Feeds:
Bài viết
Bình luận

Khi Em Về Làm Dâu Xứ Nẫu

Hồ Ngạc Ngữ

Đừng giả giọng miền Nam kẻo nẫu lại cười
Ngữ đó mới đi mà đổi tiếng
Miếng thịt em đừng kêu miếng thịch
Con cá rô đồng đừng nói cá gô

Có những điều mong em nhớ cho
Khi em về làm dâu xứ Nẫu
Chiếc áo hai dây ra đường đừng mặc
Kẻo ngọn gió nồm kêu em lẳng lơ !

Gặp những người già, em phải dạ thưa
Để khỏi bị chê là người vô phép
Ăn trái chuối phải bẻ đôi mới lột
Tập uống chè xanh đỡ nóng mùa hè

Ăn những món nẫu mời em đừng có chê
Người xứ Nẫu quý nhau mới đãi
Anh phải dặn em, vì em là con gái
Sinh ở trong Nam, nhưng gốc quê mình

Sống với nhau có nghĩa có tình
Có lẽ ở đâu người mình cũng vậy
Nhưng nếu về quê lâu ngày em sẽ thấy
Dẫu có khó nghèo, chồng vợ vẫn thương nhau !
31.08.2011

 Vua Quang Trung và Công chúa Ngọc Hân. Tranh: Cuộc sống Việt
TƯ LIỆU ĐẶC BIỆT: ĐẶC TẢ ĐÊM TÂN HÔN
CỦA VUA QUANG TRUNG VÀ NGỌC HÂN 
Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân:

Thưa chư vị, tôi cũng đã từng nhiều năm ngụp lặn trong kho sách Hán Nôm, cũng bận tâm tra cứu các thư tịch cổ về các chuyện “nguyệt hoa hoa nguyệt” đã nhiều phen, song chưa bao giờ có được may mắn như Tam Uyên Trần Quang Đức ở Nhã Nam. Trưa hôm qua, được Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương phô rằng có cái này hay lắm, bèn đứng lại ở sảnh Hàn Lâm viện để truy vấn. Chuyết Chuyết kể câu chuyện – mà chư vị sẽ xem dưới đây. Tôi choáng quá!
Lúc ấy, trước mặt không có thư tịch, nên Chuyết Chuyết phải dùng cả đôi tay và cả toàn thân để mô tả những điều mà chàng định tả. Tôi càng choáng hơn!
Sáng nay, tại Thư khố Hán Nôm viện, bọn tôi gồm: Tam Uyển Trần Quang Đức, Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương, U Cốc khách Tô Lan cùng nhau mở 3 văn bản chữ Nho để đối chiếu và xác minh xem Tam Uyển có vì vui chuyện mà tự thêu thùa thêm chữ nào không. Quả thực là đúng như bài của Tam Uyển, không hề có sai nhầm gì. Kíp khi ấy, Kim Anh nữ sĩ cũng có mặt, bèn được bọn tôi mời vào làm chứng!
Đêm tân hôn của Hoàng đế Quang Trung 33 tuổi, còn Ngọc Hân công chúa vừa 16 tuổi. Trời đất! Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên!
Vậy đã đủ chứng, mời chư vị thưởng thức áng văn chương “vô tiền khoáng hậu” này. Xin đa tạ Tam Uyển Trần Quang Đức đã ưng cho Nguyễn Xuân Diện-blog đưa về hầu chư vị bốn phương. Xin đa tạ Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương đã có bài dịch ra thơ ngay trong trưa nay để kíp hầu chư vị.


Dưới đây là nguyên văn chép từ Trần Quang Đức-Blog:
Việt Nam đệ nhất dâm thi Tây Sơn hành
Tam Uyển Trần Quang Đức
Bữa trước trong lúc dư nhàn, mỗ có tìm đọc cuốn Tản Ông di cảo (散翁遺稿mang ký hiệu A.2157) của danh sĩ thời Lê là Trần Danh Án. Đọc đến bài Tây Sơn hành thì quả thật hãi hùng chi thậm. Ông này là tôi trung của nhà Lê, kiên quyết bất hợp tác với triều Tây Sơn, thủy chung coi Tây Sơn là giặc mọi, thậm chí tỏ thái độ thù hằn và phất uất khi vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Quang Trung Nguyễn Huệ. Nay đọc Tây Sơn hành mới càng thấy rõ điều đó. Có điều, từ ý tứ đến ngôn từ trong bài thơ này đều hết sức dâm bôn xằng bậy, càng ngẫm càng thẹn cho kẻ mũ cao áo dài. Xét tự cổ chí kim, văn chương nước nhà chưa có áng dâm thi nào đặng so sánh được. Nay xin tạm phiên âm dịch nghĩa ra đây, rồi sau xin các bậc thiện Nôm chi quân tử cùng diễn ra thơ quốc âm vậy. (Bài thơ này còn được chép trong cuốn Thù thế danh thư 酬世名書 ký hiệu VHv.2239 và cuốn Danh nhân văn tập 名人文集 ký hiệu VHv.2432)

西山行
時阮整引西山阮惠兵來京城,景興皇帝以玉欣公主下嫁阮惠,故有此作.
海宇承平二百年,深宮春色鎖嬋娟,嫣紅錦褥人眼獨淺翠花裀蝶夢纏,不是神仙無對偶,可堪芳景忽流連
紗窗寂寞梅酣雪,邃篽離披柳困煙,花事闌珊春已矣
殘英落絮總堪憐,鼕鼕何處城邊鼓,羯塵漫塞長安路
亟夏方旋振葉風,深春忽點催花雨,鬚眉無膽控危城
釵扇將身抵驕虜,天王姊婦上公妃,不比尋常花巷主
尊榮貴寵對天潢,奠聘奩儀優特數,雲水騶從翠綺羅
風流儐相紛紳冑,扇夫轎子儘非常,都人見者呼為父
人羡新郎如一口,妾見新郎墜雙手,衣裳熳爛語侏离
骨相崚嶒皮皺古,頂上高堆張角巾,腿間不著韓信褲
其中一物望巍然,直與四肢峙為五,靜似高僧兀坐忘
動如弁子歌身舞,不言不笑不溫存,大吼一聲烈如虎
千鈞飛蹲據酥胸,怒裂羅裙披雪股,此物誰知解刺人
頡頏插入溫柔戶,嬌花枝上狂鶯揉,狂鶯不為嬌花護
花膜重重裂繒聲,鉛爐片片飛煙縷,牙咬肉顫汗如油
亂搗胡抽做不住,須臾裙帶落新紅,暗點春籌翻幾度
妾身兩孔似連環,瞬息通成一大圈,捲襦點閱忽驚訝
頏摩不值半文錢,黑暗既非前度白,縈紆又改舊時圓
呼鬟拿甕尿一尿,尿水之聲如飛泉,飛泉瀲灧去不返
陽風打落桃花片,桃花嬌怯不勝風,風斂花魂猶覺倦
盈盈柳骨瘦三分,褶褶湘羅寬一半,底事雖然不殺人
暮雨朝雲安熟爛,自從奇苦得奇歡,歡後卻忘舊苦艱
不患漁翁揮棹澀,溶溶桃浪漲平灘,左掬右摸探花髓
鶯不停梭蹀不攔,玉癢香搔失害羞,上摟下扭圓團團
風情蕩漾花心急,恐放東君頃刻間,蠻人老實多高興
不會輕挑只會鑽,浮世青雲如過客,一生幾度托春眠
衾裯樂處無夷夏,痴徇空名誤玉顔,不見錦機脂粉隊
西兵去後幾人還,誰將此為語姊妹,嫁郎及早嫁西山

Phiên âm

TÂY SƠN HÀNH

Thời, Nguyễn Chỉnh dẫn Tây Sơn Nguyễn Huệ binh lai Kinh thành, Cảnh Hưng hoàng đế dĩ Ngọc Hân công chúa hạ giá Nguyễn Huệ, cố hữu thử tác.
Hải vũ thừa bình nhị bách niên, Thâm cung xuân sắc tỏa thuyền quyên
Yên hồng cẩm nhục nhân nhãn độc, Thiển thúy hoa nhân điệp mộng triền
Bất thị thần tiên vô đối ngẫu, Khả kham phương cảnh hốt lưu liên
Sa song tịch mịch mai hàm tuyết, Thúy ngự ly phi liễu khốn yên
Hoa sự lan san xuân dĩ hĩ, Tàn anh lạc nhứ tổng kham liên
Đông đông hà xứ thành biên cổ, Yết trần mạn tắc Trường An lộ
Cức hạ phương toàn chấn diệp phong, Thâm xuân hốt điểm thôi hoa vũ
Tu my vô đảm khống nguy thành, Thoa phiến tương thân để kiêu lỗ
Thiên vương tỉ phụ thượng công phi, Bất tỉ tầm thường hoa lộng chủ
Tôn vinh quý sủng đối thiên hoàng, Điện sính liêm nghi ưu đặc số
Vân thủy sô tùng thúy ỷ la, Phong lưu tấn tướng phân thân trụ
Phiến phu kiệu tử tận phi thường, Đô nhân kiến giả hô vi phụ
Nhân tiện tân lang như nhất khẩu, Thiếp kiến tân lãng trụy song thủ
Y thường mạn lạn ngữ thù ly, Cốt tướng lăng tằng bì trứu cổ
Đính thượng cao đôi Trương Giác cân, Thoái gian bất trước Hàn Tín khố
Kỳ trung nhất vật vọng nguy nhiên, Trực dữ tứ chi trì vi ngũ
Tĩnh tự cao tăng ngột tọa vong, Động như biền tử ca thân vũ
Bất ngôn bất tiếu bất ôn tồn, Đại hống nhất thanh liệt như hổ
Thiên quân phi tồn cứ tô hung, Nộ liệt la quần phi tuyết cổ
Thử vật thùy tri giải thích nhân, Hiệt hàng sáp nhập ôn nhu hộ
Kiều hoa chi thượng cuồng oanh nhu, Cuồng oanh bất vi kiều hoa hộ
Hoa mạc trùng trùng liệt tăng thanh, Diên lô phiến phiến phi yên lữ
Nha giảo nhục chiên hãn như du, Loạn đảo hồ trừu tố bất trụ
Tu du quần đới lạc tân hồng, Ám điểm xuân trù phiên kỉ độ
Thiếp thân lưỡng khổng tự liên hoàn, Thuấn tức thông thành nhất đại khuyên
Quyển nhu điểm duyệt hốt kinh ngạc, Hàng ma bất trị bán văn tiền
Hắc ám ký phi tiền độ bạch, Oanh vu hựu cải cựu thời viên
Hô hoàn nã úng niệu nhất niệu, Niệu thủy chi thanh như phi tuyền
Phi tuyền liễm diễm khứ bất phản, Dương phong đả lạc đào hoa phiến
Đào hoa kiều khiếp bất thắng phong, Phong liễm hoa hồn do giác quyện
Doanh doanh liễu cốt sấu tam phân, Triệp triệp tương la khoan nhất bán
Để sự tuy nhiên bất sát nhân, Mộ vũ triều vân an thục lạn
Tự tòng kì khổ đắc kì hoan, Hoan hậu khước vong cựu khổ gian
Bất hoạn ngư ông huy điệu sáp, Dung dung đào lãng trướng bình than
Tả cúc hữu mô thám hoa tủy, Oanh bất đình thoa điệp bất lan
Ngọc dạng hương tao thất hại tu, Thượng lâu hạ nữu viên đoàn đoàn
Phong tình đãng dạng hoa tâm cấp, Khủng phóng đông quân khoảnh khắc gian
Man nhân lão thực đa cao hứng, Bất hội khinh thiểu chỉ hội toàn
Phù thế thanh vân như quá khách, Nhất sinh kỉ độ thác xuân miên
Khâm trù lạc xứ vô di hạ, Si tuẫn không danh ngộ ngọc nhan
Bất kiến cẩm cơ chi phấn đội, Tây binh khứ hậu kỷ nhân hoàn
Thùy tương thử vị ngữ tỉ muội, Giá lang cập tảo giá Tây Sơn.
Dịch nghĩa:
TÂY SƠN HÀNH
Bấy giờ, Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn Nguyễn Huệ tới Kinh thành, Hoàng đế Cảnh Hưng gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ, cho nên có bài thơ này.
Bờ cõi thanh bình đã hai trăm năm
Ở nơi thâm cung xuân sắc, người đẹp bị khóa chặt
Cô đơn nằm trên nệm gấm hồng tươi
Say giấc mộng bướm dưới lớp áo hoa biêng biếc
Không phải là thần tiên không có người sánh đôi
Mà cám cảnh thơ ngây bỗng vương lòng lưu luyến
Song the hiu quạnh, bông mai đượm tuyết
Vườn uyển sâu thẳm, liễu ám khói sương
Mùa hoa đi qua, xuân cũng đã hết
Cánh hoa tàn, tơ mành buông, thật là đáng thương
Tùng Tùng! Đâu đó vang lên tiếng trống ven thành
Lũ rợ Kiệt đến, bụi mù khắp Tràng An
Chưa cuối hè mà đã có gió lay lá
Đương xuân chín mà bỗng lác đác giọt mưa bứt hoa.
Đấng mày râu không có gan giữ được cung thành
Để bực quần thoa phải gán thân cho giặc mạnh
Con gái Thiên vương phải làm phi cho Thượng Công
Nào phải bậc chúa hoa tầm thường.
Để tỏ lòng tôn vinh đối với hoàng tộc
Sính lễ cùng nghi thức hết sức đặc biệt
Ngựa xe như mây nước, tùy tòng mặc toàn gấm vóc
Đám phù rể phong lưu, áo mũ xênh xang.
Bọn phu quạt, phu khiêng kiệu đều lạ lùng
Người kinh đô thấy đều gọi là ‘cha’
Ai cũng hâm mộ chú rể
Còn cô dâu trông thấy chàng rể thì buông đôi tay.
Quần áo thì sặc sỡ diêm dúa, giọng nói thì trọ trẹ
Dáng dấp ngang tàng, da dẻ nhăn nhúm
Trên đầu chất cao cái khăn của Trương Giác
Giữa chân không mặc cái quần của Hàn Tín
Ở bên trong, một vật trông rất nguy nga
Cùng với tứ chi, sừng sững thành năm ngọn
Lúc tĩnh lặng, giống như cao tăng nhập tọa
Lúc động đậy, tựa như võ biền vừa hát vừa múa
Chẳng nói chẳng cười chẳng từ tốn
Gầm lớn một tiếng, mãnh liệt như hổ
Nghìn cân sà xuống, chồm hỗm chiếm bộ ngực như bơ
Tức tối xé rách chiếc váy là đang che cặp đùi tựa tuyết
Vật này ai cũng biết là có thể đâm người
Ngúc ngoắc rồi chọc vào cánh cửa êm ấm
Bông hoa kiều diễm trên cành bị oanh khùng giày vò
Con oanh khùng không hề giữ gìn bông hoa kiều diễm
Lớp lớp màng hoa, tiếng xé vải
Mảnh mảnh lò chì bốc lên những ngọn khói
Răng nghiến, xác thịt rung, mồ hôi như dầu
Nện bừa, rút quấy, làm không dừng
Phút chốc, giọt hồng trinh rớt trên dải váy
Âm thầm mấy độ xuân qua
Trên thân thiếp hai lỗ tựa vòng khâu
Trong nháy mắt thông thống thành một hốc lớn
Vén áo lót kiểm tra bỗng kinh ngạc
Bị sờ bóp không đáng giá nửa xu
Thâm tím, không còn màu trắng xưa kia
Méo mó, khác rồi khối tròn thưở trước
Gọi a hoàn bưng chậu nước đi tiểu một cái
Tiếng nước tiểu như dòng thác tuôn
Dòng thác sóng sánh một đi không trở lại
Ngọn gió thổi rụng cánh hoa đào
Hoa đào kiều diễm, khiếp sợ, không chịu nổi gió
Gió ngớt, hồn hoa còn thấy mệt lả
Vóc liễu gày đi ba phần
Áo lụa gấp rộng một nửa
Việc này tuy không đến nỗi chết người
Nhưng cứ sớm mây chiều mưa sao lại không nát bét chứ
Từ khi chịu cái khổ lạ lùng lại được cái sướng lạ lùng
Sau khi sướng lại quên hết nỗi gian khổ ngày xưa
Chẳng lo ông chài khua chèo bị rít
Sóng đào bát ngát dâng ngập bờ cát phẳng
Vốc bên trái, sờ bên phải, thăm dò nhị hoa
Con oanh chẳng ngừng luồn, con bướm chẳng ngăn cản
Ngọc ngứa, hương gãi, không còn thẹn thùng
Trên ôm, dưới siết, cuộn lại tròn vo
Cuộc phong tình tràn ngập, lòng hoa bướm háo hức
Chỉ sợ rời ‘chúa hoa’ trong khoảnh khắc.
Kẻ man di thật thà, rất nhiều khi lên cơn hứng
Chỉ biết đâm dùi, chứ không biết nhẹ nhàng ve vuốt
Cảnh đời mây nổi, tựa như khách qua đường
Cả đời được mấy lúc hưởng trọn giấc xuân
Thú chăn gối không phân biệt người Kinh, người rợ
Si ngây chuốc lấy danh hão, người ngọc lỡ lầm
Không thấy đám phấn son ở Cẩm Cơ sao
Sau khi quân Tây Sơn đi, có mấy thằng quay lại?
Ai nấy hãy đem việc này nói rõ với chị em:
Lấy chồng thì cứ sớm lấy bọn Tây Sơn ấy.
Dưới đây là bản dịch thơ của Chuyết Chuyết Trần Trọng Dương:
Cõi thanh bình hai trăm năm lẻ
Chốn thâm cung khóa trẻ đương tơ
Gấm tươi phô nét hững hờ
Áo hoa biêng biếc, bơ thờ[1] giấc xuân
Khách thần tiên chưa lần sánh mộng
Lòng thơ ngây chợt động tơ vương
Song mai tuyết đọng chán chường
Vườn hoa thăm thẳm khói sương liễu bồ
Hoa đã rụng xuân hồ cũng hết
Xác còn buông mấy nét tơ sương
Thoắt thôi trống động biên cương
Bao nhiêu rợ mọi ngập đường Tràng An
Buổi cuối mùa gió man lay lá
Đương xuân hồng mưa rã nhị hoa
Mày râu trốn hết đâu mà?
Để cho má phấn phải ra gán mình
Thân công chúa thình lình thiếp giặc
Thân ấy đâu phải bậc tầm thường
Hoàng cung quốc sắc thiên hương
Thì thôi sắm lễ tiện đường rước đi
Xe như nước ngựa phi giăng gấm
Phù rể trông cũng thậm xênh xang
Lạ lùng tôi tớ khiêng sang
Lê dân Kẻ Chợ bàng hoàng xuýt xoa
Hâm mộ ngắm chàng ta rể quý
Nàng Ngọc Hân gạt lệ xuôi tay
Người đâu trọ trẹ thế này
Da thời nhăn nhúm, dáng rày[2] ngông nghênh
Khăn với áo xông xênh diêm dúa
Giữa hai chân không khố lão Hàn
Bên trong một vật hiên ngang
Ngũ chi sừng sững như đang thượng tòa
Khi lúc lắc tựa là nhảy múa
Chẳng nói năng sấn sổ xông ra
Cọp gầm hùng hổ chu choa
Nghìn cân sà xuống một tòa thiên nhiên
Xé toạc váy giở miền ngà ngọc
Vật này ôi đã xọc thân hoa
Xăm xoi ngúc ngoắc vào ra
Oanh khùng khục tiếng, hoa dà dà son
Ôi giày xéo hoa don vật vã
Nhụy non tơ rách tã còn đâu
Hơi hùm bốc khói trên đầu
Thịt rung răng nghiến như dầu bôi thân
Chọc bừa đâm quấy tần vần
Giọt hồng cứ giỏ mấy lần nếp voan
Âm thầm bấy, mầu xoan vuột mất
Nhụy thuở nào e ấp xinh xinh
Thoắt thôi hoang hoác thân[3] mình
Nhìn xem xiêm áo thất kinh rụng rời
Thân vàng ngọc đáng thời nửa cắc
Màu trinh nguyên đã mất vẻ xưa
Ngực non méo mó dật dờ
Buồn cơn đổ xuống một bờ thác tuôn
Thác đã tuôn cũng khôn níu lại
Cánh hoa đào gió tãi nào vun
E rằng gió giật chăng dừng
Hồn hoa mệt bã vô chừng bấy hoa
Thân liễu yếu ngót ba phần đủ
Xiêm y thay, thít chửa vừa thân
Mây mưa đã giãi phong trần
Tuy chăng mất mạng, cũng dần nát tan
Càng đau lạ lại càng sướng lạ
Sướng này thôi cũng hả đau kia
Chèo khua chẳng ngại gẫy chìa
Sóng đào bát ngát dâng kìa bãi xa
Đôi trái cấm xuýt xoa kia nọ
Oanh chăng ngừng, bướm tỏ nguồn yêu
Ngọc ngà ngứa ngáy hương phiêu
Trên ôm dưới siết còn đâu thẹn thùng
Cuộc phong tình bướm hoa háo hức
Chẳng nỡ rời một lúc một giây
Vũ phu hứng động dâng đầy
Vuốt ve chẳng đoái, cuốc cầy quen chân
Cảnh mây nổi một thân làm khách
Khách qua đường chớ trách mộng xuân
Gối chăn đâu cũng xoay vần
Danh suông để hão, trong ngần vấy nhơ
Đám phấn son Cẩm Cơ chửa đủ
Gã Tây Sơn liệu có quay về
Việc này nói tỏ cho nghe :
Lấy chồng cứ lấy chẳng nề quân Tây !

[1] Bơ thờ (từ cổ): uể oải, lười.
[2] Rày: nay
[3] Theo nguyên bản nên dịch là “cửa”, nhưng nay đổi chữ cho nó đỡ dữ.
*

Phụ chép: Tiểu sử của Trần Danh Án – tác giả của bài Tây Sơn hành:

Trần Danh Án (1755 – 1794), người xã Bảo Triện huyện Gia Định – nay là thôn Bảo Triện, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Cháu Trần Phụ Dực, con Trần Danh Lâm.
Thi Hương đỗ Giải nguyên. Thi Hội đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống 1 (1787) đời Lê Mẫn Đế.
Làm quan đời Lê Chiêu Thống đến chức Viên ngoại lang, hành Chiếu khám. Khi Lê Chiêu Thống chạy lên vùng Bắc Giang, ông đang giữ chức Nội hàn, đi theo làm tùy tùng. Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh, ông ở lại quê nhàm cùng Trần Quang Chân, Dương Đình Tuấn dấy binh chống triều Tây Sơn. Khi nghe tin Chiêu Thống chết ở Trung Quốc, ông gào khóc thương tiếc rồi mất.
Nguồn: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919. Ngô Đức Thọ chủ biên. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006. trang 645.
Nguồn Nguyenxuandien
Nói đến chữ quốc ngữ, hầu như ai cũng biết công lao của giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Tuy nhiên, ông chỉ là người thừa hưởng, hệ thống lại và phát triển thêm từ sự khai mở của các giáo sĩ đi trước, những người vốn được Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa che chở.

Vào thế kỷ thứ 16, đạo Kitô thâm nhập vào Nhật Bản bởi một số nhà truyền giáo Dòng Tên từ Ma Cao đến. Đầu thế kỷ 17, Nhật ban lệnh cấm đạo và trục xuất các nhà truyền giáo. Trong số các giáo sĩ bị trục xuất từ Nhật Bản, có 4 vị thừa sai là hai linh mục Bồ Đào Nha Francesco Buzomi và Diego Carvalho cùng hai trợ sĩ người Nhật là Jose và Paolo được lệnh của của Nhà Dòng, thay vì trở về Ma Cao thì chuyển hướng xuống Hội An của xứ Đàng Trong.


Hậu duệ của Cống Quận công Trần Đức Hòa bên tấm biển ghi công trạng của vị đại quan – Ảnh: Hà Đình Nguyên

Ngày 18.1.1615, họ cập bến Hải Phố (Hội An). Lúc này ở Hội An, cộng đồng Nhật kiều theo Thiên Chúa giáo đã hình thành và các giáo sĩ này đã dùng tiếng Nhật để chăm sóc họ. Năm 1617, nhóm giáo sĩ ở Hội An được tăng cường thêm linh mục Francesco de Pina và một tu sĩ, tiếp đó lại có thêm các linh mục Cristofono Borri và Pedro Marquez – chứng tỏ, việc truyền giáo ở Hội An có những kết quả khả quan. Chẳng may ít lâu sau, Đàng Trong bị thiên tai hạn hán, dư luận cho rằng do trời đất trừng trị vì có người bỏ thờ cúng tổ tiên, ông bà mà theo đạo mới. Họ quy trách nhiệm cho các thừa sai và giáo dân. Đầu năm 1618, các giáo sĩ lại bị trục xuất khỏi nước Việt. Linh mục Marquez và một tu sĩ được các giáo dân Nhật kiều giúp che chở, trốn tránh ở Hội An. Còn các linh mục Pina, Buzomi, Borri và hai thầy dòng khác thì được quan Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa, khi đó đang là Trấn thủ Quy Nhơn, ra tận Hội An đón về Quy Nhơn.

Trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621, linh mục Borri đã ghi chép khá đầy đủ quan Khám lý Trần Đức Hòa đã đối xử rất “biệt nhãn” với các giáo sĩ phương Tây, ông ghi: “Các cha Francesco Buzomi, Francesco de Pina và tôi rời Hải Phố đi Pulucambi với quan trấn tỉnh này. Suốt hành trình, quan trấn đối với chúng tôi hết sức lịch sự và nhã nhặn. Ông cho chúng tôi ở cùng đoàn, dành riêng cho chúng tôi và người thông dịch một chiếc thuyền, hành lý chúng tôi để ở một thuyền khác, chứ không ngổn ngang bên chúng tôi. Suốt mười hai ngày, đi trong những điều kiện thoải mái như thế, sớm chiều ghé vào các cửa khẩu hoặc phố xá tỉnh Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi – NV), nơi mà quan trấn có quyền như ở Quy Nhơn… Chúng tôi giãi bày mong muốn ở thị trấn để dễ truyền đạo hơn là ở trong dinh nằm giữa cánh đồng, xa thị trấn tới ba dặm. Vì thương mến, quan trấn không muốn xa chúng tôi, nhưng hy sinh quyền lợi cho dân chúng và gạt lòng yêu thích qua một bên. Quan truyền xây cho chúng tôi một ngôi nhà thờ tiện nghi trong thị trấn Nuocman…”.

“Nuocman” ở đây chính là Nước Mặn – một phố thị cảng sông nằm bên đầm Thị Nại của phủ Quy Nhơn (thế kỷ thứ 17-18). Nơi đây thuyền buôn phương Tây và các nước Đông Nam Á thường xuyên ra vào buôn bán. Cảng thị Nước Mặn xưa kia nay là các thôn: An Hòa, Lương Quang (xã Phước Quang) và thôn Kim Xuyên (xã Phước Hòa) huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Các vị thừa sai Dòng Tên sang truyền giáo ở Đàng Trong từ năm 1615 chủ yếu tập trung ở ba điểm: Cửa Hàn (Đà Nẵng), Hội An – Thanh Chiêm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Bình Định) nhưng ở Nước Mặn là trụ sở chính, có cha bề trên Buzomi. Cũng ở đây, linh mục Francesco de Pina mới có điều kiện học tiếng Việt để thành lập thí điểm truyền giáo tiên khởi (cha Pina là thầy dạy tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes sau này). Sau đó, linh mục Pina và các linh mục Buzomi, Borri khởi sự nghiên cứu, phân tích và phiên âm tiếng Việt đều ở Nước Mặn.

Ngay trong Lời giới thiệu tác phẩm Xứ Đàng Trong năm 1621 của linh mục C.Borri, hai dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị có nhắc đến chi tiết ông đã cố gắng học tiếng Việt, tuy không thạo lắm, nhưng ông cũng hiểu biết đủ để giảng giáo lý Kitô. “Có một vài câu chữ quốc ngữ trong bản tường thuật của ông cho chúng ta biết: ngay từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đầu hình thành thứ chữ này. Cái đặc biệt ở nơi ông, cái làm cho khác với de Rhodes sau này, đó là ông đã phiên âm tiếng Việt theo chữ viết của người Ý, chứ không phải người Bồ. Rõ ràng ông phiên âm và viết gn chứ không nh như nho (trái nho) ông viết là gnoo, nhỏ (trẻ nhỏ) ông viết là gno. Cũng vậy xin ông viết scin, bởi vì theo tiếng Ý nếu viết cin thì đọc uốn lưỡi còn nếu viết sc thì đọc cũng như x”.

Do đó, có thể coi Nước Mặn là nơi phát tích cho buổi đầu phôi thai chữ quốc ngữ. Vì thế, sự bao che của Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa (nếu không thì các giáo sĩ đã bị trục xuất khỏi Việt Nam) cũng có ý nghĩa nhất định với sự hình thành chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu.

Hà Đình Nguyên

Buổi sáng ra sông

Lê Thị Ái Niệm

Buổi sáng đi ra sông

Tóc như cười với gió

Có chiếc tàu nhổ neo

Đi trong lòng sông nhớ

Em đứng bên này sông

Bờ bên kia vời vợi

Tình ta không thể nói

Dù chỉ một đôi lời

Em vẫn suốt một đời

Làm bến sông thương nhớ

Thuyền đi không về nữa

Bến đợi bao nhiêu ngày

Em mãi thương dòng sông

Đã nghe ta hò hẹn

Dù dòng sông định mệnh

Làm rời rã đời nhau

Em không sợ sông sâu

Chập chùng hàng núi biếc

Bởi từ hôm ly biệt

Hồn em có anh rồi !

Sáng nay đi ra sông

Nhớ tình anh mấy nỗi

Nghe con tàu nhổ neo

Rồi trở về rất vội.

Đà Nẳng 2011

Ankor Wat . Đi, với trái tim

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

 

Có khá nhiều lý do để du khách lên đường du lịch : quan sát phong tục cá biệt của một dân tộc, tìm hiểu về những nền văn hoá, hay tiếp xúc với thiên nhiên, đào sâu kiến thức về  lịch sử hay địa lý…Nhưng với tôi, điều làm giàu tâm hồn nhiều nhất là khi trở về nhà, ngoài những bức hình đã chụp, chính cái cảm giác vương vấn còn lại trong tâm trí, có lẽ nhờ các  bạn đồng hành hay cảm xúc vừa trải nghiệm, đã làm cho chuyến đi  trở thành duy nhất. Và cuối cùng  cảm thấy như vừa thực hiện xong những giây phút quan trọng trong đời mình.

            Đó là cảm giác của tôi sau chuyến đi Cam bốt.

 

Rất nhiều lần tôi muốn thực hiện chuyến đi này, viếng thăm những đền đài Ankor-Wat và tham quan một đất nước, như Việt Nam, đã từng hứng chịu những điều kinh khủng trong cuộc chiến.

Thế nhưng, chuyến đi cứ bị  dời đi dời lại nhiều lần, may là cuối cùng  vợ chồng tôi cũng có thể khởi hành và, chúng tôi chọn chuyến đi bằng pullman được tổ chức bỡi một công ty du lịch tại Sài Gòn.

Thường thì tôi thích đi bằng xe Pullman hay xe Bus bỡi vì muốn được di chuyển cùng dân bản xứ : Tôi nghĩ là chỉ bằng cách đó tôi mới có dịp học hỏi, quan sát hiểu thêm các phong tục tập quán của một dân tộc. Hơn nữa, một chuyến đi như vậy thường rất vui  và có nhiều kỷ niệm. Bởi, làm “du khách”chung  với những người ngoại quốc khác, theo tôi  sẽ có nhiều giới hạn về kiến thức về cuộc sống của một nước.

 

            Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một chuyến đi chừng một giờ  trên xe Bus, tuyến Sài Gòn-Biên Hoà. Trên xe có tài xế, cô gái bán vé và một phụ xe. Nhiệm vụ của anh này là “ bắt ” các hành khách đang đợi ở dọc đường hay đứng chờ ở bến. Dọc theo tuyến đường có những quãng không có  bảng hướng dẫn hay trạm chờ  xe và hành khách  phải đón xe ở   bất kỳ một chỗ nào đó trên đường. Tôi đã thấy một người đàn ông, để tài xế xe bus thấy, ông phải chồm ra gần giữa lòng đường, thách thức những chiếc xe máy chạy vun vút, đứng vẫy vẫy tay, và khi xe bus gần đến, tài xế giảm tốc độ nhưng không dừng hẳn, ông được  anh phụ xe “túm” lấy  và kéo lên xe!

 Trước khi đến một bến dừng, anh phụ xe giơ hai tay vẫy vẫy, có khi nghiêng cả nửa người ra ngoài thành xe và nói lớn báo cho khách đứng chờ hãy sẵn sàng. Xe chưa kịp dừng lại thì anh đã nhảy xuống và thuyết phục khách hãy leo lên xe bus của mình, chất lượng cao hơn các xe khác, để đến đích mà họ cần.

Dường như có một lý do sinh tử chèo kéo nhiều khách bao nhiêu có thể. Và tất cả các điều này xảy ra trong tiếng cười, hò hét, kêu gọi, nhảy xuống, trèo lên khi xe còn đang chạy, giữa những gói, thùng hàng xách tay.

Cho đến bây giờ như vẫn còn nguyên trước  mắt tôi cái nhìn lanh lợi và lém lỉnh của cậu thanh niên đó, thân hình tuy mảnh khảnh nhưng hàm chứa một sức lực dồi dào, hai ống quần của chiếc quần jean được  gấp lên cho gọn gàng phơi rõ hai bàn chân to bè trên đôi sandale đầy bụi. Nhưng điều làm tôi lưu ý là trên thân hình hơi gầy ấy có chứa một sức mạnh, thứ sức mạnh cần thiết để trưởng thành trong vội vã  để có thể chiến thắng sự nghèo nàn.  Tôi nói  cám ơn  và mỉm cười, khi cậu ta cũng giúp tôi, một người ngoại quốc bước xuống  xe bus còn đang chạy chậm…

 

Và cũng như thế, trong chuyến đi  Cam Bốt  tôi  cũng là người ngoại quốc duy nhất trên xe. Sau vài giờ di chuyển chúng tôi đến biên giới Việt Miên và sau các thủ tục kiểm tra hộ chiếu, tất cả các hành khách phải chuyển sang một chiếc xe nội địa khác. Bên cạnh người hướng dẫn tên  Nam, lúc này còn có thêm một nữ hướng dẫn viên khác, một cô gái người Cam Bốt mà trước đây cùng gia đình đã  trốn sang Việt nam để tránh hoạ diệt chủng của Polpot. Cô theo học ở Đại Học Cần Thơ và sau khi hoà bình lập lại, cô đã trở về Cam Bốt, khai thác vốn kiến thức và  khả năng  nói thạo tiếng Việt cho ngành du lịch.

 

Đây không phải là lần đầu tiên hai người này làm việc chung để hướng dẫn du khách. Họ biết rất rõ các điểm cần đến hay nên dừng lại. Họ cung cấp cho du khách các thông tin cần thiết, thí dụ như nên tranh thủ ở các điểm dừng, vì  trên xứ Cam Bốt rất khó tìm được nhà vệ sinh, và, nếu ai đó có nhu cầu, chỉ còn cách chạy ra đồng, nép mình sau một thân cây hay một bụi rậm.

Nơi chúng tôi dừng lại để ăn uống thường cũng là nơi tụ tập của các người bán hàng rong. Họ bán đủ thứ, từ  hoa quả đến những thứ đặc biệt để ăn…và chính vì thế mà, tôi, vì tò mò đã cố lấy can đảm để cắn thử một cái chân nhền nhện chiên giòn.

 

Sau khi đến Seam Reap, một thành phố đầy khách sạn, cửa hàng, tiệm matsa và các tiệm ăn, nhà hàng… tất cả như được chuẩn  bị để chào đón du khách đến thăm các đền đài miếu viện của  Ankor Wat.

 Ngay từ sáng sớm chúng tôi đã phải xếp hàng để chụp hình ở một trạm gác và sau vài phút các nhân viên ở đây cấp cho chúng tôi một  tấm vé có hình để có thể tham quan các ngôi đền.

Đối với tôi, hình ảnh làm tôi xúc động nhất, hơn cả Ankor Wat,   chính là những phế tích và những rễ cây  hoá thạch của Ankor Thom. Tất cả  hình như được bao phủ bởi một lớp bụi của thời gian và rơi vào quên lãng, xung quanh chỉ còn muôn ngàn tiếng gào thét của ve sầu… Một thành phố bị bỏ quên, bỗng dưng sống lại nhờ những hoa văn khắc sâu trên đá và làm cho chúng ta  nghe được hơi thở của một nền văn minh của dân tộc Khmer, đã bị người Thái tiêu diệt  và  tàn phá.

Vượt lên trên những nguy nga của đền tháp Ankor Wat chính là những khắc hoạ Khmer  dưới chân  những tường đá của  Ankor Thom. Những hoa văn đó mới là những bằng chứng hùng hồn về một dân tộc cần cù và trí tuệ . Họ đã khắc lên đá những hình ảnh bình lặng thường ngày, nấu ăn, câu cá và chinh phục cá sấu, tuy nhiên bên cạnh những hình ảnh thanh bình đó, vì trớ trêu của lịch sử, còn có những hình ảnh của chiến tranh, chiến đấu chống lại  đội quân  xâm lăng của Thái lan trên  mặt biển. Sau khi chiến tranh chấm dứt, nhân dân được hưởng cánh thái bình, họ tìm sự thư giãn với những nhạc cụ,  để đệm nhạc cho các vữ nữ, hay đúng hơn, các tiên nữ trong vũ điệu  “Apsara”  mê hồn : Một vũ điệu trong đó các động tác đều rất chuẩn mực và  nhịp nhàng,   các chuyển động vô cùng quyến rũ, các bàn tay, ngón tay được uốn  cong một cách điêu luyện  cùng với thân hình uyển chuyển, uốn lượn, gợi cảm trong mong cầu phồn thực…tất cả những điều đó đều đã trở thành thành bất tử nhờ các khắc hoạ trên đá, giờ đây đang hứng chịu những đổ nát sau nhiều thế kỷ thách đố với thời gian.

Chúng tôi đứng như bị thôi miên trước những cái nhìn và các khuôn mặt của đức Phật được khắc hoạ một cách sống động trên đỉnh tháp, mặt hướng về bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Hình tượng đó còn được lập lại trong một  hành lang dài được trang trí bằng những vòng cung dọc theo một lối đi có những bậc thang lên xuống, tất cả  các nét mặt hiền từ, miệng mỉm cười, với đôi mắt nửa nhắm nửa mở,mà đặc biệt là  không có khuôn mặt nào giống khuôn mặt nào. Cuối hành lang có một cầu thang 80 bậc, được kiến trúc và xây dựng một cách đặc biệt để những kẻ đến đây phải tỏ lòng tôn kính : Những bậc thang rất hẹp , và  ngắn, để những  kẻ viếng thăm tượng Phật trên đỉnh tháp phải cúi mình, tư thế bắt buộc phải giữ cho khỏi ngã khi leo lên , rồi khi đi xuống…họ cũng  buộc phải giữ tư thế như lúc  đi lên, vì bậc thang rất dốc,  để giữ lòng tôn kính và  khỏi phải xoay lưng về phía Phật.

Đây là một trong những kỳ quan của thế giới, và các dân tộc trên thế giới tham gia cùng Unesco với ước muốn bảo tồn. Nhìn chung, Ankor Wat là một sự kết hợp kỳ diệu của đá, từ những khối có kích cỡ trung bình đến những viên nhỏ vài centimét đặt khít vào nhau tạo thành những cột đá bền vững, đứng bất động giữa thiên nhiên như một sự thách thức về luật cân bằng. Tuy nhiên, nắng gió đi qua, cũng có những  đống đá đổ nát  nằm dưới chân đền như chứng tích về sự mỏi mệt với thời gian. Bên cạnh những khu vực đang được tái tạo, người ta còn thấy có những ngọn tháp đổ  xuống, các tảng đá lớn nhỏ  nằm ngổn ngang, rời rạc…trông giống như một  nỗi thống khổ của Sisifo (Sisyphe), cứ tiếp tục lăn tảng đá lên đỉnh núi và khi tới đỉnh nó lại lăn xuống vực.

 

Nhiều người nói là có những nơi trên trái đất  mà chúng ta cần  phải đến ít nhất một lần trong đời. Trong trường hợp đó, tôi nghĩ Ankor Wat chính là nơi mà chúng ta cần phải đến thăm, trước khi kỳ quan này biến mất một lần nữa…Nhưng lần sau sẽ không phải bị bỏ rơi vì nhân dân chạy giặc  hay để nó bị  phá huỷ bởi bàn tay của người Thái hay bom đạn Mỹ mà chính là vì  thiên nhiên sẽ nuốt chửng những tháp đền này vì không có kinh phí hay sự quan tâm nhằm khôi phục lại vẻ huy hoàng của vài trăm năm trước, bởi vì các chính phủ hiện nay chỉ chú tâm đến « hiện đại hoá » , xây dựng những cao ốc nhiều tầng bằng kính, những resorts, khách sạn hiện đại ngay sát những sinh hoạt của đa số thần dân trong khu ổ chuột.

 

Nhưng chuyến đi CamBốt còn mang đến cho tôi  những xúc cảm khác…

 

            Vài người khách trong chuyến đi, nghe bạn bè  nói lại, đã hỏi ý hướng dẫn viên để có thể tham quan  Biển Hồ ( Tonse Lap). Sau khi tham khảo ý kiến, hai hướng dẫn viên cho biết là họ có thể tổ chức cho chuyến thăm ngoài chương trình, nhưng cần phải có đủ số người tham dự. Tưởng chẳng mấy ai quan tâm…nhưng, chỉ trừ một vài người, hầu kết khách trong đoàn đều  ghi danh cho chuyến thăm này.

Ai không biết, có thể nghĩ rằng đi nhìn một cái hồ thì có gì đặc biệt ?  Thế nhưng, sau khi được giải thích, mọi người đều vỡ lẽ về những điều thú vị cho chuyến viếng thăm này. Trước hết, đó là một cái hồ rất quan trọng được tạo nên bỡi dòng sông to lớn : Mê Kông.  Nó quan trọng đến nỗi người Việt đã gọi đó là “ Biển Hồ”. Hồ to như biển.

Trong năm, có vài tháng hồ này ít nước, mực nước thấp và có ít tôm cá. Thế nhưng  vào mùa mưa, biển hồ chính là một nơi tích trữ nước khi mực nước trên  sông Mê Kông dâng cao. Chính tính chất đặc biệt ấy  mà Biển Hồ giữ một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của khu vực này. Thiếu nó, tất cả  các khu vực hạ lưu của chín con rồng ở Việt nam chắc chắn bị chìm trong biển nước. Chính  đó là một điều kỳ diệu của thiên nhiên, đã tự thiết kế  và kiến tạo để giữ thế quân bình sinh thái, không cần  bất cứ sự tham gia nào của con người, thường chỉ gây ra tai hoạ. Thí dụ như, nếu một ngày nào đó, nhà nước CamBốt quyết định xây dựng một con đập trên sông Mê Kông, thế là tất cả  các vùng đất phì nhiêu, nhiều tôm cá, như Cà Mau, sẽ không còn hiện hữu nữa.

 

Nhưng chuyến thăm Biển Hồ còn có thêm một ý nghĩa khác. Và không kém phần quan trọng.

            Trên bờ hồ, bên cạnh những người bản xứ, còn có một cộng đồng  người Việt sinh sống. Bỏ quê hương để mưu sinh, hành trang của họ mang theo chỉ là sự nghèo nàn và sợ hãi.. Họ   dừng bước ở đây, một nơi heo hút, xa lạ  với những ánh đèn thành phố.

            Hai hướng dẫn viên lấy ra một túi xách mà họ đã chuẩn bị  từ trước, trong đó có nhiều sách vở và bút mực… và gợi ý cho đoàn moi lục túi xách để lấy ra những  cục xà bông, chai sữa tắm, bàn chải đánh răng… được khách sạn cung cấp mà chúng tôi chưa dùng đến để làm quà tặng. Sau khi gom góp mọi thứ, một du khách đề nghị và anh ta  đứng lên quyên góp tiền của mọi người để mua thêm quà cho những cư dân người Việt nam này. Trong phút chốc, chiếc mũ vải đã đón nhận nhiều loại ngoại tệ đến từ khắp nơi trên thế giới, từ tiền Việt,đô la Mỹ đến đồng Euro… từ tấm lòng của du khách Việt đến từ khắp nơi… Sau khi kiểm tra và tổng kết, một số tiền không nhỏ đã được lạc quyên, tất cả đều đồng ý dừng lại ở một  ngôi chợ ở Siem Reap để mua mì gói, một thứ súp đã nấu chín và sấy khô, chỉ cần bỏ vào một ít nước nóng là có ngay một bữa ăn nóng hổi; chúng tôi còn mua thêm một ít sữa cho trẻ em, bánh ngọt, một ít xà bông và số tiền còn lại dành để mua thêm aspirine, sách vở và bút mực.

Trong một thoáng, chúng tôi đã nghĩ và mua sắm mọi thứ.

Có người nhắc  là vài năm trước, một người Việt nam khi có việc qua nơi này, nhận thấy phần lớn trẻ em đều thất học, không mấy ai trong bọn chúng biết đọc hay biết viết tiếng Việt, ông đã quyết định  dừng chân, kêu gọi mọi người thu xếp nơi chốn và tình nguyện ở lại để mở lớp, nhằm dạy cho các trẻ  viết và đọc, kèm thêm một ít hiểu biết về quy luật vệ sinh. Nơi chốn chọn lựa để mở trường là một chiếc bè nổi trên mặt biển hồ.

Khi thấy chúng tôi đến từ một chiếc thuyền lớn, các học sinh nhao nhao nhưng vẫn ngồi trong lớp học và vẫy tay chào. Lúc chúng tôi bước lên   chiếc bè nổi, các em, tuy ồn ào, nhưng vẫn ngồi ngay ngắn sau bàn học. “ Bàn học”  là những mảnh gỗ đóng ghép sơ sài và tạm bợ. Nhiều, rất nhiều học sinh đủ mọi lứa tuổi ngồi chen chúc trong một ít mét vuông… Ông giáo nhìn chúng tôi cảm động và cảm ơn. Phần lớn các thứ đã mua, chúng tôi chia nhau đi phân phát cho các em để mang về nhà.

Với phần quà còn lại chúng tôi chia nhau phân phát cho các gia đình nghèo đang tụ tập đứng xung quanh. Họ nghèo đến nỗi không thể cho con em đến lớp. Chúng phải giúp ba mẹ làm các việc nhà hay phụ lực mưu sinh. Các gia đình ấy, được thông báo qua cửa miệng rằng có đoàn cứu trợ, đã tập trung đến và vây quanh chiếc thuyền của chúng tôi. Và đây, còn những đứa trẻ khác…những đôi mắt mất thần vì đói… một hình ảnh làm đau lòng khi chúng tôi nhìn thấy những em bé  áo quần rách nát, có nhiều  bé ở truồng…bởi vì  cha mẹ không mua nổi những tấm vải để chúng có thể che thân…

Tôi đứng nhìn xung quanh trường. Trên một chiếc bè gần bên có dấu  thập giá, đó là môt nhà thờ Tin Lành, họ đến đây để giúp đỡ và tìm kiếm con chiên. Xa xa, còn có một ngôi trường tươm tất hơn, đó là một  trường học mới cất, dành cho các trẻ lớn hơn và được chính phủ Úc tài trợ.

Dường như thông tin  về cộng đồng nghèo khổ này đang  được truyền đi và bắt đầu  có một sự chuyển mình… tôi hy vọng là họ có thể nhận được nhiều trợ cấp và giúp đỡ hơn trong tương lai.

 Tôi nhìn ra xa. Các ghe thuyền chính là  căn nhà lưu động của những người sinh sống nơi đây. Để che lấp sự  tuyềnh toàng của nơi  ăn chốn ở, các di dân thường đặt những chậu hoa  ở  be thuyền để trang trí và  đánh dấu nhà mình. Theo lời của hướng dẫn viên, để phân biệt đó là  nhà  của người Cam Bốt hay của người Việt, chỉ cần nhìn chậu hoa  trên đó, nếu đó là màu vàng của  hoa mai thì là nhà của người gốc Việt. Nhưng theo tôi, ngoài vấn đề trang trí, đó cũng chính là một sự giữ gìn bản sắc, dù rất mong manh, với quê hương nguồn cội mà họ đã phải lìa xa.

Khi chúng tôi rời Biển Hồ lòng chúng tôi vẫn còn giữ mãi một tình liên đới với các cư dân ở đây, nhất là cới các em bé ở trường.  Lòng tôi rất vui vì vừa làm một điều có ích, tuy rất nhỏ nhoi.

Rồi cuộc hành trình của chúng tôi tiếp tục.

 

Khi đến thủ đô Phnom Peng chúng tôi như không thể tin được mắt mình khi nhìn thấy một tượng đài thật đặc biệt nằm giữa một quảng trường.Tôi sẽ không thể tin nếu không phải chính mắt mình nhìn thấy, đó là một khẩu súng lục vĩ đại, có lẽ là chứng tích của thời kỳ Polpot, khi sự đàn áp chống những trí thức và hành vi diệt chủng, đã làm cho nhân dân Cam Bốt xấp  xỉ 8 triệu người trước đó, giờ chỉ còn hơn 4 triệu người sống sót.Và như cô hướng dẫn viên người Cam bốt cho biết, nhân dân Cam Bốt rất biết ơn Việt nam vì không những đã giúp cho đất nước họ thoát khỏi hoạ diệt chủng  mà lại còn giúp đỡ họ về kinh tế. Và thực vậy, ở một quãng trường khác, chúng tôi còn thấy có một tượng đài khác mà người Cam Bốt đã dựng lên để tưởng nhớ  công ơn của quân đội việt nam, và nhất là các phụ nữ, biểu tượng của lòng kiêu hãnh và sự kiên trì của dân tộc Việt.

Ở  Phnom Peng, cũng như các thành phố khác ở Á Châu, chính màu sắc là thứ  làm thu hút du khách. Trong đám đông,  hàng trăm sắc màu quần áo được chen lẫn với màu sắc của trái cây và thực phẩm. Nhưng  ở đất nước Chùa tháp màu sắc còn là biểu tượng và mang theo một ý nghĩa rất đặc biệt : sợi vải hồng của các cô gái còn muốn nói là các cô ấy chưa chồng, một thông điệp tế nhị mà cũng là một lời mời gọi đến các chàng độc thân… Ở Cam Bốt, các cô thường  mặc áo quần có  màu  tươi trẻ, thường là màu hồng hay xanh blu có pha sắc tím, hoặc tất cả những màu đó pha trộn với nhau bằng một phối hợp rất bắt mắt. Phnom Peng là một thành phố khá  nhộn nhịp, màu sắc và những tiếng rao hàng  thường tạo chú ý cho du khách, nhất là ở khu chợ trung tâm.

Buổi chiều,  đoàn chúng tôi đi thuyền trên sông Mekong  để  nhìn toàn cảnh thành phố, thuyền đi qua các toà nhà  cao, các khách sạn, các quán cà phê nằm dọc bờ sông…mà  cách kiến trúc và bài trí thường làm  ta nhớ lại thời thuộc Pháp.

Sáng hôm sau chúng tôi  khởi hành để quay về Việt Nam, điểm đến là thành phố Hồ Chí Minh. Hành trình khá dài, sau ba ngày liên tục đi bộ, nhưng chuyến về cũng không kém phần hào hứng. Giữa những truyện tiếu lâm, những tiếng hát, có khi lạc giọng, của hướng dẫn viên,  khách trong đoàn…tất cả chúng tôi như đều quên đi nhọc mệt  và cùng vui vẻ, cởi mở với nhau hơn sau khi đã cùng sống với nhau những phút giây đặc biệt. Làm sao chúng tôi có thể quên nụ cười thật hiền của cô hướng dẫn viên, cũng tên Hiền,  người Cam Bốt, khi chia tay ở biên giới, Việt-Miên ? Không thể !!

 Và còn có bao điều, vui, buồn mà chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ !!!

Buổi tối, chúng tôi đến thành phố Sài Gòn. Tất cả mọi người đều có vẻ mệt mỏi và  khuôn mặt ai nấy cũng đều hơi ngái ngủ, nhưng thành phố dễ thương này đang chào đón chúng tôi bằng những ánh đèn màu. Lễ Giáng Sinh  sắp đến, đèn màu giăng mắc trên khắp các ngã đường và các quảng trường. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc  trước những tác phẩm  của nghệ nhân ánh sáng của thành phố Sài Gòn. Đúng là những tài hoa bậc thầy. Bằng một trí tưởng tượng đặc biệt, họ đã tạo nên những bức tranh ánh sáng, khi là một chùm hoa, khi là  những hình vẽ đẹp mắt, hình những gói quà  Noel chớp sáng như những vì sao, giăng mắc trên những gốc cây hay treo lơ lửng trên các phố chính như Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Thật tuyệt vời và cũng thật bất ngờ, nhưng trong tôi hình như còn đọng lại một sự tương phản quá lớn giữa những hotel sang trọng, sự phung phí điện năng ở Sài Gòn và những hình ảnh tiêu điều của một Ankor Wat, Ankor Thom  đang bị lãng quên, sắp chìm trong hoang phế.

Nhưng trong lúc đó, khi ánh đèn của các cao ốc Sài Gòn  cùng với sự điêu tàn của Chuà Tháp vừa biến mất trong mắt tôi, thì không hiểu vì sao, trí óc tôi bỗng quay về với ánh mắt của một cậu học trò nhỏ ở trên một chiếc thuyền  đậu cạnh ngôi trường nổi ở Biển Hồ. Đó là hình ảnh của một cậu bé đầy tự hào, e thẹn chìa bàn tay nhỏ bé để nhận lấy hộp bánh cho đứa em bé trần truồng mà cậu đang bế trên tay.Rồi, như vẫn còn đó những  khuôn mặt mỉm cười, đứng bên kia những sợi giây sắt che chắn quanh ngôi trường nổi đang vẫy tay chào. Chính những đôi mắt đó  ngay lúc này vẫn đang đồng hành cùng tôi và  làm tôi nhớ mãi chuyến đi được thực hiện bằng trái tim mình.

Cambogia, 19/12/2008

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

(Bài đã đăng trên tạp chí MeKong- Torino, Italia)

Ankor Wat .

Đi, với trái tim

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

 

 

Sài Gòn một ngày gần đây, nắng bỗng vàng hơn khi khắp đường phố xuất hiện những mẹt thị bày bán ngay bên vỉa hè; tập trung nhiều trên đường Điện Biên Phủ và thi thoảng đâu đó trên những con phố quen lại thấy người ta chở thị từng giỏ bằng xe honda đi bán dạo. Có mấy giọng đùa nghịch còn đuổi theo tíu tít: “Đừng chê em xấu em già/Em đi bán thị nhà nhà đều… hôn!”.

Mà nào rẻ đâu, có người bán 40K/ký nhưng cũng có vài mẹt thách giá tới 80K/ký. Dân Sài Gòn ngộ lắm, người háo hức thì mua cả ký về ăn, ăn rồi lập tức chê thị nhạt thị kém duyên, người điềm tĩnh hơn thì chỉ mua vài quả về để trong nhà hay để trên bàn làm việc.

“Thị rụng bị bà, bà hôn bà hít chứ bà không ăn”.

Cái quả của cô Tấm vốn là thế! Ngoài câu chuyện cổ tích quen thuộc kia, xung quanh thị còn có nhiều chuyện. Ở các vùng quê, những người nấu rượu gạo rất kị mùi thị, nếu để quả thị trong nhà thì cả mẻ rượu sẽ bị hỏng hết. Không ai có thể chỉ ra được bất cứ mối liên hệ nào liên quan giữa mùi thị và việc cất rượu; cũng như vài chuyện khác…

 

Hình ảnh Tấm bước ra – chui vào từ quả thị giúp đỡ bà lão nghèo khó luôn là chi tiết hấp dẫn nhiều người đến tận bây giờ.

Và, cái sự “chui vào” đó đã được giới nghệ sĩ … phát triển thành một hình ảnh mang tính kiêng kị: đi ký hợp đồng không được mang theo quả thị, đi diễn đi quay đi hát…tức là tất tần tật các thứ có dính dáng đến công việc.

Đạo diễn Xuân Phước bảo rằng, quả thị sẽ “hút” hết công sức và những gì mình đang làm vào trong đó và chỉ còn chừa lại những chuyện xui xẻo.

Đã cận rằm tháng 8 mà Sài Gòn lại mưa suốt. Giữa tuần, bắt đầu các sân khấu chộn rộn đi phát thiệp mời ăn… giỗ.

Giỗ tổ sân khấu, mà Sài Gòn bây giờ mọc ra nhiều sân khấu quá, rồi sân khấu làm ăn nên ra lại mở thêm chi nhánh: Nhà hát kịch TP.HCM, Idecaf, rồi 5B, Hoàng Thái Thanh, Phú Nhuận của Hồng Vân nè, Nụ cười mới đóng tên Hoài Linh, Nhà hát Trần Hữu Trang, rồi cả mấy đoàn hát bội nữa…

Giới sân khấu năm nay làm giỗ lớn, các sân khấu cũng tăng xuất, tăng điểm diễn đều đều. Tiệc tùng ì xèo suốt hai ngày 11, 12/08, người nào cũng phải chạy show …ăn. Nghe một danh hài buột miệng than: “Sao tui diễn không thấy mệt mà đi…ăn mệt quá trời!”, là vậy đó.

Coi bộ giới này đang được Tổ…đãi, mà muốn Tổ đãi hem có dễ đâu. Người nào cũng kiêng kỵ đủ thứ, rồi còn phải lo…o bế Tổ nữa.

 

Cúng heo

Sẽ thấy trên mâm cúng chung ở các sân khấu, nhiều nhất là heo quay. Con nào con nấy bóng nhẫy mỡ xếp hàng lớp lớp từ trong ra ngoài. Mang heo tới cúng tức là người đi trả lễ, đã từng khấn nguyện và được phù hộ gặt hái nhiều thành công trong suốt năm qua.

Người tài lộc ít thì cúng gà, cúng bánh bao, bánh chưng, bánh giò… tùy theo hầu, nhưng tuyệt đối không ai cúng vịt. Giới sân khấu xếp con vịt vào đội ngũ “cạp cạp” chỉ biết nói dối, bày chuyện đơm đặt và ưa đố kị đồng nghiệp.

Heo cúng phải kỹ lưỡng, không quấy quá được: bộ đồ lòng phải đầy đủ và xếp gọn gàng vào bên trong con heo để thể hiện… lòng thành của mình. Khi cúng xong, mang xuống chặt xẻ ra cũng phải đúng lễ nghĩa nha, người ta lật con heo quay lên và bắt đầu rạch bộ lòng ra trước, ý như kiểu con thật lòng phơi bày gan ruột vậy đóa.

Ngoài heo quay ra, thì trái cây rất nhiều nhưng có mấy thứ không được bỏ lên bàn thờ tổ nè: Quít được nhưng cam thì không – cam chịu, trái thơm nhiều mắc lại xù xì nhiều gai góc quá – khó, khổ: không luôn, Mãng cầu xiêm cũng thế, quả thị lại càng tối kị.

Nhưng ngược lại chuyện kiêng kị với quả thị trên kia, dân sân khấu không dám cúng quả thị vì sợ mùi thị thơm tho làm.. ông Tổ mất tập trung lờ lớ lơ luôn xấp nhỏ. Một thứ không thể thiếu trên bàn thờ tổ nữa là đường miếng, cúng đường thì Tổ mới đãi cho giọng hát… ngọt ngào…

Theo học giả Đinh Bằng Phi, có thể xem lễ giỗ tổ này xuất phát từ hát bội. Mà mấy trăm năm mở cõi vào Nam, khởi từ các chúa Nguyễn, ngành sân khấu với hát bội ban đầu và cải lương sau này, gần như là phương tiện giải trí độc tôn của cả vùng đất phía Nam, nên ngày lễ giỗ tổ và chuyện ông tổ sân khấu được người dân quan tâm khá nhiều.

Những từ ngữ như tổ trác, tổ đãi… của giới sân khấu đã trở thành từ cửa miệng để người dân chỉ sự may mắn hay xui rủi trong nghề nghiệp.

Tuy nhiên, cho đến nay chẳng ai biết ông tổ sân khấu là ai và lễ giỗ tổ xuất phát chính xác từ đâu. Chỉ biết rằng từ khi những nghệ sĩ lão thành NSND Thành Tôn, Năm Châu, Phùng Há… còn nhỏ xíu thì đã thấy có lễ giỗ tổ rồi. Các học giả như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Đinh Bằng Phi… đã có nhiều nghiên cứu về ông tổ sân khấu và đưa ra nhiều yếu tố lịch sử, giai thoại, truyền thuyết… nhưng không chuyện nào giống chuyện nào.

Nhiều truyền thuyết cho rằng ông thợ may, thợ rèn, thợ mộc, bà bán quán, một đứa bé, cả thần bạch mi của giới bán phấn buôn hương… là tổ sân khấu. Song phổ biến nhất là câu chuyện: Tổ sân khấu là ba người gồm ông vua, ông ăn cướp và ông ăn mày. Truyền thuyết này ảnh hưởng mạnh đến mức cho tới tận nay, giới nghệ sĩ rất kiêng cho tiền người ăn xin.

Ông Tần Nguyên, ký giả kịch trường trước 1975, kể: Nghệ sĩ Thành Được lúc nào cũng bảnh bao, tay đeo nhẫn hột xoàn nhưng ông không bao giờ cho tiền người ăn xin, chỉ bảo họ muốn ăn uống gì thì kêu đi rồi ông trả tiền.

Theo nghệ sĩ Kim Cương, cha bà (chủ gánh hát bội Phước Cương) còn trai trẻ, đi hát bằng ghe, ở những vùng xa, ăn cướp đi thành bang bằng ghe lớn nhưng không bao giờ đánh cướp ghe hát. Ghe của cha bà mỗi khi gặp cướp chỉ cần đánh trống thùng thùng thật lớn, họ biết là ghe hát là yên chuyện.

Truyền kỳ về hai vị hoàng tử mê hát, bị vua cha đang truy tìm, trốn trong hậu trường gánh hát rồi chết cháy mà hiển linh thành tổ sân khấu cũng phổ biến nên bàn thờ tổ luôn được đặt trong hậu trường.

Hay truyền thuyết ông tổ sân khấu là một vị hoàng tử mê sân khấu, trốn vua cha vào trong bộng cây vông để theo gánh hát rồi chết trong bộng cây vông cũng được biết rộng rãi nên giới nghệ sĩ kỵ mang guốc vông và tượng tổ luôn làm bằng gỗ cây vông.

Về tượng tổ sân khấu, đây là hình một nam nhân đen thui, mặc áo đỏ, quấn khăn đỏ. Ông Tần Nguyên nói thêm, tượng thường do người trong các đoàn hát làm.

Nghệ sĩ Kim Cương nói bà chẳng biết ai làm: “Hồi tôi còn nhỏ đã thấy mỗi đoàn hát có vài tượng tổ gọi là cốt ông. Các đoàn chỉ thờ số tượng lẻ chứ không thờ chẵn.”

“Khi trưởng thành, làm chủ đoàn hát, tôi thấy hễ ai lập gánh thì đến Hội Ái hữu nghệ sĩ ở đường Cô Bắc, Sài Gòn (có từ năm 1948) thỉnh tượng tổ về thờ. Việc lập gánh, rã gánh trước 1975 rất dễ dàng, bầu nào bị rã gánh thì lại gửi cốt ông vào hội”.

Nhấp chuột để xem album ảnh ngày giỗ Tổ sân khấu

Giỗ tổ sân khấu, nói chuyện kiêng kỵ của nghệ sĩ

Nguồn yahoo blog cogaidolong

Quà Trung thu của ba

Truyện Ngắn

                        MANG VIÊN LONG

Mẹ tôi mất sớm, hai chị em tôi sống với ba. Sau khi sinh đứa em trai tôi được ba tuổi thì mẹ tôi mất. Bà ra đi nhẹ nhàng và nhanh chóng đến nỗi ai đến thăm cũng sửng sốt. Chị em tôi ngạc nhiên đến bàng hoàng khi lay gọi mẹ đến chục lần, nhưng đôi mắt bà vẫn khép kín, im lìm như đang ngủ say. Đời người rồi ai ai cũng sẽ có giấc ngủ cuối cùng, ngàn năm vĩnh viễn như thế sao?

Ba tôi im lặng, lầm lũi, cẩn trọng lo chu toàn mọi việc để tiễn mẹ tôi, giọng lạnh lùng, buồn buồn : “Ba không ngờ mẹ con đã từ giã cha con mình sớm như thế!”.

Những tháng năm sau này, ba tôi đã dành nhiều thời gian gần gũi chị em tôi nhiều hơn – nhất là cu An. Muốn được vậy, ông phải thu xếp việc trồng hoa ngay từ sáng sớm lúc hai chị em tôi còn mơ ngủ. Khi thức dậy, bao giờ tôi cũng nhìn thấy gương mặt ba tươi cười, vén mùng, đùa cợt: “Con gái gì ngủ dậy trễ thế? Lại có tật ngủ nướng rồi? – Còn thằng kia, bắt chướt chị mày ngủ nướng thêm nữa à ? Chị em dậy ăn sáng, ba chở đến  trường, trễ học rồi kìa…”.

Ba tôi có một chiếc xe gắn máy cũ kỹ – hiệu Gobel, làm thêm chiếc “rờ-moọc” để kéo theo phía sau. Hằng ngày ông chỉ chạy hai chuyến : buổi sáng chở bạn hàng lên thị trấn mua bán, buổi chiều chở về… Lúc mẹ tôi còn, thỉnh thoảng trong thôn có gia đình cần xe chở vật gì, ông đều sốt sắng nhận. Ông nói với tôi : “Con giúp mẹ trông em, ba chạy chuyến này kiếm thêm tiền cho mẹ con đi chợ…”. Từ ngày mẹ tôi mất, ông luôn từ chối các chuyến xe bất ngờ như vậy, để được gần chị em tôi. Lần đầu, khi nghe ba tôi khước từ chạy xe chở hàng cho khách, tôi ngạc nhiên hỏi : “Sao ba không nhận chạy thêm để kiếm tiền đi chợ?” – Ba tôi cười, giọng vui vẻ : “Bỏ mất dịp làm thêm kiếm tiền cũng tiếc, nhưng bỏ hai chị em con ở nhà một mình lại đáng tiếc hơn!”.

Ngày nào cũng thế, ba chở hai chị em tôi trên chiếc “rờ-moọc” hoen rỉ, cũ kỹ ấy đến trường. Tôi đã lên lớp Năm, còn em An thì vừa vào lớp Một. Hai chị em học cùng trường, nên ngoài việc học, tôi còn phải trông nom, hướng dẫn cho em. Cũng rất may, cu An thông minh, dạn dĩ, hoạt bát nên được cô giáo rất thương, còn đám bạn ngỗ nghịch không dám ăn hiếp ! Nghe tôi kể chuyện về em ở trường, lần nào ba tôi cũng nói : “Mẹ con phải sống chờ nó đến ba tuổi mới ra đi, còn Phật Trời thì trợ giúp cho nó được như vậy để đỡ buồn tủi!”.

Kỷ niệm của chị em tôi với ba mà tôi nhớ nhiều nhất có lẽ là những dịp vào ngày Tết Trung thu. Trước Trung thu gần một tuần, tôi trông thấy ba đã lo chẻ tre, vót nan, làm sẵn sườn hai chiếc lồng đèn : một chiếc kiểu ngôi sao, một chiếc hình trái ấu. Sau đó mấy ngày liền, hễ xong việc vườn tược, tưới hoa, cắt hoa giao cho bạn hàng là ba tôi cặm cụi cắt dán giấy màu… Mỗi ngày, ba đều thêm vào hai chiếc lồng đèn nhiều kiểu trang trí, nhiều chi tiết rất đẹp mắt.

Xế chiều ngày 14, ba chở chị em tôi – cũng trên chiếc “rờ-moọc” cũ kỹ ấy, về thăm bà ngoại. Như đã hẹn trước, chiều hôm ấy, chị em tôi được bà đãi cho một bữa ăn rất ngon, có cả chè xôi, trái cây rất hấp dẫn. Buổi tối, hai chị em tôi thắp sáng lồng đèn, hãnh diện theo bà lên chùa lễ Phật. Lũ trẻ trong xóm cũng kéo theo chị em tôi về chùa rất đông. Trăng trong, gió mát, cảnh vật trải dài trong mắt tôi một màu vàng êm đềm. Màu vàng êm đềm và tĩnh lặng ấy, sau này cứ ám ảnh, réo gọi tôi – kể cả trong những giấc mơ…

Chùa làng quê vào những ngày Rằm, nhất là rằm tháng Bảy và tháng Tám, mọi người lũ lượt  về chùa rất đông. Chánh điện chật hẹp, nhiều người phải trải chiếu lễ lạy từ ngoài sân. Dưới ánh trăng thu trong sáng, êm ái, tĩnh lặng ấy ; mọi người thành kính đọc kinh, niệm Phật – làm cho chúng tôi không dám hó hé, mở to đôi mắt ngạc nhiên mà nhìn… Cảnh tượng an bình, hạnh phúc ấy của những mùa trăng thu đã khắc sâu vào tâm khảm tôi, theo tôi lớn lên từng năm tháng…

Chị em tôi ở lại chơi với bà ngoại đêm hôm ấy – bà  cháu  trải  chiếu  ngoài hiên  trò chuyện  đến khuya Càng về khuya, trăng càng sáng tỏ. Tôi cứ ngỡ là được chơi giữa ban ngày dịu nắng. Cu An thắp hết mấy cây đèn sáp mang theo, nằm nghe bà ngoại kể chuyện “Phạm Công Cúc Hoa” chưa đến hồi kết thúc đã ngủ say.

Khi tôi đã được lên cấp ba, vào dịp Trung thu, ba tôi không còn làm lồng đèn cho tôi nữa. Cu An nhìn thấy chỉ có sườn một chiếc lồng đèn ngôi sao treo ở góc hiên, nó hỏi: “Sao ba không làm lồng đèn cho chị My?”.

Ba cười :

-My lớn rồi, không cầm đèn đi dạo như trước được, ba sẽ có món quà khác !

-Quà gì vậy ba ? – Cu An tò mò.

-Bí mật. Rồi hai chị em con sẽ biết.

Tôi không dám hỏi ba, nhưng trong lòng thì hồi hộp lắm. Mấy ngày ghé mắt theo dõi, tôi chẳng hề thấy ba tôi làm gì cả, ngoài việc trang trí chiếc lồng đèn cho cu An. Có lẽ ba chỉ làm lúc tôi đi ngủ chẳng ?

Chiều 14 năm ấy, lúc chị em tôi đã lên ngồi yên trên chiếc “rờ-moọc” sau xe, ba tôi mang ra một chiếc hộp hình chữ nhật, dán kín, sáu mặt hộp đều có trang trí giấy màu rất đẹp. Ba dặn : “Đây là quà của My, má con vừa gửi đến, nhưng phải đợi đến nhà bà ngoại mới được mở hộp ra nhé !”. Tôi sung sướng đón chiếc hộp, nhìn ba với đôi mắt thầm biết ơn…

Khỏi phải nói, tôi và cả cu An đã nóng lòng mong được đến nhà bà ngoại sớm như thế nào. Nhưng chiếc xe Gobel ngày càng cũ, càng chạy chậm hơn. Cứ lắc lư xình xịch không biết gì đến nỗi mong chờ của chúng tôi!  Chưa bao giờ tôi cảm thấy chiếc xe chạy chậm quá như thế. Cu An cũng có cùng tâm trạng náo nức như tôi, nó nói : “Chị My cho em coi quà của chị với nhé!”. Tôi gật đầu, cười sung sướng.

Việc gì đến sẽ phải đến, đã trông thấy rõ chiếc cổng vôi sơn vàng của nhà ngoại kia rồi. Chờ xe chạy qua ngõ, dừng lại, hai chị em tôi chạy ùa vào nhà bà, quên cả việc chào hỏi, cười vui với bà như các bận trước. Tôi ngồi bệt xuống thềm hiên, cẩn thận khui mở nắp hộp ra. Tôi lôi ra từng món một đặt ngay trên thềm: chiếc nơ kẹp tóc màu hồng, chiếc vòng giả ngọc màu xanh, cây bút máy hiệu Diamond, bốn bì bánh chocolate, một gọi kẹo…

Năm đầu tiên tôi phải xa gia đình để theo học Trường Đại học Y Dược- khoa Dược ở Sài Gòn ; Trung thu năm ấy ba tôi gửi cho tôi một phong thư lớn – trong ấy là một bài thơ , đề :”Tặng con gái thương yêu của ba”; viết trên khổ giấy lớn, được trang trí tỉ mỉ, công phu: “Quà Trung thu cho con”. Bài thơ thật chân tình, cảm động. Quà Trung thu cho tôi không là lồng đèn, bánh kẹo, mà ấy là trăng – một ánh trăng quê dịu hiền, một thứ “tình thắm thiết” – của trăng vàng và của cả quê hương !”.

Vừa tròn tuổi năm mươi nhưng ba tôi đã gầy yếu. Ông bị bệnh rối loạn trung khu tiền đình., và hởi valve tim. Vài năm sau này, ông thường xuyên bị choáng, buồn nôn và tức đau ở ngực trái – kéo dài khoảng năm mười phút. Người thân, bạn bè đến nhà thăm chơi, thường nhắc ông hãy “bước thêm bước nữa” để có người chăm sóc, đỡ đần công việc. Ông chỉ cười : “Đời người, đã lỡ bước một bước là đã khổ rồi. Sao lại bước thêm bước nữa làm gì trong cảnh khổ của mình ? Có lẽ cũng chỉ làm khổ thêm cho người khác mà thôi !”. Nghe lời tâm sự của ông, tôi cảm thấy lòng mình trào dâng niềm thương kính vô bờ. Tôi đã dần dần hiểu được ba đã dành tình thương yêu cho hai chị em tôi, mà phải chịu cô độc, vất vả. Ba tôi thường nói với bạn bè: “Cuộc đời tôi bây giờ chỉ còn lại hai đứa con…”.

Một buổi chiều cuối Xuân, sau khi đã chở đám bạn hàng từ thị trấn về, ông chạy xe vào ngõ, bỗng cảm thấy chuếch choáng. Đã quá quen với bệnh tình của mình, ông gắng gượng, lảo đảo bước vào nhà định tìm thuốc uống. Đến bậc hiên ông ngồi xuống, cơn buồn nôn kéo đến dữ dội. Kèm cơn đau thắt ngực – rất khó thở . Ông cố trấn tĩnh, chờ dịu cơn choáng và đau sẽ vào nhà lấy thuốc ; nhưng ông chợt ngã lăn trên thềm hiên, và sau đó không bao giờ bước vào nhà nữa…

Ba tôi đã chờ cho tôi vừa tốt nghiệp đại học, An cũng kịp thi đậu vào trường Đại học Sư phạm – mới giã từ chúng tôi. Giống như mẹ tôi khi xưa, đã chờ cho An được ba tuổi.

Mỗi mùa Thu đến, mỗi lần trăng thu tròn đầy vằng vặc ánh sáng, là mỗi lần chị em chúng tôi ngồi bên nhau mà khóc. Suốt 5 năm ở đại học, dường như tháng nào tôi cũng nhận được thư ba tôi hai lần. Tôi đã gom tất cả những lá thư ấy, bỏ vào ba chiếc hộp chứa quà trung thu thuở nào của ba – xem chúng như bảo vật, sẽ theo tôi trong suốt cuộc đời. Mấy bài thơ của ba tôi gửi cho, tôi cũng cẩn trọng lồng chúng vào khung kính, treo ngay góc bàn ngồi…

Một mùa Thu nữa lại đến. Trung thu gần kề. Tôi đã hẹn với An, đêm 14, hai chị em sẽ cùng nhau đi chùa lễ Phật – và nguyện cầu cho ba mẹ tôi luôn được an lành, trong sáng như ánh trăng thu…

MANG VIÊN LONG

Tắm Thổ với các cô gái mặc bikini như vậy không phải kiểu truyền thống đâu. Muốn biết tắm Thổ truyền thống như thế nào phải lên Istanbul.” Ilknuk, người dẫn đoàn du lịch giải thích lại một lần nữa.
Hóa ra, chúng tôi vẫn chưa biết thực sự thế nào là tắm Thổ. Càng tò mò, rà lại Lonely Planet, chúng tôi ghi ra tên Nhà tắm Thổ truyền thống nổi tiếng nhất Istanbul và quyết tâm đi tắm một lần nữa.

Cemberlitas Hamami
Vezirhan Cad. No: 8 – 34120
Quá tình cờ, Nhà tắm Thổ Cemberlitas ở ngay khu phố cổ trung tâm Istanbul, đường Divanyolu, đối diện Cây cột Vòng Constantine nổi tiếng. Vào năm 1584, kiến trúc sư hoàng gia Sinan đã xây nhà tắm này dưới sự ủy nhiệm của Nurbanu Sultan, vợ của Hoàng đế Selim II. Nhà tắm này đối diện với Nhà thờ Hồi giáo Mehmed Pasa và ngay sát Lăng Hoàng đế Mahmud II.
Xếp hàng chờ mua vé vào nhà tắm Thổ
“Nhà tắm lại ngay sát Nhà thờ?” Có cái gì bất thường ở đây khi người ta sắp đặt một công trình thánh thiêng bên cạnh một nhu cầu “trần tục” của con người là tắm rửa. Hay đó là sự lập dị chỉ có ở Cemberlitas? Bạn đã nhầm, các nhà tắm Thổ (Hamam) trong văn hóa Ottoman thường được coi như một thành tố kiến trúc phụ trợ nhưng quan trọng trong Nhà thờ Hồi giáo. Theo thời gian, chúng nhanh chóng trở thành những công trình độc lập và hơn thế nữa, thành những kiến trúc hoành tráng. Cemberlitas là một trong số đó.
Chúng tôi tách đoàn và nhảy vào nhà tắm Thổ Cemberlitas vào quãng cuối giờ chiều. Nhà tắm đông như hội, biển ngoài chỉ rõ: nhà tắm mở cửa từ 6h sáng cho tới nửa đêm. Hamam này như các loại hình Nhà tắm khác từ La Mã không chỉ dành cho đàn ông. Quần thể Cemberlitas bao gồm những khu riêng cho nam và nữ.
“Nam nữ không tắm lẫn lỗn nhưng người tắm cho chúng tôi là nam hay nữ?” Anh bạn tôi hỏi đùa cô bán vé.
“Nam tắm cho nam và nữ tắm cho nữ.”
Hết chuyện, lần này không còn cô Nga nào tắm cho chúng tôi nữa. Dẫu sao thì chúng tôi cũng trả 59 Lira Thổ Nhĩ Kỳ, tương đương 40 đôla Mỹ để bước vào trong cánh cửa của nhà tắm Thổ. Một không gian hai tầng bằng gỗ được xây như kiểu Tứ Hợp Viện Trung Quốc, 4 mặt đều là ban công và các phòng thay đồ, ở giữa là sảnh lớn lớn nhộn nhịp người qua kẻ lại…
Một người đàn ông chờ chúng tôi ở ngay sảnh để phát khăn tắm và một hộp nhỏ chứa găng tay. Anh này dẫn chúng tôi lên một phòng ở tầng 2 để thay đồ.
Bảng giá của nhà tắm Thổ Cemberlitas xây từ năm 1584.
“Khi bước chân vào khu nhà tắm này, bạn được chào đón bằng một không gian hoài cổ, nơi thời gian như trôi ngược về quá khứ….” Tôi đọc nhanh mấy dòng chữ trên tờ rơi giới thiệu về Nhà tắm. Cuối cùng, cái cảm giác trôi về quá khứ Ottoman ấy cũng đến khi chúng tôi được dẫn vào phòng tắm nóng.
Tương tự như nhà tắm kiểu La Mã, một Hamam truyền thống có 3 phòng chính liên thông nhau, caldarium (phòng nóng), tepidarium (phòng ấm) và frigidarium (phòng lạnh).
Phòng nóng là trung tâm của Nhà tắm Thổ và chỉ khi bước vào đây với một chiếc khăn duy nhất quấn trên người, chúng tôi mới được trải nghiệm thật sự thế nào là tắm Thổ. Tắm Thổ Nhĩ Kỳ hay còn gọi là Hamam là một biến thể của tắm hơi, xông hơi và tắm kiểu Nga, nhưng chú trọng nhiều hơn tới sử dụng nước để phân biệt với tắm hơi truyền thống.
Kiến trúc của Phòng nóng mang đặc trưng Hồi giáo Ottoman và được giữ nguyên như 5 thế kỷ trước. Một căn phòng rộng, hình tròn với mái vòm như mọi nhà thờ Hồi giáo ở Istanbul. Điểm khác biệt chỉ là, người ta đục hàng trăm lỗ nhỏ trên mái để tạo ra hàng trăm tia sáng tự nhiên chiếu xuống phòng tắm. Giữa ánh sáng mờ ảo như thế, hàng chục người đàn ông nằm la liệt trên một tảng đá cẩm thạch lớn được đặt giữa phòng. Một số ngồi cạnh các bệ nước nhỏ gắn chặt vào hốc tường xung quanh căn phòng.
Một ông già Thổ người gày đét như La Hán chỉ cho chúng tôi một chỗ trên phiến đá tròn cẩm thạch khổng lồ ấy. Chúng tôi nằm xuống phiến đá, gối đầu lên một chiếc bát sắt và cảm nhận sức nóng rát khắp toàn thân. Phiến đá nóng này nhằm mục đích giúp cơ thể bạn được thư giãn, mở hết các lỗ chân lông và toát mồ hôi một cách tự nhiên. Chúng tôi thả lỏng cơ thể để cảm nhận hết sức nóng, nhìn lên những tia sáng đục chiếu qua đỉnh mái vòm. Hàng trăm năm trước, những hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ cũng từng được tắm như thế và bây giờ với 40 đôla Mỹ, chúng tôi đã có được cảm giác như họ.
20 phút thư giãn trôi qua và ông già người Thổ đến dựng chúng tôi dạy để bắt đầu màn tắm. Kỳ cọ bằng găng tay nhám, massage toàn thân, giội nước nóng ùm ụp và thổi xà phòng khắp người, lần này cũng khác bao nhiêu so với kiểu tắm cùng các cô gái Nga. Chỉ có điều, khác với bàn tay mềm mại lần trước, bàn tay của các ông già Thổ như gọng kìm miết khắp cơ thể chúng tôi.
Quang cảnh phòng chờ vào nhà tắm Thổ Cemberlitas
Đau quá, tôi kêu oai oái và mấy lần yêu cầu nhẹ tay. Có lúc, tôi tưởng bị chuột rút khi bàn tay cứng như sắt của ông già ấn vào hai bắp chân. Những người xung quanh lại có vẻ rất khoan khoái với màn tẩm quất như “tra tấn” này. Tắm Thổ truyền thông là như thế, một sự kết hợp kỳ lạ giữa xông xơi, tẩm quất và tắm thông thường, ngay giữa những di sản của đế chế một thời oanh liệt.
Không thấu hiểu hết những di sản lịch sử ấy thì việc tắm Thổ mất đi nhiều ý nghĩa. Từng dụng cụ tắm đang được sử dụng đều mang dấu ấn của lịch sử từ thời La Mã, loại khăn chúng tôi cuốn quanh cơ thể là peştemal làm bằng lụa hoặc cotton, nalın một loại guốc gỗ để tránh bị trơn trượt trong phòng tắm, keselà chiếc găng tay nhám để kỳ cọ cơ thể.
Trong giai đoạn thịnh trị của đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ, thông thường, nhân viên tắm Thổ thường là những thanh niên trẻ có đủ sức khoẻ giúp khách hàng massage và kỳ cọ cơ thể. Những thanh niên này thường không phải người Hồi giáo, có thể là Do Thái, Hy Lạp, La Mã hay Armenia. Sau khi đế chế Ottoman sụp đổ vào đầu thế kỷ 20, những người đứng tuổi như ông già La Hán tắm cho chúng tôi mới thay thế thanh niên trong vai trò ấy.
Màn xông hơi, kỳ cọ, massage toàn thân ở phòng nóng dừng lại, chúng tôi được đưa ra phòng ấm để tắm tráng với xà phòng và nước. Tráng gội xong những tưởng đã đến lúc kết thúc, người hướng dẫn lại đẩy chúng tôi vào phòng nóng để nằm lên phiến đá một lần nữa. Lần toát mồ hôi thứ hai giải phóng nốt toàn bộ những mệt mỏi cuối cùng ra khỏi cơ thể.
Tắm tráng một lần nữa, chúng tôi được đưa trở ra phòng lạnh để thư giãn. Sảnh gỗ bốn mặt nơi chúng tôi bước vào đầu tiên chính là phòng lạnh theo quan niệm truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ. Một cốc cam tươi lạnh hoàn toàn nguyên chất cho chúng tôi cảm giác sảng khoái trọn vẹn. Xung quanh, những khách tắm vẫn tấp nập đi lại như trảy hội.
Chúng tôi bước ra khỏi nhà tắm Thổ truyền thống với một tinh thần thoải mái và tươi trẻ hơn nhiều so với trước khi bước vào. Tắm Thổ có giá trị nhiều hơn việc làm sạch cơ thể, đó còn là biện pháp thư giãn và tập thể dục. Chưa hết, trong lịch sử huy hoàng của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ, nhà tắm Thổ không chỉ là nơi tắm rửa mà còn được coi như một trung tâm xã hội. Đó là nơi gặp gỡ bạn bè, vui chơi giải trí (nhảy múa, ăn uống, đặc biệt trong khu phụ nữ), lễ hội (như trước đám cưới, lễ tết, thôi nôi). Vì thế, mô hình này nở rộ khắp Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn đế chế Ottoman thịnh trị.
Nơi nào trên thế giới con người chẳng tắm rửa, chỉ có ở Thổ Nhĩ Kỳ, những giá trị nội tại và giá trị gia tăng của hoạt động này mới được nâng lên thành một thứ văn hóa, một di sản văn hóa đích thực. Di sản ấy đã mang lại doanh thu rất lớn cho du lịch Thổ Nhĩ Kỳ mỗi năm.
Khách du lịch may mắn khi được tắm theo nghĩa đen giữa những di sản của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ Nhĩ Kỳ còn may mắn hơn, họ được hưởng lợi nhờ “tắm” giữa những di sản văn hóa giàu có cha ông để lại, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Nói với anh

 Yến Du

Tặng một người .

Có khi nào em quên được anh đâu
Một tiếng gió một tiếng mưa
cũng đủ để em  mộng mơ làm vần thơ viết về ai đó
Chút nắng vàng hanh lấp loáng ngỡ như bóng  người về ngoài ngõ
Nhặt lá bao mùa em mới lấp được khoảng trống chơ vơ

.

Cứ ngỡ quên được anh bên tách cà phê dặn lòng đừng nhớ
Anh lại chập chờn theo giọt đắng chầm chậm rơi
Bóng hình anh  thấp thoáng bên đời
Cho cô đơn chạm vào nỗi nhớ trong em nghiêng ngã

.

Em cố tìm quên trong phố đông ồn ào người lạ
Lại nhận ra mình đang mong ngóng tiếng chân quen
Cơn gió đi ngang thổi bùng khát khao cùng anh quay về nơi hò hẹn
Kỷ niệm vui buồn cựa mình làm xao xác trái tim đau

.

Có phải tình yêu là vật sáng muôn màu
Như cầu vồng sau mưa đẹp tuyệt vời nhưng mong manh quá
Anh ẩn hiện chân trời anh tan nhanh vội vã
Những hư ảo muôn đời  xa hẳn một tầm tay…….

09/09/2011

Phía sau vụ tấn công khủng bố gây hậu quả tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ là những sự thật mà không phải ai cũng được biết.

Một người đàn ông đứng giữa đống đổ nát sau sự sụp đổ của tòa tháp đôi WTC. Ảnh: AFP
Một người đàn ông đứng giữa đống đổ nát sau sự sụp đổ của tòa tháp đôi WTC. Ảnh: AFP

1. Có tới 3.051 trẻ em bị mất cha hoặc mẹ sau vụ 11/9. Bên cạnh đó, có 17 em bé đang nằm trong bụng mẹ khi những người cha của chúng thiệt mạng trong các vụ tấn công. Khoảng 9 tháng sau vụ khủng bố, số ca sinh ở thành phố New York tăng tới 20% so với cùng thời điểm điều tra vào năm 2000.

2. Tổng giá trị của các tác phẩm nghệ thuật bị mất đi sau khi hai tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) sụp đổ đã vượt quá 100 triệu USD. Trong số này có cả những bức tranh của danh họa Pablo Picasso.

3. Người ta ca ngợi những chú cảnh khuyển tham gia tìm kiếm người còn sống sau thảm họa mà quên mất một chú chó phi thường khác. Đó là Roselle, một chú chó săn dòng Labrador chuyên làm nhiệm vụ dẫn đường cho người chủ bị mù là Michael Hingson. Roselle đã đưa Hingson đi thang bộ từ tầng 78 của Tháp Bắc WTC xuống đường và tới nhà một người bạn một cách an toàn.

4. Các công nhân đã phải thu dọn khoảng một triệu tấn vật liệu vụn nát để tìm kiếm những người còn mắc kẹt và tư trang của những nạn nhâu xấu số. Họ đã tìm thấy khoảng 65.000 vật dụng, trong đó có 437 đồng hồ và 144 nhẫn cưới.

5. Ba giờ trước khi các vụ tấn công xảy ra, một chiếc máy có tên gọi Máy phát sinh Sự kiện Ngẫu nhiên đặt tại trường đại học Princeton đã tiên đoán được một sự kiện khủng khiếp sắp xảy ra.

6. Trong một cuộc tập trận mang tên “Người bảo vệ cẩn mật”, Trung tâm Chỉ huy Phòng vệ Vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD), đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ không phận Mỹ, đã giả định ít nhất 4 vụ cướp máy bay trong tuần trước khi xảy ra vụ 11/9, và thậm chí còn dự định tiến hành một cuộc giả định nữa vào buổi sáng mà nước Mỹ bị tấn công.

7. Có tới 5 trong số 19 không tặc tham gia vụ tấn công 11/9 đã nghỉ lại tại một khách sạn ngay gần cổng dẫn vào Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), trong những ngày trước khi tiến hành cướp 4 máy bay chở khách.

8. John Patrick O’Neill, một đặc vụ từng lãnh đạo Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) và tham gia điều tra về liên hệ của Al-Qaeda trong vụ đánh bom WTC năm 1993, đã rời FBI vì những bất đồng về chính sách. O’Neill đảm nhận công việc mới trong vai trò người phụ trách an ninh tại WTC, và mất trong ngày định mệnh 11/9.

9. Chỉ có 291 thi thể được tìm thấy nguyên vẹn tại hiện trường đổ nát của hai tòa tháp WTC. Cha mẹ của Lisa Anne Frost, 22 tuổi và là một hành khách trên chuyến bay số hiệu 175 của hãng United Airlines lao vào Tháp Nam, đã phải chờ gần một năm mới được nhận lại những gì thuộc về con gái họ.

10. Lính cứu hỏa mất tới 100 ngày mới có thể dập tắt hoàn toàn các đám cháy bị gây ra bởi các vụ tấn công nhằm vào hai tòa tháp WTC.

Nhật Nam (Theo Telegraph)