáng của nó. Nghe mọi người nói lại, nó là một con ngựa hồng vì có màu lông nâu đỏ. Có lẽ, trong ngôn ngữ Việt Nam hiện đại, cách gọi khác nhau dựa trên màu lông của ngựa, của mèo, của gà, của chó…ít người còn phân biệt được, chẳng hạn ngựa có lông trắng gọi là ngựa “kim”, có lông đen là ngựa “ô” và con Hởi nhà tôi là ngựa “hồng”.

Tôi không nhớ gì về con Hởi không phải do tôi vô tình hay vì trí nhớ kém. Tôi với nó từng chung sống dưới một mái nhà của cha tôi cách nay đã hơn nửa thế kỷ rồi còn gì. Vả lại, lúc Hởi rời bỏ gia đình tôi để đi xa, tôi mới khoảng hai tháng tuổi.

Tôi là con trai duy nhất trong gia đình nên đã tập tành lễ nghi cúng quải ông bà, cha mẹ từ lúc tôi còn học tiểu học. Khi mẹ tôi qua đời, tôi đã trở thành người chủ tế. Đó là một nhiệm vụ vừa thiêng liêng vừa khó khăn đối với một đứa trẻ lên mười. Theo lệ có từ khi mẹ tôi còn sống, ngày giỗ cha tôi bao giờ cũng có một mâm cơm đặt bên cạnh bàn thờ cha tôi để cúng chú Trị và con Hởi. Sau khi khấn lạy cha tôi, tôi sang thắp hương lạy cái bàn thờ phụ ấy, lâm râm khấn chú Trị và con Hởi “sống khôn thác thiêng…”.

Người và ngựa không thể nào xếp chung một mâm được nhưng biết làm sao được vì con Hởi và chú Trị là bạn chí cốt của ba tôi trong những năm cuối đời, cả hai cùng đi với nhau một chuyến cuối cùng và cùng chết một lần. Và chắc chắn ngoài gia đình tôi, không còn ai trên đời cúng giỗ họ. Con Hởi là giống ngựa không được ai cúng giỗ đã đành, còn chú Trị lại là một con người đáng được gọi là sống khôn thác thiêng. Đó là những suy xét, đánh giá của tôi về họ khi tôi đã trưởng thành. Lúc còn bé có lần tôi đã mang một nắm cỏ tươi và một chén cám đặt lên mâm để cúng con Hởi vì tôi cho rằng cơm, cá, thịt và rượu chỉ dành cho chú Trị. Bởi lúc ấy tôi còn giản đơn phân biệt giữa người và ngựa, sau này tôi mới nhận ra những đức tính chung của “họ” là sự trung thành và thương yêu mà cả hai đã dành cho nhau và cho cha tôi. Chính vì thế họ trở thành bình đẳng trong lòng tôi.

Sau gần chín năm bị thực dân Pháp đày đi Lao Bảo, ba tôi bị chỉ định cư trú ở quâ nhà vào giữa những năm ba mươi của thế kỷ trước – thời đó người ta gọi là “an trí”, có nghĩa là hạn chế đi lại, tiếp xúc, làm việc. Cha tôi không thể trở lại Sài Gòn để viết báo, đành phải xin ông nội tôi ít vốn liếng để vào tận Rộc Trịnh, một vùng núi sâu hiểm trở Bắc Tây Sơn, để khai thác dầu rái lấy từ cây họ dầu mọc tự nhiên thành rừng nguyên sinh. Thời đó dầu rái có nhiều công dụng: có thể dùng để trét thuyền nan và đốt đèn. Trong thời kháng chiến chống Pháp ở quê tôi tuyệt không có dầu lửa, còn dầu phụng không có để ăn thì lấy đâu ra để thắp đèn. Người ta lấy lá cọ cuốn dầu rái thành từng cây to bằng cổ tay người lớn, dài khoảng hai gang tay để đốt. Người ta quen gọi là “đèn chai” nhưng với kích thước đó thì gọi bằng đuốc cũng được. Bình thường, chỉ có nhà nghèo mới thắp loại đèn này vì nhà khá giả đã có đèn dầu lửa, dầu phụng. Cho nên, mới có câu tục ngữ mô tả thân phận kẻ cùng đinh làm thuê, ở đợ: “ ăn cơm nguội, ngủ nhà ngoài, thắp đèn chai, đánh cờ chó”.

Trong hoàn cảnh “anh hùng mạt vận” ấy, con Hởi và chú Trị đã cùng cha tôi trèo đèo lội suối, ngày đêm có nhau. Chú Trị là một nông dân Nghệ An cùng ở tù chung với cha tôi ở Lao Bảo. Chú không có gia đình vợ con, tứ cố vô thân, nên đã hẹn với cha tôi khi nào ra tù thì tìm vào Tây Sơn sống với gia đình tôi. Chú trẻ hơn cha tôi, lại là nông dân khỏe mạnh nên gánh vác mọi công việc nặng nhọc của gia đình tôi. Chú lại giỏi dạy ngựa nên đã huấn luyện con Hởi từ khi nó mới được mua về. Sau này, tôi nghe kể lại rằng Hởi có thể tự ra gò trước nhà ăn cỏ, khi nghe chú Trị hoặc cha tôi huýt sáo là nó tự về chuồng. Nhiều lần đi đường xa, cha tôi hay chú Trị ngủ quên trên mình ngựa do quá mỏi mệt, con Hởi vẫn đưa họ về tới nhà an toàn. Có thể người ta đã thêu dệt thêm cho ly kỳ nhưng chắc chắn Hởi là một con ngựa quý được chú Trị huấn luyện thuần thục.

Cách mạng Tháng Tám thành công, cha tôi và chú Trị thực sự được sổ lồng, bỏ hết công việc làm ăn để tham gia công tác ở địa phương. Sau khi ra tù cha tôi đã lập gia đình và đã có ba con gái, mãi đến năm 1947 mới “kiếm” được chút con trai “cầu tự” (là tôi). Với ông, mọi sự như thế là chu toàn: đất nước được độc lập, gia đình êm ấm. Cha tôi muốn gấy dựng cho chú Trị một mái ấm riêng, nhưng chú nhất quyết từ chối lấy bà cô họ của tôi do cha tôi mai mối vì chú không muốn “bận bịu thê nhi”.

Như mọi người đều biết, quân Pháp đã theo chân quân Anh-Ấn để chiếm lại Sài Gòn rồi lấn dần ra miền Trung và cao nguyên. Nhà tôi ở Tây Sơn cách Quy Nhơn hơn 40 km về hướng Tây, núi non hiểm trở, quốc lộ 19 là độc đạo đã bị đào đường, phá cầu nên quân Pháp không từ biển tiến lên được. Đôi lần bọn đóng đồn ở An Khê cố vượt đèo nống xuống đồng bằng nhưng đều bị chận đánh phải quay về. Vì vậy, suốt cuộc kháng chiến chống Pháp quê tôi luôn là vùng tự do. Chỉ có điều phiền phức là mỗi khi có tin quân Pháp hành quân lấn chiếm thì toàn dân phải bồng bế nhau tản cư sâu vào trong vùng núi Bắc sông Côn, thực hiện tiêu thổ, “vườn không nhà trống”.

Chính trong một lần tản cư đầu năm 1947, mẹ tôi mới sinh tôi, bà bế tôi ngồi trên ngựa do cha tôi dắt cùng với chú Trị gồng gánh lội bộ hơn 10 km từ xóm làng ở bờ sông Côn vào tạm trú ở lán trại khai thác dầu rái của cha tôi trong Rộc Trịnh. Đó là lần đầu tiên và duy nhất tôi được đi ngựa với mẹ tôi. Lúc đó tôi vừa đầy tháng.

Sau khi đến nơi, cha tôi cỡi con Hởi quay về nhà để lấy thêm đồ đạt và chở nước giếng cho vợ con uống vì nước suối rất độc. Khi cha tôi trên đường trở về trại thì trời đã tối lại mưa to. Bỗng có tiếng cọp gầm rất gần con đường mòn mà cha tôi đang đi, con Hởi giật mình tung vó, ném cha tôi giữa rừng. Cha tôi bị thương nặng. Con Hởi chạy một đoạn đường, rồi quay lại chỗ cha tôi ngã nhưng ông không còn đủ sức leo lên mình ngựa. Không biết do nó khôn ngoan hay do cha tôi ra lịnh, con Hởi bỏ cha tôi ở đó, phóng về trại để báo tin. Thấy ngựa về không có người, mọi người biết cha tôi đã gặp nạn giữa đường. Chú Trị vội nhảy lên ngựa đi tìm cha tôi. Ông được đưa về, được cấp cứu bằng xoa bóp thuốc võ gia truyền, uống mật gấu pha với sữa của mẹ tôi. Chỉ thế thôi vì trong hoàn cảnh ấy làm gì hơn được. Khi hồi cư về nhà ông đã hôn mê rồi qua đời mấy tuần sau.

Vài tháng sau, chú Trị xung phong đi bộ đội Việt Minh. Tôi nghe kể lại rằng mấy ngày trước khi lên đường, chú tìm cắt cỏ non, pha cám với nước mật mía cho con Hởi uống, đêm nào chú cũng mắc võng ngủ ở hiên chuồng ngựa. Đến lúc chú khăn gói ra đi, con Hởi đang ăn cỏ dưới bóng cây xoài, đã bứt dây chạy theo. Chú áp má vào đầu ngựa khóc ngon lành, bịn rịn không bứt ra đi được. Thấy người và ngựa quyến luyến nhau như thế, mẹ tôi nài nỉ chú đem con Hởi theo “cho có bạn” với chú và cũng có ích cho bộ đội.

Thế là con ngựa già của cha tôi cùng chú Trị ra chiến trường. Có lẽ, vong linh của cha tôi cũng đồng tình với quyết định của mẹ tôi không chỉ vì cống hiến cho kháng chiến mà còn vì chú và Hởi là đôi bạn không thể chia lìa. Vả lại, không có chú Trị còn ai chăm nom nó, nỡ nào bán nó đi.

Vào mùa Đông năm ấy, một anh bộ đội ghé qua nhà báo tin chú Trị đã hy sinh cùng với con Hởi trên chiến trường cao nguyên. Theo lời kể của anh bộ đội, trong một chuyến công tác gần đồn Tú Thủy (An Khê), chú Trị rơi vào ổ phục kích của quân Pháp, chú bị trúng đạn té từ lưng ngựa xuống con suối cạn nhưng bị thương không nặng. Lẽ ra chú có thể men theo con suối vào rừng rậm để thoát thân nhưng con Hởi không chịu bỏ chú, cứ quanh quẩn chỗ chú ẩn mình. Bọn Tây phát hiện con ngựa và tập trung hỏa lực vào nó. Chú Trị trúng thêm đạn và hy sinh bên cạnh xác con Hởi.

Không ai trách được Hởi vì dẫu sao nó cũng là một con ngựa. Vi chết cùng ngày nên nó được cúng giỗ chung với chú Trị nhưng anh bộ đội báo tin không cho biết đích xác ngày “họ” hy sinh nên đành lấy ngày húy kỵ  của cha tôi làm ngày giỗ của họ.  Có lẽ Hởi là con ngựa duy nhất mà tôi biết được cúng giỗ.

Read Full Post »

Như thường lệ, vào cuối mỗi năm, bà thầy bói người Canada Nikki Pezaro lại đưa ra những dự đoán cho năm mới và các sự kiện thế giới xảy ra trong năm 2012 dưới “lăng kính” của bà đầy những chuyện ảm đạm.

Hơn 100 dự đoán được Nikki tung ra hồi năm ngoái chỉ có khoản 10 sự kiện trở thành sự thật, đó là trận động đất sóng thần tại Nhật Bản, tình hình bất ổn tại Syria, biểu tình tại New York, lốc xoáy tấn công nước Mỹ, cái chết của Elizabeth Taylor và Amy Winehouse, hoàng gia Monaco và Anh quốc có hỉ sự…

Nikki cho rằng dầu năm 2012 có nhiều sự kiện thảm khốc xảy ra trên toàn cầu làm thay đổi cả bản đồ thế giới, tuy nhiên chẳng có “tận thế” xảy ra như những “lời tiên tri” được đồn thổi.

Các sự kiện đáng chú ý xảy ra vào năm 2012 theo dự đoán của bà là cuộc nội chiến Syria, Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc và Nhật Bản, động đất lớn dìm một phần đất liền của nước Nhật xuống đáy biển, một thiên thạch lớn va vào Trái đất, tìm thấy Chén Thánh trong huyền thoại, quái vật biển thời tiền sử lộ diện, thời tiết bất thường xảy ra ỏ nhiều nơi trên thế giới…

Dưới đây là những dự đoán chính của bà Nikki Pezaro:

1. Động đất phá hũy phần lớn thành phốMexico City.

2. Xảy ra trận động đất kinh hoàng ởCalifornia.

3. Bão Mặt trời gây gián đoạn liên lạc trên toàn thế giới.

4. Nổi loạn ởLebanon, thủ đôBeirutchìm trong khói lửa.

5. Thú hoang nổi khùng và tấn công con người vào cuối năm 2012.

6. Thời tiết thất thường trên toàn thế giới, tuyết rơi ởHawaii,Las Vegasvà vùngCaribbean.

7. Động đất lớn ở Nhật Bản kéo một vùng đất chìm xuống biển.

8. Lộ diện quái vật biển thời tiền sử.

9. Obama gặp nguy hiểm.

10.IranvàIsrael“nện” nhau bằng quân sự.

11. Khủng hoảng chính trị tại các quốc gia Nam Mỹ.

12. Thị trường chứng khoán toàn cầu sụp đổ như năm 1929.

13. Xảy ra vụ nổ hạt nhân và thủy điện tại Hòa Kỳ.

14. Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc và Nhật Bản.

15. Nổ ra trận đại dịch bệnh toàn cầu.

16. Nội chiếnSyria.

17. Xảy ra vụ bê bối tình dục trong chính quyền Obama.

18. Một công ty sản xuất ô tô bị sập tiệm.

19. Tìm thấy Chén Thánh trong truyền thuyết Ki-tô giáo.

20. Một chiếc máy bay cố tình đâm vào Nhà Trắng.

21. Nhiều sự kiện thảm khốc xảy ra trên toàn cầu, bản đồ thế giới phải vẽ lại.

22. Xảy ra trận động đất khủng khiếp tại Ấn Độ, Nhật Bản và Thổ Nhĩ Kỳ.

23. Một thiên thạch va vào Trái đất.

Toàn bộ các dự đoán năm 2012 của Nikki Pezaro được đăng tải tại website http://www.psychicnikki.com/predictions.ht

Nguồn dobatnhi blog

Read Full Post »

Bóng trăng

Lâm Cẩm Ái

Bóng trăng ,
Ừ nhỉ. . . .Bóng trăng tàn
Cỏ xanh ,
Rồi cũng hòa vào đêm đen .
Hồn tôi ,
Ừ nhỉ . . . nơi nào ,
Quanh đời còn lại một mình tôi sao ?
Giữa đêm thuyền chở đầy sao
Đổ đi quang gánh
Trên sông ái tình
Làm sao tôi nhặt cho mình
Thuyền trăng đắm đuối
Tương tư rã rời
Thôi thì
Cũng nước
Cũng mây
Loay hoay tôi lại tìm hình bóng tôi .
,

Read Full Post »

Má và chợ Chạp

NGUYỄN MỸ NỮ

Má nói ở ngoài quê, chợ quán cách nhà dăm ba cây số là bình thường. Đã vậy, chợ nhóm theo phiên và ai cũng biết, cũng nhớ. Nên chừng cần bán, mua hay nhà có công chuyện là cứ theo đó mà cắp rổ đi. Không phải hồi tết nhất, giỗ quẩy thì cũng mua chút đỉnh đồ dùng trong nhà như bút vở cho con cháu, cái tim đèn, đôi dép… thêm ít đồ ăn. Nhiều khi, vườn nhà có mớ ớt, luống rau, buồng chuối, dăm trái đu đủ, vài cái mướp hương… cũng đem ra chợ bán.

Người nhà quê khổ trăm bề. Khổ từ hồi xới đất vun luống hoa màu cho tới hồi ươm trồng, tưới tắm, chăm chút, được thứ nào ngon lành màu mỡ thì đem bán. Còn mấy thứ eo sèo, xấu xí thì để nhà ăn. Má nói vô trong thành phố, sống không đất, không sân trước, vườn sau vậy mà thiệt hay. Cứ cái thứ nào ngon là mình được hưởng. Rồi, một thành phố có tới mấy cái chợ, ngày nào cũng nhóm.

Má rất thích đi chợ. Ngày thường má đi chợ đã mấy lần huống hồ khi gần Tết. Má mới đem cá về dặn tôi nấu canh và kho. Nghe tôi hỏi: “Đồ nấu chua đâu, má?”. Miệng à quên và chân má quay lại chợ tức thì. Rồi nửa người đã bước vô nhà mới hay chưa mua ớt, lại đảo ra chợ ngay. Gần tới Tết khi đang chạp, má đi chợ ngày không biết bao lần mà kể. Má phải đi nhiều hơn ngày thường gấp nhiều lần, để sắm sanh cho gia đình, để lo mua đồ biếu tết.

Tháng Chạp, má đi chợ muốn say. Đi rồi về nhà ngồi tính toán. Đường cho ai, bột ngọt cho ai, rồi chai dầu ăn, ràng bánh tráng… Má đi chợ từ đầu tháng cho tới chạng vạng chiều ba mươi. Chạp, tôi có cảm giác má đi rũ cả chân. Thằng Út hay chọc “Đồ má đi cho “mỏng cơm” quá mà cứ cho hoài. Tết nào cũng cho…”. Má la “Đồ tao cho mỏng mà tấm lòng tao dày thôi chứ!”.

Chạp hồi trước, má đi chợ nhiều hơn tôi là cái chắc rồi. Nhiều lắm! Rồi ít dần, ít dần và thôi hẳn. Không đi chợ được, tới tháng Chạp, ngó má bần thần… Má chỉ còn biết nhắc con dâu mua sắm thứ này, thứ khác. Nhưng giờ má chỉ nhắc con dâu mua đồ cho nhà dùng chứ không hề nhắc mua đồ đi cho. Rồi, má có thêm niềm vui là chờ con dâu đi chợ Chạp về, để hỏi thăm.

Năm ngoái, miền trung tơi tả theo bão theo lụt. Nhìn con dâu xắn quần lội nước trùm áo lướt thướt ở chợ về, má thở dài khan. Hỏi mưa vầy “nẫu” mua bán chắc ế ẩm há con? Hỏi chứ mấy người bán đồ trưng tết, ngồi thông thốc giữa trời. Không sạp không mái chắc ướt hết há con? Rồi hỏi cái bà già đổ bánh thuẩn gần hàng cá, con hay kể đó, lạnh lẽo vầy có đi bán được không? Má hỏi. Con trả lời. Nghe trong giọng hỏi và giọng đáp có quá nhiều âm chùng đục, nghèn nghẹn.

Và, tôi lặng người nhận ra cả má lẫn tôi đều rất ghiền chợ Chạp. Chợ. Vẫn chợ. Tôi thường đi. Nhưng Chạp trước, rồi là Chạp này, nghe lòng rưng rức. Bước chân giữa chợ lựng chựng và mắt cay xè. Giờ, chợ Chạp, những háo hức cũ đã đi đâu hết. Bởi, không còn nữa một người luôn chờ mình đi chợ về để hỏi đủ thứ chuyện trần ai trong chợ

Read Full Post »

Hồ Ngạc Ngữ

Quy Nhơn mùa này đang trở bấc
Ngoài đường, ai cũng mặc áo len
Chiếc áo ngày xưa anh gửi tặng
Mặc vào, chợt ấm nỗi xa thêm

Quy Nhơn hổm rày đang biển động
Sóng dội bùng lên trắng cả lòng
Em cứ sợ bóng thuyền trên sóng
Lạc bến bờ giữa biển mênh mông

Quy Nhơn có những chiều sũng nước
Nhớ anh xa lâu lắm chưa về
Cái quán nhỏ ngày xưa bên góc phố
Tiếng nhạc buồn thấm lạnh trời khuya

Ai cũng nôn nao ngày tháng hết
Đường bày hoa, em vẫn chờ mong
Nếu có anh, lòng em như hoa Tết
Sắp Tết rồi, anh có về không ?

13.01.2012

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »