Feeds:
Bài viết
Bình luận

Nguyễn Thị Phụng

1. ĐÊM XUÂN THƯƠNG GÃ SI TÌNH

Đêm xuân thương gã si tình
Trăng vui đùa bảo chúng mình như nhau
Quay về tìm lại vườn cau
Bầu trời vần vũ nhuốm màu cô đơn
Ô hay chị gió ghen tuông!
Gởi miền nhung nhớ nụ hôn trược dài
Gã si luống những miệt mài
Mơ màng mong muốn mùa sai ân tình…

 2. ĐƯỢC MÙA MUA BÁN

Trời chiều bán quả sầu riêng
Có người ghé hỏi than phiền giá cao
Đắng cay luống những nghẹn ngào
Sầu riêng kia chín thế nào cũng rơi
Đùa rằng chờ hứng lấy chơi
Bán mua mặc cả lẽ đời tự nhiên
Khi vui sao có sầu riêng
Khi buồn cuối vụ cả thiên chất đầy…

3.  THƯƠNG QUÁ BẮT TAY ƠI !
Em về thơm lại bàn tay
Nghe trong hơi ấm đong đầy yêu thương
Em về thơm lại vấn vương
Tay trong tay bắt lẽ thường người ơi!
Em về nhung nhớ xa xôi
Tay trong tay ấp khoảng trời dấu yêu
Em về bóng ngả ráng chiều
Hương xuân ngan ngát dặt dìu tình xuân..

Thử hôn

Ngồi đọc mấy bài thơ mà Thẹo bỗng tức cười, hôn có gì ghê gớm đâu mà qua những nhà thi sĩ nụ hôn trở nên dữ dội, nào là: Lần đầu ghé nụ hôn vàng, bầy chim ríu rít hót vang khu vườn, rồi thì cỏ cây đờ đẫn quanh mình, rồi dòng sông ngừng chảy, thậm chí còn gió xiêu vẹo gió nữa chứ, thiệt là ghê ơi là ghê. Nụ hôn đầu ai chẳng có nhưng đâu có ghê gớm đến vậy, nó nhớ tới ngày xửa ngày xưa….

              Ngày xửa ngày xưa cái xóm nhà nó chỉ một đoạn đường ngắn ngủn mà có tới năm cái bar, còn mấy cái ổ nhền nhện ở trong xóm thì vô số kể, buổi sáng sớm thì vắng tẻo vắng teo nhưng…khoảng 10g thì bướm hoa dập dìu. Thuở đó nó còn đi học, mà học trường Cường Để nữa mới oách chứ, sáng thì đi học, trưa thì bị nhốt trong nhà nhưng mấy cái chuyện hôn hít thì nó vẫn thấy thường xuyên. Đặc biệt cái xóm của nó toàn là tụi mẽo đen thui thùi lùi và vô số cô gái bán hoa cho nên tiếng bồi nó cũng biết chút chút, lúc đó chỉ cần gia đình lơ là một chút thì nó phóng ra ngoài đường okê salem túa xua, suốt từ trưa đến chiều nhạc cứ xập xình suốt muốn học thì cũng khó nhưng đến khoảng 6g chiều thì không khí yên tĩnh lại, xóm nó là vậy đó.
             Cách nhà nó mấy cái là nhà của con nhỏ Nga còn biệt danh là Nga lung linh, tuy nhỏ hơn nó nhưng con nhỏ sao mà lanh quá, chuyện gì nó cũng biết kể cả chuyện hôn hít, chỉ cần nghe nó kể chuyện đi chơi với bồ là cả đám trố mắt mà nhìn và lắng nghe chuyện nó kể một cách say sưa, nhất là chuyện dành bồ giựt bịch, trong đám con trai nhiều thằng cũng lớn bộn nhưng cái chiện hôn hôn hít hít đố có thằng nào biết nhưng nhìn thì thấy dài dài, thử coi một đoạn đường đâu quá dài, cứ chiều chiều là có hàng trăm thằng mẽo và lũ khũ những cô gái cứ đeo nhau như sam hôn hít tùm lum thì chỉ những người mù mới không thấy chuyện đó thôi. Riêng Thẹo thì đâu có lạ những cảnh hôn hít nhưng hôn thì nó đú biết mà muốn thì cũng chẳng có ai chỉ đâu mà biết, nhiếu lần nó cà khịa nhờ con nhỏ Nga bày dùm nhưng lần nào cũng bị con nhỏ xách dép nhứ nhứ làm nó cũng cụt hứng, chỉ có một lần nó hun đại lên má con nhỏ, bị con nhỏ Nga rượt chạy cong giò, nó đem chuyện đó kể cho mấy thằng lớn thì bị tụi nó chê: Đó mà hun cái gì, phải là hun môi mới phê,  rồi mấy thằng lớn cá,  nếu mà đứa nào biết hun đầu tiên thì cả đám con trai trong xóm bao ăn kem Phi Điệp coi cinê Kim Khánh thả dàn trong vòng một tuần, nghe giải thưởng thì thằng nào cũng khoái nhưng cũng chẳng ai dám thử vì chẳng biết thử chỗ nào.
            Thằng Thẹo đi tới đi lui trước nhà con Nga nhiều lần, không phải nó muốn hun đại con Nga mà chỉ hỏi nó cách hun thế nào và cảm giác ra sao để về cà khịa cho tụi con trai trong xóm ngán nó thôi chứ giải thưởng nó cũng chẳng thiết gì,  nhưng nó cũng không dám hỏi,  bởi nó cứ tưởng tượng ánh mắt cũa con nhỏ khi nghe câu hỏi đó, ôi….rùng rợn quá,  cùng đường Thẹo mới nhớ tới chị Trang. Sở dĩ nó kêu bằng chị bởi vì không biết chị bao nhiêu tuổi nhưng nó chỉ biết một điều là chị sành sõi hơn nó và cũng chững chạc hơn nó nhiều, nó cũng không biết có phải chị tên Trang hay là tên Xoài tên Ỗi gì đó, vì tất các cô  cư ngụ ở cạnh  xóm nó đều xài tên tự đặt cho oách nhưng thấy người ta kêu chị là Trang nên nó cũng kêu tên Trang. Nó với chị cũng khá thân thiết, có cái gì ngon chị cũng để dành cho nó và nó cũng vậy, chuyện gì vui buồn chị cũng hay kể cho nó nghe, thôi thì bí thủ quá nó cũng đành nhờ chị Trang vậy.
           Tối hôm sau nó chờ quán bar hết khách rồi mới đi tìm chị Trang, sau khi nghe nó nói thì chị bỗng phá cười, cười ngặt nghẽo làm cho Thẹo cũng thấy quê quê nhưng nhìn vẻ mặt tội tội của Thẹo thì chị cũng hết cười và chỉ cho nó cảm giác lúc hôn như thế nào để nó về cà khịa, chiều tối hôm sau nó gặp lũ bạn trong xóm cà khịa nhưng tụi nó lại nửa tin nửa ngờ nhưng dù sao tụi nó cũng hơi ngán nó mặc dù cũng chưa tin hẳn nhưng vì chưa có đứa nào biết hôn cho nên tụi nó cũng không kiểm chứng được nhưng con Nga thì khôn hơn nhiều bởi vì nó quá rành rẽ chuyện đó. Ngay hôm sau lúc Thẹo đòi chung độ thì mấy đứa trong xóm nghe lời xúi giục của con Nga nên không chịu chung mà đòi phải hôn lại và cho tụi nó chứng kiến thì tụi nó mới chịu chung, mấy ngày tiếp theo mặc dù Thẹo tìm mọi cách năn nỉ nhưng chị Trang vẫn không chịu nên Thẹo cũng hết cách dù rằng mấy chị bán bar trong xóm nó đều quen hết nhưng nó cũng chẳng dám mở lời,  cuối cùng nó cũng liều mạng rủ thằng Hùng con cùng xóm đi ra xóm sau.  Thấy hai thằng nhóc bước vào mấy cô gái bán bar tỏ ra rất ngạc nhiên và bu lại coi, Hùng con cầm điếu thuốc hít một hơi rồi chỉ vào mấy cô gái rồi nói:
               – Ê cho hai em đã đã coi.
             Nhìn điệu bộ của Hùng con mấy cô gái bỗng phá cười, rồi một cô trong đó nói:
               – Cưng ơi. Cho chị coi thử cái ớt bay của em chín chưa vậy
             Nói xong mấy cô gái nhào vô làm hai thằng sợ qúa chạy một mạch không dám quay đầu lại nhìn, ngày hôm sau Thẹo đem chuyện này kể lại cho chị Trang nghe làm cho chị cười muốn vỡ bụng làm Thẹo cũng thấy quê quê, nhưng chuyện hôn thử đó cũng đi vào quên lãng. Một hôm đi học về Thẹo gặp chị Trang giữa đường, thấy chị vẻ mặt có vẻ buồn nó hỏi:
              – Chị đi đâu đó, có chuyện gì không mà chị có vẻ buồn vậy?
              – Ừ có chuyện, tối nay ra gặp chị, chị nói cho nghe.
             Tối đó Thẹo ra gặp chị Trang sau khi nói dối gia đình đi mượn vở bạn, ra chỗ hẹn thì nó thấy chị Trang đứng đó tự bao giờ, mọi hôm khi gặp nó chị Trang bao giờ cũng vui nhưng sao hôm nay nó thấy chị có vẻ buồn , nhìn dáng ũ rũ cũa chị mà nó cảm thấy lo lắng không biết chuyện gì xảy ra với chị. Hai chị em chỉ nhìn nhau mà chẳng nói gì, thật lâu rồi chị mới nhìn thẳng mặt nó rồi nói:
              – Mai chị về rồi.
              – Chị về đâu? Về quê hả.
              – Về quê. Mẹ chị đau nặng.
              – Bao giờ chị ra lại.
              – Không biết nữa và cũng có lẽ là chẳng bao giờ nữa.
              Hai chị em đứng lặng nhìn nhau, một lúc sau đột nhiên chị kéo nó lại áp đôi môi lên đôi môi của nó, nó sững sờ chỉ biết lặng thinh, chị buông nó ra và quay người bỏ đi sau khi nói nhỏ: Tặng em đó.
               Từ đó Thẹo chẳng bao giờ gặp lại chị nhưng nó vẫn luôn nhớ mãi cái cảm giác  nóng bỏng, mềm mại của đôi môi ấy.
               Tú Tàng.

“Chúc đi vui vẻ, nhớ đi tắm Thổ nhé.” Chúng tôi nhận được tin nhắn của anh bạn trước khi lên đường đi Thổ Nhĩ Kỳ.

Tắm Thổ (Turkish Bath) hay nói rõ hơn là đi tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ là điều đầu tiên trong 10 điều phải làm ở Thổ Nhĩ Kỳ theo nhiều trang website và sách hướng dẫn du lịch. “Tiếng lành đồn xa” càng làm chúng tôi tò mò. “Sang tới Thổ, rất khoát phải đi tắm Thổ!”. Chúng tôi đã bàn bạc kỹ với nhau như vậy.

Điểm dừng chân đầu tiên ở Thổ Nhĩ Kỳ là một khu vực có kiến tạo địa chất bởi núi lửa có tên Cappadocia. Trên con đường quanh co của thị trấn, Ilknuk, người dẫn chương trình có chỉ cho chúng tôi một tòa nhà mái vòm nhỏ nhắn và cũ kỹ với tấm biển: “Turkish Bath” ở ngoài. “Đó là một nhà tắm Thổ, nhưng tôi không chắc về chất lượng, lên Istanbul hãy đi tắm thì tốt hơn” – Ilknuk nói.

Quá sốt ruột vì tò mò, chúng tôi muốn thử luôn ở Cappadocia. Nhưng khách sạn chúng tôi ở lại khá xa trung tâm thị trấn nơi có nhà tắm Thổ. Đành ngậm ngùi chờ khi lên tới Pamukkale, một trung tâm tắm suối nóng ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi hỏi lễ tân khách sạn xem có thể tắm Thổ ở đâu thì được trả lời: “Ngay trong khách sạn cũng có tắm Thổ, miễn phí, xin mời các bạn.”

Oa, như bắt được vàng, cả nhóm 4,5 người chúng tôi ùa vào một cánh cửa nhà tắm Thổ của khách sạn. Một căn phòng bằng đá cẩm thạch cỡ 15 mét vuông với một chiếc bàn đá cao khoảng chưa tới một mét nằm chềnh ềnh giữa phòng, chiếm 2/3 diện tích. Xung quanh căn phòng là 4 kệ đá nhỏ chứa nước và một số xô chậu. Căn phòng đá trắng được thiết kế theo kiểu cổ khá đẹp nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người người hướng dẫn.

“Tắm Thổ kiểu gì thế này, tắm như thế nào bây giờ?”. Chúng tôi hỏi nhau và kéo ra ngoài hỏi ông bạn lễ tân thì nhận được câu trả lời: “Các bạn cứ vào đó tự tắm. Nếu muốn có người tắm cho thì mất 30 đôla Mỹ. Nhưng hôm nay cũng hết ca rồi, phải đợi tới ngày mai.”

“Tự tắm! Tắm Thổ là thế này á, hay là vào đó tắm cho nhau”. Đùa chán, chúng tôi lục tục rời khỏi phòng tắm Thổ để lên phòng “tự” tắm bồn.

Lần tắm hụt thứ nhất làm tăng thêm nỗi tò mò “tắm Thổ” của chúng tôi. Không đợi lâu hơn nữa, vừa tới khách sạn ven biển ở thành phố Kusadasi, chúng tôi đã hẹn nhau, 6h30 tập trung ở sảnh để đi tắm Thổ.

Trung tâm tắm, xông hơi và massage kiểu Thổ Nhĩ Kỳ của khách sạn nằm ngay ở tầng trệt. Sau khi “đóng học phí” 20 đôla mỗi người, chúng tôi được phát một chiếc khăn tắm để quấn quanh người và bị “lùa vào một phòng xông hơi tập thể. 2 “bà chị” đi cùng đoàn cũng bị lùa chung vào căn phòng xông hơi lổn nhổn cỡ chục đàn ông đóng mỗi chiếc “khố” nhỏ quanh người như thổ dân Châu Phi ấy.

Nhoằng một cái, không hiểu các cô kéo tấm khăn kiểu gì, một tầng bọt xà phòng dày tới ba chục phân đã trải lên người…

“3 người đầu tiên đi theo tôi”. Người hướng dẫn vào phòng xông hơi gọi và 3 thằng đàn ông chúng tôi lẽo đẽo theo anh ta vào một phòng tắm. Căn phòng đá cỡ 20 mét vuông có trang trí y hệt phòng tắm ở khách sạn trước. Một chiếc bàn đá cẩm thạch hình lục lăng nằm giữa phòng và xung quanh là 4 bể nước đá. Lần này khác ở chỗ, 2 cô gái xinh xắn,  trắng muốt chỉ mặc bikini đứng chờ sẵn ở đó. Chính xác hơn là các cô cũng quấn ngang hông một lớp khăn dài hơn gang tay y hệt chúng tôi. Phía bên kia, một gã đàn ông râu quai nón cao to lực lưỡng cũng quấn ngang hông một mảnh khăn tương tự.

 A lê hấp!

Mảnh khăn mỏng quanh người chúng tôi nhanh chóng bị hai cô “phù phép’” biến đi đâu mất. Trong khi chúng tôi còn đang ngượng nghịu lấy tay che thì các cô đã ra lệnh ngồi xuống và múc nước từ kệ đá đổ ùm ùm lên người chúng tôi. Chúng tôi còn mải cười như như nắc nẻ với cái cảnh “mẹ tắm cho con” này thì anh bạn còn lại đang cãi nhau với gã Thổ đô vật cởi trần. Gã định “đè” anh ra tắm nhưng anh dứt khoát không chịu bởi nhìn sang thấy cảnh được “em út” tắm cho như chúng tôi sướng hơn. Cuối cùng, gã Thổ đành để cho bạn tôi ngồi một góc chờ đến lượt hai mỹ nhân kia tắm cho.

Đổ nước chán lên người chúng tôi, hai mỹ nữ một người Thổ, một người Nga ra lệnh cho hai chúng tôi nằm xuống. Chúng tôi vừa nằm sấp thì lại được ra hiệu phải nằm ngửa. Hai mỹ nhân lấy chiếc khăn cũ vo vo lại thành một mảnh bé tí ti rồi đặt lên “điểm cần thiết” trên người chúng tôi. Cả hai chúng tôi vẫn nằm nhìn nhau cười “như được mùa” làm hai mỹ nhân cũng cười theo. Hai cô lấy một cái khăn thô như xơ mướp đeo vào bàn tay rồi bắt đầu kỳ cọ khắp người chúng tôi như người ta đánh giấy ráp cho đồ gỗ.

Chưa hết cơn cười thì cánh cửa phòng tắm lại mở, hai nhân nữa trong đoàn bước vào, một nam một nữ. Chị nữ vội vã hét lên đòi ra khi nhìn thấy cảnh tượng “tồng ngồng” trong phòng tắm.

“Ủa sao lại tắm chung nam nữ thế này, nữ phải có phòng tắm riêng chứ.”

“Không có riêng tư gì hết, ở đây là unisex, không đọc biển báo à, không phân biệt giới tính”. Chúng tôi trả lời.

Gã Thổ to con kiếm được khách thích quá vội vã kéo ngay chị nữ vào tắm cho. Chị cũng được đặt nằm như xác ướp ngay cạnh chúng tôi, anh chàng còn lại cũng ra ngồi góc như anh trước để đợi tới lượt “tiên tắm” hay “tắm tiên” cũng được.

Trong lúc đó, hai cô gái đã lấy đâu ra cái xô trắng như xô nước rửa xe máy ở Việt Nam. Hai cô vục vào đó một cái khăn vải rất dài và khi rút khăn ra, toàn bộ tấm khăn đẫm nước xà phòng. Nhoằng một cái, không hiểu các cô kéo tấm khăn kiểu gì, một tầng bọt xà phòng dày tới ba chục phân đã trải lên người chúng tôi. Các cô bắt đầu xoa khắp người chúng tôi như massage.

“Như rửa xe.”

“Giữ cẩn thận cái nhẫn. Không nó kỳ cọ một hồi ra không thấy nhẫn đâu.”

“Hỏi các cô này xem mình tắm cho các cô ý thì hết bao nhiêu tiền.”

Hai ông bạn ở ngoài vừa nhìn chúng tôi “được” tắm vừa châm chọc. Được thể, chúng tôi tôi cũng kêu la để trêu tức: “Sướng quá, phê quá, tắm Thổ có khác.” Anh bạn tắm cùng còn vờ nắm tay cô gái và bị cô phát đùa vào tay. Cả phòng tắm nam nữ lộn xộn, vui như họp chợ, lời qua tiếng lại rôm rả như đánh tổ tôm.

Khi chúng tôi vẫn chưa dứt được cơn cười thì lại nhận chỉ thị của hai cô phải nằm sấp, một lớp bong bóng xà phòng nữa lại đổ ụp lên người chúng tôi và lại là những cơn cười.

“Thế ngày nào em cũng làm ở đây à?”

“Vâng” Cô gái Thổ tắm cho chúng tôi bập bẹ mãi mới trả lời được, không biết tiếng Anh của cô kém hay cô “giả vờ”kém.

Màn tắm tiếp tục bằng pha gội đầu bằng thứ xà phòng Thổ Nhĩ Kỳ và kết thúc bằng màn tắm tráng. Thời gian tắm quảng cáo 30 phút sao mà trôi nhanh thế. Chúng tôi được thay cho một chiếc khăn quấn người mới và mời ra nằm thư giãn ở một giường xa lông bên ngoài. Không hiểu xà phòng gội đầu kiểu gì, tóc chúng tôi vẫn bết vào như 3 ngày chưa gội.

“Thôi cũng đã, phê phết, biết thế nào là tắm Thổ.” Chúng tôi bảo nhau.

Hóa ra, cái sự tắm Thổ nó vẫn không đơn giản thế….

Duy Khánh

Nguồn vnn

Trên Thanh Niên ngày 17.7, đã có bài viết về Cống Quận công Trần Đức Hòa – một nhân vật lịch sử gắn liền với đất Quy Nhơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều lý thú xung quanh nhân vật này chưa được đề cập…

Một trong những việc chứng tỏ được sự “nhìn người” của ông Trần Đức Hòa mà người đời vẫn truyền tụng là ông đã nhận chân được bộ óc siêu việt của Đào Duy Từ ẩn giấu dưới lớp vỏ kẻ tôi tớ, đã bất chấp mọi thị phi để lưu dụng một con người như thế.

Đào Duy Từ sinh năm 1572 tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Lên 5 tuổi thì cha mất (cha ông là một kép hát nổi tiếng). Bà mẹ trẻ ở góa tảo tần nuôi con ăn học, nhưng vì ông là con nhà hát nên ông không được đi thi dù học rất giỏi (theo quan niệm “xướng ca vô loại” thời vua Lê, chúa Trịnh). Tiếc tài học của con, bà mẹ đã nhờ một viên xã trưởng đổi họ để Duy Từ mang họ mẹ.

Theo một vài tài liệu, năm 21 tuổi (1593), Duy Từ đỗ thứ nhì kỳ thi Hương (trong hệ thống “tam trường”: thi Hương, thi Hội, thi Đình thời ấy) đời vua Lê Thế Tông. Đến kỳ thi Hội, do bà mẹ không chịu dan díu với viên xã trưởng nọ nên hắn tố cáo sự việc. Vậy nên ở trường thi Tây Đô (Thanh Hóa), Duy Từ bị đuổi và bị tống giam vì “gian lận thi cử”, còn ở quê nhà mẹ ông tự tử vì phẫn uất… Ôm hận nhưng không thất chí, Đào Duy Từ vẫn tự trau dồi kinh sử, mưu đồ đem chí lớn giúp đời…

 
Hậu duệ đời thứ 13 bên mộ Cống Quận công Trần Đức Hòa – Ảnh: Hà Đình Nguyên

Năm 1625, Đào Duy Từ đã 53 tuổi, liều mình vượt sông Gianh vào Đàng Trong tìm minh chúa. Lưu lạc đến huyện Bồng Sơn (Bình Định), nghe tiếng quan Khám lý Quy Nhơn Trần Đức Hòa là người biết trọng nhân tài lại được chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) tin cậy nên Đào Duy Từ xin vào làm kẻ chăn trâu cho một phú ông họ Lê để chờ cơ hội ra mắt vị quan này. Phú ông thấy Duy Từ tỏ rõ là một người học rộng, tài cao nhưng không gặp thời bèn đến thưa với Trần Đức Hòa. Quan Khám lý cho vời Đào Duy Từ đến, hỏi một biết mười, ứng đối trôi chảy bèn lưu lại cho làm gia sư, sau lại gả cô con gái độc nhất cho…

Năm Đinh Mão (1627) Trần Đức Hòa vào chầu Sãi vương, dâng bài Ngọa long cương, tâu: “Bài này của thầy đồ Đào Duy Từ”. Chúa xem xong, lập tức cho vời Đào Duy Từ đến diện kiến. Đào Duy Từ  tới, thấy chúa mặc áo vải thường đứng đợi ở cửa nách, liền lui ra. Chúa biết ý, trở vào thay áo mũ chỉnh tề rồi mời Đào Duy Từ. Chúa, tôi gặp nhau như “rồng gặp mây, cá gặp nước”. Đào Duy Từ trình bày với chúa những kế sách chống giữ và mở mang bờ cõi mà ông đã dày công tâm huyết. Chúa Sãi mừng rỡ vô cùng, nắm tay ông, phán: “Ta chờ đợi thầy lâu lắm rồi. Sao thầy đến muộn quá vậy?”. Liền phong cho ông chức Nha úy Nội tán, tước Lộc Khê hầu, cho dự bàn quốc sự.

Năm 1630, Đào Duy Từ đốc xuất đắp lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc (Quảng Bình). Đến năm 1631 lại đắp thêm một lũy nữa từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới, Quảng Bình) cao 1 trượng, dài 300 trượng, tục gọi là Lũy Thầy (thời ấy cả triều đình Đàng Trong – từ chúa đến các quan đều gọi Đào Duy Từ bằng “thầy” mà không gọi tên, cho nên lũy do ông đắp cũng được gọi là Lũy Thầy). Hệ thống phòng thủ này tỏ ra rất hiệu quả: 3 lần quân Trịnh vào vây hãm nhưng không sao vượt qua phòng tuyến này, đến nỗi có câu ca dao:

“Khôn ngoan qua cửa sông La
Dù ai có cánh mới qua Lũy Thầy”.

Ngoài việc đắp các lũy trên, trong vòng 8 năm, Đào Duy Từ đã giúp Chúa Nguyễn những việc lớn khác: Đưa phép duyệt tuyển và khảo thí để thu thuế, trưng binh và chọn người tài; Khuyến khích dân chúng khai hoang và làm thủy lợi để phát triển nông nghiệp; Tiến cử Nguyễn Hữu Dật sau thành hổ tướng Nam triều.

Đào Duy Từ mất ngày 17 tháng 10 năm 1634, thọ 63 tuổi, được phong tặng Tán trị Dực vận công thần, Kim tử Vinh Lộc đại phu. Đến triều Minh Mạng truy phong Hoằng Quốc công. Đào Duy Từ còn để lại bộ binh thư Hổ trướng khu cơ và 2 khúc ngâm Ngọa Long Cương vãn và Tư Dung vãn cùng vở tuồng San Hậu thành.

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thời bấy giờ bản thân Đào Duy Từ có đến 3 định kiến để không thể nào chen chân vào hàng ngũ quan chức. Đó là: 1. Con của kẻ “xướng ca vô loại”; 2. Là dân ngụ cư (từ miền ngoài lưu lạc vào, không phải là dân bản xứ nên rất bị khinh thường phải phục dịch trong các hội hè, đình đám… không công và chỉ được “hưởng” cơm thừa, canh cặn…); 3. Kẻ đầy tớ (trong gia đình phú ông). Tóm lại, lúc ấy Đào Duy Từ đang ở tầng lớp “dưới đáy xã hội”. Vậy mà, Trần Đức Hòa với địa vị cao sang của mình đã không ngại đàm tiếu, thị phi để phá bỏ định kiến rước họ Đào về nhà, tự tin gả người con gái duy nhất của mình cho kẻ ấy, khuyến khích và tạo điều kiện cho con rể phát triển tài năng rồi cũng tự tin tiến cử lên chúa thượng. Đào Duy Từ sẽ ra sao nếu không gặp Trần Đức Hòa?

Quả thật, “tầm nhìn” của Cống Quận công Trần Đức Hòa không mấy ai có được, khiến người thời nay cũng không khỏi ngỡ ngàng… Thế nên trên ngôi mộ của ông, có câu đối: “Tảo phò Nguyễn chúa khai Vương nghiệp/Phục tiến Đào công tác Đế sư” (Sớm phò chúa Nguyễn mở nghiệp đế/Lại cử ông Đào làm thầy vua).

Hà Đình Nguyên

Em vẫn cần anh

Rêu

em vẫn thế, vẫn hoài cơn mộng mị
dệt mây trời vá víu những long đong
như cánh vạc tìm giữa mênh mông
được gì không hay ngút ngàn biển nhớ..

đêm vắng khuya gió lùa từng nhịp thở
người thương ơi anh có nhớ có mong
ngoài trời mưa giọt lăn đều trăn trở
em nơi này ướt cả gối chăn..

ở nơi anh trời trong xanh hay nắng
nắng có vàng , mây trắng có gợn bay?
nơi em ở  dường thu về thầm lặng
tháng tám đầy sương rơi sáng nay.

vẫn cần anh, vẫn cần một vòng tay
lúc trời lạnh, anh là người ủ ấm
anh giờ này ở nơi xa lắm
có hay chăng em thương nhớ rã rời

Việt Nam cùng các nước ở Đông Á sắp đón Tết trông trăng. Cùng với một ý nghĩa đoàn viên, mang hạnh phúc, vui vẻ cho trẻ em, tết trông trăng của người Việt còn mang riêng màu sắc, hồn cốt quê hương với chiếc đèn ông sao, ông tiến sĩ giấy… và đặc biệt không thể thiếu mâm quả đêm rằm.

Mỗi rằm tháng 8, người dân đất tổ Tò he (thôn Phượng Dực, xã Xuân La, Hà Tây) lại dâng lên tổ tiên mâm ngũ quả bằng bột nặn tò he, mong một mùa an vui, hạnh phúc.
Mỗi rằm tháng 8, người dân đất tổ Tò he (thôn Phượng Dực, xã Xuân La, Hà Tây) lại dâng lên tổ tiên mâm ngũ quả bằng bột nặn tò he, mong một mùa an vui, hạnh phúc.

Tết trung thu, trái cây mùa thu đang vào vụ, mâm ngũ quả dâng lên bàn thờ tổ tiên cũng mang đậm hương sắc trái chín mùa thu. Đó là nải chuối chín vàng thơm lừng, là trái hồng đỏ mang hi vọng, là trái na nhiều hạt đen nhánh mang ước nguyện lộc nở, sinh sôi, là trái bưởi mang những điều mát lành và trái lựu chứa đựng bên trong những ngọt ngào, may mắn. Mâm quả có xanh, có chín, như quan niệm của người xưa, màu xanh của hoa quả mang tính âm, trái chín mang tính dương. Mâm ngũ quả là tượng trưng cho luật cân bằng âm dương của vũ trụ.

Ngày nay, với nhu cầu thẩm mĩ cao, để có mâm ngũ quả đẹp dâng lên tổ tiên ngày Tết trông trăng, có khi cả chục loại quả được xếp vào đĩa, người ta vẫn chẳng ai gọi là “khay/đĩa thập quả”. “Mâm ngũ quả” hàng trăm năm nay vẫn được người Việt gọi tên – dù đang xa xứ hay ở quê nhà thể hiện tấm lòng, sự tôn kính dâng lên tổ tiên, mong may mắn, hạnh phúc về với gia đình, dòng họ.

Bên cạnh mâm ngũ quả dâng lên tổ tiên ngày Tết trung thu, mâm quả để trẻ con phá cỗ đêm rằm cũng là một nét đẹp riêng trong văn hóa Việt Nam.

 Mâm quả tết Trung thu truyền thống của những gia đình Việt Nam - hài hòa các hương vị mùa thu của hồng, bưởi, chuối, na…
Mâm quả tết Trung thu truyền thống của những gia đình Việt Nam – hài hòa các hương vị mùa thu của hồng, bưởi, chuối, na…

Bà Đào Lệ Mão, 77 tuổi, một người Hà Nội gốc ở phố Bát Đàn kể lại những tết Trung thu từ ngày xa xưa, khi bà còn là thiếu nữ đất Hà thành: “Mỗi gia đình quây quần ăn bữa cơm tối với các đồ cúng gia tiên, sau đó sửa soạn mâm quả trông trăng.” Bà kể, tương truyền xa xưa, khi dân ta đang đón Tết trông trăng, có con sư tử tới quấy phá, trong làng có ông cầm gậy tới đánh đuổi được sư tử, cả làng làm mâm cỗ ăn mừng – đó là sự tích cho mâm cỗ ngày rằm Trung thu.

Đa dạng quả và cầu kì hơn với dưa hấu tỉa hoa, mâm quả đêm rằm tháng 8 của người Việt vẫn vẹn nguyên ý nghĩa mong những điều bình an, may mắn.
Đa dạng quả và cầu kì hơn với dưa hấu tỉa hoa, mâm quả đêm rằm Trung thu của người Việt vẫn vẹn nguyên ý nghĩa mong những điều bình an, may mắn.

Mâm cỗ đêm rằm được cha mẹ bày thật đẹp cho các con, trong đó là bánh nướng, bánh dẻo, mía, bỏng gạo và vô vàn các loại cây trái mùa thu. Các mẹ khéo tay còn tết cho con chú cún xinh bằng trái bưởi… Mâm quả đêm rằm là một bản hòa tấu các hương vị mùa thu, đa dạng sắc màu như lời nhắn nhủ của mẹ cha tới các con, cuộc sống vốn là nhiều màu sắc. Cha mẹ cùng ăn bánh, thưởng trăng, uống trà, phá cỗ cùng con, mong cho các con một mùa an vui, một đời hạnh phúc…

Độ non tuần lễ nữa là tới rằm tháng 8, các mẹ, các chị cũng sắm sửa trái cây, rục rịch nhiều địa chỉ trên phố Hà Nội đã nhận tết cún con bằng bưởi, bày mâm ngũ quả đẹp, nhiều trường học, khu phố cũng nhộn nhịp những cuộc thi cho các cháu học bày mâm quả dân gian…

Cuộc sống hiện đại, thật đáng mừng khi nhiều văn hóa đẹp của Việt Nam còn nguyên giá trị trong không ít gia đình truyền thống!

Thúy Hằng

Tình bạn tìm ở đâu ?

Đinh Tấn Khương

Có phải thời gian, hoàn cảnh đã làm thay đổi tình bạn của chúng ta!?

Những người bạn, thời tiểu học thì gần như đã tản lạc hết rồi. Bạn thời trung học thì chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay, một số đã nằm xuống trong thời buổi chiến tranh, một số khác thì mỗi người một ngả, tìm kế sinh nhai, không còn gặp lại. Một số ít thì nhận biết tin nhau, hay thảng hoặc thì được gặp lại .. nhưng lại không còn cái tình như hồi đang mài đũng quần ở ghế nhà trường nữa!?

Hồi xưa, gặp nhau là mầy mầy, tao tao, là thằng đó, con kia, là chúng nó, là nó..nghe như thân thiện, gần gũi lắm. Bây giờ, mấy tiếng nầy không  còn được đem ra để gọi, để xưng hay là để kể chuyện mới, nhắc lại chuyện cũ..với nhau nữa.

Người bạn nối khố với mình ngày xưa từ thời trung học, đại học và cả những ngày sau đó..lúc còn cơ hàn. Bây giờ gặp lại, liên lạc qua email, điện thoại.. thì cứ như là người mới gặp:

–         Xưng hô: mình

–         Gọi: bạn

Chẳng hạn:

–         Mình vừa nhận email của bạn..(khác với hồi xưa: tao vừa nhận thư của mầy..)

Nghe xa lạ quá, phải không?

–         Có phải là mình già, mà trở thành khách sáo ?

–         Có phải là mình già, mà sinh ra lịch sự?

Với tôi thì:

1.     Những người bạn bây giờ đã và đang “nên vai nên vế” :

–         Mình cần phải tỏ ra tôn trọng họ, trước mặt mọi người. Cho nên, đâu dám gọi là “mầy” xưng  là “tao”, như cái thời cùng “khố rách áo ôm” nữa, phải không!?

Xin dẫn chứng một chuyện có thật 100%, câu chuyện giữa hai người bạn từ cái thời còn ở truồng cho tới lúc trưởng thành. Nhà cùng xóm, học cùng trường cho nên thân nhau lắm. Một người rời Việt Nam và một người thì bám trụ quê nhà.

Sau hơn 20 năm xa cách, hai người có cơ hội gặp lại. Xa xứ đã lâu, trở về làng cũ, bao nhiêu kỷ niệm xưa bổng bừng sống lại. Nhớ tới cái thời niên thiếu mà mình đã từng “bảo vệ” cho người bạn “nhút nhát”, tránh bị mấy đứa khác “ăn hiếp” cho nên được nhận cái danh xưng là “anh hai”.

Vừa thấy mặt nhau, mừng quá, gọi lớn:

–         Ê mầy, còn nhớ “anh hai” mầy đây không?

Tiếp theo đó là nhiều câu hỏi khác, những câu hỏi thuần túy là nhắc về quá khứ nhưng đã không được trả lời. Rồi người bạn nối khố năm nào đã từ biệt, mà không hẹn ngày gặp lại. Lấy lý do là đang bận công tác.

Về nhà, hỏi lại người thân thì mới biết, người bạn của mình ngày nào, bây giờ đang nắm giữ một chức vụ rất quan trọng trong chính quyền địa phương. Thế là tình bạn đã bị chết yểu, trước tuổi già!?

(Chấm dứt câu chuyện dẫn chứng)

Cũng với tôi:

2.     Những người bạn bây giờ đang còn chật vật (về mọi mặt):

–         Gặp lại mình, họ cũng không còn “gọi mầy, xưng tao”. Chắc nghĩ, mình cũng đang ngon lành lắm, cho nên “tôn trọng” mình đấy chăng?

–         Thế là, mình cũng đâu có dám “gọi mầy, xưng tao” với những người bạn này, vì sợ họ “tủi thân”. Bởi mình đã phân biệt cách xưng hô, tùy theo “giai cấp xã hội” đấy mà!?

Khó quá, gặp bạn cũ sao như xa lạ. Bèn tìm bạn mới trên mạng để kiếm niềm vui,. Bởi người ta khuyên, nụ cười có thể giúp mình  sống lâu hơn. Chịu khó bỏ công, lòng vòng đi tìm chỗ vui để được dịp cười, hầu kéo dài thêm tuổi thọ. Nhưng cũng đâu có dễ, cho dù đó là thế giới ảo, của các trang mạng.

–         Kể chuyện vui thì lại không thấy ai cười với mình. Cảm thấy mình như vô duyên quá. Ngượng, nên nín luôn!

–         Nhắc lại mấy cái chuyện “quậy” lúc còn thơ trẻ, hay là thêm mắm thêm muối mấy chuyện nào đó để góp vui. Thì bị phán là “thằng phá làng, phá xóm”, là “thằng phiền cha, báo mẹ”, là “có vay, có trả”..

–         Kể chuyện thật về mình để được “nở mũi” một chút thì bị cú đấm là “khoe mẽ”..

–         Góp vài ý về cuộc sống thì bị gạn hỏi: “nói giỏi thế, mà liệu có làm được hay không?”

Ôi thôi, tìm đâu cho ra được cái TÌNH BẠN, như  của “ngày xưa còn bé” nhỉ!?
Mong các bạn chỉ hộ với.

Mùa Xuân Con Chuột Túi, 2011


Nói đến du lịch biển miền Trung, du khách thường nhắc đến Đà Nẵng, Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận… mà bỏ quên những bãi biển đẹp và hoang sơ đến mức được ví như “nàng tiên còn say ngủ” của Quảng Ngãi.

Biển Dung Quất

Nhắc đến Dung Quất, du khách thường nhớ đến cảng và nhà máy lọc dầu Dung Quất mà quên rằng nơi đây còn sở hữu vụng Nho Na với làn nước trong xanh uốn mình bên những đụn cát trắng phau.
Ngoài việc tắm biển, đến đây, bạn còn có dịp thưởng thức những món ngon chế biến từ dông (nhông) – loại bò sát sống trên vùng đất cát có thịt thơm ngon, hay thưởng thức món bánh tráng nướng nhúng nước cuốn rau và những con mực tươi rói, chén nước mắm cay đậm.

Đừng quên dạo một vòng quanh cảng Dung Quất, chiêm ngưỡng những chiếc tàu “khổng lồ”, hay ngắm thành phố trẻ Vạn Tường đang phát triển.

Biển Sa Huỳnh

Tên chính xác của địa danh này là Sa Hoàng (cát vàng) nhưng do trùng với tên của vua Nguyễn Hoàng thời Nguyễn Sơ nên đọc trại thành Sa Huỳnh. Nằm trên trục đường tiên lý Bắc Nam, sở hữu ga xe lửa Sa Huỳnh, bãi biển này là địa điểm dừng chân lý tưởng cho du khách khắp các miền
Nét quyến rũ của biển Sa Huỳnh là bờ cát vàng, mềm mịn như một áng tóc dài của người con gái. Trên biển, những đảo nhỏ nhiều hình dạng nổi bật trên làn nước tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Nằm cách bờ vài km, ẩn dưới làn nước sâu khỏng 2-3m là rặng san hô nhấp nhô theo sóng và đàn cá nhiền màu sắc lượn lờ.

Đến Sa Huỳnh, ngoài tắm biển, bạn có thể ghé thăm các thắng cảnh khác như ghềnh đá Châu Me, Đảo Khỉ, khu di chỉ “Văn hóa Sa Huỳnh”, hoặc quan sát sự tất bật của các diêm sinh trên đồng muối rộng hơn 500ha với trữ lượng hàng ngàn tấn mỗi năm. Đặc sản nổi tiếng của nơi đây là mắm nhum và cua Huỳnh Đế, một giống cua to con, toàn thân có màu đỏ gạch, thịt nhiều và chắc.

Biển Mỹ Khê

Bãi biển Mỹ Khê nằm trên quốc lộ 24B cách thị xã Quảng Ngãi 15 km, cách cảng Dung Quất 16 km và gần cảng Sa Kỳ, thuộc địa phận thôn Cổ Luỹ, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.
Biển Mỹ Khê gây ấn tượng mạnh với khách du lịch bằng vẻ yên tĩnh, thanh bình của một bờ biển trong xanh được che chắn bởi rừng dương xanh thẳm và cung biển uốn lưỡi liềm. Ngoài nghỉ ngơi, tắm biển, bạn còn có dịp thăm quan tưởng niệm khu chứng tích chiến tranh Sơn Mỹ.

Biển Khe Hai

Biển Khe Hai hay còn gọi là biển Thiên Đàng thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cách TP. HCM 875km.
Khe Hai có bãi cát trắng mịn, rặng phi lao ngút ngàn song hành với bờ biển xanh. Phía tây có dãy bàn Than chạy dài từ bờ rồi lấn sâu ra biển tạo thành một nửa vòng cung. Phía đông có hòn núi nhô lên gọi là Hòn Ông. Với hai địa danh này, du khách có thể lên thuyền đến Hòn Trà, Hòn Ông khám phá những hang động kỳ thú, hoặc men theo bãi đá ngầm bắt ốc đụn, khảy hàu.

Ngoài tắm biển, bạn còn được “no mắt” với bộ sưu tập 10.000 cổ vật của khu bảo tàng tư nhân nằm ven bãi biển Khe Hai – Chu Lai.

Biển trên đảo Lý Sơn

Với những bãi cát trắng dài, hàng dừa xanh ngát, làn nước trong vắt in bóng những viên cội nhiều hình dáng dưới dáy, bãi tiên thuộc đảo Bé của Lý Sơn mang vẻ đẹp của nàng tiên đang say ngủ.
Ngoài những bãi biển tuyệt đẹp, đảo Lý Sơn còn ghi dấu với du khách với hình ảnh chùa Hang 300 tuổi, chùa Đục nằm dưới chân miệng núi lửa, tượng Phật cao 27m nhìn ra đảo Bé, và cả những kiến trúc cổ độc đáo ở đền thờ Lăng Chánh, đình An Hải, đền thờ Cá Ông, dinh Tam Hòa…

Theo BĐVN

                                       Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Rau – củ – đậu, hồi xưa, là chuyện của người nghèo: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” (Tục ngữ), “Củ lang Đồng Phó / Đậu phộng Hà Nhung /Chàng bòn thiếp mót / Đổ chung một gùi” (Ca dao Bình Định). Nhưng bây giờ thì khác, “bộ ba” này là đề tài của mọi người, nhất là những người lo bệnh, lo già, người chuộng ăn chay, sợ phạm sát sanh…  Bài này, xin nói riêng về đậu phộng, trong dòng họ đậu đông con cháu, mà cũng chỉ thiên về cái khía cạnh văn hóa ẩm thực từ trái đậu này.

Cây đậu phộng (còn gọi đậu phụng, lạc) thuộc họ thảo, được trồng trên đất ven sông (ruộng soi), ruộng chân cao, mảnh đất dễ thoát nước. Đất phù sa, tơi xốp làm cho cây đậu phộng phát triển tốt, sai quả. Ta vẫn gặp các trẻ con ngồi chơi, đố nhau: “Trên thượng lầu, có bông không trái / Dưới hạ lầu có trái không bông…Đố là cây gì?”. Nhiều em trả lời được: -“Cây đậu phộng”. Nếu đậu phộng không khác thường, khó nghĩ, đã không thành câu đố. Cây này nở hoa, kết trái không ở trên cành như các giống cây khác. Hoa đậu phộng lấm tấm vàng, cánh mỏng, nhụy sợi đỏ (như sợi cước) phơi trên nền lá xanh đậm trải trên mặt đất. Trái đậu phộng kết thành một chùm ở bộ rễ, giấu dưới đất.

Ruộng đất quê tôi hồi xưa, cứ thu hoạch xong vụ lúa Đông Xuân, phần nhiều được cày để ải; phần còn lại, tùy ở chất đất, có đám được trỉa đậu phộng, đám trồng dưa hồng, dưa gan… như thể không cho đất nghỉ. Từ khi trồng đậu cho tới khi được một “mùa lạc” phải mất chừng 3 tháng. Nước tưới ruộng đậu phộng thường ở mức nước chưn, đến gần mùa thu hoạch giảm xuống, chỉ giữ đủ ẩm. Trẻ con thường thích “la cà” những đám ruộng đậu phộng, ruộng dưa để rình bắt tổ chim chiền chiện (loài chim xây tổ dưới đất ruộng khô, giấu kỹ tổ trong vỉa cày, trong các gốc cây đậu um tùm). Được một tổ chim chiện non, chú bé nào cũng thích đem về nuôi, chăm sóc, chờ ngày chim trưởng thành cho tiếng hót hay: “Bay vút tận trời xanh / Chiền chiện cao cùng hót / Tiếng chim nghe thánh thót / Văng vẳng khắp cánh đồng” (Thơ Thăm lúa – Trần Hữu Thung).

Đậu phộng chủ yếu dùng để chế biến thực phẩm.

Trước hết, người ta ép dầu ăn: dầu phộng. Chủ lò ép dầu phộng làm cái bộng dầu (khoét bụng một cây to, đường kính chừng non mét), sắm khuôn, chảo, vại, thùng ván, chày gỗ săng, thuê thợ… Khi ép dầu, thợ cho đậu phộng trái vào khuôn (hình bánh xe cút kít, lót rơm làm vỏ bọc cho khuôn), rồi xếp các khuôn đó ken nhau trong bộng để ép bằng chày đóng: dầu từ các khuôn chảy ra thùng hứng. Đậu bị ép hết dầu, phần còn lại là bã đậu, cho người ta cái bánh dầu. Ở quê tôi, có các làng nghề ép dầu phộng nổi tiếng là Đa Tài, Kim Ngọc… thuộc xã Nhơn Phong.  Khi đến mùa đậu, chủ bộng dầu đi mua đậu nguyên liệu khắp trong vùng An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát… đem về chọn trái to, già, loại bỏ trái nhẩn, trái non, rồi phơi khô khan trước khi ép ra dầu. Chẳng biết tại sao dân gian đem so sánh việc ép dầu, mỡ với ép duyên: “Ép dầu, ép mỡ, chớ ai nỡ ép duyên”? Nghe thảm lắm, thiển nghĩ, cái duyên mà ép thì không thành lương duyên, mai sau khó tránh đổ vỡ. Ép dầu có hai cách: Ép nguyên vỏ trái đậu (đỡ công bóc vỏ là thứ công nặng nhọc) và ép đậu đã bóc sạch vỏ. Sản phẩm dầu ép cả vỏ đậu là phổ biến, chỉ khi đặt hàng, người ta mới ép dầu bóc vỏ. Thứ dầu phộng bóc vỏ có màu vàng ngà (không lẩn tạp chất: vỏ) trong veo, sóng sánh, thơm lựng…Đem dầu này chế biến thức ăn gì cũng cho cái hương vị thơm ngon, đậm đà, ăn ngon. Ai cũng biết, dầu phộng cũng như các dầu thực vật khác, được xếp vào loại “chay mặn đều dùng được”. Ở quê tôi, có nghề bán dầu dạo, sỉ và lẻ. Tôi còn nhớ hình bóng bà Biện Dương, trạc năm mươi, mặc áo dài đen tém vạt, xách dép chạy lúp xúp đàng sau anh con trai gánh thuê cho bà. Hàng dầu lưu động của bà là đôi thùng gỗ đựng dầu, đặt trong quang gánh cùng nhiều muổng, gáo, chai lọ lỉnh kỉnh mà cái nào cũng ướt rượt, láng bóng, cũng cho người ta cảm giác trơn tuột khi cầm nắm.

Sau dầu phộng, ước còn đến trăm thức ăn nữa, cũng từ nguyên liệu đậu phộng.

Nghề bán lạc rang, lạc luộc, kẹo đỗ ở các đô thị đã nuôi sống không ít thị dân nghèo. Kẹo mè xững – đậu phộng Huế là một trong những đặc sản Huế, có thương hiệu. Ra Hà Tĩnh lần đầu, tôi ngạc nhiên vì các bảng hiệu: “Trung tâm Ku – đơ” dựng dọc các đường phố. Thì ra, đó là tiệm kẹo đỗ, chế biến theo cách xứ này. Đám tiệc, nhờ món đậu phộng da cá mời trước mà thực khách sẵn lòng vui vẻ cụng ly, ngồi chờ giờ phút trịnh trọng tuyên bố khai mạc tiệc. Món chè trôi nước (bột nhứt, đậu phộng) chè tổng hợp nếp – đậu phộng rang – đường muổng nấu đặc vẫn là món chè ngon cho người hảo ngọt. Gói xôi nếp rắc muối đỗ vẫn là món điểm tâm của người nghèo trong các xóm lao động. Bao nhiêu đứa trẻ thơ ở các làng quê, đi học xa nhà, mỗi ngày nhờ cơm nắm muối đỗ mẹ cấp mang theo mà có bữa trưa ở lại trường. Ta vẫn nhớ ngoại, bữa chay nào cũng tương bánh dầu (do bà tự ủ), có màu nho chín, vị chua ngọt, mằn mặn, cho ngoại chấm đầu đũa và với cơm gạo đồng. Bánh dầu thịt (ép từ trái đậu bóc vỏ) lột hết lớp rơm quấn quanh, đem xắt thành lát, ăn với đường tán đen, cũng thích. Nhất là ăn vào mỗi trưa hè để uống bát trà Huế giải khát vun bọt, vừa mới pha. Nhiều tài liệu viết, ăn đậu phộng có lợi cho sức khỏe trái tim. Nhưng ăn cách nào thì đạt được điều lợi ích đó? Bánh dầu vỏ (ép bởi trái đậu nguyên vỏ) không ai ăn, nhưng là nguồn phân bón quan trọng: nó tốt ruộng, tốt vườn mà hơi nặng đất.

Trong lịch sử “tiến hóa” của ngọn đèn soi sáng đêm đêm, chắc thời kỳ đèn dầu phộng phải kéo dài tới mấy ngàn năm. Trải mấy ngàn năm, dân mình vẫn nhờ “thập niên đăng hỏa” (trừ anh học trò nghèo quá, tối ra sân đình quét lá bàng, đốt lửa ngồi học) mà đời nào cũng có lực lượng trí thức ra gánh vác việc nước, làm việc hữu ích cho đời, được đời tôn vinh là “Kẻ sĩ”. Không biết có bao nhiêu người tốt vẫn thức thi với đèn, bởi canh cánh một nỗi niềm ưu thời mẫn thế? Không biết có bao nhiêu cảnh ngộ phải nói lời “Chứng tri còn có ngọn đèn” để nhẹ đi phần nào nỗi đau vì oan khuất?… Thơ văn xưa vẫn viết “giấy vắn tình dài, tim lụn đĩa dầu hao…” để mô tả những cuộc tình, cách trở mà luôn nhung nhớ. Thương quá cái nghèo và lòng thơm thảo của người ở quê: đi ăn giỗ đâu cũng bọc theo trong khăn xéo chai dầu phộng, để làm phẩm vật dâng cúng.

Nhẩm đến nay, má mất đã lâu, vậy mà mỗi lần đoàn tụ nhân ngày giỗ má, những đứa con vẫn thích nhắc nhớ về má mình. Nhớ bao nhiêu chuyện, bao nhiêu kỷ niệm với má, trong đó có những bữa cơm thanh đạm: Cơm –  canh rau muống đậu phộng tươi sống giã nhỏ … má nấu, còn thơm phức cho tới bây giờ.

H. K. B

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu

162 / 32 / 18 Nguyễn Thái Học Quy Nhơn – Bình Định. ĐT:  095 8501562.

Lặng lẽ

Lâm Cẩm Ái
Một giọt rơi xuống hồn
Hai giọt hồn chênh vênh
Sao ta lại buồn tênh
Ly cà phê chợt đắng.
*
Từng giọt từng giọt rơi
Ân tình sao chóng vội
Ta giận mình nông nổi
Ngậm hoài giọt đắng môi.
*
Giọt cà phê vừa rơi
Hình như không điểm tựa
Ta mong sao lần nữa
Chẳng rơi xuống vội vàng
*
Từng giọt từng giọt rơi
Hương rừng tiên bỏ ngỏ
Em ngọt đời trái đỏ
Anh thơm nồng rượu hoa
*
Ừ , yêu ngoan thế đấy
Gởi vị đắng cho tình
Gởi hương nồng cho gió
Vào bông hoa trắng tinh
*
Từng giọt buồn rơi rơi
Rơi mãi những đầy vơi
Ly cà phê lặng lẽ
Bên tôi với nổi buồn .