Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘sông Côn’

Nam Thi

ÔNG Phương cột xong chiếc võng vải giữa hai thân cây bạch đàn, thẩn thờ nhìn theo ba người đồng hành đang tìm đường leo lên đỉnh núi Chóp Vàng. Họ đã vượt dốc núi 45 độ cách chỗ ông dừng lại vài trăm mét và sẽ vòng sang sườn phía Nam thoải hơn để lên đỉnh. Họ gồm ba người: cô Minh, học trò cũ của ông ở trung học mấy chục năm trước, nay là chuyên viên khảo cổ; Hùng, con trai ông, kỹ sư tin học và ông Ba Xuân, nông dân địa phương, người dẫn đường, bạn thiếu thời của ông.

Gieo mình xuống võng, ông cố điều hòa hơi thở nhưng vẫn thấy đau nhoi nhói ở vùng ngực trái. Từ lâu bác sỹ đã cảnh báo tim ông có vấn đề và ông thường xuyên uống thuốc phòng ngừa mỗi sáng. Cũng là chuyện bình thường của người trên sáu mươi. Ông cảm thấy yên tâm vì trước khi lên đường ông đã uống một viên natrilix. Nằm trên võng ông có thể nhìn bầu trời xanh xuyên qua những cành lá bạch đàn thưa thớt không đủ che ánh mặt trời buổi sáng dọi xuống. Khi nhoài người qua thành võng để lấy chai nước, ông thấy một đàn kiến đen từ trong đám lá ủ bò ra. Ông thoáng ngạc nhiên vì không hiểu lũ kiến đánh hơi thấy mùi gì mà kéo đến nhanh thế, trong khi không rơi vãi bất cứ thứ gì chúng có thể ăn được do ông và các bạn đồng hành mang đến. Hay giản đơn chỉ là mùi người. Ông hơi chột dạ khi nhớ lại lũ kiến rừng đã ăn sạch những xác chết của người và và thú vật ở những bãi chiến trường mà ông đã đi qua thời trai trẻ, chỉ chừa lại những bộ xương trắng hếu.

Ông nhận ra một con đầu đàn với hai cái râu dài như hai cái antenne đang dò đường. Rồi thêm mấy con đầu đàn khác. Có thể dễ dàng phân biệt chúng với lũ kiến thợ vì chúng to con hơn, đen hơn. Chỉ một lát sau, theo tín hiệu của những con đầu đàn lũ kiến bu lại ngày càng đông quanh cái áo gió ông còn vất dưới đất. Ông vói tay lấy cái áo lên giũ cho sạch kiến. Chợt nhớ kinh nghiệm thời chiến, ông chu miệng phun nước bọt để làm mất phương hướng đàn kiến vì nước bọt làm nhòe những tín hiệu hóa học do những con đầu đàn để lại (1). Lũ kiến nháo nhác chạy lung tung nhưng rồi chúng lại tập hợp theo những lộ trình mới. Ông lại tiếp tục phun nước bọt. Nhưng nước bọt của ông ngày càng ít và loãng nên mất dần tác dụng. Vả lại ông cảm thấy mệt nên không muốn tiếp tục chơi trò vờn nhau với chúng. Ông nằm im trên võng nhìn những đám mây trắng lướt qua bầu trời xanh mặc cho lũ kiến nhung nhúc dưới đất…

Lúc nãy, lên tới lưng chừng núi, có lẽ ở độ cao hơn 200 m, ông cảm thấy mệt lã, hụt hơi, mồ hôi vã ra, … Thấy ông tụt lại, Hùng quay lại dìu ông tiến lên. Cuối cùng, ông biết mình không thể tiếp tục theo đoàn vì phía trước triền núi ngày càng dựng, nếu ông có bề gì thì phiền phức cho cả đoàn. Tuy thất vọng, nhưng ông còn đủ tỉnh táo chấp nhận sự bất lực của mình. Từ khi có ý định leo lên đỉnh núi nầy, ông đã chịu khó tập đi bộ mỗi sáng, tăng dần thời gian từ 30 phút đến 90 phút. Nhưng ông không lường trước sự khác nhau giữa đi bộ trên đường làng bằng phẳng và leo núi cao chớm chở. Ông cứ nghĩ rằng mình thừa kinh nghiệm leo núi vì trong thời chiến tranh, ông đã từng vượt bao đèo cao, núi thẳm còn cheo leo hơn hòn núi Chóp Vàng chỉ cao hơn 350m so với mực nước biển.

“ Tôi không leo nổi nữa – ông nói với đoàn. Nhưng các bạn cứ leo tiếp. Tôi nằm lại đây chờ…”. Hùng muốn ở lại chăm sóc cha nhưng ông biết con trai ông từ lâu muốn có dịp lên đỉnh núi nầy, có lẽ do sự tò mò thôi thúc khi nghe ông nói về sự tích (2) rằng trên đỉnh Chóp Vàng có dấu vết thành Uất Trì của người Chăm, nơi nhân vật huyền thoại Chàng Lía chọn làm nơi trú ẩn sau khi chạy khỏi Truông Mây, nên Uất Trì cũng được gọi là thành Chàng Lía. Truyền thuyết còn kể rằng Lía đã từ đỉnh núi ném một cái mâm đồng làm điểm tựa để phi thân, cõng theo xác mẹ  về chôn ở một đỉnh núi trên thượng nguồn sông Côn…Ông Ba Xuân tình nguyện dẫn đường và quả quyết ông đã mấy lần lên tới đỉnh Chóp Vàng, tận mắt thấy những viên gạch Chăm và những cây ăn trái. Một số người dân quê ông cũng nói như vậy.

Ông Phương giục con tiếp tục leo lên đỉnh vì nghĩ rằng mình không thực hiện được ước mơ thì con trai ông phải thay ông đặt chân lên đó rồi mang về cho ông vài tấm ảnh, mấy mẩu gạch vỡ…coi như ông đã đạt sở nguyện. Hơn nữa, không thể vì ông mà  Minh bỏ lỡ cơ hội khám phá một di chỉ do chính ông giới thiệu. Trong mấy năm qua, sau khi nghỉ hưu, quay về sống ở quê nhà, Minh đã hướng dẫn ông nghiên cứu tài liệu khảo cổ học và đưa ông đi điền dã dài ngày ở nhiều nơi. Đó là niềm vui mới của ông. Trước kia ông là thầy dạy chữ của Minh nhưng sau nầy Minh lại là cô giáo của ông về môn khảo cổ. Họ đã chia sẻ với nhau niềm vui khi đào bới các lớp đất, phát hiện những cái rìu đá, những miểng sành, những mảnh xương, những vỏ sò… lưu lại từ hàng nghìn năm trước. Căn nhà cổ của ông bên bờ Bắc Sông Côn trở thành một bảo tàng nho nhỏ của họ. Từ hiên nhà,  Minh và ông bao lần nhìn lên đỉnh Chóp Vàng mây phủ buổi sáng mùa Đông, vàng hực nắng chiều mùa Hạ. Ngọn núi và những truyền thuyết về nó đã nối kết ước mơ của họ, thúc giục họ phải cùng nhau lên tận đó…

Nhiều lần ông nghĩ rằng leo lên đỉnh núi đó là mục tiêu phấn đấu cuối cùng của đời ông sau khi đã hoàn thành những mục tiêu cho bản thân, gia đình và xã hội. Con người luôn đề ra những mục tiêu để theo đuổi, thiếu vắng mục tiêu cuộc sống sẽ hụt hẫng, nhàm chán. Đó không chỉ là mục tiêu mà còn là mơ ước của ông từ tấm bé. Ông vẫn thường mường tượng những nền tháp hoang phế, những viên gạch vỡ lẩn khuất trong đám cỏ tranh, những cây xoài hoang trái nhỏ chua lét,…Hồi còn trai trẻ, ông có thể dễ dàng leo những ngọn núi còn cao hơn Chóp Vàng nhưng thời ấy không ai dám đi sâu vào núi vài km từ quốc lộ 19, hơn nữa ông đã bỏ quê vào Nam đã lâu…

Thế mà giờ đây ông đành chấp nhận dừng lại ở lưng chừng núi. Trước khi chia tay, Minh kề sát tai ông bảo nhỏ, “ Em thay anh lên đó và sẽ mang về cho anh một món quà đặc biệt…”. Đó là lần đầu tiên Minh xưng anh-em với ông, thay cho “thầy-em” từ ngày họ gặp lại. Từ khi vợ ông qua đời ông chưa được nghe tiếng anh-em từ một người phụ nữ nào, vừa ngọt ngào vừa nồng nàn, vừa quen thuộc lại vừa lạ lẫm như nghe nhịp tim của mình thì thầm trong lồng ngực…

TỐT nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1971, ông được bổ về dạy ở Trường Nữ Trung hoc tỉnh và Minh là học trò của ông ở lớp Đệ Ngũ. Sau “mùa hè đỏ lửa”1972, có lệnh tổng động viên. Vốn là một sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn, thời thế buộc ông phải chọn lựa cầm khẩu súng nào. Ông đã trở lại Sài Gòn liên hệ với bạn bè cũ mà ông biết là người của MTDTGP, rồi thoát ly. Hòa bình lập lại, ông trở lại với nghề giáo. Trai thời loạn thì phải cầm súng, hết giặc là “giã từ vũ khí”, trở về với đời thường. Sau mấy mươi năm đứng lớp, ông về hưu và quay về sống ở căn nhà tổ tiên  bên bờ sông Côn. Các con ông đã thành gia thất, chỉ có Hùng vẫn còn độc thân lại làm nghề “tự do” nên thường về quê thăm ông khi vài ba hôm, khi vài tuần. Ông bảo các con rằng khi nào ông thấy không còn tự lo được ông sẽ về Sài Gòn để các con tiện chăm sóc. Khi còn đủ sức khỏe, ông muốn sống quãng đời còn lại không bị ràng buộc, câu thúc nào.

Về quê được ít lâu thì Minh và vài học trò cũ khác tìm đến thăm ông. Minh đã là mẹ của hai con gái đang học đại học ở Sài Gòn. Chồng Minh là một chủ lò gạch, không may bị tử nạn giao thông. Minh phải từ nhiệm ở Viện Khảo cổ nhưng vẫn làm cộng tác viên không ăn lương. Minh vừa điều hành công việc kinh doanh của chồng vừa tiếp tục theo đuổi ngành khảo cổ. Ngoài thời gian đi điền dã, Minh còn dự những hội nghị, hội thảo chuyên ngành. Ông giúp Minh chuẩn bị tài liệu báo cáo, tham luận như một phụ tá cần mẫn. Minh thường nấu thức ăn tự tay hoặc sai người nhà mang đến cho ông. Đôi khi hai người cùng ăn cơm với nhau. Sự có mặt của Minh khiến cuộc sống của ông đàng hoàng hơn, vui tươi hơn.

Công việc thường trực ở lò gạch Minh  nhờ cậu em chồng giúp. Không biết làm thế nào Minh có thể phân thân cho hai công việc tréo ngoe như thế; việc nầy thì cạnh tranh, tính toán lời lỗ chi ly, việc kia thì tĩnh lặng, phi lợi nhuận. Càng gần Minh, ông càng hiểu rằng trong kinh doanh Minh kiếm tiền nhưng không đam mê, ngược lại Minh theo đuổi ngành khảo cổ chỉ vì đam mê. Minh đã truyền sự đam mê cho ông. Sâu xa hơn, Minh đem lại sự ấm áp cho mùa Đông của đời ông…Ông không muốn phân biệt đó là tình yêu hay nhu cầu có nhau. Chắc là cả hai. Và ông cảm nhận Minh cũng thế, dẫu rằng họ chưa bao giờ đả động gì về tình cảm.

“Em thay anh lên đó và sẽ mang xuống cho anh một món quà đặc biệt…”. Lời thì thào của Minh làm ông xao xuyến. Ông dường như còn nghe văng vẳng bên tai khi nhìn theo bóng Minh mất hút ở sườn núi phía Nam. Ông mỉm cười một mình.

Ông lấy áo khoác phủ lên mặt để che nắng và chợp mắt.

KHI Minh, Hùng và ông Xuân quay xuống chỗ ông Phương nằm, lũ kiến đã bu đen kín mặt đất dưới chiếc võng; chúng  leo lên hai thân cây bạch đàn và theo dây võng bò lên khắp thân thể lạnh ngắt của ông, nhiều con bám vào mặt, mũi và đôi mắt khép kín của ông.

– Anh ơi!…Tiếng Minh thảng thốt nghẹn ngào vang vọng rừng bạch đàn.

Minh chưa kịp trao cho ông Phương “món quà đặc biệt” như đã hứa lúc chia tay…Ngoài Minh, vĩnh viễn không ai biết đó là thứ quà gì.

Chiều đã ngã bóng trên đỉnh Chóp Vàng.*

Nguyên Tiêu- Nhâm Thìn (06-02-2012)

(1)   Hóa chất pheromone

(2)“Nước Non Bình Định”- Quách Tấn.

Read Full Post »

Làng Phương

Lê Mộng Thắng

Ngày xưa có những con đò
Về neo bến Biện bên bờ sông Phương.

Ra đi , nụ chửa tròn hương
Xế chiều,dậu đổ bìm vương trở về
Người quê ,giọng nói còn quê
Trẻ con cười hỏi ông về từ đâu.

Chạnh lòng xa xứ đã lâu
Nhớ canh rau hẹ ,tiếc câu bài chòi
Lòng ai muối nấy mặn mòi
Dám đâu sánh kẻ cày voi thuở nào

Nằm lòng như khúc ca dao
Ngọn tùng…sóng bủa lao xao ngọn tùng
Dập dồn trống thúc cờ rung
Gian nan là nợ anh hùng phải vay

À ơi… muối mặn gừng cay
Chao nghiêng cánh võng những ngày xa xăm
Sợi thương mũi nhặc mũi đằm
Áo ai lữ thứ sương dầm đường khuya

Sông Côn mấy nhánh chưa lìa
Mà sao Thạch Yển vội chia dặm dài
Tháng giêng , trời lạnh hoa xoài
Ai về Đập Đá xóm Đoài…làng Phương.

Mùa sang, giục khách ly hương
Đoái nhìn bến Biện… chìm sương con đò.

Read Full Post »

Võ Xuân Phương
I
Em là cô gái Chàm
Dáng đi như đang múa chàm rông
Có ngực và mông nở nang như cô gái múa apsara
Thoắt ẩn, thoắt hiện dưới trăng mười bốn
Trăng buông trùm màu vàng vạn thọ lên khắp đồi, tháp, tu viện Nguyên Thiều
Em bay lên tháp, ta chạy theo em
Em từ đâu ra?
Gò Chàm
Thành Đồ Bàn đổ nát
Em dừng lại bâng khuâng nhìn tháp
Ta ngẩn ngơ, chết xác nhìn em
Sương đêm lạnh
Sương đêm lạnh
Trăng lạnh vàng hoa vạn thọ
Bên kia sông Côn, gió chảy theo dòng
Vài con Vạc bay chậm về lùm tre xơ xác
Con Cú trên tháp kêu độc tiếng
Em không rùng mình nghe tiếng Cú kêu
Sao lại rùng mình khi nhìn cảnh tháp tiêu điều
Có gì đâu một hoang tàn đổ vỡ
Được xây trên bao nỗi lầm than của dân cùng khổ
Hãy gìn giữ cảnh thiên nhiên có sẵn
Núi, rừng, sông, biển, vách đá, cù lao
Những đảo xa xăm, những thác nước trên cao
Gìn giữ nó của Tổ Tiên truyền lại
Như cơ thể em có đâu còn mãi
Chỉ còn hơi thở chàm rông và làn gió apsara
Em trăm năm trước về bằng bóng ma
Ta trăm năm sau nhập hồn cây cỏ
Cung điện Lý, Trần, Lê và bài thơ “Nam quốc”
Chưa ngàn năm, đã cái mất cái còn
Trên đỉnh tháp cổ chon von
Trăng tròn vẫn vàng lạnh
Sương rơi vẫn lành lạnh
Gió thổi vẫn ù ù lạnh
Có gì xót xa hơn!
Em có buồn tủi không?
Đất của muôn dân, đâu phải của riêng mình
Sao đổi lấy một cô gái xinh đẹp!
Em có căm hờn không?
Giang sơn sao để mất!
Dù một tất
Cũng có tội với Tổ Tiên vô cùng
Sao em khóc?
 Sao em quì hôn đất!
Ôi! Em gái Chàm, trăm năm trước về đây
Nhìn em, ta chỉ xúc động một giây
Đã mừng rồi, cứ ngỡ mình vô cảm
Em có nhìn thấy vết trát xi măng ngô nghê thô thiển
Sao lại sửa cổ tích người ơi!
Em thật tuyệt vời,
Ta cũng tuyệt vời
Em khóc than cho cái đã mất
Ta xót đau cho những bông hồng!
Trời mênh mông, đất mênh mông
Bỗng dưng ta thấy một bông thọ vàng!

Read Full Post »