NAM THI
Cuối cùng, ông Minh cũng phải đi đến quyết định cho đập bỏ bức tường Đông rêu phủ để xây lại. Ngay từ khi bàn chuyện đại tu căn nhà cổ, con trai ông cũng đã thưa với ông ý định đó. Cảnh, con trai ông, trình bày: “ Nhà mình xây đã hơn bảy mươi năm rồi, tuy đã sửa chữa nhiều lần, nhưng chỉ làm phần mái và dặm vá tường, nền. Theo con, lần nầy chủ yếu gia cố nền móng và xây tường, vì nhiều chỗ bị sụt lún và nứt bể. Phần nhà trên không thay đổi gì, giữ nguyên hai gian ba chái, bây giờ người ta quý nhà cổ như nhà mình. Nhưng con xin xây lại nhà dưới, đưa bếp lên phía Tây, chỗ nhà bếp hiện nay xây một phòng ngủ mới để có chỗ cho con cháu về thăm dịp giỗ, Tết…”. Nghe con trình bày ông thấy hợp lý nhưng còn đắn đo: “ Ba đồng ý phương án sửa chữa của con đối với nhà trên, nhưng phần nhà dưới để ba nghĩ thêm…Dời bếp là chuyện hệ trọng về phong thủy, hơn nữa không nên tốn kém nhiều…”.
Căn nhà của ông trải qua nhiều đời cha truyền con nối, tính từ thời ông cao đến ông đã bốn đời, trước nữa thì ông không rõ. Nay đã đến lúc bàn giao cho con trai ông tức thế hệ thứ năm. Tre già măng mọc. Vả lại con trai ông đã gần bốn mươi, cũng làm giáo chức như ông, là hiệu trưởng một trường trung học ở một huyện khác trong tỉnh. Lẽ ra ông có thể giao cho con lo liệu mọi việc nhưng ông muốn giữ nguyên trạng căn bếp với bức tường Đông. Căn bếp do cha mẹ ông xây, còn lưu năm tháng chạm trên đầu tường: Juillet, 1937. Tường được xây bằng gạch thẻ, tô bằng loại hồ truyền thống là hỗn hợp vôi tôi trộn với chất nhờn của lá bông bụt quết nhuyễn và mật đường mía. Lớp hồ nay bị bóc từng mảng lớn và nhiều viên gạch bị thối rữa vì ngấm nước mưa trong hàng mấy thập kỷ. Khoảng năm 1967, chiến trận lan tới làng nầy, ông Minh đưa cha mẹ, vợ con lên sống ở quận lỵ, nơi ông đang dạy học. Mái nhà bị sạt một góc vì trúng đạn cối, riêng bức tường Đông của căn bếp thì lỗ chỗ vết đạn tiểu liên. Chính những vết thương ban đầu ấy làm bức tường ngày càng lở lói trầm trọng, đến nay thì không còn cứu vãn được. Khi hồi cư, sửa laị nhà ông Minh đã không dặm vá bức tường một phần vì muốn lưu lại dấu vết chiến tranh nhưng lý do chính là ông không muốn dùng ciment hiện đại. Ông có ý định mua vôi tôi, mật mía làm hồ để bức tường không bị “lai” nhưng lần lữa chưa kịp làm thì không còn tìm đâu ra mật mía vì sau nầy người ta trồng mía dọc hai bờ sông Côn chỉ để bán cây cho nhà máy đường, không còn nấu đường truyền thống nữa. Ông viện ra chuyện phong thủy và tốn kém chỉ để hoãn binh thôi. Thật lòng, ông muốn giữ lại bức tường. Còn nước còn tát.
Trên một mảng tường lở cách mặt đất gần một mét, có mọc một cây bồ đề gần hai mươi năm tuổi rồi, nếu lâu lâu ông không tỉa bớt cành chắc nó đã sum sê lắm. Lúc đầu ông Minh định chặt bỏ nhưng ông nghĩ nó vô hại, chỉ sống ké phần ngoài của tường. Kể từ đó ông cắt tỉa, tạo dáng cho cây như đối với hàng chục cây bonsai đủ loại của ông. Gốc cây bồ đề ngày càng lớn, bộ rễ tua tủa, có cái to bằng ngón chân cái. Cây bồ đề đó có đủ ba yếu tố của nghệ thuật cây kiểng là “cổ, kỳ và Mỹ”. Nó đã được hơn hai mươi năm tuổi nên cũng khá “cổ”. Nó mọc trên tường, từ vết thương chiến tranh thì hẳn là “kỳ” rồi, còn “mỹ” tức cái đẹp là do bàn tay ông chăm sóc, cắt tỉa, tạo dáng.
Dưới chân tường là một hang chuột, có từ ngày gia đình ông hồi cư vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Bao nhiêu cố gắng xóa bỏ cái hang chuột nầy đều bất thành vì nó được lũ chuột láu lỉnh đào âm dưới đất chân tường, luồn vào trong nhà, thông ra ngoài bằng nhiều ngách, lấp cửa hang nầy thì hôm sau chúng trổ cửa khác, đổ hàng thùng nước cũng không ăn thua. Cuộc chiến giữa chuột và người kéo dài hàng chục năm, lũ chuột chịu nhiều tổn thất nhưng chúng vẫn bám trụ ở đó qua nhiều thế hệ. Cho đến nay, ông Minh đành chấp nhận sống chung với chúng. Hằng ngày ông vẫn thấy hai con chuột cống ra vào kiếm ăn ngay cả khi ông ngồi uống trà hay nằm tòn teng đọc sách, báo trên võng mắc dưới gốc cây xoài quỳ cạnh nhà. Quen dần, chúng giống như con chó, con mèo ông nuôi trong nhà, như cặp cu đất trưa nào cũng gáy trên đọt xoài, có khi ông còn vất ít cơm thừa cho chúng ngay trước miệng hang.
Từ khi về hưu, trừ những khi mưa dầm, lụt lội hằng ngày ông Minh quanh quẩn dưới bóng cây xoài quỳ, cành che phủ một góc bức tường Đông. Một bộ bàn ghế đá rửa để ông thù tạc với bạn bè. Một cái võng trân đã cũ móc giữa gốc xoài và trụ bê-tông hàng rào B40 để ông nghỉ lưng sau khi tưới vườn rau, cắt tỉa cây kiểng…Ông ngắm bức tường thay đổi theo mùa mưa nắng. Mùa khô hạn, thảm rêu biến mất, để lại những mảng, vệt màu xanh xám đậm nhạt khác nhau, nhìn kỹ sẽ lộ ra những bức tranh thủy mặc. Chỗ nầy là dòng sông chảy, núi xa mờ trên nền trời lớp lớp mây vần vũ. Chỗ kia là biển khơi dậy sóng, chỗ nọ là hình một đạo sỹ với tà áo bay bay… Bắt đầu cuối thu, khi có những trận mưa đầu mùa là thảm rêu hiện ra mịn màng như nhung, bắt đầu từ chân tường lan rộng lên, nối kết nhiều mảng nhỏ, rồi màu xanh biên biếc phủ gần nửa bức tường… Lá cây bồ đề hình trái tim cũng chuyển từ màu vàng nhạt sang xanh ngắt. Những sợi rễ đâm dài xuống tận mặt đất để hút no nước và chất dinh dưỡng dự trữ cho mùa khô hạn năm sau. Bầy chuột đông hơn, chiều tối kéo ra vườn kiếm ăn. Nếu chúng không tách bầy, hoặc bị dịch bệnh hay săn bắt có lẽ dân số đã tăng cả đàn cả đống.
Hồi còn học trung học ở Quy Nhơn, hễ đến nghỉ hè là ông tụ tập lũ trẻ lối xóm để kèm ôn tập bài vở và chơi với nhau đủ trò từ sáng đến chiều. Chỗ cây xoài quỳ bây giờ hồi đó là gốc vú sữa tán rộng sum sê bị bão làm trốc gốc. Đó là sân chơi của ông và lũ trẻ: đánh vụ, đánh đáo, chơi ô, đánh nẻ…Vợ ông sau nầy là một trong những đứa trẻ đó. Khi ông đã ra trường đi dạy mấy năm thì bà cũng vào trường Sư phạm Quy Nhơn, nơi ông từng theo học. Bà ra trường thì lấy ông. Dường như họ chưa từng nói một lời yêu đương vì tình yêu của họ đã có tự bao giờ, có bức tường làm chứng. Họ cưới nhau mà chẳng cần một lời tuyên bố hay đính ước. Bức ảnh đầu tiên của họ sau ngày cưới chụp trước bức tường xanh rêu ấy. Sau nầy, bức ảnh chụp với dâu, rể, cháu nội ngoại cũng lấy bức tường làm phông. Bức ảnh cuối cùng ông chụp chung với vợ trước ngày bà mất sáu tháng mười hai ngày. Bà được giải phẫu ung thư vú hơn sáu năm trước, sống thêm được gần hai năm thì mất. Hai vợ chồng đứng cạnh nhau trước bức tường rêu như hồi mới cưới, nhưng lần nầy có cây bồ đề làm cảnh. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nằm trên võng ngắm bức tường rêu ông còn thấy hình ảnh vợ như mới hôm qua: bà chơi ô khi còn bé ở góc kia , bà mặc đồ bộ điểm hoa cà tim tím đi ra sau giếng khi mới về làm dâu …
Vợ mất, các con ở xa, ông sống một mình nhưng không cảm thấy cô đơn. Đối diện với bức tường , ông tìm thấy lại những gì đã trải qua trong gần bảy mươi năm cuộc đời của mình. Những đêm trăng sáng, ông thường ngồi trên ghế đá chơi đàn, tiếng đàn guitar của ông dội vào bức tường loang loáng ánh trăng, rồi vang vọng mãi tận dòng sông trước nhà. Bức tường dường như lúc nào cũng lắng nghe và thấu hiểu như vợ ông thuở nào.
Ngày bức tường bị hạ, từ sáng sớm ông Minh bỏ đi thăm bạn ở làng bên. Trước khi đi ông dặn Cảnh cố cạy mảng vôi tường có khắc chìm năm tháng cha ông xây dựng nhà, Juillet 1937, để gắn lại khi tô tường mới. Cảnh biết cha mình cố tình lánh mặt để anh tự do xử lý công việc. Tuy anh không biết hết những nỗi niềm sâu kín của cha mình nhưng anh hiểu ông gắn bó với những kỷ niệm về căn nhà nầy mà bức tường rêu là gần gũi với ông nhất. Chính anh, ở tuổi bốn mươi, đã bắt đầu biết tha thiết với căn nhà tổ tiên nên đã chắc chiu mấy năm nay để về giúp cha tu sửa nó. Nhiều lần anh đã nghĩ một ngày nào đó anh sẽ trở về đây và không bao giờ muốn lìa xa nữa…
Chiều tối ông Minh đạp xe về nhà. Căn bếp đã được tháo dỡ. Bức tường Đông đã bị đập quá nửa, gạch vôi ngổn ngang trên mặt đất.
– Sao không đập hết bức tường, làm không kịp à? Ông Minh hỏi con.
– Không, ba. Con chừa lại đó… Cảnh đáp. Con sẽ cho thợ dùng máy cắt phần tường cũ cho thẳng , giữ lại khoảng 1,5m, cắt bớt cho thấp xuống, rồi gia cố phần móng và xây trụ ốp hai bên cho chắc để làm kỷ niệm. Tường mới sẽ xây tụt vô trong 1,2m để làm hành lang, phần tường cũ sẽ làm bức bình phong. Con đã cho cắt cẩn thận phần tường có khắc năm ông nội xây nhà, tuy vậy nó cũng bể ra mấy mảnh nhưng có thể sắp lại như cũ khi gắn phía ngoài bình phong.
– Thế à …Lòng ông Minh thoáng vui nhưng ông cố giữ không để lộ ra. Ông hỏi tiếp- Còn cây bồ đề?
– À, cái nầy thì dễ mà. Con bứng nguyên gốc, rễ để ba làm cây bonsai. Thứ nầy dễ sống…
– Còn lũ chuột? Vừa hỏi con xong, ông Minh tự thấy mình lẩm cẩm nhưng dẫu sao Cảnh cũng đã nghe. Anh cũng thoáng ngạc nhiên nhưng cố lấy giọng bình thường tường thuật lại:
– Bức tường đổ làm động ổ, hai con chuột cống tung ra chạy, một con bị anh thợ đập chết tại chỗ, còn con kia chạy thoát. Anh giấu việc mấy chú thợ trẻ đã nướng con chuột để nhậu lúc nghỉ trưa.
– Thế à…
Ông Minh lẩm bẩm: “ Thật tội nghiệp…”, nhưng tiếng ông nhỏ đến nỗi con trai ông đứng bên cạnh cũng không nghe được ông nói gì*
* NAM THI
06-10-2011

Chào anh Nam Thi,
Gặp nhau hôm tháng trước ở quê, rủ nhau đi xem hoang phế Miễu xóm. Nhìn trụ biểu, ngắm bình phong ẩn hiện sau nhà ngõ…và TƯỜNG RÊU hoài niệm…
Nam Thi chỉ sợ người trẻ hôm nay không thấu hiểu nỗi lòng sâu kín !
@ Miễu Xóm Cũ hoang phế của tôi mà chúng ta đã viếng cuối tháng trước có bề dày lịch sử hàng trăm năm khi lưu dân đàng Ngoài mới vào định cư. Tôi đã thu thập một số chuyện tôi đã biết về nó trong hơn nửa thế kỷ, cộng với những chuyện được nghe các cụ kể xảy ra hàng trăm năm trước. Chẳng hạn, trước đây miễu thờ con bạch mã mà theo truyền thuyết khi khởi nghiệp Nguyễn Nhạc cưỡi bạch mã ( theo NNBĐ của Quách Tấn), liệu có liên quan gì với nhau không?
Không biết có còn đủ thời gian và sức khỏe để làm một chuyện nhỏ như vậy không.
Tường Rêu chủ đề hay cách viết cũng hay
Cảm ơn bạn đã đọc và nhận xét.
Anh Nam Thi viết truyện “Tường Rêu” quá hay, ngọt ngào & sâu sắc biết bao – thấm đẩm tình người, em đọc rất xúc động nhất là ở đoạn:
“Bà ra trường thì lấy ông. Dường như họ chưa từng nói một lời yêu đương vì tình yêu của họ đã có tự bao giờ, có bức tường làm chứng. Họ cưới nhau mà chẳng cần một lời tuyên bố hay đính ước. Bức ảnh đầu tiên của họ sau ngày cưới chụp trước bức tường xanh rêu ấy…”
Và thật không ngờ anh Nam Thi lại tự minh hoạ cho mình một bức tranh Tường Rêu rất có hồn, đẹp không thua gì câu chuyện hay anh viết, em thật sự ngưỡng mộ: anh Nam Thi Tài Hoa quá.
Cám ơn anh Nam Thi, chúc anh vui, khoẻ, hạnh phúc nhiều.
Thân mến.
@ Huế mền đây rồi!
Đối thoại với bức tường. Có lẽ là một đề tài phong phú. Đó là đối thoại với chính mình, lòng mình, ký ức của mình. Bức tường luôn lắng nghe, thấu hiểu.
Nghe nói HKC nấu món Huế nghon lắm…Thèm.
Đọc Tường Rêu của anh Nam Thi Nguyentiet xúc động lắm! Tình người thể hiện trong truyện đẹp quá ! Sự gắn bó giữa ông Minh với bức tường rêu cũ , với cây bồ đề mọc trên bức tường, với hai con chuột …ông Minh muốn giữ lại bức tường là muốn giữ lại những kỷ niệm thân thương nhất trong đời ông. Còn rất nhiều cái cảm xúc khác rất đẹp mà Nguyentiet không diễn tả hết được. Nguyentiet chỉ biết nói anh Nam Thi tài quá : văn hay , vẽ đẹp , đa tài nhưng có …đa tình không thì nguyentiet hổng biết! hi hi …chúc anh vui .
@ Chào nguyentiet. Rất tiếc không gặp bạn ở Quy Nhơn. Hôm đó mưa to quá.
Cũng vì một trận mưa Đông
Cách nhau một quãng mà không gặp người…
Đa tình ư? Tình càng nhiều càng tốt, cô mẫu giáo đã dạy thế mà: “…yêu mẹ, yêu cha, yêu hết cả nhà, nhất là…cô giáo cơ”. Cảm ơn bạn.
Chào họa sĩ
@ Lại được bạn phong cho một cái “sỹ” nữa. Cảm ơn.
Thật ra, mình không nghĩ sẽ làm họa sỹ vì mình học vẽ chỉ là ước muốn từ lâu nhưng không có điều kiện. Nay vẽ với mình là cách giết thời gian nhàm chán một cách hiệu quả. Vẽ một bức tranh “lom khom” như vậy tốn nhiều ngày chưa kể thời gian “vẽ trong đầu”.
Lại thêm tìm kiếm trên internet những gallery để xem, học hỏi. Nếu một triển lãm chỉ có vài chục bức thì trên internet có hàng vạn bức theo đề tài, tác giả, trường phai…mặc tình xem.
Giờ mới vào thăm Xứ Nẫu và đọc truyện, xem tranh phong cảnh của anh Nam Thi. Bức tranh là bức tường rêu phong nhưng em thấy nó đẹp thật, nên ngắm hơi lâu rồi. Người già thường có những suy nghĩ sâu lắng như vậy phải khọng anh? Làm sao những người trẻ có thể hiểu được. Một câu truyện hay. Chúc anh an lành, may mắn.
@ Không nhất thiết “người già thường có những ý nghĩ sâu lắng…” đâu, người trẻ như MN cũng có những suy nghĩ, cảm xúc “sâu như cái giếng làng”. Cái “sâu” của người già là nhân nghĩa vì càng sống lâu càng thấy nhân và nghĩa là quý hơn tất cả.
Mong MN khỏe để ,,,viết.
hihihi……..
chào anh Nam Thi
sáng giờ rêu hông dzô ngắm tranh anh được , tức ơii là tức , nãy chừ xem đầu tiên là thích khóm hoa và bức tường, muốn nhổ bụi bồ đề kia đem liệng quá hà!! tường chỉ để rêu mọc thôi, tự dưng bụi kia mọc tréo ngoee làm nức vách nhà anh Nam Thi rùi!!!! hì hì
khen anh vẽ và phối màu đẹp đó, những viên gạch và bức tường loang lổ i như thật ,
chúc mừngggggggggg anh hỉ.
@ Comment thất thập cổ lai…hỉ ( dấu hỏi).
OK. Nhổ phứt. Nhưng nó lỡ mọc chỗ đó rồi. Tậu.
ơ nì, hông phải thất thập cổ lai hy đâu, mà rêu đang xếp hàng đợi tới phiên mình còm đó, nhìn dấu hỏi to đùng sợ quá à………….
@ HỈ là vui đó. => còm 70 xưa nay VUI. Hi hỏi HỈ. Rõ?
Truyện viết đầy tình người.
Tú Tàng lâu nay biến đâu……nay mới thấy dzậy????
Vợ nhốt chị ơi.
@ Đáng đời!
@ Truyện viết đầy tình ngườingười tình đầy viết truyện
Tú Tàngtáng tù.
Chào bạn hiền.
Tường Rêu…là một bước chuyển trong phong cách viết của anh Nam Thi. Không biết có đúng không anh ?
@ Cũng tính như vậy. Nhưng khó quá, không biết có đạt hay không. Nội tâm một chút. Sâu lắng một chút. Cũng vất vả, Áo Tím à.
Tính nhân hậu luôn thể hiện trong những truyện ngắn mà em được đọc của anh Nam Thi .Em hy vọng anh cũng là người …tuyệt dzời như vậy . Nói nhỏ thêm chút nữa nhé : Anh vẽ …đẹp ( với em ) , đa tài quá em xin ….chào thua ! hì hì
Chúc anh vui thật nhiều !
@ Những lời khen tặng ngọt ngào, thánh nhân cũng thích nghe, huống hồ phàm nhân tục tử như tôi. Dại gì không nhận. Và cảm ơn.
Em hát chị khen hay. Đúng thế không Yến Du? Nhưng không nên “chào thua” vì tôi không muốn thắng ai bao giờ. Hòa thôi. Vui vè eeeeeeeeeeeeeeeeeeeeee!!!!!!!!!!!
Mới bi nhiêu đó mà ” ngọt ngào” chi anh ! Còn một câu nữa ngọt hơn đường để dành nói thầm thui , nói trên này nẫu la đó ! Anh chờ nghen !!!
@ Chờ khi trăng lặn dưới cầu
Chờ khi đầu bạc
nhuộm “rầu” (rồi) lại bạc thim (thêm)
WAaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa !
À mà … thôi !?
NT nói 2 con chuột là nhìn ra 2 con chuột chớ hầu nãy không nhìn kỹ tưởng lá (rác) rơi bên thềm nhà
@ Hai con chuột bị nướng mọi rồi nên chỉ còn…rác thui.
Chưa đọc bài viết xem tranh HTG tưởng ai bứng cây trầu quẳng dzô…tường chớ! Ngờ đâu NT phải lấy lá bồ đề làm mẫu. Xin lẫu nghen, HTG cũng hổng rành lá bồ đề giúng NT dzẫy. Hí hí…!
Dù sao đầu tay mà vẽ sinh động thiệt đấy. Hì hì!
@ Thì là trầu-bồ-đề hay bồ-dề trầu cũng được. Cháu tôi thì nói hai con chuột giống hai con heo mọi. Thì là chuột-heo-mọi.
Lá bồ đề hình trái tim, gân trắng, từng cặp xứng. Còn lá trầu gân xanh, thân lá dài, nhọn. Nếu tôi vẽ lá bồ đề tròn hơn thì “trúng” hơn. Bút sa…gà dịch rồi.
* Dính chính: dân…từng cặp đối xứng.
Cổm ơn NT đã tả rõ để phân biệt lá trầu dzà lá bồ đề Rất Rõ Ràng…
“Cây đa cây đề” là đây. Đọc bài viết Thấy Thât Thích Thú…
Ông Minh thật thanh thản nằm võng đong đưa nhìn thảm rêu như một bức tranh non nước hữu tình, như một kỵ sĩ dũng mãnh (lãng mạn gơ) vài con chuột làm tổ. Bức tường rêu phủ loang lổ với cây đề bám rễ ăn sâu…Nó đơn sơ mộc mạc mà sao ông tâm tình …rất là hay. Đọc xong Thấy Thật Thích Thú!
@ Thỏ Thích Thú Thiệt? Ta thấy tinh thần thư thái, thanh thản tuy (không) thèm thuồng, thao thức. Thật thà tự thú thế thôi…Tậu thật.
Cà rốt ăn hết chưa?
Thỏ thiệt tình trông thấy thật thích thú.Trông Thi thảnh thơi tìm tòi trong trí, tay thao thao thành tranh thật tuyệt.
BỨC TƯỜNG RÊU hay quá anh Nam Thi ơi!Hôm nào dzìa TN, PLH ghé ngắm thử bức tường riu í có dzúng như tranh vẽ minh “quạ” của anh hông nhen?
@ Nhớ cà phê Cau Vua nhưng đến mùa hè năm sau mới về được, lúc đó không còn riu nữa.
Nè, mà sao ở Tây Sơn, Phú Cát, Quy Nhơn không có ca phê “phin” mà chỉ toàn ca phê pha sẵn. Kêu ly đen nóng không có, chỉ có đen “hâm” bằng chén nước nóng…nguội ngắt. Dường như ở quê mình “gu” ca phê đá phổ biến. Ca phê đá chỉ để giải khát thôi…
anh NT ui chiện ni PLH hổng biết đâu-chắc cà phê bi giờ “lai xứ khác” rầu! hic..hic..
Giữa quá khứ và hiện tại,giữa cũ và mới giữa già và trẻ,những bất đồng là không tránh khỏi,nhưng cái gắn kết tất cả lại với nhau vẫn là những giá trị nhân văn muôn thuở. Câu truyện quay quanh một bức tường rêu,nhưng đã nói lên rất nhiều điều
@ Cảm ơn bạn đã thấu hiểu. Hướng đến tương lai mà vẫn trân trọng quá khứ. Xa hơn, con người phải tìm cách sống chung với thiên nhiên thay vì khai thác cạn kiệt và hủy hoại thiên nhiên, nhất là đối với những sinh vật đang sống chung với con người trên hành tinh xanh nầy – một “trạm vũ trụ” bé nhỏ trong vũ trụ bao la.
Nam Thi vẽ đẹp lắm nhưng sao hổng giống cây bồ đề mà giống cây trầu
@ Cây bồ -đề-trầu.
Vẽ bằng màu nước (water color painting) có nhiều giới hạn vì không thể chồng màu như sơn dầu (oil painting). Vả lại mình đang học vỡ lòng. Mình đã đi kiếm lá bồ đề về xem, vẽ đi vẽ lại…muốn khùng luôn đấy. Thông cảm.
Cây bồ đề khó vẽ, thôi anh NT vẽ hoa này cho dễ hơn nè ! hi.hi..
@ Hoa thược dược khó vẽ bà cố. Vẽ một vườn hoa thì dễ còn vẽ một cái hoa khó lắm lắm.
Trời ! Dòm sao mà ra hoa thược dược dzậy hè ? Hoa Mẫu Đơn đó anh Nam Thi à ! hi hi …Ai biểu hổng đeo kiếng chi !!
Thâu, tậu ! Ai can dzu !
Đừng có mà theo … ghẹo anh NT nữa ! Ảnh nói … “liệu” bi giờ, Nị ui là Nị !!!
@ Không phải mẫu đơn đâu. Hoa nầy tượng trưng cho sự quyền quý, hoa có nhiều lớp cánh còn hoa trong hình chỉ có hai lớp. Nếu không phải “thược dược gió bay mùi túy vũ” của cụ Quách Tấn thì hải đường với cánh dày, bự, nhị lớn chình ình như trong hình.
Tớ phận hàn sỹ đâu dám rớ tới mẫu đơn với hải đường, thược dược là “ngon” rồi.
“Những đêm trăng sáng, ông thường ngồi trên ghế đá chơi đàn, tiếng đàn guitar của ông dội vào bức tường loang loáng ánh trăng, rồi vang vọng mãi tận dòng sông trước nhà. Bức tường dường như lúc nào cũng lắng nghe và thấu hiểu như vợ ông thuở nào.”
Tình…..tuyệt.
Riêng về bức tranh TB thích “cụm rễ và mảng vôi” vì cũng tuyệt nữa, có lẽ khi phóng cọ anh cũng khá phân vân khi quyết định chọn vị trí của cho cây bồ đề?
Cám ơn anh.
@ Đây là sáng kiến của Sáu Nẫu (admin) muốn mình gửi đến bạn đọc món quà “hai trong một”. Của ít lòng nhiều.
Riêng về bức tranh, nhìn tổng thể tạm được nhưng đi vào chi tiết chưa đạt. Tranh hiện thực là “tả chân”, mà tay nghề yếu thì không “chân” được. Cây bồ đề ngoài vị trí của nó trong bố cục còn mang ý nghĩa tâm linh vì là cây thiêng của nhà Phật.
Chỉ một mảng tường lở, bồ đề vẫn sống: Phật ở mọi nơi.
Hay quá anh Nam Thi ui! càng đọc càng thấm câu chuyện thật sâu sắc & bất ngờ hơn nữa là bức tranh tường rêu do Nam Thi vẽ quá tuyệt vời….không còn gì để nói nữa !Cám ơn anh NT đã cho bạn bè thưởng thức tài nghệ vănvẽ song toàn!
@ Thưởng một chầu chả ram đi ( cho truyện) và hai ve Heinecken ( cho bức tranh). OK?
Mới tập vẽ thôi, muội ơi. Giamahavu thôi mà.
Truyện của chú NT viết hay quá..!
@ Được khen lần nầy, chuẩn bị sắp tới “được” chê, héng?
Trong số những truyện ngắn của anh NT mà BMV được đọc, đây là truyện hay nhất. BMV đã khóc khi đọc nó lần đầu tiên vì cảm động. Có độc giả nào ngớ ngẩn như BMV không?
@ Dường như cũng có một bức tường rêu nữa ở làng Sình, đúng không?
Con sẽ cho thợ dùng máy cắt phần tường cũ cho thẳng , giữ lại khoảng 1,5m, cắt bớt cho thấp xuống, rồi gia cố phần móng và xây trụ ốp hai bên cho chắc để làm kỷ niệm. Tường mới sẽ xây tụt vô trong 1,2m để làm hành lang, phần tường cũ sẽ làm bức bình phong. Con đã cho cắt cẩn thận phần tường có khắc năm ông nội xây nhà, tuy vậy nó cũng bể ra mấy mảnh nhưng có thể sắp lại như cũ khi gắn phía ngoài bình phong.
===================================================
Sửa lại ngôi nhà cho tiện nghi hơn, phải đắn đo, nhưng vẫn cố giữ cái thần của nó, sao lại sửa cổ tích người ơi! Chúc anh Nam Thi khỏe, vui nữa
@ Nghe nói ở ngoài Bắc khi dựng nhà người ta chắp nối cây cột cái – cố tình chứ không phải do thiếu gỗ – để biểu thị sự tiếp nối “cha truyền con nối”. Những thế hệ qua đi, cái gì tốt, vững chắc, có ý nghĩa thì bảo tồn, duy tu. Ngược lại, phải tôn tạo, đổi mới những cái cần phải thay thế…Sự kế thừa có lẽ phải như thế.
Căn thờ hai-gian-ba-chái thì bảo tồn. Còn nhà bếp phải thay thế cho phù hợp với tủ lạnh, bếp ga,…phòng ngủ cũng vậy.
Căn nhà riêng hay căn nhà chung của một dân tộc cũng thế thôi.
ông NamThi này đa tài thật!
@ Tật còn lớn hơn tài nhiều, đúng không “dữ” điệc?
Đa tài thì thấy rõ rầu !
Có đa … tình không (hay “en nờ” đa nữa ?!) thì chưa rõ !!!
“Phẻ” hông Trìa ?
Cộng đồng xứ nẫu giờ đây có thêm một họa sĩ ,Chúc mừng
@ Hai triệu năm sau tranh của NT “có giá” lắm đó. Để dành tiền lần đi.
Bức tranh đẹp lắm..xin tặng họa sĩ tác phẩm một cánh hồng…
@ Cảm ơn nhiều. Nhuận bút rất đẹp.
Truyện này anh Nam Thi viết hay hơn những chuyện trước nhiều
@ Mình sẽ cố gắng “làm mới” mình hơn. Cảm ơn.
Một truyện ngắn đọc thú vị làm người ta liên tưởng đến truyện Giữa chuột và người của J. Steinback,mặc dầu chủ đề hai câu chuyện khác xa. Chúc mừng
Thanh Hoa.
Vâng. Of Mice and Men, đúng không. Mình đọc truyện nầy trước 1975. Quả tình mình thích J. Steinbeck và E.Hemingway. Dĩ nhiên, hai truyện rất khác nhau…
Cảm ơn bạn
Cảm ơn anh đã hồi đáp
Thật sự rất xúc dộng vì :
* Tình cảm sâu nặng của ông Minh đối với ngôi nhà được tạo dựng nên bởi cha mẹ mình. Ngôi nhà là “chứng nhân” của cả cuộc đời của mấy thế hệ cùng chung sống những tháng ngày hạnh phúc – hoà thuận – thủy chung son sắt … với nhau !
* Tình yêu của ông Minh dành cho người bạn đời đã quá cố !
* Tình cảm của Cảnh đối với người cha thân yêu của mình : Tôn kính – trân trọng – hiểu ý – thuộc nết … người đã sinh ra, chăm sóc, dạy dỗ mình trở thành người có ích cho xã hội !
* Những suy tưởng của ông Minh về bức từơng – về cây bồ đề – về hai vợ chồng chuột – về cây xoài … sao nghe thấm đẫm tính nhân văn quá đổi !…
Rất hay , quynh Nam Thi à ! Tài hoa nữa ! (Bức tranh minh họa đó !) Bởi vậy khi nghe quynh nói sẽ … “qui ẩn” một thời gian , đệ thấy buồn rầu nhen ! Liệu chừng mà xử sự sao coi được đó !!! hà hà…
Lỗi “mo rát” : … xúc động… (Xin lẫu !)
@ Tú Gàn.
Khen quá “đổ hen” nhe. Mình viết một loạt hơn chục truyện, “mòn” rồi. Nên định tạm biệt giang hồ để về núi luyện công thôi. “Tường rêu” là một chuyển mạch. Hẹn ngày tái xuất giang hồ.
Cái trò chơi chữ nghĩa là thế. Mình là độc giả khó tính của chính mình. Mình đọc mà chưa vừa ý thì không nên “bắt” độc giả đọc. Tội chết.
Xin chào nhà văn Nam Thi,
Chúc mừng anh đến với xứ nẫu bằng một truyện ngắn rất hay. Bài viết không dài nhưng có những đoạn rất xuất sắc, tâm trạng được “vẽ” như thật, các chi tiết rất “đắc”:
“…Ông ngắm bức tường thay đổi theo mùa mưa nắng. Mùa khô hạn, thảm rêu biến mất, để lại những mảng, vệt màu xanh xám đậm nhạt khác nhau, nhìn kỹ sẽ lộ ra những bức tranh thủy mặc. Chỗ nầy là dòng sông chảy, núi xa mờ trên nền trời lớp lớp mây vần vũ. Chỗ kia là biển khơi dậy sóng, chỗ nọ là hình một đạo sỹ với tà áo bay bay…”
“Bắt đầu cuối thu, khi có những trận mưa đầu mùa là thảm rêu hiện ra mịn màng như nhung, bắt đầu từ chân tường lan rộng lên, nối kết nhiều mảng nhỏ, rồi màu xanh biên biếc phủ gần nửa bức tường… Lá cây bồ đề hình trái tim cũng chuyển từ màu vàng nhạt sang xanh ngắt.”
rồi về sau, còn nhiều chi tiết nữa, chỉ xin nhắc một thôi:
“Bà ra trường thì lấy ông. Dường như họ chưa từng nói một lời yêu đương vì tình yêu của họ đã có tự bao giờ, có bức tường làm chứng. Họ cưới nhau mà chẳng cần một lời tuyên bố hay đính ước. Bức ảnh đầu tiên của họ sau ngày cưới chụp trước bức tường xanh rêu ấy…”
Chưa hết truyện… người đọc đã cảm thấy là bức tường này đối với ông Minh còn vĩ đại hơn “Vạn lý trường thành” nên sẽ không thể nào bị đập bỏ.
Tác giả viết rất thật. Cảm xúc dạt dào. Như một tự truyện?
Đọc , hơi buồn với chi tiết một chú chuột bị giết. Chú chạy thoát cũng để lại lòng mình một nỗi bùi ngùi khó tả…
đó là sự cô đơn của ông Minh khi vợ mình đã không còn nữa?
TVD
@ Chào nhà văn đồng hương
“Tường rêu” không phải tự truyện nhưng ngôi nhà với bức tường, cây xoài, dòng sông…trong truyện mang dáng dấp ngôi nhà cổ ở Tây Sơn mà mình được thừa kế. Đương nhiên tấm lòng của mình dành cho ngôi nhà cũng sâu nặng như nhân vật.
Mình học vẽ gần năm nay. Mình vẽ mấy bức phong cảnh nhà mình từ những góc khác nhau – vẽ theo ký ức. Bức gần đây nhất là “Tường rêu”. Vẽ xong mình nảy ý định viết một tiểu truyện, vì vẽ làm sao được tình cảm, cảm xúc của mình. Vì vậy, có thể nói truyện minh họa cho tranh.
Trong truyện, ông Minh có con trai để giao lại căn nhà thừa kế. Còn mình thì không. Thôi đành cố giữ cho hết đời mình, được ngày nào hay ngày ấy. Căn nhà, bức tường hay hang chuột rồi cũng đến lúc biến mất thôi…
Cảm ơn đã đọc và chia sẻ.
cảm ơn hoạ sĩ Nam Thi
vậy là anh “vẽ “được cả cảm xúc.
chúc mừng anh
TVD
Chào Anh Nam Thi buổi sáng mùa đông xứ nẫu. Bài viết ” Tường Rêu ” không phải mô tả một bức tường đã đóng rêu, nhưng TG muốn đưa ra vấn đề( nhiều…) rất hay ( theo thiển ý người đọc ).
*- ” Cuối cùng, ông Minh cũng phải đi đến quyết định cho đập bỏ bức tường Đông rêu phủ để xây lại ” !
– Ý hay ở đoạn này : “ Ba đồng ý phương án sửa chữa của con đối với nhà trên, nhưng phần nhà dưới để ba nghĩ thêm…Dời bếp là chuyện hệ trọng về phong thủy, hơn nữa không nên tốn kém nhiều…”.
_ Lại hay nữa : “Lẽ ra ông có thể giao cho con lo liệu mọi việc nhưng ông muốn giữ nguyên trạng căn bếp với bức tường Đông.”. vì : “Căn bếp do cha mẹ ông xây, còn lưu năm tháng chạm trên đầu tường: Juillet, 1937. “…. Thật lòng ông Minh muốn giữ lại bức tương được kết cấu từ những vật liệu truyền thống ấy “tô bằng loại hồ truyền thống là hỗn hợp vôi tôi trộn với chất nhờn của lá bông bụt quết nhuyễn và mật đường mía. “. Thật hay chưa thật thì đến gần cuối đoạn một người đọc lại ” rõ như ban ngày” : ” Thật lòng, ông muốn giữ lại bức tường. Còn nước còn tát.”…
-* Thôi em xin đọc kỹ cho hết bài mới dám nói phét thêm tí nữa !
Gút mo nang Anh NT !
Mình muốn lấy điểm nên còm trước, nhưng chưa nhanh tay nên tự xếp đạt huy chương đồng ” thứ ba” .
– Nói 1/3 đường , chưa đến nơi đến chốn thì làm sao đúng với nội dung của bai và ý…. của TG, nên TG ” không thèm nói lại với Nẫu ngông ! ?
@ Mình chưa reply vì còn đợi bạn “đọc cho kỹ….nói phét thêm” đó. Tuy mới quen, nhưng qua hai lần “lắc kiu” mình hiểu nhau rồi. Giấy vắn tình dài.
Thay toilet chưa vậy? Thay đi. Người già khó ngồi chòm hỏm lắm. Nhất là là cụ đã 90 tuổi rồi.
TUTHUC đã thay rồi Anh, cảm ơn Anh quan tâm nhắc . Đọc xong bài nầy rồi, nhưng không dám nói phét nữa, vì quý độc giả đã nói khá rõ rùi .!
Chào Anh ./.
Bức hình minh họa cho truyện ngắn Tường Rêu cũng mang tên Tường Rêu do chính Nam Thi phóng bút. Xin chúc mừng họa sĩ Xóm Chùa
Hôm nay mới biết Xóm Chùa lai là họa sĩ nữa. Vậy TUTHUC còn được( dám ) đùa với ” nàng Nam Thi ” nữa không hé ? !
Lanh chanh nè :
Được !
Bởi dzì tui biết “nàng Nam Thi” đa … tình lắm, quynh TUTHUC ơi !
Tui còn bị … “hớp hồn” nữa là !!!
ha…ha…ha…
@TUTHUC & Tú Gàn.
“Nàng” Nam Thi cũng được vì NT là tên con gái út của mình, mình lấy bút hiệu nầy từ khi sinh nó (1983), nay nó mới sinh cháu ngoại – tác phẩm hay nhất của nàng NT đấy.
Nam Thi là tên con gái út !
“Nàng” Nam Thi là … khác !
“Cũng” sao mà “được” hè ???
Cảm ơn admin. Không dám “phóng bút” đâu, vẽ tháo mồ hôi hột đấy. Hai triệu năm sau bức tranh nầy có giá 2 tỷ đó. Ưu tiên cho người xunau. Để dành tiền đi nhé.
Lúc đó 2 tỷ chỉ mua được … điếu thuốc thâu quynh ơi !
Tiền bị … trượt giá mừ !!!
hè … hè …
Nhắn với Tú Gàn: Liên hệ với Vinh Rùa để “nhận quà”_chuẩn bị chi phí là 2 triệu, chớ làm gì tới 2 tỉ?(các số đt của TG : ò í e,ò…í…e….)
@ Lúc đó điếu thuốc quý lắm đó, chỉ có trong bảo tàng vì loài người bỏ hút thuốc từ lâu, chuyển sang…chích.
Bó tay ông … wại này luôn rầu !!!
Anh Nam Thi ơi! Lại đọc được bài viết của anh.Rất thú vị.Chúc vui
Cảm ơn. Lại được anh đọc.