Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai, 2011

Lê Xuân Tiến

Hỏi thăm người đưa cơm, Bùi Thị Xuân biết từ ngày bị bắt đến nay đã sáu tháng song Nguyễn Ánh vẫn chưa cho biết ngày kết thúc. Giống như con mèo vồ chuột. Đã bắt được chuột rồi, nhưng mèo vẫn chưa ăn vội, nó còn muốn đùa giỡn cho đến ngày còn chuột tơi tả. Nghĩ trò đời cũng buồn cười. Trước đây Nguyễn Ánh trốn chui, trốn nhủi chẳng khác nào thân con chuột hèn mọn chỉ tiếc là Tây Sơn chẳng truy đuổi đến tận cùng. Để rồi giờ đây con chuột đã biến thành con mèo. Bắt được vợ chồng Bùi Thị Xuân – Trần Quang Diệu rồi về quê bắt cả ba đứa con nhỏ, chúng không muốn cho họ chết vội. Nếu chết được, đã là hạnh phúc cho họ, chúng vẫn muốn cho họ sống để vần lên vần xuống, đẩy họ vào đau đớn tận cùng. Chúng muốn bù lại những ngày cơ cực chúng trải qua mới hả dạ.

Trại giam Bùi Thị Xuân ở rất xa khu dân cư, nên ít được nghe tiếng người trừ mấy tên quân canh ngục. Ngày đêm cô đô đốc Tây Sơn chỉ nghe tiếng gió rượt đuổi nhau trên mái tranh, trên tàn cây xà cừ ngoài sân. Đôi ba tiếng chim hót rời rạc, tiếng lá rơi rụng rất khẽ.

Phòng giam chỉ là bốn bức tường đá lạnh lẽo hôi mùi ẩm mốc. Một đống rơm góc phòng làm nơi ngủ, một cái thùng gỗ đầy tro để tiểu tiện. Chấm hết. Bùi Thị Xuân không ngại cực khổ, chỉ buồn khi xa chồng, xa ba đứa con thân yêu. Cô biết gia đình cô không đi lại được vì bị xiếng xích nhưng tâm hồn của họ luôn hướng về với nhau qua suy nghĩ. Bùi Thị Xuân thèm da diết tiếng cười, tiếng khóc của lũ trẻ, nhất là đứa con gái út mới lên bảy tuổi. Ngày mới bị bắt, vừa trông thấy mẹ, nó đã la lên “Mẹ ôi cứu con với”. Dù nước mắt chảy ròng vì thương con nhưng cô vẫn nghiêm sắc mặt quát lớn “con nhà tướng không được khiếp nhược”. Mặc dầu con đẻ ra chưa đầy năm, Bùi Thị Xuân đã giao cho họ hàng trông coi để tiếp tục đi chinh chiến song các con rất thương mẹ. Vì vậy nghe tiếng mẹ, con bé vội nín thinh, mặc dù gương mặt đầy nước mắt. Rồi, cô cảm thấy yên tâm, gia đình cô sẽ thực hiện nghĩa vụ cuối cùng với Tây Sơn là tìm đến một cái chết trong danh dự.

Đời của Bùi Đô Đốc đã nhiều lần phải quyết định song đến nay, cô không hối hận với quyết định nào.

Trước hết là đến với Tây Sơn. Là con gái, học võ từ thuở nhỏ, lại sinh ra lớn lên trên đất Tây Sơn, không còn lựa chọn nào khác là về dưới trướng Nguyễn Nhạc. Trong hàng ngũ lãnh đạo quân Tây Sơn, người mà Bùi đô đốc kính phục nhất là Nguyễn Huệ. Một con người vượt lên tất cả mọi người ở tài nghệ và nhân cách. Quả thực còn Nguyễn Huệ là Tây Sơn còn, mất Nguyễn Huệ là Tây Sơn như con thuyền bị lủng đáy, chìm dần. Khi Nguyễn Huệ mất rồi, con thuyền Tây Sơn như mất vị thuyền trưởng, không ai chỉ huy nên nội bộ cứ rối ren và rồi đi đến chỗ suy tàn. Có bao nhiêu tướng tài cũng không ngăn cơ đồ bị hủy diệt.

Quyết định thứ hai của Bùi Thị Xuân là ở lại cùng chồng khi được Võ Văn Dũng tháo cũi ở Nghệ An. Lúc đó Trần Quang Diệu thương tích đầy mình, hai chân sưng vù, chẳng cách nào đi được. Bùi Thị Xuân không thể nào dứt tình ra đi, cô đành phải ở lại để bị bắt chung cùng với chồng. Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu đến với nhau như là có duyên trời định. Hôm đi săn ở rừng núi Kim Sơn, Bùi Thị Xuân bỗng nhìn thấy một người đánh cọp bằng hai tay không. Con cọp to gần bằng con trâu nhảy ngang nhảy dọc, giơ vuốt  cấu xé. Chàng trai vừa lui tới né tránh vừa vung quyền đấm vào đầu, vào mình cọp. Con cọp bị cú đấm đôi lúc loạng choạng nhưng chàng trai cũng bị vết cọp quào rướm máu. Xưa nay mấy ai tay không đánh cọp nên Bùi Thị Xuân rất kính phục. Cô vội vung song kiếm lên hỗ trợ cùng chàng đánh cọp. Chả mấy chốc con cọp bị nhiều vết chém, mất sức lịm xuống đất. Chàng trai đã bồi cú đấm cuối cùng làm nó hộc máu, chết tươi. Trần Quang Diệu vòng tay tạ ơn Bùi Thị Xuân vì đã cứu mạng sống. Cô đã vội gạt tay. Sau đó, cả hai ra mắt Nguyễn Nhạc được thu dụng. Từ sự kính phục lẫn nhau, tình yêu dần đến. Đó là mối tình keo sơn gắn bó, khiến Bùi Thị Xuân không thể xa rời Trần Quang Diệu. Sống cùng sống, chết cùng chết. Đó là tâm nguyện của tình yêu nhà võ.

Dù sống trong nhà ngục u tối nhưng Bùi Thị Xuân vẫn tin vào niềm hy vọng cuối cùng. Đó là lời hứa của Võ Văn Dũng. Sau khi phá cũi nhưng không thể đưa Bùi Thị Xuân đi vì cô muốn ở lại với chồng, Võ Văn Dũng đã gạt lệ, vòng tay lên trời vái ba vái rồi hứa với cô: “Tôi sẽ về Tây Sơn Thượng để khôi phục lại lực lượng theo gương của ngài Thái Đức lúc khởi binh, vài tháng nếu có biến ở Tây Sơn, cô biết rằng cơ đồ của Tây Sơn đang phục nghiệp”. Nhìn thái độ cương quyết của Võ đô đốc, Bùi Thị Xuân tin rằng cơ đồ không mất. Vậy là ngày tháng trong tù, cô vẫn mỏi mòn đợi chờ. Nhưng đã sáu tháng rồi, không có dấu hiệu nổi loạn ở vùng Tây Sơn Thượng. Niềm tin của Bùi Thị Xuân đã hao mòn.

Dòng suy nghĩ của Bùi Thị Xuân đã ngưng lại khi cô nghe tiếng khóa mở lắc cắc. Khuôn mặt của tên cai tù bụng phệ, râu cá chốt hiện ra. Hắn hô to, rồi đứng nghiêm

– Quan thị lang tới

Chẳng mấy chốc hiện ra gương mặt hình vuông râu ba chòm của thị lang bộ hình Trần Trung Tín. Quả là cái tên có ý nghĩa mỉa mai. Tín cùng quê với Bùi Thị Xuân, ban đầu theo Tây Sơn rồi sau theo chúa Nguyễn. Hắn chẳng có tài nhưng theo Tây Sơn cứ muốn được lên chức. Không thỏa nguyện, hắn chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh. Nhờ siêng năng, nịnh hót giờ này hắn đương chức thị lang. Vừa thấy Bùi Thị Xuân hắn vội hỏi han

– Chẳng hay bà khoẻ không? – Tuy hỏi nhưng mắt hắn không dám nhìn thẳng vào mắt Bùi Đô Đốc.

Bùi Thị Xuân cười mỉa mai

– Cảm ơn ông, tôi vẫn khỏe như voi

Trông thần sắc của Bùi Thị Xuân chẳng mấy sa sút. Nguyên có một cai ngục có gương mặt gầy guộc đưa cơm cho cô ngày hai buổi đã giúp bữa ăn có thêm chất. Chế độ cơm nước của ngục tù nhà Nguyễn rất hà khắc. Cơm chỉ có cơm hẩm, cá là cá mục, nhiều khi có giòi, rau rác không hề có. Nhưng bữa đầu tiên, dưới lớp cơm hẩm che đậy là lớp cơm trắng tinh thơm ngát. Còn dưới lớp cá mục có vài miếng thịt vùi trong cơm.Vì thế Bùi Thị Xuân vẫn ăn ngon miệng, bảo toàn được sức khỏe. Một hôm vắng lính canh, Bùi Thị Xuân hỏi nhỏ người đưa cơm “Tại sao nhà ngươi tốt với ta”, tên lính đưa cơm nhìn quanh nhìn quất rồi kề sát tai Bùi Thị Xuân “Không giấu gì nữ kiệt, anh tôi bị nữ kiệt bắt trong trận Tây Sơn tái chiếm thành Qui Nhơn. Nữ kiệt đã nhân đức tha tội chết cho anh tôi. Ơn này gia đình tôi nhớ mãi, nay có cơ hội tôi xin đền đáp bằng bữa cơm. Chuyện nhỏ thôi mà nữ kiệt”. Bùi Thị Xuân biết rằng chuyện không nhỏ, Gia Long biết được có thể tên lính bị bay đầu. Té ra, bên này bên kia cũng có kẻ tốt kẻ xấu. Chả bù cho tên lính mập, nó luôn luôn hách dịch, ra oai để cho Bùi Thị Xuân khốn khổ chừng nào, nó vui mừng chừng ấy.

Bùi Thị Xuân nhìn thẳng vào mặt Trần thị lang:

– Nhà ngươi đâu có rảnh rỗi để tới đây chơi. Vậy có việc gì nhà ngươi hãy nói ra cho đỡ mất thời giờ.

Trần thị lang lúng túng:

– Lấy tình đồng hương, tôi xin khuyên bà…

Bùi Thị Xuân trợn mắt:

– Ta rất xấu hổ khi có người đồng hương như ngươi. Ngươi đã bỏ Tây Sơn – quê hương ruột thịt để chạy theo nhà Nguyễn, còn mặt mũi nào nhìn người đồng hương.

– Thôi chuyện đã qua, đường ai nấy đi… tôi chỉ bàn chuyện sắp tới. Chiều nay bà sẽ được gặp đức vua. Sinh mệnh của bà nằm trong cuộc gặp này. Bà liệu mà nói cho thuận tình, thuận lý. Hoàng thượng đã nói với tôi nếu bà quì xuống xin tha tội, bà sẽ cứu được mạng chồng con. Bằng không, bà sẽ chẳng những chết mà chết trong đau đớn. Vậy tội gì mà không nói được một lời để được sống.

Bùi Thị Xuân trợn mắt:

– Nghe lời mầy nói, tao muốn nhổ trong mặt. Vào tới đây gia đình tao chỉ có một con đường là chết. Không thể sống nhục như mầy, đừng nhiều lời!

Nhiều đêm Bùi Thị Xuân suy nghĩ, rồi Nguyễn Ánh cũng đi đến con đường chiêu dụ. Nhưng cô đã đi đến kết luận: sống ô nhục còn đáng sợ hơn cái chết. Tây Sơn còn hơn là cuộc sống của gia đình cô, nó là máu thịt, tình yêu và cả những gì linh thiêng nhất. Tây Sơn suy sụp, đời cô và chồng con cô cũng tự tan rã. Sống nữa để làm gì.

Trần thị lang cứ đứng đó lải nhải để chiêu dụ song hắn nói lời nào, Bùi Thị Xuân đều trả lời “không”. Mặc dù đã điên tiết nhưng khi ra đi hắn vẫn vớt vát:

– Xin bà suy nghĩ thêm trước khi gặp hoàng thượng vào khoảng hai canh giờ nữa

Khi thị lang họ Trần bước đi, đột nhiên Bùi Thị Xuân kêu to:

– Lính mập đâu lại đây ta bảo

Khuôn mặt của hắn xuất hiện. Bùi Thị Xuân biết rằng thằng này ham của đút lót nhưng với Bùi Thị Xuân thì đừng hòng. Nhưng cô biết cách để điều khiển hắn

– Mang gấp cho tao chậu nước, gương, lược

Thằng lính ngạc nhiên, trọ trẹ

– Làm chi rứa?

– Để gương mặt sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng mà gặp hoàng thượng của mi

– Không có. Mặt mi thảm hại chừng nào, công tao càng lớn

Bùi Thị Xuân cười lớn:

– Tao chết rồi, sẽ hiện lên bám theo ngươi mà báo thù. Mi sẽ điên loạn rồi thác theo ta thôi

Thằng lính chợt xanh mặt. Hắn vốn sợ ma nên không nói gì lẳng lặng làm theo ý muốn của Bùi Thị Xuân

*

Nguyễn Ánh ngồi chễm chệ trên ngôi cao khi lính giải Bùi Thị Xuân vào điện rồng. Chung quanh chẳng có bóng vị quan lớn nào ngoài viên thị lang bộ hình. Chắc hẳn hắn không để lọt tai các vị quan, những lời chửi bới có thể của Bùi Thị Xuân. Cô đô đốc Tây Sơn vẫn còn bị gông vào cổ, hai chân bị xích. Nguyễn Ánh nhìn cô gái nhỏ bé phía dưới vuốt râu cười thỏa mãn. Phải cho Bùi Thị Xuân biết lúc này ai có quyền. Đâu có còn là sự chạy trốn chui lủi hèn hạ trước kia. Nay đất nước nằm trong tay, hắn muốn gì được nấy. Thật khác xa với thái độ của Nguyễn Huệ trước đây khi gặp kẻ thù là những bậc trượng phu. Huệ tự tay bước xuống cởi trói rồi mời ngồi. Ánh vẫn giữ thái độ ngạo mạn. Nhưng Bùi Thị Xuân cũng không vừa, cô nhìn trừng vào hắn không chớp mắt.

Hắn tự mãn hỏi:

– Ngươi có biết là triều Nguyễn với Tây Sơn ai là chính ai là tà không? Tại sao ngươi phò tá Ngụy Tây.

Bùi Thị Xuân cười mỉa:

– Tây Sơn là chính, nhà Nguyễn là tà. Đất của nhà Lê ngươi cướp lấy rồi xưng vương xưng bá. Tây Sơn là nguyện vọng của nhân dân, một lần đuổi Trịnh rồi trả đất cho nhà Lê, rất tiếc nhà Lê không giữ được đất mà còn cầu viện ngoại bang “cõng rắn cắn gà nhà” nên chủ tướng ta phải tiêu diệt. Nhà Nguyễn là đại thần của nhà Lê tại sao không làm việc đó mà cũng đi cầu viện lung tung. Không có hoàng thượng ta, đất mất, dân làm nô lệ, còn chỗ đâu ngươi xưng hùng, xưng bá. Ta hỏi lại: ai chính, ai tà?

Nguyễn Ánh có vẻ sượng sùng nhưng chuyển sang câu hỏi khác:

– Ta và Nguyễn Huệ ai tài hơn?

Bùi Thị Xuân ung dung đáp:

– Nói về tài ba thì tiên đế ta trắng tay dựng cơ đồ bách chiến bách thắng. Còn nhà ngươi trốn chui, trốn nhủi phải cầu viện ngoại bang. Chỗ hơn kém rõ ràng, như nước giếng so nước sông. Còn nói về đức độ, tiên đế ta lấy nhân nghĩa đối xử với trung thần thất thế, ai được tha cũng cảm phục. Còn nhà ngươi lấy hình phạt khốc liệt đối xử với bậc nghĩa liệt sa cơ, chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày với ban đêm. Nếu tiên đế ta không thừa long sớm thì làm gì có ngươi ngồi đây.

– Ngươi có tài sao không giữ được ngai vàng của Cảnh Thịnh?

– Có thêm một nữ kiệt như ta, dễ gì nhà ngươi đặt được chân lên đất Bắc

Nguyễn Ánh thấy không thể đối đáp với Bùi Thị Xuân bèn dịu giọng:

– Nhà ngươi có muốn xin ân xá không?

– Ta đâu có sợ chết mà chịu hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế?

Nguyễn Ánh nổi giận, gằn từng tiếng:

– Không chịu nhục, ta sẽ làm cho ngươi biết nhục

Nguyễn Ánh thét truyền lệnh mang Bùi Thị Xuân trở về ngục.

*

Lại thêm mười ngày chờ đợi. Dù tha thiết muốn được gặp chồng con trước khi chết nhưng Bùi Thị Xuân không muốn xin một ân huệ nào trước kẻ thù.

Trần Trung Tín lại đến. Lần này khuôn mặt y giả bộ thương tâm:

– Tại sao tôi đã hết lời căn dặn mà bà vẫn cương lên làm cho hoàng thượng nổi giận?

Bùi Thị Xuân cười to:

– Ta muốn cho đức vua nhà ngươi phải run sợ khi đối mặt với một phụ nữ. Hoàng thượng nhà ngươi đã tái mặt, tái mày rồi. Ha ha

Trần thị lang vẫn lải nhải:

– Bà biết hoàng thượng cho bà biết nhục cách nào không?

– Ta chẳng cần biết

– Bà sẽ bị lột truồng đem về quê bà để bêu riếu cho thiên hạ xem, để người phụ nữ nào muốn làm loạn thì lấy bà làm gương

– Cơ thể này do cha mẹ sinh ra, việc gì phải giấu. Đức vua nhà ngươi sẽ hối tiếc khi làm công việc hèn hạ này. Nó chỉ làm cho nhân dân phẫn uất.

Bùi Thị Xuân nói hùng hồn như thế nhưng cô lại nhớ đến Võ Văn Dũng. Chẳng có tin tức gì từ ấy đến nay. Võ Văn Dũng đã chết ở xó rừng nào hay nhân dân không tin ở Tây Sơn nữa. Một khi niềm tin đã mất đi là mất tất cả.

– Bà cũng cần biết là sau cuộc bêu riếu này, cái chết dành cho bà rất thảm khốc. Bà sẽ bị voi dữ dày xéo hoặc bị “điểm thiên đăng” tức là người bà bị quấn lấy vải nhúng sáp nóng rồi cột vào cột sắt giữa trời châm lửa đốt. Da bà sẽ bị lột ra từng mảng, đau thấu tim gan. Rất đau đớn, bà ạ.

– Ta chẳng sợ, cuối cùng cũng chỉ là chết

– Nhưng bà vẫn còn cơ hội cuối cùng là quì xin ân xá

– Ta đã nói rồi, không bao giờ chịu nhục, đừng nhiều lời vô ích – Bùi Thị Xuân thét lên

Trần thị lang vừa đi vừa lẩm bẩm “dại quá, dại quá”

Nguyễn Ánh cứ tưởng Bùi Thị Xuân bị lột truồng cho xe chở về Tuy Viễn, người dân sẽ lũ lượt rủ nhau ra xem như xem hội. Nhưng hoàn toàn ngược lại, nhân dân Tuy Viễn đã bảo nhau vào nhà đóng kín cửa. Người đi đường, kẻ nhóm chợ đều ngoảnh mặt, tránh xa xa. Chiếc xe chở tù nhân Bùi Thị Xuân đi qua, đường phố vắng lặng, hiu hắt, chỉ còn tiếng gió và tiếng lá rơi.

Ngang qua Đập Đá, nơi có làng dệt nổi tiếng. Các cô gái dệt lụa đang chờ sẵn.

Những vuông lụa được tung ra, bay vào xe. Các tên lính ra sức dùng đao để chém. Nhưng các mảnh lụa bị đứt theo gió vẫn bay tấp vào châu thân Bùi Thị Xuân. Phút chốc lụa đã đắp kín thân thể trần truồng.

Những mảnh lụa vẫn tiếp tục bay lên xe. Những mảnh lụa lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Read Full Post »

Làng Phương

Lê Mộng Thắng

Ngày xưa có những con đò
Về neo bến Biện bên bờ sông Phương.

Ra đi , nụ chửa tròn hương
Xế chiều,dậu đổ bìm vương trở về
Người quê ,giọng nói còn quê
Trẻ con cười hỏi ông về từ đâu.

Chạnh lòng xa xứ đã lâu
Nhớ canh rau hẹ ,tiếc câu bài chòi
Lòng ai muối nấy mặn mòi
Dám đâu sánh kẻ cày voi thuở nào

Nằm lòng như khúc ca dao
Ngọn tùng…sóng bủa lao xao ngọn tùng
Dập dồn trống thúc cờ rung
Gian nan là nợ anh hùng phải vay

À ơi… muối mặn gừng cay
Chao nghiêng cánh võng những ngày xa xăm
Sợi thương mũi nhặc mũi đằm
Áo ai lữ thứ sương dầm đường khuya

Sông Côn mấy nhánh chưa lìa
Mà sao Thạch Yển vội chia dặm dài
Tháng giêng , trời lạnh hoa xoài
Ai về Đập Đá xóm Đoài…làng Phương.

Mùa sang, giục khách ly hương
Đoái nhìn bến Biện… chìm sương con đò.

Read Full Post »

Bút ký của HUỲNH KIM BỬU

Tháng 5 / 1955, từ một làng quê xa ở dưới chân thành Hoàng Đế, có một cậu bé lên 10 theo người lớn đến Quy Nhơn để tiễn Cậu ruột xuống tàu thủy đi tập kết. Năm năm sau, cậu bé ấy là học sinh một trường Trung học công lập trong thành phố Quy Nhơn. Cậu ta nay đã là một người cao niên hay ngồi lại với bạn cũ để nhắc lại những “chuyện ngày xưa”, trong đó thường không thiếu chuyện ngày xưa của một thành phố một thời cậu ta đến theo đuổi việc học và đã sớm nhận ra, đó là một thành phố đẹp và thơ.

(more…)

Read Full Post »

Eo Gió

 Bạch Xuân Lộc

Nhân đọc bài Eo Gió trên Xứ Nẫu tôi vội vàng gởi bài này và bài hát đã hoàn chỉnh

.

Em ở đó bao năm,
Bao mùa quen sương gía,
Em đứng đó bao năm,
Ta hờn ghen vì gío.

Đông em nhìn biển rộng,
Hơi thở vọng ngàn khơi,
Tây vi vút cát bồi,
Dệt thêu lời tình hứa.

Ra đi từ độ đó,
Vui sống kiếp sông hồ,
Tình như tưởng đã xa,
Quên người em Eo gíó.

Chia xa từ độ đó,
Ta sống đời lãng du,
Lòng khép kín mấy thu,
Như quên rồi Eo gío.


                       ( ..Phổ nhạc Kiều Tấn Minh, Ca sĩ Huấn Vinh )

Tâm tình nào gợi nhớ,
Vời vợi ánh trăng khuya,
Bao kỷ niệm vui đùa,
Ta bên em và gío.

Luôn mơ về nơi đó,
Nỗi thương nhớ không cùng,
Ta với niềm thủy chung,
Về bên em Eo gío.

Mai ta về nơi đó,
Nhìn lại dáng em xưa,
Đã bao đời nắng mưa,
Vẫn là em Eo gíó.

Read Full Post »

Thơ Cao Quảng Văn

Cao Quảng Văn

Tranh Nguyen Thanh Binh

Trang tặng những người ngoại tuổi năm mươi

vẫn còn biết bao niềm đau đáu

Khát vọng

.

Và đâu đó

Trong lòng ta rạng rỡ

nửa nụ cười

Còn ngọt vị đôi mươi?

Chiều lấm tấm

Tự bao giờ buông lưới

Vẫn không nguôi

Khát vọng những chân trời

.

Hương Mùa

.

Ngẩn ngơ theo

dăm câu hát trong chiều

Liêu xiêu phố

Phất phơ màu nắng cũ

Loáng thoáng

hương mùa vương gió

Mơ hồ đôi cánh chim qua

Em có nghe

Mùa đang trở lại

Mai với cúc vàng

nở hoa?

.

Cánh chuồn xanh

.

Cánh chuồn xanh

Năm tháng cũ về đâu

Tuổi ngọc ngà xưa

Hóa vầng trăng hoài niệm

Có nếp nhăn mờ

Đăm chiêu vầng trán

Hỡi chuồn xanh

Và mây trắng về đâu?

Năm tháng cứ bay đi

Những đôi cánh

Không màu…

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong ( Italia)

Nguyên tác : Sempre mano nella mano

( Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

Tiến sĩ ngữ văn Elena Pucillo Truong là một cô dâu Việt quốc tịch Ý. Vì cây dây leo, có thời chị đã theo chồng sang TPHCM dạy tiếng Ý tại nhạc viện TPHCM. Chồng chị là dược sĩ Trương Văn Dân, dịch giả văn học Ý sang tiếng Việt. Tự nhận mình là “người yêu Việt Nam” ( L’amoureuse du Viet Nam) – đúng vậy, không yêu sao lấy chồng Việt lại cả gan làm dâu trưởng nữa?- chị và chồng quyết định sống đời hưu trí ở TPHCM để phụng dưỡng mẹ già và viết văn. Từng cộng tác với một số tờ báo văn học Ý, Elena còn viết truyện ngắn nữa. Truyện Bàn Tay Trong Một Bàn Tay vừa viết ở Sài Gòn của chị do anh Dân dịch sang tiếng Việt, là tiếng nấc cho kiếp người, Ý hay VN thì cũng thế. Một tiếng nấc bất khả kháng nhưng không buồn mà nồng ấm, không thảm mà nhen nhóm hy vọng, dù mơ ước da diết nhất của hai nhân vật yêu nhau đến phút cuối đời chỉ là được chết bên nhau. Truyện rất ngắn, chỉ là vài nhát cắt, nhưng có bề dày và sức nặng của hai cuộc đời biết sống, đáng sống, ai bảo truyện ngắn là ngắn?

Nguyễn Quang Thân  

Lớp trẻ, tuổi ba mươi, bốn mươi…lúc nào cũng vội vàng, hấp tấp, đi và đến trên các phương tiện tân thời, xe hơi, bus, taxi…họ chìm giữa tiếng ồn ào của cuộc sống bon chen đô thị, giữa những cao ốc nguy nga, hàng dãy bảng hiệu với ánh đèn chiếu sáng, biểu tượng của một thế giới hiện đại và lý tưởng đang phát triển, mang vẻ ngoài đẹp đẽ và trẻ trung…

Có hai người già lạc lõng, rải bước đến chiếc băng gỗ quen thuộc đặt ở góc công viên. Tay trong tay, nụ cười như in trên hai khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn theo năm tháng. Ông lão nắm tay bà, cẩn trọng đỡ người bạn đời của mình, nhẹ nhàng giúp bà ngồi xuống một cách thoải mái. Mỗi cử chỉ của ông đều lịch sự, chậm rãi và cẩn thận, cùng những lời yêu thương ngọt ngào, như ông đang che chở và ve vuốt một chú chim non.

Ngày nào cũng thế… tôi chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng có lẽ từ lâu lắm. Mỗi ngày mỗi khác và nhìn qua cũng dễ nhận ra tình cảm giữa hai người vẫn thiết tha, mạnh mẽ. Nó tương phản hoàn toàn với thế giới ồn ào xung quanh như một nghịch lý.

Cái vũ trụ thu hẹp của họ, có những vụn bánh cho vài chú chim sẻ, có những cái vuốt ve cô mèo con bị lạc hay tiếng cười rạng rỡ của một em bé đang tập đi đang ngã vào vòng tay người mẹ nào đó. Hai người luôn mang theo chiếc dù, để che nắng hay phòng ngừa sự chòng ghẹo trái nết từ những cụm mây. Riêng bà thì không bao giờ quên chiếc khăn quàng khổ rộng, sau khi ngồi vững, bà liền âu yếm quấn quanh cổ ông, những cơn gió lạnh đang thổi về.

Tôi tưởng đó là một bức tranh đang đặt trước mắt mình; cảnh thực đó đang nằm ngoài thế giới này. Chẳng biết gì về họ nhưng lâu nay tôi không thể làm gì khác là nhìn ngắm và quan sát họ cho đến khi, sau chừng một giờ, bằng những cử động ban đầu yếu ớt, về sau mạnh mẽ hơn, họ chống tay đứng dậy rồi tay nắm tay bước đi cho đến lúc mất hút giữa dòng người vô cảm.

Rồi sau đó thì sao? Họ sẽ làm gì quãng thời gian còn lại trong ngày? Tôi tưởng tượng  mình đang tò mò theo dõi, bị cuốn hút bởi thứ hào quang hạnh phúc bao quanh họ. Một cuộc đời đơn giản. Chỉ có những cử chỉ quen thuộc nhưng ngọt ngào và trìu mến dành cho người thân. Dĩ nhiên tôi khó mà tưởng tượng ra họ thường có những cơn ác mộng hoặc trong lòng họ đang chất ngất bao điều ưu tư. Đương nhiên, hằng ngày họ có thể vẫn lo lắng và đau khổ, có thể một nỗi đau khủng khiếp sẽ cướp mất hơi thở tối cần cho cuộc sống của người già.

*

Trong bóng tối buổi chiều tàn, bà vợ mắt nhắm nghiền, nằm bất động trên chiếc giường đôi. Hai bàn tay bà đặt trên ngực, những ngón tay nắm chặt chuỗi tràng hạt. Trên chiếc ghế đẩu đặt cạnh giường, ông chồng ngồi gục đầu, kiệt sức sau một cơn khóc tuyệt vọng. Ông liên tục lau mặt bằng chiếc khăn giấy đã ướt rã nước mắt. Rồi, bất thình lình, trong tay ông loé lên ánh thép lạnh lẽo của một khẩu súng. Ông đăm đăm nhìn họng súng, những giọt nước mắt vẫn tiếp tục rơi, làm ướt nòng súng lạnh giá. Ông thì thầm vài lời gì đó, rồi bằng một cử chỉ thật nhanh đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Chỉ trong tích tắc.

Bàn tay rớt xuống! Chẳng có tiếng nổ nào xảy ra.

Hình như trong phút chót sự can đảm đã biến mất…

Cuối cùng ông dợm đứng lên, lấy lại tự chủ, rồi đặt khẩu súng trong ngăn kéo chiếc bàn đêm đầu giường.

*

Bây giờ tới phiên ông.

Ông nằm bất động trên chiếc giường đôi, mắt nhắm nghiền và cũng với chuỗi tràng hạt trên tay. Bà vợ, thận trọng và run rẩy đặt một bàn tay lên trên quyển sách nằm trên ngực chồng. Đó là quyển sách mà ông đã viết và nó sẽ theo ông làm bạn trong thế giới bên kia. Một vài giọt nước mắt ứa ra, rớt xuống trang bìa và làm ướt những ngón tay khẳng khiu, gầy yếu… Rồi bà lão như kiệt sức, ngã gục xuống chiếc ghế đặt cạnh giường. Những ngón tay bà cố gượng vuốt ve, lướt nhẹ lên thân thể thân thương. Bà vuốt đôi mắt, vành môi, khi vuốt đến ngực, bà ngập ngừng dừng lại, như muốn vuốt ve cả trái tim ông… Cuối cùng bà áp tay mình lên bàn tay ông, bàn tay đã từng nâng đỡ và che chở bà suốt một cuộc đời. Nước mắt bà vẫn tiếp tục lăn xuống nhưng bà chẳng có chiếc khăn nào để ngăn chúng lại. Sau những tiếng rên rỉ, bà thì thầm bên tai ông những lời ngọt ngào như đã làm thế trong suốt một đời. Rồi gượng đứng lên, bà áp môi mình lên môi ông, thêm một lần nữa, nụ hôn cuối cùng.

Run run, bà với tay lấy khẩu súng đặt trên chiếc bàn đêm. Một tay nắm chặt tay chồng, còn tay kia, rất tự tin, bà đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Cũng chỉ một tích tắc. Rồi bà ngã xuống trên xác chồng, muốn ôm lấy ông một lần cuối.

Cứ thế, từ hai tháng nay mỗi buổi tối cảnh đó luôn được lập lại như đang diễn trong rạp hát.

Mọi chuyện bắt đầu từ sau hôm đi khám bác sĩ. Trước đó bà thường thấy mệt, nhiều lúc thở rất khó khăn, như bị ngạt, như có một khối đá đè lên lồng ngực trong những chuyến cùng chồng đi dạo. Tay trong tay, trong nước mắt, họ lắng nghe phán quyết của thầy thuốc.

“Tôi rất lấy làm tiếc nhưng trái tim của bà nhà rất yếu…giải phẩu là điều không thể thực hiện nữa… Rất tiếc là tôi không biết phải làm gì để có thể giúp bà, nguy cấp lắm rồi, bà yếu quá…”. Trả lời câu hỏi thầm lặng từ đôi mắt đau đớn và khẩn cầu của họ, ông bác sĩ ngập ngừng nhưng xúc động thành thật:

“Rất tiếc…điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào….”

Sau đó thì hai người già vẫn tiếp tục sống như đã từng sống, nhưng ý nghĩ là bà sẽ đột ngột ra đi, bỏ ông lại một mình vẫn ám ảnh ông mỗi ngày. Bà, người chưa bao giờ rời xa, chưa bao giờ phản bội ông.

Bởi, suốt một đời họ đã luôn sống bên nhau. Trong một thoáng bà hồi tưởng thời hai người còn trẻ, những cử chỉ ngập ngừng và vụng về trong mối tình đầu, trái tim bà chỉ đập khi chờ đợi ông, chỉ vì ông, người đàn ông duy nhất có thể lấp đầy cái khoảng trống trong tâm hồn bà; cũng như chỉ cái nhìn nhân ái của ông mới có thể xoa dịu đi nỗi đau hay mang lại cho bà niềm hạnh phúc. Cứ thế, họ đã sát cánh bên nhau đi qua cuộc đời này. Rồi họ cùng nhau nổi tiếng với các nhà hát kịch trên thế giới. Trên tường nhà họ hiện vẫn còn treo đầy các biểu ngữ giới thiệu các vở kịch Shakespeare, Mann, Eliot, Racine, Molière, Pinter…. có tấm in khuôn mặt, miệng mỉm cười của họ, có tấm chụp họ đang mặc đồ diễn trên sân khấu, đứng giữa những bạn diễn thân thiết mà đến nay tên tuổi vẫn còn sáng chói. Hình như hào quang hạnh phúc đã bao quanh họ từng ngày. Và họ luôn ở bên nhau.

Có lẽ trong cuộc sống hạnh phúc và bình an đó, chỉ có một nỗi đau trong trái tim bà, đó là họ không thể có một đứa con… điều duy nhất của riêng họ, chỉ của họ mà thôi. Nhưng mỗi lần bà vật vã, chỉ cần những lời ngọt ngào của chồng “ Em yêu ơi, xin em đừng tuyệt vọng, không có con chúng ta sẽ yêu nhau nhiều hơn…” là có thể làm dịu đớn đau, xua nó đi, dù chưa hoàn toàn xoá mất.

Rồi cuộc sống đổi thay. Thăng trầm. Chìm nổi. Có lần họ cũng rơi vào cảnh nghèo túng vì từ chối các vai diễn không phù hợp hay không chịu ký hợp đồng với những công ty ca kịch không hoạt động vì nghệ thuật… và cuối cùng, với tuổi tác, họ bình thản từ giã ánh đèn sân khấu, chấp nhận cuộc sống giản đơn, bùi ngùi nhìn lại những kỷ niệm sáng ngời trong quá khứ. Nhưng họ luôn ở bên nhau, luôn luôn hạnh phúc vì người này chỉ sống cho người kia. Và ngược lại.

*

Là những diễn viên tài hoa nên mỗi buổi tối họ đều tự chuẩn bị vai diễn của mình, cố thể hiện thật xuất sắc vai được giao cho họ trong kịch bản cuối cùng.

“ Cái chết. Sự chia lìa sẽ bất ngờ là điều không thể tránh khỏi. Nhưng người nào đi trước sẽ không phải hứng chịu nỗi cô đơn ở thế giới bên kia”.

Ông thường đi lập lại rất nhiều lần:“ Ước muốn lớn nhất là chúng ta có thể chết cùng một lúc, nhưng dễ gì Chúa ban cho ta ân sủng này!”

*

Nhưng, ông đã lầm…

Vài tháng trôi qua. Và chỉ có vài hàng trên một tờ báo.

Trong lúc ngủ trái tim mệt mỏi của bà đã vĩnh viễn ngừng đập. Và ông, bất thình lình thức giấc, tin là còn có thể cứu bà, ông lao tới chụp ống điện thoại để gọi xe cấp cứu nhưng không kịp nữa. Trái tim của ông cũng ngừng đập vì đau đớn, nó chỉ cho ông một tích tắc để đưa cánh tay nắm lấy tay bà.

Đúng là sự việc chỉ xảy ra trong tích tắc.

Sai Gon tháng 8/2011

Elena Pucillo Truong

 

Read Full Post »

Đến Quy Nhơn bạn hãy một lần ghé thăm Eo Gió để nghe tiếng gió vi vu thổi vào vách đá, luồn qua những hang động và hòa quyện tiếp với sóng dạt dào ngày đêm xô vào bờ.

Để nhìn những phiến đá kỳ vĩ đầy hình thù đang cố dang tay ôm lấy đại dương ngút ngàn; thấp thoáng đàn chim én lượn chao nghiêng trông đẹp đến ngỡ ngàng.

Đường lên Eo Gió

Eo Gió là một eo biển đẹp hình vòng cung thuộc thôn Hưng Lương, xã bán đảo Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Sở dĩ gọi là Eo Gió hay Eo Cửa Gió vì đây là một cửa eo nhỏ mà đứng từ trên cao dễ dàng nhìn thấy hai dải núi đá cong hình vòng cung ôm lấy một góc biển khơi trông tựa như một cái phễu.

Hoang sơ – kỳ vĩ

Những năm trước, để đến với Eo Gió không phải là điều đơn giản, phải đi ghe máy từ bến Hàm Tử vượt biển, nếu không phải băng qua đầm Thị Nại mênh mông rồi lội qua những đồi cát trập trùng, không một bóng nhà mới tới được Eo Gió. Nhưng bây giờ, từ khi cầu vượt biển Thị Nại hoàn thành (năm 2006) thì từ thành phố Quy Nhơn chỉ cần chạy xe 20km băng qua cầu Thị Nại là đến trung tâm xã Nhơn Lý, nơi có thắng cảnh Eo Gió.

Đường đến Eo Gió cũng thật đẹp và hoang sơ. Bạn hào hứng khi mình đang chạy trên cầu vượt biển Thị Nại, cây cầu dài nhất Đông Nam Á (2.500m). Đứng ở đầu cầu, gần như không thể nhìn thấy bên kia cầu bởi sự bao la của đầm Thị Nại, niềm tự hào của miền đất võ đầy nắng và gió. Đứng ở trên cầu, nhìn ngược lại, thành phố Quy Nhơn trông thật yên bình bên biển xanh.

Tiếp tục chạy xe, một cảm giác bồng bềnh khó tả khi gió từ biển thổi mát rượi, ven đường là những đồi cát trắng xóa tràn ra cả mặt đường. Đường dài hun hút, không một mái nhà, chỉ màu trắng của cát hòa lẫn với màu xanh ngắt của mây trời và xanh đậm của những rặng phi lao ven đường. Khung cảnh hoang sơ đến huyền bí.

Tưởng như đã thưởng thức no nê vẻ đẹp đặc trưng vùng biển thì khi leo lên hết con đường mòn mấp mô, chênh vênh để tận mắt mục sở thị Eo Gió, bạn chỉ biết ngỡ ngàng trước cảnh sơn thủy hữu tình; cảm giác mệt mỏi tan biến, thay vào đó ta dần thấy mát lạnh khi những cơn gió biển lọt vào eo xâm chiếm cả khu này.

Eo Gió đẹp bởi những rặng núi đá cao chót vót với đủ hình thù kỳ quái chạy lan ra trùng dương. Núi ôm biển, biển vờn quanh núi, sóng xô vào bờ như đang hát lời ru dạt dào, xa xa thấp thoáng dáng con thuyền, chập chờn đàn chim tung cánh. Từ trên cao quần thể Eo Gió trông đầy gợi cảm mà cũng thật hoang sơ, kỳ vĩ.

Là một trong những thắng cảnh nổi bật nhất Bình Định nhưng Eo Gió hầu như vẫn chưa có bàn tay tác động của con người. Những dịch vụ du lịch không phát triển nên chỉ mất tiền gửi xe ở những hộ dân quanh đó rồi ta tha hồ tự do thưởng ngoạn vẻ đẹp của biển trời bao la và những đường cong tuyệt đẹp của núi đá vẫn còn trinh nguyên, hoang sơ.

Bài hát của đá và gió

Lên đến đỉnh, điều đầu tiên bạn cảm nhận được là những dải núi đá uốn cong như một cái phễu hút gió từ biển rồi chạm vào những vách đá thổi ngược lại lồng lộng cho cảm giác mát lạnh. Ta nghe rõ âm thanh của gió rít bên tai hòa với tiếng sóng vỗ dịu êm, thi vị hơn bạn ngửi thấy cả mùi chát mặn của biển cả.

Eo Gió tựa như một bài hát do đá và gió tạo nên. Những âm thanh du dương của gió rít vào những vách đá, tiếng sóng biển nhè nhẹ dạt dào ngày đêm mãi xô vào bờ, thi thoảng đâu đấy là tiếng xôn xao của đàn chim từ những hang động bay ra. Tất cả tạo thành một bài hát đầy chất thơ, nghe rất êm tai.

Chính đá mới là nhân tố làm nên vẻ đẹp quyến rũ, man dại của Eo Gió. Đá nơi đây lởm chởm từ đỉnh cao vút chạy đến bờ thoai thoải; đi dọc theo chân núi là đến bãi Đá đẻ với rất nhiều đá lớn nhỏ được sóng mài phẳng lì. Sở dĩ gọi là Đá đẻ vì cứ nhặt đi lại thấy đá như “mọc” ra nhiều hơn. Từ Đá đẻ nhìn ra biển là những cụm đá lớn nổi trên mặt nước, đủ hình thù kỳ quái cho bạn thỏa sức tưởng tượng.

Những cụm đá hình thành nên những hòn đảo nhỏ như hòn Mòng, hòn Cỏ, hòn Cân… Mỗi hòn mang một dáng dấp khác, chẳng hạn như hòn Mòng người dân nơi đây coi như con cá sấu vươn mình ra biển cả hay con trâu đang ngụp lặn tắm mát.

Dọc theo những vách núi, ta còn bắt gặp những hang động nhỏ mà thiên nhiên vô tình kiến tạo ra; nào là hình hàm ếch, hình vòm… với những nhũ đá đa dạng màu sắc, gợi cảm. Đứng nơi đây vãn cảnh và chụp vài bức hình quả là tuyệt vời. Thú vị hơn, ở đây còn có giếng tiên, là một con suối nhỏ như dải lụa vắt bên vách núi; nước suối mát ngọt và trong vắt. Còn gì tuyệt hơn hơn sau khi chơi với đá, tắm biển rồi ngâm mình trong giếng tiên thả hồn theo mây gió, hệt như chốn tiên cảnh.

Biển bao la mang theo gió, sóng vỗ vào đá, gió cuốn lấy đá tạo nên nét đẹp Eo Gió, tạo nên một bài hát du dương, êm dịu…

TheoTTO

Read Full Post »

Thơ Võ Chân Cửu

Tranh:Đinh Cường

Mười Năm
.
Mười năm nàng nhớ hay quên
Vầng trăng với lúm đồng tiền nghiêng chao
Ta đi mãi tận nơi nào
Tưởng khi bóng nắng buồn sao giếng trời
Mười năm nàng đã quên rồi
Đẩy đưa chót lưỡi đầu môi lặng nhìn

Cây cao còn bóng ai in
Mùa thu còn tới để nhìn ra hoa.
Mười năm nàng đã quên ta
Thì thôi áo khóac thêm tà sương bay.

 

Gió Lay

 

Gió lay ngọn lá thành cây kiểng
Em nói gì cùng ta hay không
Nơi góc bếp đôi giày cao gót
Trái tim nàng ai so vẫn hư không.

 

Vầng trán

 

Cho anh hôn vầng trán em đau
Và nghe ra tiếng hát địa cầu
Vì sao nọ ở nơi xa khuất
Sẽ hát cùng em phút nhiệm màu

Read Full Post »

Dạo núi

 

Thơ NGUYỄN NHƯ TUẤN

 

Ta bận bận rong chơi cùng hoang dã

Cõng tuổi già lên núi hấp hơi sương

Nghe trời đất vô thường luân lưu chảy

Máu trong người cũng rần rật âm ba

 

Chom chóc gọi bạn tình. Xuân hối hả

Trút nỗi buồn xuống đáy nước hồ sâu

Niềm vui lịm trên cành cây sáng nắng

Nằm lơ mơ dưới tán lá xanh mầu

 

Ta cứ đi, và một ngày thong thả

Dạo quanh hồ xanh như lá rừng xanh

Bầy chim lợn trú đông từ phương bắc

Tiếng kêu rơi xao dộng cả mặt hồ

 

Cùng người bạn đã một thời xao xác

Quên áo cơm tất bật chuyện đời thường

Và, có lẽ bây giờ ta hạnh phúc

Dù một ngày – và chỉ một ngày thôi!

 

NNT

 

 

 

Read Full Post »

Hình như trời đang mưa


Nguyên Minh


 

Tranh Trịnh Công Sơn

Tặng Vô Thường

 

Đài loan tin cơn bão sẽ đổ vào thành phố trong vài ngày tới. Vợ tôi cũng như những người dân khác đều lo mua gạo, thức ăn khô, nước uống và rất nhiều dầu lửa, đèn cầy để dự trữ, phòng thân. Thời tiết thay đổi hẳn. Trời âm u suốt ngày. Lại có mưa lâm râm. Không khí lành lạnh. Tôi không thể ngồi yên ở nhà trong những bức tường ngột ngạt. Tôi cảm thấy cần phải đi, đi đâu cũng được. Tôi thay quần áo, khoác thêm chiếc áo gió. Vợ tôi khuyên tôi không nên đi xa, khi thấy có triệu chứng cơn bão sắp đến, về nhà liền, tránh nguy hiểm giữa đường. Tôi gật đầu cho vợ tôi yên tâm. Tôi gọi điện hẹn Phan đến một quán ăn sân vườn, nơi thỉnh thoảng chúng tôi ngồi lai rai vài chai bia, đủ ngà ngà say.

Phan đã ngồi đợi tôi từ lâu. Tôi đến kéo ghế ngồi đối diện với Phan. Quán vắng hoe, không đông như mọi hôm. Hai chúng tôi ngồi dưới gốc cây bàng, tàn lá sum suê. Mưa bay lất phất. Cô chiêu đãi như biết ý, đem đến đặt trên bàn bốn chai bia tiger ướp lạnh, một cái đồ khui, cùng một dĩa khoai tây chiên rồi bỏ đi, để mặc chúng tôi.

Trong những lần họp mặt anh em bạn bè tôi rất bực mình khi phải ngồi nghe Phan kể những thông tin về đời thường chẳng ăn nhập vào không khí văn nghệ của chúng tôi. Bao nhiêu ước mơ, ấp ủ để thực hiện về một tờ báo văn học mà thời tuổi trẻ chúng tôi đã đình chỉ. Rồi vì thời cuộc chúng tôi đã ngừng bút. Đời sống khắc nghiệt đã làm tôi vắng đi những nụ cười. Tìm đến bạn bè, một chút men say trong không khí thân tình êm ái, cùng nhớ lại một thời đã qua, thì nói làm gì những chuyện vô vị của cuộc sống. Chỉ có những lúc hai đứa tôi ngồi riêng với nhau Phan mới nhắc lại những kỷ niệm về một thời làm báo văn nghệ hăng say với lòng nhiệt thành của tuổi ba mươi. Cùng tiếng tặc lưỡi luyến tiếc. Sao ta không khởi đầu lại những gì đã từng ấp ủ, say mê của thời tuổi trẻ. Giờ tóc đã bạc trắng. Một đời hoang phế! Uống tiếp những cốc bia đầy. Hồn lâng lâng đi về đâu? Những lúc như vầy, Phan ngồi bên tôi, không nói gì cả. Va, tôi cũng thế. Chỉ vài ngày sau là Phan ra đi. Bên kia nửa quả địa cầu. Sao mà xa vời vợi. Tôi sắp mất đi một người bạn. Cuối đời Phan lại phiêu bạt nơi xứ người. Lại một lần nữa thay đổi đời sống. Một cơn bão lịch sử đã làm thay đổi đời ta. Giờ Phan lại đón một cơn bão khác.

Trời vẫn còn mưa, nhưng chúng tôi vẫn còn ngồi ngoài sân vườn, dưới mái dù che bằng tấm nhựa, những giọt nước thi nhau rơi tí tách xoay chung quanh chỗ ngồi hai đứa tôi. Trời vẫn lặng gió. Chưa thấy hiện tượng gì cơn bão sắp qua thành phố. Chỉ còn tôi và Phan là những người khách còn ngồi lại ngoài sân vườn, những người khác đều chuyển chỗ vào trong nhà. Tôi ra dấu gọi cô tiếp viên cho thêm vài chai bia. Cô gái che dù mang bia đến. Phan cười bảo:

– Hôm nay ông uống hơi nhiều, phá lệ à. Ngồi đợi bão đến hả ?

– Có lẽ vậy.

– Không đợi nó cũng đến mà đợi chắc gì nó sẽ đến.

Tôi gật gù uống tiếp một hơi dài. Rồi cười khan. Phan ngạc nhiên hỏi:

– Có gì thích thú mà ông cười?

– Nhớ lại cảnh mưa bão ngày ở quê, ngày nào..

Tôi không kể lại cho Phan nghe, nhưng trong tôi đang gợn lên hình ảnh vợ chồng con cái co ro, run rẩy ở một góc nhà trên chiếc giường tre. Mưa như thác đổ. Gió thổi mạnh như bão. Nóc nhà đã tróc bay nơi đâu. Nước xối xả theo khoảng trống ào xuống sàn nhà lênh láng. Vợ tôi chỉ kịp khiêng lu gạo để lên giường, chỗ khô ráo duy nhất trong nhà. Còn tôi chỉ khư khư ôm lấy cái cassette vào lòng rồi lấy bao ni lông bọc lại, sợ nước mưa nhỏ vào hư máy. Khi tạnh cơn mưa, trời đã về khuya. Các con tôi đã ngủ say, chỉ còn vợ chồng tôi còn thức. Nằm cạnh bên nhau nhìn lên, một đường trống trơn chạy dài, như cắt mái nhà ra làm hai mảnh riêng biệt, đủ để ánh trăng lấp vào thả ánh sáng lên hai thân hình của đôi vợ chồng trẻ đang ôm nhau khắng khít. Vợ tôi ngủ say. Còn tôi vẫn thức, nghe nhạc một mình. Tiếng nhạc du dương hòa tấu khúc Hồ thiên nga của Tchaikovski, đưa tôi vào một cõi mộng mơ xa xôi. Nơi đó vắng bóng người đàn bà trẻ đẹp, mảnh mai, phải còng lưng gánh lúa cho Hợp tác xã nông nghiệp. Nơi đó không có nắng chang chang để làm làn da vốn trắng trẻo trở thành nám cháy, khi suốt ngày phải ở ngoài đồng cấy mạ gặt lúa, làm bàn tay năm ngón thon thả trở thành cục mịch và lòng bàn tay ngày nào hồng hào thành dầy cợm, chai lì. Cuộc sống lam lũ vẫn không làm chúng tôi bi quan. Vui vẻ mà sống. Sau những giờ lao động chân tay chúng tôi còn một đời sống khác. Buổi sáng dậy sớm, tôi nghe nhạc không lời, cùng uống cà phê sữa nóng, cùng hút một điếu thuốc, nhớ lại một vài kỷ niệm đẹp của những ngày đã qua trong một đời sống khá giả trước đây, và tuyệt đối vợ chồng tôi tránh nhắc đến những cơ cực của cuộc sống hiện tại. Sau đó mỗi người tản ra đi làm. Vợ tôi ra đồng. Tôi đến văn phòng hợp tác xã với những con số về công điểm ăn chia, về số lúa thu hoạch, về phân bón nhập kho. Một kế toán trưởng hợp tác xã nông nghiệp mà tôi không hề phân biệt được đâu là cỏ cú đâu là lúa non. Về đến nhà, tối thắp đèn dầu, đọc sách văn học. Khuya nghe nhạc cổ điển tây phương. Nhưng hằng ngày phải ăn cơm độn. Bo bo. Khoai mì. Khoai lang. Những năm 79-80, bao nhiêu người thân, bạn bè bỏ quê hương, lén lút trốn tránh nhau để vượt biển ra đi. Những năm 90 họ ung dung trở về rạng rỡ nụ cười với những người thân ra đón mừng. Bao nhiêu sai lầm tôi đã trải qua. Mười lăm năm sau tôi mới mang gia đình vào sống ở Sài Gòn. Bạn bè tôi từ từ cũng tụ về một mối.

Tôi hỏi Phan:

– Ra giêng, ông cưới vợ cho con trai đầu rồi mới đi chứ.

Phan không trả lời, chỉ gật đầu.

Bắt đầu lại một cuộc sống mới với tuổi gần sáu mươi kể cũng buồn thật. Tôi đưa ly bia định uống một hơi, bỗng ngừng tay lại, đôi mắt nhìn quanh đâu đó, tai nghểnh lên. Tôi nhận ra trong tiếng mưa rơi, văng vẳng tiếng đàn ghi-ta từ xa vọng lại. Lúc đầu, từng tiếng khoan thai, sau dồn dập. Những ca khúc của một thời đã làm tôi say mê. Hoài cảm. Đêm đông. Buồn tàn thu. Tôi sững sờ, bàng hoàng, nhận ra tiếng đàn này rất quen thuộc với tôi, từ thời niên thiếu. Vẫn những tiếng láy rung rung mang âm hưởng của đàn mandoline. Đúng rồi, tiếng đàn của bạn tôi. Của bốn mươi năm về trước. Một khoảng thời gian dài bỗng rút ngắn lại trong tích tắc, trong từng âm thanh dồn dập xô đẩy tôi vào một không gian khác, một thời gian khác. Tôi nở nụ cười héo hắt. Bậm môi mình thật chặt để chận lại nỗi uất nghẹn sắp trào ra thành tiếng khóc. Nhưng nước mắt tôi đã chảy thành từng giọt, rơi xuống mặt nước vàng sủi bọt của ly bia tôi đang uống dở. Phan sững sốt nhìn tôi, hỏi rất khẽ:

–  Cậu sao vậy?

Tôi lẩm bẩm:

– Đúng là hắn.

Rồi, tôi gọi cô chiêu đãi hỏi tác giả đàn ghi-ta là ai. Cô chiêu đãi đáp gọn:

– Vô Thường.

Tôi gật đầu nói nhỏ nhưng cũng đủ cho Phan nghe:

– Đúng hắn. Võ văn Thường. Bảy Rìu.

l

Tuổi thơ của chúng tôi, tên trong giấy khai sanh ít được gọi tới, chỉ kêu nhau bằng biệt danh, không hiểu xuất xứ từ đâu, hồi nào. Bạn nối khố gọi tôi: Minh Bui, Vô Thường là Bảy Rìu. Nhà chúng tôi ở hai con đường khác nhau. Nguyễn Thái Học, Trần Hưng Đạo, nhưng nhà hai đứa kế hông nhau. Căn gác nhỏ của tôi, cửa sổ mở ra, nhìn qua căn gác của hắn. Chỉ cần tín hiệu huýt gió, chúng tôi xuống gác ra khỏi nhà gặp nhau chẳng ai biết. Thường vào những đêm có trăng, khi những ngọn đèn nhà trong phố tắt hẳn, lũ chúng tôi ba đứa, Minh Bui, Bảy Rìu và Tín Chả, rủ nhau ra ngồi ở sân quần vợt cùng đánh đàn ghi-ta, và ca hát. Suốt cả đêm, có khi thiếp ngủ luôn tại đó, giật mình thức giấc, tưởng rằng sương khuya sẽ ướt mất cây đàn, mới hay ai đó trong ba đứa đã lấy tấm chăn phủ kín cây đàn, đánh thức nhau dậy, chạy về nhà chui vào ghế bố đã để sẳn từ đầu hôm trước hiên, ngủ tiếp.

Những năm đầu thập kỷ 60, đất nước còn thanh bình. Không có giới nghiêm. Không có tiếng súng. Thị trấn nhỏ nhất miền Nam này sống hiền hòa, êm đềm. Cả ba cùng một tuổi Tỵ. Tân Tỵ Tín Chả và Bảy Rìu còn là anh em bạn dì. Cả ba chúng tôi cùng học một trường tiểu học, và khác trường khi lên trung học. Trong những đêm mùa hè nóng nực, chúng tôi thường kéo nhau ra ngồi dưới cột đèn đường hay ngoài bờ thành của một ngôi chùa nhỏ.

Thường chơi đàn ghi-ta bằng tay trái, Tín  bằng tay mặt. Hai đứa ngồi đâu lưng với nhau, hai cần đàn dài hướng về hai phía khác nhau. Đầu họ cúi xuống, tóc phủ trán lất phất bay theo gió. Những ngón tay phải bấm trên dây đàn, còn ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái của Thường cầm lấy phím đàn bằng đồi mồi, gảy từng tiếng một rồi liên hồi, tạo thành những âm thanh giòn giã tựa như tiếng đàn mandoline. Tín thì ngược lại. Những ngón tay có móng  dài, thong thả, búng vào dây đàn tạo ra âm thanh đục trầm. Tôi ngồi trước mặt họ, hai người bạn từ lối chơi đến cách cầm đàn trái ngược hẳn nhau, đối kháng nhau. Tôi không biết đàn. Tôi chỉ là người thưởng thức, cảm nhận được sự hòa hợp của hai tiếng đàn đó. Tiếng đàn của Tín trầm và khoan thai, ngược lại giọng hát cao vút. Còn Vô Thường giọng trầm và khàn khàn trái ngược với tiếng đàn âm cao.

Tôi không biết hai người biết đàn ghi-ta từ lúc nào, nhưng chắc chắn cả hai chưa thông qua một trường lớp nào. Tôi thường mua sách Tự học đàn ghi-ta gởi tặng hai bạn, khi tôi rời khỏi thị trấn nhỏ đó ra học ở Huế. Tôi tưởng từ đó chúng tôi không gặp nhau nữa.

Năm năm sau tôi lại trở về thị xã này, làm nghề gõ đầu trẻ. Tín Chả bị động viên vào quân ngủ.  Thường đã có vợ và làm công chức ở tỉnh. Mỗi đứa đều có một đời sống riêng, tưởng rằng không còn liên quan gì với nhau. Nhưng tôi đã lầm.

Nhớ lại ngày chúng tôi quen nhau lúc còn bé, ngồi vây quanh anh Đề, một thanh niên trong xóm tôi, gảy đàn mandoline. Anh Đề là bạn của anh Hai tôi, từ thuở nhỏ,   lớn lên theo Việt Minh. Tôi không hiểu sao anh Đề lại bỏ chiến khu về thành. Nhìn nước da của anh xanh mét, và người gầy đét, khô cằn, rõ ràng anh mang bệnh sốt rét. Tôi chỉ nhớ có một buổi tối trời có trăng, lần theo tiếng đàn, tôi mới gặp được anh. Anh đang ngồi trên thành lan can, dựa lưng vào vách, tay ôm cây mandoline và đàn liên tục, từ bài này sang bài khác. Những âm thanh dòn dã, hùng hồn, nhưng có lúc như tỉ tê, phiền muộn. Toàn những bản nhạc lúc bấy giờ tôi chưa nghe. Có hỏi, anh Đề chỉ cười và nói nhỏ: “Lớn lên chú mày sẽ biết”. Sau này tôi khám phá ra đó là những bản nhạc kháng chiến: An Phú Đông. Nhớ chiến khu. Bà Mẹ Gio Linh. Anh chỉ đàn mà không hát. Lần sau tôi tìm đến anh, nhà anh chỉ cách nhà tôi mấy căn, năn nỉ anh đàn cho tôi nghe. Hai anh em dắt nhau ra ngoài hiên, người đàn người nghe. Khi anh Đề ngừng tay, hút thuốc, tôi mới nhận ra hai chú bé tuổi bằng tôi, ngồi cạnh mình từ lúc nào.

Anh Đề chợt đến chợt đi như một bóng ma, nhưng tiếng đàn của anh đã để lại cho tuổi thơ chúng tôi một dấu ấn tuyệt vời về âm nhạc. Một đêm trăng, ba đứa không ai rủ ai tìm đến anh Đề, mới hay anh đã bỏ nhà ra đi từ đêm qua. Sau này tôi mới hiểu vì sao một đêm trước đó anh đàn cho chúng tôi bài Cây đàn bỏ quên và tặng cho Bảy Rìu cái phím đàn bằng đồi mồi. Nghe anh Đề đàn, tôi chỉ nhìn trời bâng quơ. Còn Bảy Rìu, chăm bẳm nhìn bàn tay anh Đề cầm phím đàn liên tục gảy nhạc. Từ đó Bảy Rìu tập tành đàn. Tín Chả tập hát. Còn tôi tập viết văn.

Từ ngày Phan qua Mỹ, nhiều lần tôi tìm băng cassette hoặc dĩa CD về đàn ghi-ta của Vô Thường ở hải ngoại để thưởng thức tài nghệ của anh, cũng như xem lại tôi có xúc động đến rơi nước mắt, như vài năm trước khi ngồi với Phan. Tôi có tìm đến  quán sân vườn ngồi uống bia và yêu cầu họ cho tôi nghe lại băng đàn guitar nhưng họ trả lời đã bị hư nát rồi. Tôi có hỏi những nơi thu băng nhưng họ lắc đầu, chưa thấy. Vài năm sau trong một chuyến đi lên Đà Lạt nghỉ mát, vào nhà sách, nơi quầy bán băng cassette tôi thấy có tên Vô Thường, mừng như vừa gặp lại người bạn cũ. Tôi mua về. Chiều đó tôi không ngồi ở nhà Thủy tạ cùng Trọng, lấy cớ đang có hứng để viết một truyện ngắn. Trong không khí lạnh lẽo của vùng Cao nguyên, ngồi trong căn nhà gỗ, trước mắt là màu xanh lục của rừng thông bên kia ngọn đồi vương vấn những áng mây trắng lờ đờ trôi qua. Tiếng đàn Vô Thường trỗi dậy. Âm thanh đó kéo tôi đi vào một cõi khác, xa lìa với cuộc đời này. Và tôi lại bật tiếng khóc. Sá gì một tiếng đàn của người bạn cũ làm tôi xúc động như thế. Tôi ngồi suy ngẫm cố tìm xem từ trong đáy lòng mình một dấu vết đau thương nào trong cõi u minh.

Thì ra, ngày ấy…

Ba tôi, trong những ngày cuối đời thành một ông già gầy nhom, mặc quần áo lụa trắng, tay chống gậy, mỏi mệt lần bước chân đi. Tuổi tác ba tôi bấy giờ cũng bằng tôi lúc này. Sáu mươi, nhưng cơn bệnh lao phá nát hai buồng phổi, những cơn ho dữ dội làm tuôn máu đỏ tươi. Trông ba tôi như một cụ già tám mươi.

Muốn lên gác, tôi phải đi ngang qua ba tôi. Ban ngày ông nằm trên chiếc ghế xích đu bằng vải bố, trước bàn thờ leo lét một ngọn đèn dầu, một lư hương luôn luôn có cây nhang được đốt lẻ loi, phảng phất mùi thơm, phía sau là tấm hình đã hoen ố của mẹ tôi. Ba tôi như người giữ mồ. Ban đêm ông cũng không cho bật đèn điện, ông không chịu được ánh sáng. Chỉ vài bước chân ngang qua, mới thoát ra cõi tối tăm, ma quái. Chỉ cần bước nhanh qua nơi ba tôi nằm như xác chết, để lên được căn gác tôi cũng đủ làm T. run sợ khôn xiết.

Trước ngày giỗ mẹ tôi, ba tôi qua đời. Khi ba tôi chết tôi mới khám phá ra ba tôi tự tử bằng thuốc ngủ. Bác sĩ bảo cơn bệnh sẽ còn hành hạ và keo dài cuộc sống ba tôi một hai tháng nữa. Trước đó, Ba tôi đã từng nói: Sao con cái không giỗ mẹ, giỗ cha cùng một ngày. Cùng lúc nơi chín suối cả hai ông bà dắt nhau về nhìn con cái sum họp cúng vái cha mẹ. Trước ngày  ba tôi mất, ông buộc anh Quế phải đem trầu cau cưới chị Muội, cũng như Định ngoài Huế cưới Ngân. Đám cưới chạy tang. Còn tôi, ba tôi dặn dò tôi và T. phải giữ vững tình yêu để thuyết phục ba mẹ T. vài năm sau đổi ý, chấp nhận, cũng không muộn màn gì.

Đám tang của ba tôi, mọi người thân từ xa đến phúng điếu trước giờ đi chôn. Thắp cho ba tôi một nén nhang Thường khấn thầm: “Như vậy con đã đàn tiễn đưa bác đi rồi nhé.” Tôi giật mình nhớ lại những ngày trước đó. Thường báo cho tôi anh mới khám phá việc khuếch đại âm thanh đưa tiếng đàn ghi-ta thùng, thánh thót như ghi-ta điện của ban nhạc Shadow thịnh hành thời đó. Anh gắn micro sát vào mặt gỗ thùng đàn, đầu kia phích cắm vào sau chấu điện của cái đài Philippe 6 đèn.  Anh cầm phím đàn của anh Đề cho thuở nào gảy lên dây đàn ghi-ta như gảy lên  đàn mandoline. Âm thanh vang dội qua nhà tôi. Không còn phải ngồi bên cạnh nhau và phải lắng tai tôi mới nghe hết âm thanh của tiếng đàn. Tôi tắt ngọn đèn trên căn gác, định ngủ, ánh trăng chiếu qua khung cửa sổ dọi vào một góc phòng, và tiếng đàn guitar réo rắt và liên tục từ Hoài cảm, Đêm đông, Buồn tàn thu, Bến xuân. Không biết còn đến ca khúc nào nữa đã đưa tôi vào những giấc mơ thần tiên rồi. Những đêm sau đó, lúc trăng lên ngay đỉnh đầu, Thường ôm đàn với âm thanh khuếch đại, không cần biết đến những người ở nhà bên cạnh đang cần sự yên tĩnh. Ba tôi là người phản ứng đầu tiên. Ông hỏi tôi: “Nhà ai mới mua máy hát mà để dĩa nhạc to vậy.” Tôi trả lời ngay: “Thằng Bảy Rìu chơi đàn đó ba.” Ba tôi thắc mắc hỏi tiếp: “Đàn gì vậy?”“Dạ, ghi-ta.”“Như cây đàn của thằng Tín hả. Sao lạ tai vậy?” –“Ghi-ta điện tự chế. Mà hay không ba?” Ông gật đầu: “Da diết quá. Buồn quá.” Bấy giờ tôi mới nhận ra vẻ mặt quá bơ phờ của ba tôi. Hai mắt ông lõm sâu và có quầng thâm, chứng tỏ những đêm giấc ngủ chập chờn cùng những cơn ho dữ dội, tàn phá thân xác ông. Gặp Thường tôi kể lại. Và gợi ý: “Mày đàn ban ngày to mấy cũng được, ban đêm giảm âm thanh lại.” Thường phản ứng với vẻ mặt buồn xo: “Ban đêm trăng thanh gió mát và tâm mình lắng dịu, chơi đàn mới sướng, âm thanh thật mạnh mới đã.” Những đêm sau đó, trời vẫn còn trăng, gió vẫn mát nhưng lại vắng tiếng đàn của Thường. Ba tôi mới hỏi: “Bộ thằng Thường bệnh hả?” – “Sao ba lại nghĩ vậy?” – “Thế sao tao không nghe nó đàn?” – “Sợ ba ngủ không được con bảo nó đừng đàn giữa đêm khuya. Nó nghe lời nhưng con biết nó rất buồn” – “ Nghe nó đàn tao buồn nhưng vắng tiếng đàn của nó tao lại đau khổ hơn. Tao chờ đợi. Tao lắng tai. Tao thao thức. Tao thấy trong tâm hồn tao thiếu vắng cái gì đó. Té ra tiếng đàn.  Nó dẫn dắt tao tìm thấy mẹ mày trong một cõi xa vời khác.” Ba tôi ngừng tiếng một lúc rồi năn nỉ “ Tội ba, con nói nó đàn cho ba được gặp mẹ con với”. Đêm đó Thường đàn cho ba tôi nghe bài Dạ lai hương. Âm thanh ma quái, liêu trai. Sáng mai thân xác ba tôi đã cứng lạnh. Dưới gối có một ống thuốc ngủ trống trơn. Chắc giờ này ba tôi đã gặp được mẹ tôi rồi.

l

Mấy mươi năm qua rồi. Tối nay, trên căn gác, tôi không bật đèn, dưới bóng tối lờ mờ, tôi ngồi gác cằm lên song cửa sổ, mắt đăm đăm nhìn bãi đáp máy bay của phi trường Tân Sơn Nhất. Trời tối đen như mực. Sao lấp lánh. Một dãy đèn xanh đỏ chằng chịt cắt ngang như phân chia ranh giới giữa biển cả và trời mây. Ánh đèn pha chớp chớp như những tia sấm, báo hiệu cho máy bay đáp xuống. Âm thanh réo rắt của tiếng đàn guitar của Vô Thường từ dàn máy CD vang lên. Tôi tự hỏi: “Tại sao hai lần trước tôi nghe tiếng đàn này tôi đều chảy nước mắt, rồi sau đó một vài kỷ niệm giữa tôi và Vô Thường cùng những hình ảnh xa vời của cha tôi, của anh Đề, của Tín Chả mới hiện lên sống lại trong tim tôi. Tôi chưa tìm ra lý do nhưng tôi biết có một cái gì sâu xa hơn nữa nằm tận đáy lòng tôi đang bị một khối đá nặng nề đè nặng lên. Nó muốn vùng dậy và thoát ra”. Tôi một mình muốn chìm đắm trong tiếng đàn đó xem nó dẫn tôi tới đâu, có làm tôi xúc động trước khi nhận ra một khuôn mặt ai đó đã qua trong đời mình những ngày xa xưa tưởng chừng như đã chết.

Tiếng đàn Vô Thường có lúc tỉ tê như đang muốn tâm sự với tôi. Âm thanh trầm trầm, rời rạc, bỗng lên như cánh diều bay vút theo gió lên trời cao, rồi bị đứt dây, lảo đảo giữa khoảng không gian bát ngát. Có lúc tiếng đàn dồn dập như xô tôi vào một cõi mênh mông nào đó. Có tiếng gào thét, vẫy vùng. Và uất nghẹn. Giận hờn. Và thương nhớ. Sau bao nhiêu năm từ thời tuổi thanh niên đến lúc này đầu đã bạc mà một câu hỏi đã làm tôi cũng như Vô Thường bứt rứt không có câu trả lời thích đáng. Tại sao hắn chết. Tín Chả. Tín không chết ngoài trận mạc mà hắn chết vì tự tử. Một viên đạn súng lục hắn tự bắn vào đầu. Tín chết để lại cho Bảy Rìu cây ghi-ta mới mua, các dây đàn bằng sợi cước. Thường treo lên tường cạnh giường ngủ, cứ nhìn thấy chứ không cầm lên nổi để bấm đàn. Anh bị cái chết bí ẩn của Tín ám ảnh. Cũng như tôi, không đọc nổi vài trang tiểu thuyết, không nghe nổi vài đoạn nhạc cổ điển Tây phương hoặc những ca khúc tiền chiến. Những buổi chiều tối xẩm tôi hay ngồi hút thuốc liên miên, không muốn suy nghĩ về cái chết của Tín. Tôi trách mình vô tâm. Tôi trách bạn vô tình. Giật mình nhớ những đêm Tín rủ tôi và Thường cùng nhau vào Sài Gòn đi khiêu vũ. Tín nhảy những bản tango rất tuyệt vời. Người vũ nữ trẻ đẹp thướt tha theo từng bước dìu của Tín. Cả vũ trường đều nhìn say mê. Một người bạn cùng quê, cùng mê vũ trường như chúng tôi báo tin về sự bỏ nhà ra đi theo người tình của vợ Thường. Thường không tỏ một thái độ gì cả. Mặt vẫn lạnh lùng, nhưng nửa đêm, tôi nằm bên cạnh mới nghe tiếng khóc rấm rứt của Thường.

hai

Cũng như về T., tôi ước mơ cuối đời mình sẽ được gặp lại nàng, dù chỉ một lần. Trong giấc mộng, T. tránh mặt tôi, lúc tỉnh giậy tôi buồn vô hạn. Gặp nhau để làm gì, khi hai chúng tôi mỗi đứa đã an bề gia thất. Và tuổi già đã đến trên đầu mỗi đứa. Tôi nghĩ đến lúc mình nhắm mắt xuôi tay không bao giờ tôi được gặp lại T., người tình xưa. Trong tâm tưởng chỉ còn mơ hồ một hình ảnh người con gái hai mươi tuổi, ngây thơ và trong trắng.

Nào ngờ, chúng tôi gặp lại nhau thật, sau ba mươi năm cách biệt. Người đang ngồi đối diện với tôi là T., người đàn bà đã từng trải, chịu bao đắng cay sau năm 1975, chồng chết một năm sau đó. T. dắt mấy đứa con thơ dại vào sống ở Sài Gòn. Bon chen. Rồi vượt biên. Bị bắt. Thả ra lại tiếp tục vượt biên. Thọ bạn tôi cũng là anh rể của T. chỉ cho tôi biết tin chừng đó. Ngày tôi dắt cả gia đình từ bỏ thị trấn nhỏ vào sống Sài Gòn cũng chính là những ngày cuối cùng T. còn ở Việt Nam. Thọ cho tôi biết hình như T. buôn bán giày dép ở đường Lê Thánh Tôn. Tôi lang thang mãi suốt con đường đó mong có tiếng ai rất quen thuộc, rất thân ái gọi khẽ tên mình để ngừng bước quay lại nhìn khuôn mặt người tình năm xưa, xem lòng mình còn bàng hoàng đến mức độ nào. Bây giờ, T. cười và lắc đầu:

– Anh Thọ cho sai tin về T. hay anh nghe lầm. Tuyên có sạp vải ở chợ Tân Định, sau những lần thất bại ê chề, bị bắt tù vì tội buôn thuốc tây lậu. Vài lần gặp lại người quen T. có hỏi về anh, họ nói anh đi kinh tế mới.

Nói chung, sau năm 1975 chúng tôi không nhận được tin tức đích xác của nhau. Sau này tình cờ gặp lại Minh, em ruột của T., mới cho tôi hay T. và các con hiện nay ở Mỹ. Đời sống đã ổn định.

– Anh nghĩ khoảng đời còn lại tụi mình không còn gặp được nhau. Tại quê nhà, cùng một thành phố mà chúng ta còn không có cơ hội, huống gì khi hai đứa ở cách nhau nửa quả địa cầu. Phải không T.

T. khẽ lắc đầu. Đôi mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, nàng nói:

– Không. Nếu vậy em không về lại Việt Nam, sau khi Minh cho em biết tin tức đích xác về anh.

– Giờ, tóc anh đã bạc trắng đầu. Em cũng không còn trẻ. Chúng ta đang ngồi lại với nhau, nhìn lại nhau, đánh giá lại tình yêu đã dành cho nhau cùng những lầm lỡ của thời tuổi trẻ. Lúc đó tụi mình không biết để cho nó trôi qua. Mất mát. Ân hận. Ray rứt. Hối tiếc.

Người phục vụ đem đến thực đơn, lịch sự hỏi:

– Thưa hai bác dùng gì?

Lúc ấy tôi mới nhận ra tôi và T. đang ngồi tại nhà hàng Tib. Nhìn xung quanh mình, còn nhiều bàn vắng khách, hai đứa tôi là khách đến sớm nhất. Bàn tôi ngồi sát vách bằng kính trắng ngăn cách với cái sân trống để mấy hàng chậu kiểng bonsai, hòn non bộ. Tiếng hát Khánh Ly thầm thì quanh đây. “Người ngỡ đã xa nhau nhưng người bỗng lại về… Tình ngỡ đã quên đi nhưng tình quá bao la…” Lời bài ca giống như tâm trạng của chúng tôi. Tôi hỏi T.:

– Những ngày rằm ở Mỹ em có ăn chay không? Như ngày nào khi còn con gái, ở trọ trong chùa ?

– Có. Dù chỉ một mình.

– Giờ có anh. Tại quê nhà. Em gọi món gì đi, thứ ở Mỹ hiếm thấy. Nhà hàng này đặc biệt chỉ bán quanh năm suốt tháng các món ăn chay xứ Huế và nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

Những giọng ca quen thuộc của Khánh Ly, Lệ Thu diễn tả lời thơ, âm điệu nhạc buồn của Trịnh Công Sơn từ từ đưa chúng tôi lùi về quá khứ. Thời gian đi thụt lùi. Không gian đảo ngược, quăng chúng tôi về thị trấn nhỏ đầy kỷ niệm của một mối tình thơ ngây. Bặt đi tiếng hát. Vọng lại tiếng đàn ghi-ta độc tấu những ca khúc Trịnh Công Sơn thành một liên khúc. T. ngẩn ngơ rồi buột miệng:

– Tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Sao em biết.

– Ở Mỹ, Vô Thường nổi tiếng cả mười năm nay. Ở nhà em cũng có vài dĩa CD Vô Thường. Mỗi lần nghe, lòng em nôn nao, như xa lìa đời sống quá bon chen, như con lật đật, để trở về vùng im vắng của quê nhà. Nơi ấy có những người thân yêu của một thời xa vắng. Cứ vương vấn bên lòng. Dù thời gian có trôi qua.

– Em thử nhớ xem, tiếng đàn này em đã nghe một lần nào trong cái dĩ vãng xa xưa, thời còn con gái. Riêng anh, nó cứ ám ảnh anh vì cả một khoảng đời trai trẻ các anh dính liền với nhau. Hắn đó: Vô Thường, bạn anh, Tín Chả mà ngày nào mới quen nhau anh đã kể cho em nghe về cái chết của một thanh niên đẹp trai, tài hoa.

– Ngày ấy em là cô gái tuổi 18, nghe anh kể cảnh anh Tín tự tử, suốt mấy đêm liền mất ngủ, miệng phải lâm râm đọc kinh Phật, để xô đuổi hình ảnh máu đổ trộn lẫn với não tủy từ màng tang tuôn ra. Ghê quá. Anh Vô Thường em chưa nghe anh nhắc tới.

– Giờ cũng chưa muộn dù đã 30 năm bọn anh chưa gặp nhau lại, anh kể cho T. về hắn. Hắn xấu trai, mắt lồi răng hô, nói chuyện thô lỗ, vô duyên. Có tật là mọi vật đều cầm tay trái, kể cả cây đàn. Không có mối tình nào đẹp. Có vợ sớm để vợ ngoại tình bỏ đi. Cưới vợ khác có vài đứa con rồi cũng bỏ họ lại quê nhà, di tản sang Mỹ những năm 75. Hồi nhỏ đi học, lớn lên thành lính kiểng. Niềm say mê nhất đời hắn là đàn ghi-ta. Cái duyên, cái đẹp tâm hồn của hắn đều nằm trong tiếng đàn. Như Trương Chi còn có Mỵ Nương. Còn Vô Thường thì có ai? Sau này vài người quen từ Mỹ về anh có hỏi thăm về Vô Thường, họ cho biết vẫn ở một mình sau bao nhiêu đời vợ, bao nhiêu cuộc ly dị. Bao nhiêu cuộc chia đôi tài sản. Chàng chỉ còn lại chiếc nhà xe di động có trang bị dàn máy ghi âm để thu tiếng đàn của mình vào dĩa CD.

Tôi ngừng nói khi thấy T. đang ngơ ngẩn như có ai đó đang dẫn dắt nàng đi vào một cõi nào. T. đang chập choạng, quờ quạng, lềnh bềnh như mây bay. Tôi cũng bước theo nàng, hụt hẫng, bồng bềnh trong trời mênh mông. Tiếng đàn tỉ tê. Khi chậm khi nhanh. Khi trầm khi bổng. Khi lưa thưa, khi dồn dập, dẫn dắt tôi và T. lang thang trong cõi mộng mơ. T. nói như còn trong cơn mộng du:

– Chẳng lẽ em đã nghe tiếng đàn ghi-ta này. Cũng bản Ướt Mi của Trịnh Công Sơn. Một buổi chiều mưa trên căn gác nhà anh. Từ đâu vọng lại. Em ngồi một mình.  Anh quên lời hẹn với em. Anh không về. Tiếng đàn lập đi lập lại cũng vẫn một bản Ướt Mi cho đến lúc em bước chân nhẹ nhàng xuống cầu thang và rón rén đi ngang qua chỗ ba anh nằm bệnh mới vững bước tự nhiên ra khỏi nhà anh.

Tín chết làm tôi lảo đảo, chênh vênh, như một kẻ say rượu bước chân lên cầu thang mà cứ tưởng bước xuống vực sâu, tôi lao mình rơi xuống, chới với trong miền hoang vu, bấy giờ khuôn mặt T., đôi mắt T. long lanh những giọt lệ và đôi bàn tay xinh xắn nắm chặt tay tôi kéo lên, dìu dắt tôi, vững chải bước tiếp tục trên cõi đời này. Từ giã những cơn say túy lúy, từ giã những đêm đi lang thang một mình giữa phố phường đã đóng cửa mà lòng tan hoang, cùng nỗi ám ảnh về cái chết của Tín, tôi đã bước vào thế giới tình yêu của T. mang lại cho tôi.

– Đúng là tiếng đàn Vô Thường sau một thời gian im tiếng vì cái chết của Tín. Em nhắc đến buổi chiều đó làm anh giật mình nhớ ra có lần Thường hỏi anh có biết vì sao hắn có hứng thú để đánh đàn ghi-ta, ngay chính trên cây đàn Tín để lại, âm thanh du dương, lanh lảnh, gây xúc động cho người nghe. Phải khuếch đại âm thanh. Chỉ một hình ảnh về khuôn mặt ngây thơ và trong trắng của một người con gái bên kia khung cửa sổ, lờ mờ qua màn mưa rơi lớt phớt ngoài trời tao cũng nhận ra được những giọt nước mắt của nàng đang nhỏ xuống, đã tạo ra những âm thanh tuyệt vời trong tâm hồn tao khiến những ngón tay tao gảy lên những dây đàn theo nỗi cảm xúc mà tao không cầm lòng được. Nó mạnh hơn cái ám ảnh của cái chết. Ai? Mày biết không. Anh lắc đầu và hắn chỉ thốt lên, dù sao tao cũng cám ơn cô bé ấy. Anh không thắc mắc tìm hiểu chỉ mừng là hắn đã đàn được mà càng lúc càng hay, những âm thanh điêu luyện làm rung động lòng người. Bây giờ, tình cờ anh mới biết cô bé ấy là ai roi. T.

Tôi ngừng nói, cầm ly nước uống một hớp nhẹ, rồi nhìn T. hiện tại sau 30 năm vẫn còn mang dáng dấp ngày xưa, đôi mắt trong sáng nhưng u hoài, và nụ cười héo hắt. Tôi nói tiếp:

– Mỗi lần anh nhớ về T. anh không thể quên được những giọt nước mắt của em. Lúc nào cũng khóc được. Đáng lý ra anh phải dỗ dành T., an ủi T. nhưng anh cứ ngồi trơ mà nhìn. Anh như con mồi mắc bẫy màng nhện, tay chân cứng đơ nhưng lòng lại xót xa.

T. không nhìn thẳng vào mắt tôi, nàng nhìn ra ngoài sân, nói rất khẽ như tự nhủ thầm với lòng mình:

– Tụi mình gặp nhau lúc nào trời cũng mưa.

Tôi cứ ray rứt mãi về buổi tối đã bỏ T. giữa đường đứng núp mưa. Một mình với thân con gái. Trời lạnh, rét run. Sài Gòn ban đêm đầy cạm bẫy. Cả tiếng đồng hồ sau Trọng mới đi đón hộ tôi. Bao nhiêu năm qua tôi cứ ân hận mãi. Ngay sáng hôm sau tôi kể lại cho chị Muội. Chị ấy chưởi tôi là kẻ vô tâm. Và tôi chuộc lỗi bằng cách tối đó mang đến cho T. những trái cam với sự ngạc nhiên của T.: Em đâu có bệnh. Tôi tự trách mình. Hết vô tâm lại ngớ ngẩn.

– Mỗi lần trời mưa lòng T. xốn xao. Bao nhiêu năm rồi cũng vậy, nhớ đến một cái gì đó không rõ ràng. Buồn về một điều gì đó không rõ nét. Rất mơ hồ. Rất xa xôi. Nó nằm rất sâu trong lòng em. Có dịp nó trổi dậy: Những cơn mưa cùng tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường.

Tôi nói :

– Về mối tình đầu. Thuở ấy em chỉ biết yêu và chỉ biết khóc?

T. nói như một lời trách móc:

– Còn anh, anh chỉ biết nhìn, để nó trôi qua. Anh không biết giữ gìn, quí trọng.

Tôi gật đầu như thú nhận:

– Đến khi mất em rồi anh mới nhận ra, đã muộn.

Tôi rút trong túi áo ra tấm hình đã hoen ố vì thời gian đặt trước mặt T. Nàng cầm lên xem. Hai tay nàng run rẩy. Tấm ảnh đen trắng T. chụp thuở còn nữ sinh. Ngây thơ. Đôi mắt mở to. Buồn. Đôi môi mỏng nở nụ cười. Phía sau chữ của T. viết nghiêng: Trao về anh với nhiều thương nhớ. Tôi đọc cho T. nghe đoạn kết của một lá thư ba mươi lăm năm về trước của T. 18 tuổi: Em  lo sợ tình mình sẽ tan vỡ mất thôi. Không biết lúc ấy ai buồn hơn ai?

– Đã bao nhiêu năm rồi  anh vẫn giữ được. Lan không ghen sao?

– Đời anh chỉ có một mối tình duy nhất. Lan biết và quí trọng nó.

Trong bữa ăn, T. thường gắp bỏ vào chen tôi những thức ăn nhẹ, và dặn dò đủ thứ, anh không được ăn cay, cử chất béo, cấm hút thuốc, cà phê, và rượu, bao tử mới bớt hành anh. Tôi nhìn từng cử chỉ nhỏ nhặt, săn sóc tôi, lòng mình se thắt.

Tôi gọi người chiêu đãi ra dọn dẹp và mang lại hai ly nước cam tươi. Thì giờ ngồi lại để thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn. Cả tôi và T. đều im lặng trong tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường không phải như những thính giả xa lạ, mà là hai người bạn thân đang nghe tiếng lòng anh đang thổn thức. Tiếng đàn dập dìu dẫn tôi và T. trở về căn gác xưa. Ngồi bên song cửa sổ hai đứa nhìn sang căn gác đối diện, Vô Thường đang cầm đàn ghi-ta và ngẫu hứng gảy đàn, những tình khúc của Trịnh Công Sơn thành một liên khúc. Mưa rơi lất phất làm thành bức rèm ngăn cách kẻ đàn người nghe. Trong cái ánh sáng lờ mờ của buổi xế chiều tôi nhận ra hình như có bóng dáng ai đó cầm chiếc đàn ghi-ta lẳng lặng ngồi bên Vô Thường. Đúng là Tín Chả thời trai trẻ. Hai người lưng dựa vào nhau. Một mái đầu tóc đen chạm vào một mái đầu tóc đã bạc. Như thân hình của con bướm. Hai cần đàn chĩa về hai phía khác nhau. Một bên cầm đàn bằng tay phải. Một bên cầm đàn bằng tay trái. Như đôi cánh bướm giang ra. Người trẻ đệm tiếng đàn trầm cho người già đánh lướt qua âm thanh cao vút và dòn tan, lanh lảnh. Tiếng basse như tiếng ai thở dài. Hai cánh bướm cứ chập chờn. Âm thanh của hai cây đàn hòa lẫn vào nhau. Hai cánh bướm đã nhập lại dính sát vào nhau. Tiếng đàn bỗng dưng u uất. Rồi thảng thốt. Rồi tức tưởi. Bóng dáng chàng thanh niên biến mất và hồn Tín Chả đã nhập vào Thường Bảy Rìu.

Có tiếng gậy gõ trên cầu thang, và bước chân ai rất nhẹ lên gác tôi, rồi im bặt. Tôi quay lại thấy cha tôi chống gậy dựa lưng vào vách tường, mắt nhắm nghiền, lắng tai nghe.

Chuyển từ ca khúc này qua ca khúc khác bằng âm thanh của đàn mandoline, dòn tan, cao vút rồi chợt trầm xuống. Khi khoan thai, khi dồn dập. Không biết anh Đề còn sống hay đã chết. Anh có nhận ra âm hưởng của phím đàn mà ngày nào anh đã tặng Bảy Rìu. Anh sẽ mỉm cười. Cảm động. Tiếng đàn càng lúc càng tha thiết. Một cảm giác tê lạnh nơi bàn tay tôi, nhìn xuống mới hay giọt nước mắt nào ai nhỏ xuống. Đôi mắt ngây thơ đã ứa lệ. T. của tuổi 18. Của mối tình đầu. Biết yêu và chỉ biết sợ. Bỗng dưng trời mưa to. Những giọt mưa xuyên qua cửa sổ làm ướt người T. Không như ngày đó tôi chỉ biết đứng nhìn. Bấy giờ tôi ôm T. sát vào lòng như truyền hơi ấm cho nhau.

Không biết T. có cùng một cảm nghĩ như tôi không? Tôi định hỏi thì T. đã nói trước, giọng nhỏ lại:

– Anh Vô Thường độc tấu ghi-ta nhưng em nghe sao như có tiếng đàn thứ hai của ai đệm theo.

Ở Mỹ về Việt Nam, được ngồi với anh tại nhà hàng ở Sài Gòn, cùng anh nghe tiếng đàn Vô Thường, em cứ ngỡ tụi mình đang ngồi trên căn gác nhỏ nhà anh của 30 năm về trước.

Nước mắt T. bỗng chảy dài. Tiếng đàn đã dứt. Tôi nắm chặt lấy bàn tay T. Nàng thảng thốt hỏi tôi:

– Hình như trời đang mưa phải không anh./.

Nguyên Minh

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »