Feeds:
Bài viết
Bình luận

Không uổng công má!

Truyện ngắn Trần Bảo Định

.

Nắng quái thường xảy ra vào lúc chiều hôm. Chiều hôm trên cục đất “Khổng tước nguyên” thì lạ lắm! Cái lạ đó trải dọc theo bờ sông Tiền từ Đông sang Tây. Má cậu Hai Thoại(1) ngồi mạng lại tấm áo cho con trong bóng nắng sắp sụp mí chiều.

– Má ơi! Ngừng tay đi má, kẻo mờ mắt!

Tiếng nhắc má của cậu Hai mang trọn cả cái tình mẫu tử được nuôi dưỡng từ những lời ru của mẹ. Lúc theo chồng về mần dâu họ Đỗ, má Năm vừa bước qua tuổi mười lăm. Dòng họ Đỗ đâm chồi nhảy ba nhánh: Đỗ Trình, Đỗ Tường, Đỗ Kiến… đã chịu đời không thấu bọn cường hào ở quê nhà, nên đành gạt nước mắt bỏ xứ Quảng Ngãi dong buồm vô Nam. Nhánh Đỗ Tường, Đỗ Kiến men theo sông Vàm Cỏ Tây tới đất Thanh Phú thì trụ lại(2); còn nhánh Đỗ Trình rẽ ngả sông Rạch Tra bám đất Hòa Bình. Má cậu Hai dồn hết sức mình mưu sinh để nuôi dưỡng tương lai cho con. Cậu Hai trì chí “sôi kinh nấu sử”, tất cả cho kỳ thi khoa Quý Mão (1843) trường Hương Gia Định. Má Năm thuộc lớp người con nhà nho, được cha khai tâm từ nhỏ. Dẫu không “‘trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” thì cũng là người hiểu biết chút chữ “thánh hiền”.

Nhà văn Trần Bảo Định

Má Năm thường nói:

“Trong cõi trời đất, chẳng có chi tự nhiên nẩy sinh, Khổng tước nguyên cũng vậy. Đâu tự nhiên mà có con công, mà có cái gò để thiên hạ gọi Gò Công! Biết bao máu mắt, xương tàn cốt rụi của người đi trước khai hoang, lập điền mở cõi…”.

Cậu Hai học ở má Năm những điều đã chắc gì nơi “cửa Khổng sân Trình” giảng dạy.

Những buổi chiều tàn, lúc rảnh rỗi, má con hay quét lá vàng khô un chiều bằng những sợi khói. Nhìn những sợi khói bay về phương vô định, má nghĩ đời người đừng như sợi khói bay; phải định cái phương mình đang sống để đủ độ yêu thương mà sống chết với nó.

– Đất nổi mặt đất thì gọi gò, đất nổi mặt nước sông thì gọi cồn (cù lao). Trấn Định Tường có gò, có cồn… tất có đủ điều kiện và tư cách gìn giữ nguyên khí đất Nam Kỳ.

Lời má Năm nói chắc cứng, cậu Hai liên tưởng:

“Đầu nước Việt ở phía Bắc, với đôi mắt là hai rặng núi Đông Triều và Hoàng Liên Sơn nhìn xương sống Trường Sơn xòe như nan quạt chồm ra biển Đông, đuôi gối lên những móng chưn núi Chứa Chan, núi Mây Tầu(3) ở phía Đông; núi Bà Rá, núi Đồng Long, núi Bà Đen(4) ở phía Tây, trước khi đuôi bất thình lình dựng đứng tạo Thất Sơn… biểu tượng Rồng Việt!?”.

Rồi, cậu Hai hình dung cái nơi cậu sinh ra và lớn lên: “Sông Vàm Cỏ Tây phía Bắc, sông Tiền phía Nam, sông Bảo Định phía Tây, biển Đông phía Đông; thiệt đúng là chốn nguyên khí tụ. Mai nầy đất nước hữu sự, nơi nầy chắc là nơi khởi sự cứu nguy!”. Đôi lần thấy con chểnh mảng việc học, má rầy cậu Hai: – Má nuôi con ăn học không vì muốn con kiếm đôi ba chữ thánh hiền để làm người. Nếu phải học làm người, thì con học trường đời hà tất học trường Hương Gia Định!

Má dằn từng tiếng:

– Đã học, thì phải đỗ đạt! Năm rồi, Phú Kiết đã có cử nhơn(5). Năm nay, Yên Luông trông cậy vào con, đừng để bà con quê mình thất vọng!

Cậu chưa kịp thưa lời, má nói nhẹ nhàng:

– Vì việc học của con, má cực nhưng không khổ. Má chỉ khổ, khi con lười biếng việc học hành!

Qua mùa trăng thu năm sau, bà con thôn Yên Luông dù nghèo khó hay khá giả thảy đều ngưng việc đồng áng, cùng nhau ăn mừng cậu Hai vừa đỗ đạt(6) và hôm đó, ngay cả tổng Khởi, tổng Hòa Bình cũng có mặt từ sáng sớm để nghinh đón tân khoa!

Mười sáu năm sau! Cậu Hai thôn Yên Luông ngày xưa, giờ đã là tri huyện Tân Hòa, xứ sở nơi ông cất tiếng khóc chào đời.

– Lạy má! Con trẻ không giữ tròn đạo trung với vua…

Huyện Thoại quỳ lạy mẹ.

Gió Gò Công thổi rạp thân dừa nước, xé lá tưa cành.

– Con là tri huyện, khác gì “phụ mẫu dân”. Cướp vô nhà, há lẽ phụ mẫu bó gối ngồi nhìn bọn cướp? Huống hồ, lũ giặc Tây dương xâm lấn bờ cõi Nam Kỳ, đánh chiếm thành Gia Định; quan quân án binh bất động chờ lịnh triều đình?

Má ngưng nói, ngắt thêm thuốc xỉa.

Ngoài bìa rừng dừa, gió mỗi lúc một mạnh và hình như, trời sắp nổi cơn thịnh nộ bão giông.

– Đánh là nghịch ý chỉ vua. Thà nghịch ý chỉ vua, vẫn hơn “thúc thủ quy hàng” để lũ giặc ngông cuồng sát hại dân, tàn phá làng mạc!

Tiếng Sáu Sanh(7) rõ mồn một ngoài hàng ba hiên nhà.

Từ lúc chồng vắn số, người quen Sáu Sanh chuyển cách xưng hô: gọi cô thay gọi bà.

– Chết! Chết! Cô Sáu quá bước ghé chơi, má con tôi không kịp đón tiếp chu đáo. Thiệt thất lễ… thất lễ!

– Người nhà cả, thím Năm nói quá!

Cô Sáu nói gần như muốn giải tỏa cái đạo trung quân của Nho gia đang chế ngự đầu óc kẻ sĩ:

– Trước đây, “trung quân ái quốc” nhưng tình thế bây giờ “ái quốc thương dân”. Nếu mất nước, mất dân thì vua còn đâu “sơn hà xã tắc” để mần vua?

Má con Huyện Thoại chưa kịp rót nước mời khách. Cô Sáu nói luôn:

– Việc vua bãi chức tri huyện của cậu Hai đã thể hiện sự bất lực của vua, cái lúng túng như gà mắc tóc trước kẻ thù xâm lược của triều đình. Quản Định (8) nói: “Huyện Thoại là trang tuấn kiệt thời loạn đất Tân Hòa. Dám làm và làm đúng theo tiếng gọi của lương tri “cứu dân, cứu nước trước khi trung với vua!”. Tui tới đây là để trao thơ của Trương Quản cơ gởi cậu Hai.

Huyện Thoại tiếp thơ, lật đật mở:

“… Đã hèn thì phải hạ mình, đã nhát thì cái gan hư hỏng. Người xưa nói hèn nhát là vậy! Ta hoàn toàn tin huyện quan là đấng trượng phu, bậc anh hùng sẵn sàng cứu dân cứu nước. Hẹn nhau ở đất Gia Thuận…”.

Hình như, ngoài bến nước sông Tra có tiếng quốc kêu gọi bạn!

Hai.

– Ông bà gọi thảo điền, là có ý chỉ vùng đất trũng nhiều bàng sậy, ngập bùn sình nằm giữa các giồng đất. Tháng nắng, đất khô nứt nẻ; tháng mưa, đất lầy lội. Nếu không là nông dân bổn địa thì không thể có kinh nghiệm cày trâu vỡ đất…

Cô Sáu bàn bạc việc quân với Huyện Thoại mà nghe như chừng chẳng hề đá động gì tới việc quân.

Lúc nầy, Trung tá Desvaux chỉ huy quân thủy bộ vào thành Mỹ Tho và cùng lúc đó, liên quân Pháp – Y Pha Nho (Tây Ban Nha) cũng đã đánh chiếm xong Gò Công(9) và chúng gấp rút lập đồn Gò Công.

Huyện Thoại trầm ngâm.

Cô Sáu nói tiếp:

– Đất lầy bã hèm, người ta dùng trâu đực cày đất vì trâu đực móng chưn cao khó mắc lầy. Trâu cái, móng chưn thấp ngắn dùng vào việc kéo rơm rạ sau ngày mùa… Người Gò Công có câu: “Đực trực đồng, cái trực dạ”. Hỏi ra, mới biết đó là câu thành ngữ của người đàng cựu dặn người đời sau, rằng: “Trai phá lũy đạp thành, gái lo hậu cần nuôi chí cả!”.

Cô Sáu ra về khá lâu, nhưng lời cô nói khiến đầu óc Huyện Thoại còn suy nghĩ lung lắm. Bên tách trà sen đậm đặc hương quê nhà, chuyện cũ hiện ra chầm chậm trong tâm trí của ông: Trần Thiện Chánh đậu cử nhơn trước ông một khoa(10) đã không màng tới chức tước và cũng không chờ lịnh triều đình, ông cùng Lê Huy mộ dân binh đánh phủ đầu quân xâm lược Pháp, ngay khi chúng vừa đặt chưn lên đất Gia Định…

Thấy sắc mặt con dàu dàu, má Năm biết tâm tư của con đang trong cơn chấn động. Má nói nhẹ nhàng:

– Con là người có học, là kẻ sĩ mà lại là kẻ sĩ khoa bảng; giống như cây mọc trong vườn thượng uyển. Chả lẽ, con của má, chẳng bằng loài cây mọc nơi bờ ruộng mương vườn?

Nghiêm sắc mặt, má nói tiếp:

– Người xưa thường khuyên: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”, có nghĩa buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật. Buông hay không buông dao đồ tể là quyền tự do lựa chọn của con, chớ không ai có quyền bắt con phải lựa chọn.

Rồi, má nhấn mạnh:

– Thương nước, thương dân thì đánh bọn xâm lược. Quay lưng với xứ sở, với đồng bào thì hàng quân xâm lược. Cái đó, tùy con!

Dường như thấy lời mình mạnh mẽ, má Năm khẽ nhắc:

– Lúc nầy, tại đây, nếu con chần chờ không dám hành động là có lỗi với bà con làng xóm, là có tội với liệt tổ liệt tông kiến họ Đỗ nhà ta!

Những lời khuyên nhủ của má, những việc đã và đang làm của cô Sáu, khiến Huyện Thoại thôi nản lòng vì bị vua bãi quan và thôi nản chí vì Đại đồn Chí Hòa thất thủ(11). Ông chủ động bắt mối liên lạc với các nghĩa sĩ trong vùng, nhứt là với ngài Phó Quản cơ Trương Định.

Trống cầm canh rớt sang canh khuya buồn sương phụ!

Sáu Sanh thao thức ngó lên bàn thờ chồng, rồi ngó xuống giường bên, ngắm nghía đứa con gái có khuôn mặt giống cha như đúc. Mắt Sáu ngân ngấn và có lẽ, lòng thầm trách chồng: “Sao mình nỡ đi vội để tui thui thủi một mình giữa cảnh nhà tan, nước mất”.

Từ hôm nhận được mật thơ của chị Hai(12) ngoài Huế gởi về, dặn rằng: “Phải… Phải… như vầy… như vầy… Việc nước là hệ trọng, tùy thời mà thủ tiết… Và, tập trung tiền của góp sức vào việc đánh đuổi kẻ thù chung!”, cô Sáu mất ăn mất ngủ, đứng ngồi không yên. Nhiều đêm, cô bồi hồi nhớ lại: Năm mười chín tuổi đi lấy chồng, hai mươi mốt năm sau chịu đời góa bụa. Vợ chồng duyên thắm tình nồng được chín mặt con, thì chỉ còn một đứa gái(13)… Giờ đây, “Trai vì nước quên thân, gái vì nước quên thủ tiết”, nhứt thời làm sao cô tránh khỏi băn khoăn nghĩ ngợi. Má cô thương chị Hai mồ côi mẹ nên dắt chị về nuôi từ nhỏ. Má cô dạy chị công, dung, ngôn, hạnh. Cha cô dạy chị chữ thánh hiền. Năm cô lên bốn, chị đã là mười bốn và rồi chị em xa nhau bởi chị theo cha ra Huế. Sau đó, chị được tiến cung và trở thành Gia phi Từ Dụ của vua Thiệu Trị. Bây giờ, chị là Thái hậu Từ Dụ…

Sáu Sanh xin chị Hai cho thời gian huỡn đãi, thủng thẳng sẽ thực thi chuyện bước đi bước nữa với Trương tướng quân. Còn giờ đây, việc cần kíp là hỗ trợ tiền bạc nuôi quân, khí tài chiến đấu cho Huyện Thoại đánh giặc ngay trên quê hương mình. Cô Sáu là người đàn bà giàu nứt vách đổ tường không những ở Gò Công mà kể cả toàn xứ Nam Kỳ Lục tỉnh. Nhưng, giàu nứt vách đổ tường mần chi, khi xứ sở đang sinh linh đồ thán! Cô Sáu thường trút nỗi lòng mình với Huyện Thoại như vậy!

Minh Mạng lấy vợ họ Hồ ở Thủ Đức, Thiệu Trị lấy vợ họ Phạm ở Gò Công(14). Cả hai đầu Nam-Bắc Gia Định đã cột ràng triều Nguyễn. Tự Đức nhớ quê ngoại cho đắp “con đường sứ”, nối giồng Sơn Quy lên Gia Định(15). Huyện Thoại âm thầm đi thực địa “con đường sứ” nhằm tính kế nghi binh. Đồng thời, cử Đội Lực dò ngả lộ me qua Cầu Huyện để tập kết quân. Ông cũng không quên cảnh giác tàu Pháp có thể từ Mỹ Tho xuống tiếp viện Gò Công, một khi đồn Gò Công bị nghĩa binh tấn công. Và, nếu vậy, tàu chiến của chúng chỉ có một thủy trình duy nhứt là theo sông Cửa Tiểu vô Vàm Giồng, đến vàm Vểnh Lợi rồi tiếp tới rạch Gò Công… Nghĩa binh của ông đủ sức ngăn chặn chúng!

Ba.

Lẽ thường, người phụ nữ sẽ mất họ tên, thứ bậc của riêng mình sau khi đi lấy chồng. Đằng nầy, cô Sáu không hẳn như vậy. Người quen biết cũ ở xứ Gò Công vẫn kêu Sáu Sanh là cô Sáu, chớ không kêu bà Bá hộ Bổn dù đã hai mươi năm sống cùng chồng. Cô Sáu ưa nói với người thân:

“Cái mạng còn chưa chắc đã giữ được, thì tiền của chắc gì mà giữ được. Nếu phải vì việc nghĩa, ta chẳng tiếc chi cái mạng”. Huyện Thoại hoàn toàn tin ở cô Sáu, người tạo mọi điều kiện cho nghĩa binh chuẩn bị tập kích quân Pháp vừa đặt chưn lên đất Gò Công. Tin mật báo cho hay, quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha sẽ chọn một trong ba ngả đường sông: Rạch Chanh, Kinh Trạm tức sông Bảo Định và sông Cửa Tiểu từ biển thọc vào để đánh chiếm Định Tường. Huyện Thoại cùng bộ tham mưu đánh giá tình hình: “Giặc không thể sử dụng Rạch Chanh vì rạch cạn, hoang vu sẽ cản trở tàu chiến. Chắc chắn giặc tập kết quân tại vàm Vũng Gù (Tân An), dùng pháo hạm phá vỡ các đập cản trên sông Bảo Định dù chúng phải trả giá thiệt đắt…”. Tuy vậy, Huyện Thoại vẫn quả quyết: “Giặc sẽ chơi trò ‘thanh Đông kích Tây’ trong tam thập lục kế của Tôn Tử”.

Rồi, ông liên tưởng tới chuyện Khổng Minh ra lịnh cho quân nổi lửa hẻm Hoa Dung, vốn tính đa nghi nên Tào Tháo cho rằng Lưu Bị dùng kế dương Đông kích Tây bèn chọn chính hẻm Hoa Dung đành sụp bẫy của quân Quan Vũ… Là người Nho học, lại là một cử nhơn đất Gia Định, thì cái bọn giặc Tây dương kia làm sao che nổi được mắt ông! Huyện Thoại mỉm cười… Ông tiên liệu và định việc:

– Đường tiến quân của giặc ở sông Bảo Định chỉ là diện, đường tiến quân của giặc từ hướng biển vô sông Cửa Tiểu mới là chính điểm. Thành Mỹ Tho sẽ hoảng loạn và thất thủ nhanh chóng bởi đường tiến quân nầy. Có khi, giặc chưa đánh mà tướng giữ thành đã bỏ chạy.

Hồi lâu, Huyện Thoại càu nhàu, cau có một mình: “Dẫu rằng biết vậy, nhưng với võ khí thô sơ làm sao đánh pháo hạm, tàu chiến giặc ngay “chính điểm Cửa Tiểu” để cứu thành Mỹ Tho?”. Đúng như dự đoán của Huyện Thoại, cả ba pháo hạm1 từ biển tiến vào Cửa Tiểu phá đập ngăn sông tại vàm Cửa Tiểu (Gò Công), vàm Kỳ Hôn (Chợ Gạo) và đồng thời, chúng đánh tan hai đồn binh giữ đập ngay trong buổi sáng, đến xế trưa cùng ngày, mũi quân đi đường biển vô Cửa Tiểu chiếm thành Mỹ Tho theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành”. Ba pháo hạm Fussées, Lily, Sham Rock do Chuẩn Đề đốc Page chỉ huy. Ngày 12.4.1861, khoảng 13 giờ 30 phút trưa, Chuẩn Đề đốc Page cùng đoàn quân vào thành Mỹ Tho không gặp phải một sự kháng cự nào từ phía quân triều đình. Trong lúc đó, mũi quân đi đường sông Bảo Định phải chịu tổn thất nặng và hai hôm sau, mới tới thành Mỹ Tho mang theo xác Trung tá Bourdais.

***

Gò Công thất thủ!

Dân tình nhốn nháo nhưng không bất ngờ, bởi họ hiểu “cái gì đến tất sẽ đến” sau khi Đại đồn Chí Hòa vỡ trận. Cô Sáu tìm gặp Huyện Thoại ngay trong đêm đầu tiên bọn xâm lược liên quân Pháp – Tây Ban Nha ngả lưng lên mặt đất Gò Công.

– Chậm gì thì chậm, nhưng không thể chậm hơn hai tháng nữa, khoảng Tết Đoan Ngọ… Thoại nầy sẽ ra tay!

Tiếng côn trùng kêu rả rích từng chập từng hồi ngoài ruộng, sau cơn mưa chiều ngập nước trắng đồng. Đêm vắng lặng và hy vọng. Thỉnh thoảng có tiếng súng nổ vu vơ của bọn lính viễn chinh, có lẽ nhớ nhà hoặc giả sợ ma nơi đất lạ!

– Cô Sáu yên tâm! Cô Sáu giúp ta và nghĩa quân theo đúng kế hoạch vừa vạch ra… Chỉ cần nhiêu đó là đủ!

Mặt trời đỏ ối buổi rạng đông!

Trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bổn xứ sự vụ Gò Công, đứng trên bờ thành đất, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ đôn đốc dân phu cắm cọc, dựng rào cặp theo mé hào sâu bảo vệ đồn.

Tháng nay, từ ngày bọn Tây chiếm đất, Tư Nhạn người em kết nghĩa ruột rà với cô Sáu, cầm đầu nhóm con gái xứ Tân Hòa lân la bọn Tây, phục vụ chúng những món ăn đặc sản của miền quê ngoại vua Tự Đức. Riết rồi quen dần và thân thiện. Vả lại, “gái nào đẹp cho bằng gái Gò Công” thì bọn lính viễn chinh làm sao “bình chưn như vại”!?

– Mời quan hai(16) ngưng tay, uống nước dừa xiêm, ăn mộng dừa của em, nè!

Viên Trung úy nghe “của em, nè!” kèm hai tiếng “mộng dừa” của Tư, đôi mắt sáng rỡ. Bởi, cả tháng nay, hắn quen ăn mộng dừa, một món ăn dân dã nơi vùng đất hắn chiếm đóng mà ở trời Âu, nơi quê nhà của hắn chưa từng nghe, nói chi thấy. Hắn đút tay vô túi quần, rút khăn mu-soa (mouchoir) lau mồ hôi lấm tấm trên cái bản mặt dài sọc, thoạt ngó giống như mặt ngựa. Dân phu xây đồn gọi hắn là “quan hai mặt ngựa” hoặc để kêu cho gọn, dân phu gọi “Tây mặt ngựa”. Hắn nhai ngấu nghiến một hơi hết sạch ba cái mộng dừa. Hình như, hắn “khoái chí tử” rằng, mộng dừa là mộng đẹp gì đó, thì phải!

Nhiều lần qua tên thông ngôn, Tư giải thích cho hắn hiểu cái mộng dừa mà hắn thèm ăn chết mê chết mệt!

– Trái dừa khô lên mầm, trổ cây. Thường do để ở kẹt nhà hoặc chỗ mấy cái lu nước ẩm ướt, sau thời gian ngắn, nó lên mộng nứt da. Mộng dừa chính là cái phần mầm nở bự trắng nõn nà phía trong trái dừa. Mộng dừa thoang thoảng hương thơm đồng quê, khi nhai nghe sực sực, xốp xốp… kích thích miệng và đỡ khát cổ họng.

Mọi diễn biến tiếp cận và vẽ họa đồ đồn Gò Công, Tư làm rất tốt.

Tháng Năm, theo con trăng, trời thường nắng sớm mưa chiều và đêm chưa nằm đã sáng. Huyện Thoại tính toán kỹ về thời gian, thích hợp với thiên văn để đánh vỗ mặt quân thù và nhổ đồn Gò Công.

Cô Sáu dặn dò Tư Nhạn kín đáo và khéo léo rắc bột thuốc tiêu chảy lên từng cái mộng dừa theo đúng dự kiến của kế hoạch Huyện Thoại.

Huyện Thoại không sử dụng lực lượng mấy trăm nghĩa binh đang tập kết, ém quân ở Lộ Me vì không thể đánh cường tập vào đồn Gò Công bằng võ khí thô sơ giáo mác, búa chày… chống võ khí tối tân súng đạn. Chờ thuốc tiêu chảy kích hoạt bụng dạ bọn Tây ăn mộng dừa, Huyện Thoại trực tiếp dẫn hai mươi dũng sĩ đất Gò Công xông thẳng vô đồn đánh cận chiến, giải quyết chiến trường nhanh, gọn trước lúc bình minh ló dạng.

Cơn mưa chiều tạnh từ rất lâu.

Trời trở đêm sang khuya, sương mù dày đặc!

Trung úy Trưởng đồn và đám lính chột bụng đi đại tiện liên tục khiến thân thể phờ phạc, mất sức. Thình lình, phía “con đường sứ” lửa cháy xé toạc màn đêm. Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đạp chướng ngại vật, mở toang cửa đồn tràn vào như cơn lốc sóng thần. Bọn lính Tây trở tay không kịp, thất kinh hồn vía chạy tán loạn.

Đêm tối mịt(17), chỉ thấy nhau qua ánh chớp ngoằn ngoèo của sấm sét nổ um trời. Huyện Thoại túm tóc Trung úy đâm mạnh một phát về hướng cổ họng, nó vùng mạnh, lưỡi mác xượt xéo bả vai. Nó rống lên tiếng rống như heo bị thọc huyết! Thế trận bắt đầu giằng co, tụi Tây lần hồi hoàn hồn và mỗi lúc sự bất lợi nghiêng hẳn về phía nghĩa binh. Huyện Thoại bị dính đạn trọng thương.

Bầu trời tỏ dần, từng cụm mây trắng tản ra, nhùng nhằng kéo dài như những dải khăn sô viền quanh mặt trời từ từ nhô lên khỏi mặt nước biển tụ màu đỏ ối, đỏ hơn máu!

Bốn.

Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đất Gò Công, không một ai còn sống sót để quay về!

Hôm đưa xác con về chôn cất ở đất nhà (18), má Năm cầm nắm đất buông xuống huyệt:

– Thoại ơi! Không uổng công má nuôi con ăn học thành người!

TRẦN BẢO ĐỊNH

_______________

  1. Đỗ Trình Thoại (1815(?)-22.6.1861) người thôn Yên Luông, tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường (nay là ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
  2. Nay là xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (xưa thuộc huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Phiên An và sau đó là tỉnh Gia Định).
  3. Núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy, nay là Hàm Tân).
  4. Núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Bà Đen (Tây Ninh).
  5. Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân) người thôn Phú Kiết (Định Tường), đỗ cử nhơn thứ 9 khoa Nhâm Dần, 1842.
  6. Đỗ Trình Thoại đỗ cử nhơn khoa Quý Mão (1843).
  7. Trần Thị Sanh (1820-1882) vợ thứ của Trương Định. Bà là con thứ sáu của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng (bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cô ruột bà Phạm Thị Hằng tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức). Như vậy, Thái hậu Từ Dụ với bà Trần Thị Sanh là chị em cô cậu ruột.
  8. Trương Định (1852) làm Phó Quản cơ đồn điền, và từ năm 1862, bà Trần Thị Sanh là nguồn hậu cần của nghĩa binh Trương Định cho tới ngày 20.8.1864, Trương Định hy sinh.
  9. Ngày 14.4.1961.
  10. Trần Thiện Chánh (1822-1874), người thôn Tân Thới Tây, tổng Long Tuy Thượng, huyện Bình Long, tỉnh Gia Định (nay là ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp.HCM). Ông đậu cử nhơn thứ tư, khoa Nhâm Dần (1842), đồng khoa với Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân).
  11. Ngày 25.2.1861.
  12. Bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị, tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức (15).
  13. Bà Trần Thị Sanh có đời chồng trước là Bá hộ Dương Tấn Bổn (mất năm 1860), sinh được chín người con (mất 8 còn 1 là gái tên Dương Thị Hương). Sau nầy, bà Hương lấy chồng là ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển (người đã giao Nam Kỳ lữ điếm cho ông Trần Chánh Chiếu làm trụ sở phong trào Minh Tân ở Mỹ Tho; đồng thời, cũng là người góp phần lo hậu sự khi cụ Phan Châu Trinh mãn phần lúc 21 giờ 30 phút ngày 24.3.1926) và tang lễ được cử hành tại Bá Huê lầu, 54 đường Pellerin, Sài Gòn (cơ sở của Huỳnh Đình Điển).
  14. Phạm Thị Hằng là con dâu bà Hồ Thị Hoa.
  15. Năm 1848, vua Tự Đức cho khởi công đắp “con đường sứ”, còn gọi “con đường Trạm” (sau nầy gọi đường cây dương hoặc lộ dương). Nay là Quốc lộ 50 (Tp.HCM đi thị xã Gò Công).
  16. Cách gọi theo số thứ tự cấp bực sĩ quan Pháp của dân gian (thiếu úy là quan một, trung úy là quan hai… tới đại tá là quan sáu).
  17. Tức đêm 21 rạng 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu).
  18. Mộ Đỗ Trình Thoại, hiện nay ở ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Giữ chút hương thầm

Đặng Phú Phong

.

Đói bạn. ba năm hoa vẫn đợi

Tách trà hâm nóng nghĩa hoa ngâu

Vắng bạn cafe sao nhàn nhạt

Vô thường nghĩ cũng một niềm đau

.

Phố vẫn đông mà ta đi vội

Tránh ánh nhìn quen một buổi nào

Không phải người kia thôi đứng đợi

Chỉ vì ta đã bước qua mau

.

Có lúc soi mình trong gương nước

Thấy tay buông sớm một nhành xuân

Chưa kịp gọi tên thành ly biệt

Đã nghe hiu hắt giữa phân vân

.

Thôi thì giữ lại phần chưa nói

Như giữ hương thầm đã nhạt phai

Không trách một ai, không tự hỏi

Chỉ buồn vừa đủ để còn ai

Quy Nhơn Ngày Trở Lại

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

( Viết tặng các bạn bè ngày xưa và các học trò cũ dấu yêu của tôi)

Quy nhơn ơi –

Tôi trở về lần nữa.

Đã bao năm …Hay chỉ mới hôm qua

Bước chân run- Lữ khách trở về nhà

Mưa trên lá- hay hồn ai đẫm lệ.

Quy nhơn ơi –

Bao con đường óng ả….

Ánh điện chói ngời…. nhớ bóng đèn xưa

Những đường ổ gà- ướt đẫm cơn mưa

Áo sũng nước-bàn tay run vuốt vội

Quy nhơn ơi-

Biển mang cơn sóng vội

Những thông xưa…E ấp bóng ngang mày

Nay trở về- bóng nắng đổ trên tay

Hàng thông cũ vươn cao…reo với gió

Quy nhơn ơi –

Nắng hôm nay đùa gió

Cháy bỏng thịt da- Không dịu mát như xưa

Tôi trở về…đi hoang giữa nắng trưa

Bao kỷ niệm ùa về…xôn xao niềm vui óng ả

Quy nhơn ơi –

Trời không mây …sao chở hạt mưa sa

Hay nước mắt nhạt nhòa …hòa nỗi nhớ

Chân bước vội những con đường bỡ ngỡ

Kỷ niệm còn … chân bước mỏi ruổi rong

Quy nhơn ơi

Luôn nhớ mãi trong lòng….

Những gió, những mây, trời cao xanh thẳm

Những lối ngày xưa nay bỗng như lạ lẫm

Những đường nào …nay đã bị thay tên???

Quy nhơn ơi-

Những bạn bè của tôi nay gặp lại

Ôi tiếng bạn cười…rạn vỡ, thân thương

Nắm tay nhau đi hết mấy đoạn đường

Thành phố cũ- luyến lưu lòng lữ khách.

Quy nhơn ơi-

Tôi sẽ về ôn lại…

Đoản khúc tình yêu- Chép giữa hư không

Tôi sẽ trở về khi gió rét trời đông

Gom hết gió…gom nắng vàng…hong khô bàn tay cóng.

Quy nhơn ơi-

Tôi mong về gặp lại

Những học trò ngày cũ mãi luyến thương

Cô trò tôi …qua biết mấy đọan trường

Nay gặp lại… mái đầu cùng chớm bạc

Quy nhơn ơi-

Tôi sẽ về ở lại

Vùng đất thân yêu , ngắm biển từng chiều…

Gặp lại trò xưa, khi bóng đổ liêu xiêu

Nhắc chuyện cũ sau bao niên xa cách

Quy Nhơn ơi-

Mùa Xuân này hay còn bao xuân nữa…

Kẻ tha phương…còn trở lại mái nhà xưa…

Atlanta January 10th 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Nguyễn Ngọc Hưng

.

Rét cuối đông như cứa vào da thịt

Ba lớp mền vẫn thon thót ngực run

Ôi trời đất trụi trần cây cỏ khóc

Đã không thương còn thổi bấc phun phùn.

.

Phùn dọc bấc ngang gác lầu cũng lạnh

Huống gì rạ rơm chiếc tổ treo cành

Con khô mỏ chờ mẹ bay ướt cánh

Buốt lưng ngày chiu chíp chíp chiu xanh.

.

Chíp bổng chiu trầm bụng sôi dạ réo

Ôm vỉa hè nguôi đói lạnh không em

Mùi thịt nướng bánh xèo thơm dậy mũi

Hít gió khan khan có đỡ khát thèm?

.

Thèm ngược khát xuôi không ngoài bếp lửa

Bên mẹ cha giòn rụm trẻ thơ cười

Lục sục bánh chưng reo nồi tỏa khói

Nheo mắt vàng mai héo bỗng xòe tươi…

.

Đôi héo ba tươi năm mười hối hả

Muôn ngả người trực chỉ một bến quê

Rét cuối đông dần lui theo hơi ấm

Những bàn tay nâng đỡ bước xuân về!

Từ giã mù sương.

Đặng Phú Phong

.

Cường gặp Quyên trong một buổi chiều muộn ở Đà Lạt, khi thành phố chìm trong lớp sương mỏng như một nhúm khói ai quên dập. Quyên đang ngồi một mình bên cửa sổ quán cà phê Tùng, tay vuốt nhẹ trang giấy nơi nàng vừa viết dở một bài thơ.

Nàng đội chiếc nón len màu tro, gương mặt đẹp kiểu đàn bà từng trải nhưng vẫn giữ nét thanh khiết như sương đêm. Ánh mắt nàng biết lắng lại, nhưng không bao giờ dừng — luôn như đang đi tìm một câu thơ vừa chạy mất.

Cường bị hút lấy từ khoảnh khắc ấy.

Anh hỏi, giọng đàng hoàng, không chút bởn cợt:

– Hình như cô đang làm thơ?

— Thơ viết tôi thì đúng hơn. — Quyên mỉm cười, hơi ngả đầu, giọng nhẹ như một thánh ca đứt quãng. Sự tự tin hiện rõ trên khuôn mặt lạnh.

Họ nói với nhau suốt hai giờ, như thể quen nhau rất lâu rồi. Cường không ngạc nhiên khi nghe nàng kể về cuộc đời cũ ở Sài Gòn:

Chủ một công ty quảng cáo thành công, những buổi họp dồn dập, những chiến dịch triệu đô… rồi một cuộc ly dị khiến tất cả như hóa khói.

— Em lên Đà Lạt vì mệt quá. — Quyên nhìn ra trời sương — Và vì em cần một nơi mà hạnh phúc không phải chứng minh.

— Còn hôn nhân?

— Em kết hôn vì thích cái không khí tịch mịch gần như… siêu hình của giáo đường. Vì anh ta có đạo. Tiếc là siêu hình thì đẹp, còn đời sống thì không phải thế.

Cường nhìn nàng, thấy một người đàn bà vừa mềm vừa thép — đẹp như ánh nến, nhưng cháy bằng thứ dầu của cô độc.

Chỉ một tháng sau, anh và nàng dọn về căn biệt thự nhỏ trên đường Hùng Vương — một ngôi nhà ngập thông, tường đá rêu phong, cửa sổ gỗ mở ra thung lũng.

Ban ngày, họ lang thang qua những quán cà phê có nhạc jazz cũ:

Tùng, Boho, Escape…

Quyên hay ngồi xoay muỗng cà phê và hỏi những câu tưởng đơn giản nhưng đâm rất sâu:

— Anh yêu phụ nữ hay yêu cái cảm giác được ở trong một cuộc tình?

— Cả hai. Em thì sao?

— Em yêu người nào chịu được bóng tối của em.

Cường cười, nhưng trong lòng hơi gai gai. Anh nhủ thầm – Bóng tối của em đặc quánh như hắc ín làm sao anh bước vào được.

Những tối Đà Lạt lạnh cắt, họ trở về biệt thự, đốt lò sưởi, đốt nến thơm mùi tuyết thông, nghe nhạc và uống rượu.

Họ nói chuyện văn học nghệ thuật

Anh lắng nghe nàng, đôi khi không hiểu hết, nhưng say mê chất lãng mạn lãng đãng của nàng.

— Hai đứa mình giống nhau ở điểm nguy hiểm nhất, — Quyên nói — ai cũng nghĩ mình hiểu đời và hiểu tình yêu hơn người còn lại.

Cường cười, không phản đối

Khoảng một năm sau, sự mâu thuẫn giống như những trận sương dày của thành phố này, không phải đến vì bão, mà đến âm thầm và mãnh liệt.

Một tối, trong lúc chỉnh lại giá vẽ, Quyên nói:

— Anh lúc nào cũng muốn em theo nhịp của anh.

— Còn em?

— Em cũng muốn anh theo nhịp của em.

Họ nhìn nhau, cả hai cùng bật cười. Nhưng đó là nụ cười của người nhận ra trước mặt là vực sâu mà không biết làm sao lùi lại.

Những cuộc trò chuyện vốn đầy thi ca bắt đầu có những đường nứt không nhỏ:

— Tại sao anh hay lơ đãng?

— Em quá để tâm vào cảm xúc của mình mà quên mất anh đang hiện diện bên em.

— Còn anh thì trôi như mây, không chịu ở lâu với điều gì.

— Ở lâu thì dễ buồn.

— Buồn mới là chỗ thật của con người, Cường!

Đêm nọ, Quyên ném quyển sổ tay xuống bàn.

— Tình yêu với anh giống như một bản nhạc chỉ có đoạn mở đầu. Lúc nào cũng đẹp nhất ở những nốt đầu tiên.

Cường im lặng trước sự thông minh của nàng. Và anh chợt nhận ra những cá tính đặc biệt cũng như sự thông minh ấy như một cái thòng lọng ngày càng siết cổ anh.

Nàng tiếp, giọng run nhẹ:

— Em với anh giống nhau quá. Ai cũng nghĩ mình yêu nhiều hơn, hiểu hơn, nên không ai chịu buông cái tôi xuống. Hai người như tụi mình yêu nhau… là một giấc mơ vừa đẹp vừa sai.

Cường muốn ôm nàng, nhưng Quyên lùi một bước.

Giáng sinh năm đó, trời Đà Lạt lạnh bất thường. Những dải đèn vàng treo trước Nhà thờ Con Gà hắt xuống sương như những ngôi sao rơi bị kẹt nửa chừng.

Cường và Quyên đứng cạnh nhau, nhưng khoảng cách giữa họ dày hơn cả hơi lạnh.

Tiếng chuông nhà thờ vang lên. Quyên kéo chiếc khăn choàng lại, mắt không rời tháp chuông.

— Cường… mình dừng lại đi.

— Em nói chơi?

— Không. Chúng ta yêu nhau bằng cùng một sự kiêu hãnh. Và chính điều đó giết tình yêu.

Sương bay qua, làm tóc nàng ướt nhẹ.

Cường muốn nói “Anh yêu em”, nhưng cổ họng như bị gió siết lại.

— Anh sẽ nhớ em. — anh thì thầm.

— Em biết. Nhưng anh sẽ không nhớ nếu ở gần em. Chỉ khi xa, em mới là thơ trong mắt anh.

Một câu nói đẹp. Và tàn nhẫn.

Quyên quay đi.

Trước khi bước xuống bậc thềm nhà thờ, nàng ngoái lại:

— Em mong một ngày anh học được cách yêu mà không đứng soi mình trong tình yêu đó.

Nàng bước vào màn sương trắng mỏng. Ánh đèn đường nuốt lấy bóng nàng rất nhanh, như thể Đà Lạt biết che giấu những cuộc chia ly đẹp nhất.

Cường đứng lại rất lâu. Gió lạnh quất vào mặt anh. Chuông nhà thờ vẫn vang lên mà lòng anh thì rỗng toang như ngôi giáo đường đã gỡ hết tượng thánh.

Đêm đó, anh biết,

đây không phải là cuộc chia tay của hai người. Mà là cuộc chia tay giữa anh và cái ảo tưởng rằng anh biết yêu.

Chợ thiệp

Không tính tới lúc Terry Jacks hát “Season in the sun” (1974). Trước đó, Sài Gòn đã có rất nhiều bài hát, Tây Ta có đủ, về “mùa nắng đẹp” Giáng Sinh. Cái mùa mà Sài Gòn hơi se lạnh vào những buổi sớm mai. Những chàng trai, cô gái Sài Gòn cũng điệu đàng hơn một chút, với chiếc áo khoác mỏng nhiều màu sắc bên ngoài chiếc áo chemise, hay áo dài, khi ra phố buổi tối.

Nhạc “Giáng sinh” thì tuỳ, bạn có thể thích thì nghe, không thì thôi! Nhưng có những chỗ bạn phải ghé ít nhất một vài lần trong năm. Nó thuộc về thói quen, về lối sống và văn hóa của người Sài Gòn cũ.

Nó nằm rải rác trong nhà sách, trên hè phố, hay trước dãy tường bên hông những Nhà thờ. Nhiều nhất và cũng đông vui nhất là những con đường nằm cạnh Bưu điện Sàigòn.

Nơi đó bán duy nhất một thứ quen thuộc, quen tới mức không cần tìm hiểu nó có từ đâu và từ hồi nào. Những tấm thiệp. Thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới. Một tờ giấy cứng gấp đôi, bên ngoài in hay vẽ những hình ảnh tuyệt đẹp, nhiều màu sắc, tượng trưng cho một mùa. Phần giấy trắng bên trong là để ghi những lời chúc lành cho nhau.

Người Sài Gòn có thói quen gửi thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới cho bạn bè, người thân. Gần thì trao tay, xa thì nhờ Bưu điện. Cánh thiệp là cách biểu hiện tình thân, là cách kết nối và quan tâm lẫn nhau. Nó như một nhắc nhở, một cách gián tiếp nói rằng tôi vẫn bình an và tôi đang nhớ tới bạn. Những lời cầu chúc tốt đẹp tôi viết gửi trong tấm thiệp là tấm lòng của tôi gửi cho bạn. Nó đáng quý biết chừng nào.

Những tấm thiệp sẽ được cất kỷ trong ngăn kéo, hoặc sẽ được treo lên cây thông Noel, hay cây mai cây đào ngày Tết. Nó vừa để trang trí, vừa để nói lên rằng bạn đang có mặt ở đây, đang cùng với gia đình chúng tôi đón một mùa Giáng Sinh, một Năm mới an lành và hạnh phúc.

Những năm tháng còn đi học, lang thang đi lựa mua thiệp là một cái thú. Người nhận khác nhau, những tấm thiệp và lời chúc bên trong cũng khác nhau. Nhất là gửi thiệp cho người con gái mình yêu thích. Với tôi là thứ khó khăn vô cùng. Phải cân nhắc, phải thận trọng khi viết từng câu, từng chữ. Tới lúc đưa, lúc gửi thiệp cũng hồi hộp. Và rồi nhận lại cũng…hồi hộp!

Cũng không chỉ có thiệp, thân tình hơn, người ta tặng cho nhau những món quà nhỏ. Những món quà mang ý nghĩa riêng tư của người cho và nhận. Sài Gòn không có mùa Đông, mùa Đông ở trong lòng người! Những món quà làm xích lại gần nhau hơn, làm ấm lại cái tình trong chút gió lạnh đầu Đông!…

Giờ thì nhanh gọn hơn nhiều. Có nhớ tới nhau, người ta chỉ cần mở máy vi tính, tìm một cái tên, tìm một tấm hình với lời chúc có sẵn rồi bấm gửi, thế là xong!

Quá tiện lợi và dễ dàng. Dễ tới mức như trả nợ. Người gửi cho có, người nhận thờ ơ.

Chẳng ai quan tâm tới cái đẹp vô hồn của tấm thiệp và những lời chúc sáo ngữ trong đó. Tất cả chỉ còn mang tính hình thức.

Để rồi, nếu như tình cờ nghe được mấy câu hát:

“Mong ước ngày sau như là ngày trước

Tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”*, mới thấy nhớ, thấy tiếc!…

Cái tiện dụng làm mất đi sự rung động, làm tê liệt những cảm xúc. Làm giết chết một thói quen đẹp. Làm mất đi một thứ văn hóa đáng yêu và đầy thi vị…

Chỗ bán thiệp cũng không còn nhiều. Không sao! Tôi sẽ tự đãi mình một bữa tiệc Giáng Sinh, bằng cách xuống phố, tìm mua vài tấm thiệp. Một cái để tặng mình và những cái còn lại dành tặng cho…kỷ niệm!

Vài cái thiệp hình cây thông hay ông già Noel “Merry Christmas And Happy New Year”. Vài cái thiệp tràn ngập những cánh mai vàng rực rỡ, hay hình ảnh: “Có cô con gái nhà ai – Mẹ cho mặc chiếc áo dài đón Xuân…”!

Cũng đáng để làm trong một ngày nắng đẹp, trong đầy rẫy những bất trắc và âu lo thường nhật…

Và nếu như tình cờ, bạn nhận được một tấm thiệp vào dịp Giáng Sinh, Tết… Có nghĩa là ở một nơi nào đó, có người luôn nhớ tới bạn và những câu chữ trong đó là những yêu quý rất thực!…Hãy ôm giữ và trân trọng cái hạnh phúc đó, bạn nhé!

Đêm thành phố

Hồ Thi Ca

.

Đêm thành phố không có ánh trăng

Em kín đáo tựa vai anh nhỏ nhẹ

Bập bùng ở đâu một ngôi sao rất khẽ

Chiếc lá rơi nghiêng cả ghế công viên

.

Đêm thành phố chỉ thấp thoáng ánh đèn

Trong âm thanh em không tiếng ồn xe cộ

Hai đôi mắt không còn vương bụi khói

Nhạc chạm vào lòng từ một khoảng cách xa

.

Đêm thành phố mỏng như một cành hoa

Khép lại ngủ, chỉ mùi hương đầy ứa

Mà chúng mình có phải là dòng nhựa?

Chảy trong cây mai hoa nở mặt trời

.

Đêm thành phố mềm khúc nhạc của đời

Những ngôi sao hoá thành dấu lặng

Bàn tay em mười nốt đen nốt trắng

Thức trong anh bản giao hưởng không đề

.

Đêm thành phố như người đi xa về

Thấy căn phòng mình cái gì cũng mới

Em không hỏi mà sao anh muốn nói

Gặp nhau luôn vẫn là mới lần đầu

.

Đêm thành phố nghìn năm làm chiếc cầu

Cho ngọn đèn hẹn ngôi sao nhấp nháy

Em đến với anh sau những giờ trông đợi

Ai là ngọn đèn? Ai là ngôi sao?

Không có em thì anh biết đi đâu

Khi thành phố lên đèn và ngôi sao nhấp nháy

.HTC

                                      

Truyện của Nguyễn Trí

.

             Nguyễn Sông là con thứ năm trong một gia đình gồm mười anh chị em. Thường gọi Năm Sông. Thực ra là Xông với nghĩa xông pha chứ không phải là dòng hay con sông. Nguyễn Ngạn – chồng và cha – của bầu đoàn thê tử dài thòng lòng bảo rằng lỗi tại thằng làm khai sanh. Nó đánh máy nhầm xông pha ra sông hồ. Nhưng mà sông hay xông cũng chẳng chết ông chết cha chi với nghèo túng và đông con. Thực ra cái tên quan trọng lắm với đời một con người. Ông cha có câu “xem mặt đặt tên”. Lịch sử văn học Việt Nam viết rằng, thi rớt nên Trần Tế Xương đổi chứ lót là Tế thành Cao. Vẫn rớt nên ông than rằng: “ Tế đổi thanh Cao nên sự thế. Kiện trông ra Tiệp hỡi giời ôi”. Đó là mới chữ lót, đằng nầy cả cái tên là hệ lắm chứ chẳng chơi. Bằng chứng là đời của Năm Sông đúng là ba chìm bảy nỗi mười một cái linh đinh chứ chín chả bì được.

         Học hành được một dúm chữ, lại dỡ ẹc. Ông Ngạn nói với Sông rằng mày có học bao nhiêu cũng chặt củi đốt than chứ, chả khá được khi cha mày là lính đánh thuê. Nghe vậy Sông lao ra sân ga bến tàu sống đời chợ búa. Theo chúng bạn vượt biên vượt biển chi đó bị lao cải hết hai mươi bốn tháng. Về đời được ba tháng lại bị thộp về tội phá đoản nhập nha. Đúng là ngựa quen đường cũ không tù là không được. Sau bảy năm cả tù cả lao cải Sông làm lại đời bằng cách lấy vợ. Vợ của Sông cũng đầu bờ cuối bãi có cái kém nhưng cũng có cái hơn Sông. Sông vượt biển bị thộp chứ cô thì thành công mỹ mãn. Cô có chồng, lúc bầu bì thằng khốn kiếp bỏ cô chạy theo con khác. Cha má cô nghèo chết ông bà cố tổ nhưng sĩ diện lắm. Họ không chấp nhận con gái bỏ cha bỏ mẹ đi theo tiếng gọi tình yêu. Cô vượt biển một mình, nuôi con một mình. Giang hồ tên Sông một ngày nọ gặp sương phụ bèn nói rằng thương ai cũng vậy thương anh anh cám ơn.

      Vậy là ra một cặp.

      Họ sống với nhau cho đến ngày Sông chầu trời vì bứt mạch máu não. Có với nhau ba đứa con chưa kể thằng con mà cô vợ vượt biển một mình. Đi qua tám tỉnh thành, mỗi lần đi là mỗi lần mua bán một căn nhà. Lưu lạc vậy nên nói Năm Sông chín linh đinh là phải quá. Lần cuối cùng nhà của Sông cao tốc chạy qua trụm lùm lụm. Vậy là được đền bù một mớ kha khá và một lô thổ trên tái định cư. Những tưởng thoát được cảnh “Cuối năm rót rượu ngay hẻm cụt. Nhà của ai chắn cuối đường đi…” ngờ đâu định mệnh của – những dòng sông – là muốn ra được biển xanh bát ngát phải qua thác qua ghềnh qua cheo leo khấp khểnh.

       Định mệnh của Năm Sông là của những dòng sông.

       Năm hai mươi tám tuổi thằng Bon – con riêng của Huệ – bà xã Sông, đem lòng đắm say một ngọc nữ. Dùng chữ ngọc nữ là bởi cô đẹp ơi là đẹp. Mặt đẹp và duyên thì chớ thể hình của cô cũng trên cả tuyệt vời. Trai theo cô gái tên Hạnh Thảo nầy cả một sư đoàn nhưng cô chỉ thích một anh Bon. Cặp kè được với người mình yêu là hạnh phúc. Đúng không? Chưa chắc đâu. Yêu và được yêu là môt chuyện còn hạnh phúc là chuyện khác. Để có được hạnh phúc phải hội tụ nhiều yếu tố. Hai yêu tố quan trọng vào bậc nhất là tiền và tình. Chả có hạnh phúc nào trong lều tranh với hai quả tim vàng đâu mà ham. Tình ở đây thì yêu là nhỏ. Giường chiếu mới lớn. Thằng đàn ông mà chưa tới chợ đã hết tiền thì hạnh phúc là cái con có tên “thôi rồi”.

        Bon là thằng người như vậy.

        Trước đó giang hồ lão luyện Năm Sông đã cảnh báo với Bon rằng con bé Hạnh Thảo có đôi mắt bén như dao cau, cặp giò mà “tướng mạo khảo lục” của Vũ Tài Lục bảo rằng “Trường túc bất tri lao” chân mày như thế thì “đa mi tắc đa mao” cái eo của nó dạng “tiểu yêu âm hộ đại” thì mày ba bảy hai mươi chứ không được hai mốt ngày đâu con.

        Y như rằng.

        Ở với Bon được ba tháng Hạnh Thảo tếch một hơi theo bồ cũ. Cô để lại cho Bon một lá thư tuyệt tình rằng “duyên trăm năm chẳng đặng, vương vấn làm chi cho mệt… quên em đi anh”. Bon ôm lá thư vào lòng khóc sướt mướt như Chúc Anh Đài nghe tin Lương Sơn Bá bị hộc máu. Khóc xong Bon ngồi ôn kỷ niệm bên chai ba xị. Nhìn thằng đàn ông sức có hạn, vai hẹp té đứng trước giai nhân chỉ ngắm chứ rán không nổi uống rượu ngâm thơ thấy mà tội. Bon thơ rằng: “Vòng tay hụt hẫng vòng tay. Rã rời đôi cánh, mỏi ngày, tháng, năm. Bóng và bóng, bóng âm thầm. Chờ người từ cõi trăm năm trở về… “ Mẹ cha ơi… chắc thằng nầy chết vì thất tình quá.

        Vùi đầu trong rượu và thơ được hai tháng Bon tỉnh hồn khi nghe tin Hạnh Thảo trở về. Ra là thằng bồ cũ sau khi, lăn lóc đá mê mẫn đời cái sự chơi, nó phủi một cái không thương tiếc. Bon ta đúng là thiên hạ đệ nhứt si tình, nó ba chưn bốn cẳng chạy xuống nhà vợ. Sau đó ba chưn bốn cẳng về nhỏ to với má. Bà Huệ lại nhỏ to với chồng. Năm Sông bảo rằng cho nó về lại cái nhà nầy hả? Còn khuya. Nó đi được một lần thì sẽ có lần thứ hai. Tin tao đi.

      Nhưng rồi Năm Sông buộc phải chấp nhận cho Bon đưa vợ về nhà bởi, sáu tháng sau thằng con nói ba ơi vợ con bầu được ba tháng rồi. Trên lô đất một sào tây Sông thượng lên một cái chòi lợp lá dừa nước cho đôi trẻ. Trong cái chòi ấy cô con dâu tên Hạnh Thảo cho ra đời một thằng cu giống… Năm Sông y tạc. Cũng đầu mình tứ chi trên đầu có tóc và trong đầu chắc chắn có não không giống mà được sao? Hai vợ chồng trẻ gửi con cho ông bà nội để làm ăn. Cô vợ xinh đẹp thuê nhà mở một quán cà phê sân vườn có võng. Năm thằng cháu nội được ba tuổi thì cao tốc chạy qua lô đất một sào. Năm Sông lại đùm túm lên tái định cư.

       Cũng năm ấy Bon quả tang vợ cùng một trẻ trai trong nhà nghỉ Nhị Kiều.

       Buồn tình buồn đời Năm Sông lăn ra chết vì cao máu.

                                                                  ***

       Ca dao rằng “ Trèo lên cây trắc, ngắt ngọn Đinh Lăng. Nhớ trong sách xưa có chữ rằng: bần cư náo thị vô nhân vấn…” sao mà đúng quá, ít nhất là trong trong trường hợp của Năm Sông. Sau giải tỏa đền bù. Khố rách áo ôm kiếm ăn bằng sức chỉ duy nhất một hộ Nguyễn Sông là cư dân của tái định cư, những hộ khác bán thổ cư của mình từ trước khi bốc thăm nhận đất. Tái định cư kiểu mẫu ai cho phép anh cất nhà tranh vách lá, chí ít cũng cấp bốn tường tô kiểu cọ hoa lá cành. Bán mẹ nó cho rồi, kiếm chút đĩnh mua chỗ re rẻ làm cái nhà xoàng xoàng dư chút vốn làm ăn. Nghèo thì phải biết liệu cơm gắp mắm chớ. Đúng không?

      Sông khác. Lô thổ ba trăm mét vuông Sông bán một nửa. Vậy là đủ tiền lên lầu một căn khá ngon cơm. Đằng trước nhà bà xã Sông làm một quán cà phê cóc kiếm ngày lon gạo và con khô đù một nắng. Hai vợ chồng ăn sáng một gói mì tôm chứ không hơn. Con cái đã lớn nên mạnh ai nấy lo. Cháu nội thì có cha má, vợ chồng Sông có phận thương và giữ giúp là tốt rồi. Cà phê cóc của Sông kiếm ngày con khô và lon gạo là chính xác trăm phần trăm. Vì sao. Vì cư dân của tái định cư toàn đại gia. Nhà của họ ngoài tường cao là hào sâu và cửa cổng trừ camêra còn có chuông oe oe báo trộm. Sang cả ai lại quan hệ giao lưu với cóc ổi mía ghim. May mà đại gia trừ nhà cao cửa rộng còn có cả trọ triệc cho công nhân thuê mướn nên, Sông mới có cơ hội mà kiếm con khô một nắng.

         Vậy nên khi cái xác chết vì cao máu về nhà, lèo tèo dăm mạng đến chia buồn. May mà thời hội nhập phát triển nên, bọn chuyên ăn thịt người chết lo tất tần tật các cái từ, hàng họ đến tụng tiệc đưa hồn ngươi chết về nát bàn,  huyệt mộ đều có người lo miễn có tiền. Sông chết ở bệnh viện nên bọn bán hòm nghe nói dân tái định cư tưởng Sông giàu. Đến lúc đưa xác và hòm về nhà chủ trại hòm mới dài mặt hối hận. Chả là lúc lấy cái xác lạnh như nước đá ra khỏi nhà vĩnh biệt – Hùng – con trai út của Năm Sông ra cổng bịnh viện kêu xe đưa cha về nhà nhưng chẳng một bác tài nào dám. Em út của chủ trại hàng nói để chị hai lo, em lo chi cho mệt. Hùng nói nhà em nghèo lắm chị ơi. Em tính đưa ba về xin cái hòm của chữ thập đỏ… nói gì nói chị hai vẫn ngang nhiên ra tay. Thường trú ở tái định cư thì phúng điếu dư để tang ma. Ngờ đâu trong kiểu mẫu cũng có khố rách.

      Rầu nhứt là trong cái mớ lèo tèo đến uống rượu chia buồn có cả bọn đòi nợ thuê. Vợ chồng trưởng nam của người chết trong tang phục ra tiếp khách. Chúng nó bảo xong đám ma là trả nợ cho chị hai nghe. Không trả là tao xin tụi mày nhiều luôn chứ một tí huyết không đủ làm tiết canh. Bon và Hạnh Thảo dạ dạ dạ em biết rồi. Ổng chết nhà nầy em chủ chứ ai vô. Mấy anh yên tâm. Ra là cặp đôi nầy thuê nhà mở quán cà phê sân vườn có võng là vay mượn của xã hội đen. Thế có chết không?

         Nghe chuyện ba đứa em cùng mẹ khác cha ra miệng:

  • Ê… đợt trước ông lấy sổ đỏ đi cầm, ba chị em tui phải bỏ công bỏ của đi chuộc. Ông không còn cái khỉ mẹ gì trong cái nhà này đâu mà chủ với tớ…

  Thằng Hùng nói với bọn đòi nợ thuê:

  • Mấy ông có gì cứ níu áo hai ngươi nầy. Của cải trong căn nhà nầy họ không còn chi hết.

   Đó rồi nó vào phòng lấy cái cặp táp lôi ra một tờ giấy cam kết có công chứng với con dấu đỏ như máu. Tờ giấy xác nhận rằng cái nhà chia làm năm phần. Nguyễn Bon và vợ là Trần Thị Hạnh Thảo đã lấy cái phần của mình… Đọc xong bọn đòi nợ thuê vỗ bàn dằn mặt:

  • Chuyện nhà anh em mày bọn tao đẻo cần biết. Xong đám mà vợ chồng mày không trả tao rạch mặt mày nghe con đĩ chó…

    Hạnh Thảo lớn giọng:

  • Yên tâm đi. Cai nhà nầy hôm nay trị giá những năm tỷ. Hồi đo vợ chồng tui chỉ lấy một trăm triệu. Không chia lại là không ổn với tui…

     Ba đứa con của Sông và bà Huệ thì Hùng là du côn có số. Nó văng tục:

  • Bà vừa mới bị ông Bon quả tang trai trên gái dưới ở Nhị Kiều. Đĩ chó như bà còn có tư cách gì mà chia lại vơi chia đi.

     Bà Huệ bước ra:

  • Trời ơi… yên cho cha bây tĩnh chút được không. Mấy chú về đi… để tui đưa ông nhà ra nghĩa địa rồi tính.
  • Tính cái gì ? Bà chỉ cần hứa sau đám trả nợ cho con trai và con dâu bà là bọn tui về liền. Còn không bọn tui đòi cho đến khi mở cửa mả.

   Hùng lên tiếng:

  • Mắc mớ chi đến má tui. Oan có đầu nợ có chủ. Mấy ông không có quyền ép má tui trả nợ.
  • Mày ngu chết mẹ. Con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Biết chưa thằng ngu. Cà chớn tao đâm chết mẹ mày bây giờ. Với tao ba năm tù như một giấc ngủ trưa nghe mậy.

    Đúng lúc đó hai chiếc xe hơi loại bảy chỗ dừng trước nhà Năm Sông. Cửa xe mở và những mười hai người rất trang trọng lịch sự. Họ mơ cốp xe lây ra hay vòng hoa phúng điếu. Vòng hoa dựng lên. Thiên hạ ngỡ ngàng khi đọc dòng chữ trên một vòng hoa: Hội văn nhọc nghẹ thuật tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông. Dòng chữ trên vòng hoa còn lại là: Ủy ban nhân dân tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông.

     Ra Sông là nghệ sĩ cơ đấy.

     Ở tái định cư kiểu cọ nầy thiên hạ đi ăn sáng bằng xe hơi là nhỏ. Nhưng chuyện hai chiếc bảy chỗ chềnh ềnh trước đám táng nhà Sông là lạ. Hôm ấy nhằm chủ nhật nên bọn công nhân – khách cà phê của quán Sông – tụ lại coi chơi cho biết một đám ma có điếu văn. Mẹ cha ơi… thường, Sông quần đùi áo áo thun ba lỗ cóc cách trên chiếc xe đạp cà là mèng mỗi khi vợ sai vặt. Nay điếu rằng vô cùng thương tiếc nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông đã một đời cống hiến cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung… Ra cái lão quần đùi áo cánh là hội viên cấp quốc gia mới ghê và giải này giải nọ nghe mà mắc mệt.

         Chuyện Sông là nghệ sĩ hóa khói bay khắp nơi trong tái định cư. Là dân làm ăn lớn, nghe nói có người của ủy ban cấp tỉnh dự đám ma, kính thưa các đại gia liền kéo đến. Đúng là “thớt có tanh tao ruồi đậu đến, gan không mật mở kiến bò chi”. Ông thông tin văn hóa huyện cũng có mặt thì ông xã là tất nhiên. Đám tang Sông bổng nhiên long trọng. Ông Nguyễn Huy Thiệp nói rằng “người ta xếp nhà văn cao trên ăn mày một bậc, nhà văn đứng đầu trong đám thảo dân, đứng cuối trong các phẩm trật triều đình. Giàu không ai viết văn cả (vì giàu thì hỗn, mà viết văn đòi hỏi khiêm tốn). Ở đây trừ vài “người điên thiên tài” thực sự như Tào Tuyết Cần, Bồ Tùng Linh, Lev Tolstoy… là những trường hợp đặc biệt từ người giầu có do viết văn họ lại hóa ra nghèo. Nghèo thì cũng không ai đi viết văn cả (vì nghèo thì hèn, mà viết văn lại cần dũng khí, khi cần thì họ nhảy vèo xuống nước giống như Khuất Nguyên, thế là cả một nền chính trị đương thời bị mang tiếng). Nhà văn là người biết sống trung dung, phong lưu, tri túc, “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm”. Không dễ gì tổ chức được một cuộc đời như thế. Rất khó, khó nhất không phải chỉ là tiền bạc, cũng khó nhất không phải chỉ là tri thức – mà khó nhất lại là đạo đức! Các cụ ngày xưa nói “có đức không đủ sức mà ăn” là vô cùng sâu sắc, vô cùng tế nhị.

          Không có phẩm trật và chỉ cao hơn ăn mày một bậc mà đám táng có quan chức tham dự thì quá xá là ghê gớm.

          Và xưa nay nghĩa tử là nghĩ tận. Oán tận tủy mà khi kẻ thù chết người ta còn đến để vuốt mắt lọ là Sông lành như đất. Mà đám ma là phải phúng. Bọn ở trọ phong bì còn trăm ngàn thì đại gia dăm bảy trăm một triệu có đáng là bao. Ây da… cái thùng phúng điếu có ổ khóa phải hơn một lần rinh vô phòng bà quả phụ Huệ chứ không nhét vô được bởi cái sự đầy ặp. Chắc chắn cái công lớn lao nhất đời làm chồng làm cha của Nguyên Sông là lúc nầy. Ông đã để lại cho vợ con kếch sù một gia tài. Đúng là số giàu đem đến dưng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.

      Tiếc là Sông chết mất rồi.

      Nhà chùa cũng có mặt theo lời mời của chủ tịch ủy ban nhân dân xã nơi Sông cư ngụ. Đại hòa thượng với mũ bình thiên và tràng hạt trên cổ, trên tay, sau lưng ngài trên hai mươi sư ông sư bà trong cà sa đi chung quanh cổ áo quan, và lời kinh tiếng kệ vang lên đảm bảo, linh hồn nghệ sĩ Sông – nếu có – chắc chắc lên cõi nát bàn ở cùng hằng hà sa số phật. Đại hòa thượng có vẻ tinh thông lẽ nhiệm mầu của trời đất. Trong thời gian nghỉ, ngài ngồi trên bồ đoàn, một tay lần tràng hạt, một tay dùng ngón cái đếm đốt ngón tay của bàn tay rồi phán:

  • Theo quẻ nầy thì không thể hỏa thiêu theo yêu cầu khi con sống của Nguyễn Sông. Sông cầm tinh con khỉ. Khỉ là vượn mà vượn thì “con vượn bồng con lên non hái trái. Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi” Kẻ trên cao sống đời bay nhảy không thể đốt được. Phải chôn.

    Vậy là chôn. Nhân bảo còn như thần bảo lọ là đại hòa thượng khi đã phán.

    Một dàn nhạc đám ma kéo đến theo chỉ thị của chủ trại hàng. Thôi thì tân cổ nhạc tha hồ phát huy. Ca sĩ đám ma hát hò nhảy múa không thua lai sô của nghệ sĩ thời thượng một lai nào. Lúc nầy mơi là lúc ca kính thưa các đại gia củá định cư phát huy sở trường xài tiền. Họ gặp em xy và yêu cầu vừa hát vừa múa bài Tình Cha. Lòng mẹ cũng chơi luôn bởi anh bo sộp.

      Cứ thế và cứ thế đám ma của Nguyễn Sông vui cho đến ngày ra nghĩa địa.

     Thằng chủ xe hủ tíu gõ, sáng nào cũng bán cho Nguyễn Sông một tô nhiều nước lèo bởi Sông nói tao mua thêm ổ bánh mì để hai vợ chồng cùng ăn. Gã nói:

  • Móa nó… còn sống thì đẻo có ăn, đến khi chết xuống thì văn tế ruồi.

     Lại nói thêm:

  • Sống thì đẻo có thằng náo viếng. Chết thì cả một sư đoàn. Nhưng mà cha Sông chết không dễ chi mà yên được. Tiền phúng nhiều quá bầy con giả chia chác cũng khó.
  • Ừ… nhứt là con vợ thằng Bon. Tha hồ có tiền điều hành tiếp cà phê sân vườn có võng và… nuôi trai. Mẹ cha nó thằng yếu sinh lý Bon.
  • Còn cái nhà nữa mới mệt chớ…

   Yên nghỉ mà được sao hả Nguyễn Sông?

        Nguyễn Trí

Xà bông Con Vịt

Trần Bảo Định

.

Một.

Hổm rày(1), tin tức ”Dân dậy” chống thuế từ Huế đổ dồn vô Nam(2). Rằng, quan hỏi: ”Ai cho phép dân đi?”, dân đáp trả: ”Cái bụng đói bắt đi”…Dù đang tại chức cai quản tổng Lợi Trường, nhưng Cai Tuất nghe thiên hạ truyền tai nhau cũng đã con ráy. Nói cai tổng là một cách nói, chớ đúng ra phải gọi chánh tổng. Vì, từ thời Đồng Khánh đã đổi cai thành chánh do kỵ húy cha mình là Hồng Cai tức Kiên Thái Vương.

– Thưa thầy cai, tui tới chơi!

Con Mực sủa át tiếng chủ điền Dương, một người thừa của ăn của để ở làng Kim Sơn miệt Sầm Giang.

– Hắc cẩu! Chỗ giao tình…

Mực nín sủa, ngửi ngửi ống quần, vẫy vẫy đuôi như xin lỗi và tỏ ý thân thiện với khách.

– Mời ông chủ ngồi!

– Dạ! Không dám! Thầy cai kêu tui ông chủ, thì tui sẽ tổn thọ.

Cai Tuất cười ngất.

– Xưa Tri huyện, nay Quận trưởng gật thì mần cai cho nó sai. Ngược lại, nó lắc thì mần dân, chẳng cơm ăn. Rốt cuộc, mần tá điền cho chủ điền. Gọi chú em ông chủ là qua lo cho cái ngày sau của qua!

Chủ điền Dương nhấp trà sen, cười trấn an:

– Làm gì có chuyện ”cái ngày sau” đó, thưa thầy cai!

Thầy cai đăm chiêu, đi đi lại lại trong gian phòng khách rộng thênh thang.

– Cai tổng là cái chức do bề trên cho, còn điền chủ là điền sản của mình. Của người cho sao bì đặng của mình có!

Chả hiểu sao hôm nay, Cai Tuất nói năng có vẻ chán chường như vậy, hay là lão ta thử lòng mình.? Điền chủ Dương tự hỏi, bởi thời cuộc bây giờ nhiễu nhương lắm.

– Thưa thầy cai! Cai tổng hay điền chủ trong cái xứ sở thuộc địa Nam Kỳ nầy, có gì là chắc chắn!

– Thôi! Qua và chú em bỏ phức ba mớ chuyện xà quần đó đi!

Cai Tuất trở lại thư thái điềm tĩnh.

– Nầy, qua hỏi thiệt, chú em quá bước sang đây chơi hay muốn qua gả chó giữ nhà?

Cả vùng Sầm Giang mấy ai không bái phục tài lựa chọn chó tốt của Cai Tuất. Vả lại, ông ta chẳng những không giấu nghề mà còn phổ biến cho xóm giềng cùng biết. Thường thì, ông nhắc nếu chọn chó khôn cần lưu ý: ”Mắt to, phía trên chưn mày điểm sậm màu hơn lông (còn gọi là chó bốn mắt), tai vểnh thẳng, lưỡi có bớt đen, ‘móng đeo’ bốn chưn trước sau…”. Lúc ”Trà dư tửu hậu”, Cai Tuất cao hứng đọc thiệu: ”Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt. Bỏ đuôi bên trái thì nuôi, bỏ đuôi bên phải thì thịt…”. Nói vậy, chớ chẳng ai can đởm ăn thịt chó, con vật mang biểu tượng trung thành với chủ; và cả thịt trâu, con vật mang biểu tượng bạn nhà nông.

Rồi, ông hãnh diện về con chó mực nhà ông mà ông thích gọi ”Hắc cẩu”, bởi toàn thân nó phủ một màu đen tuyền; dân gian truyền tụng chó mực mắt thấy được ma quái và ma quái cũng chỉ khiếp sợ loại chó mực.

– Thưa thầy cai! Tui tới gặp thầy cai là mần theo ý của ông Gilbert Chiếu (3).

Để khỏi mất thì giờ, điền chủ Dương nói luôn:

– Gilbert Chiếu nhờ tui nhắc lại với thầy cai câu ca dao ở xứ mình: ”Tham chi đồng bạc con cò (4)/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang sa”!

Cai Tuất chưng hửng và câu chuyện về chó đang hồi cao trào cũng bị xẹp lép. Gilbert Chiếu, một cái tên mà từ lâu ông hằng ngưỡng mộ và thời gian gần đây, trong giới trí thức, điền chủ, hương chức…ra6mran bàn luận và tham gia phong trào Minh Tân ngày càng đông ngay trên đất Mỹ Tho, vốn là thủ phủ thương mại của Hoa kiều với cái tên ”Đại phố Mỹ Tho” từ Dương Ngạn Địch. Một việc làm hi hữu và táo bạo kể từ khi Nam Kỳ thuộc Pháp.

Hai.

– Bẩm quan! Tuất nầy xin trả cái chức cai tổng lại cho quan. Quan coi ai đó, giao người ta đặng kiếm chút tiền xài vặt.

Quận trưởng(5) quận Cai Lậy dằn tay xuống mặt bàn, đứng dậy đá ghế.

– Cai muốn giỡn quận, sao?

Cả gian phòng im ắng, nặng chình chịch, nghe rõ mồn một tiếng tích tắc của dái đồng hồ treo tường lắc qua lắc lại. Con chó Berger của viên Quận trưởng cao to gấp ba bốn lần con Mực của Cai Tuất, định chồm tới uy hiếp con Mực. Nhưng, chẳng hiểu sao nó chựng lại, hai chưn trước hơi run. Có lẽ nào, chó Berger bị ”khớp đèn” trước ánh mắt của chó Mực!?

Tay Quận trưởng giở giọng đe nẹt:

– Gần đây, ta được mật báo có đám người ”vong ơn bạc nghĩa”, vô quốc tịch Tây lập hội ”Minh tân, Minh cựu…” gì đó, mưu phản Tây. Bọn khác tự xưng ”Đông cung Thái tử” lập ”Hội kín” đánh Tây, kể cả cái bọn ”khố rách áo ôm” ngoài Huế cũng tụ tập biểu tình chống thuế muốn làm loạn. Vậy, bổn chức hỏi Cai, đứa nào xúi Cai trả Cai lại cho ta?

Cai Tuất thoáng nghĩ, Mực không sợ Berger; chả lẽ ta lại thua con chó Mực! Bởi vậy, dù giọng gầm gừ, mặt hầm hừ thì hắn cũng chẳng bắt nạt được Cai Tuất.

– Bẩm quan! Không có đứa nào xúi hay giục Cai Tuất nầy cả! Chẳng là, tui mê nuôi chó, thích gả chó và biết đâu tới cái ngày kia, ham đua chó nữa cũng nên. Quan chưa chơi chó nên không biết đó thôi!

Quan quận chưa kịp phản ứng, Cai Tuất thưa tiếp:

– Hội Minh Tân, Hội kín…Hội chi chi đó, tui không biết mà chỉ biết: ”Chó cùng rứt giậu”. Nhựt trình Pháp đăng rùm cái vụ dân Huế xin thuế ”bắt trói tên Phó quản và bọn quan lại phủ huyện gánh tới Tòa Khâm và Phủ Doãn Thừa Thiên…”.

Hình như, nét mặt viên quận có vẻ xìu. Con Berger lảng đi chỗ khác.

Đột nhiên, quan quận trừng đôi mắt trắng dã, trợn ngược:

– Cai tổng muốn làm loạn, à!

Hắn để tay lên bao súng đang nịt ngang hông.

– Đồ chó má!

Cả Tuất cười thầm, nghĩ bụng: ”Chẳng biết thằng nào chó, thằng nào má!”.

Sự căng thẳng bắt đầu như người đánh đàn bắt đầu lên dây đàn, Cai Tuất móc túi quần lấy ra xấp tiền mới cáo cạnh vừa rút ở nhà băng đặt lên bàn quan quận. Hình mụ đầm xòe in trên tờ giấy bạc như nhảy múa làm sáng mắt tay chủ quận. Hắn nuốt nước bọt, sửa bâu áo, trở giọng:

– Cai cả gan dám đút lót bổn quan bằng tiền mẫu quốc?

– Thôi mà quan! Mình người nhà, có lạ lẫm gì nhau.

Mặc dù Cai Tuất đã trả cái chức cai tổng cho chủ quận Cai Lậy từ lâu, nhưng dân trong tổng hoặc người thân vẫn quen miệng gọi Hai Tuất là Cai Tuất. Một hôm, Cai Tuất ngồi nói chuyện với vợ.

– Tui tính như vầy, bà nó coi có được không, nha!

– Thì, ông nói thử cho tui nghe.

Cai Tuất khẽ dộng đầu điếu thuốc lá ”Con ngựa bay” xuống cạnh bàn, mồi lửa hút.

– Mấy tháng nay, cậu Út rủ tui gom tiền hùn vô ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” (6) để làm xà bông hiệu ”Con Vịt” đem bán cho bà con mình xài vừa tốt, giá rẻ. Tui định nói với bà, tháng sau tới kỳ hạn tiền gửi nhà băng thì bà rút hết tiền đưa cho cậu Út…

Vợ Cai Tuất chặn ngang.

– Làm savon là làm cái gì? Sao lại là hiệu ”Con Vịt”?

Thú thiệt, Cai Tuất không nắm được rành cho lắm. Chỉ là, học lóm lời cậu Út nói mà thôi, nhưng chả lẽ mần thinh; thà mình nói dù nói chưa được rành mạch mấy.

– Thì là, làm xà bông đó! Hiệu ”Con Vịt” là biểu tượng niềm vui, sự an lành và nó cũng là, con vật linh dùng để cúng Bà Cậu miền sông nước. Cậu Út nói: ”Con Vịt” kêu tiếng kêu chuyển mình của người Nam Kỳ đi vào lãnh vực công nghệ!

– Tui thì, tui thấy gửi tiền nhà băng lấy đồng lời cho chắc ăn. Mần đôi khi, có mần mà không có ăn. Vả lại, làm sao cạnh tranh nổi với hãng xưởng Hoa kiều, hãng xưởng người Pháp.

Nghe vợ nói, Cai Tuất bối rối không biết dùng lời lẽ gì để ứng phó, thuyết phục. Nếu, không ứng phó, thuyết phục được vợ thì không thể lấy chìa khóa mở rương tiền.

Làn khói thuốc bay vẩn vơ. Mực ho hục hặc mấy tiếng, dường như nó nghẹn cổ vì đồng cảm với chủ.

Cai Tuất thấm thía sự thất thế của mình trước vợ. Ông mần cật lực tạo ra tiền để vợ có tiền mà giữ, nhưng lúc nào vợ ông cũng nghĩ xấu về ông; khác gì chó dù có trí thông minh, thính giác, khứu giác siêu phàm phân biệt người quen kẻ lạ, siêng năng giữ nhà và nhứt là, trung thành tuyệt đối với chủ…Vậy mà, người đời sử dụng cái nặng tình qua ca dao, cái nặng lý qua tục ngữ nhằm bêu xấu chó. Không vì ham làm giàu, ông nhảy vô lãnh vực công nghệ hoàn toàn mới mẻ đối với ông; chẳng qua vì lòng tự ái dân tộc, ông muốn làm ra sản phẩm cho người mình xài cái người mình có.

– Ông ơi! Vô ăn cơm. Chiều rồi, đó!

– Bà ăn trước đi, tui chưa thấy đói!.

Biết ông hờn mát bà từ cái bữa bàn chuyện nhập hội làm xà bông ”Con Vịt” tới nay, nhưng bà mần bộ lảng coi như không biết. Chớ thiệt bụng, bà muốn ông sớm bỏ nghề nuôi chó, gả chó cho người. Mình không ăn thịt chó, người ta ăn thì sao? Thất đức, chết! Bà thường nghĩ: ”Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Bà vốn người làng Lương Hòa Lạc, có ngôi chợ nằm cạnh dòng sông Bảo Định hiền hòa. Ông nội và bên nội của bà, từng theo Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân chống Tây hơn ba mươi năm về trước. Cậu Út của bà, ông Lê Văn Cửu, một trong số tám người gốc gác dân Mỹ Tho, là sáng lập viên Công ty Cổ phần ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” (7). Hơn nữa, ông Huỳnh Đình Điển, chủ khách sạn Nam Kỳ (😎 chẳng tiếc gì của cải, dám giao khách sạn cho ông Trần Chánh Chiếu mượn làm trụ sở Minh Tân, thì hỏi sao bà không tin, không tham gia. Bà chần chừ bởi hiểu rằng: ”Minh Tân là phong trào yêu nước, kết nối giữa phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Mục đích cuối cùng là đánh đuổi thực dân Pháp, giàng Độc Lập, Tự Do cho Tổ quốc”. Chẳng biết ông nhà có cái gan mần việc lớn hay không? Có khi phải đem cái mạng mà đền nợ nước! Hay ông chỉ chí thú mần ăn hoặc do hứng khởi nhứt thời vì ham mần ra tiền. Với bà, việc nầy là việc hệ trọng không vì tiền bạc mà vì, tấm lòng nghĩ tới nước, tới dân hiện đang sống trong tủi nhục mất nước.

– Thì, ông vô ăn cơm cùng tui đi cái đã! Rồi, tui nói chuyện nầy hay lắm cho ông nghe!

Ba.

Cai Tuất cặm cụi dán ”Bố cáo di dời mồ mả” trên sở đất mà Công ty đã mua để xây dựng cơ sở sản xuất xà bông hiệu ”Con Vịt” (9). Với tinh thần ”Người Việt xài hàng Việt” nên những thân nhân có mồ mả đang nằm trên sở đất của Công ty đã cấp tập di dời. Hạn di dời mồ mả ba tháng, nhưng chưa tới một tháng, Công ty đã có thể xây dựng lò sản xuất xà bông. Vợ Cai Tuất, vợ điền chủ Dương trực tiếp đứng ra thu mua dừa khô từ nhiều nơi đổ về giao mối. Nhiều nhứt và chất lượng dầu dừa tốt nhứt, vẫn là trái dừa xiêm khô Bến Tre có vỏ màu nâu sậm, cầm trái dừa cảm giác chắc tay. Trên bến, dưới thuyền; bầu không khí vui như hội, chẳng những đối với người trong Công ty mà còn cả với người xung quanh.

– Chào thầy cai tổng!

– Giờ nầy, còn thầy với bà gì nữa, chú em! Cai với tổng, cái con khỉ!

Cả hai cùng cười vang, rung khói lò nấu dầu dừa.

Điền chủ Dương neo ghe, nhảy lên bờ ôm vai Cai Tuất. Mực ”gâu, gâu…” mấy tiếng, chồm lên chưn mừng người quen.

– Sao? Từ ngày chú em vô ”Minh Tân túc mễ tổng cuộc”, đi buôn lúa gạo có khá hơn đi thu thuế ruộng tá điền không?

Cai Tuất hỏi thăm người anh em cùng tổng hồi trước.

Điền chủ Dương giờ đã là chủ nhà máy xay xát gạo lớn bậc nhứt ở Long Hưng, sau khi bán hết ruộng vườn cho Trần Bá Thọ. Chủ nhà máy Dương cười sảng khoái.

– Giờ nghe ai gọi Chủ nhà máy, tui vừa sướng vừa đã hơn nghe ai kêu Điền chủ!

Chủ nhà máy Dương tâm tư:

– Suy cho cùng, mần chủ nhà máy còn làm ra sản phẩm. Mần địa chủ chỉ quen thói đè đầu, bóp họng tá điền nhả tiền ra chớ xã hội chẳng có được thêm vật chất, của cải. Một thằng làm giàu, trăm họ điêu đứng,tạo nên sự bất công, nỗi phẫn uất!

Rồi, chủ nhà máy Dương kết luận:

– Chủ nhà máy giàu, thì xã hội có thêm sản phẩm. Còn điền chủ giàu, thì xã hội chỉ có thêm tá điền đói khát!

Cả hai nhâm nhi men rượu nghĩa tình, mừng cuộc hội ngộ cùng đi chung con đường canh tân đất nước. Sống trên đất của mình, há lẽ chịu bó tay lệ thuộc vào hàng hóa của tư bản Pháp và của đám Thanh thương!? (10). Chứng minh điều suy nghĩ của mình, chủ nhà máy Dương bước lên đòn ghe trở xuống ghe lấy tờ nhựt trình, đặng cho Cai Tuất coi cái tin ”Nam Kỳ thương cuộc” do ông Trần Văn Thạnh ở Chợ Gạo thành lập: ”…lập sở nhà máy xay lúa, lập hãng ăn lúa gạo ( để trực tiếp xuất khẩu) hoặc là lựa con dân đứa nào thông thái thì cho nó qua bên Tây học bác vật…”. (Lục tỉnh tân văn).

Mấy dòng ngắn ngủn của bản tin, đủ sức củng cố niềm tin xán lạn hàng hóa Việt; trong đó, có sản phẩm xà bông hiệu ”Con Vịt”.

Bóng chiều khuất tầm rặng mù u. Chủ nhà máy Dương kiếu từ Cai Tuất để kịp con nước sang thăm vợ đang ở chành thu mua dừa khô nơi bến Tắm Ngựa. Trước lúc xuống ghe, chủ nhà máy Dương kề tai Cai Tuất, nói nhỏ:

– Minh Tân hội vừa có thêm thành viên mới!

– Vậy là quá tốt! Thêm người thêm sức mạnh. Nhưng mà ai đó, chú em?

Cai Tuất sửng sốt gần như hốt hoảng khi nghe chủ nhà máy Dương trả lời.

– Chết! Chết! Sao lại là Trần Bá Thọ!? (11).

Gió sông Tiền hiu hiu ru chiều Mỹ Tho sụp mí tối!

*

Mẻ xà bông hiệu ”Con Vịt” đầu tiên ra lò. Cai Tuất và toàn bộ anh chị em công nhân mừng chảy nước mắt. Mùi xà bông thoang thoảng hương dầu dừa thơm tình quê. Trong tâm trí Cai Tuất, mường tượng đàn vịt đang chạy đồng rộng bao la trên vùng đất Nam Kỳ. Tự nhiên, Cai Tuất cười một mình như người nằm mơ vừa bắt được giấc mơ.

Hôm Hội nghị cổ đông, Tổng lý Trần Chánh Chiếu giới thiệu Cai Tuất với mọi người: ” Nguyễn Văn Tuất tự Cai Tuất, người bỏ cai rời tổng đi vào sản xuất ích nước lợi nhà, người buông nghề nuôi chó gả chó để nắm lấy kỹ thuật và làm ra xà bông cho người mình có cái mà xài, giảm bớt sự lệ thuộc sản phẩm ngoại lai”. Cai Tuất chẳng còn nhớ hôm đó ông nói cái gì, chỉ nhớ là ông có hứa: ”Cố gắng cùng anh chị em công nhân làm hết sức mình và sống chết bám hãng xà bông hiệu ‘Con Vịt’. Vì phát triển của Nam Kỳ, vì tồn vong của đất nước, ông nhứt định không để thua chó đối với chủ…”. Ông nhớ trước lúc hội nghị sắp bế mạc, Tổng lý sai ông đem xà bông hiệu ”Con Vịt” tặng mỗi đại biểu bốn cục xà bông về xài thử và có điều gì cần góp ý, nhắc nhở, thì trực tiếp với hãng.

Ai nấy cùng nghĩ: ”Vạn sự khởi đầu nan”, nhưng với lòng tự trọng, tính cần cù, sự chung tay…”Con Vịt” hình ảnh thân quen của quê nhà sẽ được người mình giang tay đón nhận, dù buổi đầu chất lượng có kém đôi chút so với người đi chăng nữa(12).

Giữa lúc mọi người đón tin vui: ”…Từ ngày có savon Minh Tân ló ra bán giá rẻ, thì savon của Khách (Hoa kiều) cũng hạ giá theo, nên nay công ty hạ giá bán cho các đại lý hơn, hoặc ai mua từ 100 kilos sắp lên cũng nhờ được” (13), thì điềm dữ bắt đầu manh nha bởi tên Trần Bá Thọ làm chỉ điểm cho thực dân Pháp. Rồi, chỉ ít lâu sau, tên Chủ tỉnh Mỹ Tho phát lịnh từ tòa Bố (14) đàn áp, bắt bớ và tịch thu các cơ sở của Minh Tân.

Tư.

Còn năm tiếng đồng hồ nữa là hết hạn giao hãng xưởng sản xuất xà bông hiệu ”Con Vịt” cho chánh quyền sở tại, theo ”tối hậu thư” của tên Chủ tỉnh Mỹ Tho. Cai Tuất điềm tĩnh, cho công nhân chất dầu xung quanh hãng như một chiến lũy và ra lịnh phá máy móc, hủy các lò; đồng thời, cho công nhân mang lấy tất cả thành phẩm xà bông, nhanh chưn rời khỏi nhà xưởng. Một số công nhân bịn rịn, tỏ ý muốn ở lại hãng cùng ông. Ông nghiêm cấm!

Mực không sủa, lặng lẽ chạy theo anh chị em công nhân ra tới tận cổng rào. Rồi, điềm nhiên quay vô nằm cạnh chưn của chủ. Cai Tuất cúi xuống, ôm nó vào lòng và thì thầm điều chi đó. Nó bật vùng dậy, bốn cẳng đứng thẳng thớm, ngửa mặt nhìn trời và nghếch cái mõm tru lên tiếng tru kéo dài nghe rờn rợn da mọc gai. Cai Tuất hiểu rằng, Mực từ chối xa ông.

Ngồi uống rượu một mình giữa không gian bình yên chờ đợi bão tố. Tấm phù điêu hình ”Con Vịt” treo trên tường, thỉnh thoảng chao động không biết vì gió hay vì chia sẻ sự kiện định ở lại của ông, của con Mực (!?). Tự nhiên, ông thèm nghe tiếng vịt gọi đàn, thèm nghe tiếng vịt kêu chiều nhớ nhà, nhớ chốn. Ông hiểu tấm lòng của bà đối với ông, ngày đó, bà chần chừ quyết định vô hội Minh Tân, vì bà sợ những năm tháng làm cai tổng và dù ông đã tự lột trả lại cái chức cai tổng cho Chủ quận Cai Lậy, nhưng có chắc gì tâm hồn ông còn được sáng trong! Giờ thì, ở một nơi ẩn náu nào đó, hẳn nhiên bà thấu hiểu bụng dạ của chồng: ”Nhứt định không để thua chó đối với chủ”. Và, trong cái thời gian đếm từng phút nầy, ông muốn nói với người vợ hiền: ”Tui thà làm con chó, dù phải chết cũng không làm con má. Bởi, con chó không ăn thịt đồng loại, còn con má thì ăn chẳng từ thứ nào! Hồi nẳm, thằng Chủ quận Cai Lậy chửi tui ‘Đồ chó má!’, cũng có nghĩa là tui chó, nó má”. Ông chợt phì cười do ý nghĩ vừa thoáng qua.

Chén rượu cuối cùng ông vừa uống cạn, chưa kịp quơ tay chùi mép thì ngoài cổng hãng lao xao tiếng chưn người.

– Cai Tuất! Nghe đây…

Chẳng chờ tiếng loa phát trọn lời, Cai Tuất thản nhiên bước ra mở cổng. Khi đoàn người lọt vô căn phòng treo phù điêu ”Con Vịt”, ông lạnh lùng châm lửa đốt những thùng dầu bao quanh thành chiến lũy! Rừng lửa trùm mất hút bọn thực dân Pháp và lũ tay sai. Tiếng la hét, kêu khóc động trời dậy đất! Và, người ta nghe rất rõ, con Mực tru tiếng tru vĩnh biệt ”Con Vịt” trong thời khắc sinh tử.

Từng làn khói trắng nương gió kết tụ thành mây, trôi lang thang trên nền trời xanh thẳm quê nhà!

(Trích tập truyện ngắn Khói un chiều, Nxb Đà Nẵng, 2017).

……………………………………………………………………

(*) Sử dụng tài liệu báo Lục tỉnh tân văn. (Báo Lục tỉnh tân văn do Trần Nhật Thăng, một trong những bút danh của ông Trần Chánh Chiếu và ông làm Chủ bút từ ngày 15.11.1907 tới ngày 29.10.1908 được 50 số, thì đình bản).

(1) Tháng 4 năm 1908.

(2) Nhân dân Công Lương đã bắt tri huyện nhốt vào cũi tre, áp giải đến dinh khâm sứ Leveque. Cuộc nổi dậy của nhân dân Thừa Thiên Huế đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ thành một đợt sóng mới của lòng yêu nước” (Theo tác giả H.V.T, nguồn Tạp chí Sông Hương, số 228, tháng 2. 2008).

(3) Trần Chánh Chiếu (1867-1919), sinh tại làng Vân Tập (Vĩnh Thanh Vân), tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang). Ông xuất thân đại điền chủ, quốc tịch Pháp, thường gọi Gilbert Chiếu hoặc Phủ Chiếu (hàm tri phủ). Ông là nhà trí thức yêu nước, nhà doanh nghiệp dân tộc, nhà văn, nhà báo, nhà cải cách; đồng thời, là Chủ soái phong trào Minh Tân (Minh đức Tân dân) ở Mỹ Tho. Ngày 29.10.1908, tại Sài Gòn, thực dân Pháp bắt Trần Chánh Chiếu cùng 91 người khác, rồi di lý tất cả về Mỹ Tho. Sau đó, tiến hành khám xét và tịch thu, đánh phá các cơ sở trực thuộc Nam Kỳ Minh Tân.

(4) Đồng bạc con cò (còn gọi điếu ngân), mặt trước có hình chim, mặt sau có hình chiếc nón tỏa hào quang,nhìn chẳng khác gì bông hoa đang xòe.

(5) Pháp lập quận Cai Lậy (1904) thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm có 6 tổng; trong đó, tổng Lợi Trường gồm 12 làng. Đứng đầu quận là Quận trưởng.

(6) Trần Chánh Chiếu thành lập Công ty Cổ phân ”Nam Kỳ Minh Tân công nghệ” , trụ sở đặt tại Minh Tân khách sạn (Mỹ Tho).Có điều lệ, có vốn cố định 1.000 đồng Đông Dương (tương đương 25.000 frans, theo thời giá năm 1908).

(7) Trần Văn Bình, Lê Văn Cửu (Lương Hòa Lạc,Chợ Gạo), Trần Quan Xuân (Bình Cách, Chợ Gạo), Đinh Văn An (Bình Hài,Chợ Gạo), Nguyễn Tử Thức (Đồng Sơn, Gò Công), Lê Văn Chức (Bình Thạnh Đông, Gò Công), Lê Văn Thiền (Kim Sơn, Châu Thành), Huỳnh Đình Điển (Gò Công).

(😎 Khách sạn Nam Kỳ ( Minh Tân khách sạn) đối diện ga xe lửa và bến tàu lục tỉnh ( Vườn hoa Lạc Hồng, nay là công viên Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân).

(9) Sở đất nằm ngang rạp hát Tư Lài, gần cầu sắt Mỹ Tho. Nội dung Bố cáo di dời mồ mả được đăng tải trên báo Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 23.7.1908.

(10) Thương gia Hoa kiều (có lúc gọi là Thanh khách).

(11) Con của Trần Bá Lộc. Hai em của Trần Bá Thọ là Trần Bá Tường làm huyện ở Cai Lậy và Nicolas Trần Bá Hữu làm huyện ở Long Thành.

(12) Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 10.9.1908, đăng quảng cáo (trên hai trang khổ lớn) về xà bông hiệu “Con Vịt”.

(13) Lục tỉnh tân văn, số ra ngày 22.10.1908.

(14) Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi chức Tham biện thành Chủ tỉnh (Chef de la province hay Chef – province), tòa Tham biện thành tòa Bố.

Có thể là hình ảnh về nước hoa và văn bản cho biết 'SECRET SECFEI COCO'

Tất cả cảm xúc:

Giọt sương và cỏ non

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

1. Giọt sương và cỏ non

.

Giọt sương nín thở

Bầu trời trĩu nặng

Trên đầu cỏ non

.

2. Bông tuyết

.

Những bông tuyết mỏng manh

Bám vào chiếc khăn len màu đỏ

đẹp thiết tha

.

3. Cây không khí

.

Bên tách trà nóng

Cây không khí im lặng

dạy tôi cách tồn tại mà không chiếm chỗ

.

4. Con ngựa đá ở lăng Gia Long

.

Con ngựa không đi đâu

Lịch sử vẫn trên lưng nó mỗi ngày

Móng mòn dần vì thời gian quá nặng

.

5. Bụi chuối

.

Bụi chuối sau nhà

Chuối trổ buồng non

Mưa xuân không biết tuổi

.

6. Thời gian

.

Thời gian không có chân

Nó mượn ngựa để chạy

Đuổi theo chiếc lá vàng

.

7. Trước cổng Ngọ Môn

.

Những viên gạch cũ

Quen tiếng giày của khách du lịch

Nhớ bước chân vua

.

8. Chiếc đồng hồ

.

Kim dây chạy rất nhanh

Thời gian không có cột đèn ở giao lộ

Để do dự

.

9. Tự do

.

Lơ lửng như cây không khí

Mỗi buổi sáng

Cứ thế nở hoa

.

10. Sau cùng

.

Sự sống không hề có bản thảo chính thức

Điều sau cùng

Nằm ở cuối con đường